Bước tới nội dung

Đơn vị hành chính cấp tỉnh (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Tỉnh thành Việt Nam)

Tỉnhthành phố trực thuộc trung ươngphân cấp đơn vị hành chính cao nhất ở Việt Nam. Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2025, Việt Nam có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương.[1]

Các đơn vị hành chính thuộc cấp tỉnh

Tỉnh

Tỉnh là đơn vị hành chính nông thôn cấp cao nhất ở Việt Nam. Dưới tỉnh có các đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc bao gồm , phường, và đặc khu.

Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2025, Việt Nam có 28 tỉnh.

Thành phố trực thuộc trung ương

Thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay gọi ngắn gọn là thành phố) là loại hình đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Việt Nam. Đây là các đô thị nằm dưới sự quản lý trực tiếp của trung ương.

Thành phố trực thuộc trung ương là các đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I, và được xác định là các đô thị trung tâm cấp quốc gia. Đây là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia chứ không còn nằm bó hẹp trong một tỉnh, hay một vùng (liên tỉnh) nữa. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về giao thông vận tải.

Dưới thành phố trực thuộc trung ương có các đơn vị hành chính cấp xã gồm tại vùng nông thôn, phường tại vùng đô thị, và đặc khu tại hải đảo.

Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc trung ương.

Hệ thống chính trị cấp tỉnh

Đảng bộ địa phương

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam nên cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi địa phương là Đại hội Đại biểu Đảng bộ của địa phương đó, phân cấp địa phương của tổ chức Đảng. Đại hội Đại biểu Đảng bộ sẽ họp 5 năm 1 lần để bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ. Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh/Thành phố trực thuộc trung ương, hay thường được gọi tắt là Tỉnh ủy/Thành ủy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, thành phố sở tại giữa 2 kỳ Đại hội, nhiệm kỳ 5 năm.

Sau mỗi Đại hội Đại biểu Đảng bộ, Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh/Thành phố sẽ tổ chức họp Hội nghị Đảng bộ lần thứ nhất để bầu ra Ban thường vụ Tỉnh uỷ/Thành uỷ, Thường trực Tỉnh uỷ/Thành uỷ, Uỷ ban kiểm tra Tỉnh uỷ/Thành uỷ và các chức danh lãnh đạo; tất cả đều theo nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Đảng bộ trực thuộc.

Đứng đầu Đảng bộ tỉnh/thành phố là Bí thư Tỉnh uỷ/Thành uỷ, do chính Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh/thành phố sở tại bầu lên, và phần lớn ở các tỉnh thành đều là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Riêng Bí thư Thành ủy Hà NộiBí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh do tầm quan trọng đặc biệt của hai thành phố nên bắt buộc phải là Ủy viên Bộ Chính trị, do Bộ Chính trị điều động, bổ nhiệm mà không phải do Ban Chấp hành Đảng bộ bầu ra.

Chính quyền địa phương

Theo Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương, mỗi tỉnh thành Việt Nam đều nằm dưới sự quản lý của một Hội đồng nhân dân do dân bầu. Hội đồng nhân dân bầu ra Ủy ban nhân dân (đơn vị hành pháp của chính quyền tỉnh). Bộ máy như vậy cũng tương ứng với cấu trúc chính quyền trung ương. Các chính quyền tỉnh trực thuộc Chính phủ.

Ngày 22 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp. Sắc lệnh quy định cách thức tổ chức chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước. Chính quyền ở mỗi địa phương sẽ có hai cơ quan: thay mặt cho dân là Hội đồng nhân dân, do phổ thông đầu phiếu bầu ra, và vừa thay mặt cho dân, vừa đại diện cho Chính phủ là Ủy ban Hành chính, do Hội đồng nhân dân đề cử. Sắc lệnh quy định nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính mỗi cấp. Từ năm 1976, Ủy ban Hành chính đổi tên là Ủy ban nhân dân.

Hội đồng nhân dân

Mỗi Hội đồng nhân dân có thường trực Hội đồng nhân dân gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân và những người được ủy quyền được chọn trong những đại biểu trong Hội đồng nhân dân, thường là Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Thường trực có nhiều nhiệm vụ, trong đó có việc đại diện Hội đồng khi không có kỳ họp. Hội đồng có một số ban có những nhiệm vụ chuyên biệt. Mỗi tỉnh đều có một Ban Kinh tếNgân sách, một Ban Văn hóa Xã hội và một Ban Pháp chế. Nếu một tỉnh có thành phần thiểu số không phải người Việt đông thì thường tỉnh đó cũng có một Ban Dân tộc.

Người dân được quyền bầu trong các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân khi được 18 tuổi, và được quyền ra ứng cử khi đủ 21 tuổi. Để ứng cử, một ứng cử viên phải được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu hoặc tự ứng cử. Những ứng cử viên này được bầu tại các hội nghị hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc tổ chức. Những người tham dự hội nghị quyết định các ứng cử viên có đủ tiêu chuẩn theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hay không bằng cách giơ tay biểu quyết hoặc bầu kín. Các ứng cử viên không được hội nghị tín nhiệm sẽ không được đưa vào danh sách ứng cử. Số ứng cử viên được bầu cho mỗi huyện là từ một đến ba. Số ứng cử viên cho mỗi huyện phải nhiều hơn số ghế được bầu.

Ủy ban nhân dân

Ủy ban nhân dân, như đã nói trên, là đơn vị hành pháp của chính quyền tỉnh, có nhiệm vụ định đoạt và thi hành các chính sách. Ủy ban được xem như là một nội các. Ủy ban nhân dân các cấp làm việc theo nguyên tắc tập thể. Chủ tịch là người đứng đầu Ủy ban nhân dân chỉ đạo chung, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp của mình. Mỗi thành viên của Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp. Ủy ban nhân dân có 1 Chủ tịch và ít nhất 3 Phó Chủ tịch, tối đa là 5 Phó Chủ tịch (Thành phố Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh), và có từ 4 đến 7 ủy viên (tuỳ theo diện tíchsố dân). Chủ tịch Ủy ban nhân dân phải là đại biểu của HĐND cùng cấp, do HĐND bầu và Thủ tướng chuẩn y. Các thành viên khác của Ủy ban nhân dân không nhất thiết phải là thành viên của HĐND. Chủ tịch Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo định kỳ trước HĐND và Thủ tướng về các hoạt động kinh tế-xã hội trong phạm vi tỉnh.

Tòa án nhân dân

Tòa án Nhân dân là cơ quan xét xử và tư pháp cấp tỉnh. Đứng đầu là Chánh án.

Viện kiểm sát nhân dân

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam địa phương

Danh sách

In đậm: Thành phố trực thuộc trung ương

#Tỉnh thànhTrung tâm
hành chính
VùngThành lậpDiện tích
(km²)
Dân số
(người)[1]
Mật độ
(người/km²)
Đơn vị hành chính cấp xã
PhườngĐặc khu
1Cao BằngThục PhánTrung du và miền núi phía Bắc14996.700,39573.119853530
2Sơn LaChiềng Cơi189514.108,891.404.587998670
3Lai ChâuTân Phong19099.068,73512.601562360
4Lạng SơnLương Văn Tri18318.310,18881.3841064610
5Tuyên QuangMinh Xuân183113.795,501.865.27013571170
6Lào CaiYên Bái190713.256,921.778.78513410890
7Thái NguyênPhan Đình Phùng18318.375,211.799.48921415760
8Điện BiênĐiện Biên Phủ20049.539,93673.091703420
9Phú ThọViệt Trì18919.361,384.022.638429151330
10Bắc NinhBắc GiangĐồng bằng sông Hồng18314.718,603.619.43376733660
11Hà NộiHoàn Kiếm10103.359,848.807.5232.62151750
12Quảng NinhHạ Long19636.207,951.497.44724130222
13Hải PhòngThủy Nguyên18883.194,724.664.1241.45945672
14Hưng YênPhố Hiến18312.514,813.567.9431.41811930
15Ninh BìnhHoa Lư18313.942,624.412.2641.11932970
16Thanh HóaHạc ThànhBắc Trung Bộ102911.114,714.324.783389191470
17Nghệ AnTrường Vinh146916.486,503.831.694232111190
18Hà TĩnhThành Sen18315.994,451.622.9012709600
19Quảng TrịĐồng Hới183212.7001.870.8451478691
20HuếThuận Hóa18224.947,111.432.98628921190
21Đà NẵngHải ChâuDuyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên188811.859,593.065.62825823701
22Quảng NgãiCẩm Thành183114.832,552.161.7551459861
23Gia LaiQuy Nhơn193221.576,933.583.693166251100
24Đắk LắkBuôn Ma Thuột190418.096,403.346.85318414880
25Khánh HòaNha Trang16538.555,862.243.55426216481
26Lâm ĐồngXuân Hương – Đà Lạt195824.233,073.872.999159201031
27Đồng NaiTrấn BiênĐông Nam Bộ180212.737,184.491.40835223720
28Thành phố
Hồ Chí Minh
Sài Gòn16986.772,5914.002.5982.067113541
29Tây NinhLong An18368.536,443.254.17038114820
30Đồng ThápMỹ ThoĐồng bằng sông Cửu Long19765.938,644.370.04673520820
31Vĩnh LongLong Châu18326.296,204.257.581676191050
32Cần ThơNinh Kiều18886.360,834.199.82466031720
33An GiangRạch Giá18329.888,914.952.23850014853
34Cà MauTân Thành19557.942,392.606.6723289550

Các đơn vị hành chính tương đương trong quá khứ

Đạo thừa tuyên

Trấn

Dinh

Đô thành

Đặc khu

Lịch sử

Năm 1976

Tính đến ngày 2 tháng 7 năm 1976:

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia ĐịnhThành phố Hồ Chí Minh.[2]

Đến cuối năm 1976, Việt Nam có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 35 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 1977

Ngày 15 tháng 1 năm 1977, sáp nhập huyện Côn Đảo của Thành phố Hồ Chí Minh vào tỉnh Hậu Giang.[3]

Đến cuối năm 1977, Việt Nam có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 35 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 1978

Ngày 29 tháng 12 năm 1978:

  • Sáp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn sau đây của tỉnh Hà Sơn Bình và tỉnh Vĩnh Phú vào thành phố Hà Nội:
    1. Tỉnh Hà Sơn Bình:
      1. Các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức, thị xã Sơn Tây và thị xã Hà Đông;
      2. Xã Tiên Phương, xã Phụng Châu, phần Bắc đường số 6 thuộc xã Ngọc Hòa và xã Ngọc Sơn của huyện Chương Mỹ; xã Hữu Hòa và phần Bắc đường số 6 thuộc xã Phú Lãm của huyện Thanh Oai;
      3. Các xã Liên Minh, Việt Hưng, Thanh Hưng và Đại Thanh của huyện Thường Tín;
      4. Các xã Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Phú và Đại Thành của huyện Quốc Oai.
    2. Tỉnh Vĩnh Phú:
      1. Huyện Sóc Sơn;
      2. Các xã Chu Phan, Đại Thịnh, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Châu, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tự Lập, Tráng Việt, Hoàng Kim, Văn Khê, Vạn Yên, Quang Minh, Kim Hoa và thị trấn Phúc Yên thuộc huyện Mê Linh.
  • Phân định địa giới các tỉnh Cao Lạng, Quảng NinhBắc Thái như sau:
  1. Chia tỉnh Cao Lạng thành hai tỉnh Cao BằngLạng Sơn.
  2. Sáp nhập huyện Ngân Sơn và huyện Chợ Rã của Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng.
  3. Sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh vào tỉnh Lạng Sơn.

Đến cuối năm 1978, Việt Nam có 39 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 36 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 1979

Ngày 30 tháng 5 năm 1979, thành lập đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo gồm có: thị xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang.[5]

Đến cuối năm 1979, Việt Nam có 40 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 36 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và 1 đặc khu.

Năm 1981

Ngày 29 tháng 12 năm 1981, sáp nhập xã Đồng Nai thuộc huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé vào huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.[6]

Đến cuối năm 1981, Việt Nam có 40 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 36 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và 1 đặc khu.

Năm 1982

Ngày 28 tháng 12 năm 1982, sáp nhập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh.[7]

Đến cuối năm 1982, Việt Nam có 40 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 36 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và 1 đặc khu.

Năm 1989

Ngày 30 tháng 6 năm 1989:

Đến cuối năm 1989, Việt Nam có 44 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 40 tỉnh, 3 thành phố trực thuộc trung ương và 1 đặc khu.

Năm 1991

Ngày 12 tháng 8 năm 1991:

  1. Chuyển huyện Mê Linh của thành phố Hà Nội về tỉnh Vĩnh Phú;
  2. Chuyển thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Hoài Đức, Phúc Thọ, Đan Phượng, Ba Vì, Thạch Thất của thành phố Hà Nội về tỉnh Hà Tây.[9]

Ngày 26 tháng 12 năm 1991:

Đến cuối năm 1991, Việt Nam có 53 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 50 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 1993

Ngày 30 tháng 12 năm 1993, chuyển thôn Vũng Rô hiện đang thuộc địa phận của xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào địa phận của xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.[11]

Đến cuối năm 1993, Việt Nam có 53 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 50 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 1996

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh sau đây:

Đến cuối năm 1996, Việt Nam có 61 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 57 tỉnh và 4 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 2003

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, chia tỉnh Cần Thơ, tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Lai Châu như sau:

Đến cuối năm 2003, Việt Nam có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 59 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 2008

Ngày 29 tháng 5 năm 2008:

  1. Chuyển xã Tân Đức thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  2. Chuyển ấp C10 thuộc xã Đăng Hà, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về xã Đắk Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.[14]
  • Điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan như sau:
  1. Hợp nhất tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội.
  2. Chuyển huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội.
  3. Chuyển 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội, bao gồm: xã Đông Xuân, xã Tiến Xuân, xã Yên Bình, xã Yên Trung.[15]

Đến cuối năm 2008, Việt Nam có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 2024

Ngày 30 tháng 11 năm 2024, thành lập thành phố Huế là thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở tỉnh Thừa Thiên Huế.[16]

Đến cuối năm 2024, Việt Nam có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 57 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 2025

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh:

Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2025, Việt Nam có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương.

Tham khảo

  1. 1 2 "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  2. Nghị quyết ngày 2 tháng 7 năm 1976 của Quốc hội khóa VI, Kỳ họp thứ 1 về việc chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Quốc hội khóa VI, Kỳ họp thứ 2 (ngày 15 tháng 1 năm 1977). "Nghị quyết ngày 15 tháng 1 năm 1977 của Quốc hội khóa VI, Kỳ họp thứ 2 phê chuẩn việc sáp nhập huyện Côn Đảo vào tỉnh Hậu Giang". Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  4. Nghị quyết ngày 29 tháng 12 năm 1978 của Quốc hội khóa VI, Kỳ họp thứ 4 phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai.
  5. Quốc hội khóa VI, Kỳ họp thứ 5 (ngày 30 tháng 5 năm 1979). "Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trực thuộc Trung ương". Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  6. Quốc hội khóa VII, Kỳ họp thứ 2 (ngày 29 tháng 12 năm 1981). "Nghị quyết về việc sáp nhập xã Đồng Nai thuộc huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé vào huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng". Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  7. Nghị quyết ngày 28 tháng 12 năm 1982 của Quốc hội khóa VII, Kỳ họp thứ 4 về việc sáp nhập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh.
  8. Nghị quyết ngày 30 tháng 6 năm 1989 của Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 5 về việc phân vạch địa giới hành chính của các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên.
  9. Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 9 (ngày 12 tháng 8 năm 1991). "Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương". Cổng Thông tin điện tử Quốc hội. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  10. Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 10 (ngày 26 tháng 12 năm 1991). "Nghị quyết ngày 26 tháng 12 năm 1991 của Quốc hội khóa VIII, Kỳ họp thứ 10 về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh". Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Ninh Bình. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  11. Nghị quyết ngày 30 tháng 12 năm 1993 của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 4 về việc điều chỉnh địa giới tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa tại khu vực Đèo Cả – Vũng Rô
  12. Nghị quyết ngày 6 tháng 11 năm 1996 của Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 10 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh.
  13. Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 4 (ngày 26 tháng 11 năm 2003). "Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh". Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  14. Nghị quyết số 14/2008/QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 3 về việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ, giữa tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai.
  15. Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 3 (ngày 29 tháng 5 năm 2008). "Nghị quyết số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan". Cổng Thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  16. Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 8 (ngày 30 tháng 11 năm 2024). "Nghị quyết số 175/2024/QH15 về việc thành lập thành phố Huế trực thuộc trung ương" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  17. Quốc hội khóa XV, Kỳ họp thứ 9 (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)

Liên kết ngoài