Đồng Nai
Đồng Nai | ||
|---|---|---|
| Tỉnh | ||
Biểu trưng | ||
| Tên khác | Xứ Trấn Biên | |
| Biệt danh | Thủ phủ chôm chôm Xứ sở cao su Thủ phủ ngành chăn nuôi Vùng đất giàu truyền thống cách mạng phía Nam | |
| Tên cũ | Biên Hòa, Long Khánh, Bình Phước | |
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đông Nam Bộ (địa lí) Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị) | |
| Trung tâm hành chính | Phường Trấn Biên | |
| Trụ sở UBND | Số 2, đường Nguyễn Văn Trị, phường Trấn Biên | |
| Phân chia hành chính | 23 phường, 72 xã | |
| Thành lập | ||
| Đại biểu Quốc hội | 11 | |
| Tổ chức lãnh đạo | ||
| Bí thư Tỉnh ủy | Vũ Hồng Văn | |
| Chủ tịch UBND | Nguyễn Văn Út | |
| Hội đồng nhân dân | 81 đại biểu | |
| Chủ tịch HĐND | Tôn Ngọc Hạnh | |
| Chủ tịch UBMTTQ | Huỳnh Thị Hằng | |
| Viện trưởng VKSND | Huỳnh Văn Lưu | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ | ||
| Diện tích | 12.737,18 km²[1] | |
| Dân số (31/12/2024) | ||
| Tổng cộng | 4.599.859 người[2][3] | |
| Mật độ | 361 người/km² | |
| Dân tộc | Kinh, Hoa, Khmer, Xtiêng, Chơ-ro, Chăm, Mường, Dao, Thái, Ơ Đu, Si La, Nùng, Tày | |
| Kinh tế (2025) | ||
| GRDP | 703.174 tỉ đồng (27.967 tỉ USD) | |
| GRDP đầu người | 152,88 triệu đồng (6.080,4 USD) | |
| Khác | ||
| Mã địa lý | VN-39 | |
| Mã hành chính | 75[4] | |
| Mã bưu chính | 81xxxx | |
| Mã điện thoại | 251 | |
| Biển số xe | 39, 60, 93 | |
| Website | dongnai | |
Đồng Nai là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, miền Nam, Việt Nam.
Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đồng Nai có diện tích: 12.737 km², xếp thứ 9; dân số: 4.491.408 người, xếp thứ 5; GRDP 2024: 609.176.602 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu ngân sách 2024: 73.458.454 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu nhập bình quân: 78,04 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 4.[5]
Địa lý
Vị trí địa lý
Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ. Đồng Nai có tọa độ từ 10o30'03B đến 11o34'57B và từ 106o45'30Đ đến 107o35'00"Đ, có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp tỉnh Lâm Đồng
- Phía tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh
- Phía nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh
- Phía bắc giáp các tỉnh Tbong Khmum, Kratié và Mondulkiri của Campuchia.
Tỉnh được xem là một cửa ngõ đi vào vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong 4 góc nhọn của Tứ giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh nay gồm (Bình Dương - Bà Rịa – Vũng Tàu) - Đồng Nai. Dân cư tập trung phần lớn ở Biên Hòa cũ với gần 1.6 triệu dân và ở 2 huyện cũ là Trảng Bom, Long Thành.
Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Trấn Biên, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 1684 km theo đường Quốc lộ 1. Đây là một trong số các phường có dân số đông nhất cả nước
Điều kiện thiên nhiên

Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và trung du với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%.[6]
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27 °C, nhiệt độ cao cực trị khoảng 40 °C và thấp cực trị 12,5 °C và số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82%.[6]
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng[6],...
Lịch sử
Những cư dân sớm nhất
Loài người đã cư trú trên vùng đất Đồng Nai từ khoảng 600 nghìn đến 700 nghìn năm trước Công nguyên,[7] với những di tích sớm nhất là các công cụ ghè đẽo hai mặt giống rìu tay thuộc thời kỳ đồ đá cũ. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước trước đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện được một số di tích có niên đại từ 100 nghìn đến 150 nghìn năm về trước.[8] Vào thời kỳ này, những cư dân sống dựa vào việc săn bắt và hái lượm.
Đến thời kỳ đồ đá mới, cư dân nơi đây đã mở rộng địa bàn cư trú và bắt đầu định cư lâu dài ở một khu vực nhất định. Các cư dân bắt đầu trồng lúa, nhiều loại cây ăn quả, cây lấy củ và chăn nuôi nhiều loài động vật. Nghề thủ công phát triển, nhất là nghề chế tác đá và làm gốm.
Khoảng hơn 4000 năm trước, nền văn hóa Đồng Nai xuất hiện.
Nam tiến
Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Hà Tĩnh ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ.
Để mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.
Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua Lê - Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.
Năm 1621, Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) sai sứ sang gặp vua Chân Lạp Chey Chetta II, yêu cầu cho người Việt vào sinh sống, buôn bán ở Đồng Nai.[9] Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Tần đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Năm 1802, dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hoà. Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh, Phước Bình.
Thời kỳ Pháp thuộc
Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận. Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước Bình và Long Khánh vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1882, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, lúc này triều đình Nhà Nguyễn cắt đất giao 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp. Sau đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy.
Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập Tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.
Sau thống nhất
Năm 1976, chuyển thị xã Biên Hòa thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lị là thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành, Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất vào thành phố Biên Hòa.[10]
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Duyên Hải về Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI.[11]
Ngày 30 tháng 5 năm 1979, điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vũng Tàu và xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành để thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo[12] trực thuộc Trung Ương.
Ngày 23 tháng 12 năm 1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An.[13]
Ngày 10 tháng 4 năm 1991, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyệnXuân Lộc để thành lập huyện Long Khánh; điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Tân Phú để thành lập huyện Định Quán.[14]
Đến năm 1991, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa (tỉnh lỵ), thị xã Vĩnh An và 9 huyện: Châu Thành, Định Quán, Long Đất, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết tách 3 huyện: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc để sáp nhập với đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.[15] Tỉnh Đồng Nai còn lại 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện.
Năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại II, trực thuộc Tỉnh Đồng Nai.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Long Thành để thành lập huyện Nhơn Trạch.[16]
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, giải thể thị xã Vĩnh An để tái lập huyện Vĩnh Cửu.[17]
Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ-CP, giải thể huyện Long Khánh để thành lập thị xã Long Khánh và huyện Cẩm Mỹ, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Thống Nhất để thành lập huyện Trảng Bom.[18] Đến thời điểm này, tỉnh Đồng Nai có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện.
Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc Tỉnh Đồng Nai.[19]
Ngày 1 tháng 6 năm 2019, chuyển thị xã Long Khánh thành thành phố Long Khánh.[20] Tỉnh Đồng Nai có 2 thành phố và 9 huyện.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Bình Phước vào tỉnh Đồng Nai.
Sau khi sáp nhập, tỉnh Đồng Nai có 12.737,18 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.491.408 người.
Hành chính
![]()
Tỉnh Đồng Nai được chia thành 95 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 23 phường và 72 xã.[21]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đồng Nai | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế - xã hội
Kinh tế
Năm 2024, Đồng Nai là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ năm về số dân, xếp thứ tư về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ sáu về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 7 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 4.599.859 người dân,[22] GRDP đạt 703.174 tỉ Đồng (tương ứng 27.967 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 152.88 triệu đồng (tương ứng với 6.080,4 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,63%.[23]
Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Trong đó, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai. Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh tăng 15,22% so với năm 2024.[24] Đồng Nai nằm trong tốp đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến cuối năm 2025, tỉnh có trên 2,2 ngàn dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD từ 51 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Singapore là những quốc gia dẫn đầu về số dự án và tổng vốn đầu tư.[25] Sau sáp nhập, Đồng Nai trở thành tỉnh có quy mô khu công nghiệp lớn nhất Việt Nam.[26] Có 57 khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn tỉnh, trong đó 42 khu đã xây dựng hạ tầng đồng bộ. Các khu công nghiệp tiêu biểu bao gồm: Nhơn Trạch, Long Thành, Biên Hòa, Amata, Lộc An - Bình Sơn...[27]
Về nông nghiệp, Đồng Nai là thủ phủ sản xuất chè, cà phê, ca cao, cam, bưởi, quýt, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,... Đây là tỉnh có sản lượng nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ và là một trong những tỉnh sản xuất ra khối lượng nông sản lớn nhất Việt Nam. Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai có diện tích cây công nghiệp, cây ăn trái lớn với tổng diện tích hơn 609 ngàn hécta.[28] Trong đó, một số cây công nghiệp chủ lực có diện tích thuộc tốp đầu cả nước như: cao su, điều, hồ tiêu... đã hình thành được các vùng chuyên canh lớn. Đồng Nai hiện cũng là tỉnh dẫn đầu cả nước về chăn nuôi với tổng đàn hơn 4 triệu con heo và gần 33 triệu con gà (92% nuôi tại các trang trại quy mô lớn). Tỉnh đang dịch chuyển mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang hình thức trang trại tập trung, khép kín, ứng dụng công nghệ cao và an toàn sinh học.[29]
Xã hội
Giáo dục
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 745 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 84 trường, Trung học cơ sở có 273 trường, Tiểu học có 362 trường, trung học có 23 trường, có 4 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 327 trường mẫu giáo.[30] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[30] Trên địa bàn còn có cơ sở 2 của Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh ở phường Long Bình Tân, Tp Biên Hòa.
Sau sáp nhập, tỉnh Ðồng Nai mới (gồm tỉnh Bình Phước và Ðồng Nai cũ) có quy mô trên 1,2 triệu học sinh và trên 1,3 ngàn cơ sở giáo dục. Ðồng Nai thuộc nhóm 5 tỉnh, thành có số lượng học sinh đông nhất cả nước, sau Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa. Toàn ngành giáo dục của tỉnh có tổng số hơn 65,2 ngàn cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các cấp học mầm non, phổ thông. Trong đó, có hơn 3,2 ngàn cán bộ quản lý, hơn 49,6 ngàn giáo viên và hơn 12,3 ngàn nhân viên.[31]
Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, tỉnh Đồng Nai (cũ) đạt 99,67% hệ giáo dục phổ thông, hệ giáo dục thường xuyên là 93,33%. Tỉnh Bình Phước (cũ), hệ giáo dục phổ thông là 99,60%, hệ giáo dục thường xuyên là 87,50%. Tính chung tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2025 của tỉnh Đồng Nai mới, ở hệ giáo dục phổ thông là 99,65%, hệ giáo dục thường xuyên là 92,62%, bình quân chung là 98,37%. Tính đến năm 2025, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia của tỉnh là 69,78%.[32]
So với mặt bằng chung của cả nước, tỉnh Đồng Nai là địa phương đã thực hiện tốt về công tác xã hội hóa giáo dục với tỷ lệ học sinh ngoài công lập là 20,6%, trong khi toàn quốc hơn 6,68%. Tính đến năm học 2025-2026 này, mạng lưới trường ngoài công lập có 190 trường, từ mầm non đến THPT. Trong đó, mầm non có 150 trường, tiểu học 6 trường, THCS 5 trường và THPT có 29 trường. Các trường ngoài công lập đã huy động 145 ngàn học sinh các cấp ra lớp, chiếm tỷ lệ khoảng 20,6% so với tổng số học sinh toàn tỉnh.[31]
Y tế
Đồng Nai là một trong những tỉnh có vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển.
Danh sách bệnh viện tại Đồng Nai
| *Bệnh viện Hoàn Mỹ Bình Phước
|
Bên cạnh đó còn có Hệ thống phòng khám và chăm sóc sức khỏe Quốc tế Sỹ Mỹ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận khám chữa bệnh mà các bệnh viện, phòng khám khác không đáp ứng được nhu cầu.
Dân cư
Lịch sử phát triển dân số
| Năm | Số dân | ±% |
|---|---|---|
| 1995 | 1.844.800 | — |
| 1996 | 1.882.200 | +2.0% |
| 1997 | 1.920.000 | +2.0% |
| 1998 | 1.959.300 | +2.0% |
| 1999 | 1.999.500 | +2.1% |
| 2000 | 2.054.100 | +2.7% |
| 2001 | 2.093.700 | +1.9% |
| 2002 | 2.132.200 | +1.8% |
| 2003 | 2.176.100 | +2.1% |
| 2004 | 2.220.500 | +2.0% |
| 2005 | 2.263.800 | +2.0% |
| 2006 | 2.314.900 | +2.3% |
| 2007 | 2.372.600 | +2.5% |
| 2008 | 2.432.700 | +2.5% |
| 2009 | 2.499.700 | +2.8% |
| 2010 | 2.575.100 | +3.0% |
| 2011 | 2.640.200 | +2.5% |
| 2012 | 2.707.800 | +2.6% |
| 2013 | 2.772.700 | +2.4% |
| 2014 | 2.838.600 | +2.4% |
| 2015 | 2.905.800 | +2.4% |
| 2016 | 2.963.800 | +2.0% |
| 2017 | 3.027.300 | +2.1% |
| 2018 | 3.086.100 | +1.9% |
| 2019 | 3.113.700 | +0.9% |
| 2020 | 3.177.400 | +2.0% |
| 2021 | 3.169.100 | −0.3% |
| 2022 | 3.255.800 | +2.7% |
| 2023 | 3.310.900 | +1.7% |
| 2024 | 3.365.450 | +1.6% |
| 31/12/2024 | 4.599.859 | +36.7% |
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, dân số toàn tỉnh Đồng Nai là 4.599.859 người, mật độ dân số đạt 361 người/km².[33]
Tính đến 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019, tổng số người dân tộc Kinh trên toàn địa bàn tỉnh là 2.898.088 người, chiếm 93,6% dân số toàn tỉnh, tổng số người dân tộc khác là 199.019 người, chiếm 6,4%.[34] Người Chơ Ro tại Đồng Nai là cộng đồng đông nhất cả nước, chiếm 56,70% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam.[35]
| Dân tộc | Số dân (người) |
|---|---|
| Người Hoa | 87.497 |
| Người Khmer | 23.560 |
| Người Nùng | 18.561 |
| Người Chơ Ro | 16.738 |
| Người Tày | 16.529 |
| Người Chăm | 8.603 |
| Người Mường | 6.257 |
| Người Dao | 4.910 |
| Người Mạ | 2.695 |
| Người S'tiêng | 1.387 |
Mục tiêu nhằm cải thiện mức sinh, tiến tới đạt mức sinh thay thế; nâng cao sức khỏe sinh sản, duy trì cân bằng giới tính khi sinh, tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số, thực hiện phân bố dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.
Kế hoạch đề ra một số mục tiêu đáng chú ý như: tăng 0,2‰ tỷ suất sinh thô mỗi năm, quy mô dân số đến năm 2030 đạt khoảng 4,86 triệu người; giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; duy trì tỷ lệ tăng dân số của các dân tộc thiểu số dưới 10 nghìn người cao hơn mức tăng bình quân chung cả nước; tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%, tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%; tuổi thọ bình quân đạt 78 tuổi, thời gian sống khỏe mạnh là 68 năm; chiều cao ở người 18 tuổi đối với nam đạt 168,5cm, nữ đạt 157,5cm; thúc đẩy đô thị hóa, đưa tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 45%; trên 50% xã, phường đạt tiêu chí thân thiện với người cao tuổi…
Tôn giáo
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đồng Nai có 13 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 1.015.315 người, Phật giáo có 440.556 người, Đạo Cao Đài có 34.670 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 43.690 người, Hồi giáo 6.220 người, Phật giáo hòa hảo có 5.220 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 530 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 36 người, Minh Sư Đạo có 39 người, Bahá'í có 63 người, Bà-la-môn có 15 người, Minh Lý Đạo có 12 người, còn lại là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có hai người.[36]
Tỉnh Đồng Nai là tỉnh có sự đa dạng về các đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng. Phần lớn dân cư theo sau Công cuộc Mở mang bờ cõi của Chúa Nguyễn và đánh dấu là sự khai hoang lập ấp của Nguyễn Hữu Cảnh. Cư dân ban đầu mang theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà mà phần lớn người dân Việt Nam hiện nay đều có. Song song đó là sự có mặt của Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo,... dần dần đến các cuộc chiến tranh Việt Nam chống ngoại ban xâm lược thì sự du nhập các tôn giáo, tín ngưỡng theo sự di dân do chiến tranh và hoàn cảnh bắt đầu xuất hiện.
Công giáo ra đời và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay trên đất Đồng Nai là sau cuộc di dân năm 1954. Rồi dần, Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, v.v.. dần xuất hiện theo sự di cư của người dân. Các nơi có đông giáo dân ở Đồng Nai là tp. Biên Hoà, huyện Trảng Bom, trải dài tới Xuân Lộc, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, với hơn 900.000 giáo dân, Đồng Nai là nơi có số lượng người theo Công giáo rất lớn.
Phật giáo tại Đồng Nai phát triển mạnh sau sự kiện Thích Quảng Đức vị quốc thiêu thân năm 1963, làm phát khởi tinh thần Từ Bi - Trí tuệ của người Phật tử, hiện nay hàng loạt các ngôi chùa, tự viện, thiền viện được ra đời đáp ứng nhu cầu tu học của người dân, đăc biệt là Hệ thống Thiền viện thuộc Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam.
Theo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai, năm 2025 toàn tỉnh hiện có 2,65 triệu tín đồ thuộc 11 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo đang hoạt động. Đồng Nai là địa phương có số tín đồ các tôn giáo chiếm số lượng lớn nhất cả nước. Cụ thể, tín đồ Công giáo có trên 1,31 triệu người. Tín đồ Phật giáo hơn 1 triệu người. Người theo đạo Tin Lành có trên 80 ngàn người.[37] Các tôn giáo khác gồm có Cao Đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo... chiếm tỉ lệ nhỏ hơn trong tổng số tín đồ. Ngoài ra, trên địa bàn còn xuất hiện một số hiện tượng "tôn giáo mới" như Tổ Tiên Chính thống giáo, đạo Dừa, Thanh Hải vô thượng sư, Vô vi Phật tử Như lai, Pháp Luân công...[38]
Văn hóa - Du lịch
Văn hóa
Đồng Nai sở hữu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú, phản ánh đậm nét đời sống tâm linh và các nghi lễ nông nghiệp của cộng đồng cư dân đa sắc tộc. Trong đó, Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản tiêu biểu đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ.[39] Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương, các làng nghề khác như bánh đa, hủ tíu, gò thùng thiếc làng Kim Bích. Theo dòng chảy của lịch sử, Đồng Nai đã hình thành nên những làng nghề nổi tiếng như: làng nghề đá Bửu Long, gốm Tân Vạn (Biên Hòa), đúc gang Thạnh Phú, trồng nấm (Long Khánh), trầm hương (Tân Phú), gỗ mỹ nghệ (Trảng Bom, Xuân Lộc)…[40]
Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại [41]
Các lễ hội tiêu biểu tại địa phương thường gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng thần linh và tổ tiên. Đáng chú ý nhất là lễ hội Sayangva (Mừng lúa mới) của người Chơ Ro đang được lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bên cạnh đó, lễ hội Kỳ Yên tại các đình làng như đình Tân Lân, đình Bình Kính là dịp cầu mưa thuận gió hòa cho cộng đồng. Các nhóm dân tộc khác cũng duy trì những lễ hội đặc thù như lễ Tả Tài Phán của cộng đồng người Hoa (nhóm Hẹ) mang đậm dấu ấn Đạo giáo, lễ hội Lơh-yang-rơ tạ ơn sau mùa thu hoạch của người Kơ Ho, và lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng.[42][43]
Du lịch
huyện Trảng Bom

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (phường Trấn Biên), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, Long Khánh), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (Xuân Lộc), trung tâm hành hương Đức Mẹ núi Cúi (Gia Kiệm), khu du lịch Suối Mơ, làng du lịch Tre Việt, khu du lịch Bò Cạp Vàng, khu du lịch sinh thái Thủy Châu.
Ẩm thực
Các đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Đồng Nai gồm có: Bưởi Tân Triều (được chế biến thành gỏi bưởi, rượu bưởi), Mít tố nữ Long Khánh, Chôm chôm Long Khánh, gỏi cá Biên Hòa, cơm gà cá mặn Long Khánh, lẩu khổ qua rừng, chả lụi Biên Hòa, bánh gai Hố Nai, nấm mối, trái ươi rừng, cá kìm khô hồ Trị An, hạt điều...[44]
Công trình kiến trúc
Mốc thời gian của tòa nhà cao nhất
| Số năm cao nhất | Tòa nhà | Hình ảnh | Chiều cao (m) | Vị trí |
|---|---|---|---|---|
| 2018 - Nay | The Mira Central Park | 96 | Tam Hiệp | |
| 2012 - 2018 | Tòa nhà Sonadezi | 91 | Trấn Biên | |
| 2013-nay | Tòa nhà Pegasus Plaza | 86 | Trấn Biên | |
| 2011 - 2012 | Long Thành Plaza | 74 | Long Thành | |
| 2009 - 2011 | Aurora Hotel Plaza | 47 | Tam Hiệp | |
| 1989 - 2009 | Tháp chuông nhà thờ Bùi Chu | 25 | Bình Minh | |
| 1967 - 1989 | Tháp nước Biên Hòa | 20 | Trấn Biên | |
| 1837 - 1967 | Thành Biên Hòa | 3,6 | Trấn Biên |
Kết nghĩa
Giao thông
Cơ sở hạ tầng giao thông
Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như Quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và đường vành đai 3 vùng đô thị TP.HCM đều đi qua Đồng Nai.[45]
Tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua dài 87,5 km với 8 ga: Biên Hoà, Hố Nai, Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia Ray và Trảng Táo. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh.[46] Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới.[47] Về giao thông đường thủy thì trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3 khu cảng gồm có Khu cảng trên sông Đồng Nai,Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu, và Khu cảng trên sông Thị Vải. Trong đó Khu cảng trên sông Đồng Nai gồm có các cảng là Cảng Đồng Nai, cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS (sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000 DWT), Cảng tổng hợp Phú Hữu II, Cảng tại khu vực Tam Phước, Tam An. Các cảng tại Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu gồm có cảng gỗ mảnh Phú Đông, cảng xăng dầu Phước Khánh, cảng nhà máy đóng tàu 76, cảng tổng hợp Phú Hữu 1, cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch, cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh, cảng VIKOWOCHIMEX, cảng Sun Steel – China Himent, và các cảng chuyên dùng khác. Các cảng Khu cảng trên sông Thị Vải gồm có cảng Phước An, cảng Phước Thái, cảng Gò Dầu A, cảng Gò Dầu B, cảng Super Phosphat Long Thành, cảng nhà máy Unique Gas.
Các tuyến đường quốc lộ
Tỉnh Đồng Nai có 4 tuyến quốc lộ chính là Quốc lộ 13 , Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, Quốc lộ 20, Quốc lộ 56, Quốc lộ 14.
- Chiều dài Quốc lộ 13 trên địa bàn tỉnh Đồng nai (tính theo số Km là từ Km 0 - Km 140 + 500 ) dài 149,5 km, là quốc lộ theo hướng Nam – Bắc, bắt đầu từ ngã 5 Đài Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh và đi qua các, Thành Phố và Huyện của (Tỉnh Bình Dương cũ), sau đó lại đi qua các Huyện, Xã của (Tỉnh Bình Phước cũ) kết thúc tại cửa khẩu Hoa Lư, (biên giới Việt Nam – Campuchia), quốc lộ 13 nối với quốc lộ 7 của Campuchia và quốc lộ này lại nối với quốc lộ 13 của Lào.
- Chiều dài Quốc lộ 1 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km 1770 - Km 1802) dài 102 km, chạy qua thành phố Biên Hòa (chiều dài đi qua là 13 km), 2 huyện: Trảng Bom (chiều dài đi qua là 19 km), Thống Nhất (chiều dài đi qua là 8 km), thành phố Long Khánh (chiều dài đi qua là 15 km), huyện Xuân Lộc (chiều dài đi qua là 47 km).
- Chiều dài Quốc lộ 51 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 38), dài 38 km, chạy qua thành phố Biên Hòa, (chiều dài đi qua là 15 km) huyện Long Thành (chiều dài đi qua là 23 km)
- Chiều dài Quốc lộ 20 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 75) dài 75 km, chạy qua 3 huyện: Thống Nhất (chiều dài đi qua là 20 km), Định Quán (chiều dài đi qua là 26 km, Tân Phú (chiều dài đi qua là 29 km)
- Chiều dài Quốc lộ 56 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 18]], dài 18 km, chạy qua thành phố Long Khánh (chiều dài đi qua là 4 km), huyện Cẩm Mỹ (chiều dài đi qua là 14 km).
- Đường Hồ Chí Minh (QL14) qua các tỉnh Tây nguyên và Bình Phước được nâng cấp, mở rộng từ Tân Cảnh (Kon Tum) đến Chơn Thành (Bình Phước) với tổng chiều dài 553 km, gồm 6 dự án trái phiếu Chính phủ và 5 dự án BOT. Điển hình trong việc tăng tốc tiến độ phải kể đến gói thầu của Liên danh Toàn Mỹ 14 – Băng Dương (TP.HCM) làm chủ đầu tư bằng hình thức BOT đoạn qua tỉnh Đắk Nông.
Như vậy, các tuyến quốc lộ đều đi qua tất cả các địa phương của tỉnh trừ 2 huyện Vĩnh Cửu và Nhơn Trạch. huyện Nhơn Trạch đang phát triển đô thị thành nên giao thông đang được hoàn thiện. Riêng huyện Vĩnh Cửu có khu bảo tồn thiên nhiên với các cánh rừng bạt ngàn được xem là lá phổi xanh của tỉnh, chính vì vậy mà hạn chế mở quốc lộ qua đây giúp góp phần bảo vệ sự trong lành của môi trường.
Hình ảnh
Trung tâm phường Long Khánh Trung tâm xã Trảng Bom Xã Xuân Lộc Rừng cây cao su ở xã Long Thành Cổng chính Văn Miếu
Trấn BiênKhuê Văn Các ở
Văn Miếu Trấn BiênChùa Đại Giác ở
phường Trấn BiênĐền Nguyễn Hữu Cảnh
Cù lao Phố, Trấn BiênĐình Tân Lân ở
Chợ Biên Hoà, phường Trấn BiênNhà thờ chính tòa Xuân Lộc, phường Long Khánh Đá Ba Chồng tại
xã Định QuánCầu Long Thành trên
Cao tốc TP.HCM -
Long Thành - Dầu Giây- Di tích cấp tỉnh Đình Phước Thiền, xã Nhơn Trạch
Danh nhân
- Nguyễn Hữu Cảnh là vị quan nhà Nguyễn có công khai khẩn đất hoang, lập ra dinh Phiên Trấn, đặt nền móng cho sự phát triển của vùng đất Đồng Nai.
- Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ, nhà văn yêu nước, người đã có công lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần chống Pháp của nhân dân Đồng Nai.
- Nguyễn Tri Phương là danh tướng nhà Nguyễn, có công lao to lớn trong việc chống Pháp xâm lược, bảo vệ thành Biên Hòa.
- Trịnh Hoài Đức là nhà bác học uyên thâm, có nhiều đóng góp to lớn cho lĩnh vực lịch sử, địa lý, văn hóa.
- Bùi Hữu Nghĩa là nhà thơ yêu nước, nhà văn hóa lớn của Nam Bộ.
- Nguyễn Duy là thủ lĩnh phong trào nông dân Đồng Nai, lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại ách áp bức của thực dân Pháp.
- Nguyễn Đức Ứng là một trong những thủ lĩnh chủ chốt của phong trào Bãi Sậy, góp phần làm nên chiến thắng vang dội của nghĩa quân trong trận chiến chống quân Pháp.
- Thái Bảo là chính trị gia, Ông hiện là Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Đồng Nai.
- Phạm Xuân Ẩn là thiếu tướng quân đội, ông là một trong những nhà tình báo vĩ đại trong lịch sử. Quê hương ông ở Biên Hòa, Đồng Nai
- Huỳnh Văn Nghệ là một Thượng tá của quân đội, nổi tiếng về tài thơ ca nên ông thường được gọi là "thi tướng"
Tham khảo
- 1 2 "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 - 2025 của tỉnh Bình Phước
- ↑ Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2024
- ↑ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 3 Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%., Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ↑ Lê, Xuân Diệm; Phạm, Quang Sơn; Bùi, Chí Hoàng (1991). Khảo cổ Đồng Nai - thời tiền sử. Nhà xuất bản Đồng Nai. tr. 13.
- ↑ Đào, Linh Côn (1980). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1978. Nxb. Khoa học Xã hội. tr. 123–126.
- ↑ Cổng TTĐT thành phố. "Niên biểu Quảng Nam- Đà Nẵng thế kỷ 17, từ năm 1600 đến năm 1698". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Quyết định 272-CP năm 1978 về việc sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào thành phố Biên Hòa
- ↑ Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành
- ↑ Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
- ↑ Quyết định 284-HĐBT năm 1985 về việc thành lập thị xã Vĩnh An thuộc tỉnh Đồng Nai
- ↑ Quyết định 107-HĐBT ngày 10 tháng 4 năm 1991 chia các huyện Xuân Lộc và Tân Phú thành 4 huyện lấy tên là huyện Xuân Lộc, huyện Long Khánh, huyện Tân Phú và huyện Định Quán
- ↑ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
- ↑ Nghị định 51-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai
- ↑ Nghị định 109-CP ngày 29 tháng 8 năm 1994 tái lập huyện Vĩnh Cửu; điều chỉnh địa giới một số xã phường thuộc thành phố Biên Hòa và các huyện Long Khánh, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc
- ↑ Nghị định số 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai[liên kết hỏng], Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ↑ "Quyết định số 2488/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai".
- ↑ "Nghị quyết 673/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về việc thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính một số đơn vị hành chính cấp xã và thành lập thành phố Long Khánh thuộc tỉnh Đồng Nai".
- ↑ "NGHỊ QUYẾT Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đồng Nai năm 2025". quochoi.vn. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Tình hình kinh tế, xã hội Đồng Nai năm 2024". Nhà xuất bản tài chính - Tư liệu kinh tế – xã hội 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 2020-2024. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Đồng Nai: Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,22% so với năm 2024". Sở Công Thương. ngày 7 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Đồng Nai thu hút FDI vượt kế hoạch năm 2025". Cổng thông tin điện tử Đồng Nai. ngày 27 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Hạ tầng công nghiệp Đồng Nai trước nhu cầu phát triển mới". Vnexpress.
- ↑ "Danh sách các KCN". Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Nông nghiệp Đồng Nai bứt phá phát triển". Đồng Nai : Cổng thông tin điện tử. ngày 31 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Phát triển nông nghiệp bền vững ở Đồng Nai: "Con đường" tất yếu từ hữu cơ đến công nghệ cao". Tạp chí Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
- 1 2 "Ngành giáo dục Đồng Nai tạo nền móng vững chắc tiến vào kỷ nguyên mới". Báo điện tử Đồng Nai. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 của Đồng Nai đạt 98,37%". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Đề án thành lập phường và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương". Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai. ngày 24 tháng 3 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 Cục thống kê tỉnh Đồng Nai (2019). Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Đồng Nai (PDF). Nhà xuất bản thống kê (xuất bản ngày 1 tháng 4 năm 2019).
- ↑ "Đồng Nai là địa phương có số lượng người Chơro đông nhất cả nước". Cổng thông tin điện tử Đồng Nai. ngày 15 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
- ↑ "Đồng bào các tôn giáo chung sức vì Đồng Nai phát triển". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Nai. Báo cáo số 403/BC-BTG ngày 30/10/2017 về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2017, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2018.
- ↑ "Gốm sứ truyền thống Bình Dương và Đồng Nai". Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ↑ "Những làng nghề nổi tiếng". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Cụm công nghiệp nghề truyền thống của Đồng Nai". Dongnai.gov.vn. ngày 28 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Lan tỏa hình ảnh Ðồng Nai qua lễ hội". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Đồng Nai: Giữ bản sắc văn hóa qua các lễ hội truyền thống". Cục du lịch quốc gia Việt Nam.
- ↑ "Ẩm thực góp phần quảng bá du lịch địa phương". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Dự án đường Cao tốc Dầu Giây - Long Thành - Thành phố Hồ Chí Minh". Dongnai.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Dự án và đường sắt Đồng Nai trên trang web sở GTVT Đồng Nai". Dongnai.gov.vn. ngày 28 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Dự án Sân bay Long Thành trên trang web Sở GTVT Đồng Nai". Dongnai.gov.vn. ngày 28 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
Liên kết ngoài
- Thông tin Xã hội Kinh tế Lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2006 tại Wayback Machine
- Phát triển công nghiệp Đồng Nai Lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine
- Báo Đồng Nai Lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Wayback Machine
