Bắc Kạn (tỉnh)
Bắc Kạn | ||
|---|---|---|
| Tỉnh | ||
Biểu trưng | ||
| Biệt danh | Thủ phủ mơ vàng | |
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đông Bắc Bộ | |
| Trung tâm hành chính | Thành phố Bắc Kạn | |
| Trụ sở UBND | Tổ 1, phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn | |
| Phân chia hành chính | 1 thành phố, 7 huyện | |
| Thành lập |
| |
| Giải thể | 12 tháng 6 năm 2025 | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 22°09′41″B 105°49′50″Đ / 22,161335°B 105,830498°Đ | ||
| Diện tích | 4.853,25 km²[1][2] | |
| Dân số (31/12/2024) | ||
| Tổng cộng | 365.318 người[3] | |
| Mật độ | 75 người/km²[4] | |
| Dân tộc | Tày, Dao, Kinh, Nùng, H'Mông | |
| Kinh tế (2022) | ||
| GRDP | 29.531 tỷ đồng (1,25 tỉ USD) | |
| GRDP đầu người | 64,9 triệu đồng (2.751 USD) | |
| Khác | ||
| Mã địa lý | VN-53 | |
| Mã hành chính | 06[5] | |
| Mã bưu chính | 23xxx | |
| Mã điện thoại | 209 | |
| Biển số xe | 97 | |
| Website | backan | |
Bắc Kạn là một tỉnh cũ thuộc vùng Đông Bắc Bộ, Việt Nam, tồn tại trong các giai đoạn 1900-1965 và 1997-2025. Tỉnh có địa hình núi cao, hai cánh cung Ngân Sơn và Sông Gâm đóng vai trò quan trọng. Sông Cầu là sông dài và quan trọng chảy trên địa bàn tỉnh, hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam. Tỉnh có tỷ lệ che phủ rừng đứng hàng đầu cả nước. Bắc Kạn có các loại tài nguyên khoáng sản như chì, kẽm. Bắc Kạn là tỉnh có dân số thấp nhất tại Việt Nam. Các dân tộc thiểu số như người Tày, người Dao chiếm tỷ lệ cao và có thế đa số tại tỉnh. Năm 2025, tỉnh Bắc Kạn được sáp nhập với tỉnh Thái Nguyên.
Tên gọi
Năm 1891, phủ Thông Hoá của tỉnh Thái Nguyên được nhập vào đạo quan binh II Lạng Sơn. Đến năm 1892, tỉnh Thái Nguyên được tái lập. Ngày 11 tháng 4 năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở toàn bộ diện tích phủ Thông Hóa của tỉnh Thái Nguyên.[6] Năm 1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn hợp nhất thành một tỉnh, lấy tên là Bắc Thái.[7]
Về tên gọi Bắc Kạn trong tiếng Việt, từ khi thành lập vào năm 1900 được ghi là Bắc Cạn. Trong thời kì Chiến tranh Đông Dương, có lúc ghi Bắc Kạn, có lúc ghi Bắc Cạn; trước khi sáp nhập với tỉnh Thái Nguyên năm 1965, vẫn được ghi là Bắc Cạn. Từ sau khi tách tỉnh năm 1997 được ghi là Bắc Kạn.[6] Do nhiều cơ quan vẫn dùng Bắc Cạn, Thông tấn xã Việt Nam từng chính thức thông báo dùng thống nhất tên tỉnh Bắc Kạn, dựa trên nghị quyết của Quốc hội.[8]
Nguồn gốc tên gọi Bắc Kạn vẫn là vấn đề được các nhà sử học nghiên cứu. Một tấm bia từ thời Khải Định tại hòn Bà Góa trên hồ Ba Bể có khắc tên địa phương là "Bắc Cản" (北扞). Từ “Bắc Cản” này được cho là có nguồn gốc từ “Pác Kản” trong tiếng Tày – Nùng, nghĩa gốc của từ này đến nay không còn rõ.[9] Tên gọi “Bắc Kạn” cũng có thể là cách nói chệch của chữ “pác cạm” có nghĩa là cửa ngõ, hoặc “pác cáp” có nghĩa là nơi hợp lưu của các dòng chảy trong tiếng Tày.[10]
Lịch sử
Lưu vực sông Năng và vùng hồ Ba Bể từ thời đồ đá cũ khoảng 20.000 đến 10.000 năm TCN đã có người tiền sử sinh sống.[11]
Bắc Kạn vào thời phong kiến thuộc xứ Thái Nguyên. Do địa hình hiểm trở nên phát triển giao thông trong vùng gặp khó khăn, nhà Lý cho khai thông sông Cầu, làm một số đường ngựa và đặt các trạm dịch tại các châu huyện phía bắc như Bạch Thông, Cảm Hoá, giúp thông hành xuyên suốt Thái Nguyên.[12]
Sau khi nhà Mạc mất kinh thành Thăng Long vào tay quân Lê-Trịnh năm 1592, các tướng của nhà Mạc chiếm đóng địa bàn. Quân Mạc cuối cùng vẫn bị quân Trịnh đánh bại, bị đẩy lui về phía bắc. Năm 1596, hai bên giao tranh đẫm máu ở khu vực hồ Ba Bể, sau đó quân nhà Mạc cai quản đất Cao Bằng và một phần Bắc Kạn. Trong gần một trăm năm, tỉnh là nơi diễn ra những cuộc hỗn chiến gay gắt. [13]
Thời Nguyễn
Trong cuộc nổi dậy Nông Văn Vân chống nhà Nguyễn từ năm 1833-1835, địa bàn Bắc Kạn là một chiến trường sôi động.[14] Tại các căn cứ quân sự ở vùng châu Bạch Thông và huyện Cảm Hóa, nghĩa quân đánh nhiều trận ác liệt với quân nhà Nguyễn. Để trả thù, nhà Nguyễn tiến hành tàn sát, cướp phá nhiều vùng ở tỉnh.[15]
Từ khoảng năm 1739, ghi nhận có hàng vạn người từ Trung Quốc sang khu vực châu Bạch Thông và huyện Cảm Hoá để khai thác mỏ. Sang nửa cuối thế kỷ 19, do tình hình cướp bóc và chiến sự liên miên nên toàn bộ các mỏ ở đây đóng cửa. Những phu mỏ chủ yếu là từ Trung Quốc sang, họ về quê hoặc tản mát vào các làng bản định cư với dân địa phương.[16]
Năm 1884, thực dân Pháp chiếm được thành Thái Nguyên, nhưng phải gần mười năm sau họ mới đến được phủ lỵ Thông Hóa. Họ cũng phải mất một số năm nữa mới đặt chân tới được các vùng cao, xa, hẻo lánh. Sau năm 1897, việc xâm chiếm đất đai coi như đã hoàn thành.[17] Các châu huyện phía bắc Thái Nguyên tiến hành chống trả quân Pháp dưới sự lãnh đạo của Phùng Bá Chỉ (tức Bá Kỳ), trong đó tiêu biểu là trận Chợ Mới vào ngày 17 tháng 1 năm 1889. Tiếp theo đó, phong trào dưới quyền lãnh đạo của Mã Sinh Long (tức Mã Mang) đánh Pháp nhiều trận, liên tiếp ở những nơi như phía bắc thị trấn Chợ Mới.[18]


Ngày 11 tháng 4 nâm 1900, toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên để thành lập tỉnh Bắc Kạn, gồm bốn châu: Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Thực dân Pháp đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa một cách có hệ thống trên quy mô lớn tại Bắc Kạn. Năm 1904, người Dao tại hai xã Tân Sơn và Cao Sơn (Bạch Thông) nổi dậy chống chính sách sưu thuế nặng nề. Năm 1914, các tù nhân yêu nước cùng các lính khố xanh có tinh thần dân tộc tại thị xã Bắc Kạn tiến hành nổi dậy phá nhà lao, cướp vũ khí, tiến hành vũ trang làm chủ thị xã Bắc Kạn.[7]
Ngày 25 tháng 6 năm 1901, chính quyền thực dân cắt tổng Yên Đĩnh khỏi huyện Phú Lương (phủ Tòng Hoá, tỉnh Thái Nguyên) sáp nhập về châu Bạch Thông của tỉnh Bắc Kạn.[6] Năm 1913, tổng Nghĩa Tá được tách khỏi châu Định Hoá của tỉnh Thái Nguyên để nhập vào châu Chợ Đồn của tỉnh Bắc Kạn.[19]
Thực dân Pháp thực hiện tuyên truyền chia rẽ giữa các dân tộc, giữa người vùng cao và vùng thấp.[20]
Tư bản Pháp đến tỉnh thăm dò và khai thác khoáng sản, họ đặc biệt chú ý các mỏ có khoáng sản quý, hiếm, dễ khai thác, bán ra thu lãi lớn. Hoạt động khai thác mỏ sôi động nhất là trong thời kỳ 1913-1923, tỉnh Bắc Kạn được cho là tỉnh đứng đầu về hầm mỏ tại Bắc Kỳ trong giai đoạn 1920-1925. Năm cơ sở được chú ý là các mỏ vàng ở Ngân Sơn và Chợ Rã, các mỏ bạc ở Ngân Sơn và Chợ Đồn và mỏ kẽm ở Chợ Đồn.[21] Mỏ chì kẽm Chợ Điền ở Chợ Đồn là một mỏ khoảng sản quan trọng ở Bắc Kỳ.[22] Do khủng hoảng kinh tế, năm 1927 các mỏ bạc tại Ngân Sơn và Chợ Rã ngừng hoạt động; năm 1931 mỏ vàng Chợ Rã đình chỉ sản xuất, công nhân bị bỏ rơi trong cảnh đói, rét, bệnh tật giữa vùng núi rừng xa lạ.[23]
Năm 1941, lực lượng của Đảng Cộng sản Đông Dương từ căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai bị tổn thất lớn khi rút theo đường qua Bắc Kạn lên Cao Bằng.[24] Năm 1943, lực lượng Nam tiến của Cứu quốc quân với mười chín đội khác nhau, xuất phát từ Cao Bằng tiến vào Bắc Kạn. Họ tiến hành vận động, tổ chức quần chúng cả người Dao ở vùng cao và người Tày-Nùng ở vùng thấp vào các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh. Một hành lang cách mạng từ đông bắc xuống tây nam Bắc Kạn được hình thành.[25] Cứu quốc quân cũng tiến hành Bắc tiến từ Thái Nguyên vào Bắc Kạn.[26]
Sau khi nghe tin Nhật đảo chính Pháp năm 1945, bộ máy thống trị của Pháp tại tỉnh Bắc Kạn lập tức tê liệt, binh lính bỏ chạy khỏi thị xã.[27] Quân Nhật chiếm đóng thị xã Bắc Kạn vào ngày 17 tháng 3, sau đó thực hiện chính sách hai mặt.[28] Do bị Việt Minh bao vây, toàn bộ quân Nhật rút khỏi thị xã Bắc Kạn vào ngày 23 tháng 8 cùng năm theo thoả thuận.[29] Tỉnh Bắc Kạn tổ chức mít tinh tuyên bố giải phóng vào ngày 25 tháng 8.[7] Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc không đi qua tỉnh Bắc Kạn, nhưng nhiều người Hoa tại các nơi như Chợ Mới, Phủ Thông, Yến Lạc, Bằng Khẩu tham gia “Nam Dương Hoa kiều hiệp hội”.[30]
Thời kỳ 1945-1975
Trong Chiến tranh Đông Dương, thị xã Bắc Kạn nằm sâu trong lòng căn cứ địa Việt Bắc nên từ cuối năm 1946 các cơ quan, kho tàng, xí nghiệp Trung ương và người miền xuôi tản cư lên Bắc Kạn rất đông. Dân số thị xã tiếp tục tăng nhanh, bộ mặt thị xã thay đổi hẳn, đường phố tấp nập, chợ búa sầm uất, hoạt động văn hóa sôi nổi. Thời kỳ từ cuối năm 1946 đến trước thu đông năm 1947, thị xã Bắc Kạn được mệnh danh là “thủ đô kháng chiến”.[31]
Quân Pháp bắt đầu Chiến dịch Việt Bắc bằng việc tiến hành nhảy dù xuống tỉnh Bắc Kạn vào ngày 7 tháng 10 năm 1947, do lầm tưởng Bắc Kạn là thủ đô chính trị mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[32] Trận chiến tại đèo Giàng vào ngày 15 tháng 12 năm 1947 là một trong những chiến công quan trọng của Việt Minh.[33] Tháng 1 năm 1948, Việt Minh bắt đầu tiến hành "tiễu phỉ" tại phần phía bắc của huyện Chợ Rã (Pác Nặm), đây là lực lượng được Pháp hỗ trợ.[34] Ngày 10 tháng 7 năm 1948, người Pháp cho thành lập “Liên bang Tày - Nùng miền bắc Đông Dương” bao gồm khu vực Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn và một phần Bắc Giang. Tại các cứ điểm của Pháp tại Bắc Kạn, một chính quyền có tính chất tượng trưng cấp tỉnh được tạo ra.[35] Tháng 8 năm 1949, Bắc Kạn trở thành tỉnh đầu tiên được giải phóng.[36] Trong thời gian Pháp chiếm đóng Bắc Kạn, hầu hết nhân dân trong khu vực tạm chiếm đều tản cư. Khi quân Pháp rút khỏi tỉnh, nhân dân trở về và khôi phục sản xuất xong trong vòng hai năm 1951-1952.[37]
Các xã miền núi trong tỉnh Bắc Kạn không tiến hành cải cách ruộng đất như vùng trung du và đồng bằng mà thực hiện giảm tô và cải cách dân chủ, do đại đa số là nông dân lao động. Ở các xã có địa chủ thì thành phần bần cố nông chủ yếu là người Kinh đến làm thuê, còn người dân tộc ở địa phương không làm thuê vì họ xem làm thuê là điều xấu.[38]
Tháng 8 năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc chính thức được thành lập, Khu tự trị ban đầu gồm có các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang.[39] Đến ngày 3 tháng 11 năm 1961, chức năng và quyền hạn của khu tự trị Việt Bắc bị Trung ương Đảng thu hẹp, từ cấp chỉ đạo xuống chỉ còn là cấp đôn đốc, kiểm tra.[40]
Đến cuối năm 1960, tại tỉnh Bắc Kạn có 47.127 hộ tham gia xây dựng 1.425 hợp tác xã, chiếm 82,7% tổng số hộ nông dân. [41] Trong giai đoạn này, nạn phá rừng ngày càng nhiều, mỗi năm tỉnh Bắc Thái mất khoảng 100 km² rừng, trong khi cơ sở trồng rừng quốc doanh chỉ trồng được 10 km²/năm, bằng 1/10 diện tích rừng bị phá.[42] Tháng 7 năm 1963, Bắc Kạn được chính phủ công nhận là tỉnh đã thanh toán nạn mù chữ cả vùng thấp và vùng cao với tỷ lệ 92%. [43]
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái.[7] Ngày 14 tháng 4 năm 1967, thị xã Bắc Kạn trở thành thị trấn Bắc Kạn trực thuộc huyện Bạch Thông.[44]
Đêm 4 tháng 9 năm 1963, Việt Nam Cộng hoà tiến hành thả biệt kích xuống Phủ Thông, nhưng bị lực lượng dân quân tự vệ tiêu diệt hoặc bắt giữ.[45] Tháng 9 năm 1965, thị xã Bắc Kạn là nơi đầu tiên trong khu tự trị Việt Bắc bắn rơi máy bay Mỹ. Trong Chiến tranh Việt Nam, địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 9.021 chiến sĩ ra mặt trận, với hơn 2.000 người mất.[7]
Từ năm 1962-1967, tỉnh Bắc Thái tiếp nhận người di cư chủ yếu từ Thái Bình, Hải Hưng theo chính sách của Trung ương. Do ruộng đất của địa phương vốn đã thiếu, người bản địa cảm thấy khó khăn do phải san sẻ ruộng đất, và bị ảnh hưởng đến phong tục.[46]
Sau năm 1975

Sau khi chiến tranh kết thúc, khu tự trị Việt Bắc bị giải thể vào ngày 27 tháng 12 năm 1975.[47] Khi Chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng phát, nhiều người từ Cao Bằng và Lạng Sơn sơ tán đến tỉnh.[48] Ngày 29 tháng 12 năm 1978, hai huyện Ngân Sơn, Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái được nhập vào tỉnh Cao Bằng.[7]
Sau Đổi mới, đến đầu năm 1988, chính quyền tỉnh Bắc Thái chủ trương hoàn chỉnh một bước khoán sản phẩm, bỏ bớt tình trạng bao cấp trong các hợp tác xã nông nghiệp.[49] Ngày 16 tháng 7 năm 1990, có quyết định tái thành lập thị xã Bắc Kạn.[50] Do tỉnh Bắc Thái có nhiều điểm khai thác vàng sa khoáng, nên giai đoạn này nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như thuốc phiện, ma túy, mại dâm, cờ bạc.[51]
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Thái chính thức được chia tách thành tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên, hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể của tỉnh Cao Bằng được chuyển về tỉnh Bắc Kạn. Tỉnh Bắc Kạn mới tái lập có tình hình kinh tế - xã hội kém phát triển, có nền kinh tế thuần nông cùng cơ sở vật chất và hạ tầng yếu kém.[7]
Tại tỉnh Bắc Kạn, nhiều doanh nghiệp thất bại khi đầu tư các dự án công nghiệp trên địa bàn, nguyên nhân được cho là do thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, hay năng lực hạn chế.[52] Bắc Kạn thực hiện tốt việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng, là tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất cả nước với 73,4% theo số liệu năm 2020.[53]
Ngày 11 tháng 3 năm 2015, thị xã Bắc Kạn có nghị quyết chuyển thành thành phố Bắc Kạn, đô thị này phát triển thành một đô thị hiện đại.[54] Sau khi tái lập tỉnh, Bắc Kạn có sự phát triển vượt bậc so với trước, hạ tầng giao thông được đầu tư đến tận các xóm, trường học được xây dựng khang trang, có điều kiện đầu tư phát triển kinh tế đồi rừng.[55] Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành nghị quyết về việc sắp xếp một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên được hợp nhất thành tỉnh Thái Nguyên.[56]
Địa lý
Địa hình

Bắc Kạn có địa hình núi cao, cao hơn các tỉnh xung quanh, các mạch núi cánh cung chi phối địa hình. Bắc Kạn có địa hình khá phức tạp và đa dạng, diện tích đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, địa hình hiểm trở và bị chia cắt mạnh, đất bằng chiếm diện tích nhỏ và phân bố thành các dải hẹp, kẹp giữa các dải đồi núi cao hai bên.[57] Phần lớn địa hình tỉnh Bắc Kạn có độ dốc lớn trên 15°, chiếm 83,76% diện tích tự nhiên.[58]
Cánh cung Ngân Sơn chạy liên tục từ nam Cao Bằng dọc theo phía Đông của Bắc Kạn đến bắc tỉnh Thái Nguyên, tạo thành hình cánh cung rõ rệt. Đây đồng thời là ranh giới khí hậu quan trọng. Dãy núi này có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Cốc Xô cao 1.131 m ở huyện Na Rì. Cánh cung sông Gâm kéo dài dọc theo phía Tây của Bắc Kạn. Khu vực này có đỉnh Phja Bjoóc (cao 1.575 m[59]) là đỉnh núi cao nhất tỉnh Bắc Kạn, cùng nhiều đỉnh cao trên 1.000 m. Xen giữa hai cánh cung là nếp lõm thuộc hệ thống thung lũng các con sông.[60]
Địa hình Bắc Kạn có thể chia làm ba khu vực: Phía Đông là cánh cung Ngân Sơn mang tính điển hình nhất ở vùng Đông Bắc, có cấu tạo tương đối thuần nhất, chủ yếu thuận lợi phát triển lâm nghiệp; phía Tây cũng là những khối núi cao; khu vực trung tâm dọc thung lũng sông Cầu có địa hình thấp hơn nhiều, thích hợp phát triển nông nghiệp.[57]
Địa hình thung lũng có diện tích nhỏ, nhưng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Xen giữa các dãy đồi núi là những dải đất thấp tương đối bằng phẳng, trồng lúa, màu như cánh đồng Nam Cường, Phương Viên, Đông Viên (huyện Chợ Đồn); Thượng Giáo, Mỹ Phương (huyện Ba Bể); Lục Bình, Mỹ Thanh (huyện Bạch Thông). Phần lớn đồi núi tại Bắc Kạn lan sát thềm sông, thềm suối nên khống chế quá trình bồi tụ phù sa, do vậy tỉnh không có những cánh đồng phù sa rộng lớn, chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ hẹp và rải rác theo triền sông, triền suối. Trong đất phù sa bồi tụ có nhiều hạt thô hơn so với vùng hạ lưu.[61].
Khí hậu

Khí hậu tỉnh Bắc Kạn có sự phân hoá theo độ cao và hướng núi. Mùa hè có nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông nhiệt độ thấp và mưa ít, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực tỉnh Bắc Kạn là từ 20 - 22 °C, nhiệt độ thấp tuyệt đối từng ghi nhận được là -0,1 °C ở thành phố Bắc Kạn và -0,6 °C ở huyện Ba Bể, -2 °C ở huyện Ngân Sơn. Nhiệt độ trung bình năm có thể cao hơn 22 °C ở thung lũng sông Cầu và vùng cao dưới 200 m. Nhiệt độ trung bình ở hầu hết Bắc Kạn có thể cao đến 25,7 - 27,5 °C vào tháng 7, và hạ xuống 12,1 - 14,4 °C vào tháng 1. Những nơi cao hơn 1.000 m có thể còn xuống tới 10 °C và thấp hơn. Bắc Kạn có băng giá, rét đậm và rét hại kéo dài, ảnh hưởng lớn đến cây trồng, vật nuôi. Số giờ nắng trung bình của khu vực là 1.555 giờ, thấp hơn khoảng 100 - 150 giờ/năm so với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, các tháng mùa đông chỉ có khoảng 55 - 60 giờ nắng (vùng núi cao phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh có số giờ nắng cao hơn các huyện vùng phía Nam.[61]). Khí hậu của tỉnh có nhiều thuận lợi cho việc phát triển một số cây trồng cận nhiệt đới và ôn đới.[57][62]
Bắc Kạn có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông Bắc do bị hai cánh cung Ngân Sơn và Sông Gâm che chắn. Lượng mưa trung bình năm ở mức 1.400 - 1.600 mm, và tập trung nhiều vào mùa hạ. Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 20 - 25% lượng mưa, tháng mưa ít nhất là tháng 12. Độ ẩm trung bình trên toàn tỉnh là 84%.[57] Độ ẩm tuyệt đối thấp nhất trên địa bàn tỉnh xuất hiện vào tháng 12, đạt 78% ở thành phố Bắc Kạn và huyện Bạch Thông. Khu vực Na Rì và Ba Bể là những nơi có lượng mưa ít hơn những nơi khác trong tỉnh.[61] Do địa hình đồi núi chiếm ưu thế tại Bắc Kạn, nên không khí có khả năng lưu thông không lớn, cộng thêm độ ẩm không khí cao khiến cho khả năng bốc thoát hơi nước của thực vật không nhiều, chỉ khoảng 900 mm/năm.[62]
| Nhiệt độ trung bình cao và thấp (°C) tại một số địa phương[63] | |||||||||||||
| Địa điểm | T1 | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | T8 | T9 | T10 | T11 | T12 | Năm |
| Chợ Rã (210 m) | 19,5/ 12,0 | 21,1/ 13,8 | 24,3/ 16,8 | 28,5/ 20,4 | 31,8/ 22,8 | 32,8/ 24,4 | 33,0/ 24,6 | 32,9/ 24,4 | 31,9/ 22,9 | 28,9/ 20,1 | 25,2/ 16,2 | 21,7/ 12,5 | 27,7/ 19,3 |
| Vân Tùng (566 m) | 16,5/ 9,8 | 18,0/ 11,7 | 21,2/ 14,9 | 25,5/ 18,6 | 28,7/ 21,1 | 29,9/ 22,7 | 30,2/ 22,9 | 30,3/ 22,3 | 29,1/ 20,8 | 26,2/ 17,9 | 22,6/ 14,0 | 18,9/ 10,3 | 24,8/ 17,2 |
| Tp. Bắc Kạn (174m) | 19,2/ 12,2 | 20,4/ 14,1 | 23,3/ 17,1 | 27,5/ 20,5 | 31,3/ 22,9 | 32,5/ 24,4 | 32,5/ 24,6 | 32,5/ 24,2 | 31,6/ 22,8 | 28,9/ 20,1 | 25,3/ 16,3 | 21,6/ 12,8 | 27,2/ 19,3 |
| Lượng mưa trung bình (mm) tại một số địa phương[63] | |||||||||||||
| Địa điểm | T1 | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | T8 | T9 | T10 | T11 | T12 | Năm |
| Chợ Rã (210 m) | 25,1 | 20,9 | 44,5 | 92,5 | 180,8 | 229,6 | 258,4 | 237,7 | 127,0 | 76,6 | 42,6 | 20,6 | 1.356,3 |
| Vân Tùng (566 m) | 32,4 | 30,4 | 58,8 | 102,0 | 219,7 | 273,4 | 332,0 | 291,7 | 161,3 | 92,5 | 55,2 | 27,9 | 1.677,4 |
| Tp. Bắc Kạn (174m) | 23,9 | 26,6 | 51,4 | 103,8 | 183,9 | 255,6 | 288,4 | 274,1 | 148,2 | 74,4 | 40,0 | 19,9 | 1.490,4 |
Thủy văn

Sông suối khu vực tỉnh Bắc Kạn có đặc điểm chung là lòng nhỏ và dốc, nên tốc độ dòng chảy lớn. Trong mùa mưa, nước chảy dồn từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp, nước sông suối lên rất nhanh gây lũ, ngập lụt ở những vùng đất thấp. Nước sông xuống thấp vào mùa khô, dòng chảy rất nhỏ trong các tháng nước kiệt. Mùa lũ trên lưu vực sông Cầu và sông Năng bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 10. Lượng nước mùa lũ chiếm 80 - 85% tổng lượng nước cả năm, lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 7, 8.[61]
Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Tam Tao của huyện Chợ Đồn, ở độ cao trên 1.200 m. Đoạn sông Cầu chảy trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn dài khoảng 105 km.[64] Lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có diện tích là 1.372,78 km², là nơi sinh sống của khoảng một nửa dân số của tỉnh.[65] Lưu lượng dòng chảy bình quân năm của Sông Cầu tại tỉnh Bắc Kạn là 73 m³/s, mùa lũ là 123 m³/s, mùa khô là 8,05 m³/s. Độ dốc dòng chảy trung bình là 1,75°. Tổng lượng nước khoảng 798 triệu m³.[61]
Diện tích lưu vực sông Năng tính đến thác Đầu Đẳng là 1.890 km², thuộc phần phía tây và tây bắc của tỉnh, lưu lượng bình quân 42,1 m³/s. Diện tích lưu vực sông Nà Rì - sông Bắc Giang trên địa bàn là khoảng 1.200 km², thuộc phần phía đông của tỉnh. Diện tích lưu vực sông Phó Đáy trên địa bàn khoảng 250 km², thuộc phần phía nam của huyện Chợ Đồn.[61] Sông Năng có chiều dài 70 km trên địa bàn tỉnh và chảy vào sông Gâm, sông Bắc Giang thuộc lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Phó Đáy chảy vào sông Lô.[66]
Hồ Ba Bể thuộc xã Nam Mẫu của huyện Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, nằm ở độ cao khoảng 145 m so với mực nước biển. Hồ nhận được nước của sông Chợ Lèng và sông Nam Cường, rồi chảy ra sông Năng. Hồ có chiều dài hơn 8 km, nơi rộng nhất 2 km, diện tích mặt nước khoảng 6,50 km², độ sâu trung bình 20 m.[67] Hồ Nặm Cắt tại xã Dương Quang của thành phố Bắc Kạn được xây xong vào năm 2020, diện tích lòng hồ là 87 ha, giúp cung cấp nước cho thành phố Bắc Kạn.[68] Hồ thủy lợi Bản Chang nằm tại xã Đức Vân của huyện Ngân Sơn có diện tích mặt hồ khoảng 40 ha.[69] Hồ thủy lợi Khuổi Khe nằm tại xã Kim Lư của huyện Na Rì có diện tích mặt hồ rộng 32 ha.[70] Tỉnh có một phần nhỏ của hồ thủy điện Tuyên Quang.[71]
Thổ nhưỡng
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, nhóm đất đỏ vàng là nhóm có diện tích lớn nhất, chiếm 85,51%. Trong đó, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chiếm 53,32% diện tích, đất vàng đỏ trên đá macma axit chiếm 14,26% diện tích, đất đỏ nâu trên đá vôi chiếm 11,61% diện tích và có nhiều ở Na Rì. Các loại đất này có độ dày tầng đất thường lớn hơn 100 cm, với độ dày tầng canh tác trung bình khoảng 15 cm và 16 cm. Nhóm đất thung lũng có diện tích 9,93 km². Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 215,12 km², phân bố trên địa hình đồi núi cao. Nhóm đất phù sa có diện tích 88,31 km², phân bố thành dải hẹp ven các sông. Nhóm đất đen có diện tích 51 ha, phân bố tại huyện Ba Bể và Bạch Thông. Đá vôi tập trung ở các huyện như Na Rì và Chợ Mới, với diện tích khoảng 564,11 km².[61]
Theo điều tra năm 2018 tại tỉnh Bắc Kạn, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 44.116 ha, tăng so với năm 2010 do khai thác đất chưa sử dụng chuyển từ đất lâm nghiệp. Trong đó, diện tích đất trồng lúa là 19.671 ha, bình quân toàn tỉnh đạt 609 m²/người. Đất trồng cây hàng năm khác có diện tích 16.266 ha. Đất trồng cây lâu năm có tổng diện tích 8.180 ha. Diện tích đất lâm nghiệp là 413.366 ha, chiếm 85,06% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, đất rừng sản xuất là 295.484 ha, đất rừng phòng hộ là 90.742 ha, diện tích rừng đặc dụng có 27.140 ha.[61]
Hệ sinh thái

Khu vực tỉnh Bắc Kạn có hơn 1.790 loài thực vật, 84 loài thú, 314 loài chim, 69 loài lưỡng cư - bò sát, 1.091 loài côn trùng, 109 loài cá. Trong đó, có 213 loài động, thực vật quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao. Chính quyền tỉnh quan tâm đến các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học thông qua quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng.[72]
Vườn quốc gia Ba Bể có diện tích là 100,48 km², phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 38,46 km², là một phức hệ sông, hồ, rừng trên núi đá vôi. Vườn có các loài cây gỗ quý hiếm như: nghiến, đinh, lim, trúc dây, lát hoa; trong đó, trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể. Đây là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của toàn Đông Nam Á. Các loài động vật đặc hữu quý hiếm trong vườn là voọc đen má trắng, gấu ngựa, vạc hoa, cá cóc bụng hoa,[73], cầy vằn bắc, rắn hổ mang chúa. Vườn có các thảo dược quý như bảy lá một hoa, lan hành, ba kích, hoàng đằng, mã tiền rừng.[74]
Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm tại phần phía Bắc của huyện Chợ Đồn, có các loài thực vật quý hiếm như nghiến, trai, đinh, các loài Lan (Lan hài) và một số loài dược liệu quý như đẳng sâm, ba kích, kê huyết đằng; các loài động vật quý hiếm như khỉ đen, khỉ mốc, cu li lớn, cu li nhỏ, gấu chó, vạc hoa.[75]
Khu Dự trữ thiên nhiên Kim Hỷ có tổng diện tích hơn 150,53 km², thuộc các huyện Bạch Thông và Na Rì, có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi. Khu có nhiều loài thực vật quý hiếm như: Du sam đá vôi, thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis), các loài động vật đặc hữu, quý hiếm gồm: Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi), hươu xạ (Moschus berezovski), rùa hộp ba vạch (Cuora cyclornata) có nguy cơ tuyệt chủng, một số loài dơi hiếm gặp trên thế giới như dơi mũi ống cánh lông (Harpiocephalus harpia); dơi tai đốm vàng (Myotis formosus).[76] Khu vực được cho là nơi có nhiều chủng loại dơi nhất tại Việt Nam.[77]
Khu bảo vệ cảnh quan Thác Giềng nằm ở vị trí tiếp giáp giữa phường Xuất Hóa của thành phố Bắc Kạn và xã Tân Sơn của huyện Chợ Mới, có tổng diện tích hơn 5,9 km², có quần thể khoảng hơn 500 cây gỗ nghiến.[78]
Môi trường
Tỉnh Bắc Kạn đến năm 2024 có hơn 500 vị trí có nguy cơ về sạt lở, lũ quét. Do địa hình phần lớn là đồi núi dốc, việc bạt đồi, đào núi để lấy mặt bằng xây dựng nhà cửa là hình thức khá phổ biến tại Bắc Kạn. Những vụ việc gây thiệt mạng về người chủ yếu ở các vị trí này.[79] Đồng ruộng dưới các sườn dốc của Bắc Kạn có nguy cơ bị bồi lấp do cát và đất đá từ trên xuống.[61]
Trong vùng núi đá vôi xuất hiện suối ngầm nên thường gây mất nước trong mùa khô.[61] Hồ Ba Bể bị bồi lấp nghiêm trọng do phù sa từ sông suối chảy vào, bãi bồi lấn vào lòng hồ khoảng 700–800 m so với thập niên 1960.[80] Vùng cánh đồng Nam Cường thường bị ngập úng nhiều ngày do hang thoát nước sang hồ Ba Bể bị phù sa bồi lắng.[81] Các công trình thủy điện từng gây cạn kiệt nước sông, ngập nước đất sản xuất.[82]
Chất lượng không khí các đô thị khu vực tỉnh Bắc Kạn nhìn chung khá tốt, nhưng không khí tại các khu vực khai thác khoáng sản cũng bị ô nhiễm trầm trọng.[83]
Chính quyền

Năm 2024, tỉnh Bắc Kạn có tổng số biên chế hành chính là 1.459; biên chế sự nghiệp công lập là 9.619 người. Số liệu thuộc cấp tỉnh và cơ sở, phần lớn thuộc về lĩnh vực giáo dục.[84] Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2024 ước đạt 1.010 tỷ đồng; tổng chi ngân sách địa phương đạt 9.126 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển là 3.593 tỷ đồng, chi thường xuyên là 5.530 tỷ.[85] Ngân sách Trung ương chi bổ sung để cân đối ngân sách cho Bắc Kạn cùng các tỉnh khác.[86] Năm 2019, trên 90% cán bộ, công chức hệ thống chính trị cấp xã ở vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Bắc Kạn là người dân tộc thiểu số.[87]
Tại Quốc hội Việt Nam khóa XV, tỉnh Bắc Kạn có sáu đại biểu thuộc hai khu vực, trong đó có hai đại biểu do Trung ương giới thiệu.[88] Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Kạn khoá X có 50 đại biểu trúng cử, thuộc 14 đơn vị, trong đó 50% là nữ giới.[89] Tỉnh Bắc Kạn có trung tâm phục vụ hành chính công.[90] Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 của tỉnh Bắc Kạn xếp thứ 22.[91]
Bắc Kạn là tỉnh có truyền thống cách mạng, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn vào năm 2024 có 12 đảng bộ trực thuộc, với 37.782 đảng viên, chiếm hơn 11% dân số.[92] Tỉnh Bắc Kạn có tỷ lệ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trên tổng dân số thuộc diện cao nhất Việt Nam.[93] Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 bầu ra 47 ủy viên ban chấp hành, 13 ủy viên ban thường vụ; và 16 đại biểu chính thức cùng một đại biểu dự khuyết dự Đại hội Toàn quốc.[94]
Trong phong trào kết nghĩa Bắc – Nam thời Chiến tranh Việt Nam, tỉnh Bắc Kạn kết nghĩa với tỉnh Kon Tum.[95] Một vài trong số các dự án có sử dụng vốn vay nước ngoài trên địa bàn là: Chương trình đô thị miền núi phía Bắc tại thành phố Bắc Kạn sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB),[96] kè chống sạt lở tại thành phố Bắc Kạn sử dụng vốn vay từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD).[97]
Trong năm 2024, tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Bắc Kạn thụ lý và giải quyết 1.663/1.734 vụ việc; đạt tỷ lệ 96%.[98] Năm 2024, lực lượng công an tỉnh Bắc Kạn có tỷ lệ điều tra khám phá án về trật tự xã hội đạt 94,6%; khởi tố và chuyển viện kiểm sát 163 vụ, 248 bị can.[99]
Hành chính

Tỉnh Bắc Kạn trước khi sáp nhập năm 2025 gồm thành phố Bắc Kạn và bảy huyện là Pác Nặm, Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn, Bạch Thông, Na Rì, Chợ Mới; với 108 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 95 xã, sáu phường, bảy thị trấn. Sau sáp nhập năm 2025, khu vực tỉnh Bắc Kạn cũ có 37 đơn vị hành chính cấp xã; gồm 35 xã và 2 phường, giảm 65,74%.[100] Thời điểm tái lập tỉnh Bắc Kạn năm 1997, tỉnh có 112 đơn vị hành chính cấp xã, số lượng này sau đó từng tăng lên 122.[101]
Trước năm 2025, tỉnh Bắc Kạn cũ có một số xã có trên dưới 1.000 dân như xã Cao Sơn của huyện Bạch Thông, ngân sách nhà nước cấp khoảng 5–6 tỷ đồng cho chi tiêu thường xuyên của xã này mỗi năm, ngoài ra còn ngân sách cấp cho giáo dục và y tế.[102] Xã Thượng Quan là xã duy nhất không thực hiện sáp nhập vào năm 2025 vì các lý do như vị trí biệt lập.[100]
Năm 1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn được hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái. Năm 1967, thị xã Bắc Kạn trở thành thị trấn, là thủ phủ huyện Bạch Thông; một số xã của huyện Bạch Thông được chuyển sang huyện Phú Lương. Năm 1978, hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã (năm 1984 đổi tên thành Ba Bể) được chuyển từ tỉnh Bắc Thái sang Cao Bằng. Năm 1990, thị xã Bắc Kạn được tái lập từ huyện Bạch Thông, thủ phủ huyện Bạch Thông chuyển đến Nguyễn Thị Minh Khai. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Thái được chia tách thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên.[103][104]
Khi tái lập tỉnh, Bắc Kạn tiếp nhận lại hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể từ tỉnh Cao Bằng; huyện Bạch Thông tiếp nhận một số xã của huyện Phú Lương, và chuyển một số đơn vị sang thị xã Bắc Kạn, thủ phủ huyện này chuyển đến thị trấn Phủ Thông. Năm 1998, thành lập huyện Chợ Mới từ một phần huyện Bạch Thông.[105] Năm 2003, huyện Pác Nặm được thành lập từ một phần của huyện Ba Bể.[106]
Năm 2021, tất cả 108 đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Kạn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; tổng cộng có 117 đơn vị cấp xã thuộc khu vực I, 19 đơn vị cấp xã thuộc khu vực II, 82 đơn vị cấp xã thuộc khu vực III.[107] Sau ba lần sắp xếp, sáp nhập vào năm 2019, 2021 và 2024, toàn tỉnh Bắc Kạn giảm từ 1.421 xuống còn 939 thôn, tổ dân phố.[108]
Thị xã Bắc Kạn là đô thị loại III từ năm 2012 và trở thành một thành phố vào năm 2015.[109]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Bắc Kạn | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Nguồn: Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Bắc Kạn[110] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế

GRDP trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũ năm 2024 ước đạt hơn 9,5 nghìn tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt hơn 57 triệu đồng.[111] Cơ cấu kinh tế của Bắc Kạn trong năm 2024: Dịch vụ và thuế 55,9%, nông-lâm nghiệp và thủy sản 25,9%, công nghiệp 18,2%.[85] Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũ vào năm 2024 là khoảng 42 triệu USD.[85] Theo chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI) năm 2024, tỉnh Bắc Kạn cũ bằng 96,16% mức giá của Hà Nội, đứng thứ 29 về mức độ đắt đỏ.[112]
Năm 2023, trong nhóm tuổi từ 15 trở lên, tỉnh Bắc Kạn cũ có 61,3% là người làm việc.[113] Về mức lương tối thiểu, từ tháng 7 năm 2024, thành phố Bắc Kạn thuộc vùng III; các huyện còn lại thuộc vùng IV.[114]
Năm 2024, tỉnh Bắc Kạn cũ có 16.123 hộ nghèo và 7.678 hộ cận nghèo, lần lượt chiếm 19,46% và 9,27% tổng số hộ.[115] Hai huyện Pác Nặm và Ngân Sơn nằm trong số 74 huyện nghèo của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025.[116]
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2024 tại tỉnh Bắc Kạn cũ đạt gần 7,6 nghìn tỉ đồng, trong đó vốn từ nguồn ngân sách nhà nước là 2,4 nghìn tỉ đồng, vốn từ dân cư và tư nhân là khoảng 4 nghìn tỉ đồng.[85]
Công nghiệp
Năm 2024, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Kạn ước đạt hai nghìn tỷ đồng.[85] Chì, kẽm là loại khoáng sản có nhiều ở tỉnh Bắc Kạn, tập trung chủ yếu ở huyện Chợ Đồn và Ngân Sơn, mỏ chì kẽm lớn nhất Việt Nam nằm tại Bản Thi.[117] Các mỏ vàng nằm dọc theo sông Bắc Giang từ Ngân Sơn đến Na Rì. Thiếc và vonfram có ở các mỏ Nà Đeng (Ngân Sơn), Lũng Cháy (Chợ Đồn).[118] Nhà máy luyện gang Bắc Kạn bắt đầu vận hành từ năm 2016, nhưng đã ngừng sản xuất từ năm 2019.[119] Các cụm sản xuất miến dong tập trung được phát triển tại một số nơi như xã Côn Minh.[120]
Dịch vụ

Tổng doanh thu hoạt động vận tải của tỉnh Bắc Kạn cũ năm 2024 ước đạt 588 tỉ đồng.[85]Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn vào năm 2024 ước đạt 14,4 nghìn tỉ. Trong đó, doanh số bán lẻ hàng hoá ước đạt 7,8 nghìn tỉ đồng, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lịch, lữ hành ước đạt 3,3 nghìn tỉ.[85]
Đến năm 2024, tỉnh Bắc Kạn cũ có 64 chợ hoạt động, trong đó có một chợ hạng 1 (chợ Bắc Kạn) và bốn chợ hạng 2; về đặc điểm thì có năm chợ hoạt động hàng ngày, có hai chợ trâu bò tại Nghiên Loan và Công Bằng.[121] Ở vùng cao, do điều kiện đi lại khó khăn, nên thường 5 ngày mới họp chợ phiên một lần.[122] Vincom Plaza Bắc Kạn nằm tại khu vực trung tâm sầm uất.[123]
Tỉnh Bắc Kạn vào năm 2022 có 228 cơ sở lưu trú với tổng số 2.206 phòng, trong đó có hai khách sạn 3 sao; hai khách sạn 2 sao; riêng khu vực hồ Ba Bể có 80 khách sạn, nhà nghỉ, homestay, có thể kể đến khu nghỉ dưỡng Sài Gòn - Ba Bể[124] khách sạn Bắc Kạn, Núi Hoa, Anh Thư.[125] Thành phố Bắc Kạn có "phố ẩm thực" tại tuyến đường Thanh Niên.[126]
Lượng khách đến du lịch tỉnh Bắc Kạn vào năm 2024 đạt gần 950 nghìn người; thu từ du lịch ước đạt trên 600 tỷ đồng.[127] Hồ Ba Bể được đưa vào danh mục di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2012, An toàn khu (ATK) Chợ Đồn được đưa vào năm 2016.[128] Hồ Ba Bể là một trong những nơi được quy hoạch phát triển trở thành khu du lịch quốc gia trong giai đoạn 2021-2030.[129] Năm 2017, Khu di sản thiên nhiên Ba Bể - Na Hang tiếp tục được xây dựng hồ sơ di sản thế giới UNESCO.[130] Tỉnh có các hang động kỳ vĩ, gần hồ Ba Bể có động Puông, động Hua Mạ, hang Thẳm Phầy; ở Na Rì có động Nàng Tiên.[131]
Đến hết năm 2024, tổng huy động vốn của các ngân hàng tại tỉnh Bắc Kạn cũ đạt 16.600 tỷ đồng, tổng dư nợ cấp tín dụng đạt 15.605 tỷ đồng.[132] Đến hết năm 2024, tỉnh Bắc Kạn cũ có số người tham gia BHXH bắt buộc là 23.930 người, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 97%.[133]
Nông, lâm nghiệp

Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt của tỉnh Bắc Kạn năm 2023 ước đạt 36,6 nghìn ha.[134] Năm 2024, sản lượng lương thực có hạt của tỉnh Bắc Kạn là gần 169,8 nghìn tấn; trong đó sản lượng lúa là gần 112 nghìn tấn, sản lượng ngô là gần 57,6 nghìn tấn.[85] Tỉnh có một số vùng lúa đặc sản như lúa Bao thai ở Chợ Đồn, lúa Khẩu Nua Lếch ở Ngân Sơn, lúa nếp Tài ở Ba Bể.[135]
Thuốc lá được trồng từ lâu trong tỉnh, tổng diện tích tại tỉnh Bắc Kạn năm 2024 là 1,1 nghìn ha; sản lượng ước đạt 2,77 nghìn tấn. Cây dong riềng được trồng tập trung tại huyện Na Rì và Ba Bể, tổng diện tích gieo trồng tại tỉnh Bắc Kạn năm 2024 là 444 ha, sản lượng ước đạt 32.583 tấn.[85] Bắc Kạn cũ vào năm 2024 trồng 3,2 nghìn ha và 43,9 nghìn tấn rau.[85] Bí xanh thơm là một loại đặc sản được trồng chủ yếu ở huyện Ba Bể, với diện tích khoảng 175 ha.[136] Tỉnh Bắc Kạn tập trung phát triển các loại cây ăn quả đặc trưng: hồng không hạt tại Ba Bể; cam, quýt tại Bạch Thông; mơ tại Chợ Mới, chuối tại Ba Bể. Ngoài ra, tỉnh Bắc Kạn còn có các cây ăn quả đặc trưng vùng núi cao như lê, dẻ, đào, mận.[137]
Ngành chăn nuôi ở tỉnh Bắc Kạn có xuất phát điểm thấp, chủ yếu tập trung ở các nông hộ, quy mô nhỏ (chiếm khoảng 70%). Chợ trâu, bò Nghiên Loan là một trong những chợ buôn bán gia súc lớn nhất miền Bắc.[138] Đến tháng 10 năm 2024, trên địa bàn tỉnh có 35 nghìn con trâu, 17 nghìn con bò, gần 156 nghìn con lợn, hơn hai triệu con gà và 86 nghìn con vịt. Đàn trâu, bò giảm so với cùng kỳ do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp. Trong năm 2024, sản lượng thịt lợn hơi là hơn 17 nghìn tấn; sản lượng gia cầm đạt gần năm nghìn tấn.[85] Năm 2024, diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Bắc Kạn là 1,3 nghìn ha. Sản lượng thủy sản của tỉnh trong năm này là hơn 3,1 nghìn tấn.[85]
Diện tích rừng trồng của tỉnh Bắc Kạn năm 2024 là 1.034,2 km².[139] Tỉnh Bắc Kạn xác định phát triển kinh tế rừng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo sinh kế và giảm nghèo cho người dân nông thôn; khuyến cáo trồng rừng gỗ lớn theo hướng thâm canh, chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Ngoài sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các nguyên liệu cho ngành thực phẩm, dược phẩm, tinh dầu, hay thủ công mỹ nghệ. Diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng được nhân rộng.[140] Trong cơ cấu trồng rừng 5 tháng đầu năm 2025 tại tỉnh Bắc Kạn, cây mỡ chiếm tỷ lệ cao nhất với hơn 5 triệu cây giống, tiếp đến là cây quế với trên 1,7 triệu cây và cây keo gần 1 triệu cây.[141] Sản lượng gỗ khai thác năm 2024 của của tỉnh Bắc Kạn cũ ước đạt 370,1 nghìn m³ gỗ rừng trồng, sản lượng củi khai thác ước đạt 576 nghìn ster.[85]
Hạ tầng

Khu công nghiệp Thanh Bình là khu công nghiệp duy nhất của tỉnh Bắc Kạn. nhưng một số nhà máy bị chậm tiến độ, ngừng sản xuất.[142] Đến hết năm 2024, tỉnh Bắc Kạn có sáu cụm công nghiệp được thành lập, với tổng diện tích 1,864 km².[143]
Bắc Kạn có các nhà máy thủy điện nhỏ và vừa: Pác Cáp, Thác Giềng 1, Tà Làng, Nậm Cắt và Thượng Ân.[144] Năm 2022, gần 25% sản lượng điện tiêu thụ tại tỉnh Bắc Kạn đến từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn.[145] Năm 2024, sản lượng điện thương phẩm của Công ty Điện lực Bắc Kạn đạt 304 triệu kWh.[146] Tỉnh có trạm biến áp 220kV Bắc Kạn.[147] Khi mới tái lập tỉnh Bắc Kạn vào năm 1997, chỉ 4% dân số tại 12/122 đơn vị cấp xã của tỉnh được dùng điện, nhưng đến năm 2004 thì toàn bộ các đơn vị cấp xã đã có điện lưới quốc gia.[148]
Nhà máy cấp nước thành phố Bắc Kạn có công suất xử lý là 10 nghìn m³/ngày đêm.[149] Kè chống sạt lở bờ sông Cầu được xây dựng tại thành phố Bắc Kạn[150] huyện Chợ Mới,[151] kè sông Năng tại huyện Ba Bể; kè sông Bắc Giang tại huyện Na Rì.[150] Bắc Kạn có nhà máy xử lý chất thải rắn tại phường Huyền Tụng.[152]
Tỉnh Bắc Kạn đến năm 2024 có 882 trạm BTS, tỷ lệ dân số được phủ sóng 4G đạt 96%,[153] tỉ lệ hộ gia đình có băng rộng cáp quang đạt 71%, có 15 trạm phát sóng 5G.[154] Theo báo cáo về chuyển đổi số cấp tỉnh năm 2023, tỉnh Bắc Kạn xếp thứ 58.[155] Phố đi bộ Sông Cầu tại thành phố Bắc Kạn được khai trương vào năm 2024 với chiều dài gần 1 km.[156]
Nhân khẩu
Dân cư
| Năm | Số dân | ±% |
|---|---|---|
| 2015 | 313.100 | — |
| 2016 | 319.000 | +1.9% |
| 2017 | 323.200 | +1.3% |
| 2018 | 327.900 | +1.5% |
| 2019 | 314.400 | −4.1% |
| 2020 | 316.460 | +0.7% |
| 2021 | 323.712 | +2.3% |
| 2022 | 324.353 | +0.2% |
| 2023 | 326.504 | +0.7% |
| 2024 | 329.312 | +0.9% |
| 2025 | 365.318 | +10.9% |

Khi sáp nhập vào năm 2025, số liệu dân số tỉnh Bắc Kạn có 365.318 người.[1] Theo kết quả điều tra dân số năm 2024, tỉnh Bắc Kạn có 328.609 người, 87.022 hộ gia đình, là tỉnh có dân số thấp nhất Việt Nam. Tổng tỷ suất sinh của tỉnh Bắc Kạn là 2,18 con/phụ nữ, của toàn quốc là 1,91. Dân số thành thị của Bắc Kạn là 78.768 người và dân số nông thôn là 249.841 người. Trong giai đoạn từ 2023 đến 2024, tỷ suất di cư thuần của tỉnh Bắc Kạn là -5,9‰, mức âm cao nhất vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tỷ suất di cư thuần trong giai đoạn 2019-2024 của Bắc Kạn là -21,0‰, nam giới là -18,4‰ và nữ giới là -23,6‰. Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của Bắc Kạn là 72,9 năm (nam 70,3; nữ 75,6). Tai nạn lao động chiếm 4,9% nguyên nhân tử vong tại Bắc Kạn, trong khi của toàn quốc là 1,3%.[157] Tỷ số giới tính nam/nữ của Bắc Kạn là 100,2. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của Bắc Kạn là 24 tuổi (nam 26,4; nữ 21,3). Trong số những người chưa kết hôn từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ nam/nữ của Bắc Kạn là 1,84 lần. Tỷ trọng dân số 0-14 tuổi của Bắc Kạn là 26,8%, độ tuổi 15-64 là 65,3%, độ tuổi từ 65 trở lên là 7,9%. Tỷ lệ biết đọc, biết viết của Bắc Kạn là 92,4%.[157]
Năm 1886-1888, tỉnh Thái Nguyên có 8.021 nhân đinh, trong đó phủ Thông Hoá (sau là tỉnh Bắc Kạn) có 3.045 nhân đinh. Khoảng năm 1916, dân số tỉnh Bắc Kạn khoảng 36.000 người.[158] Vào thời điểm thành lập tỉnh Bắc Thái năm 1965, tỉnh Bắc Kạn có khoảng 110.000 người.[159] Theo nghị quyết tái lập tỉnh năm 1996, tỉnh Bắc Kạn có 268.047 người. Theo điều tra dân số năm 2009, tỉnh Bắc Kạn có 293.826 người.[160] Theo điều tra dân số năm 2019, tỉnh Bắc Kạn có 313.905 người.[161]
Theo điều tra dân số năm 2024, tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố của Bắc Kạn là 84,4%. Diện tích nhà ở bình quân đầu người của Bắc Kạn là 26 m²/người và có 98,6% số hộ sở hữu nhà riêng. Về nguồn nhiên liệu chính để nấu ăn, tại Bắc Kạn có 50,8% số hộ dùng củi và 43,2% số hộ dùng gas/biogas để nấu ăn. Về nguồn nước ăn chính, 14,4% số hộ tại Bắc Kạn sử dụng nước máy, số hộ sử dụng nước giếng khoan là 24,1%, và 54,1% số hộ tại Bắc Kạn sử dụng nước khe/mó. 70,7% số hộ tại Bắc Kạn sử dụng hố xí tự hoại hoặc bán tự hoại, 3,9% số hộ tại Bắc Kạn không có hố xí. 71,2% số hộ tại Bắc Kạn có TV, tỷ lệ hộ có điện thoại di động là 96,0%, tỷ lệ hộ có tủ lạnh là 83,2%.[157] Năm 2020, chỉ số phát triển con người HDI của tỉnh Bắc Kạn là 0,664 và xếp thứ 46.[162]
Từ giữa thế kỷ 18, có khoảng 2-3 vạn người Triều Châu bên Trung Quốc đi lại làm mỏ tại châu Bạch Thông và huyện Cảm Hoá (tỉnh Bắc Kạn cũ).[163] Đến nửa cuối thế kỷ 19, do các mỏ đóng cửa, các phu mỏ về quê hoặc tản mát vào bản làng định cư với dân địa phương.[164]
Năm 2019, tỉnh Bắc Kạn có 165.055 người Tày, chiếm 52,58% dân số, họ chiếm 50,92% cư dân thành thị. Người Dao có 56.067 người, chiếm 17,86% dân số. Người Kinh có 37.615 người, chiếm 11,98% dân số, họ chiếm 34,37% cư dân thành thị. Người Nùng có 28.709 người, chiếm 9,1% dân số. Người H'mông có 22.608 người, chiếm 7,2% dân số. Tỉnh có 1.680 người Sán Chay và 822 người Hoa.[161] Đến năm 1979 thì tỉnh Bắc Thái mới có số liệu về người H'mông, với 650 người.[165] Một số người H'mông tại Bắc Kạn cũ di cư đến khu vực Tây Nguyên trong các thập niên trước.[166] Năm 2019, tỷ lệ tảo hôn của người Tày tại tỉnh là 7,2%, của người Dao là 31%, của người Nùng là 9,4%, của người H'mông là 56%.[87] Năm 2018, 35,42% số hộ dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn cũ là hộ nghèo.[87]
Ngôn ngữ

Tiếng Tày ở Bắc Kạn-Thái Nguyên bộc trực hơn, gọn âm, dứt mạnh hơn so với tiếng Tày tại Cao Bằng, nhưng từ vựng về cơ bản thì không khác nhau. Trong tiếng Tày không có thanh ngã (~) nên một số người Tày khi gặp phải sẽ chuyển sang thanh điệu khác. Do ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ, một số người Tày khi sử dụng tiếng Kinh có thể có các nhầm lẫn, như giữa "uên" và "uyên", hoặc nói phụ âm g- thành ng- hay k-. Tiếng Tày và tiếng Kinh có sự giao lưu sâu sắc, tiếng Tày tiếp nhận một lượng đáng kể từ Hán-Việt.[167]
Năm 2019, có 89,9% người dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Kạn cũ biết đọc, biết viết tiếng Kinh; trong đó, người Tày là 96,7%, người Dao là 77,1%, người H'mông là 61,9%.[168] Đài Phát thanh & Truyền hình Bắc Kạn có các chương trình tiếng Tày-Nùng, tiếng H'mông và tiếng Dao.[169] Điểm trung bình môn tiếng Anh thi tốt nghiệp THPT năm 2023 của tỉnh Bắc Kạn xếp thứ 59/63.[170]
Người Tày-Nùng có chữ viết truyền thống là chữ Nôm Tày, có thể ra đời vào khoảng thế kỷ 15, hiện còn 85 văn bản Nôm Tày - Nùng về nhiều lĩnh vực như ngữ văn, địa lý. Đến năm 1960, chính phủ Việt Nam xây dựng hệ thống chữ viết Latinh cho tiếng Tày-Nùng. Đầu thập niên 1970, loại chữ Tày này được đưa vào giảng dạy trong các trường tiểu học ở vùng Đông Bắc Việt Nam.[167] Chữ Nôm Dao là kiểu chữ viết sử dụng chữ Hán được Dao hoá, được người Dao sử dụng, gắn liền với các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Dao.[171] Những người biết viết chữ Nôm Tày và Nôm Dao hiện nay chủ yếu là các thầy cúng và một số người cao tuổi.[172]
Tôn giáo
Theo điều tra dân số Việt Nam năm 2009, tỉnh Bắc Kạn có 153 người theo Phật giáo, 332 theo Công giáo Rôma, 13.077 người theo đạo Tin Lành.[160] Theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bắc Kạn, trong giai đoạn 2017-2022 tỉnh có 5.000 tín đồ Phật giáo, trong đó 2.000 người quy y Tam bảo, sinh hoạt tại 2 chùa và 5 đền.[173] Chùa Thạch Long tại xã Cao Kỳ của huyện Chợ Mới nằm hoàn toàn trong hang đá.[174] Năm 2021, tỉnh Bắc Kạn có hơn 1.200 giáo dân Công giáo, trong đó đông nhất là người H'mông.[175] Năm 2019, 15.548/22.608 người H'mông tại Bắc Kạn theo đạo Tin Lành.[87] Chính quyền có chính sách ngăn chặn tổ chức tôn giáo Dương Văn Mình trong cộng đồng người H'mông trên địa bàn, cho rằng đây là tà đạo.[176]
Trong tín ngưỡng người Tày-Nùng, thầy Tào có khả năng giao tiếp với thế giới thần linh, giúp dân trừ ma tà, cầu bình an, những người hành nghề tín ngưỡng là thầy Mo, thầy Pụt, thày Then.[177]
Giao thông

Tỉnh Bắc Kạn có năm tuyến đường quốc lộ, 14 tuyến đường tỉnh và khoảng 50 tuyến đường huyện, đường xã, đường chuyên dùng, đường đô thị. So với cả nước, mật độ mạng lưới đường chính của tỉnh Bắc Kạn cũ khá cao nhưng chất lượng không cao. Trong đó, mật độ đường quốc lộ so với diện tích tự nhiên đạt 9,45 km/100 km² cao hơn trung bình cả nước, mật độ quốc lộ so với dân số đạt 1,45 km/1.000 dân cao hơn rất nhiều so với mật độ chung cả nước.[178]
Quốc lộ 3 có từ lâu đời, liên kết Hà Nội với các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng.[179] Tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới dài gần 40 km được khánh thành vào năm 2017 theo hình thức BOT.[180] Tuyến đường Chợ Mới - Bắc Kạn được khởi công vào tháng 3 năm 2025, có chiều dài 28,8 km với quy mô đường cao tốc 4 làn xe.[181] Tuyến đường TP Bắc Kạn - hồ Ba Bể dài 37 km được hoàn thành xây dựng vào cuối năm 2024.[182]
Theo điều tra dân số năm 2024, 9,9% hộ gia đình tại tỉnh Bắc Kạn có ô tô; đối với mô tô/xe gắn máy thì tỉ lệ là 89,7%; đối với xe đạp/xe đạp điện/xe máy điện thì lệ là 32,3%.[157] Tỉnh Bắc Kạn vào năm 2024 ước tính vận chuyển hành khách đạt 852,45 nghìn hành khách, và luân chuyển hành khách ước đạt 71,00 triệu hành khách.km; ước tính khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt hơn 6 triệu tấn, và luân chuyển hàng hoá ước đạt 86,62 triệu tấn.km.[85]
Tuyến đường thủy nội địa sông Năng - hồ Ba Bể có chiều dài hơn 29 km, ngoài chở khách tham quan trên hồ, người dân còn dùng thuyền để di chuyển, đánh bắt cá.[183]
Giáo dục

Theo điều tra dân số năm 2024, tỷ lệ trẻ đi học cấp tiểu học tại tỉnh Bắc Kạn là 98,5%; ở cấp trung học cơ sở thì tỷ lệ lần lượt là 96,2%; đến cấp trung học phổ thông thì tỷ lệ là 74,2%. Trong số người từ 15 tuổi trở lên, 92,4% dân số Bắc Kạn biết đọc, biết viết. Cũng trong nhóm tuổi này, 31,2% dân số Bắc Kạn đã đạt được trình độ giáo dục trung học phổ thông. Về trình độ chuyên môn cao nhất của dân số trên 15 tuổi, 81,0% dân số tỉnh Bắc Kạn không có chuyên môn kỹ thuật; 7,9% có trình độ đại học trở lên.[157] Theo điều tra dân số năm 2019, tỷ lệ người có trình độ đại học tại Bắc Kạn là 7,4%; nhóm tuổi 30-34 là nhóm tuổi có tỷ lệ trình độ đại học cao nhất tỉnh Bắc Kạn với 13,5%. Trong năm này, trong độ tuổi đi học phổ thông, 6,9% số người tại Bắc Kạn không đi học, tỷ lệ của toàn quốc là 8,3%.[161] Năm 2020, số năm đi học bình quân của người dân trên 25 tuổi tại tỉnh Bắc Kạn là 8,5 năm và xếp thứ 32, chỉ số giáo dục của tỉnh xếp thứ 36.[162]
Năm 1931, tỉnh Bắc Kạn có 1.251 học sinh, trong đó có 924 học sinh là người Tày, 232 học sinh là người Kinh.[184] Năm 1950, Trường Trung học kháng chiến Huyền Tụng được thành lập, là trường trung học đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn.[185] Tỉnh Bắc Kạn được công nhận thanh toán nạn mù chữ ở cả vùng thấp và vùng cao vào năm 1963.[43]
Năm học 2024 - 2025, tỉnh Bắc Kạn cũ có 281 cơ sở giáo dục phổ thông, trong đó có 107 trường mầm non, 64 trường tiểu học, 48 trường tiểu học và trung học cơ sở, 48 trường THCS, bốn trường THCS & THPT, 10 trường THPT. Tổng số điểm trường lẻ còn 399 điểm, trong đó cấp mầm non 236 điểm; cấp tiểu học 163 điểm.[186] Năm học này, tỉnh Bắc Kạn cũ có khoảng 63.097 học sinh, trong đó tiểu học có 29.144 học sinh; trung học cơ sở có 23.676 học sinh, và 10.277 học sinh trung học phổ thông.[85] Tỉnh Bắc Kạn có bảy trường phổ thông dân tộc nội trú (1 trường THPT, sáu trường THCS). Các trường PTDT bán trú tiếp tục được duy trì và mở rộng, năm học 2024-2025 có 37 trường (tăng 14 trường so với năm học 2020-2021). Cơ sở vật chất trường lớp học tại tỉnh Bắc Kạn được quan tâm đầu tư, đến năm 2024 tỷ lệ phòng học kiên cố cấp mầm non đạt 74,81%, cấp tiểu học đạt 62,46%, cấp trung học đạt 85,68%.[186] Năm 2019, tỷ lệ trường học kiên cố tại tỉnh Bắc Kạn là 69,9%; tỷ lệ phòng học kiên cố là 74%. Cũng vào năm này, tỉnh Bắc Kạn có khoảng sáu nghìn giáo viên, trong đó số giáo viên người dân tộc thiểu số là hơn 5,2 nghìn người, chiếm 86,95%.[87] Ngành giáo dục tỉnh Bắc Kạn thiếu giáo viên dạy các môn tin học và công nghệ, tiếng Anh, nghệ thuật.[187]
Trường THPT Chuyên Bắc Kạn được thành lập vào năm 2003, có tổng cộng 536 học sinh với 18 lớp vào đầu năm học 2023-2024.[188] Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT năm học 2024-2025, tỉnh Bắc Kạn có 25 thí sinh đạt giải, đều đến từ Trường THPT Chuyên Bắc Kạn.[189] Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2024, điểm trung bình của học sinh tỉnh Bắc Kạn là 6,455 và xếp thứ 48 cả nước.[190] Trường Cao đẳng Bắc Kạn được thành lập vào năm 2020 do sáp nhập Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn và Trường Cao đẳng nghề Dân tộc Nội trú Bắc Kạn.[191]
Văn hoá-Xã hội

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, tỉnh Bắc Thái có các phong trào Tiếng hát át tiếng bom, phong trào đọc sách có hướng dẫn. Cuộc vận động xây dựng nếp sống mới vào thập niên 1970 và 1980 có nội dung xoá bỏ các tập tục lạc hậu và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh. Trong giai đoạn này, tỉnh Bắc Thái tổ chức nhiều đợt sưu tầm văn học dân gian, sưu tầm được nhiều sách cổ chữ Hán-Nôm và Nôm Tày. Từ năm 1992, Bắc Thái có cuộc vận động xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá.[192] Lễ hội Lồng tồng Ba Bể được khôi phục sau hàng chục năm gián đoạn do chiến tranh và do quan điểm của nhà nước về văn hóa và tín ngưỡng dân gian.[193] Lễ hội Lồng tồng Phủ Thông tại huyện Bạch Thông thu hút rất đông du khách.[194]
Nhà văn hoá tỉnh Bắc Kạn nằm bên quảng trường cùng tên, tại sân có cụm tượng đài chiến thắng Bắc Kạn.[195] Đoàn nghệ thuật dân tộc tỉnh Bắc Kạn được thành lập vào năm 2000, chính thức ra mắt vào năm 2002.[196] Thư viện tỉnh Bắc Kạn thành lập năm 2003, di chuyển nhiều lần, đến năm 2021 thì chuyển về Nhà Văn hoá tỉnh.[197] Bảo tàng tỉnh Bắc Kạn được thành lập vào năm 2006, ban đầu đặt tại Nhà Văn hoá tỉnh, đến năm 2020 thì tiếp nhận trụ sở cũ của Thư viện tỉnh là di tích Nhà Hội đồng Pháp. Nhà Văn hóa huyện Pác Nặm mô phỏng theo nhà sàn truyền thống, khánh thành vào năm 2023.[198]
Nhà thơ người Tày Nông Quốc Chấn có các bài thơ về những năm kháng chiến, hai bài thơ Bộ đội ông Cụ, Dọn về làng của ông mở đầu một phong trào cách tân thơ Tày. Nhà văn Nông Minh Châu là một trong những người đặt nền móng cho văn xuôi Tày-Nùng. Nhà văn Nông Viết Toại là người chuyển dịch và phổ lời Tày cho các bài hát như Tiến quân ca, Nhớ chiến khu.[199] Tỉnh Bắc Kạn có các nhà văn khai thác tốt đề tài dân tộc thiểu số như Dương Khâu Luông, Đinh Hữu Hoan, Triệu Kim Văn.[200] Dương Khâu Luông có các tác phẩm như Hội xuân Ba Bể, Sự tích đảo bà goá, đặt lời mới cho các bài then song ngữ, góp phần quảng bá du lịch Bắc Kạn.[201]
Hát then của người Tày là sự tổng hòa của nhiều hoạt động nghệ thuật như: múa, đàn, hát; then vùng Bắc Kạn giống như kể thầm thì những câu chuyện cuộc sống; hiện nay hát Then - đàn Tính được bảo tồn và được gắn với phát triển du lịch.[202] Bắc Kạn có những nghệ sĩ biểu diễn có tên tuổi như Nông Văn Khang.[203] Một số ca khúc về đất và người tỉnh Bắc Kạn cũ là Người đẹp Núi Hoa nhạc Nông Văn Nhủng; Mời anh thăm Bắc Kạn nhạc Vi Quốc Hiệp; Đến Bắc Kạn nhạc Vương Vình, ba bài này đều phổ thơ của Dương Khâu Luông; Hồ Ba Bể ngày xuân của Thái Hà,[201] Sớm vùng cao quê em của Quan Anh Tuấn, Ba Bể tình em của Bế Cao Kết.[204]
Múa bát của người Tày vùng Bắc Kạn là điệu múa cổ, mô phỏng nghề dệt vải truyền thống, được trình diễn trong dịp lễ tết.[205] Người H'Mông thường múa khèn (tang quây) khi có đám tang, đám giỗ hoặc trình diễn trong lễ hội.[206] Năm 2025, tỉnh Bắc Kạn cũ dựng sân khẩu nổi trên sông Cầu, để khai mạc tuần văn hóa, du lịch tỉnh.[207]
Truyền thông
Năm 1963, Tỉnh ủy Bắc Kạn ra Nghị quyết chuyển tờ tin Bắc Kạn thành báo Bắc Kạn. Sau khi tái lập năm 1997, báo Bắc Kạn từ chỗ chỉ ra một kỳ/tuần đã tăng lên bốn kỳ/tuần; một tháng phát hành hai số tin ảnh vùng cao. Tổng lượng phát hành gần 1 triệu bản/năm. Trang thông tin điện tử của báo Bắc Kạn được thành lập vào năm 2005, lượng truy cập trung bình trên 300.000 lượt/tháng đến năm 2023.[208] Đến tháng 5 năm 2023, tạp chí Văn nghệ Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn đã phát hành 132 kỳ, với 120 nghìn bản.[209] Năm 2024, tỉnh Bắc Kạn có 5 cơ quan báo chí có phóng viên thường trú tại tỉnh, bảy cơ quan báo chí có phóng viên theo dõi địa bàn,[210] Hội nhà báo tỉnh có 83 hội viên.[211]
Đài Tiếng nói Việt Nam từng sơ tán đến thị xã Bắc Kạn và khu vực hồ Ba Bể trong giai đoạn kháng chiến.[212] Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn được thành lập khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập, Đài có các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng Tày- Nùng; tiếng Mông và tiếng Dao, cộng tác với kênh VTV5.[213] Năm 2024, Đài đăng tải 2.556 chương trình truyền hình, video clip; 1.248 chương trình phát thanh.[214]
Đến năm 2023, 93 đài truyền thanh cơ sở tại 93/108 đơn vị cấp xã của tỉnh Bắc Kạn đã được lắp đặt, triển khai sang đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin – viễn thông.[215] Năm 2017, Thư viện tỉnh Bắc Kạn nâng tổng số sách lên gần 78.000 bản sách, phục vụ trên 19.000 lượt độc giả; thư viện tuyến huyện, thành phố có tổng số 69.100 bản sách.[216] Tại các xã và nhiều thôn, bản vùng cao của tỉnh Bắc Kạn được trang bị các tủ sách; tuy nhiên không được người dân quan tâm sử dụng.[217] Theo điều tra dân số năm 2024, 71,2% số hộ tại Bắc Kạn có ti vi, số hộ có đài radio là 1,6%, số hộ có máy vi tính hoặc máy tính bảng là 15,5%, số hộ có điện thoại di động là 96,0%,[157] tỉ lệ hộ gia đình có băng rộng cáp quang đạt khoảng 71% vào năm 2025.[154]
Y tế
Trong tỉnh Bắc Kạn, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh được xếp hạng I, còn 8/8 trung tâm y tế tuyến huyện được xếp hạng II. Bình quân hàng năm, y tế tuyến xã của tỉnh Bắc Kạn khám và điều trị cho khoảng 200 nghìn lượt bệnh nhân. Đến năm 2024, toàn tỉnh có 1.030 giường bệnh, tỷ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế công năm 2024 đạt 85%.[218] Năm 2024, ngành y tế tỉnh Bắc Kạn thực hiện hơn 600 nghìn lần khám chữa bệnh; số bệnh nhân điều trị nội trú là 64.332 người, bằng 78,58% so cùng kỳ, nhưng điều trị ngoại trú tăng 29,01%.[85] Năm 2020, chỉ số sức khoẻ của tỉnh Bắc Kạn là 0,809 và xếp thứ 45.[162]
Theo điều tra dân số năm 2024, tỷ suất chết thô của tỉnh Bắc Kạn là 8,7‰, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi là 15,9‰, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi là 23,9‰, đều cao hơn tỷ suất của cả nước. Cũng trong cuộc điều tra này, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của tỉnh Bắc Kạn là 72,9 tuổi, trong đó nam giới là 70,3 tuổi và nữ giới là 75,6 tuổi.[157] Trong số người chết tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1/4/2018—1/4/2019, 2,0% chết vì tai nạn lao động, 2,7% chết vì tai nạn giao thông, 2,5% chết vì tự sát.[161] Năm 2024, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng của tỉnh Bắc Kạn là 15,1%.[219] Về tỷ lệ béo phì, khảo sát năm 2023 tại trường THCS Chu Hương cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì là 7,9%.[220]
Hằng năm, tại tỉnh Bắc Kạn, tỷ lệ trẻ em dưới một tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng đạt trên 95%; tỷ lệ trẻ sơ sinh được tiêm vắc xin viêm gan B trước 24 giờ đầu đạt trên 90%.[221] Năm 2023, trong nhóm phụ nữ 15-49 tuổi, 66,0% sử dụng biện pháp tránh thai; riêng những người đang có chồng trong nhóm tuổi này, tỷ lệ là 79,8%. Cũng trong năm này, với những phụ nữ đã sinh con trong 24 tháng trước, tỉnh Bắc Kạn có 5,9% phụ nữ không khám thai và 86,3% khám thai trên ba lần.[222]
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn được thành lập năm 1997 trên cơ sở Bệnh viện B tỉnh Bắc Thái, có 500 giường bệnh với cơ sở vật chất, trang thiết bị khá hoàn chỉnh.[223] Trụ sở cũ của bệnh viện bị bỏ hoang từ năm 2016.[224] Trường Trung cấp Y tế Bắc Kạn được đầu tư hơn 300 tỉ đồng, nhưng tuyển được rất ít học viên, và bị giải thể vào năm 2019.[225]
Hội Đông y tỉnh Bắc Kạn có 1.200 hội viên tính đến năm 2018,[226] khám chữa bệnh cho 172.743 lượt bệnh nhân trong giai đoạn 2015–2020.[227]
Ẩm thực

Bắc Kạn có các món ăn đáng chú ý làm từ gạo tẻ và gạo nếp là cơm lam, bánh gio, xôi đăm đeng (ngũ sắc), bánh trời (pẻng phạ), bánh ngô Na Rì, bánh coóc mò.[228] Người Tày có món bánh chưng dài đặc trưng,[229] vùng Na Rì và Ba Bể có bánh chưng nhân cá chép[230] Ngoài ra, người Tày còn có bánh trứng kiến,[231] bánh dầy lá ngải hay bánh ngải.[232] Người H'Mông trong tỉnh có món mèn mén, làm từ hạt ngô xay rồi đem hấp.[233] Các món ăn làm từ động vật đáng chú ý là lạp sườn hun khói, cá hồ nướng tại hồ Ba Bể,[228] tôm chua Ba Bể.[234] khâu nhục, thịt lợn gác bếp,[235] chân giò Chợ Đồn.[232] Trám đen có thể dùng làm các món như kho thịt. Người dân lấy măng về đem bán, hoặc làm măng khô, măng được chế biến thành canh măng, măng nhồi, chân giò hầm măng,[236] măng ớt đèo Gió có thương hiệu.[237] Tỉnh có món mứt mận, ăn các loại rau ngót rừng (rau sắng), rau bò khai, rau dớn.[234] Tỉnh có sản phẩm miến dong Bắc Kạn.[238] Tại xã Bằng Phúc có chè Shan tuyết cổ thụ,[239] có rượu ngô men lá.[228]
Thể thao
Năm 2023, tỉnh Bắc Kạn có 33% người dân tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, tỷ lệ gia đình thể thao đạt 17%.[240]
Vào những ngày lễ hội, người dân các dân tộc trong tỉnh thường tổ chức các môn thể thao truyền thống như kéo co, đẩy gậy, tung còn, gieo đúm, bắn nỏ, bắn cung, cướp pháo, đánh khăng, đánh cầu.[241]
Trong tuần Văn hóa - Du lịch Bắc Kạn năm 2025, tỉnh tổ chức giải đua xe đạp địa hình tỉnh Bắc Kạn mở rộng và giải Pickleball tỉnh Bắc Kạn mở rộng.[242] Năm 2024, tỉnh Bắc Kạn tổ chức ba giải quốc gia là giải vô địch trẻ và thiếu niên đẩy gậy quốc gia; giải vô địch trẻ và thiếu niên kéo co quốc gia lần; giải vô địch Bóng chuyền U23 quốc gia.[85] Giải chạy hồ Ba Bể - Bắc Kạn mở rộng năm 2024 thu hút gần 1.000 vận động viên tham gia.[243]
Tại Đại hội Thể thao toàn quốc 2022, đoàn Bắc Kạn tham gia các môn điền kinh, bắn cung, Teakwondo, Kickboxing và Muay Thái; giành được một huy chương vàng môn Kickboxing và một huy chương bạc môn Muay Thái, xếp hạng 56/65.[244] Tỉnh Bắc Kạn định hướng đầu tư các môn Taekwondo, Kickboxing, Muay để giành huy chương, các vận động viên Bắc Kạn có thành tích thi đấu không cao, chủ yếu đạt được ở các giải quy mô thấp như giải trẻ, cúp các câu lạc bộ.[245] Năm 2024, vận động viên tỉnh Bắc Kạn tham gia 18 giải trong nước, giành được 64 huy chương các loại.[85]
Trong năm 2024, ngành thể thao tỉnh Bắc Kạn đào tạo, huấn luyện 60 vận động viên ở năm môn là điền kinh, Muay, Kickboxing,Taekwondo, đẩy gậy.[85] Vận động viên bắn cung Nguyễn Thị Hương từng là "mỏ vàng" của thể thao tỉnh Bắc Kạn, giành được 27 huy chương vàng trong 11 năm thi đấu tính đến năm 2015.[246]
Tỉnh Bắc Kạn khi tái lập không có sân vận động, công trình sân vận động tỉnh Bắc Kạn được khởi công vào tháng 1 năm 2024 tại phường Huyền Tụng, có sức chứa 8.000 chỗ ngồi với tổng mức đầu tư hơn 200 tỉ đồng.[247] Nhà thi đấu thể dục thể thao tỉnh Bắc Kạn (Nhà thi đấu Tổng Đích) tại phường Đức Xuân có sức chứa khoảng 2.000 khán giả.[248] Đến năm 2022, tỉnh Bắc Kạn có hai sân tennis, 78 xã, thị trấn có sân tập đơn giản, 543 sân tập môn bóng chuyền hơi tại các thôn, bản.[249] Môn Pickleball trở nên phổ biến trong tỉnh vào thập niên 2020, riêng thành phố Bắc Kạn có hơn 100 sân Pickleball hoạt động tính đến tháng 2 năm 2025.[250]
Tham khảo
- 1 2 "Thông tin mới về việc sáp nhập tỉnh Bắc Kạn với Thái Nguyên". Báo Tiền Phong. 2025.
- ↑ Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2024 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 89. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2024 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 92. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2024 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 89. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Tổng cục Thống kê". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2022.
- 1 2 3 Đảng bộ TN1 2021, tr. 10.
- 1 2 3 4 5 6 7 "Bắc Kạn - 120 năm hình thành và phát triển". Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn. 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Thống nhất dùng tên tỉnh Bắc Kạn trên cả nước". Thông tấn xã Việt Nam. 2010.
- ↑ "Điều cực bất ngờ về ý nghĩa tên gọi tỉnh Bắc Kạn". Báo Kiến thức. 2021.
- ↑ "Hồng không hạt Bắc Kạn: Đặc sản vùng sơn cước". Báo Dân Việt. 2016.
- ↑ "Bắc Kạn: Phát hiện dấu tích người tiền sử tại Ba Bể". Viện Khảo cổ học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 10-11.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 17.
- ↑ "Nông Văn Vân - Tiết chế Thượng tướng quân cùng dân đồng lòng khởi nghĩa". Báo Cao Bằng. 2023.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 17-18.
- ↑ Đảng bộ BT1 1989, tr. 34.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 22.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 19.
- ↑ Đảng bộ TN1 2021, tr. 11.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 23-24.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 26-27.
- ↑ "Loạt ảnh hiếm về mỏ chì kẽm khổng lồ ở Việt Nam 100 năm trước". Báo Dân Việt.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 37.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 54.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 66-67.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 74.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 93.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 102-103.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 127.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 142.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 166-168.
- ↑ "Bài 1: Đánh bại chiến lược "Tốc chiến, tốc quyết" của thực dân Pháp". Báo Quân Đội Nhân Dân. 2007.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 177.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 193.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 178.
- ↑ "Sự kiện giải phóng Bắc Kạn có ý nghĩa lịch sử to lớn". Báo Bắc Kạn. 2019.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 17-18.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 13.
- ↑ "Thái Nguyên trong dòng chảy lịch sử đất nước (Bài 15): Hòa bình lập lại và những nhiệm vụ lớn". Báo Thái Nguyên. 2021.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 22-23.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 26.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 45.
- 1 2 Đảng bộ BT2 1980, tr. 48-49.
- ↑ "Giới thiệu chung thành phố Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử thành phố Bắc Kạn. 2019.[liên kết hỏng]
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 57.
- ↑ Đảng bộ BT2 1980, tr. 46-47.
- ↑ "Khu tự trị Việt Bắc ngày trước có những tỉnh nào, hiện giờ sắp xếp đơn vị hành chính ra sao?". Báo Dân Việt. 2021.
- ↑ Đảng bộ TN2 2021, tr. 144.
- ↑ Đảng bộ TN2 2021, tr. 194.
- ↑ "Thành phố Bắc Kạn – Lịch sử hình thành và phát triển". Cổng thông tin điện tử thành phố Bắc Kạn. 2019.[liên kết hỏng]
- ↑ Đảng bộ TN2 2021, tr. 235.
- ↑ "Nhìn lại các dự án đầu tư phát triển công nghiệp trên tỉnh Bắc Kạn- kỳ 2". Báo Bắc Kạn. 2017.
- ↑ "Bắc Kạn dẫn đầu cả nước về tỷ lệ che phủ rừng". Vietnamnet. 2021.
- ↑ "Thành phố Bắc Kạn chuyển mình mạnh mẽ sau 10 năm phát triển". Báo Bắc Kạn. 2025.
- ↑ "Tạo cơ hội cho cả hai tỉnh phát triển". Báo Thái Nguyên. 2021.
- ↑ "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 "Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015". Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- ↑ "Hơn 76.000 héc ta đất bị thoái hóa nặng sẽ ảnh hưởng tới năng suất cây trồng". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Ba Bể "thức giấc"". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Bắc Kạn vài nét tổng quan". Báo Dân tộc và Miền núi.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 "Báo cáo thuyết minh tổng hợp điều tra, đánh giá chất lượng đất, tiềm năng đất đai lần đầu tỉnh Bắc Kạn" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2022.
- 1 2 "Khí hậu và sự thành tạo cảnh quan tỉnh Bắc Kạn" (PDF). Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên.
- 1 2 "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng" (PDF). Bộ Xây dựng. ngày 26 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Khai thác gắn với bảo vệ nguồn tài nguyên nước lưu vực sông Cầu". Báo Thái Nguyên.
- ↑ "Ký sự sông Cầu (kỳ 2): Cuộc sống bên dòng sông". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn: Tăng cường bảo vệ nguồn nước đầu nguồn". Trang thông tin điện tử cục Quản ký Tài nguyên nước.[liên kết hỏng]
- ↑ "Hồ Ba Bể - 'viên ngọc xanh' giữa đại ngàn Việt Bắc". Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam.
- ↑ "Bắc Kạn phát triển du lịch sinh thái tại hồ Nặm Cắt". Tạp chí điện tử Thiên nhiên và môi trường.
- ↑ "Hồ Bản Chang (Bắc Kạn) - Địa điểm du lịch trải nghiệm thú vị những ngày hè". Cục Du lịch quốc gia Việt Nam.
- ↑ "Bắc Kạn phát triển du lịch sinh thái tại hồ Nặm Cắt". Báo Công An Nhân Dân.
- ↑ "Thống nhất chính sách di dân lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang". VnExpress.
- ↑ "Bắc Kạn bảo tồn đa dạng sinh học". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn". Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học.
- ↑ "Giới thiệu chung". Vườn quốc gia Ba Bể.[liên kết hỏng]
- ↑ "Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Bắc Kạn". Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học.
- ↑ "Khu dự trữ thiên nhiên Kim Hỷ, Bắc Kạn". Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học.
- ↑ "Bắc Kạn: Phát triển du lịch sinh thái trong Khu Dự trữ Thiên nhiên Kim Hỷ". Vietnamplus.
- ↑ "Khu bảo vệ cảnh quan Thác Giềng, Bắc Kạn". Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học.
- ↑ "Cần có giải pháp ngăn nguy cơ sạt lở do thiên tai ở Bắc Kạn". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "Hồ Ba Bể đang bị bồi lấp nghiêm trọng". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Bắc Kạn: Giúp Nam Cường vượt lũ". Cổng thông tin điện tử Bộ Giao thông vận tải.
- ↑ "Bắc Kạn thận trọng với các dự án thủy điện nhỏ". Báo Nhân Dân.
- ↑ "ô nhiễm môi trường ở tỉnh Bắc Kạn: Hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục" (PDF). Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên.
- ↑ "Từ ngày 15/4/2024, toàn tỉnh có 1.459 biên chế công chức và 9.619 biên chế viên chức". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 "Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 năm 2024" (PDF). Cục Thống kê Bắc Kạn.
- ↑ "Nghị quyết số 160/2024/QH15 của Quốc hội: Về phân bổ ngân sách trung ương năm 2025" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- 1 2 3 4 5 "Xã hội 53 dân tộc" (PDF). Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Cả nước sẽ có 184 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "50 người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2021-2026". Thông tấn xã Việt Nam.
- ↑ "Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Kạn triển khai nhiệm vụ năm 2025". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh năm 2024 của 63 địa phương". Thông tấn xã Việt Nam.
- ↑ "Kỷ niệm 125 năm ngày thành lập tỉnh Bắc Kạn (11/4/1900 - 11/4/2025): Tự chủ, tự hào bước vào kỷ nguyên mới". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị". Báo Nhân dân.
- ↑ "Danh sách Ban thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Kạn nhiệm kỳ 2020-2025". Pháp luật plus.
- ↑ "Kết nghĩa Bắc - Nam: Tới xứ lạ bỗng thấy tên quê hương". Nông thôn Việt.
- ↑ "Kết quả bước đầu từ Dự án "Chương trình đô thị miền núi phía Bắc". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "AFD tăng cường hỗ trợ Bắc Kạn ứng phó biến đổi khí hậu". Tạp chí Tài chính.
- ↑ "Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn triển khai nhiệm vụ năm 2025". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Xây dựng lực lượng công an Bắc Kạn chính quy, tinh nhuệ, hiện đại". Báo Bắc Kạn.
- 1 2 "Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Kạn năm 2025". Trang thông tin điện tử - Đại biểu dân cử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Bắc Kạn sau 26 năm tái lập". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, tái cấu trúc bộ máy từ cơ sở: Kỳ 1- Bộ máy cấp xã - Không thể mãi cồng kềnh". Báo Bắc Kạn.
- ↑ Địa chí 2009, tr. 1065.
- ↑ "Thành phố Bắc Kạn – Lịch sử hình thành và phát triển". Báo Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Vài nét khái quát về huyện Bạch Thông". Cổng thông tin điện tử huyện Bạch Thông.[liên kết hỏng]
- ↑ "Lịch sử hình thành và khái quát về kinh tế – xã hội huyện Pác Nặm". Cổng thông tin điện tử huyện Pác Nặm.[liên kết hỏng]
- ↑ "Danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025" (PDF). Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
- ↑ "Bắc Kạn giảm hơn 480 thôn, tổ dân phố sau sắp xếp, sáp nhập". Báo Tiền phong.
- ↑ "TP. Bắc Kạn với khát vọng xây dựng đô thị văn minh". Cổng thông tin điện tử thành phố Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. "Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Bắc Kạn" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Bắc Kạn: 125 năm hình thành và phát triển". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Biểu Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian năm 2024". Tổng cục Thống kê.
- ↑ "Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2023" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- ↑ "Danh sách địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu mới". Báo Dân Trí.
- ↑ "Năm 2025, Bắc Kạn phấn đấu giảm trên 1.800 hộ nghèo". Báo ảnh Dân tộc & Miền núi.
- ↑ "Phê duyệt danh sách huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo giai đoạn 2021 - 2025" (PDF). Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
- ↑ "Thiếu nguyên liệu chế biến khoáng sản ở Bắc Kạn". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Bức tranh khoáng sản đặc trưng của Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Nhà máy luyện gang Bắc Kạn chưa khởi động lại sản xuất". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn: Hướng đến chế biến sâu, tăng giá trị nông sản đồng". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "NTM Rộn ràng chợ phiên ngày cuối năm". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Vincom Plaza Bắc Kạn". Vincom Retail.
- ↑ "Bắc Kạn: Sẵn sàng các điều kiện đón khách du lịch". Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam.
- ↑ "Thành phố Bắc Kạn nỗ lực "đánh thức" tiềm năng du lịch". Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam.
- ↑ "Xây dựng thành phố Bắc Kạn trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ". Cổng thông tin điện tử thành phố Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Du lịch Thái Nguyên - Một năm nhiều dấu ấn". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.
- ↑ "Danh mục di tích quốc gia đặc biệt". Cục Di sản Văn hoá.
- ↑ "61 địa điểm tiềm năng được quy hoạch phát triển thành Khu Du lịch Quốc gia". Cục Di sản Văn hoá.
- ↑ "Ba Be - Na Hang Natural Heritage Area". UNESCO.
- ↑ "Du lịch hang động: Tiềm năng còn bỏ ngỏ". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Ngành Ngân hàng Bắc Kạn phấn đấu huy động vốn năm 2025 tăng 8 - 10%". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Năm 2024, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 2019-2024 - Tỉnh Bắc Kạn" (PDF). Cục Thống kê.
- ↑ "Sản xuất lúa chất lượng cao, gia tăng giá trị sản phẩm gạo Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Bắc Kạn xác minh nguyên nhân cây bí xanh thơm chết hàng loạt". Vietnamplus.
- ↑ "Bắc Kạn: Nhiều cây ăn quả mang tính đặc trưng vùng đang được phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Chăn nuôi Bắc Kạn vượt khó: [Bài 3] Phát triển trang trại, gia trại". Nông nghiệp và Môi trường.
- ↑ "Thái Nguyên nâng cao hiệu quả kinh tế rừng". Nông nghiệp và Môi trường.
- ↑ "Bắc Kạn phát huy lợi thế rừng". Truyền thống và Phát triển.
- ↑ "Mỡ, quế, keo tiếp tục chiếm ưu thế trong cơ cấu trồng rừng năm 2025". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn: Khởi sắc ở khu công nghiệp Thanh Bình". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Bắc Kạn: Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng khu, cụm công nghiệp". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Các nhà máy điện hoạt động ổn định". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bài 1- Bắc Kạn: Phát triển thuỷ điện cần hài hoà lợi ích kinh tế và môi trường". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Điện lực Bắc Kạn chú trọng tuyên truyền tiết kiệm điện". Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công - Bộ Công Thương.
- ↑ "Đóng điện thành công MBA AT2 tại Trạm biến áp 220kV Bắc Kạn". Tập đoàn Điện lực Việt Nam.[liên kết hỏng]
- ↑ "Ngành Điện Bắc Kạn 25 năm xây dựng và phát triển". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Giải pháp cấp nước cho thành phố Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- 1 2 "Bắc Kạn cần hơn 1.000 tỷ khắc phục sạt lở bờ sông". Nông nghiệp và Môi trường.
- ↑ "Gấp rút thi công dự án kè khắc phục sạt lở bờ sông ở Bắc Kạn". Báo Vietnamnet.
- ↑ "Cháy lớn tại khu vực nhà máy xử lý rác thải rắn Bắc Kạn". Báo Công an Nhân dân.
- ↑ "Chuẩn bị "khai tử" điện thoại di động 2G only". Báo Bắc Kạn.
- 1 2 "Ưu tiên phát triển hạ tầng số, làm nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Đà Nẵng lần thứ tư liên tiếp dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số". Vietnamplus.
- ↑ "Thành phố Bắc Kạn khai trương Phố đi bộ Sông Cầu". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- 1 2 3 4 5 6 7 "Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ" (PDF). Tổng cục Thống kê. 2024.
- ↑ "Lịch sử Bắc Kạn - Tỉnh có dân số ít nhất trong cả nước". Vietnamplus.
- ↑ Địa chí 2009, tr. 100–106.
- 1 2 "Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- 1 2 3 4 "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- 1 2 3 "Báo cáo chỉ số phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 2016-2020" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 11.
- ↑ Đảng bộ BT1 1980, tr. 34.
- ↑ Địa chí 2009, tr. 644–667.
- ↑ "Chuyển đổi tôn giáo và hoạt động di cư của người Mông ở Việt Nam". Tạp chí điện tử Lý luận chính trị.
- 1 2 Địa chí 2009, tr. 725–730.
- ↑ "Tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết đọc biết viết tiếng phổ thông phân theo dân tộc, giới tính, vùng kinh tế-xã hội và đơn vị hành chính". Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
- ↑ "Đài PTTH Bắc Kạn: Nâng cao chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc". VTC News.
- ↑ "10 địa phương có điểm thi tốt nghiệp môn tiếng Anh cao nhất". Vietnamnet.
- ↑ "Giữ gìn bảo tồn chữ Nôm Dao ở Thái Nguyên". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "Quan tâm bảo tồn tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.
- ↑ "10 điểm du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu tại Thái Nguyên". Cổng thông tin văn phòng T.Ư Giáo hội.
- ↑ "Ngôi chùa độc đáo ở Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong hang đá tự nhiên". Báo Nông nghiệp & Môi trường.
- ↑ "Bắc Kạn: Những "thầy giáo" đặc biệt tại Thánh đường Nà Phặc". Dân Việt.
- ↑ "Mùa xuân trên bản Mông". Truyền hình Công an Nhân dân.
- ↑ "Thầy tào trong đời sống tín ngưỡng của người Tày - Nùng". Báo Dân tộc và Phát triển.
- ↑ "Bắc Kạn phát triển mạng lưới giao thông kết nối liên hoàn". Bộ Giao thông vận tải.
- ↑ "Bước chuyển mạnh của hạ tầng giao thông Thái Nguyên". Báo Thái Nguyên.
- ↑ "BOT Thái Nguyên - Chợ Mới sẽ được tháo gỡ khó khăn?". Báo Thái Nguyên.
- ↑ "Khởi công xây dựng tuyến đường Chợ Mới - Bắc Kạn". Báo Tuổi trẻ.
- ↑ "Khánh thành tuyến đường TP Bắc Kạn - hồ Ba Bể kết nối sang Na Hang (Tuyên Quang)". Báo Đại đoàn kết.
- ↑ "Đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở hồ Ba Bể". Báo Công An Nhân Dân.
- ↑ "Hội thảo quốc tế giáo dục Pháp-Việt cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX" (PDF). Nhà xuất bản Đại học Huế. tr. 183.
- ↑ "Tự hào dưới mái trường Tổng Bí thư đã học". Báo Bắc Kạn.
- 1 2 "Ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn không ngừng đổi mới, nỗ lực phát triển toàn diện". Tạp chí Giáo dục.
- ↑ "Giáo dục tỉnh Bắc Kạn có nhiều khởi sắc sau hội nghị phát triển GDĐT vùng". Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam.
- ↑ "Kỷ niệm 20 năm thành lập Trường THPT Chuyên Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Bắc Kạn: 25 học sinh giành giải kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT 2024-2025". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Biến động thứ hạng 63 tỉnh, thành theo điểm thi tốt nghiệp". VnExpress.
- ↑ "Công bố thành lập Trường Cao đẳng Bắc Kạn". Báo Bắc Kạn.
- ↑ Địa chí 2009, tr. 815–823.
- ↑ "Mùa xuân vui hội Lồng tồng". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Lồng tồng Phủ Thông - lễ hội đặc sắc của đồng bào Tày Bắc Kạn". Báo Đại biểu Nhân dân.
- ↑ "Tượng đài Chiến thắng 14 tỉ của Bắc Kạn gãy đổ sau 2 năm khánh thành". Báo Thanh Niên.
- ↑ "Đoàn nghệ thuật dân tộc Bắc Kạn: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Thiếu không gian, Thư viện tỉnh khó thu hút người đọc". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Nhà Văn hóa huyện Pác Nặm đã hoàn thành, đưa vào sử dụng". Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.
- ↑ Địa chí 2009, tr. 792–801.
- ↑ "Bắc Kạn chú trọng sáng tác về bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số". Vietnamnet.
- 1 2 "Văn học nghệ thuật góp phần tuyên truyền, quảng bá tiềm năng du lịch của tỉnh tới công chúng". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Bắc Kạn: Giới trẻ giữ gìn nghệ thuật độc đáo hát then, đàn tính". Pháp luật Dân tộc & Tôn giáo.
- ↑ "Âm nhạc Thái Nguyên từ 1975 đến nay và những vấn đề cần quan tâm trong giai đoạn mới". Văn nghệ Thái Nguyên.
- ↑ "Nối dài những ca khúc về Bắc Kạn yêu thương". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Múa bát – kết tinh nét đẹp văn hóa đồng bào Tày Bắc Kạn". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Nghệ thuật Múa khèn của người Mông". Cục Di sản văn hoá.
- ↑ "Sôi động lễ khai mạc Tuần Văn hóa, Du lịch Bắc Kạn 2025". Vietnamnet.
- ↑ "Báo Bắc Kạn - 60 năm xây dựng và trưởng thành". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Những thành tựu nổi bật của văn học, nghệ thuật tỉnh". Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn.
- ↑ "Danh sách phóng viên thường trú". Sở Thông tin và Truyền thông Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Hội Nhà báo tỉnh Bắc Kạn: Dấu ấn từ các giải báo chí Trung ương". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Người dân Việt Bắc với Đài Tiếng nói Việt Nam l". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "Đài PTTH Bắc Kạn: Nâng cao chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc". VTC News.
- ↑ "Đài PT&TH Bắc Kạn phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn: Phát huy hiệu quả truyền thanh ứng dụng công nghệ AI trong giảm nghèo". Vietnamnet.
- ↑ "Thư viện tỉnh nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Để không lãng phí những tủ sách vùng cao". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "Ngành Y tế Bắc Kạn - nhiều thành tựu nổi bật sau 28 năm tái lập tỉnh". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn - nhiều kết quả nổi bật trong năm 2024". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh trường trung học cơ sở Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn". Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên.
- ↑ "Bắc Kạn nỗ lực đưa vắc xin đến với trẻ em vùng cao". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2023" (PDF). Cục Thống kê.
- ↑ "Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn: Tăng cường triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu xứng đáng vị thế bệnh viện hạng I". Tạp chí Con số & sự kiện.
- ↑ "Bên trong bệnh viện bị bỏ hoang gần 1 thập kỷ ở Bắc Kạn". Báo Lao động.
- ↑ "Không có học viên, Bắc Kạn sẽ giải thể trường Trung cấp Y tế". Đài Tiếng nói Việt Nam.
- ↑ "Hội Đông y Bắc Kạn: Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Đại hội đại biểu Hội Đông y tỉnh khóa V, nhiệm kỳ 2020 - 2025". Báo Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- 1 2 3 "Đặc sắc ẩm thực vùng cao Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Gói bánh chưng Tết cùng người Tày Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Lạ miệng món bánh chưng nhân cá chép ở Bắc Kạn, cả năm chỉ có một lần". Vietnamnet.
- ↑ "Ngậy bùi đặc sản bánh trứng kiến Bắc Cạn". Báo Lao động.
- 1 2 "Top 7 đặc sản ngon của Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Mèn mén – nét ẩm thực độc đáo của dân tộc Mông". Cổng thông tin điện tử huyện Pác Nặm.[liên kết hỏng]
- 1 2 "15 món ngon Bắc Kạn ăn một lần nhớ mãi". Vietnamnet.
- ↑ "'Lạ miệng' với 15 món đặc sản khó cưỡng ở Bắc Kạn". Báo Lao động.
- ↑ "Về Bắc Kạn thưởng thức món ngon mùa thu". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Măng ớt đèo Gió vươn xa". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Miến dong Bắc Kạn". Báo ảnh Việt Nam.
- ↑ "Chè Shan tuyết cổ nơi thượng nguồn sông Cầu". Báo Nhân Dân.
- ↑ "Bắc Kạn: Phát triển thể thao vì mục tiêu nâng cao đời sống tinh thần, thể chất cho Nhân dân". Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
- ↑ "Bắc Kạn nỗ lực bảo tồn thể thao truyền thống địa phương". Cục Thể dục thể thao.
- ↑ "Bắc Kạn sẵn sàng cho Tuần Văn hóa - Du lịch năm 2025". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ ""Giải chạy hồ Ba Bể - Bắc Kạn mở rộng năm 2024" thành công tốt đẹp". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Thành tích của Đoàn thể thao Bắc Kạn tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ IX năm 2022". Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Tìm hướng đi phù hợp cho thể thao thành tích cao ở Bắc Kạn". Cổng thông tin điện tử Bắc Kạn.[liên kết hỏng]
- ↑ "Nữ vận động viên Nguyễn Thị Hương: "Mỏ vàng" thể thao Bắc Kạn". Vietnamplus.
- ↑ "Đại công trường sân vận động tỉnh Bắc Kạn sau 1 năm thi công". Báo Lao động.
- ↑ "Tình yêu bóng chuyền mãnh liệt của người dân Bắc Kạn". Báo Bắc Kạn.
- ↑ "Bắc Kạn đảm bảo cơ sở vật chất văn hóa, thể thao giai đoạn 2022 – 2025 trị". Cục Thể dục thể thao Việt Nam.
- ↑ "Xã hội hóa TDTT ở Bắc Kạn – Thúc đẩy du lịch và kinh tế địa phương". Cục Thể dục thể thao Việt Nam.
Thư mục
- Địa chí (2009). Địa chí Thái Nguyên. Thái Nguyên: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
- Đảng bộ TN1 (2021). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên tập I (1936 - 1965). Thái Nguyên: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - Đảng bộ BT1 (1980). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái tập I. Thái Nguyên: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Thái.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - Đảng bộ BT2 (1980). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái tập II (1955 - 1975). Thái Nguyên: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Thái.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
Liên kết ngoài
- Website chính thức
- Trang Báo Điện tử tỉnh Bắc Kạn Lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine
