Bước tới nội dung

Hoài Đức (huyện)

Hoài Đức
Huyện
Rước Thánh qua ao làng tại xã Vân Côn
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngĐồng bằng sông Hồng
Thành phốHà Nội
Trung tâm hành chínhThị trấn Trạm Trôi
Phân chia hành chính1 thị trấn, 19 xã
Thành lập622
Giải thể16 tháng 6 năm 2025
Địa lý
Tọa độ: 21°02′B 105°42′Đ / 21,04°B 105,7°Đ / 21.04; 105.70
Bản đồ huyện Hoài Đức
Hoài Đức trên bản đồ Hà Nội
Hoài Đức
Hoài Đức
Vị trí huyện Hoài Đức trên bản đồ Hà Nội
Hoài Đức trên bản đồ Việt Nam
Hoài Đức
Hoài Đức
Vị trí huyện Hoài Đức trên bản đồ Việt Nam
Diện tích84,93 km²
Dân số (31/12/2020)
Tổng cộng276.070 người
Khác
Mã hành chính274[1]
Biển số xe29-X5, 29-AK

Hoài Đức là một huyện ngoại thành cũ thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Vị trí địa lý

Huyện Hoài Đức có vị trí địa lý:

Huyện có địa hình tương đối bằng phẳng. Sông Đáy chảy qua phía Tây huyện, tạo thành ranh giới với các huyện Phúc Thọ và Quốc Oai.

Lịch sử

Tên gọi Hoài Đức có từ năm 622 đời Đường, niên hiệu Vũ Đức do huyện Tống Bình tách ra làm 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.

Năm 621 đổi Tống Bình thành Tống Châu, tách đặt 2 huyện Hoằng Giáo và Nam Định. Nghĩa là Tống Châu gồm 2 huyện Hoằng Giáo và Nam Định. Thành lập Từ Châu gồm 3 huyện Từ Liêm (có sông Tô Lịch), Ô Diên (chỗ sông Hồng tiếp sang sông Đuống, nay là Phùng, Đan Phượng) và Vũ Lập.

Năm 622 tách Tống Châu đặt thêm huyện Giao Chỉ và huyện Hoài Đức. Nghĩa là Tống Châu gồm 4 huyện Hoằng Giáo, Hoài Đức, Nam Định, Giao Chỉ. Năm 623 đổi Tống Châu thành châu Nam Tống.

Năm 627, bỏ châu Nam Tống, lấy 3 huyện Hoằng Giáo, Hoài Đức và Giao Chỉ kia để lập lại huyện Tống Bình (nay khoảng Hoài Đức, Từ Liêm). Dời huyện Giao Chỉ đến Nam Từ Châu rồi đổi tên nó thành huyện Giao Chỉ mới (khoảng Đan Phượng, Phúc Thọ) trên đường sang Phong Châu (Thạch Thất, Sơn Tây).

Thời Lý-Trần, phần đất huyện Hoài Đức hiện nay thuộc thuộc châu Từ Liêm và huyện Từ Liêm, phủ Đông Đô, lộ Đông Đô. Thời Lê, phần đất huyện Hoài Đức hiện nay thuộc huyện Đan Phượng và huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.

Bản đồ phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội và thành Hà Nội năm 1883

Năm Gia Long thứ 4 (1805), vua Gia Long đổi tên phủ Phụng Thiên của Thăng Long (thời Hậu Lê) thành phủ Hoài Đức, với nguyên trạng phần đất Phụng Thiên cũ, gồm 2 huyện Vĩnh Thuận (tức là huyện Quảng Đức thời Hậu Lê) và Thọ Xương (hay Vĩnh Xương) thời Lê.[2]

Phủ Hoài Đức những năm đầu nhà Nguyễn (từ những năm 18051831) là phần đất thuộc các huyện Đan Phượng và Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Phần thuộc huyện Đan Phượng gồm các xã: Dương Liễu, Cát Quế (Quế Dương), Yên Sở... thuộc tổng Dương Liễu; Lai Xá (Lai Xá, Kim Chung),...thuộc tổng Kim Thìa; Sơn Đồng thuộc tổng Sơn Đồng; Đắc Sở, Lại Yên... thuộc tổng Đắc Sở;...Phần thuộc huyện Từ Liêm gồm các xã: Vân Canh,... thuộc tổng Hương Canh; La Phù, An Khánh, An Thượng, Đông La, Vân Côn... thuộc tổng Yên Lũng;...[3]

Năm 1831, vua Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội. Phủ Hoài Đức là một trong 4 phủ của tỉnh Hà Nội là: Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân. Đồng thời cũng trong năm này, huyện Từ Liêm dược tách ra khỏi phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây cho lệ vào phủ Hoài Đức, (một phần của huyện Hoài Đức ngày nay cũng theo huyện Từ Liêm nhà Nguyễn nhập vào phủ Hoài Đức). Phủ lị ở thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương, nay là khu vực phố Phủ Doãn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tường thành phủ chu vi 203 trượng, cao 7 thước, 2 tấc, mở 3 cưa, hào rộng 2 trượng 5 thước, tường thành hình vuông, chiều Đông Bắc – Tây Nam. Phía Bắc giáp phố Ấu Triệu hiện nay. Năm 1833, dời đến xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, do phủ kiêm lý, đắp thành phủ mới, có hào, mặt trước, nay là đường Nguyễn Phong Sắc quận Cầu Giấy Hà Nội. Năm 1883, tại lỵ sở phủ Hoài Đức diễn ra một trận kháng cự của quân đội nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen chống lại cuộc tấn công của quân đội Viễn chinh Pháp, trước khi nhà Nguyễn chính thức đầu hàng Pháp.

Quy mô phủ Hoài Đức lúc này bao gồm:

  • Huyện Thọ Xương (8 tổng: 193 phường, thôn, trại) gồm các tổng: Tả Túc, Tiền Túc, Hữu Túc, Hậu Túc, Tả Nghiêm, Tiền Nghiêm, Hữu Nghiêm, Hậu Nghiêm.
  • huyện Vĩnh Thuận (5 tổng: 57 xã, thôn, phường, trại) gồm các tổng: Thượng, Trung, Nội, Hạ, Yên Thành.
  • huyện Từ Liêm (13 tổng: 91 xã, thôn, trang, trại, phường, sở) gồm các tổng: Thượng Hội, Thượng Trì, Hạ Trì, Phú Gia, Minh Cảo, Cổ Nhuế, Dịch Vọng, Hương Canh, Tây Đam, Thượng Ốc, Yên Lũng, La Nội, Thiên Mỗ.

Năm 1888, huyện Đan Phượng thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, được nhập vào phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, kéo theo một phần đất của Hoài Đức ngày nay thuộc Đan Phượng thời đó, được nhập vào phủ Hoài Đức. Huyện Đan Phượng (9 tổng: 60 xã, thôn, châu, phường, vạn) gồm các tổng: Sơn Đồng, Hạ Hiệp, Thượng Hiệp, Kim Thia, Phượng Thượng, Dương Liễu, Đắc Sở, Thiên Mạc, Thu Vĩ.

Từ ngày 6 tháng 12 năm 1904, phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1945, thì bỏ phủ Hoài, phần đất nguyên của phủ Hoài Đức được nhập vào Hà Nội.

Sau Cách mạng Tháng Tám, huyện Hoài Đức gồm 16 xã: An Khánh, An Thượng, Đại La, Đức Giang, Dương Cát, Dương Hòa, Dương Nội, Hữu Hưng, Kim Chung, Phương Sơn, Tiền Yên, Trung Văn, Vân Côn, Văn Khê, Yên Nghĩa.

Năm 1956, chia xã Dương Hòa thành hai xã Dương Liễu và Minh Khai, chia xã Đại La thành hai xã Đông La và La Phù, chia xã Hương Canh thành hai xã Vân Canh và Xuân Phương, chia xã Dương Cát thành ba xã Cát Quế, Yên Sở và Đắc Sở, chia xã Phương Sơn thành ba xã Sơn Đồng, Song Phương và Lại Yên, thành lập xã Di Trạch trên cơ sở tách thôn Di Trạch của xã Kim Chung, thành lập xã Đức Thượng trên cơ sở tách một phần của xã Đức Giang. Từ đó, huyện Hoài Đức gồm 25 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Dương Nội, Hữu Hưng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Trung Văn, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Văn Khê, Xuân Phương, Yên Nghĩa, Yên Sở.

Ngày 20 tháng 4 năm 1961, 3 xã Trung Văn, Hữu Hưng và Xuân Phương sáp nhập vào thành phố Hà Nội (nay là các phường Tây Mỗ, Đại MỗXuân Phương).[4]

Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Tây mới được thành lập do hợp nhất 2 tỉnh Hà ĐôngSơn Tây.[5] Ngày 15 tháng 9 năm 1969, chuyển xã Văn Khê vào thị xã Hà Đông (sau này là hai phường La KhêPhú La và nay là phường Hà Đông).[6] Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Sơn Bình do hợp nhất 2 tỉnh Hà TâyHòa Bình.[7]

Ngày 27 tháng 12 năm 1978, huyện Hoài Đức sáp nhập vào thành phố Hà Nội.[8] Sáp nhập 4 xã Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Tân Hòa của huyện Quốc Oai và 2 xã Phụng Châu, Tiên Phương của huyện Chương Mỹ.[9] Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Tây vừa được tái lập.[10]

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, trả lại các xã Phụng Châu, Tiên Phương của huyện Chương Mỹ và các xã Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Tân Hòa huyện Quốc Oai. Đồng thời, thành lập thị trấn Trạm Trôi (thị trấn huyện lỵ của huyện Hoài Đức) trên cơ sở tách thôn Giang Xá của xã Đức Giang.[11]

Ngày 23 tháng 9 năm 2003, chuyển xã Yên Nghĩa vào thị xã Hà Đông.[12] Ngày 4 tháng 1 năm 2006, chuyển xã Dương Nội vào thị xã Hà Đông.[13] Như vậy, huyện Hoài Đức còn lại thị trấn Trạm Trôi và 19 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở giữ ổn định cho đến nay.

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, huyện Hoài Đức sáp nhập vào thành phố Hà Nội.[14]

Ngày 1 tháng 7 năm 2025, huyện Hoài Đức bị giải thể để thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, không tổ chức cấp huyện.

Hành chính

Huyện Hoài Đức gồm thị trấn Trạm Trôi (huyện lỵ) và 19 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở.

Hạ tầng

Hiện nay, trên địa bàn huyện Hoài Đức đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như: khu đô thị Bắc An Khánh, khu đô thị Nam An Khánh, Khu đô thị Vinhomes Thăng Long, khu đô thị Bắc Quốc lộ 32, Dự án nam 32, khu đô thị Vân Canh, khu đô thị Hinode Royal Park, khu đô thị Sơn Đồng, khu đô thị Tây Đô, khu đô thị An Thịnh, khu đô thị An Khánh - An Thượng, khu đô thị Dầu khí Đức Giang, khu đô thị Dầu khí An Thượng, khu đô thị Mai Linh - Đông Đô, khu đô thị Đại học Vân Canh, khu đô thị Hinode Royal Park...

Giao thông

Hoài Đức có đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32 (từ km13 + 920 đến km19 + 985), tỉnh lộ 422, 423 chạy qua, đường đê tả Đáy rộng 7m thảm nhựa.

Hiện nay, huyện Hoài Đức đang triển khai xây dựng các tuyến đường vành đai như Đường vành đai 3.5, Đường vành đai 4, Đường Liên khu vực 8, Đường Liên khu vực 1, đường Lại Yên - Vân Canh.

Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là các Tuyến số 3 (Sơn Tây - Nhổn - Yên Sở), Tuyến số 5 (Hồ Tây - Hòa Lạc), Tuyến số 6 (Nội Bài - Ngọc Hồi), Tuyến số 7 (Mê Linh - Ngọc Hồi), Tuyến số 8 (Sơn Đồng - Dương Xá), trong đó Tuyến số 5 hiện đang được đầu tư xây dựng.

  • Quốc lộ, Tỉnh lộ
  1. Quốc lộ 32
  2. Đại lộ Thăng Long
  3. Đường 422 (Đường 79 cũ)
  4. Đường 422B (đường Vân Canh - Sơn Đồng)
  5. Đường 423 (Đường 72 cũ)
  6. Đường 70
  7. Đường đê tả Đáy
  • Đường liên huyện
  1. Sơn Đồng - Cát Quế
  2. Sơn Đồng - Song Phương
  3. Lại Yên - An Khánh
  4. Lại Yên - Vân Canh
  5. Lại Yên - Tiền Yên
  6. Song Phương - Vân Côn
  7. Sơn Đồng - Đắc Sở - Tiền Yên
  8. Dương Liễu - Đức Thượng
  9. Dương Liễu - Minh Khai
  • Đường, phố khác
  1. Đường An Khánh
  2. Đường An Thái
  3. Đường Bồ Quân
  4. Đường Chùa Tổng
  5. Đường Đào Trực
  6. Đường Hoàng Tùng
  7. Đường Kẻ Sấu
  8. Đường Kim Thìa
  9. Đường Lý Đàm Nghiên
  10. Đường Lý Phục Man
  11. Đường Nguyễn Viết Thứ
  12. Đường Phương Quan
  13. Đường Quế Dương
  14. Đường Sơn Đồng
  15. Đường Thượng Ốc
  16. Đường Tiền Lệ
  17. Đường Triệu Túc
  18. Đường Vân Canh
  19. Đường Vân Côn
  20. Đường Lý Nam Đế
  21. Đường Vạn Xuân (từ Cổng chào Hoài Đức - hết đoạn đường đôi QL32).[15]

Hệ thống xe buýt

Điểm đầu cuối và trung chuyển

  • Học viện Chính sách và Phát triển (19)
  • KĐT Vân Canh (50)
  • Bến xe Hoài Đức (97)

Các tuyến xe buýt hoạt động

Tuyến xe buýtLộ trình trong khu vực huyện Hoài Đức
19(Trần Khánh Dư - Học viện Chính sách và Phát triển)... - Hoàng Tùng - An Khánh - Đường nội bộ KĐT Sudico Nam An Khánh - Cổng số 2 KĐT Vinhomes Thăng Long - Học viện Chính sách và Phát triển
20A(Cầu Giấy - Bến xe Sơn Tây)... - Vạn Xuân -...
29(Bến xe Giáp Bát - Tân Lập)... - Vạn Xuân -...
50(Long Biên - KĐT Vân Canh)... - Xuân Phương - Đường nội bộ KĐT Vân Canh - KĐT Vân Canh
57(Bến xe Nam Thăng Long - KCN Phú Nghĩa)... - Xuân Phương -...
66(Bến xe Yên Nghĩa - Bến xe Phùng)... - Hoàng Tùng - Đường nội bộ KĐT Nam An Khánh - Phố Đông - An Khánh - Cầu vượt An Khánh - Đại lộ Thăng Long (đường gom) - Lý Phục Man -...
74(Bến xe Mỹ Đình - Xuân Khanh)... - Đại lộ Thăng Long -...
87(Bến xe Mỹ Đình - Quốc Oai - Xuân Mai)... - Đại lộ Thăng Long - Đường nội bộ KĐT Nam An Khánh - Hoàng Tùng - Đại lộ Thăng Long -...
88(Bến xe Mỹ Đình - Hòa Lạc - Xuân Mai)... - Đại lộ Thăng Long -...
89(Bến xe Yên Nghĩa - Bến xe Sơn Tây)..... Chùa Tổng - Thượng Ốc - Đê Tả Đáy - Phương Quan -....
92(Nhổn - Phú Sơn (Ba Vì))... - Vạn Xuân -...
97(Hoài Đức - Công viên Nghĩa Đô)Hoài Đức (bến xe Hoài Đức) - Vạn Xuân - Triệu Túc - Ngã tư Sơn Đồng - Kim Thìa - Vân Canh - Xuân Phương -...
107(Bến xe Kim Mã - LVHDL các dân tộc Việt Nam)... - Đại lộ Thăng Long -...
117(Hòa Lạc - Nhổn)... - Vạn Xuân -...
157(Bến xe Mỹ Đình - Bến xe Sơn Tây)... - Đại lộ Thăng Long -...
163(Bến xe Yên Nghĩa - Nhổn)... - Bồ Quân - Lý Phục Man - Quế Dương - Sơn Đồng - Triệu Túc - Vạn Xuân -...
E06(Bến xe Giáp Bát - Vinhomes Smart City)... - Hoàng Tùng - Đường nội bộ KĐT Geleximco -...

Làng nghề

Huyện Hoài Đức là nơi tập trung nhiều làng nghề. Toàn huyện có 52 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 12 làng nghề đã được cấp bằng công nhận. Các làng nghề thuộc nhóm chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản chiếm nhiều nhất tập trung ở tất cả các thôn thuộc các xã Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai, La Phù và nhiều thôn ở các xã Đức Giang, Yên Sở, An Thượng... Trong nhóm nghề chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản của huyện rất đa dạng bao gồm nhiều ngành nghề như: làm miến, bún bánh, bột sắn, mạch nha, bột rong, sơ chế sản phẩm từ đường, xay xát và làm gạo, bánh đa nem, nấu rượu, bánh kẹo,... nhóm nghề này vẫn đang hoạt động hiệu quả và phát triển tốt. Ngoài ra, huyện còn có nhiều nghề khác như các làng nghề thuộc nhóm mộc, cơ khí, sinh vật cảnh, dệt may, xây dựng. Riêng các làng nghề thuộc nhóm nghề mây tre đan hoạt động kém hiệu quả số lượng lao động tham gia giảm còn rất ít và dần mai một. Các làng nghề, làng nghề truyền thống, làng có nghề và ngành nghề ở các địa phương trong huyện:

  • Chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản (miến, bột rong) các thôn ở xã Minh Khai
  • Nghề làm hương ở Lại Yên
  • Làm mành tre thôn Vân Lũng (An Khánh)
  • Có nghề làm gạo ở thị trấn Trạm Trôi
  • Nghề mây tre đan ở Song Phương
  • Chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản (tinh bột rong, bột sắn, mạch nha, nấu rượu) và chăn nuôi các thôn ở xã Cát Quế
  • Nghề cơ khí (gia công, gò hàn, két sắt) và mộc (dân dụng, mĩ nghệ) ở Đại Tự (Kim Chung)
  • Nghề làm rau ở Tiền Lệ (Tiền Yên)
  • Làm tranh (thất truyền) Kim Hoàng (Vân Canh)
  • Bánh đa nem, nấu rượu Ngự Câu (An Thượng)
  • Chế biến lương thực, thực phẩm (xay xát, buôn bán, làm gạo) thôn Lưu Xá (Đức Giang)
  • Trồng phật thủ ở Đắc Sở
  • Dệt may, sơ chế gỗ, trồng hoa Đồng Nhân (Đông La)
  • Nghề xây dựng ở Vân Côn
  • Mộc điêu khắc (đồ thờ, tạc tượng) các thôn ở Sơn Đồng
  • Nghề xây dựng và một số còn nghề chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản thôn ở xã Yên Sở
  • Có nghề thuốc nam ở Vân Canh
  • Nghề nhiếp ảnh thôn Lai Xá (Kim Chung)
  • Chế biến lương thực, thực phẩm (bún, bánh, thịt chó) thôn Cao Xá Hạ (Đức Giang)
  • Nghề nấu rượu ở Trại Chiêu (Sơn Đồng)
  • Làng bánh kẹo, lương thực, thực phẩm khô (sản xuất, buôn bán, làm nguyên liệu thực phẩm, nông sản chế biến, đồ đựng (gói) thực phẩm rượu, bia, nước giải khát), hàng sinh hoạt thiết yếu và dệt may (thảm, len, bít tất, may mặc) các thôn ở xã La Phù
  • Chế biến lương thực, thực phẩm và nông sản (miến, sơ chế sản phẩm từ đường, nguyên liệu làm bánh kẹo và miến) các thôn ở xã Dương Liễu.

Hoài Đức có 12 làng nghề đã được cấp bằng công nhận:

STTTên làng nghềĐịa chỉ
1Làng nghề chế biến Lương thực thực phẩm Lưu XáĐức Giang – Hoài Đức
2Làng nghề Bún bánh Cao Xá Hạ
3Làng nghề điêu khắc mỹ nghệSơn Đồng – Hoài Đức
4Làng nghề bánh kẹo – dệt kimLa Phù – Hoài Đức
5Làng nghề chế biến nông sản thực phẩmMinh Khai – Hoài Đức
6Làng nghề chế biến nông sản thực phẩmDương Liễu – Hoài Đức
7Làng nghề chế biến nông sản thực phẩmCát Quế – Hoài Đức
8Làng nghề Nhiếp ảnh truyền thống thôn Lai XáKim Chung – Hoài Đức
9Làng nghề Bánh đa nem Ngự CâuAn Thượng – Hoài Đức
10Làng nghề xây dựng, chế biến nông sảnYên Sở - Hoài Đức
11Làng nghề cơ khí, mộc dân dụng, mỹ nghệ Đại TựKim Chung – Hoài Đức
12Làng nghề dệt may, chế biến nông lâm sản Đồng NhânĐông La – Hoài Đức

Văn hóa, kiến trúc, di tích

Nghệ thuật

Nghệ thuật tranh Kim Hoàng là một trong bốn nghệ thuật tranh: tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng, tranh làng Sình.

Kim Hoàng (vùng đất nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức) là hợp nhất của hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng, xây dựng đình chung vào ngày 3 tháng 2 năm Chính Hòa thứ 22. Tranh Kim Hoàng cũng giống như ba dòng tranh trên, cũng đủ loại như thờ cúng, chúc tụng, châm biếm... Dòng tranh Kim Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỷ mỷ hơn tranh Đông Hồ, màu sắc tươi hơn dòng tranh Hàng Trống. Về màu, tranh Kim Hoàng dùng mực tàu, trắng là thạch cao, chàm xanh từ mực tàu hòa với màu nước chàm và các màu lấy từ thiên nhiên... Giấy in không quét điệp như tranh Đông Hồ, cũng không dùng giấy xuyến như tranh Hàng Trống mà in trên giấy đỏ, giấy hồng điều, giấy tàu vàng... Ví dụ như tranh lợn bột in hình con lợn mình đen, viền trắng cách điệu rất ngộ nghĩnh trên giấy nền đỏ tạo một vẻ đẹp gây ấn tượng mạnh mẽ trong dòng tranh Kim Hoàng. Cũng như các dòng tranh khác, tranh Kim Hoàng cũng dần bị thất truyền. Ngày nay, một vài ván in của dòng tranh này vẫn được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Công trình, di tích

  • Chùa Tổng La Phù
  • Quán Giá
  • Quán Linh Tiên
  • Tượng đài Sấu Giá
  • Lăng quận công Phạm Mẫn Trực
  • Lăng quận công Phạm Đôn Nghị
  • Đình Kim Hoàng
  • Chùa, Đình, Quán Lại Yên
  • Đình Tiền Lệ
  • Chùa Hương Trai
  • Đình Sơn Đồng
  • Đình Giang Xá

Danh nhân

Họ TênNăm sinh - mấtQuê Xã (cũ)Xã mớiChức vụGhi chú
Lý Phục ManNhà Tiền LýYên SởDương HoàGia Thông Đại vương, Tiền Lý Triều Thái úy, Phò mã.
Nguyễn Thúc Thông? - ?Cát QuếTiến sĩ năm Thái Hòa Thứ 6, 1448
Nguyễn Danh Dự1657 - 1714Dương LiễuBá Tước, Bồi Tụng, Lễ Bộ Tả Thị Lang
Nguyễn Quang Dương1962Nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
Nguyễn Quang Đức1971Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Đỗ Kính TuNhà LýVân CanhSơn ĐồngĐế Sư, Thái úy, Thái phó, Thái Bảo.Được ban quốc tính nên còn gọi là Lý Kính Tu
Nguyễn Tài Thu1931-2021Giáo sư, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng lao động; Nguyên Phó Chủ tịch hội châm cứu Thế giới; Nguyên Chủ tịch hội châm cứu Việt Nam; Nguyên Chủ tịch Hội Cứu trợ Trẻ em tàn tật Việt Nam
Lê Quang Huy1966Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Nguyễn Viết Thứ1644 - 1692Sơn ĐồngTham Tụng (tể tướng của Phủ Chúa), Hình Bộ Thượng Thư

Truy Phong: Tử Tước, Lại Bộ Thượng Thư

Nguyễn Phú Trường1978Vụ trưởng Vụ Dân chủ và cơ quan nhà nước, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Nguyễn Văn Huyên1905 - 1975Kim ChungHoài ĐứcGiáo sư Sử học, Văn hóa

Bộ trưởng Bộ giáo dục (1946 - 1975).

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền1928-2006Đức ThượngNguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam
Tạ Anh Tuấn1969La PhùAn KhánhThứ trưởng Bộ Tài chính
Nguyễn Văn Sơn1964Đông LaNguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang
Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh1967An ThượngPhó Chủ tịch Quốc hội

Giáo dục

Các trường Đại học ,Cao đẳng

  • Trường Đại Học Thành Đô (xã Kim Chung)
  • Học viện Chính sách và Phát triển (khu đô thị nam An Khánh)

Các trường khối Trung học Phổ thông

  • Trường Trung học phổ thông Hoài Đức A (xã Kim Chung)
  • Trường Trung học phổ thông Hoài Đức B (xã An Khánh)
  • Trường Trung học phổ thông Hoài Đức C (xã Song Phương)
  • Trường Trung học phổ thông Vạn Xuân - Hoài Đức (xã Cát Quế)
  • Trường Phổ thông dân lập Bình Minh (gồm cơ sở 1 tại xã Đức Thượng và cơ sở 2 tại xã An Khánh)
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Hoài Đức (xã An Khánh và Xã Kim Chung)

Các trường khối Trung học cơ sở

Khối trường tiểu học

Chú thích

  1. Tổng cục Thống kê
  2. Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Địa chí loại quyển 5, tỉnh Hà Nội, trang 361-365.
  3. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, Trấn Sơn Tây, phủ Quốc Oai, trang 36-37.
  4. Nghị quyết về việc mở rộng thành phố Hà Nội do Quốc hội ban hành
  5. Quyết định 103-NQ-TVQH năm 1965 về việc phê chuẩn việc thành lập các tỉnh Bắc Thái, Nam Hà, Hà Tây và việc sáp nhập xã An Hòa thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (cũ) vào xã Tiến Xuân thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
  6. Quyết định 178-CP năm 1969 về việc mở rộng địa giới thị xã Hà Đông và hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh Hà Tây
  7. "Nghị quyết về việc hợp nhất một số tỉnh do Quốc hội ban hành".
  8. Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành
  9. Quyết định 49-CP năm 1979 điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc các huyện Sóc Sơn, Mê Linh, Hoài Đức, Phúc Thọ và Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội
  10. Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  11. Nghị định 52-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện và thành lập thị trấn, phường thuộc các huyện Hoài Đức, Chương Mỹ, Thạch Thất, Thanh Oai, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây
  12. Nghị định 107/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị xã Hà Đông, thành lập phường thuộc thị xã Hà Đông và mở rộng thị trấn Vân Đình huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây
  13. Nghị định 01/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, mở rộng thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây
  14. Nghị quyết số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan do Quốc hội ban hành
  15. "Quyết định gắn biển tên đường Vạn Xuân". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  16. "Tách Trường tiểu học Trạm Trôi thành Trường tiểu học Vạn Xuân & Trường tiểu học Lý Nam Đế".[liên kết hỏng]

Liên kết ngoài