Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
| Mùa giải | 2019-20 | |||
|---|---|---|---|---|
| Bóng đá nam | ||||
| Premier League | Liverpool | |||
| Championship | Leeds United | |||
| League One | Coventry City | |||
| League Two | Swindon Town | |||
| National League | Barrow | |||
| Cúp FA | Arsenal | |||
| EFL Trophy | Salford City | |||
| Cúp EFL | Manchester City | |||
| Community Shield | Manchester City | |||
| Bóng đá nữ | ||||
| FA Women's Super League | Chelsea | |||
| FA Women's Championship | Aston Villa | |||
| FA Women's National League | không trao giải | |||
| Women's FA Cup | Manchester City | |||
| FA Women's League Cup | Chelsea | |||
| ||||
Mùa giải 2019-20 là mùa giải bóng đá thứ 140 tại Anh.
Mùa giải bị tạm dừng vào ngày 13 tháng 3 năm 2020[1][2] do đại dịch COVID-19 tại châu Âu đang diễn ra, đánh dấu lần đầu tiên một mùa giải bóng đá trọn vẹn bị tạm dừng kể từ khi mùa giải 1939-40 bị hủy bỏ do sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào ngày 26 tháng 3, mùa giải bị hủy bỏ ở các hạng đấu thấp hơn National League, với mọi kết quả bị xóa bỏ, đồng thời có một trường hợp xuống hạng và một trường hợp bị khai trừ.[3]
Premier League trở lại vào ngày 17 tháng 6[4] và Championship trở lại vào ngày 20 tháng 6[5], với mọi trận đấu đều diễn ra trên sân không khán giả.
Đội tuyển quốc gia Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh
Trang phục thi đấu
Sân nhà | Sân khách | Sân nhà thay thế | Sân khách thay thế |
Lịch thi đấu và kết quả
Giao hữu
| 27 tháng 3 năm 2020 | Anh | C-C | Luân Đôn, Anh | |||
|---|---|---|---|---|---|---|
| 20:00 BST | Sân vận động: Sân vận động Wembley | |||||
Ghi chú: Trận đấu đã bị hủy hoàn toàn vào ngày 13 tháng 3 năm 2020 và không có ngày thi đấu mới nào được xác nhận do những lo ngại liên quan đến đại dịch coronavirus.[6] | ||||||
| 31 tháng 3 năm 2020 | Anh | C-C | Luân Đôn, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 BST | Sân vận động: Sân vận động Wembley |
| TBD | Áo | C-C | Vienna, Áo | |
|---|---|---|---|---|
| 19:45 BST | Sân vận động: Sân vận động Ernst Happel |
| TBD | Anh | C-C | Birmingham, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 18:30 BST | Sân vận động: Villa Park |
Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
Bảng A
| 7 tháng 9 năm 2019 | Anh | 4-0 | Luân Đôn, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 (17:00 UTC+1) | Kane Keane Sterling | Chi tiết | Bodurov | Sân vận động: Sân vận động Wembley Lượng khán giả: 82.605 Trọng tài: Marco Guida (Ý) |
| 10 tháng 9 năm 2019 | Anh | 5-3 | Southampton, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 (19:45 UTC+1) | Sterling Kane Vojvoda Sancho | Chi tiết | V. Berisha Muriqi | Sân vận động: Sân vận động St. Mary Lượng khán giả: 30.155 Trọng tài: Felix Zwayer (Đức) |
| 11 tháng 10 năm 2019 | Séc | 2-1 | Prague, Cộng hòa Séc | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 (19:45 UTC±0) | Brabec Ondrášek | Chi tiết | Kane | Sân vận động: Sân vận động Sinobo Lượng khán giả: 18.651 Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia) |
| 14 tháng 10 năm 2019 | Bulgaria | 0-6 | Sofia, Bulgaria | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 (21:45 UTC+3) | Chi tiết | Rashford Barkley Sterling Kane | Sân vận động: Sân vận động Vasil Levski National Lượng khán giả: 17.481 Trọng tài: Ivan Bebek (Croatia) |
| 14 tháng 11 năm 2019 | Anh | 7-0 | Luân Đôn, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 (19:45 UTC±0) | Oxlade-Chamberlain Kane Rashford Šofranac Abraham | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Wembley Lượng khán giả: 77.277 Trọng tài: Antonio Mateu Lahoz (Tây Ban Nha) |
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Anh
Lịch thi đấu và kết quả
Giao hữu
| 29 tháng 8 năm 2019 | Bỉ | 3-3 | Leuven, Bỉ | |
|---|---|---|---|---|
| 19:30 CEST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Den Dreef Trọng tài: Riem Hussein (Đức) |
| 3 tháng 9 năm 2019 | Na Uy | 2-1 | Bergen, Na Uy | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 CEST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Brann Stadion Trọng tài: Lina Lehtovaara (Phần Lan) |
| 5 tháng 10 năm 2019 | Anh | 1-2 | Middlesbrough, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 12:45 BST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Sân vận động Riverside Lượng khán giả: 29.238 Trọng tài: Riem Hussein (Đức) |
| 8 tháng 10 năm 2019 | Bồ Đào Nha | 0-1 | Setúbal, Bồ Đào Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 CEST | Chi tiết |
| Sân vận động: Estádio do Bonfim Trọng tài: Lucia Abruzzese (Ý) |
| 9 tháng 11 năm 2019 | Anh | 1-2 | Luân Đôn, Anh | |
|---|---|---|---|---|
|
| Sân vận động: Sân vận động Wembley Lượng khán giả: 77.768 Trọng tài: Stéphanie Frappart (Pháp) |
| 12 tháng 11 năm 2019 | Séc | 2-3 | České Budějovice, Cộng hòa Séc | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 CEST |
|
| Sân vận động: Stadion Střelecký ostrov Trọng tài: Ewa Augustyn (Ba Lan) |
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019
Bảng D
| 9 tháng 6 năm 2019 Group D | Anh | 2-1 | Nice, Pháp | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Allianz Riviera Lượng khán giả: 13.188 Trọng tài: Jana Adámková (Cộng hòa Séc) |
| 14 tháng 6 năm 2019 Group D | Anh | 1-0 | Le Havre, Pháp | |
|---|---|---|---|---|
| 21:00 |
| Chi tiết | Sân vận động: Stade Océane Lượng khán giả: 20.294 Trọng tài: Qin Liang (Trung Quốc) |
Vòng đấu loại trực tiếp
| 23 tháng 6 năm 2019 Vòng 16 đội | Anh | 3-0 | Valenciennes, Pháp | |
|---|---|---|---|---|
| 17:30 |
| Chi tiết | Sân vận động: Stade du Hainaut Lượng khán giả: 20.148 Trọng tài: Qin Liang (Trung Quốc) |
| 27 tháng 6 năm 2019 Tứ kết | Na Uy | 0-3 | Le Havre, Pháp | |
|---|---|---|---|---|
| 21:00 | Chi tiết |
| Sân vận động: Stade Océane Lượng khán giả: 21.111 Trọng tài: Lucila Venegas (México) |
| 2 tháng 7 năm 2019 Bán kết | Anh | 1-2 | Décines-Charpieu, Pháp | |
|---|---|---|---|---|
| 21:00 |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Parc Olympique Lyonnais Lượng khán giả: 53.512 Trọng tài: Edina Alves Batista (Brasil) |
SheBelieves Cup 2020
2020 SheBelieves Cup
| 5 tháng 3 năm 2020 | Hoa Kỳ | 2-0 | Orlando, Florida | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 ET |
| Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Exploria Lượng khán giả: 16.531 Trọng tài: Odette Hamilton (Jamaica) |
| 8 tháng 3 năm 2020 | Nhật Bản | 0-1 | Harrison, New Jersey | |
|---|---|---|---|---|
| 14:15 ET | Chi tiết |
| Sân vận động: Red Bull Arena Lượng khán giả: 14.758 Trọng tài: Katja Koroleva (Hoa Kỳ) |
| 11 tháng 3 năm 2020 | Anh | 0-1 | Frisco, Texas | |
|---|---|---|---|---|
| 14:15 CT | Chi tiết |
| Sân vận động: Toyota Trọng tài: Danielle Chesky (Hoa Kỳ) |
Đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Anh
Đội tuyển bóng đá U-19 quốc gia Anh
Lịch thi đấu và kết quả
Giao hữu
| 29 tháng 8 năm 2019 | Bỉ | 3-3 | Leuven, Bỉ | |
|---|---|---|---|---|
| 19:30 CEST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Den Dreef Trọng tài: Riem Hussein (Đức) |
| 3 tháng 9 năm 2019 | Na Uy | 2-1 | Bergen, Na Uy | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 CEST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Brann Stadion Trọng tài: Lina Lehtovaara (Phần Lan) |
| 5 tháng 10 năm 2019 | Anh | 1-2 | Middlesbrough, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 12:45 BST |
| Chi tiết |
| Sân vận động: Sân vận động Riverside Lượng khán giả: 29.238 Trọng tài: Riem Hussein (Đức) |
| 8 tháng 10 năm 2019 | Bồ Đào Nha | 0-1 | Setúbal, Bồ Đào Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 CEST | Chi tiết |
| Sân vận động: Estádio do Bonfim Trọng tài: Lucia Abruzzese (Ý) |
| 9 tháng 11 năm 2019 | Anh | 1-2 | Luân Đôn, Anh | |
|---|---|---|---|---|
|
| Sân vận động: Sân vận động Wembley Lượng khán giả: 77.768 Trọng tài: Stéphanie Frappart (Pháp) |
| 12 tháng 11 năm 2019 | Séc | 2-3 | České Budějovice, Cộng hòa Séc | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 CEST |
|
| Sân vận động: Stadion Střelecký ostrov Trọng tài: Ewa Augustyn (Ba Lan) |
Giải đấu FIFA Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2019
Bán kết
| Monterrey | 1-2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
Chung kết
Giải đấu UEFA Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
UEFA Champions League
Vòng bảng
Bảng B
Vòng bảng UEFA Champions League 2019–20 bắt đầu vào ngày 17 tháng 9 và kết thúc vào ngày 11 tháng 12 năm 2019.[9] Tổng cộng có 32 đội cạnh tranh ở vòng bảng để xác định 16 suất lọt vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Champions League 2019-20.[10]
Bốc thăm Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Lễ bốc thăm vòng bảng được tổ chức vào ngày 29 tháng 8 năm 2019, lúc 18:00 CEST, tại Grimaldi Forum ở Monaco.[11]
32 đội được phân thành tám bảng 4 đội, với hạn chế là các đội từ cùng hiệp hội không được nằm cùng bảng để đối đầu với nhau. Đối với lễ bốc thăm, các đội được xếp vào bốn nhóm hạt giống dựa trên những nguyên tắc sau đây (Quy định Điều 13.06):[10]
- Nhóm 1 bao gồm đội đương kim vô địch Champions League và Europa League, và các đội vô địch của 6 hiệp hội hàng đầu dựa trên hệ số quốc gia UEFA năm 2018.
- Nhóm 2, 3 và 4 bao gồm các đội còn lại, được phân nhóm hạt giống dựa trên hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2019 của họ.
Vào ngày 17 tháng 7 năm 2014, Ban hội thẩm khẩn cấp UEFA quy định các câu lạc bộ Ukraina và Nga sẽ không được thi đấu với nhau "cho đến khi có thông báo mới nhất" do tình trạng chính trị bất ổn giữa 2 quốc gia.[12]
Hơn nữa, đối với các hiệp hội với hai hoặc nhiều đội, các đội được xếp cặp nhằm để chia họ ra làm hai nhóm 4 bảng (A–D, E–H) nhằm tối đa việc phát sóng truyền hình. Đối với mỗi cặp đội, đội nào được bốc thăm đầu tiên thì có 2 lựa chọn: nhóm A–D hoặc nhóm E–H. Sau khi đội đó rơi vào 1 trong 4 bảng thuộc 1 nhóm bất kỳ, thì đội còn lại trong cặp chỉ có thể vào 1 trong 4 bảng thuộc nhóm còn lại. Những đội không được xếp cặp do số đội của hiệp hội đó bị lẻ, thì có 2 lựa chọn là nhóm A-D hoặc nhóm E-H, tùy thuộc vào diễn biến bốc thăm. Các cặp đội sau đây được công bố bởi UEFA sau khi các đội tham dự vòng bảng được xác nhận:
- Tây Ban Nha: Barcelona và Real Madrid, Atlético Madrid và Valencia
- Anh: Liverpool và Manchester City, Chelsea và Tottenham Hotspur
- Ý: Juventus và Inter Milan, Napoli và Atalanta
- Đức: Bayern Munich và Borussia Dortmund, Bayer Leverkusen và RB Leipzig
- Pháp: Paris Saint-Germain và Lyon
- Nga: Zenit Saint Petersburg và Lokomotiv Moscow
- Bỉ: Club Brugge và Genk
Ở mỗi lượt trận, một nhóm bốn bảng thi đấu các trận đấu của họ vào Thứ Ba, trong khi nhóm bốn bảng còn lại thi đấu các trận đấu của họ vào Thứ Tư, với thứ tự thi đấu của 2 nhóm thay đổi giữa mỗi lượt trận. Các lượt trận được xác định sau lễ bốc thăm, sử dụng máy vi tính để bốc thăm không công khai, với trình tự các trận đấu như sau (Quy định Điều 16.02):[10]
Lưu ý: Các vị trí để sắp xếp lịch thi đấu không sử dụng các nhóm hạt giống, ví dụ: Đội 1 không nhất thiết phải là đội từ Nhóm 1 trong lễ bốc thăm.
| Lượt trận | Thời gian | Các trận đấu |
|---|---|---|
| Lượt trận thứ nhất | 17–18 tháng 9 năm 2019 | 2 v 3, 4 v 1 |
| Lượt trận thứ hai | 1–2 tháng 10 năm 2019 | 1 v 2, 3 v 4 |
| Lượt trận thứ ba | 22–23 tháng 10 năm 2019 | 3 v 1, 2 v 4 |
| Lượt trận thứ tư | 5–6 tháng 11 năm 2019 | 1 v 3, 4 v 2 |
| Lượt trận thứ năm | 26–27 tháng 11 năm 2019 | 3 v 2, 1 v 4 |
| Lượt trận thứ sáu | 10–11 tháng 12 năm 2019 | 2 v 1, 4 v 3 |
Có những hạn chế về sắp xếp lịch thi đấu: ví dụ, các đội từ cùng thành phố (như là Real Madrid và Atlético Madrid) nói chung không được xếp lịch để thi đấu trên sân nhà trong cùng một lượt trận (để tránh các đội thi đấu tại sân nhà trong cùng ngày hoặc các ngày liên tiếp, vì lý do hậu cần và kiểm soát đám đông), và các đội từ "các quốc gia mùa đông lạnh" (như là Nga) không được xếp lịch để thi đấu trên sân nhà trong lượt trận cuối cùng (do thời tiết giá lạnh).
Các đội bóng Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Dưới đây là các đội tham dự (với hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2019 của họ),[13] được xếp theo nhóm hạt giống của họ. Họ bao gồm:
- 26 đội tham dự vào vòng đấu này
- 6 đội thắng của vòng play-off (4 đội từ Nhóm các đội vô địch giải quốc nội, 2 đội từ Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội)
| Chú thích màu sắc |
|---|
| Đội đứng thứ nhất và nhì bảng đi tiếp vào vòng 16 đội |
| Đội đứng thứ ba tham dự vòng 32 đội Europa League |
|
|
|
|
- Ghi chú
- TH Đương kim vô địch Champions League, tự động được xếp vào Nhóm 1 với tư cách hạt giống hàng đầu.
- EL Đương kim vô địch Europa League, tự động được xếp vào Nhóm 1 với tư cách hạt giống hàng đầu thứ hai.
- CP Đội thắng của vòng play-off (Nhóm các đội vô địch giải quốc nội).
- LP Đội thắng của vòng play-off (Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội).
Thể thức Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Ở mỗi bảng, các đội đối đầu với nhau theo thể thức vòng tròn 2 lượt đi và về. Đội nhất và nhì bảng đi tiếp vào vòng 16 đội, trong khi đội đứng thứ ba tham dự vòng 32 đội Europa League.
Tiêu chí xếp hạng
Các đội được xếp hạng theo điểm số (3 điểm cho một trận thắng, 1 điểm cho một trận hòa, 0 điểm cho một trận thua), và nếu bằng điểm, tiêu chí xếp hạng sau đây được áp dụng, theo thứ tự được thể hiện, để xác định thứ hạng (Quy định Điều 17.01):[10]
- Số điểm trong các trận đấu đối đầu giữa các đội bằng điểm;
- Hiệu số bàn thắng thua trong các trận đấu đối đầu giữa các đội bằng điểm;
- Số bàn thắng ghi được trong các trận đấu đối đầu giữa các đội bằng điểm;
- Số bàn thắng sân khách ghi được trong các trận đấu đối đầu giữa các đội bằng điểm;
- Nếu có nhiều hơn 2 đội bằng điểm, và sau khi áp dụng tất cả tiêu chí đối đầu trên, một nhóm đội vẫn bằng nhau, tất cả tiêu chí đối đầu trên được áp dụng lại dành riêng cho nhóm đội này;
- Hiệu số bàn thắng thua trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
- Số bàn thắng ghi được trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
- Số bàn thắng sân khách ghi được trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
- Số trận thắng trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
- Số trận thắng sân khách trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
- Điểm kỷ luật (thẻ đỏ = 3 điểm, thẻ vàng = 1 điểm, bị truất quyền thi đấu do phải nhận hai thẻ vàng trong một trận đấu = 3 điểm);
- Hệ số câu lạc bộ UEFA.
Các bảng đấu Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Các lượt trận được diễn ra vào các ngày 17–18 tháng 9, 1–2 tháng 10, 22–23 tháng 10, 5–6 tháng 11, 26–27 tháng 11, và 10–11 tháng 12 năm 2019.[9] Các trận đấu được diễn ra lúc 21:00 CET/CEST, với hai trận đấu vào mỗi Thứ Ba và Thứ Tư được diễn ra lúc 18:55 CET/CEST.
Thời gian đều theo múi giờ CET/CEST,[note 1] được liệt kê bởi UEFA (giờ địa phương, nếu khác nhau thì được hiển thị trong ngoặc).
Bảng A
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | PAR | RM | BRU | GAL | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 5 | 1 | 0 | 17 | 2 | +15 | 16 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 3–0 | 1–0 | 5–0 | ||
| 2 | 6 | 3 | 2 | 1 | 14 | 8 | +6 | 11 | 2–2 | — | 2–2 | 6–0 | |||
| 3 | 6 | 0 | 3 | 3 | 4 | 12 | −8 | 3 | Chuyển qua Europa League | 0–5 | 1–3 | — | 0–0 | ||
| 4 | 6 | 0 | 2 | 4 | 1 | 14 | −13 | 2 | 0–1 | 0–1 | 1–1 | — |
| Real Madrid | 2–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Galatasaray | 0–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Galatasaray | 1–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Real Madrid | 2–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
Bảng B
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | BAY | TOT | OLY | RSB | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 6 | 0 | 0 | 24 | 5 | +19 | 18 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 3–1 | 2–0 | 3–0 | ||
| 2 | 6 | 3 | 1 | 2 | 18 | 14 | +4 | 10 | 2–7 | — | 4–2 | 5–0 | |||
| 3 | 6 | 1 | 1 | 4 | 8 | 14 | −6 | 4 | Chuyển qua Europa League | 2–3 | 2–2 | — | 1–0 | ||
| 4 | 6 | 1 | 0 | 5 | 3 | 20 | −17 | 3 | 0–6 | 0–4 | 3–1 | — |
| Bayern Munich | 3–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Red Star Belgrade | 3–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Tottenham Hotspur | 2–7 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Tottenham Hotspur | 5–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Olympiacos | 2–3 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Bayern Munich | 2–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Red Star Belgrade | 0–4 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Tottenham Hotspur | 4–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Red Star Belgrade | 0–6 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Olympiacos | 1–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
Bảng C
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | MC | ATA | SHK | DZG | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 2 | 0 | 16 | 4 | +12 | 14 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 5–1 | 1–1 | 2–0 | ||
| 2 | 6 | 2 | 1 | 3 | 8 | 12 | −4 | 7 | 1–1 | — | 1–2 | 2–0 | |||
| 3 | 6 | 1 | 3 | 2 | 8 | 13 | −5 | 6 | Chuyển qua Europa League | 0–3 | 0–3 | — | 2–2 | ||
| 4 | 6 | 1 | 2 | 3 | 10 | 13 | −3 | 5 | 1–4 | 4–0 | 3–3 | — |
| Shakhtar Donetsk | 0–3 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Dinamo Zagreb | 4–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Atalanta | 1–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Manchester City | 2–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Shakhtar Donetsk | 2–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Manchester City | 5–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Atalanta | 1–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Dinamo Zagreb | 3–3 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Manchester City | 1–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Dinamo Zagreb | 1–4 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
Bảng D
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | JUV | ATL | LEV | LOM | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 5 | 1 | 0 | 12 | 4 | +8 | 16 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 1–0 | 3–0 | 2–1 | ||
| 2 | 6 | 3 | 1 | 2 | 8 | 5 | +3 | 10 | 2–2 | — | 1–0 | 2–0 | |||
| 3 | 6 | 2 | 0 | 4 | 5 | 9 | −4 | 6 | Chuyển qua Europa League | 0–2 | 2–1 | — | 1–2 | ||
| 4 | 6 | 1 | 0 | 5 | 4 | 11 | −7 | 3 | 1–2 | 0–2 | 0–2 | — |
| Juventus | 3–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Atlético Madrid | 1–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Juventus | 2–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Lokomotiv Moscow | 1–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Juventus | 1–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
Bảng E
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | LIV | NAP | SAL | GNK | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 1 | 1 | 13 | 8 | +5 | 13 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 1–1 | 4–3 | 2–1 | ||
| 2 | 6 | 3 | 3 | 0 | 11 | 4 | +7 | 12 | 2–0 | — | 1–1 | 4–0 | |||
| 3 | 6 | 2 | 1 | 3 | 16 | 13 | +3 | 7 | Chuyển qua Europa League | 0–2 | 2–3 | — | 6–2 | ||
| 4 | 6 | 0 | 1 | 5 | 5 | 20 | −15 | 1 | 1–4 | 0–0 | 1–4 | — |
| Red Bull Salzburg | 6–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Liverpool | 4–3 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Liverpool | 2–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Genk | 1–4 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
Bảng F
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | BAR | DOR | INT | SLP | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 4 | 2 | 0 | 9 | 4 | +5 | 14 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 3–1 | 2–1 | 0–0 | ||
| 2 | 6 | 3 | 1 | 2 | 8 | 8 | 0 | 10 | 0–0 | — | 3–2 | 2–1 | |||
| 3 | 6 | 2 | 1 | 3 | 10 | 9 | +1 | 7 | Chuyển qua Europa League | 1–2 | 2–0 | — | 1–1 | ||
| 4 | 6 | 0 | 2 | 4 | 4 | 10 | −6 | 2 | 1–2 | 0–2 | 1–3 | — |
| Inter Milan | 1–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Slavia Prague | 0–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Barcelona | 2–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Slavia Prague | 1–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| Borussia Dortmund | 3–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Inter Milan | 1–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
Bảng G
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | RBL | LYO | BEN | ZEN | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 3 | 2 | 1 | 10 | 8 | +2 | 11 | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 0–2 | 2–2 | 2–1 | ||
| 2 | 6 | 2 | 2 | 2 | 9 | 8 | +1 | 8 | 2–2 | — | 3–1 | 1–1 | |||
| 3 | 6 | 2 | 1 | 3 | 10 | 11 | −1 | 7[a] | Chuyển qua Europa League | 1–2 | 2–1 | — | 3–0 | ||
| 4 | 6 | 2 | 1 | 3 | 7 | 9 | −2 | 7[a] | 0–2 | 2–0 | 3–1 | — |
| Lyon | 1–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Benfica | 1–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Zenit Saint Petersburg | 3–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| RB Leipzig | 0–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| RB Leipzig | 2–1 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Zenit Saint Petersburg | 2–0 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
| RB Leipzig | 2–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
| Lyon | 2–2 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
Bảng H
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Đ | Giành quyền tham dự | VAL | CHL | AJX | LIL | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 | 3 | 2 | 1 | 9 | 7 | +2 | 11[a] | Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp | — | 2–2 | 0–3 | 4–1 | ||
| 2 | 6 | 3 | 2 | 1 | 11 | 9 | +2 | 11[a] | 0–1 | — | 4–4 | 2–1 | |||
| 3 | 6 | 3 | 1 | 2 | 12 | 6 | +6 | 10 | Chuyển qua Europa League | 0–1 | 0–1 | — | 3–0 | ||
| 4 | 6 | 0 | 1 | 5 | 4 | 14 | −10 | 1 | 1–1 | 1–2 | 0–2 | — |
| Chelsea | 4–4 | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
Ghi chú Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Tham khảo Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- ↑ "When did Premier League matches stop as a result of the COVID-19 pandemic?". Premier League. ngày 13 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "EFL statement: Coronavirus update". English Football League. ngày 13 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Coronavirus: All football below National League to end". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "We're excited at the return of the Premier League". Premier League. ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Everything you need to know to watch this weekend's Sky Bet Championship action". English Football League. ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "The English FA suspends all activities: England vs. Italy cancelled". FIGC.it. ngày 13 tháng 3 năm 2020.
- ↑ "Match report - Semi-finals - CR Flamengo v Al Hilal SFC" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 17 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2019.
- ↑ "Match report – Final – Liverpool FC v CR Flamengo" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 21 tháng 12 năm 2019. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2019.
- 1 2 "2019/20 Champions League match and draw calendar". UEFA.com. ngày 14 tháng 1 năm 2019.
- 1 2 3 4 "Regulations of the UEFA Champions League 2019/20" (PDF). UEFA.com.
- ↑ "UEFA Champions League group stage draw". UEFA.com.
- ↑ "Emergency Panel decisions". UEFA. ngày 17 tháng 7 năm 2014.
- 1 2 3 4 5 "Club coefficients". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 5 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
- ↑ "Country coefficients 2017/18". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 10 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 1 – Wednesday 18 September 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 18 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 2 – Tuesday 1 October 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 3 – Tuesday 22 October 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 4 – Wednesday 6 November 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 6 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 5 – Tuesday 26 November 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 26 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 6 – Wednesday 11 December 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 1 – Tuesday 17 September 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 17 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 2 – Wednesday 2 October 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 2 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 3 – Wednesday 23 October 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 23 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 4 – Tuesday 5 November 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 5 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 5 – Wednesday 27 November 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 27 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Full Time Summary Matchday 6 – Tuesday 10 December 2019" (PDF). UEFA.org. Union of European Football Associations. ngày 10 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2019.
Liên kết ngoài Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Bảng C
Vòng bảng UEFA Champions League 2019-20
Bảng E
Vòng bảng UEFA Champions League 2019-20
Bảng H
Vòng bảng UEFA Champions League 2019-20
Vòng đấu loại trực tiếp
Bản mẫu:Chính
Vòng 16 đội
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResult|}
Tứ kết
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResult|}
UEFA Europa League
Bản mẫu:Chính
Vòng loại thứ hai
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResult|}
Vòng loại thứ ba
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResult|}
Vòng play-off
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResult|}
Vòng bảng
Bản mẫu:Chính
Bảng F
Vòng bảng UEFA Europa League 2019-20
Bảng K
Vòng bảng UEFA Europa League 2019-20
Bảng L
Vòng bảng UEFA Europa League 2019-20
Vòng đấu loại trực tiếp
Bản mẫu:Chính
Vòng 32 đội
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResult|}
Vòng 16 đội
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResult|}
Tứ kết
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResultBản mẫu:OneLegResult|}
Bán kết
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResult|}
Siêu cúp bóng đá châu Âu
Bản mẫu:ChínhĐây là trận siêu cúp đầu tiên có sự góp mặt của hai đội bóng Anh.2019 UEFA Super Cup
UEFA Youth League
Bản mẫu:Chính
Vòng bảng
Bản mẫu:Chính
Bảng B
UEFA Youth League 2019-20 group stage
Bảng C
UEFA Youth League 2019-20 group stage
Bảng E
UEFA Youth League 2019-20 group stage
Bảng H
UEFA Youth League 2019-20 group stage
Nhánh vô địch quốc nội
Bản mẫu:Chính
Vòng Một
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResult|}
Vòng Hai
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResult|}
Play-off
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResult|}
Vòng đấu loại trực tiếp
Bản mẫu:Chính
Vòng 16 đội
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResultBản mẫu:OneLegResult|}
UEFA Women's Champions League
Bản mẫu:Chính
Vòng đấu loại trực tiếp
Bản mẫu:Chính
Vòng 32 đội
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:EndGhi chúBản mẫu:Notelist-ua
Vòng 16 đội
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:TwoLegStartBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:TwoLegResultBản mẫu:End
Tứ kết
Bản mẫu:Chính
Bản mẫu:OneLegStartBản mẫu:OneLegResult|}
Bóng đá nam Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
| Hạng đấu | Thăng hang Bản mẫu:Rise | Xuống hạng Bản mẫu:Fall |
|---|---|---|
| Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | ||
| Championship | ||
| League One | ||
| League Two | ||
| National League |
Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
Bản mẫu:ChínhGiữa lúc tồn tại nhiều bất định và những lời kêu gọi xóa bỏ toàn bộ mùa giải trong bối cảnh đại dịch, Hiệp hội bóng đá Anh đã bỏ phiếu để cả Premier League lẫn Championship hoàn tất chiến dịch của mình – một quyết định rốt cuộc đã giúp Liverpool, sau nhiều thập niên đau đớn, lỡ hẹn và tái thiết, chấm dứt quãng chờ đợi dài đằng đẵng để giành chức vô địch quốc gia đầu tiên kể từ năm 1990. Đội bóng này vươn lên dẫn đầu từ giữa tháng Tám và không đánh mất vị trí đó trong suốt mùa giải, tạo ra khoảng cách hai chữ số từ trước Giáng sinh và cuối cùng còn phá kỉ lục về chức vô địch hạng đấu cao nhất sớm nhất trong lịch sử, đồng thời nối dài chuỗi bất bại trên sân Anfield tại giải vô địch quốc gia sang mùa thứ ba liên tiếp và lên tới 59 trận. Tuy nhiên, một loạt điểm số đánh rơi ở phần còn lại của mùa giải khiến họ lỡ cơ hội phá thêm bất kì kỉ lục vô địch nào từng được thiết lập trước đó, bên cạnh việc bị loại sớm ở vòng đấu loại trực tiếp Champions League. Dù vậy, Lữ đoàn đỏ vẫn giành được cả Siêu cúp UEFA lẫn Cúp thế giới các câu lạc bộ trong nửa đầu mùa giải, đánh dấu một trong những chiến dịch thành công nhất của họ kể từ năm 2001. Về nhì là Manchester City, đội từng được dự đoán rộng rãi sẽ tiếp nối cú ăn ba quốc nội ở mùa trước – nhưng họ đã trải qua có thể xem là một trong những màn bảo vệ ngôi vương đáng thất vọng nhất trong lịch sử câu lạc bộ, để Liverpool bứt đi ngay từ trận đấu thứ hai và phải nhận một số thất bại bất ngờ lẫn kém cỏi, trong đó có cả hai trận lượt đi và về trước Wolverhampton Wanderers và đối thủ cùng thành phố Manchester United. Nguyên nhân sau cùng được quy cho việc câu lạc bộ không thể thay thế thủ quân ra đi Vincent Kompany rồi lại mất thêm những trụ cột như Leroy Sané và Aymeric Laporte vì chấn thương dài hạn. Dẫu vậy, Manchester City ít nhất vẫn giành được danh hiệu khi đoạt Cúp Liên đoàn lần thứ năm trong bảy mùa giải.
Trong hoàn cảnh tương tự mùa giải trước, cuộc đua cho những vị trí còn lại trong tốp bốn phải chờ đến vòng cuối cùng – và chứng kiến Chelsea cùng Manchester United vượt qua Leicester City trong gang tấc. Mùa giải đầu tiên của Chelsea dưới quyền huấn luyện viên trưởng mới kiêm cựu cầu thủ Frank Lampard nhìn chung là khá phập phù; họ để thủng lưới nhiều hơn hẳn mọi đội trong tốp mười, nhưng vẫn duy trì được đủ sự ổn định để giành vé dự Champions League. Trong khi đó, một giai đoạn năm 2020 phần lớn gây thất vọng đã quay lưng với Leicester, đội thua Manchester United trong trận “được ăn cả, ngã về không” ở vòng cuối, qua đó giúp Quỷ đỏ bảo đảm suất dự Champions League bất chấp một năm 2019 thiếu ổn định – với sự xuất hiện của tiền vệ Bruno Fernandes ở kì chuyển nhượng mùa đông đã góp phần tiếp thêm sinh khí cho đội bóng. Khởi đầu không đồng đều của Tottenham Hotspur cuối cùng đã khiến huấn luyện viên Mauricio Pochettino bị sa thải sau năm năm rưỡi cầm quân; dù việc bổ nhiệm José Mourinho giúp đội bóng leo trở lại trên bảng xếp hạng và bước vào cuộc cạnh tranh muộn để giành vé dự Europa League mùa sau, việc bị loại sớm ở Champions League cùng những màn trình diễn nghèo nàn ở các giải cúp quốc nội đã chấm dứt mọi hi vọng giành danh hiệu của Spurs – đồng thời phong độ tương tự tại giải vô địch quốc gia cũng đặt ra nghi vấn về chiến thuật dài hạn của Mourinho.
Dù được dự đoán sẽ gặp nhiều khó khăn ở mùa giải hạng đấu cao nhất đầu tiên kể từ năm 2007, Sheffield United đã khiến mọi người chỉ trích mình phải câm lặng khi giành một vị trí trong tốp mười và để thủng lưới ít hơn phần lớn các đội ở nửa trên bảng xếp hạng, thậm chí còn ở lại cuộc đua giành vé dự cúp châu Âu cho đến tận trận đấu cuối cùng; thành tích đó mang lại những lời khen hoàn toàn xứng đáng cho The Blades và huấn luyện viên Chris Wilder. Arsenal trải qua một trong những mùa giải tệ nhất kể từ khi Premier League ra đời, khi hàng loạt trận hòa và chuỗi không thắng trên mọi đấu trường trong nửa đầu mùa đã dập tắt hi vọng vô địch của Pháo thủ và khiến huấn luyện viên Unai Emery mất việc. Dù vậy, nửa sau mùa giải đã khởi sắc hơn nhiều dưới thời cựu cầu thủ và huấn luyện viên mới Mikel Arteta, bao gồm việc giành Cúp FA lần thứ tư trong bảy mùa giải và bảo đảm vé dự Europa League ở mùa sau, nhưng việc tiếp tục đánh rơi điểm số trước và sau giai đoạn tạm dừng vẫn khiến câu lạc bộ thành London chỉ vừa đủ chen chân vào tốp tám. Southampton lại có thêm một khởi đầu mùa giải khá nhạt nhòa, trong đó có thất bại sân nhà nặng nề nhất trong lịch sử hạng đấu cao nhất vào cuối tháng Mười trước Leicester City – tuy nhiên, phong độ sân khách rất tốt từ thời điểm đó trở đi đã giúp The Saints bứt xa khỏi khu vực xuống hạng, còn việc trụ hạng được bảo đảm sau chiến thắng ấn tượng trên sân nhà trước Manchester City.
Ở cuối bảng xếp hạng, Norwich City đã trải qua một màn trở lại Premier League thảm họa, phải xuống hạng khi vẫn còn ba vòng đấu trong một mùa giải đầy cay đắng, chứng kiến Chim hoàng yến hứng chịu cuộc khủng hoảng chấn thương nghiêm trọng và gần như không tạo được nhiều tác động ở cả thị trường chuyển nhượng lẫn tại giải vô địch quốc gia, bất chấp chiến thắng đáng kinh ngạc trước Manchester City tại Carrow Road ở giai đoạn đầu mùa. Từng đứng cuối bảng nhưng vẫn còn hi vọng trụ hạng khi mùa giải bị tạm dừng, họ rốt cuộc tự đánh mất tất cả khi thua toàn bộ số trận sau lúc giải đấu trở lại. Cuộc chiến tránh hai suất xuống hạng còn lại diễn ra sít sao hơn dự kiến, nhưng cả Aston Villa – đội vượt qua mọi dự đoán trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất – lẫn West Ham United đều trụ hạng, trong khi Watford và Bournemouth phải xuống chơi ở Championship. The Hornets cuối cùng bị chính màn khởi đầu tồi tệ, với chỉ một chiến thắng trong 16 trận mở màn, cùng việc sa thải ba huấn luyện viên khác nhau kéo tụt lại phía sau, còn Bournemouth cũng bị hại bởi sự sụp đổ về điểm số và phong độ ở cả hai phía của giai đoạn mùa giải tạm dừng, bất chấp chiến thắng đáng chú ý trước Everton ở vòng cuối cùng. Trùng hợp thay, cả ba câu lạc bộ này đều từng thăng hạng trong cùng một mùa giải chỉ năm năm trước đó, dù Norwich đã lập tức rớt hạng trở lại vào mùa sau.Premier League 2019-20
Championship
Bản mẫu:ChínhCuộc đua giành các suất thăng hạng trực tiếp diễn ra rất cạnh tranh cả trước khi mùa giải bị tạm dừng lẫn sau khi có quyết định tiếp tục thi đấu בעקבות cuộc bỏ phiếu của Hiệp hội bóng đá Anh. Nhưng rốt cuộc, Leeds United đã gột rửa nỗi thất vọng ở bán kết play-off mùa trước để trở lại Premier League lần đầu tiên kể từ năm 2004 dưới mùa giải thứ hai của Marcelo Bielsa trên cương vị huấn luyện viên, khi đội bóng Yorkshire duy trì vị trí trong nhóm thăng hạng suốt cả mùa dù có giai đoạn sa sút trong tháng Một, đồng thời bảo đảm cả suất thăng hạng lẫn chức vô địch trước trận áp chót. Cuộc chiến cho vị trí thứ hai cũng nóng bỏng không kém với ba đội bước vào vòng đấu cuối cùng, nhưng West Bromwich Albion đã thành công trong việc chống lại chuỗi phong độ mạnh mẽ của cả Brentford lẫn Fulham để chấm dứt hai năm vắng bóng khỏi hạng đấu cao nhất, qua đó mang về cho Slaven Bilić suất thăng hạng ngay trong mùa giải đầu tiên cầm quân. Hai câu lạc bộ London vì thế bước vào vòng play-off, cùng với hai đội bóng xứ Wales là Cardiff City và Swansea City; đội sau đã vượt qua Nottingham Forest trong những phút cuối của mùa giải nhờ số bàn thắng ghi được – khiến Forest phải tiếc nuối chuỗi sáu trận không thắng, dù họ từng gần như chắc chắn sẽ kết thúc trong tốp sáu khi tháng Bảy bắt đầu. Play-off sau đó thuộc về Fulham, đội lập tức trở lại Premier League và giúp Scott Parker có mùa giải trọn vẹn đầu tiên thành công trên cương vị huấn luyện viên.
Cuộc chiến giành vé play-off cuối cùng diễn ra sít sao, với nhiều đội cạnh tranh cho một vị trí; trong số những đội lỡ hẹn có Derby County, đội vượt qua khởi đầu chậm chạp để chỉ hụt suất play-off trong gang tấc, đồng thời cũng kịp chiêu mộ huyền thoại hạng đấu cao nhất Wayne Rooney ở kì chuyển nhượng mùa đông. Giữa một khởi đầu mùa giải tệ hại khác, Reading từng có vẻ sẽ phải trải qua cuộc chiến trụ hạng thứ ba liên tiếp – nhưng quyết định khác thường của Giám đốc thể thao mới được bổ nhiệm Mark Bowen khi tự trao cho mình vị trí huấn luyện viên lại tỏ ra thành công, giúp The Royals bứt hẳn khỏi nhóm cuối bảng và thậm chí có lúc tưởng như sẽ giành được một suất play-off đầy bất ngờ ở những tuần cuối chiến dịch, trước khi hụt hơi ở các trận cuối cùng. Huddersfield Town, đội vừa rớt hạng, cũng có khởi đầu mùa giải tồi tệ tương tự và thấy mình phải chiến đấu để tránh lần xuống hạng thứ hai liên tiếp, nhưng việc bổ nhiệm huấn luyện viên Lincoln City là Danny Cowley cùng một số chiến thắng then chốt ở những thời điểm quan trọng sau cùng đã đủ để The Terriers giữ được suất chơi ở Championship, mà chiến thắng ở trận áp chót giúp họ trụ hạng trớ trêu thay cũng chính là trận đưa Leeds trở lại Premier League.
Cuộc chiến ở đáy bảng trở thành một trong những cuộc đua sít sao nhất trong lịch sử hạng đấu cao thứ hai, khi cả ba suất xuống hạng đều còn bỏ ngỏ trước vòng cuối cùng – và rốt cuộc, Hull City, Wigan Athletic và Charlton Athletic là những đội phải rơi xuống League One. Việc Hull xuống hạng diễn ra sau một màn sụp đổ hoàn toàn về phong độ trong nửa sau mùa giải; chỉ giành được sáu điểm kể từ sau ngày đầu năm mới cùng với việc bán đi những cầu thủ quan trọng như Kamil Grosicki và Jarrod Bowen đã đẩy Những chú hổ xuống hạng Ba lần đầu tiên kể từ năm 2005. Wigan chiếm suất xuống hạng thứ hai trong hoàn cảnh gây tranh cãi, khi phải nhận án trừ 12 điểm vì rơi vào tình trạng quản trị đặc biệt và vì thế rơi vào nhóm ba đội cuối bảng sau tiếng còi mãn cuộc cuối cùng, bất chấp chuỗi phong độ xuất sắc sau khi mùa giải trở lại, bao gồm cả chiến thắng 8-0 trên sân nhà trước Hull. Charlton Athletic chịu cảnh xuống hạng ngay lập tức trở lại hạng Ba, khi đội bóng thành London phải tiếc nuối chuỗi chỉ một chiến thắng trong quãng thời gian từ giữa tháng Mười đến hết tháng Một, dù họ vẫn giành được vài kết quả tích cực ở giai đoạn cuối mùa. Từng có lúc gần như bị bỏ lại vào đầu năm, Luton Town lại tạo ra màn hồi sinh của riêng mình để chiến đấu thoát hiểm, trong đó The Hatters được trợ giúp bởi sự trở lại của huấn luyện viên có ảnh hưởng lớn Nathan Jones trong thời gian mùa giải tạm dừng, còn Barnsley cũng vượt qua mọi dự đoán cùng phong độ nghèo nàn ở nửa đầu mùa để giữ được chỗ đứng tại hạng đấu này.
League One
Bản mẫu:ChínhKhi mùa giải bị hoãn vào tháng Ba, các câu lạc bộ ở cả League One lẫn League Two đã bỏ đủ số phiếu để thống nhất chấm dứt mùa giải – sử dụng hệ số điểm trung bình mỗi trận để xác định tổng số điểm cuối cùng, nhờ đó cả Coventry City lẫn Rotherham United đều giành quyền thăng hạng trực tiếp. Việc Sky Blues thăng hạng diễn ra chỉ ba năm sau khi xuống League Two và tám năm sau khi rơi khỏi hạng đấu cao thứ hai, đánh dấu một bước ngoặt đáng kinh ngạc cho câu lạc bộ bất chấp những rắc rối ngoài sân cỏ khiến họ buộc phải dùng chung sân với Birmingham City. Trong khi đó, The Millers giành lần trở lại Championship ngay lập tức lần thứ hai trong hai năm, đồng nghĩa đây là mùa giải thứ tư liên tiếp họ di chuyển qua lại giữa Championship và League One, bất chấp việc đã đánh mất ngôi đầu bảng ngay trước khi mùa giải bị tạm dừng. Vị trí đủ điều kiện cuối cùng thuộc về Wycombe Wanderers, đội băng băng qua vòng play-off để giành quyền thăng hạng lên Championship lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ vùng Buckinghamshire; dù từng rơi khỏi ngôi đầu trong giai đoạn Giáng sinh rồi tụt thêm vài bậc, The Chairboys vẫn kịp hồi phục trước khi mùa giải bị hoãn để giữ vị trí thứ ba theo hệ số điểm trung bình mỗi trận, qua đó mang về cho huấn luyện viên gắn bó lâu năm Gareth Ainsworth lần thăng hạng thứ hai cùng câu lạc bộ trong ba mùa giải.
Đội thua ở trận chung kết play-off là Oxford United, đội bỏ lỡ cơ hội trở lại hạng đấu cao thứ hai lần đầu tiên kể từ cuối thế kỉ 20; tuy nhiên, U's vẫn có một mùa giải tuyệt vời, bao gồm cả việc vào đến tứ kết Cúp Liên đoàn và đè bẹp West Ham 4-0 trên đường đi. Khởi đầu mùa giải tệ hại cuối cùng khiến Sunderland đánh mất cơ hội thăng hạng thứ hai liên tiếp, bất chấp sự cải thiện dưới thời huấn luyện viên mới Phil Parkinson, trong khi khởi đầu cực kì ấn tượng của Ipswich Town lại sụp đổ hoàn toàn vào đầu năm mới, đẩy The Tractor Boys ở lại hạng Ba thêm một mùa nữa; cả hai câu lạc bộ này đều từng vận động để mùa giải được tiếp tục. Lincoln City là một đội khác khởi đầu tốt, khiến người ta hi vọng vào lần thăng hạng thứ hai liên tiếp, nhưng một khởi đầu nghèo nàn dưới sự dẫn dắt của ban huấn luyện mới sau khi Danny Cowley rời đi để tới Huddersfield Town đã khiến thành tích sa sút, đẩy họ lại gần nhóm xuống hạng hơn trên bảng xếp hạng – tuy vậy, việc mùa giải kết thúc sớm vẫn bảo đảm cho họ trụ hạng, và quyết định ấy cũng giúp đội mới thăng hạng khác là Milton Keynes Dons có mùa giải thứ hai liên tiếp tại League One.
Mùa giải của Bury gần như chấm dứt trước cả khi bắt đầu, khi các vấn đề tài chính cuối cùng khiến câu lạc bộ bị khai trừ hoàn toàn khỏi Football League, trở thành đội đầu tiên chịu số phận này kể từ Maidstone United năm 1992. Vì vậy, khi mùa giải kết thúc chỉ có ba đội xuống hạng: Bolton Wanderers, Southend United và Tranmere Rovers. Việc Bolton xuống hạng diễn ra trong bối cảnh những rắc rối tài chính tương tự Bury, dù họ vẫn tìm được chủ sở hữu mới để tránh bị khai trừ; tuy nhiên, án trừ điểm của họ cũng không ảnh hưởng nhiều đến cuộc chiến trụ hạng, bởi phong độ đầu mùa thảm hại cùng sự khan hiếm chiến thắng đã đẩy The Trotters tới lần xuống hạng thứ hai liên tiếp, đồng nghĩa họ sẽ chơi ở hạng Tư lần đầu tiên kể từ năm 1988. Southend United cũng chẳng khá hơn là bao, chỉ xếp trên Bolton nhờ án trừ điểm và chỉ tránh được mốc thủng lưới 100 bàn vì mùa giải kết thúc sớm, qua đó xuống hạng sau năm mùa giải ở hạng Ba. Dù tìm lại được phong độ trong những tháng đầu năm 2020, Tranmere vẫn không thể thoát khỏi khu vực xuống hạng trước khi mùa giải bị tạm dừng và phải lập tức trở lại League Two – dù vậy, họ vẫn có một số điểm sáng trong mùa giải, bao gồm việc từ thế bị dẫn 0-3 để cầm hòa Watford tại Cúp FA trên sân Vicarage Road rồi sau đó đánh bại đối thủ này ở trận đá lại.Bản mẫu:EFL League One 2019-20 table
League Two
Bản mẫu:ChínhTương tự League One, League Two cũng chọn phương án kết thúc mùa giải sớm sau khi bị hoãn vào tháng Ba – và điều đó giúp Swindon Town, Crewe Alexandra cùng Plymouth Argyle giành quyền thăng hạng trực tiếp. Chỉ ba năm sau khi rơi xuống hạng Tư, Swindon cuối cùng đã kiếm đủ điểm để trở lại League One, một phần nhờ khả năng ghi bàn ấn tượng của tiền đạo người Ireland Eoin Doyle. Việc Crewe thăng hạng diễn ra bốn năm sau khi chính họ cũng phải xuống hạng, và là một bất ngờ với nhiều người khi các chiến dịch trước đó của đội bóng này chỉ chứng kiến họ hoặc vật lộn trụ hạng, hoặc kết thúc ở giữa bảng xếp hạng; tuy vậy, The Railwaymen vẫn có một mùa giải tốt trước khi bị tạm dừng, qua đó giành vé thăng hạng với thành tích ghi nhiều bàn nhất. Từng chỉ vừa hụt việc tránh xuống League Two ở mùa giải trước, Plymouth đã trở lại đầy ấn tượng khi bảo đảm suất lên hạng Ba ngay lập tức, một phần nhờ kinh nghiệm của huấn luyện viên mới Ryan Lowe, người từng giúp Bury – câu lạc bộ sau đó bị khai trừ – giành quyền thăng hạng ở mùa trước bất chấp những rắc rối ngoài sân cỏ. Đội giành tấm vé cuối cùng thông qua play-off là Northampton Town, khi họ chấm dứt hai năm xa cách hạng Ba theo cách đầy kịch tính; The Cobblers thực ra đã thua năm trong bảy trận cuối cùng trước khi mùa giải bị tạm dừng, một chuỗi thành tích suýt khiến họ rơi khỏi nhóm play-off hoàn toàn, rồi còn thua cả trận lượt đi play-off đầu tiên – nhưng đội bóng đã vùng lên để thắng đậm ở trận lượt về và sau đó là trận chung kết tại Wembley, qua đó khép lại mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Keith Curle trên cương vị huấn luyện viên theo cách đầy ấn tượng.
Exeter City lại thêm một lần thăng hạng hụt đầy trắc trở, khi phần lớn mùa giải nằm trong tốp ba trước khi rơi xuống nhóm play-off ngay trước lúc mùa giải bị tạm dừng; dù tạo nên màn lội ngược dòng ở vòng play-off, thất bại nặng nề trước Northampton Town đã khiến họ chịu trận thua thứ ba ở chung kết play-off trong bốn mùa giải. Việc sử dụng hệ số điểm trung bình mỗi trận khiến Bradford City lỡ suất dự play-off, dù từng có vẻ sẽ hồi phục sau cú rớt hạng ở mùa trước; Forest Green Rovers cũng chịu số phận tương tự trong khi họ đang tìm cách tiếp nối việc vào bán kết play-off mùa giải trước, và ngay cả Salford City cũng bị loại dù họ đã vượt qua mọi hoài nghi để có mùa giải đầu tiên tại Football League rất khả quan. Sau cái chết bất ngờ và bi thảm của huấn luyện viên Justin Edinburgh chỉ vài tuần sau khi thăng hạng, một chuỗi kết quả nghèo nàn ở nhiều thời điểm trong những tháng đầu mùa khiến Leyton Orient tưởng như sẽ phải xuống hạng – nhưng bất chấp điều đó, câu lạc bộ vẫn gượng dậy và thoát hiểm sau cuộc bỏ phiếu kết thúc mùa giải, đem lại hi vọng rằng O's sẽ tiếp tục xây dựng trên thành công từ suất thăng hạng mà Edinburgh mang lại.
Do Bury sụp đổ, mùa này chỉ có một câu lạc bộ rớt khỏi Football League (ban đầu các đội ở League Two bỏ phiếu để không có lên hạng hay xuống hạng giữa Football League và National League, nhưng kế hoạch này sau đó bị Hiệp hội bóng đá Anh bác bỏ). Cuối cùng, Stevenage đứng cuối bảng và tưởng như sẽ trở lại National League sau một thập kỉ, sau một mùa giải tồi tệ với bốn huấn luyện viên khác nhau và rơi xuống đáy bảng từ cuối tháng Chín rồi không bao giờ thoát ra được. Tuy nhiên, Macclesfield Town đã bị trừ tổng cộng 17 điểm vì nhiều vi phạm tài chính khác nhau trong suốt mùa giải; bốn trong số đó ban đầu được hoãn sang mùa sau, nhưng kháng cáo của Football League và Stevenage khiến chúng được áp dụng luôn cho mùa này, khiến Macclesfield mới là đội đứng cuối bảng và phải trở lại National League chỉ sau hai năm. Dù vậy, đội bóng này rốt cuộc cũng không bao giờ kịp góp mặt ở giải đấu đó, bởi các vấn đề tài chính trở nên không thể cứu vãn, dẫn tới việc câu lạc bộ tan rã chỉ vài tuần sau khi mùa giải 2020-21 bắt đầu, đồng nghĩa đây là mùa giải cuối cùng mà họ hoàn thành trọn vẹn. Sự kết hợp giữa việc Bury sụp đổ và án trừ điểm của Macclesfield đã cứu Morecambe – đội về mặt thống kê là đội tệ thứ hai sau Stevenage – khỏi việc bị xuống National League.Bản mẫu:EFL League Two 2019-20 table
Hạng đấu cao nhất National League
Bản mẫu:ChínhCũng như League One và League Two, National League đã cắt ngắn mùa giải của mình, với thứ hạng cuối cùng được quyết định theo hệ số điểm trung bình mỗi trận. Vì vậy, Barrow kết thúc ở vị trí dẫn đầu và trở lại Football League lần đầu tiên kể từ năm 1972; đây là quãng cách dài nhất mà bất kì đội bóng nào từng trải qua giữa lúc rời Football League – dù là do xuống hạng tự động hay theo hệ thống bầu chọn trước đây – và khi tái gia nhập bằng suất thăng hạng tự động. Harrogate Town, đội đứng thứ hai trước khi mùa giải bị tạm dừng, đã thắng tại vòng play-off để lần đầu tiên trong lịch sử góp mặt ở Football League.
Chorley đứng cuối bảng sau một mùa giải tồi tệ, khi họ đã ở rất gần suất xuống hạng ngay cả trước khi việc mùa giải bị tạm dừng chính thức đóng đinh cục diện đó. Vận mệnh của AFC Fylde lao dốc mạnh sau hai mùa giải liên tiếp kết thúc trong nhóm play-off, và họ phải tiếc nuối chuỗi kết quả nghèo nàn đã đẩy mình vào khu vực xuống hạng rồi cuối cùng định đoạt số phận khi mùa giải bị tạm dừng. Ebbsfleet United chiếm suất xuống hạng cuối cùng; giống như Fylde, họ từng có hai mùa giải trước đầy khởi sắc, và thực ra họ vẫn đứng ngoài nhóm xuống hạng trước khi mùa giải bị dừng, nhưng lại rơi xuống theo hệ số điểm trung bình mỗi trận, thay vào chỗ của Maidenhead United. Bản thân Maidenhead lẽ ra cũng đã xuống hạng, nhưng được cứu nhờ việc Bury sụp đổ.National League 2019-20
Play-off League
Play-off Football League
Bản mẫu:Chính
EFL Championship
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết play-off EFL Championship 2020
EFL League One
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết play-off EFL League One 2020Bản mẫu:Danh sách ghi chú
EFL League Two
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết play-off EFL League Two 2020
Play-off National League
Bản mẫu:Chính
National League
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết play-off National League 2020
National League North
Chung kết
Bản mẫu:Football box
National League South
Chung kết
Bản mẫu:Football box
Giải đấu cúp
Cúp FA
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết Cúp FA 2020
Cúp EFL
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết Cúp EFL 2020
Community Shield
Bản mẫu:ChínhFA Community Shield 2019
EFL Trophy
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết EFL Trophy 2020
FA Trophy
Bản mẫu:ChínhTrận chung kết ban đầu được dời sang ngày 27 tháng 9 năm 2020, tuy nhiên sau đó lại bị hoãn vì Hiệp hội bóng đá Anh hi vọng có thể cho khán giả vào sân dự khán trận chung kết. Ngày thi đấu sau đó được ấn định là 3 tháng 5 năm 2021 trên sân không khán giả, do không thể đạt được một giải pháp phù hợp để trận đấu được tổ chức với sự hiện diện của cổ động viên.[1]
Chung kết
Chung kết FA Trophy 2020
Bóng đá nữ Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
FA Women's Super League
Bản mẫu:ChínhFA WSL 2019-20
FA Women's Championship
Bản mẫu:ChínhFA Women’s Championship 2019-20
FA Women's National League
Bản mẫu:Chính
Northern Division
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Northern Division table
Southern Division
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Southern Division table
Division One North
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Division One North table
Division One Midlands
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Division One Midlands table
Division One South East
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Division One South East table
Division One South West
Bản mẫu:FA Women’s National League 2019-20 Division One South West table
Giải đấu cúp
FA Women's Cup
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhTrận chung kết diễn ra trên Sân vận động Wembley vào ngày thứ Bảy 1 tháng 11 năm 2020.[2]Chung kết Women’s FA Cup 2020
FA Women's League Cup
Bản mẫu:Chính
Chung kết
Bản mẫu:ChínhChung kết FA Women’s League Cup 2020
Thay đổi huấn luyện viên Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Đây là danh sách những sự thay đổi huấn luyện viên trong hệ thống giải vô địch bóng đá Anh:
| Đội bóng | Huấn luyện viên ra đi | Hình thức ra đi | Ngày ra đi | Vị trí trên bảng xếp hạng | Huấn luyện viên đến | Ngày bổ nhiệm |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Luton Town | Bản mẫu:Flagicon Mick Harford[3] | Kết thúc giai đoạn tạm quyền | 4 tháng 5 năm 2019 | Trước mùa giải | Bản mẫu:Flagicon Graeme Jones[3] | 7 tháng 5 năm 2019 |
| Walsall | Bản mẫu:Flagicon Martin O'Connor | Bản mẫu:Flagicon Darrell Clarke | 10 tháng 5 năm 2019 | |||
| Scunthorpe United | Bản mẫu:Flagicon Andy Dawson | Bản mẫu:Flagicon Paul Hurst | 13 tháng 5 năm 2019 | |||
| Plymouth Argyle | Bản mẫu:Flagicon Kevin Nancekivell | Bản mẫu:Flagicon Ryan Lowe | 5 tháng 6 năm 2019 | |||
| Gillingham | Bản mẫu:Flagicon Mark Patterson | Bản mẫu:Flagicon Steve Evans[4] | 21 tháng 5 năm 2019 | |||
| Oldham Athletic | Bản mẫu:Flagicon Pete Wild | Từ chức | Bản mẫu:Flagicon Laurent Banide | 11 tháng 6 năm 2019 | ||
| Queens Park Rangers | Bản mẫu:Flagicon John Eustace[5] | Kết thúc giai đoạn tạm quyền | 5 tháng 5 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Mark Warburton[6] | 8 tháng 5 năm 2019 | |
| Brighton & Hove Albion | Bản mẫu:Flagicon Chris Hughton | Bị sa thải | 13 tháng 5 năm 2019[7] | Bản mẫu:Flagicon Graham Potter | 20 tháng 5 năm 2019[8] | |
| West Bromwich Albion | Bản mẫu:Flagicon James Shan[9] | Kết thúc giai đoạn tạm quyền | 14 tháng 5 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Slaven Bilić[10] | 13 tháng 6 năm 2019 | |
| Mansfield Town | Bản mẫu:Flagicon David Flitcroft | Bị sa thải | Bản mẫu:Flagicon John Dempster | 14 tháng 5 năm 2019 | ||
| Middlesbrough | Bản mẫu:Flagicon Tony Pulis[11] | Hết hạn hợp đồng | 17 tháng 5 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Jonathan Woodgate[12] | 14 tháng 6 năm 2019 | |
| Swansea City | Bản mẫu:Flagicon Graham Potter[8] | Được Brighton & Hove Albion chiêu mộ | 20 tháng 5 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Steve Cooper[13] | 13 tháng 6 năm 2019 | |
| Bury | Bản mẫu:Flagicon Ryan Lowe[14] | Được Plymouth Argyle chiêu mộ | 5 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Paul Wilkinson[15] | 2 tháng 7 năm 2019 | |
| Hull City | Bản mẫu:Flagicon Nigel Adkins[16] | Hết hạn hợp đồng | 8 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Grant McCann[17] | 21 tháng 6 năm 2019 | |
| Leyton Orient | Bản mẫu:Flagicon Justin Edinburgh | Qua đời | Bản mẫu:Flagicon Ross Embleton (tạm quyền) | 19 tháng 6 năm 2019 | ||
| Chelsea | Bản mẫu:Flagicon Maurizio Sarri | Được Juventus chiêu mộ | 16 tháng 6 năm 2019[18] | Bản mẫu:Flagicon Frank Lampard[19] | 4 tháng 7 năm 2019 | |
| Birmingham City | Bản mẫu:Flagicon Garry Monk[20] | Bị sa thải | 18 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Pep ClotetBản mẫu:Refn | 20 tháng 6 năm 2019 | |
| Doncaster Rovers | Bản mẫu:Flagicon Grant McCann[17] | Được Hull City chiêu mộ | 21 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Darren Moore[21] | 10 tháng 7 năm 2019 | |
| Nottingham Forest | Bản mẫu:Flagicon Martin O'Neill[22] | Bị sa thải | 28 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Sabri Lamouchi[23] | 28 tháng 6 năm 2019 | |
| Newcastle United | Bản mẫu:Flagicon Rafael Benítez[24] | Hết hạn hợp đồng | 30 tháng 6 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Steve Bruce[25] | 17 tháng 7 năm 2019 | |
| Derby County | Bản mẫu:Flagicon Frank Lampard[19] | Được Chelsea chiêu mộ | 4 tháng 7 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Phillip Cocu[26] | 5 tháng 7 năm 2019 | |
| Blackpool | Bản mẫu:Flagicon Terry McPhillips[27] | Hết hạn hợp đồng | 5 tháng 7 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Simon Grayson[28] | 6 tháng 7 năm 2019 | |
| Sheffield Wednesday | Bản mẫu:Flagicon Steve Bruce[29] | Từ chức | 15 tháng 7 năm 2019 | Bản mẫu:Flagicon Lee Bullen | 15 tháng 7 năm 2019 | |
| Macclesfield Town | Bản mẫu:Flagicon Sol Campbell | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 15 tháng 8 năm 2019 | thứ 8 | Bản mẫu:Flagicon Daryl McMahon | 19 tháng 8 năm 2019 |
| Huddersfield Town | Bản mẫu:Flagicon Jan Siewert | Bị sa thải | 16 tháng 8 năm 2019 | thứ 20 | Bản mẫu:Flagicon Danny Cowley[30] | 9 tháng 9 năm 2019 |
| Bolton Wanderers | Bản mẫu:Flagicon Phil Parkinson[31] | Từ chức | 21 tháng 8 năm 2019 | thứ 23 | Bản mẫu:Flagicon Keith Hill[32] | 31 tháng 8 năm 2019 |
| Southend United | Bản mẫu:Flagicon Kevin Bond[33] | Từ chức | 6 tháng 9 năm 2019 | thứ 22 | Bản mẫu:Flagicon Sol Campbell[34] | 22 tháng 10 năm 2019 |
| Lincoln City | Bản mẫu:Flagicon Danny Cowley[30] | Được Huddersfield Town chiêu mộ | 9 tháng 9 năm 2019 | thứ 5 | Bản mẫu:Flagicon Michael Appleton[35] | 20 tháng 9 năm 2019 |
| Watford | Bản mẫu:Flagicon Javi Gracia[36] | Bị sa thải | 7 tháng 9 năm 2019 | thứ 20 | Bản mẫu:Flagicon Quique Sánchez Flores[36] | 7 tháng 9 năm 2019 |
| Oldham Athletic | Bản mẫu:Flagicon Laurent Banide[37] | Bị sa thải | 19 tháng 9 năm 2019 | thứ 21 | Bản mẫu:Flagicon Dino Maamria[37] | 19 tháng 9 năm 2019 |
| Millwall | Bản mẫu:Flagicon Neil Harris[38] | Từ chức | 3 tháng 10 năm 2019 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Gary Rowett[39] | 21 tháng 10 năm 2019 |
| Barnsley | Bản mẫu:Flagicon Daniel Stendel[40] | Từ chức | 8 tháng 10 năm 2019 | thứ 23 | Bản mẫu:Flagicon Gerhard Struber[41] | 20 tháng 11 năm 2019 |
| Sunderland | Bản mẫu:Flagicon Jack Ross[42] | Bị sa thải | 8 tháng 10 năm 2019 | thứ 6 | Bản mẫu:Flagicon Phil Parkinson[43] | 17 tháng 10 năm 2019 |
| Reading | Bản mẫu:Flagicon José Manuel Gomes[44] | Bị sa thải | 9 tháng 10 năm 2019 | thứ 22 | Bản mẫu:Flagicon Mark Bowen[45] | 14 tháng 10 năm 2019 |
| AFC Wimbledon | Bản mẫu:Flagicon Wally Downes[46] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 20 tháng 10 năm 2019 | thứ 21 | Bản mẫu:Flagicon Glyn Hodges[47] | 23 tháng 10 năm 2019 |
| Morecambe | Bản mẫu:Flagicon Jim Bentley[48] | Từ chức | 28 tháng 10 năm 2019 | thứ 24 | Bản mẫu:Flagicon Derek Adams[49] | 7 tháng 11 năm 2019 |
| Stoke City | Bản mẫu:Flagicon Nathan Jones[50] | Bị sa thải | 1 tháng 11 năm 2019 | thứ 23 | Bản mẫu:Flagicon Michael O'Neill[51] | 8 tháng 11 năm 2019 |
| Milton Keynes Dons | Bản mẫu:Flagicon Paul Tisdale[52] | Bị sa thải | 2 tháng 11 năm 2019 | thứ 21 | Bản mẫu:Flagicon Russell Martin[53] | 3 tháng 11 năm 2019 |
| Cardiff City | Bản mẫu:Flagicon Neil Warnock[54] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 11 tháng 11 năm 2019 | thứ 14 | Bản mẫu:Flagicon Neil Harris[55] | 16 tháng 11 năm 2019 |
| Carlisle United | Bản mẫu:Flagicon Steven Pressley[56] | Bị sa thải | 13 tháng 11 năm 2019 | thứ 19 | Bản mẫu:Flagicon Chris Beech[57] | 26 tháng 11 năm 2019 |
| Leyton Orient | Bản mẫu:Flagicon Carl Fletcher[58] | Bị sa thải | 14 tháng 11 năm 2019 | thứ 16 | Bản mẫu:Flagicon Ross EmbletonBản mẫu:Refn | 14 tháng 11 năm 2019 |
| Grimsby Town | Bản mẫu:Flagicon Michael Jolley[59] | Bị sa thải | 15 tháng 11 năm 2019 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Ian Holloway[60] | 29 tháng 12 năm 2019 |
| Tottenham Hotspur | Bản mẫu:Flagicon Mauricio Pochettino[61] | Bị sa thải | 19 tháng 11 năm 2019 | thứ 14 | Bản mẫu:Flagicon José Mourinho[62] | 20 tháng 11 năm 2019 |
| Arsenal | Bản mẫu:Flagicon Unai Emery[63] | Bị sa thải | 29 tháng 11 năm 2019 | thứ 8 | Bản mẫu:Flagicon Mikel Arteta[64] | 20 tháng 12 năm 2019 |
| Watford | Bản mẫu:Flagicon Quique Sánchez Flores[65] | Bị sa thải | 1 tháng 12 năm 2019 | thứ 20 | Bản mẫu:Flagicon Nigel Pearson[66] | 6 tháng 12 năm 2019 |
| Crawley Town | Bản mẫu:Flagicon Gabriele Cioffi[67] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 2 tháng 12 năm 2019 | thứ 17 | Bản mẫu:Flagicon John Yems[68] | 5 tháng 12 năm 2019 |
| Everton | Bản mẫu:Flagicon Marco Silva[69] | Bị sa thải | 5 tháng 12 năm 2019 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Carlo Ancelotti[70] | 21 tháng 12 năm 2019 |
| Mansfield Town | Bản mẫu:Flagicon John Dempster[71] | Bị sa thải | 14 tháng 12 năm 2019 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Graham Coughlan[72] | 17 tháng 12 năm 2019 |
| Bristol Rovers | Bản mẫu:Flagicon Graham Coughlan[72] | Được Mansfield Town chiêu mộ | 17 tháng 12 năm 2019 | thứ 4 | Bản mẫu:Flagicon Ben Garner[73] | 23 tháng 12 năm 2019 |
| West Ham United | Bản mẫu:Flagicon Manuel Pellegrini[74] | Bị sa thải | 28 tháng 12 năm 2019 | thứ 17 | Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname[75] | 29 tháng 12 năm 2019 |
| Macclesfield Town | Bản mẫu:Flagicon Daryl McMahon[76] | Từ chức | 2 tháng 1 năm 2020 | thứ 22 | Bản mẫu:Flagicon Mark Kennedy[77] | 16 tháng 1 năm 2020 |
| Cambridge United | Bản mẫu:Flagicon Colin Calderwood[78] | Bị sa thải | 29 tháng 1 năm 2020 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Mark Bonner[79] | 9 tháng 2 năm 2020 |
| Scunthorpe United | Bản mẫu:Flagicon Paul Hurst[80] | Bị sa thải | 29 tháng 1 năm 2020 | thứ 15 | Bản mẫu:Flagicon Russ Wilcox[81] | 12 tháng 2 năm 2020 |
| Bradford City | Bản mẫu:Flagicon Gary Bowyer[82] | Bị sa thải | 3 tháng 2 năm 2020 | thứ 8 | Bản mẫu:Flagicon Stuart McCall[83] | 4 tháng 2 năm 2020 |
| Blackpool | Bản mẫu:Flagicon Simon Grayson[84] | Bị sa thải | 12 tháng 2 năm 2020 | thứ 15 | Bản mẫu:Flagicon Neil Critchley[85] | 2 tháng 3 năm 2020 |
| Stevenage | Bản mẫu:Flagicon Graham Westley[86] | Từ chức | 16 tháng 2 năm 2020 | thứ 24 | Bản mẫu:Flagicon Alex Revell[87] | 16 tháng 2 năm 2020 |
| Luton Town | Bản mẫu:Flagicon Graeme Jones[88] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 24 tháng 4 năm 2020 | thứ 23 | Bản mẫu:Flagicon Nathan Jones[89] | 28 tháng 5 năm 2020 |
| Burton Albion | Bản mẫu:Flagicon Nigel Clough[90] | Từ chức | 18 tháng 5 năm 2020 | thứ 12 | Bản mẫu:Flagicon Jake Buxton | 18 tháng 5 năm 2020 |
| Bolton Wanderers | Bản mẫu:Flagicon Keith Hill[91] | Hết hạn hợp đồng | 12 tháng 6 năm 2020 | thứ 23 | Bản mẫu:Flagicon Ian Evatt[92] | 1 tháng 7 năm 2020 |
| Middlesbrough | Bản mẫu:Flagicon Jonathan Woodgate[93] | Bị sa thải | 23 tháng 6 năm 2020 | thứ 21 | Bản mẫu:Flagicon Neil Warnock | 23 tháng 6 năm 2020 |
| Southend United | Bản mẫu:Flagicon Sol Campbell[94] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 30 tháng 6 năm 2020 | thứ 22 | Bản mẫu:Flagicon Mark Molesley[95] | 13 tháng 8 năm 2020 |
| Birmingham City | Bản mẫu:Flagicon Pep Clotet[96] | Đồng thuận chấm dứt hợp đồng | 8 tháng 7 năm 2020 | thứ 17 | Bản mẫu:Flagicon Steve Spooner Bản mẫu:Flagicon Craig Gardner (đồng huấn luyện viên tạm quyền) | 31 tháng 7 năm 2020 |
| Huddersfield Town | Bản mẫu:Flagicon Danny Cowley[97] | Bị sa thải | 19 tháng 7 năm 2020 | thứ 18 | Bản mẫu:Flagicon Danny Schofield (tạm quyền) | 23 tháng 7 năm 2020 |
| Watford | Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname[98] | Bị sa thải | 19 tháng 7 năm 2020 | thứ 17 | Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname (tạm quyền)[99] | 19 tháng 7 năm 2020 |
Qua đời Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- 1 tháng 6 năm 2019: José Antonio Reyes, 35 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Tây Ban Nha và Arsenal.[100]
- 4 tháng 6 năm 2019: George Darwin, 87 tuổi, tiền đạo lùi của Huddersfield Town, Mansfield Town, Derby County, Rotherham United và Barrow.[101]
- 4 tháng 6 năm 2019: Lawrie Leslie, 84 tuổi, thủ môn của Scotland, West Ham United, Stoke City, Millwall và Southend United.[102]
- 6 tháng 6 năm 2019: Johnny Robinson, 83 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Bury và Oldham Athletic.[103]
- 8 tháng 6 năm 2019: Justin Edinburgh, 49 tuổi, hậu vệ trái của Southend United, Tottenham Hotspur và Portsmouth, đồng thời từng dẫn dắt Newport County, Gillingham và Northampton Town, và đang là huấn luyện viên của Leyton Orient vào thời điểm qua đời.[104]
- 13 tháng 6 năm 2019: Geoff Lees, 85 tuổi, tiền vệ cánh của Bradford City.[105]
- 17 tháng 6 năm 2019: Ian MacFarlane, 86 tuổi, hậu vệ biên của Chelsea và Leicester City, đồng thời từng dẫn dắt Carlisle United, Sunderland và Leicester City.[106]
- khoảng ngày 19 tháng 6 năm 2019: Bobby Brown, 87 tuổi, hậu vệ biên của Workington.[107]
- 19 tháng 6 năm 2019: Dennis White, 70 tuổi, hậu vệ biên của Hartlepool United.[108]
- 24 tháng 6 năm 2019: Graham Barnett, 83 tuổi, tiền đạo lùi của Port Vale, Tranmere Rovers và Halifax Town.[109]
- 23 tháng 7 năm 2019: Bobby Park, 73 tuổi, tiền vệ cánh của Aston Villa, Wrexham, Peterborough United, Northampton Town và Hartlepool United.[110]
- 24 tháng 7 năm 2019: Sammy Chapman, 81 tuổi, tiền vệ cánh của Mansfield Town và Portsmouth, đồng thời từng dẫn dắt Wolverhampton Wanderers.[111]
- 24 tháng 7 năm 2019: Bernard Evans, 82 tuổi, tiền đạo của Wrexham, Queens Park Rangers, Oxford United và Tranmere Rovers.[112]
- 28 tháng 7 năm 2019: Peter McConnell, 82 tuổi, tiền vệ cánh của Leeds United, Carlisle United và Bradford City.[113]
- 28 tháng 7 năm 2019: Kevin Stonehouse, 59 tuổi, tiền đạo của Blackburn Rovers, Huddersfield Town, Blackpool, Darlington và Rochdale.[114]
- 30 tháng 7 năm 2019: Ron Hughes, 88 tuổi, hậu vệ biên của Chester.[115]
- 1 tháng 8 năm 2019: Steve Talboys, 52 tuổi, tiền vệ của Wimbledon và Watford.[116]
- 5 tháng 8 năm 2019: John Lowey, 61 tuổi, tiền vệ của Sheffield Wednesday, Blackburn Rovers, Wigan Athletic, Preston North End và Chester City.[117]
- 11 tháng 8 năm 2019: Doug Clarke, 85 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Hull City, Torquay United và Bury.[118]
- khoảng ngày 16 tháng 8 năm 2019: Bobby Smith, 78 tuổi, hậu vệ biên/tiền vệ của Barnsley.[119]
- 22 tháng 8 năm 2019: Junior Agogo, 40 tuổi, tiền đạo của Ghana, Sheffield Wednesday, Queens Park Rangers, Bristol Rovers và Nottingham Forest.[120]
- 4 tháng 9 năm 2019: Kenny Mitchell, 62 tuổi, hậu vệ của Newcastle United và Darlington.[121]
- 13 tháng 9 năm 2019: Dennis Edwards, 82 tuổi, tiền đạo lùi của Charlton Athletic, Portsmouth và Aldershot.[122]
- 18 tháng 9 năm 2019: Kelvin Maynard, 32 tuổi, hậu vệ phải của Burton Albion.[123]
- 26 tháng 9 năm 2019: Peter Downsborough, 76 tuổi, thủ môn của Halifax Town, Swindon Town và Bradford City.[124]
- 1 tháng 10 năm 2019: Fred Molyneux, 75 tuổi, hậu vệ của Southport, Plymouth Argyle và Tranmere Rovers.[125]
- 10 tháng 10 năm 2019: Stuart Taylor, 72 tuổi, trung vệ của Bristol Rovers và là cầu thủ giữ kỉ lục số lần ra sân tại giải vô địch của câu lạc bộ.[126]
- 23 tháng 10 năm 2019: Duncan Forbes, 78 tuổi, trung vệ của Colchester United và Norwich City.[127]
- 28 tháng 10 năm 2019: Bert Mozley, 96 tuổi, hậu vệ phải của Anh và Derby County.[128]
- 9 tháng 11 năm 2019: Cyril Robinson, 90 tuổi, tiền vệ cánh của Blackpool, Bradford Park Avenue và Southport.[129]
- 10 tháng 11 năm 2019: Les Campbell, 84 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Preston North End, Blackpool và Tranmere Rovers.[130]
- 10 tháng 11 năm 2019: Dennis Sorrell, 79 tuổi, tiền vệ trái của Leyton Orient và Chelsea.[131]
- 16 tháng 11 năm 2019: Johnny Wheeler, 91 tuổi, tiền vệ cánh của Anh, Tranmere Rovers, Bolton Wanderers và Liverpool.[132]
- 23 tháng 11 năm 2019: Sean Haslegrave, 68 tuổi, tiền vệ của Stoke City, Nottingham Forest, Preston North End, Crewe Alexandra, York City và Torquay United.[133]
- 25 tháng 11 năm 2019: Martin Harvey, 78 tuổi, tiền vệ cánh của Bắc Ireland và Sunderland.[134]
- 6 tháng 12 năm 2019: Brian Sparrow, 57 tuổi, hậu vệ biên của Arsenal và Crystal Palace.[135]
- 7 tháng 12 năm 2019: Ron Saunders, 87 tuổi, tiền đạo của Everton, Gillingham, Portsmouth, Watford và Charlton Athletic, đồng thời từng dẫn dắt Oxford United, Norwich City, Manchester City, Aston Villa, Birmingham City và West Bromwich Albion.[136]
- 9 tháng 12 năm 2019: Roy Cheetham, 79 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Manchester City và Chester.[137]
- 10 tháng 12 năm 2019: Jim Smith, 79 tuổi, tiền vệ cánh của Aldershot, Halifax Town, Lincoln City và Colchester United, đồng thời từng dẫn dắt Colchester, Blackburn Rovers, Birmingham City, Oxford United, Queens Park Rangers, Newcastle United, Portsmouth và Derby County.[138]
- 15 tháng 12 năm 2019: Alan Jarvis, 76 tuổi, tiền đạo của Wales, Hull City và Mansfield Town.[139]
- 16 tháng 12 năm 2019: Rod Johnson, 74 tuổi, tiền vệ của Leeds United, Doncaster Rovers, Rotherham United và Bradford City.[140]
- 18 tháng 12 năm 2019: Tom White, 80 tuổi, tiền đạo của Crystal Palace, Blackpool, Bury và Crewe Alexandra.[141]
- 20 tháng 12 năm 2019: Billy Hughes, 70 tuổi, tiền đạo của Scotland, Sunderland, Derby County và Leicester City.[142]
- 21 tháng 12 năm 2019: Martin Peters MBE, 76 tuổi, tiền vệ vô địch World Cup 1966 của Anh, từng khoác áo West Ham United, Tottenham Hotspur, Norwich City và Sheffield United, đồng thời từng dẫn dắt đội bóng sau cùng này.[143]
- 22 tháng 12 năm 2019: Gary Talbot, 82 tuổi, tiền đạo của Chester và Crewe Alexandra.[144]
- 23 tháng 12 năm 2019: Alan Harrington, 86 tuổi, hậu vệ của Wales và Cardiff City.[145]
- 23 tháng 12 năm 2019: George Petchey, 88 tuổi, tiền vệ cánh của West Ham United, Queens Park Rangers và Crystal Palace, đồng thời từng dẫn dắt Leyton Orient và Millwall.[146]
- 25 tháng 12 năm 2019: Martyn King, 82 tuổi, tiền đạo của Colchester United và Wrexham, người giữ kỉ lục là chân sút ghi nhiều bàn nhất tại giải vô địch trong lịch sử Colchester United.[147]
- 29 tháng 12 năm 2019: John Shuker, 77 tuổi, hậu vệ của Oxford United.[148]
- khoảng ngày 30 tháng 12 năm 2019: Micky Block, 79 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Chelsea, Brentford và Watford.[149]
- 1 tháng 1 năm 2020: Chris Barker, 39 tuổi, hậu vệ của Barnsley, Cardiff City, Queens Park Rangers, Plymouth Argyle và Southend United.[150]
- 6 tháng 1 năm 2020: Ray Byrom, 85 tuổi, tiền đạo cánh trái của Accrington Stanley và Bradford (Park Avenue).[151]
- 9 tháng 1 năm 2020: Jimmy Shields, 88 tuổi, tiền đạo của Bắc Ireland, Southampton và Headington United.[152]
- 10 tháng 1 năm 2020: Eric Brookes, 75 tuổi, hậu vệ trái của Barnsley, Northampton Town và Peterborough United.[153]
- 12 tháng 1 năm 2020: Brian Clifton, 85 tuổi, tiền đạo lùi/tiền vệ của Southampton và Grimsby Town.[154]
- 20 tháng 1 năm 2020: Mick Vinter, 65 tuổi, tiền đạo của Notts County, Wrexham, Oxford United, Mansfield Town và Newport County.[155]
- 23 tháng 1 năm 2020: Tom Daley, 86 tuổi, thủ môn của Grimsby Town, Huddersfield Town và Peterborough United.[156]
- 25 tháng 1 năm 2020: Jordan Sinnott, 25 tuổi, đang thuộc biên chế Alfreton Town vào thời điểm qua đời; tiền vệ này từng có kinh nghiệm thi đấu ở Football League trong màu áo Huddersfield Town, Bury và Chesterfield.[157]
- 30 tháng 1 năm 2020: Dale Jasper, 56 tuổi, hậu vệ/tiền vệ của Chelsea, Brighton & Hove Albion và Crewe Alexandra.[158]
- khoảng ngày 6 tháng 2 năm 2020: Jimmy Moran, 84 tuổi, tiền đạo lùi của Leicester City, Norwich City, Northampton Town, Darlington và Workington.[159]
- 7 tháng 2 năm 2020: Brian Pilkington, 86 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Anh, Burnley, Bolton Wanderers và Bury.[160]
- 9 tháng 2 năm 2020: Peter McCall, 83 tuổi, tiền vệ cánh của Bristol City và Oldham Athletic.[161]
- 14 tháng 2 năm 2020: Jimmy Conway, 73 tuổi, tiền vệ của Cộng hòa Ireland, Fulham và Manchester City.[162]
- 14 tháng 2 năm 2020: Brian Jackson, 86 tuổi, cầu thủ chạy cánh phải của Leyton Orient, Liverpool, Port Vale, Peterborough United và Lincoln City.[163]
- 16 tháng 2 năm 2020: Harry Gregg, OBE, 87 tuổi, thủ môn của Bắc Ireland, Doncaster Rovers, Manchester United và Stoke City, đồng thời từng dẫn dắt Shrewsbury Town, Swansea City, Crewe Alexandra và Carlisle United. Ông cũng sống sót sau thảm họa hàng không Munich năm 1958 và đã giúp nhiều hành khách khác tới nơi an toàn.[164]
- 20 tháng 2 năm 2020: Malcolm Pyke, 81 tuổi, tiền vệ cánh của West Ham United và Crystal Palace.[165]
- 20 tháng 2 năm 2020: Jimmy Wheeler, 86 tuổi, tiền đạo của Reading, đồng thời từng dẫn dắt Bradford City.[166]
- 15 tháng 3 năm 2020: Mick Morris, 77 tuổi, tiền đạo của Oxford United và Port Vale.[167]
- 19 tháng 3 năm 2020: Peter Whittingham, 35 tuổi, tiền vệ của Aston Villa, Cardiff City và Blackburn Rovers.[168]
- 26 tháng 3 năm 2020: Fred Smith, 77 tuổi, hậu vệ biên của Burnley, Portsmouth và Halifax Town.[169]
- 30 tháng 3 năm 2020: Alex Forsyth, 91 tuổi, cầu thủ chạy cánh phải của Darlington.[170]
- 30 tháng 3 năm 2020: John Haselden, 76 tuổi, trung vệ của Rotherham United và Doncaster Rovers, đồng thời từng dẫn dắt Huddersfield Town và làm huấn luyện viên tại nhiều câu lạc bộ khác nhau.[171]
- 31 tháng 3 năm 2020: Arthur Marsh, 72 tuổi, hậu vệ của Bolton Wanderers, Rochdale và Darlington.[172]
- 6 tháng 4 năm 2020: Radomir Antić, 71 tuổi, hậu vệ của Nam Tư và Luton Town.[173]
- 6 tháng 4 năm 2020: Ray Hiron, 76 tuổi, tiền đạo của Portsmouth và Reading.[174]
- 12 tháng 4 năm 2020: Peter Bonetti, 78 tuổi, thủ môn của Anh và Chelsea.[175]
- 13 tháng 4 năm 2020: David Corbett, 79 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Swindon Town và Plymouth Argyle.[176]
- 13 tháng 4 năm 2020: Peter Madden, 85 tuổi, hậu vệ của Rotherham United, đồng thời từng dẫn dắt Darlington và Rochdale.[177]
- khoảng ngày 13 tháng 4 năm 2020: Alf Wood, 74 tuổi, tiền đạo của Manchester City, Shrewsbury Town, Millwall, Hull City, Middlesbrough và Walsall.[178]
- 14 tháng 4 năm 2020: John Collins, 71 tuổi, hậu vệ biên của Tottenham Hotspur, Portsmouth, Halifax Town, Sheffield Wednesday và Barnsley.[179]
- 14 tháng 4 năm 2020: Cyril Lawrence, 99 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Rochdale và Wrexham.[180]
- 14 tháng 4 năm 2020: Billy Wright, 89 tuổi, tiền vệ của Blackpool, Leicester City, Newcastle United, Plymouth Argyle và Millwall.[181]
- 14 tháng 4 năm 2020: Ron Wylie, 86 tuổi, tiền vệ của Notts County, Aston Villa và Birmingham City, đồng thời từng dẫn dắt West Bromwich Albion.[182]
- 16 tháng 4 năm 2020: Peter Phoenix, 83 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Oldham Athletic, Rochdale, Exeter City, Southport và Stockport County.[183]
- 17 tháng 4 năm 2020: Norman Hunter, 76 tuổi, hậu vệ của Anh, Leeds United, Bristol City và Barnsley, đồng thời từng dẫn dắt Barnsley, Rotherham United và Bradford City.[184]
- 19 tháng 4 năm 2020: Dickie Dowsett, 88 tuổi, tiền đạo lùi của Tottenham Hotspur, Southend United, Southampton, Bournemouth & Boscombe Athletic và Crystal Palace.[185]
- 21 tháng 4 năm 2020: Dave Bacuzzi, 79 tuổi, hậu vệ của Arsenal, Manchester City và Reading.[186]
- 22 tháng 4 năm 2020: Sid Bishop, 86 tuổi, hậu vệ của Leyton Orient.[187]
- 22 tháng 4 năm 2020: Jimmy Goodfellow, 76 tuổi, tiền vệ của Port Vale, Workington, Rotherham United và Stockport County, đồng thời từng làm huấn luyện viên tại nhiều câu lạc bộ và dẫn dắt Cardiff City.[188]
- 24 tháng 4 năm 2020: Don Woan, 92 tuổi, tiền đạo của Liverpool, Leyton Orient, Bradford City và Tranmere Rovers.[189]
- khoảng ngày 26 tháng 4 năm 2020: John Rowlands, 73 tuổi, tiền đạo của Mansfield Town, Torquay United, Stockport County, Barrow, Workington, Crewe Alexandra và Hartlepool United.[190]
- 28 tháng 4 năm 2020: Michael Robinson, 61 tuổi, tiền đạo của Cộng hòa Ireland, Preston North End, Manchester City, Brighton & Hove Albion, Liverpool và Queens Park Rangers.[191]
- 29 tháng 4 năm 2020: Trevor Cherry, 72 tuổi, hậu vệ của Anh, Huddersfield Town, Leeds United và Bradford City, đồng thời từng dẫn dắt Bradford City.[192]
- 29 tháng 4 năm 2020: Allan Gauden, 75 tuổi, tiền vệ của Sunderland, Darlington, Grimsby Town, Hartlepool United và Gillingham.[193]
- khoảng ngày 29 tháng 4 năm 2020: Jim Keers, 88 tuổi, cầu thủ chạy cánh phải của Darlington.[194]
- 2 tháng 5 năm 2020: John Ogilvie, 91 tuổi, hậu vệ biên của Leicester City và Mansfield Town.[195]
- 3 tháng 5 năm 2020: John Ridley, 68 tuổi, tiền vệ của Port Vale, Leicester City và Chesterfield.[196]
- 23 tháng 5 năm 2020: Charlie Cooper, 79 tuổi, hậu vệ của Bolton Wanderers và Barrow.[197]
- 26 tháng 5 năm 2020: Christian Mbulu, 23 tuổi, hậu vệ của Crewe Alexandra và Morecambe; anh đang thuộc biên chế Morecambe vào thời điểm qua đời.[198]
- 26 tháng 5 năm 2020: Glyn Pardoe, 73 tuổi, hậu vệ của Manchester City.[199]
- 28 tháng 5 năm 2020: Paul Shrubb, 64 tuổi, cầu thủ đa năng của Fulham, Brentford và Aldershot.[200]
- 30 tháng 5 năm 2020: Ron Thompson, 88 tuổi, tiền vệ cánh của Carlisle United.[201]
- 5 tháng 6 năm 2020: Jim Fryatt, 79 tuổi, tiền đạo của Charlton Athletic, Southend United, Bradford Park Avenue, Southport, Torquay United, Stockport County, Blackburn Rovers và Oldham Athletic.[202]
- 7 tháng 6 năm 2020: Ralph Wright, 72 tuổi, tiền vệ của Bradford Park Avenue, Hartlepool United, Stockport County, Bolton Wanderers và Southport.[203]
- 8 tháng 6 năm 2020: Tony Dunne, 78 tuổi, hậu vệ trái của Cộng hòa Ireland, Manchester United và Bolton Wanderers.[204]
- 22 tháng 6 năm 2020: Harry Penk, 85 tuổi, cầu thủ chạy cánh của Portsmouth, Plymouth Argyle và Southampton.[205]
- 23 tháng 6 năm 2020: Dick Oxtoby, 80 tuổi, hậu vệ của Bolton Wanderers và Tranmere Rovers.[206]
- 26 tháng 6 năm 2020: Theo Foley, 83 tuổi, hậu vệ của Cộng hòa Ireland, Exeter City, Northampton Town và Charlton Athletic, đồng thời từng dẫn dắt Charlton Athletic và Northampton Town.[207]
Giải nghệ Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- 2 tháng 6 năm 2019: Rudi Skácel, 39 tuổi, cựu tiền vệ của Cộng hòa Séc và Southampton.[208]
- 4 tháng 6 năm 2019: Gary Taylor-Fletcher, 38 tuổi, cựu tiền đạo của Leyton Orient, Lincoln City, Huddersfield Town, Blackpool, Leicester City, Tranmere Rovers và Accrington Stanley.[209]
- 11 tháng 6 năm 2019: Aaron Hughes, 39 tuổi, cựu hậu vệ của Bắc Ireland, Newcastle United, Aston Villa, Fulham, Queens Park Rangers và Brighton & Hove Albion.[210]
- 12 tháng 6 năm 2019: Tom Taiwo, 29 tuổi, cựu tiền vệ của Carlisle United.[211]
- 18 tháng 6 năm 2019: Kris Boyd, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Scotland và Middlesbrough.[212]
- 21 tháng 6 năm 2019: Fernando Torres, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Tây Ban Nha, Liverpool và Chelsea.[213]
- 28 tháng 6 năm 2019: Stuart Lewis, 31 tuổi, cựu tiền vệ của Barnet, Gillingham, Dagenham & Redbridge và Wycombe Wanderers.[214]
- 4 tháng 7 năm 2019: Dorus de Vries, 38 tuổi, cựu thủ môn của Swansea City, Wolverhampton Wanderers và Nottingham Forest.[215]
- 4 tháng 7 năm 2019: Arjen Robben, 35 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Hà Lan và Chelsea.[216]
- 12 tháng 7 năm 2019: Peter Crouch, 38 tuổi, cựu tiền đạo của Anh, Queens Park Rangers, Portsmouth, Aston Villa, Southampton, Liverpool, Tottenham Hotspur, Stoke City và Burnley.[217]
- 25 tháng 7 năm 2019: Darren Bent, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Anh, Ipswich Town, Charlton Athletic, Tottenham Hotspur, Sunderland, Aston Villa và Derby County.[218]
- 26 tháng 7 năm 2019: Micah Richards, 31 tuổi, cựu hậu vệ của Anh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Manchester City và Aston Villa.[219]
- 26 tháng 7 năm 2019: Marvin Sordell, 28 tuổi, cựu tiền đạo của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Watford, Bolton Wanderers, Burnley, Colchester United, Coventry City và Burton Albion.[220]
- 29 tháng 7 năm 2019: Patrice Evra, 38 tuổi, cựu hậu vệ trái của Pháp, Manchester United và West Ham United.[221]
- 30 tháng 7 năm 2019: Marcus Bean, 34 tuổi, cựu tiền vệ của Jamaica, Queens Park Rangers, Blackpool, Brentford, Colchester United và Wycombe Wanderers.[222]
- 3 tháng 8 năm 2019: Leroy Lita, 34 tuổi, cựu tiền đạo của Bristol City, Reading, Middlesbrough, Swansea City, Barnsley và Yeovil Town.[223]
- 5 tháng 8 năm 2019: Willo Flood, 34 tuổi, cựu tiền vệ của Manchester City, Cardiff City và Middlesbrough.[224]
- 5 tháng 8 năm 2019: Karl Henry, 36 tuổi, cựu tiền vệ của Stoke City, Wolverhampton Wanderers, Queens Park Rangers, Bolton Wanderers và Bradford City.[225]
- 6 tháng 8 năm 2019: David Forde, 39 tuổi, cựu thủ môn của Cộng hòa Ireland, Cardiff City, Millwall và Cambridge United.[226]
- 7 tháng 8 năm 2019: Diego Forlán, 40 tuổi, cựu tiền đạo của Uruguay và Manchester United.[227]
- 12 tháng 8 năm 2019: Michael Kightly, 33 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Southend United, Wolverhampton Wanderers, Stoke City và Burnley.[228]
- 20 tháng 8 năm 2019: Jonathan Forte, 33 tuổi, cựu tiền đạo của Barbados, Sheffield United, Scunthorpe United, Southampton, Oldham Athletic, Notts County và Exeter City.[229]
- 24 tháng 8 năm 2019: Shaun Wright-Phillips, 37 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Anh, Manchester City, Chelsea và Queens Park Rangers.[230]
- 27 tháng 8 năm 2019: Jermaine Beckford, 35 tuổi, cựu tiền đạo của Jamaica, Leeds United, Everton, Leicester City, Bolton Wanderers, Preston North End và Bury.[231]
- 30 tháng 8 năm 2019: David Meyler, 30 tuổi, cựu tiền vệ của Cộng hòa Ireland, Sunderland, Hull City và Reading.[232]
- 6 tháng 9 năm 2019: Andrew Taylor, 33 tuổi, cựu hậu vệ trái của Middlesbrough, Cardiff City, Wigan Athletic và Bolton Wanderers.[233]
- 7 tháng 9 năm 2019: Samuel Eto'o, 38 tuổi, cựu tiền đạo của Cameroon, Chelsea và Everton.[234]
- 15 tháng 9 năm 2019: Daniel McBreen, 42 tuổi, cựu tiền đạo của Scunthorpe United và York City.[235]
- 19 tháng 9 năm 2019: Dimitar Berbatov, 38 tuổi, cựu tiền đạo của Bulgaria, Tottenham Hotspur, Manchester United và Fulham.[236]
- 20 tháng 9 năm 2019: Anderson, 31 tuổi, cựu tiền vệ của Brasil và Manchester United.[237]
- 30 tháng 9 năm 2019: Gareth McAuley, 39 tuổi, cựu hậu vệ của Bắc Ireland, Lincoln City, Leicester City, Ipswich Town và West Bromwich Albion.[238]
- 3 tháng 10 năm 2019: Greg Tansey, 30 tuổi, cựu tiền vệ của Stockport County và Stevenage.[239]
- 7 tháng 10 năm 2019: Tim Howard, 40 tuổi, cựu thủ môn của Hoa Kỳ, Manchester United và Everton.[240]
- 8 tháng 10 năm 2019: Bastian Schweinsteiger, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Đức và Manchester United.[241]
- 16 tháng 10 năm 2019: Calum Dyson, 23 tuổi, cựu tiền đạo của Everton và Plymouth Argyle.[242]
- 29 tháng 10 năm 2019: James Morrison, 33 tuổi, cựu tiền vệ của Scotland, Middlesbrough và West Bromwich Albion.[243]
- 14 tháng 12 năm 2019: Philippe Senderos, 34 tuổi, cựu trung vệ của Thụy Sĩ, Arsenal, Fulham và Aston Villa.[244]
- 31 tháng 12 năm 2019: Sanmi Odelusi, 26 tuổi, cựu tiền đạo của Bolton Wanderers, Wigan Athletic, Colchester United và Cheltenham Town.[245]
- 24 tháng 1 năm 2020: Dean Brill, 34 tuổi, cựu thủ môn của Luton Town, Oldham Athletic, Barnet và Leyton Orient.[246]
- 29 tháng 1 năm 2020: Billy Kee, 29 tuổi, cựu tiền đạo của Torquay United, Burton Albion, Scunthorpe United và Accrington Stanley.[247]
- 6 tháng 2 năm 2020: Kenny Miller, 40 tuổi, cựu tiền đạo của Scotland, Wolverhampton Wanderers, Derby County và Cardiff City.[248]
- 19 tháng 2 năm 2020: Alan Hutton, 35 tuổi, cựu hậu vệ phải của Scotland, Tottenham Hotspur và Aston Villa.[249]
- 22 tháng 4 năm 2020: Lee Hughes, 43 tuổi, cựu tiền đạo của West Bromwich Albion, Notts County và Port Vale.[250]
- 22 tháng 4 năm 2020: Yann Kermorgant, 38 tuổi, cựu tiền đạo của Leicester City, Charlton Athletic, A.F.C. Bournemouth và Reading.[251]
- 26 tháng 4 năm 2020: Ricky Shakes, 35 tuổi, cựu cầu thủ chạy cánh của Trinidad và Tobago, Guyana, Swindon Town và Brentford.[252]
- 26 tháng 4 năm 2020: Ted Smith, 24 tuổi, cựu thủ môn của Southend United.[253]
- 26 tháng 5 năm 2020: Alex Cisak, 31 tuổi, cựu thủ môn của Tamworth, Accrington Stanley, Oldham Athletic, Portsmouth, Burnley, York City và Leyton Orient.[254]
- 1 tháng 6 năm 2020: Brian Wilson, 37 tuổi, cựu hậu vệ của Stoke City, Cheltenham Town, Bristol City, Colchester United và Oldham Athletic.[255]
- 10 tháng 6 năm 2020: Don Cowie, 37 tuổi, cựu tiền vệ của Scotland, Watford, Cardiff City và Wigan Athletic.[256]
- 10 tháng 6 năm 2020: Gary Harkins, 35 tuổi, cựu tiền vệ của Grimsby Town.[257]
- 12 tháng 6 năm 2020: Stephen Bywater, 39 tuổi, cựu thủ môn của Rochdale, West Ham United, Derby County, Sheffield Wednesday, Millwall, Doncaster Rovers và Burton Albion.[258]
- 15 tháng 6 năm 2020: Mark O'Brien, 27 tuổi, cựu hậu vệ của Derby County, Luton Town và Newport County.[259]
- 21 tháng 6 năm 2020: David Ngog, 31 tuổi, cựu tiền đạo của Liverpool, Bolton Wanderers và Swansea City.[260]
- 22 tháng 6 năm 2020: Barry Roche, 38 tuổi, cựu thủ môn của Nottingham Forest, Chesterfield và Morecambe.[261]
Các câu lạc bộ bị loại bỏ Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- Bury FC bị khai trừ khỏi EFL League One vào ngày 27 tháng 8 năm 2019 do những vấn đề tài chính tại câu lạc bộ khiến họ không thể đáp ứng các yêu cầu trong thông báo rút lui do English Football League ban hành cho thời hạn này.[262]
Nhật ký mùa giải Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- 31 tháng 8 năm 2019: Tháng đầu tiên của mùa giải mới khép lại với Liverpool đứng đầu Premier League, là đội duy nhất thắng cả bốn trận trong tháng Tám. Manchester City đứng thứ hai, kém hai điểm. Leicester City, Crystal Palace và West Ham United khởi đầu tốt và lần lượt chiếm các vị trí từ thứ ba đến thứ năm, xếp trên Arsenal (còn một trận chưa đấu) và Manchester United. Hai đội mới thăng hạng là Aston Villa và Norwich City đang gặp nhiều khó khăn trong lần trở lại hạng đấu cao nhất, cùng có ba điểm như Wolverhampton Wanderers (đã chơi chín trận trên hành trình vào vòng bảng Europa League và còn một trận chưa đấu), và chỉ xếp trên Watford, đội duy nhất ở Premier League chưa thắng trận nào. Swansea City khởi đầu tốt dưới sự dẫn dắt của Steve Cooper để dẫn đầu Championship, hơn Charlton Athletic mới thăng hạng hai điểm. Leeds United đứng thứ ba và có vẻ sẽ lại cạnh tranh cho một nỗ lực thăng hạng khác. West Bromwich Albion và Bristol City đứng thứ tư và thứ năm; Fulham mới rớt hạng, Preston North End, Queens Park Rangers và Birmingham City đang không có huấn luyện viên tranh chấp vị trí play-off thứ sáu. Một đội mới rớt hạng khác là Huddersfield Town đang có khởi đầu thảm hại trong lần trở lại hạng Hai và đứng thứ 23 với một điểm, sau khi huấn luyện viên Jan Siewert bị sa thải hai tuần trước đó. Stoke City đứng cuối bảng, cũng với một điểm, kém Wigan Athletic đứng thứ 22 ba điểm.
- 30 tháng 9 năm 2019: Tháng Chín khép lại với Liverpool hiện đã hơn Manchester City đứng thứ hai năm điểm. Leicester và West Ham tiếp tục khởi đầu tốt và đứng thứ ba và thứ năm, kẹp giữa là Arsenal; Tottenham Hotspur và Chelsea đứng thứ sáu và thứ bảy. Watford, vẫn chưa thắng trận nào, đứng cuối bảng, kém Aston Villa (thứ 18) và Newcastle United ba điểm. West Brom hiện dẫn đầu Championship, hơn Swansea City và Nottingham Forest một điểm, hơn Leeds United, Preston North End và Charlton Athletic hai điểm. Wigan đã leo lên vị trí thứ 21 thay cho Barnsley; ngoài điều đó ra, nhóm xuống hạng ở Championship không thay đổi.
- 25 tháng 10 năm 2019: Leicester lập kỉ lục chiến thắng sân khách đậm nhất trong lịch sử hạng đấu cao nhất với chiến thắng 9-0 trước Southampton.
- 31 tháng 10 năm 2019: Liverpool khép lại tháng Mười với khoảng cách sáu điểm so với Manchester City, dù đã mất thành tích toàn thắng sau trận hòa 1-1 tại Old Trafford. Leicester City vẫn đứng thứ ba, xếp trên Chelsea nhờ hiệu số bàn thắng bại, phần lớn nhờ chiến thắng 9-0 trước Southampton. Arsenal kém nhóm dự Champions League bốn điểm ở vị trí thứ năm, Crystal Palace tiếp tục khởi đầu tốt để đứng thứ sáu sau ba tháng thi đấu, còn Manchester United, Sheffield United, Bournemouth và West Ham United cùng chia nhau vị trí thứ bảy, chỉ phân định bằng hiệu số bàn thắng bại. Watford vẫn chưa thắng trận nào và đứng cuối bảng, cùng Norwich City và Southampton tạo thành nhóm xuống hạng. West Bromwich Albion tiếp tục dẫn đầu Championship, hơn Preston North End, Leeds United và Swansea City hai điểm. Sheffield Wednesday và Bristol City hoàn tất tốp sáu. Barnsley (thứ 24) và Stoke City cùng đứng cuối bảng, còn Middlesbrough chiếm vị trí còn lại trong nhóm ba đội cuối bảng của Championship.
- 30 tháng 11 năm 2019: Liverpool vẫn dẫn đầu giải vào cuối tháng Mười Một, hơn Manchester City và Leicester City 11 điểm (dù Leicester còn một trận chưa đấu). Chelsea vẫn đứng thứ tư. Tottenham Hotspur đã vươn lên thứ năm sau khi bổ nhiệm José Mourinho, hơn Wolverhampton Wanderers một điểm và hơn Sheffield United hai điểm; tuy nhiên, tính chất sít sao của bảng xếp hạng phía sau tốp bốn được thể hiện rõ qua việc khoảng cách giữa Chelsea và Tottenham (6 điểm) cũng chính là khoảng cách giữa Tottenham và Everton đứng thứ 17. Nhóm xuống hạng không thay đổi so với cuối tháng Mười. Leeds United dẫn đầu Championship, dù West Bromwich Albion đứng thứ hai còn một trận chưa đấu. Fulham, Nottingham Forest, Bristol City và Preston North End nằm trong nhóm play-off. Barnsley và Stoke City vẫn giữ nguyên vị trí như tháng trước, còn Wigan Athletic thay Middlesbrough đứng thứ 22.
- 31 tháng 12 năm 2019: Thập niên mới bắt đầu với việc Liverpool gia tăng cách biệt lên 16 điểm, trong khi Leicester City và Manchester City đổi chỗ cho nhau, còn Chelsea vẫn đứng thứ tư. Manchester United, Tottenham Hotspur và Wolverhampton Wanderers đang bám sát đội bóng thành Tây London trong cuộc đua giành vị trí thứ tư. Watford đã thoát khỏi vị trí cuối bảng, đẩy Norwich City xuống thay, nhưng vẫn nằm trong nhóm ba đội cuối bảng cùng với Aston Villa (thứ 18). Ở Championship, Leeds United và West Bromwich Albion tạo ra khoảng cách an toàn chín điểm so với Fulham, còn Nottingham Forest, Brentford và Sheffield Wednesday giữ các vị trí play-off. Stoke City lúc này đã thoát khỏi nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại, đẩy Barnsley và Luton Town xuống dưới, trong khi Wigan Athletic kém họ một điểm.
- 31 tháng 1 năm 2020: Liverpool khép lại tháng Một với khoảng cách 19 điểm; lúc này vấn đề dường như không còn là liệu đội bóng vùng Merseyside có chấm dứt cơn khát vô địch kéo dài 30 năm hay không, mà là khi nào điều đó sẽ xảy ra. Manchester City đã hơn Leicester City ba điểm, nhưng tốp bảy ngoài điều đó ra không thay đổi so với cuối tháng Mười Hai. Norwich City và Watford vẫn đứng thứ 20 và 19, nhưng cuộc đua trụ hạng đang nóng dần lên khi chỉ hai bàn thắng ngăn cách West Ham United (thứ 18), Bournemouth và Watford, còn Brighton & Hove Albion cùng Aston Villa cũng chỉ cách nhóm xuống hạng hai điểm. Một tháng Một khó khăn khiến khoảng cách của Leeds United và West Bromwich Albion so với Nottingham Forest đứng thứ ba bị rút xuống còn lần lượt bốn và hai điểm. Fulham đứng thứ tư, Brentford vẫn đứng thứ năm, còn Bristol City chiếm vị trí thứ sáu từ tay Sheffield Wednesday. Luton Town (thứ 24) và Barnsley kém Wigan Athletic đứng thứ 22 hai điểm và kém Charlton Athletic đứng thứ 21 sáu điểm.
- 29 tháng 2 năm 2020: Tháng Hai khép lại với việc Watford chấm dứt chuỗi bất bại của Liverpool; dù vậy, Liverpool vẫn hơn Manchester City 22 điểm và chỉ cần thêm bốn chiến thắng trong mười trận cuối để chính thức vô địch. Thay đổi duy nhất trong tốp bảy là Sheffield United vượt Wolverhampton Wanderers để đứng thứ bảy; tuy nhiên, cuộc đua giành vé dự Champions League vẫn còn rất khó lường khi chỉ có năm điểm ngăn cách Manchester United đứng thứ năm với Crystal Palace đứng thứ 12. Chiến thắng trước Liverpool đã đưa Watford lên vị trí thứ 17, xếp trên Bournemouth nhưng vẫn dưới West Ham United do kém hiệu số bàn thắng bại. Aston Villa kém hai điểm, còn Norwich City kém sáu điểm – không phải là không thể xảy ra việc, mới chỉ lần thứ hai trong lịch sử Premier League, vòng cuối cùng đến mà chưa có đội nào chắc chắn xuống hạng. Khi Championship còn mười trận, West Bromwich Albion và Leeds United vẫn giữ hai vị trí đầu bảng, lần lượt hơn Fulham đứng thứ ba sáu và năm điểm. Nottingham Forest (còn một trận chưa đấu), Brentford và Preston North End hoàn tất tốp sáu. Chuỗi mười điểm trong sáu trận đã giúp Wigan Athletic vươn lên thứ 19, đẩy Middlesbrough xuống nhóm ba đội cuối bảng, dù đội bóng vùng Teesside còn một trận chưa đấu so với các đối thủ gần nhất là Stoke City (thứ 21) và Charlton Athletic. Barnsley và Luton Town vẫn cùng đứng cuối bảng.
- 13 tháng 3 năm 2020: Các giải thuộc Football League bị hoãn vô thời hạn do đại dịch coronavirus, khiến Liverpool chỉ còn cách chức vô địch hạng đấu cao nhất đầu tiên sau 29 năm trong gang tấc. Một số trận ở National League và các hạng thấp hơn vẫn diễn ra, nhưng nhiều đội chọn không thi đấu vì sự an toàn của cổ động viên, nhân viên và cầu thủ. Khi đó vẫn chưa rõ giải đấu sẽ phải ngừng bao lâu hoặc đến khi nào toàn bộ các trận đấu mới đều bị hoãn.
- 26 tháng 3 năm 2020: Hiệp hội bóng đá Anh ra phán quyết rằng mọi giải đấu dưới National League North/National League South từ bước 3 đến bước 7 đều bị hủy bỏ, và mọi kết quả bị xóa bỏ. Sẽ không có thăng hạng hay xuống hạng. National League sẽ họp để thảo luận về số phận của ba hạng đấu còn lại.
- 25 tháng 6 năm 2020: Manchester City thua Chelsea 1-2, qua đó giúp Liverpool chính thức giành chức vô địch Premier League khi mùa giải còn bảy vòng đấu. Điều này cũng giúp Liverpool lập thành tích là đội vô địch sớm nhất xét theo số trận còn lại, với bảy trận chưa đấu, đồng thời cũng là đội vô địch muộn nhất, khi trở thành đội duy nhất đăng quang vào tháng Sáu. Lễ trao cúp cho Liverpool được tổ chức tại Anfield sau trận gặp Chelsea vào ngày 22 tháng 7.
Xem thêm Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
- Bóng đá nữ Anh mùa giải 2019-20
Ghi chú Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Bản mẫu:Tham khảoBản mẫu:Danh sách ghi chú
Tham khảo Bóng đá Anh mùa giải 2019-20 Bóng đá Anh mùa giải 2019-20
Bản mẫu:Tham khảo
Bản mẫu:Mùa giải bóng đá AnhBản mẫu:Bóng đá nam Anh mùa giải 2019-20Bản mẫu:Bóng đá nữ Anh mùa giải 2019-20Bản mẫu:Bóng đá châu Âu (UEFA) mùa giải 2019-20Bản mẫu:Bóng đá nữ châu Âu (UEFA) mùa giải 2019-20
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích webBản mẫu:Dead link
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích báo
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ "Gerhard Struber: Barnsley appoint Wolfsberger AC boss as head coach" - BBC Sport, 20 tháng 11 năm 2019
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ "DEREK ADAMS NAMED AS NEW SHRIMPS MANAGER" - Morecambe F.C., 7 tháng 11 năm 2019
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Usurped - Grimsby Town's official website, 31 tháng 12 năm 2019
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- 1 2 Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích webBản mẫu:Dead link
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Club statement: Simon Grayson - Blackpool F.C., 12 tháng 2 năm 2020
- ↑ "Neil Critchley Appointed New Head Coach" - Blackpool F.C., 2 tháng 3 năm 2020
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ "Burton Albion: Nigel Clough to be replaced by Jake Buxton as Brewers boss" - BBC Sport, 18 tháng 5 năm 2020
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ "Cyril Robinson (1929-2019)" - Blackpool F.C., 10 tháng 11 năm 2019
- ↑ "Blackpool fans urged to pay tribute to Cyril Robinson with spontaneous applause in 53rd minute" - Blackpool Gazette, 10 tháng 11 năm 2019
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ "Tom White (1939-2019)" - Blackpool F.C., 18 tháng 12 năm 2019
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Arthur Marsh 1947-2020
- ↑ Bản mẫu:Chú thích tweet
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ "Billy Wright (1931-2020)" - Blackpool F.C., 19 tháng 4 năm 2020
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích tweet
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích báo
- ↑ Bản mẫu:Chú thích tweet
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web