Bước tới nội dung

Aston Villa F.C.

Nghe bài viết này
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Aston Villa
Aston Villa F.C. badge
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Aston Villa
Biệt danhThe Villans
The Lions
Tên ngắn gọnVilla
Thành lập21 tháng 11 năm 1874; 151 năm trước (1874-11-21)
SânVilla Park
Sức chứa43.205[1]
Chủ sở hữuV Sports (Nassef Sawiris, Wes Edens & Atairos)
Chủ tịch điều hànhNassef Sawiris[2]
Huấn luyện viên trưởngUnai Emery
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 6 trên 20
Websiteavfc.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa (tiếng Anh: Aston Villa Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Aston, Birmingham, Anh. Đội được thành lập vào năm 1874. Đội một hiện thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh, và đã chơi trên sân nhà Villa Park kể từ năm 1897. Aston Villa là một trong những câu lạc bộ lâu đời và thành công nhất tại Anh, từng 7 lần vô địch Football League First Division, 7 lần vô địch Cúp FA, 5 lần vô địch League Cup, cùng một lần vô địch European CupSiêu cúp châu Âu.

Aston Villa là một câu lạc bộ hàng đầu của Anh kể từ thập niên 1880, khi đội là một trong những người tiên phong của lối chơi phối hợp ngắn hiện đại. Phong cách phối hợp ngắn, mượt mà này được giới thiệu bởi người Scotland George Ramsay, người được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới vào năm 1886. Câu lạc bộ có ảnh hưởng lớn trong quá trình bóng đá chuyển sang chuyên nghiệp vào năm 1885, và chính một giám đốc của Villa, William McGregor, là người sáng lập Football League đầu tiên trên thế giới vào năm 1888.[3][4][5][6]

Bộ sưu tập danh hiệu gồm sáu chức vô địch giải vô địch và sáu Cúp FA của George Ramsay đã đưa Aston Villa trở thành câu lạc bộ thành công nhất nước Anh, một vị thế mà đội nắm giữ từ thập niên 1890 cho tới thập niên 1970. Villa ghi 128 bàn ở mùa giải 1930-31, con số vẫn là kỉ lục mọi thời đại của hạng đấu cao nhất,[7] tuy nhiên câu lạc bộ bắt đầu giai đoạn sa sút đầu tiên từ giữa thập niên 1930; thập niên 1940 và 1950 nhìn chung là giai đoạn tầm thường, trước khi đội sa sút mạnh trong thập niên 1960, kết thúc bằng việc Doug Ellis tiếp quản câu lạc bộ vào năm 1968 và Aston Villa lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất, xuống hạng xuống cấp độ thứ ba của bóng đá Anh vào mùa giải 1969-70. Villa trở lại hàng ngũ ưu tú từ giữa thập niên 1970 dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Ron Saunders, người đã đưa câu lạc bộ tới chức vô địch hạng đấu cao nhất lần thứ bảy vào mùa giải 1980-81. Đội trở thành câu lạc bộ Anh thứ tư vô địch European Cup, vào mùa giải 1981-82, tiếp đó là Siêu cúp bóng đá châu Âu vào năm 1982.

Aston Villa là thành viên sáng lập của Premier League ở mùa giải 1992-93, là một trong chỉ ba câu lạc bộ vừa là thành viên sáng lập của Football League vừa là thành viên sáng lập của Premier League. Trong suốt thập niên 1990 và đầu những năm 2000, Villa thường xuyên giành quyền dự cúp châu Âu, nhưng sau một giai đoạn sa sút kể từ khi Martin O'Neill ra đi, câu lạc bộ phải nhận lần xuống hạng duy nhất khỏi Premier League ở mùa giải 2015-16. Sau ba mùa giải ở EFL Championship và hai lần đổi chủ sở hữu, câu lạc bộ trở lại Premier League vào năm 2019. Dưới thời Unai Emery, năm 2024 câu lạc bộ giành quyền dự UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 1982-83.

Trong lịch sử của mình, Villa đã trải qua 112 mùa giải ở hạng đấu cao nhất, nhiều thứ hai trong số mọi câu lạc bộ, và đóng góp 78 tuyển thủ Anh, cũng là con số cao thứ hai trong số mọi câu lạc bộ. Aston Villa đứng thứ năm trong bảng xếp hạng mọi thời đại của hạng đấu cao nhất nước Anh kể từ khi giải được thành lập vào năm 1888[8] và là câu lạc bộ thành công thứ bảy trong bóng đá Anh tính theo danh hiệu chính thức.

Villa có kình địch địa phương gay gắt với Birmingham City và trận derby Second City giữa hai đội đã diễn ra kể từ năm 1879.[9] Ngoài ra còn có một sự kình địch địa phương với West Bromwich Albion, với các trận đấu giữa hai đội được gọi là trận derby West Midlands. Bộ trang phục truyền thống của câu lạc bộ là áo màu đỏ ánh tím với tay áo xanh da trời, quần trắng và tất xanh da trời. Huy hiệu truyền thống của câu lạc bộ là hình một con sư tử chồm.[10][11] Câu lạc bộ hiện thuộc sở hữu của V Sports, một công ty thuộc sở hữu của tỉ phú Ai Cập Nassef Sawiris, tỉ phú người Mỹ Wes Edens, và công ty đầu tư Mỹ Atairos.

Lịch sử

Thành lập và vươn lên nổi bật (1874-1886)

George Ramsay với bộ sưu tập sáu chức vô địch giải vô địch và sáu Cúp FA đã đưa Aston Villa trở thành câu lạc bộ thành công nhất tại Anh. Ông được mô tả là huấn luyện viên bóng đá được trả lương đầu tiên trên thế giới.
William McGregor (1846-1911), người sáng lập The Football League

Người ta tin rằng Aston Villa được thành lập vào ngày 21 tháng 11 năm 1874, bởi các thành viên của nhà nguyện Wesleyan Aston Villa ở Handsworth, nơi nay là một phần của Birmingham.[12] Nhà nguyện này nằm tại Villa Cross, một nút giao thông có tên bắt nguồn từ một ngôi nhà mang tên Aston Villa, một biệt thự ngoại ô thời Georgian mà theo thời gian đã đặt tên cho cả khu vực xung quanh.[13] Bốn người sáng lập Aston Villa Football Club là Jack Hughes, Frederick Matthews, Walter Price và William Scattergood, những người thuộc đội cricket của nhà nguyện và đang tìm cách giữ thể lực trong mùa đông. Sau khi xem một thành viên cùng lớp Kinh Thánh của họ chơi trong một trận rugby, họ dừng lại dưới một ngọn đèn gas mờ gần Villa Cross và nhất trí rằng rugby là quá thô bạo, nên quyết định chơi bóng đá hiệp hội thay thế.[14][15] Cuộc gặp dưới ngọn đèn gas ấy theo truyền thống được xem là thời điểm khai sinh Aston Villa F.C.[16]

Do thiếu các đội bóng địa phương, trận đấu đầu tiên của Aston Villa là với đội rugby địa phương Aston Brook St Mary's. Theo điều kiện của trận đấu, phía Villa phải đồng ý chơi hiệp Một theo luật rugby và hiệp hai theo luật bóng đá hiệp hội. Villa thắng trận đầu tiên của mình với tỉ số 1-0.[17]

Vận mệnh của câu lạc bộ non trẻ thay đổi mãi mãi khi một chàng trai trẻ người Scotland tên là George Ramsay tình cờ bắt gặp một trận đấu tập của các cầu thủ Villa tại Aston Park vào năm 1876. Ông được mời vào sân cho đủ quân số, và mọi người đều kinh ngạc trước kĩ năng của ông; trước đó họ chưa từng thấy màn trình diễn kiểm soát bóng trong phạm vi hẹp nào như vậy. Khi trận đấu kết thúc, các cầu thủ Villa vây quanh ông và mời ông gia nhập câu lạc bộ, đồng thời trở thành đội trưởng của đội.[18] Tin tức lan truyền về việc Ramsay là một cầu thủ xuất sắc đến thế nào, khán giả bắt đầu kéo tới để xem người đàn ông nhỏ bé có biệt danh ‘Scotty’. Ông cũng phụ trách việc huấn luyện, và sau này Ramsay mô tả cách tiếp cận của câu lạc bộ non trẻ với trận đấu là 'lao vào người đối phương và phá mạnh vào quả bóng'.[19]Trong khi đó, Ramsay chịu ảnh hưởng từ câu lạc bộ Scotland Queen's Park, đội tiên phong cho điều sau này được biết đến với tên gọi 'combination football' tại quê hương Glasgow của ông. Lối chơi phối hợp chuyền bóng phức tạp mà ông giới thiệu là một bước đi mang tính cách mạng đối với một câu lạc bộ Anh vào cuối thập niên 1870.[20][21]

Villa bắt đầu khẳng định mình là một trong những đội bóng mạnh nhất vùng Midlands, giành danh hiệu đầu tiên là Birmingham Senior Cup vào năm 1880. Câu lạc bộ tiếp tục nâng cao chiếc cúp này thêm chín lần trong 12 mùa giải tiếp theo.[22]

Thời kì hoàng kim thời Victoria và Edward (1886-1914)

Đội hình Aston Villa giành cú đúp Double mùa giải 1896-97 với chức vô địch First Division Championship và Cúp FA
Đội Aston Villa năm 1899 vô địch First Division và Sheriff of London Charity Shield (đồng vô địch với Queen's Park), cùng với một số danh hiệu cúp cấp hạt
Harry Hampton ghi một trong hai bàn thắng của mình trong 1905 FA Cup final.

Sau khi bóng đá chuyên nghiệp hóa vào năm 1885, câu lạc bộ quyết định rằng mình cần một huấn luyện viên được trả lương toàn thời gian. Mẩu quảng cáo sau đã được đăng trên tờ Birmingham Daily Gazette vào tháng 6 năm 1886:

Villa nhận được 150 đơn ứng tuyển cho vị trí này, nhưng với mối liên hệ mạnh mẽ của mình với câu lạc bộ, George Ramsay là lựa chọn áp đảo của các thành viên. Vì vậy, ngày 26 tháng 6 năm 1886, Aston Villa đã bổ nhiệm người được mô tả là huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới.[23]

Trong mùa giải tiếp theo, Aston Villa vươn lên tầm quốc gia, trở thành đội bóng đầu tiên của Midlands vô địch Cúp FA vào năm 1887. Đội trưởng của Villa, trung phong người Scotland đầy sức mạnh Archie Hunter, trở thành một trong những tên tuổi đầu tiên của bóng đá, khi là cầu thủ đầu tiên ghi bàn ở mọi vòng của Cúp FA. Aston Villa là một trong 12 đội tham dự mùa giải khai mạc của Football League vào năm 1888, và một trong những giám đốc của câu lạc bộ, William McGregor, chính là người sáng lập giải đấu này. Sau khi bóng đá chuyên nghiệp hóa vào năm 1885, các câu lạc bộ cần nguồn thu nhập ổn định để trả lương cho cầu thủ. Các trận giao hữu thường xuyên bị hủy do đối thủ phải đá Cúp FA hoặc cúp cấp hạt, hoặc các câu lạc bộ đơn giản là không thực hiện lịch thi đấu để ưu tiên một trận đấu đem lại nhiều tiền hơn ở nơi khác.[24][25] McGregor hành động sau khi chứng kiến các trận đấu của Villa bị hủy trong năm ngày thứ Bảy liên tiếp, khiến người hâm mộ câu lạc bộ ngày càng thất vọng.[25] Tháng 3 năm 1888, ông viết thư cho ban điều hành câu lạc bộ của chính mình là Aston Villa, cũng như cho Blackburn Rovers, Bolton Wanderers, Preston North EndWest Bromwich Albion,[26] đề xuất việc thành lập một giải đấu sẽ bảo đảm số lượng trận đấu cố định cho các câu lạc bộ thành viên mỗi mùa giải.[27][28] Sau hai cuộc họp giữa đại diện các câu lạc bộ hàng đầu, mùa giải đầu tiên của Football League, giải đấu đầu tiên trên thế giới, bắt đầu vào tháng 9 năm 1888 với 12 câu lạc bộ thành viên đến từ Midlands và miền bắc nước Anh: Accrington, Aston Villa, Blackburn Rovers, Bolton Wanderers, Burnley, Derby County, Everton, Notts County, Preston North End, Stoke, West Bromwich Albion và Wolverhampton Wanderers.

Dù là một trong những đội sáng lập giải đấu, đến năm 1893 Villa vẫn chưa vô địch giải. Thành viên ủy ban câu lạc bộ Frederick Rinder là người khởi xướng một cuộc họp của câu lạc bộ tại Barwick Street vào tháng 2 năm 1893, cuộc họp đã loại bỏ ban điều hành đang quản lí câu lạc bộ khi đó. Tất cả 14 thành viên ban điều hành từ chức và được thay thế bằng một ủy ban gồm năm người do Rinder đứng đầu, sau khi ông có một bài phát biểu mạnh mẽ chỉ trích sự dung túng của ban lãnh đạo đối với tình trạng thiếu kỉ luật và việc cầu thủ uống rượu. Trên sân cỏ, huấn luyện viên George Ramsay đang xây dựng một đội bóng nổi tiếng với lối chơi phối hợp ngắn, nhanh, giúp Villa giành chức vô địch giải đầu tiên ở mùa giải 1893-94; mùa giải sau đó câu lạc bộ giành Cúp FA thứ hai ở mùa giải 1894-95. Sau đó là hai chức vô địch giải liên tiếp ở mùa giải 1895-96 và mùa giải 1896-97.

Aston Villa nổi lên như câu lạc bộ Anh thành công nhất của thời Victoria, giành không dưới năm chức vô địch giải và ba Cúp FA trước khi Queen Victoria băng hà vào năm 1901.[29] Đội trưởng của Villa trong thời kì này là tiền đạo sinh ra tại Birmingham John Devey, người tạo nên sự kết hợp thành công với cầu thủ chạy cánh cực nhanh Charlie Athersmith, trong khi hàng thủ Villa được chỉ huy bởi cầu thủ người Scotland James Cowan, người nổi tiếng với cảm giác thời điểm và khả năng phán đoán không ai sánh bằng.[30] Năm 1897, năm Villa giành cú đúp, câu lạc bộ chuyển tới sân nhà hiện tại của mình là Aston Lower Grounds.[31] Người hâm mộ đặt cho sân cái tên "Villa Park"; không có tuyên bố chính thức nào gọi sân là Villa Park.[32]

Thành công tiếp tục kéo dài sang thời Edward, khi Villa giành Cúp FA lần thứ tư vào mùa giải 1904-05, và chức vô địch giải lần thứ sáu ở mùa giải 1909-10. Một chiến thắng Cúp FA nữa diễn ra vào ngay trước thềm Chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1913, khi câu lạc bộ chỉ thiếu một chút nữa là giành cú đúp thứ hai, khi kết thúc mùa giải với vị trí á quân tại giải vô địch. Những cầu thủ ngôi sao của giai đoạn này gồm có Howard Spencer, hậu vệ điềm tĩnh từng làm đội trưởng cả Villa lẫn đội tuyển Anh, và cặp tiền đạo sung mãn Joe Bache cùng Harry Hampton, những người cùng nhau ghi 382 bàn thắng trong màu áo đỏ ánh tím và xanh da trời.

Sa sút tương đối và lần xuống hạng đầu tiên (1920-1939)

Một cầu thủ chỉ khoác áo một câu lạc bộ, Billy Walker (1897-1964) ghi 244 bàn sau 531 lần ra sân cho Villa trong giai đoạn 1920-1934. Ông là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại của Aston Villa.
Tom 'Pongo' Waring (1906-1980) ghi 50 bàn cho Villa ở mùa giải 1930-31, một chiến dịch lập kỉ lục khi đội ghi tới 128 bàn tại hạng đấu cao nhất.

Vào tháng 1 năm 1920, Billy Walker ghi hai bàn trong trận ra mắt cho Villa trong chiến thắng 2-1 trước QPR ở vòng Một Cúp FA; câu lạc bộ giành Cúp FA lần thứ sáu ở mùa giải đó và Walker sau đó khẳng định mình là ngôi sao của Villa trong thập niên 1920, ghi kỉ lục 244 bàn trong 531 lần ra sân, đồng thời làm đội trưởng của Villa và đội tuyển Anh. George Ramsay nghỉ hưu vào năm 1926, ở tuổi 71, và người kế nhiệm ông là Billy Smith không thể tiếp nối những thành công của Ramsay. Trên thực tế, một số câu lạc bộ bóng đá khác đã bắt kịp Aston Villa, đáng chú ý nhất là Arsenal, đội mà Villa về nhì sau họ tại giải vô địch ở mùa giải 1930-31 và mùa giải 1932-33. Dù không thể vô địch giải, khán giả tại Villa Park vẫn được thưởng thức lối đá tấn công; 128 bàn thắng ghi được ở mùa giải 1930-31 vẫn là kỉ lục mọi thời đại của hạng đấu cao nhất. Riêng trung phong Tom 'Pongo' Waring ghi tới 49 bàn tại giải trong mùa giải đó, trong khi cầu thủ chạy cánh Eric Houghton có thêm 30 bàn.

Câu lạc bộ bổ nhiệm Jimmy McMullan làm huấn luyện viên vào năm 1934, tuy nhiên quyết định này trở thành thảm họa, dẫn tới lần xuống hạng đầu tiên của Villa ở mùa giải 1935-36 sau 48 năm liên tục ở hạng đấu cao nhất. Villa gặp khó khăn chủ yếu vì thành tích phòng ngự tệ hại: họ để thủng lưới 110 bàn trong 42 trận, trong đó có 7 bàn do Ted Drake của Arsenal ghi trong thất bại tai tiếng 1-7 tại Villa Park.[33] Câu lạc bộ thực hiện bảy bản hợp đồng mới và chi khoản tiền khổng lồ vào thời điểm đó là 35.500 bảng để cố gắng giữ suất ở hạng đấu cao nhất bằng mọi giá, nhưng không thể thoát khỏi rắc rối chỉ bằng tiền bạc. Aston Villa, vào thời điểm đó là một trong những câu lạc bộ nổi tiếng và thành công nhất trong bóng đá thế giới, đã xuống hạng năm 1936 lần đầu tiên trong lịch sử.

Sau khi xuống chơi ở Second Division, ban lãnh đạo Villa đưa cựu chủ tịch câu lạc bộ Fred Rinder đã lớn tuổi trở lại, và khi trở lại ông nói rằng "Villa đã là một câu lạc bộ vĩ đại, vẫn là một câu lạc bộ vĩ đại, và sẽ luôn là một câu lạc bộ vĩ đại". Ông công khai chỉ trích ban lãnh đạo vì “gần như hoàn toàn bỏ bê đội dự bị, thay vào đó dựa vào việc trả phí chuyển nhượng lớn cho những cầu thủ đã thành danh”. Ông tin rằng sự thay đổi chính sách từ việc tuyển chọn và phát triển cầu thủ trẻ cây nhà lá vườn này đã dẫn đến sự suy giảm trong văn hóa và lối chơi của câu lạc bộ, cùng với sự dung túng cho tình trạng vô kỉ luật của cầu thủ, đã khiến Villa xuống hạng. Hành động đầu tiên của Rinder là tới Áo để tuyển mộ huấn luyện viên cấp tiến Jimmy Hogan làm huấn luyện viên trưởng. Chỉ sau hai mùa giải, Hogan đã đưa Villa trở lại hạng đấu cao nhất với tư cách nhà vô địch Second Division bằng lối chơi bóng đá phóng khoáng và hấp dẫn. Hogan nêu ra triết lí của mình: "Tôi là một người thầy và một người yêu bóng đá xây dựng, trong đó mỗi đường chuyền, mỗi cú đá, mỗi chuyển động đều có mục đích."[34] Ông thường nói với các cầu thủ của mình rằng "bóng đá giống như một điệu Viennese waltz, một khúc ngẫu hứng. Một-hai-ba, một-hai-ba, chuyền-di chuyển-chuyền, chuyền-di chuyển-chuyền."[35] Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt dự án khôi phục Aston Villa trở lại đỉnh cao bóng đá Anh của Hogan.

Tầm thường và bất mãn (1945-1961)

Giống như mọi câu lạc bộ Anh khác, Villa mất bảy mùa giải vì Chiến tranh thế giới thứ hai, và cuộc xung đột đó khiến nhiều sự nghiệp kết thúc sớm hơn dự kiến.[36] Đám đông khán giả lớn kéo tới Villa Park sau chiến tranh, với 76.588 người tới xem trận tứ kết Cúp FA giữa Villa và Derby County vào tháng 3 năm 1946, con số vẫn là kỉ lục khán giả mọi thời đại tại Villa Park. Đội bóng được xây dựng lại dưới sự dẫn dắt của cựu cầu thủ Alex Massie trong phần còn lại của thập niên 1940. Những cầu thủ ngôi sao của giai đoạn này gồm có người chỉ khoác áo một câu lạc bộ Harry Parkes, trung phong người xứ Wales Trevor Ford và tiền đạo lùi Johnny Dixon, tuy nhiên câu lạc bộ chỉ đạt những vị trí giữa bảng trong suốt thập niên 1940 và 1950, chưa bao giờ đứng cao hơn vị trí thứ sáu tại giải vô địch. Ban lãnh đạo phải đối mặt với sự chỉ trích ngày càng gia tăng trong thời gian này, với đại hội thường niên năm 1953 được Sports Argus mô tả là "cuộc họp của Villa dài nhất và sôi nổi nhất".[37] Các cổ đông và người ủng hộ chỉ trích câu lạc bộ vì thiếu phát triển cầu thủ trẻ, phương pháp tuyển mộ và huấn luyện lạc hậu. Khi Danny Blanchflower nộp đơn xin chuyển nhượng vào năm 1954, ông nói rằng "câu lạc bộ đã trở nên béo tốt và lười biếng trên những truyền thống cũ của mình, còn sự mục ruỗng đang ăn vào những nền móng từng rất vững chắc".[38]

Dù suýt xuống hạng ở mùa giải trước đó, danh hiệu đầu tiên của Aston Villa sau 37 năm đến ở mùa giải 1956-57 khi một cựu cầu thủ khác của Villa, Eric Houghton, đưa câu lạc bộ tới chiến thắng thứ bảy trong trận chung kết Cúp FA, khi đánh bại “Busby Babes” của Manchester United với tỉ số 2-1, trong đó cầu thủ chạy cánh người Bắc Ireland Peter McParland ghi cả hai bàn thắng.[39] Tuy nhiên, đội vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc duy trì sự ổn định tại giải vô địch, khiến Eric Houghton bị sa thải vào tháng 12 năm 1958. Người thay thế ông là Joe Mercer không thể ngăn câu lạc bộ xuống hạng lần thứ hai trong lịch sử ở mùa giải 1958-59. Tuy nhiên, dưới sự dẫn dắt của Mercer, Villa trở lại hạng đấu cao nhất vào năm 1960 với tư cách nhà vô địch Second Division, nhờ một đội hình trẻ tài năng được biết đến với tên gọi 'Mercer's Minors'. Ở mùa giải tiếp theo, Aston Villa trở thành đội đầu tiên vô địch Football League Cup, trong đó trung phong tuyển Anh Gerry Hitchens ghi tới 42 bàn thắng ấn tượng ở mùa giải 1960-61.[40]

Khủng hoảng sâu sắc và hồi sinh (1961-1974)

Những bàn thắng của Hitchens khiến ông lọt vào tầm ngắm của câu lạc bộ Ý Inter Milan, đội đã đưa ra một khoản đãi ngộ tài chính lớn để chiêu mộ ông. Ông được bán với giá 85.000 bảng vào mùa hè năm 1961, nhưng người thay thế là Derek Dougan không thành công và Villa trượt dài. Việc Mercer buộc phải nghỉ hưu khỏi câu lạc bộ vào tháng 7 năm 1964, sau một cơn đột quỵ do căng thẳng, báo hiệu một giai đoạn hỗn loạn và suy thoái sâu sắc. Câu lạc bộ thành công nhất nước Anh đã không theo kịp những thay đổi của bóng đá hiện đại; ba trong số năm thành viên ban giám đốc đều trên 70 tuổi, câu lạc bộ lơ là mạng lưới tuyển trạch và cơ cấu huấn luyện, còn tài chính của đội thì ở tình trạng nguy ngập. Điều này dẫn tới việc câu lạc bộ bán chân sút hàng đầu Tony Hateley cho Chelsea với giá 100.000 bảng vào tháng 10 năm 1966; không còn những bàn thắng của ông, Villa xuống hạng lần thứ ba trong lịch sử dưới thời huấn luyện viên Dick Taylor vào năm 1967. Ban lãnh đạo thậm chí còn bán sân tập của câu lạc bộ bên ngoài Villa Park để lấy đất xây nhà, khiến đội rơi vào cảnh phải tập nhờ trên các sân tập mượn của những đội bóng thuộc các nhà máy địa phương.[41]

Mùa giải tiếp theo, người hâm mộ kêu gọi ban lãnh đạo từ chức khi Villa kết thúc ở vị trí thứ 16 tại Second Division. Trong bối cảnh nợ nần chồng chất và Villa nằm ở cuối bảng Division Two, ban lãnh đạo sa thải Tommy Cummings (huấn luyện viên được đưa về thay Taylor), và chỉ trong vài tuần, toàn bộ ban lãnh đạo đều từ chức dưới sức ép áp đảo từ người hâm mộ.[42] Sau rất nhiều đồn đoán, quyền kiểm soát câu lạc bộ được nhà tài chính London Pat Matthews mua lại, người đã đưa Doug Ellis lên làm chủ tịch vào tháng 12 năm 1968.[42] Về sau Ellis nhớ lại rằng "bạn có thể viết tên mình trên lớp bụi, khung cửa sổ đang mục nát, mùi của thất bại và nguy cơ phá sản tài chính cận kề bao trùm trong không khí"; một trong những việc đầu tiên của họ là huy động 205.835 bảng thông qua phát hành cổ phần để xóa các khoản nợ của câu lạc bộ. Quyết định bổ nhiệm huấn luyện viên đầu tiên của Doug Ellis là nhà cầm quân Scotland thẳng tính Tommy Docherty, người sau khởi đầu ban đầu thuận lợi đã bị sa thải sau 13 tháng cầm quân khi đội bóng đang đứng cuối Second Division. Người thay thế ông là cựu đội trưởng câu lạc bộ kiêm huấn luyện viên đội dự bị Vic Crowe, nhưng ông cũng không thể ngăn Villa xuống Division Three lần đầu tiên trong lịch sử vào cuối mùa giải 1969-70.

Mùa giải sau đó, Villa gây bất ngờ cho tất cả khi đánh bại Manchester United ở bán kết hai lượt để vào tới chung kết League Cup 1971, nơi đội chơi tốt nhưng bị đánh bại bởi hai bàn thắng muộn của Tottenham Hotspur. Một cảm giác lạc quan mới xuất hiện tại Villa Park khi câu lạc bộ thăng hạng lên Second Division với tư cách đội vô địch cùng lượng khán giả trung bình 30.000 người và kỉ lục 70 điểm ở mùa giải 1971-72.[43] Bên ngoài sân cỏ, ban lãnh đạo đã mua khu Bodymoor Heath Training Ground mới rộng 20 mẫu Anh vào tháng 12 năm 1971, với mục tiêu cải thiện công tác phát triển cầu thủ trẻ và cơ sở vật chất huấn luyện của câu lạc bộ.[44]

Trở lại với hàng ngũ ưu tú (1974-1992)

Đội trưởng Aston Villa Dennis Mortimer nâng cao Cúp C1 châu Âu vào năm 1982.

Sau khi kết thúc ở vị trí thứ 14 tại Second Division, Crowe bị thay thế vào tháng 8 năm 1974 bởi Ron Saunders. Ông là người cực kì coi trọng thể lực, và phong cách quản lí cứng rắn, thẳng thắn của ông proved hiệu quả, khi câu lạc bộ vô địch League Cup ở mùa giải tiếp theo và, vào cuối mùa giải 1974-75, ông đã đưa Aston Villa trở lại First Division cũng như trở lại đấu trường châu Âu.[45] Một cầu thủ là trụ cột của Villa xuyên suốt hành trình đầy thăng trầm từ các lần xuống hạng tới giai đoạn phục hưng sau đó là thần tượng của người hâm mộ Charlie Aitkin, người có 659 lần ra sân ở vị trí hậu vệ trái cho câu lạc bộ trong giai đoạn 1959-1976, qua đó trở thành cầu thủ giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất trong lịch sử Villa.

Aston Villa thực sự trở lại với nhóm tinh hoa khi Saunders tiếp tục xây dựng một đội bóng chiến thắng, kết thúc ở vị trí thứ tư tại giải vô địch và giành thêm một League Cup nữa ở mùa giải 1976-77, với cặp tiền đạo đáng gờm Brian Little và Andy Gray, người trở thành cầu thủ đầu tiên giành cả PFA Young Player of the Year lẫn PFA Players' Player of the Year trong cùng một mùa giải.

Thập niên 1970 là một thời kì đầy bất ổn trong phòng họp tại Villa Park. Ron Saunders có mối quan hệ căng thẳng với Doug Ellis, không hài lòng trước điều mà ông cho là Doug can thiệp vào các vấn đề bóng đá. Theo thời gian, Ellis trở thành một nhân vật bị cô lập trong ban lãnh đạo, khi các giám đốc khác đứng về phía Saunders. Ông bị phế truất khỏi vị trí chủ tịch vào năm 1975 để nhường chỗ cho Sir William Dugdale. Ellis vẫn ở trong ban lãnh đạo tới năm 1979, khi ông rời câu lạc bộ sau một cuộc đấu quyền lực kéo dài với cổ đông lớn Ron Bendall. Khi Ellis ra đi, Saunders trở thành người có quyền lực gần như tuyệt đối trên cương vị huấn luyện viên.

Villa giành chức vô địch hạng đấu cao nhất lần thứ bảy ở mùa giải 1980-81, với những cầu thủ như Gordon Cowans, Tony Morley và đội trưởng Dennis Mortimer dẫn dắt câu lạc bộ tới chức vô địch hạng đấu cao nhất đầu tiên sau 71 năm. Đáng chú ý, họ làm được điều đó chỉ với 14 cầu thủ được sử dụng, trong đó có bảy cầu thủ ra sân ở mọi trận. Tiền đạo sinh ra tại Birmingham của Villa là Gary Shaw được bầu là PFA Young Player of the Year mùa giải 1980-81.

Trước sự ngạc nhiên của các nhà bình luận và người hâm mộ, Ron Saunders từ chức giữa chừng ở mùa giải 1981-82, khi Villa đang ở tứ kết Cúp C1 châu Âu. Saunders bày tỏ sự chán nản với ban lãnh đạo vì không có đủ ngân sách để ông tăng cường đội hình và bất hòa với chủ tịch Ron Bendall về các điều khoản trong hợp đồng của mình.[46] Ông được thay thế bởi trợ lí huấn luyện viên ít nói Tony Barton, người đã đưa câu lạc bộ tới chiến thắng 1-0 trước Bayern Munich trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1982 tại Rotterdam nhờ bàn thắng của Peter Withe ở phút 67. Mới 10 phút sau khi trận chung kết bắt đầu, thủ môn số một của Villa là Jimmy Rimmer bị chấn thương và thủ môn dự bị trẻ Nigel Spink được tung vào sân, khi trước đó anh mới chỉ có một lần ra sân cho đội một. Spink chơi xuất sắc, giữ sạch lưới và giúp Villa trở thành câu lạc bộ Anh thứ tư nâng cao Cúp C1 châu Âu.

Ở tiền cảnh là hai người đàn ông đang cầm một chiếc cúp lớn, họ đeo khăn quàng màu claret và huy chương quanh cổ. Xung quanh họ là mười cựu cầu thủ mặc vest với huy chương và khăn quàng trên cổ
Đội hình vô địch Cúp C1 châu Âu 1982 kỉ niệm 25 năm chiến thắng của mình.

Mùa giải tiếp theo, hành trình bảo vệ Cúp C1 châu Âu kết thúc ở tứ kết trước Juventus, nhưng Villa đã vô địch Siêu cúp châu Âu sau khi đánh bại Barcelona với tổng tỉ số 3-1. Tuy nhiên, đó cũng là đỉnh cao, và vận mệnh của Villa sa sút mạnh trong phần lớn thập niên 1980. Doug Ellis trở lại làm chủ tịch kiêm cổ đông lớn vào tháng 11 năm 1982. Câu lạc bộ phải gánh những khoản nợ đáng kể và cảnh sát đặt ra nghi vấn về các hoạt đặt ra nghi vấn về các hoạt động tài chính gian lận xoay quanh việc xây dựng Khán đài Bắc tại Villa Park từ năm 1980 tới năm 1982. Chi phí của công trình là 1,3 triệu bảng. Một cuộc điều tra nội bộ phát hiện rằng 700.000 bảng trong tổng số hóa đơn trị giá 1,3 triệu bảng không thể giải trình được.[47] Một báo cáo sau đó của hãng kiểm toán Deloitte cho thấy có "những vi phạm nghiêm trọng đối với các quy tắc thực hành được khuyến nghị và sự giám sát công trường yếu kém".[48] Ellis ngay lập tức bắt tay vào việc cắt giảm chi phí hoạt động của câu lạc bộ. Ông thông báo với các cầu thủ rằng họ cần chấp nhận giảm lương và nói với huấn luyện viên Tony Barton rằng cần phải tinh giản đội hình thi đấu.[49] Đội hình do Saunders xây dựng bị chia tách và không được thay thế tương xứng, khiến câu lạc bộ xuống hạng vào năm 1987, chỉ năm năm sau khi Villa được xướng tên là nhà vô địch châu Âu.[50]

Tuy vậy, Villa nhanh chóng hồi phục, giành quyền thăng hạng ngay ở mùa giải tiếp theo dưới sự dẫn dắt của Graham Taylor, rồi đạt vị trí á quân ở hạng đấu cao nhất trong mùa giải 1989-90 với một đội hình chất lượng có Paul McGrath, Tony Daley và David Platt.[51] Sau thành công này, Graham Taylor nhận lời dẫn dắt đội tuyển Anh vào năm 1990.

24 năm tại Premier League (1992-2016)

Villa là một trong những thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992, là một trong chỉ ba câu lạc bộ từng là thành viên sáng lập của cả Football League năm 1888 và Premier League, cùng với Blackburn RoversEverton. Villa kết thúc ở vị trí á quân sau Manchester United trong mùa giải khai mạc dưới thời huấn luyện viên Ron Atkinson. Đội bóng của ông giành League Cup vào năm 1994, đánh bại Manchester United 3-1 trong trận chung kết với các bàn thắng của Dalian Atkinson và Dean Saunders, nhưng đội lại thi đấu thiếu ổn định tại giải vô địch và Atkinson bị thay thế bởi cựu tiền đạo Villa Brian Little vào tháng 11 năm 1994. Little xây dựng một đội hình trẻ gồm những cầu thủ như Gareth Southgate, Steve Staunton, Ian Taylor và Dwight Yorke, đưa câu lạc bộ tới chức vô địch League Cup lần thứ năm vào năm 1996 khi đánh bại Leeds United 3-0 tại Wembley. Villa đứng thứ tư tại giải mùa giải đó, và thứ năm ở mùa giải sau.

Sau một giai đoạn sa sút phong độ, Doug Ellis sa thải Little và thay ông bằng một cựu cầu thủ Villa khác là John Gregory vào tháng 2 năm 1998. Một trong những trận đầu tiên ông phụ trách là trận tứ kết UEFA Cup gặp Atlético Madrid, trận đấu mà Villa thua theo luật bàn thắng sân khách sau hai lượt. Vào mùa hè năm 1998, Yorke được chuyển tới Manchester United với giá 12,6 triệu bảng. Gregory giúp đội có bốn lần kết thúc trong tốp 8 của giải vô địch và đưa câu lạc bộ tới chung kết Cúp FA năm 2000 với một đội hình gồm David James, Dion Dublin, Paul Merson và Gareth Barry, nhưng ông không thể xây dựng được một đội hình đủ sức cạnh tranh suất dự Champions League. Cuối mùa giải đó, đội trưởng của Villa là Gareth Southgate nộp đơn xin chuyển nhượng, cho rằng "nếu tôi muốn đạt được điều gì đó trong sự nghiệp của mình, đã đến lúc phải bước tiếp".[52] Sự thất vọng của Gregory trước việc đội hình không được đầu tư khiến ông công khai cáo buộc Ellis là người "mắc kẹt trong một vòng lặp thời gian"; mối quan hệ giữa hai người tiếp tục căng thẳng cho tới khi Gregory từ chức vào tháng 1 năm 2002.[53][54]

Ellis bổ nhiệm Graham Taylor cho nhiệm kì thứ hai vào tháng 2 năm 2002, nhưng vị trí thứ 16 tại giải khiến ông bị thay thế bởi David O'Leary vào tháng 6 năm 2003. Sau vị trí thứ sáu ở mùa giải đầu tiên, Villa lần lượt đứng thứ 10 rồi thứ 16, khiến O'Leary rời đội vào mùa hè năm 2006.[55]

Gareth Barry là cầu thủ giữ kỉ lục số lần ra sân cho Villa tại Premier League.

Sau 23 năm làm chủ tịch và là cổ đông cá nhân lớn nhất (xấp xỉ 38%), Ellis bán cổ phần của mình tại Aston Villa vì lí do sức khỏe ở tuổi 82. Doanh nhân người Mỹ Randy Lerner, chủ sở hữu đội NFL là Cleveland Browns, hoàn tất việc tiếp quản vào tháng 9 năm 2006.[56] Sự xuất hiện của Lerner trên cương vị chủ sở hữu mới và của huấn luyện viên Martin O'Neill đánh dấu khởi đầu của một thời kì lạc quan mới tại Villa Park, với những thay đổi sâu rộng diễn ra trong toàn bộ câu lạc bộ, bao gồm huy hiệu mới, đầu tư vào các cơ sở hiện đại tại Bodymoor Heath Training Ground và đầu tư đáng kể vào đội hình trong mùa hè năm 2007.[57][58] Trận chung kết cúp đầu tiên của kỉ nguyên Lerner đến vào năm 2010 khi Villa bị đánh bại 1-2 trong trận chung kết League Cup.[59]

Chỉ năm ngày trước ngày khai mạc mùa giải 2010-11, O'Neill từ chức huấn luyện viên, bất chấp việc đội đã có ba mùa giải liên tiếp đứng thứ sáu, vì thất vọng trước việc đội hình thiếu được đầu tư sau khi các ngôi sao Gareth Barry, James MilnerAshley Young bị bán đi.[60] Người kế nhiệm ông là Gérard Houllier phải rời vị trí vì lí do sức khỏe vào tháng 9 năm 2011, và được thay bằng huấn luyện viên của Birmingham City là Alex McLeish, bất chấp sự phản đối của người hâm mộ đối với việc bổ nhiệm này.[61] Hợp đồng của McLeish bị chấm dứt vào cuối mùa giải 2011-12 sau khi Villa kết thúc ở vị trí thứ 16,[62] và ông được thay thế bởi Paul Lambert.[63]

Vào tháng 2 năm 2012, câu lạc bộ công bố khoản lỗ tài chính 53,9 triệu bảng,[64] và Lerner đưa câu lạc bộ lên thị trường ba tháng sau đó.[65] Dù Lerner vẫn còn ở lại, nhưng không muốn chi tiêu sau cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán năm 2008, câu lạc bộ trở nên thiếu sức cạnh tranh trong nhiều mùa giải, đỉnh điểm là mùa giải 2014-15, khi Lambert bị sa thải vào tháng 2 năm 2015 sau khi đội chỉ ghi được 12 bàn trong 25 trận đầu tiên tại giải, mức thấp nhất trong lịch sử Premier League.[66] Tim Sherwood thay thế ông,[67] và giúp câu lạc bộ tránh xuống hạng đồng thời đưa đội tới Chung kết Cúp FA 2015. Tuy nhiên, câu lạc bộ bán hai ngôi sao là Christian Benteke và đội trưởng Fabian Delph trong kì chuyển nhượng mùa hè mà không thay thế tương xứng. Villa gặp rất nhiều khó khăn ở mùa giải 2015-16, và Sherwood bị sa thải sau sáu trận thua liên tiếp.[68] Ông được thay bằng Rémi Garde, nhưng Garde ra đi chỉ sau năm tháng khi Villa đứng cuối bảng; quãng thời gian ông dẫn dắt bao gồm chuỗi 19 trận không thắng, dài nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Câu lạc bộ xuống hạng vào cuối mùa giải, khép lại 29 năm liên tiếp thi đấu ở hạng đấu cao nhất.[69]

Từ Championship tới Champions League (2016-nay)

Vào tháng 6 năm 2016, doanh nhân Trung Quốc Tony Xia mua câu lạc bộ với giá 76 triệu bảng.[70] Cựu huấn luyện viên Chelsea Roberto Di Matteo được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ, nhưng bị sa thải chỉ sau 12 trận do khởi đầu mùa giải tệ hại.[71] Ông được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Birmingham là Steve Bruce.[72] Bruce đưa đội kết thúc ở vị trí thứ tư trong mùa giải 2017-18, nhưng lại để thua Fulham trong 2018 EFL Championship play-off final.

Sau khi không thể giành quyền thăng hạng lên Premier League, câu lạc bộ đối mặt với những khó khăn tài chính nghiêm trọng. Trước những tin đồn rằng việc đặt dưới quyền quản trị tài chính sắp xảy ra, Xia tìm cách bán câu lạc bộ.[73] Ngày 20 tháng 7 năm 2018, thông báo chính thức cho biết NSWE Group, một liên danh gồm tỉ phú Ai Cập Nassef Sawiris và tỉ phú Mỹ Wes Edens, sẽ đầu tư vào câu lạc bộ bóng đá. Họ mua lại 55% cổ phần kiểm soát của câu lạc bộ, và Sawiris tiếp quản vai trò chủ tịch câu lạc bộ, đồng thời bổ nhiệm Christian Purslow làm giám đốc điều hành.[74]

Năm 2021, Aston Villa bán Jack Grealish cho Manchester City với mức giá kỉ lục nước Anh là 100 triệu bảng.

Vào tháng 10 năm 2018, Bruce bị sa thải sau khi chỉ thắng một trận trong chuỗi chín trận đấu.[75] Ông được thay bằng huấn luyện viên Brentford và là người hâm mộ Villa từ nhỏ Dean Smith,[76][77] người đưa đội tới vị trí thứ năm và thêm một lần lọt vào play-off — được hỗ trợ bởi chuỗi 10 trận thắng liên tiếp tại giải, dài nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Đội vào tới 2019 EFL Championship play-off final và đánh bại Derby County 2-1 để thăng hạng trở lại Premier League sau ba năm vắng bóng.[78]

Ngay trước khi Villa trở lại Premier League, phần sở hữu thiểu số của Recon Group được NSWE mua lại, đồng nghĩa với việc Xia không còn bất kì cổ phần nào trong câu lạc bộ.[79] Mùa giải đầu tiên trở lại Premier League của Villa chứng kiến một cuộc đại tu lớn đội hình, với 12 cầu thủ được kí hợp đồng trong kì chuyển nhượng mùa hè. Đội phải chiến đấu để trụ hạng trong phần lớn mùa giải, nhưng trụ hạng thành công ở vòng cuối cùng với vị trí thứ 17.[80] Ở mùa giải thứ hai sau khi trở lại Premier League, Smith giúp đội kết thúc ở vị trí thứ 11, nhưng không thể thuyết phục ngôi sao kiêm đội trưởng Jack Grealish ở lại câu lạc bộ sau khi Manchester City kích hoạt điều khoản giải phóng hợp đồng của anh bằng mức giá kỉ lục nước Anh là 100 triệu bảng. Sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2021-22, với bảy thất bại trong 11 trận đầu tiên của câu lạc bộ, Dean Smith bị sa thải.[81]

Aston Villa bổ nhiệm cựu đội trưởng Liverpool và đội tuyển Anh Steven Gerrard làm huấn luyện viên trưởng vào ngày 11 tháng 11 năm 2021.[82] Sau khởi đầu kém cỏi ở mùa giải 2022-23, khi Villa chỉ thắng hai trận và ghi vỏn vẹn bảy bàn trong 11 trận mở màn, Gerrard bị sa thải vào tháng 10 năm 2022,[83] và được thay bằng huấn luyện viên người Tây Ban Nha từng bốn lần vô địch Europa LeagueUnai Emery.[84] Ông đưa Villa tới vị trí thứ bảy và giành quyền dự Europa Conference League ngay trong mùa giải đầu tiên của mình.[85] Ở mùa giải 2023-24, Emery dẫn dắt câu lạc bộ vào tới bán kết Conference League,[86] nơi đội bị Olympiacos loại, và đồng thời kết thúc ở vị trí thứ tư tại giải vô địch, qua đó giành quyền tham dự UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 1982-83.[87] Ở chiến dịch Champions League 2024-25 sau đó, đội vào tới tứ kết trước khi thua với tổng tỉ số 4-5 trước nhà vô địch sau cùng Paris Saint-Germain.[88]

Vào tháng 2 năm 2026, Aston Villa được đưa tin là đang đối mặt với khoản phạt thứ hai từ UEFA vì vi phạm các quy định tài chính khi vượt quá giới hạn chi phí đội hình cho mùa giải 2025.[89]

Màu sắc và huy hiệu

Trang phục bóng đá (áo trắng với hai sọc đỏ dọc lớn; quần đùi đỏ có sọc bên hông; và tất trắng)
Mẫu trang phục được đề xuất của Villa năm 1886[90]

Màu áo của câu lạc bộ là áo màu claret với tay áo xanh da trời, quần trắng có viền claret và xanh da trời, cùng tất xanh da trời có viền claret và trắng. Đây là đội bóng đầu tiên sử dụng màu claret và xanh da trời. Ở buổi đầu, màu sắc của Villa là mũ và tất xanh hoàng gia, áo đấu “sọc” xanh hoàng gia và đỏ scarlet (trong ngữ cảnh thời đó, nghĩa là sọc ngang), cùng quần trắng kiểu knickerbockers, trong đó một điều lệ của câu lạc bộ quy định rằng “không thành viên nào được tham gia trận đấu nếu không mặc bộ đồng phục nói trên”.[91] Trong vài năm sau đó (1877-79), đội từng mặc nhiều bộ trang phục khác nhau, từ toàn trắng, xanh và đen, đỏ và xanh cho tới xanh lục trơn. Đến năm 1880, áo đen có thêu hình sư tử chồm Scotland trên ngực được hai thủ lĩnh người Scotland của Villa là William McGregor và George Ramsay giới thiệu. Đây là trang phục chính trong sáu năm. Vào thứ Hai, ngày 8 tháng 11 năm 1886, một ghi chép trong sổ biên bản chính thức của câu lạc bộ nêu rõ:

(i) Đề xuất và tán thành rằng màu áo sẽ là màu chocolate và xanh da trời, và chúng ta sẽ đặt hai tá.

(ii) Đề xuất và tán thành rằng ông McGregor được yêu cầu cung cấp chúng với báo giá thấp nhất.

Màu chocolate về sau trở thành claret.[90] Không ai thực sự chắc chắn vì sao claret và xanh da trời lại trở thành màu sắc chính thức của câu lạc bộ.[90] Một số đội bóng khác cũng sử dụng, hoặc từng sử dụng, màu claret và xanh da trời, trong đó có West Ham United, Burnley, Scunthorpe United và câu lạc bộ Thổ Nhĩ Kì Trabzonspor.[92][93] Crystal Palace cũng từng mặc màu áo của Villa cho tới thập niên 1970.

Một huy hiệu mới được công bố vào tháng 5 năm 2007, dành cho mùa giải 2007-08 và những mùa giải sau đó. Huy hiệu mới có thêm một ngôi sao để tượng trưng cho chức vô địch Cúp C1 châu Âu năm 1982, và có nền xanh da trời phía sau hình “sư tử chồm” của Villa. Khẩu hiệu truyền thống "Prepared" vẫn được giữ trên huy hiệu, còn tên Aston Villa được rút gọn thành AVFC, với FC được lược bỏ khỏi huy hiệu trước đó. Hình sư tử giờ đây là một khối thống nhất thay vì những phần sư tử tách rời như trước. Randy Lerner đã kêu gọi người hâm mộ hỗ trợ thiết kế huy hiệu mới.[57]

Tập tin:Aston Villa F.C. logo.svg
Huy hiệu chỉ dùng trên trang phục thi đấu ở mùa giải 2023-24.

Ngày 6 tháng 4 năm 2016, câu lạc bộ xác nhận rằng sẽ sử dụng một huy hiệu mới từ mùa giải 2016-17 sau khi tham khảo ý kiến các nhóm người hâm mộ. Hình sư tử trong huy hiệu mới được thêm móng vuốt, còn từ "Prepared" bị loại bỏ כדי tăng kích thước của hình sư tử và chữ viết tắt của câu lạc bộ trên huy hiệu.[11] Vào tháng 11 năm 2022, sau một cuộc bỏ phiếu do người hâm mộ dẫn dắt, câu lạc bộ thông báo sẽ áp dụng một huy hiệu mới cho mùa giải tiếp theo.[94] Việc sử dụng huy hiệu mới sau đó được chủ tịch phụ trách hoạt động kinh doanh của câu lạc bộ, Chris Heck, làm rõ rằng chỉ dành riêng cho trang phục thi đấu trên sân và đồ tập luyện, còn huy hiệu hiện tại vẫn tiếp tục được dùng làm huy hiệu chính trên ყველა kênh khác.[95] Vào tháng 5 năm 2024, câu lạc bộ quay trở lại với huy hiệu hình khiên.[96]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ

Các bảng về nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu được trình bày dưới đây:[90]

NămNhà sản xuất trang phụcNhà tài trợ áo đấuNhà tài trợ tay áoNhà tài trợ sau lưng
1974-1981UmbroKhông cóKhông cóKhông có
1981-1982Le Coq Sportif
1982-1983Davenports Brewery
1983-1984Không có
1984-1985Mita Copiers
1985-1987Henson
1987-1990Hummel
1990-1993Umbro
1993-1995AsicsMüller
1995-1998ReebokAST Computers
1998-2000LDV Vans
2000-2002DiadoraNTL
2002-2004Rover
2004-2006HummelDWS Investments
2006-200732Red
2007-2008Nike
2008-2010Acorns Children's Hospice
2010-2011FxPro
2011-2012Genting Casinos
2012-2013Macron
2013-2015Dafabet
2015-2016Intuit Quickbooks
2016-2017Under Armour
2017-2018UnibetRecon Group
2018-2019Luke 197732RedKhông có
2019-2020KappaW88BR88
2020-2021CazooLT.COM
2021-2022OB Sports
2022-2023CastoreKaiyun Sports
2023-2024BK8[97]Trade Nation[98]
2024-2025Adidas[99]Betano[100]Black Sabbath (League Cup)
2025–Không có

Trang phục của Aston Villa do các nhà sản xuất địa phương cung cấp cho tới năm 1974, khi Umbro trở thành nhà cung cấp trang phục đầu tiên có logo xuất hiện trên áo đấu của Villa. Nhà tài trợ áo đấu đầu tiên của Aston Villa là Davenports Breweries ở mùa giải 1982-83.[90] Aston Villa đã từ bỏ việc tài trợ thương mại trên áo đấu ở các mùa giải 2008-09 và 2009-10; thay vào đó quảng bá cho tổ chức từ thiện Acorns Children's Hospice, đây là thỏa thuận đầu tiên kiểu này trong lịch sử Premier League.[101] Sự hợp tác này kéo dài tới năm 2010 khi một nhà tài trợ thương mại thay thế Acorns, còn nhà dưỡng tế trở thành Đối tác từ thiện chính thức của câu lạc bộ.[102] Nhà tài trợ tay áo được sử dụng lần đầu tiên ở mùa giải 2019-20 với BR88 xuất hiện trên tay áo.[103] Vào tháng 8 năm 2025, Aston Villa công bố quan hệ đối tác với Red Bull, qua đó công ty này trở thành Đối tác nước tăng lực chính thức của câu lạc bộ.[104][105][106]

Sân vận động

Toàn cảnh Villa Park nhìn từ Trinity Road Stand, từ trái sang phải lần lượt là North Stand, Doug Ellis Stand và Holte End

Sân nhà hiện tại của Aston Villa là Villa Park; trước đó đội từng thi đấu tại Aston Park (1874-1876) và Wellington Road (1876-1897). Villa Park là sân vận động bóng đá lớn nhất vùng Midlands của Anh, và lớn thứ tám tại Anh. Sân đã tổ chức 16 trận quốc tế cấp đội tuyển quốc gia Anh, trận đầu tiên vào năm 1899 và trận gần nhất vào năm 2005. Vì vậy, đây là sân đầu tiên ở Anh tổ chức bóng đá quốc tế trong ba thế kỉ khác nhau.[107] Villa Park là sân được sử dụng nhiều nhất trong lịch sử các trận bán kết Cúp FA, khi đã tổ chức 55 trận bán kết. Năm 2022, câu lạc bộ công bố kế hoạch xây lại North Stand và một phần Trinity Road Stand, qua đó nâng sức chứa tối đa vượt mốc 50.000 chỗ.[108]

Sân tập hiện tại nằm tại Bodymoor Heath gần Kingsbury ở phía bắc Warwickshire, khu đất này được cựu chủ tịch Doug Ellis mua lại từ một nông dân địa phương vào đầu thập niên 1970. Dù Bodymoor Heath từng rất hiện đại trong thập niên 1970, tới cuối thập niên 1990 các cơ sở vật chất đã bắt đầu trở nên lạc hậu. Vào tháng 11 năm 2005, Ellis và Aston Villa plc công bố dự án tái phát triển Bodymoor trị giá 13 triệu bảng, theo hai giai đoạn. Sân tập mới được chính thức khánh thành ngày 6 tháng 5 năm 2007 bởi huấn luyện viên khi đó là Martin O'Neill, đội trưởng khi đó là Gareth Barry và đội trưởng đội vô địch Cúp C1 châu Âu năm 1982 là Dennis Mortimer, với việc đội hình Aston Villa chuyển tới sử dụng từ mùa giải 2007-08.[109]

Ngày 6 tháng 8 năm 2014, có thông báo rằng Villa Park sẽ xuất hiện trong loạt trò chơi điện tử FIFA từ FIFA 15, cùng với toàn bộ các sân vận động khác của Premier League đều được cấp phép đầy đủ kể từ trò chơi này trở đi.[110]

Aston Villa hoạt động dưới sự giám sát của Safety Advisory Group (SAG), cơ quan chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận an toàn cho các trận đấu diễn ra tại Villa Park, có tính tới cả các yếu tố vật lí lẫn an ninh. Năm 2023, trước một trận đấu tại UEFA Europa Conference League gặp Legia Warsaw, cổ động viên đội khách bị cấm vào sân sau các vụ đụng độ bên ngoài sân vận động.[111] Tương tự, vào tháng 11 năm 2025, cổ động viên của Maccabi Tel Aviv F.C. bị cấm tham dự một trận đấu thuộc UEFA Europa League tại Villa Park, chủ yếu do nguy cơ bạo lực từ phía cổ động viên Maccabi.[112][113][114]

Quyền sở hữu

Randy Lerner, chủ sở hữu câu lạc bộ Aston Villa trong giai đoạn 2006-2016

Những cổ phần đầu tiên của câu lạc bộ được phát hành vào cuối thế kỉ 19 như hệ quả của hệ thống pháp lí nhằm chuẩn hóa số lượng ngày càng tăng các đội bóng và cầu thủ chuyên nghiệp trong các giải bóng đá hiệp hội. Các đội thuộc FA buộc phải phân phối cổ phần cho nhà đầu tư như một cách tạo điều kiện giao dịch giữa các đội bóng mà không khiến chính FA bị liên đới. Việc giao dịch này tiếp tục trong phần lớn thế kỉ 20 cho tới khi Ellis bắt đầu mua gom nhiều cổ phần vào thập niên 1960. Ông là chủ tịch và cổ đông lớn của "Aston Villa F.C." trong giai đoạn 1968-1975, và là cổ đông chi phối từ năm 1982 tới năm 2006. Câu lạc bộ được niêm yết trên London Stock Exchange (LSE) vào năm 1996, và giá cổ phiếu biến động trong mười năm sau khi niêm yết.[115] Năm 2006, có thông báo rằng một số liên danh và cá nhân đang cân nhắc ra giá mua Aston Villa.[116]

Ngày 14 tháng 8 năm 2006, xác nhận rằng Randy Lerner, khi đó là chủ sở hữu của đội National Football League Cleveland Browns, đã đạt được thỏa thuận trị giá 62,6 triệu bảng với Aston Villa để tiếp quản câu lạc bộ. Lerner nắm toàn quyền kiểm soát ngày 18 tháng 9, còn Ellis cùng ban lãnh đạo của ông được Lerner thay thế bằng một ban lãnh đạo mới vào ngày 19 tháng 9 năm 2006.[116] Lerner tự bổ nhiệm mình làm chủ tịch câu lạc bộ, với Charles Krulak làm giám đốc không điều hành, còn Ellis được trao vị trí danh dự Chủ tịch danh dự suốt đời.[117] Lerner đưa câu lạc bộ lên bán vào tháng 5 năm 2014, với định giá khoảng 200 triệu bảng.[118]

Ngày 18 tháng 5 năm 2016, Randy Lerner đồng ý bán Aston Villa cho Recon Group, thuộc sở hữu của doanh nhân Trung Quốc Tony Xia. Thương vụ hoàn tất ngày 14 tháng 6 năm 2016 với mức giá được cho là 76 triệu bảng, sau khi được Football League chấp thuận.[119] Sau một giai đoạn chi tiêu mạnh tay nhưng không thể giành quyền thăng hạng lên Premier League ở trận chung kết play-off Championship 2017-18, khó khăn tài chính tại câu lạc bộ bắt đầu chồng chất. Giữa những tin đồn rằng Villa có nguy cơ rơi vào quản trị tài chính, Xia bắt đầu đàm phán bán câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2018.[120][73]

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, có thông báo rằng V Sports (khi đó có tên là NSWE Group), một liên danh gồm tỉ phú Ai Cập Nassef Sawiris và tỉ phú Mỹ Wes Edens, sẽ đầu tư vào câu lạc bộ bóng đá. Họ mua 55% cổ phần kiểm soát của câu lạc bộ, và Sawiris tiếp quản vai trò chủ tịch câu lạc bộ.[74] Trước khi V Sports mua câu lạc bộ vào năm 2018, từng có tin rằng cổ đông thiểu số của New York Yankees, Peter Freund, quan tâm tới việc mua lại câu lạc bộ với giá 75 triệu bảng.[121][122] Ngày 9 tháng 8 năm 2019, sau khi Villa thăng hạng lên Premier League, Companies House công bố rằng phần cổ phần còn lại của Xia đã được mua lại, và Xia không còn bất kì cổ phần nào trong câu lạc bộ.[79]

Ngày 15 tháng 12 năm 2023, Aston Villa thông báo rằng công ty đầu tư Mỹ Atairos, được Comcast hậu thuẫn, sẽ đầu tư vào V Sports, công ty mẹ tối cao của câu lạc bộ.[123] Thỏa thuận này, theo đó Atairos nắm khoảng 20% cổ phần tại V Sports, định giá Villa ở mức hơn 500 triệu bảng.[124] Thỏa thuận với Atairos được hoàn tất vào ngày 12 tháng 4 năm 2024, với việc giám đốc điều hành Atairos và cựu giám đốc tài chính Comcast Michael Angelakis được bổ nhiệm vào ban giám đốc của Villa.[125][126]

Trách nhiệm xã hội

Aston Villa có mối quan hệ đặc biệt với tổ chức từ thiện Acorns Children's Hospice, một mối quan hệ mang tính đột phá trong bóng đá Anh.[127] Trong một lần đầu tiên ở Premier League, Aston Villa đã dành phần trước áo đấu của mình, vốn thường được dành cho những hợp đồng tài trợ giá trị cao, cho Acorns Hospice để tổ chức từ thiện này có thêm sự hiện diện đáng kể và nhiều nguồn quĩ hơn.[128] Ngoài việc tài trợ trên áo đấu, câu lạc bộ còn chi trả cho dịch vụ chăm sóc tại nhà dưỡng tế cho tổ chức từ thiện, đồng thời thường xuyên tổ chức các chuyến thăm của cầu thủ tới những địa điểm của nhà dưỡng tế.[129][130]

Vào tháng 9 năm 2010, Aston Villa phát động một sáng kiến tại Villa Park mang tên Villa Midlands Food (VMF), trong đó câu lạc bộ sẽ dành hai năm để đào tạo học sinh về dịch vụ hiếu khách và sự kiện của Aston Villa, phối hợp với Hội đồng thành phố Birmingham. Câu lạc bộ mở một nhà hàng tại Trinity Road Stand với đội ngũ 12 học viên được tuyển trong phạm vi bán kính 10 dặm (16 km) quanh Villa Park, và phần lớn thực phẩm được phục vụ trong nhà hàng đều có nguồn gốc địa phương.[131]

Aston Villa Foundation

Năm 2016, Aston Villa thành lập một tổ chức từ thiện đã đăng kí mang tên Aston Villa Foundation.[132] Mục tiêu của tổ chức này là triển khai các hoạt động trách nhiệm xã hội của Aston Villa. Phối hợp cùng các đối tác chủ chốt ở địa phương và cấp quốc gia, quĩ thực hiện những dự án như bóng đá cộng đồng, hỗ trợ người khuyết tật, sức khỏe và hạnh phúc, giáo dục, can thiệp xã hội và quan hệ cộng đồng.[133]

Vào tháng 5 năm 2021, Prince William, Duke of Cambridge, đã gặp gỡ các thành viên của Foundation tại sân tập Bodymoor Heath của Aston Villa. Sự kiện này diễn ra sau khi Foundation cung cấp 1.000 suất ăn nóng mỗi tuần cho các tổ chức địa phương trong thời gian Đại dịch COVID-19 tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, đồng thời cho phép một NHS Trust địa phương sử dụng cơ sở vật chất của Villa Park.[134]

Cổ động viên và kình địch

Người hâm mộ Aston Villa tại Holte End của Villa Park, tự nhận mình là cầu thủ thứ 12 của đội

Aston Villa có một lượng người hâm mộ đông đảo và nhận được sự ủng hộ từ khắp vùng Midlands cũng như nhiều nơi khác, với các hội cổ động viên trải rộng trên toàn thế giới. Cựu giám đốc điều hành của Villa, Richard Fitzgerald, từng cho biết thành phần sắc tộc của người hâm mộ hiện nay là 98% da trắng. Khi chế độ của Randy Lerner tiếp quản Villa Park, họ đặt mục tiêu cải thiện sự ủng hộ từ các cộng đồng thiểu số sắc tộc. Một số tổ chức đã được thành lập để hỗ trợ cộng đồng địa phương, trong đó có Aston Pride.[135] Một chương trình Villa in the Community cũng được triển khai nhằm khuyến khích sự ủng hộ của giới trẻ trong khu vực.[136] Các chủ sở hữu mới cũng khởi xướng nhiều cuộc khảo sát nhằm thu thập ý kiến của người hâm mộ Villa và để họ tham gia vào quá trình ra quyết định. Các cuộc họp cũng được tổ chức ba tháng một lần, trong đó người hâm mộ được mời tham dự bằng hình thức bốc thăm và được đặt câu hỏi cho ban lãnh đạo.[137] Năm 2011, câu lạc bộ ủng hộ một sáng kiến do người hâm mộ khởi xướng nhằm tạo ra một bài ca chính thức để tăng bầu không khí tại Villa Park. Bài hát "The Bells Are Ringing" sẽ được phát trước các trận đấu.[138]

Giống như nhiều câu lạc bộ bóng đá Anh khác, Aston Villa từng có một số nhóm hooligan gắn liền với đội, gồm Villa Youth, Steamers, Villa Hardcore và C-Crew, trong đó nhóm cuối cùng hoạt động rất mạnh trong thập niên 1970 và 1980. Năm 2004, một số nhóm của Villa dính líu tới một vụ ẩu đả với cổ động viên QPR bên ngoài Villa Park, trong đó một nhân viên trật tự đã qua đời.[139] Cũng như trên toàn bộ bóng đá Anh, do những sự cố như vậy, các nhóm hooligan hiện đã bị đẩy ra bên lề.[140] Những nhóm cổ động viên chính hiện nay có thể được tìm thấy trong một số hội cổ động viên trong nước và quốc tế. Điều này bao gồm Hội cổ động viên chính thức Aston Villa, tổ chức cũng có nhiều chi hội nhỏ hơn ở các khu vực và quốc gia khác nhau.[141] Trong thời kì Doug Ellis điều hành, từng có một số hội cổ động viên độc lập, nhưng phần lớn đã giải thể sau khi ông nghỉ hưu.[117] Nhóm cổ động viên My Old Man Said được thành lập để bảo vệ quyền lợi của người hâm mộ Villa, như một hệ quả trực tiếp từ cuộc phản đối của cổ động viên Villa đối với việc câu lạc bộ bổ nhiệm Alex McLeish. Người hâm mộ của câu lạc bộ cũng xuất bản các fanzine như Heroes and VillainsThe Holy Trinity.

Đại kình địch của Aston Villa là Birmingham City, và các trận đấu giữa hai đội được gọi là Second City Derby.[9] Tuy nhiên, xét về mặt lịch sử, West Bromwich Albion có lẽ mới là đối thủ lớn nhất của Villa, một quan điểm được nhấn mạnh trong một cuộc khảo sát người hâm mộ thực hiện năm 2003.[142] Hai đội từng gặp nhau trong ba trận chung kết Cúp FA vào cuối thế kỉ 19. Villa cũng có những mối kình địch địa phương ít gay gắt hơn với Wolverhampton WanderersCoventry City. Do West Brom và Birmingham City xuống hạng xuống Football League Championship ở mùa giải 2005-06, vào đầu mùa giải Premiership 2006-07, Villa là câu lạc bộ duy nhất của vùng Midlands góp mặt tại giải đó. Đội đối thủ gần nhất mà Villa phải gặp trong mùa giải đó là Sheffield United, thi đấu cách khoảng 62 dặm (100 km) tại South Yorkshire.[143] Ở mùa giải 2010-11, West Bromwich Albion thăng hạng và gia nhập Aston Villa, Wolverhampton Wanderers cùng Birmingham City tại Premier League. Đây là lần đầu tiên bốn câu lạc bộ lớn của vùng West Midlands cùng hiện diện tại Premier League, và là lần đầu tiên họ cùng góp mặt ở hạng đấu cao nhất kể từ mùa giải 1983-84. Birmingham xuống hạng vào cuối mùa giải 2010-11, chấm dứt giai đoạn này.[144]

Mối kình địch với Birmingham City được khơi lại ở mùa giải 2016-17 khi Aston Villa xuống hạng khỏi Premier League.[145] Hai năm sau, họ được West Brom gia nhập,[146] nhưng Villa giành quyền trở lại Premier League vào năm 2019.[147]

Năm 2024, một nhóm cổ động viên mang tên 1897 Group – lấy theo năm mà câu lạc bộ lần đầu sử dụng Villa Park làm sân nhà – được thành lập với mục tiêu công khai là cải thiện bầu không khí bằng cả âm thanh lẫn hình ảnh trong các trận đấu của câu lạc bộ tại Villa Park. Sau một cuộc họp với các quan chức câu lạc bộ, 1897 Group được phân bổ một khu ghế trong Doug Ellis Stand cho một trận đấu Premier League gặp A.F.C. Bournemouth. Đây là sự khởi đầu cho sự hiện diện trực tiếp của nhóm tại các trận đấu.[148] 1897 Group cũng hỗ trợ tổ chức và thực hiện các màn trình diễn cờ và tifo tại Holte End của Villa Park cũng như ở những khu vực khác trong sân cho một số trận sân nhà của Villa. Ngoài ra, họ còn tổ chức và quảng bá các cuộc diễu hành của người hâm mộ Villa, trong đó các cổ động viên được nhóm khuyến khích tập trung tại một điểm hẹn định sẵn trong thị trấn hoặc thành phố nơi Villa thi đấu, rồi cùng nhau đi bộ tới sân vận động.[149][150]

Kỉ lục và thống kê

Biểu đồ cho thấy hành trình của Aston Villa F.C. trong hệ thống giải bóng đá Anh

Chiến dịch 2024-25 là mùa giải thứ 111 của Aston Villa tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Chỉ có Everton là thi đấu lâu hơn ở hạng đấu cao nhất, với 122 mùa giải,[151] khiến Aston Villa gặp Everton trở thành cặp đấu được chơi nhiều nhất trong lịch sử hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Aston Villa xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh vào năm 2016, sau khi đã góp mặt trong mọi mùa giải Premier League kể từ khi giải được thành lập ở mùa giải 1992-93, nhưng đã thăng hạng trở lại ở mùa giải 2018-19. Đội đứng thứ chín trong bảng xếp hạng mọi thời đại của Premier League, và có tổng số danh hiệu lớn cao thứ năm (20) trong số các câu lạc bộ Anh.[152]

Aston Villa hiện giữ kỉ lục số bàn thắng ghi được nhiều nhất bởi bất kì đội bóng nào ở hạng đấu cao nhất nước Anh; 128 bàn được ghi ở mùa giải 1930-31, nhiều hơn một bàn so với Arsenal, đội vô địch giải mùa đó lần đầu tiên, còn Villa về nhì.[153] Tiền đạo Archie Hunter của Villa trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn ở mọi vòng của Cúp FA trong hành trình vô địch năm 1887 của Villa. Chuỗi bất bại sân nhà dài nhất của Villa tại Cúp FA kéo dài 13 năm và 19 trận, từ năm 1888 tới năm 1901.[154]

Aston Villa là một trong sáu đội bóng Anh từng vô địch Cúp C1 châu Âu. Họ làm được điều đó vào ngày 26 tháng 5 năm 1982 tại Rotterdam, đánh bại Bayern Munich 1-0 nhờ bàn thắng của Peter Withe.[155] Tính đến năm 2024, Aston Villa chỉ xếp sau Tottenham Hotspur (79) về số lượng tuyển thủ Anh được cung cấp, với 77 cầu thủ Villa ra mắt đội tuyển Anh kể từ năm 1882.[156][157][158]

Danh hiệu

Aston Villa đã giành được cả danh hiệu châu Âu lẫn danh hiệu quốc nội tại giải vô địch. Danh hiệu gần nhất tại Anh của đội đến vào năm 1996 khi họ vô địch League Cup, còn gần đây nhất là chức vô địch 2001 UEFA Intertoto Cup.

Đội trưởng John Devey đứng trước chiếc Cúp FA mà câu lạc bộ giành được lần thứ hai vào năm 1895

Quốc nội

Ngôi sao trên Birmingham Walk of Stars dành cho đội Aston Villa đã trở thành nhà vô địch châu Âu năm 1982

Giải vô địch

Cúp

  • FA Cup
    • Vô địch (7): 1886-87, 1894-95, 1896-97, 1904-05, 1912-13, 1919-20, 1956-57
    • Á quân (4): 1891-92, 1923-24, 1999-2000, 2014-15
  • Football League Cup / EFL Cup
    • Vô địch (5): 1960-61, 1974-75, 1976-77, 1993-94, 1995-96
    • Á quân (4): 1962-63, 1970-71, 2009-10, 2019-20
  • FA Charity Shield
    • Vô địch: 1981
  • Sheriff of London Charity Shield
    • Vô địch: 1899, 1901

Châu Âu

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 2 tháng 2 năm 2026, bao gồm các cầu thủ trẻ đã có trận ra mắt tại giải vô địch.[163]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
2HVBa LanMatty Cash
3HVThụy ĐiểnVictor Lindelöf
4HVAnhEzri Konsa (đội phó)
5HVAnhTyrone Mings
6TVAnhRoss Barkley
7TVScotlandJohn McGinn (đội trưởng)
8TVBỉYouri Tielemans
9TVAnhHarvey Elliott (mượn từ Liverpool)
10TVArgentinaEmiliano Buendía
11AnhOllie Watkins
12HVPhápLucas Digne
14HVTây Ban NhaPau Torres
16HVTây Ban NhaAndrés García
18AnhTammy Abraham
SốVT Quốc giaCầu thủ
19AnhJadon Sancho (mượn từ Manchester United)
21TVBrasilDouglas Luiz (mượn từ Juventus)
22HVHà LanIan Maatsen
23TMArgentinaEmiliano Martínez
24TVBỉAmadou Onana
26HVHà LanLamare Bogarde
27TVAnhMorgan Rogers
28Hà LanZépiqueno Redmond
31JamaicaLeon Bailey
40TMHà LanMarco Bizot
44TVPhápBoubacar Kamara
47BrasilAlysson
53TVAnhGeorge Hemmings
83TVAnhBradley Burrowes

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
17Hà LanDonyell Malen (tại Roma đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
20TVAnhJamaldeen Jimoh-Aloba (tại West Bromwich Albion đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
29Bờ Biển NgàEvann Guessand (tại Crystal Palace đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
33AnhLewis Dobbin (tại Preston North End đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVArgentinaEnzo Barrenechea (tại Benfica đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
TMÚcJoe Gauci (tại Port Vale đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
AnhSamuel Iling-Junior (tại Pisa đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVSerbiaKosta Nedeljković (tại RB Leipzig đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TMBa LanOliwier Zych (tại Raków Częstochowa đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

U-21 và Học viện

Tính đến 27 tháng 8 năm 2025, những cầu thủ dưới 21 tuổi được liệt kê trong đội hình chính thức của đội một hoặc đã có trận ra mắt tại giải vô địch cấp đội một đã được liệt kê trong đội hình đội một ở trên; danh sách dưới đây bao gồm toàn bộ các cầu thủ học viện từng được điền tên vào danh sách đăng kí thi đấu của đội một trong một trận chính thức.[164]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
52TMAnhSam Proctor
60TMWalesRonnie Hollingshead [165]
64TMAnhJames Wright
65TMAnhSam Lewis
95TMAnhRhys Oakley
59HVColombiaYeimar Mosquera
71HVAnhTJ Carroll
73HVBắc IrelandCallum Moreland
HVScotlandKerr Smith
SốVT Quốc giaCầu thủ
61TVAi CậpOmar Khedr
66TVScotlandFletcher Boyd
68TVAnhTrai-Varn Mulley
69TVBắc IrelandCole Brannigan
74TVAnhLuka Lynch
79TVBờ Biển NgàMohamed Koné
83TVAnhBradley Burrowes
30AnhBrian Madjo [166]
67AnhMason Cotcher

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
34AnhLouie Barry (tại Stockport County đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
45HVAnhTriston Rowe (tại FC Annecy đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
51TVAnhKadan Young (tại Reading đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
54TVScotlandAidan Borland (tại Swindon Town đến ngày 31 tháng 5 năm 2026)
55HVAnhTravis Patterson (tại FC Annecy đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
57ScotlandRory Wilson (tại Sturm Graz đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
58HVThổ Nhĩ KỳYasin Özcan (tại Beşiktaş đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
62TVAnhBen Broggio (tại Falkirk đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
70TVAnhCharlie Pavey (tại Stourbridge đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
78TVAnhMax Lott (tại Stratford Town đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhI-lani Edwards (tại Leamington đến ngày 30 June)
HVAnhJosh Feeney (tại Huddersfield Town đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVWalesThierry Katsukunya (tại Real Unión đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhTommi O'Reilly (tại Crewe Alexandra đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVScotlandEwan Simpson (tại Hamilton Academical đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVAnhLino Sousa (tại Rotherham đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVHà LanSil Swinkels (tại Chesterfield đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhKane Taylor (tại Oldham Athletic đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Đội trưởng câu lạc bộ

Kể từ khi câu lạc bộ được thành lập vào năm 1874, đã có 45 cầu thủ giữ vai trò đội trưởng của Aston Villa. John Devey, người làm đội trưởng từ năm 1891 tới năm 1898, là đội trưởng thành công nhất của họ, khi dẫn dắt Villa tới năm chức vô địch giải và hai Cúp FA trong “Thời kì hoàng kim” của câu lạc bộ. Đội trưởng hiện tại là tuyển thủ Scotland John McGinn.

TênGiai đoạn
Anh Walter H. Price1874-1876
Scotland George Ramsay1876-1884
Scotland Archie Hunter1884-1891
Anh John Devey1891-1898
Anh Jimmy Crabtree1898-1902
Anh Howard Spencer1902-1906
Anh Joe Bache1906-1914
Anh Andy Ducat1919-1921
Anh Frank Barson1921-1922[167]
Anh Frank Moss1922-1927
Anh Billy Walker1927-1933
Anh Alec Talbot1933-1934
Anh Eric Houghton1934-1936
Wales Tom Griffiths1936-1937
Anh Jimmy Allen1937-1940
Scotland Alex Massie1940-1945
TênGiai đoạn
Scotland George Cummings1945-1949
Anh Dicky Dorsett1949-1951
Bắc Ireland Danny Blanchflower1951-1955
Anh Johnny Dixon1955-1959
Wales Vic Crowe1959-1964
Anh Alan Deakin1964-1966
Scotland Charlie Aitken1966-1973
Bắc Ireland Chris Nicholl1973-1974
Scotland Ian Ross1974-1976
Bắc Ireland Chris Nicholl1976-1977
Anh Dennis Mortimer1977-1984
Scotland Allan Evans1984-1989
Anh Stuart Gray1989-1992
Anh Kevin Richardson1992-1995
Cộng hòa Ireland Andy Townsend1995-1997
TênGiai đoạn
Anh Gareth Southgate1997-2001[168]
Anh Paul Merson2001-2002[169]
Cộng hòa Ireland Steve Staunton2002-2003[170]
Thụy Điển Olof Mellberg2003-2006[171]
Anh Gareth Barry2006-2009[172]
Đan Mạch Martin Laursen2008-2009[173]
Bulgaria Stiliyan Petrov2009-2012[174]
Hà Lan Ron Vlaar2012-2015[175]
Anh Gabriel Agbonlahor2015-2016[176]
Anh Tommy Elphick2016-2017[177]
Anh John Terry2017-2018[178]
Anh Jack Grealish2018-2021
Anh Tyrone Mings2021-2022[179]
Scotland John McGinn2022-[179]

Cầu thủ nổi bật

Andy Gray được bầu là PFA Players' Player of the Year và PFA Young Player of the Year vào năm 1977.

Đã có rất nhiều cầu thủ có thể được xem là nổi bật trong suốt lịch sử Aston Villa. Họ có thể được phân loại và ghi nhận dưới nhiều hình thức khác nhau. Hall of Fame và những cầu thủ giành danh hiệu PFA Players of the Year được ghi nhận dưới đây. Aston Villa từng có một số cầu thủ là người của một câu lạc bộ, trong đó có thành viên đầu tiên được đưa vào Hall of Fame của câu lạc bộ là Billy Walker. Năm 1998, để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá giải vô địch, The Football League công bố một danh sách mang tên Football League 100 Legends, gồm “100 cầu thủ bóng đá huyền thoại”. Có bảy cầu thủ trong danh sách từng thi đấu cho Villa: Danny Blanchflower, Trevor Ford, Archie Hunter, Sam Hardy, Paul McGrath, Clem Stephenson và Peter Schmeichel (người sau đó thi đấu cho Villa ba mùa giải).[180] Schmeichel sau đó được đưa vào Premier League Hall of Fame năm 2022, còn cựu đội trưởng kiêm huấn luyện viên của Villa John Terry được đưa vào năm 2024.[181][182]

Aston Villa từng có nhiều cầu thủ thành công ở cấp độ quốc tế trong thời gian họ khoác áo câu lạc bộ. Paul McGrath và Steve Staunton (Cộng hòa Ireland), cùng với Olof Mellberg (Thụy Điển), đều làm đội trưởng đội tuyển quốc gia của mình ở các kì World Cup 1990, 2002 và 2006.[183][184] McGrath có chín lần ra sân tại World Cup trong khi còn là cầu thủ Aston Villa, một kỉ lục đối với một cầu thủ Villa đang khoác áo câu lạc bộ.[184] Emiliano Martínez đã giành toàn bộ các lần khoác áo đội tuyển cấp cao Argentina của mình cho tới nay trong thời gian là cầu thủ Aston Villa, sau khi ra mắt vào tháng 6 năm 2021. Hiện anh là cầu thủ quốc tế giàu thành tích nhất của Aston Villa khi đã vô địch 2021 Copa América, 2022 Finalissima, 2022 FIFA World Cup2024 Copa América; anh cũng giành giải Golden Glove tại Copa América 2021 và 2024 cũng như World Cup 2022; anh hai lần được trao cả danh hiệu Thủ môn xuất sắc nhất FIFA lẫn Yashin Trophy trong giai đoạn từ năm 2022 tới năm 2024.[185][186][187][188][189][190]

Ba cầu thủ Aston Villa đã giành giải PFA Players' Player of the Year. Năm 1977, Andy Gray giành giải. Năm 1990, giải được trao cho David Platt, còn Paul McGrath giành giải ở năm 1993. PFA Young Player of the Year, danh hiệu trao cho các cầu thủ dưới 23 tuổi, đã được trao cho năm cầu thủ của Aston Villa: Andy Gray năm 1977; Gary Shaw năm 1981; Ashley Young năm 2009, James Milner năm 2010 và Morgan Rogers năm 2025.

Bảo tàng Bóng đá Quốc gia quản lí English Football Hall of Fame, nơi hiện có một đội hình của Villa, năm cầu thủ Villa và một huấn luyện viên. Đội hình vô địch Cúp C1 châu Âu năm 1982 được đưa vào Hall of Fame vào tháng 10 năm 2011.[191] Các cựu cầu thủ Aston Villa được nêu tên trong Hall of Fame gồm Clem Stephenson, Danny Blanchflower, Peter Schmeichel, Cyrille Regis và Paul McGrath; cùng với cựu huấn luyện viên Joe Mercer.

Năm 2006, câu lạc bộ thông báo thành lập Aston Villa Hall of Fame. Việc lựa chọn được người hâm mộ bỏ phiếu, và trong lần đầu tiên, 12 cựu cầu thủ, huấn luyện viên và giám đốc đã được vinh danh.[22] Cựu đội trưởng câu lạc bộ Stiliyan Petrov được bổ sung vào danh sách vào tháng 5 năm 2013.[192]

  • Anh Gordon Cowans
  • Anh Eric Houghton
  • Anh Brian Little
  • Anh Dennis Mortimer
  • Bulgaria Stiliyan Petrov
  • Anh Ron Saunders[c]
  • Anh Peter Withe
  • Cộng hòa Ireland Paul McGrath
  • Bắc Ireland Peter McParland
  • Scotland Charlie Aitken
  • Scotland William McGregor
  • Scotland George Ramsay
  • Anh Billy Walker[22]

Ban nhân sự không thi đấu

Cơ cấu điều hành

Nguồn:[193]
Vị tríTên
Chủ tịch điều hànhNassef Sawiris
Đồng chủ tịchWes Edens
Chủ tịch phụ trách hoạt động kinh doanhFrancesco Calvo[194]
Giám đốc thương mạiRon Erskine[195]
Giám đốc vận hànhBen Hatton[195]
Phó chủ tịch phụ trách nội dung và kĩ thuật sốRyan Disdier[195]

Cơ cấu chuyên môn

Unai Emery được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng vào tháng 11 năm 2022.
Vị tríTên
Huấn luyện viên trưởngUnai Emery[196]
Chủ tịch phụ trách hoạt động bóng đáRoberto Olabe[197]
Bộ phận huấn luyện đội một
Trợ lí huấn luyện viên trưởngPako Ayestarán[198]
Huấn luyện viên đội mộtPablo Villanueva[198]
Huấn luyện viên thủ mônFrancisco Javier Garcia[198]
Huấn luyện viên cá nhânRodri
Huấn luyện viên bóng chếtAustin MacPhee[199]
Bộ phận phân tích
Chuyên viên phân tích dữ liệu/videoVictor Manuel Manas[198]
Nhân sự thể lực và y tế
Trưởng bộ phận sức mạnh và thể lựcMoises de Hoyo[198]
Giám đốc hiệu suấtJeremy Oliver
Trưởng bộ phận vật lí trị liệuAlan Smith
Trưởng bộ phận y học và khoa học thể thaoRicky Shamji
Trưởng bộ phận tâm lí họcMartin Littlewood[200]
Tuyển mộ
Giám đốc hoạt động bóng đáDamian Vidagany[201]
Vai trò kĩ thuật toàn cầuAlberto Benito[202]
Trưởng bộ phận tuyển mộKhuyết
Trưởng bộ phận tài năng mới nổi và cho mượnAdam Henshall[203]
Trưởng bộ phận tuyển trạchAlex Fraser[204]
Tuyển trạch viênPablo Rodriguez[202]
Học viện
Giám đốc toàn cầu phụ trách phát triển bóng đá
và các học viện quốc tế
Matthew Kidson[205]
Giám đốc học việnMark Harrison[206]
Phó giám đốc học việnSean Verity
Huấn luyện viên trưởng Under-21Jimmy Shan[207]
Huấn luyện viên phát triển chuyên nghiệp Under-21Dan Green[208]
Huấn luyện viên phát triển chuyên nghiệp Under-21Peter Gilbert[208]
Quản lí chương trình tài năng mới nổiTony Carss[209]
Huấn luyện viên trưởng Under-18Richard Beale[210]
Huấn luyện viên phát triển chuyên nghiệp Under-18Adem Atay
Huấn luyện viên phát triển chuyên nghiệp Under-18Karl Hooper

[211][212]

Huấn luyện viên nổi bật

Các huấn luyện viên dưới đây đều đã giành ít nhất một danh hiệu trong thời gian dẫn dắt đội hoặc có dấu ấn đáng chú ý với Villa trong bối cảnh của giải vô địch, ví dụ như Jozef Vengloš, người nắm giữ một kỉ lục tại giải.

TênGiai đoạnTrậnThắngHòaThuaTỉ lệ thắng[d]Danh hiệu
TừTới
George Ramsay1 tháng 8 năm 188431 tháng 5 năm 1926&00000000000013270000001.327&0000000000000658000000658&0000000000000414000000414&00000000000002550000002550&000000000000004959000049,596 FA Cup, 6 chức vô địch Division One.[213] Được đưa vào Aston Villa Hall of Fame năm 2006.[192]
Jimmy Hogan1 tháng 11 năm 19361 tháng 9 năm 1939&0000000000000124000000124&000000000000005700000057&000000000000002600000026&0000000000000041000000410&000000000000004596999945,97Vô địch Division Two[214]
Eric Houghton1 tháng 9 năm 195330 tháng 11 năm 1958&0000000000000250000000250&000000000000008800000088&000000000000006500000065&0000000000000097000000970&000000000000003520000035,20Vô địch FA Cup. Được đưa vào Aston Villa Hall of Fame năm 2006.[215]
Joe Mercer1 tháng 12 năm 195831 tháng 7 năm 1964&0000000000000282000000282&0000000000000120000000120&000000000000006300000063&0000000000000099000000990&000000000000004254999942,55Vô địch Division Two, vô địch League Cup
Được đưa vào English Football Hall of Fame[216]
Ron Saunders4 tháng 6 năm 19749 tháng 2 năm 1982&0000000000000353000000353&0000000000000157000000157&000000000000009800000098&0000000000000098000000980&000000000000004447999944,482 League Cup, vô địch Division One. Được đưa vào Aston Villa Hall of Fame năm 2006.[217]
Tony Barton9 tháng 2 năm 198218 tháng 6 năm 1984&0000000000000130000000130&000000000000005800000058&000000000000002400000024&0000000000000048000000480&000000000000004461999944,62European Cup, European Super Cup[218]
Jozef Vengloš22 tháng 7 năm 199028 tháng 5 năm 1991&000000000000004900000049&000000000000001600000016&000000000000001500000015&0000000000000018000000180&000000000000003264999932,65Huấn luyện viên đầu tiên không đến từ Anh hoặc Ireland dẫn dắt một câu lạc bộ hạng đấu cao nhất ở Anh.[219]
Ron Atkinson7 tháng 7 năm 199110 tháng 11 năm 1994&0000000000000178000000178&000000000000007700000077&000000000000004500000045&0000000000000056000000560&000000000000004325999943,26Vô địch League Cup[220]
Brian Little25 tháng 11 năm 199424 tháng 2 năm 1998&0000000000000164000000164&000000000000006800000068&000000000000004500000045&0000000000000051000000510&000000000000004146000041,46Vô địch League Cup. Được đưa vào Aston Villa Hall of Fame năm 2006.[221]
John Gregory25 tháng 2 năm 199824 tháng 1 năm 2002&0000000000000190000000190&000000000000008200000082&000000000000005200000052&0000000000000056000000560&000000000000004315999943,16Vô địch Intertoto Cup[222]
Dean Smith10 tháng 10 năm 20187 tháng 11 năm 2021&0000000000000100000000100&000000000000004300000043&000000000000002000000020&0000000000000037000000370&000000000000004300000043,00Vô địch play-off Championship[223]

[224]

Trong văn hóa đại chúng

Một trong những bức tranh bóng đá sớm nhất trên thế giới, “Sunderland v. Aston Villa 1895” của Thomas M. M. Hemy, khắc họa một trận đấu giữa hai đội bóng Anh thành công nhất của thập niên đó.

Một đội hình Aston Villa, cùng với đội của Sunderland, là chủ đề của một trong những bức tranh bóng đá sớm nhất trên thế giới — có thể là sớm nhất — khi năm 1895 họa sĩ Thomas M. M. Hemy vẽ một bức tranh về trận đấu giữa hai đội tại sân Newcastle Road khi đó của Sunderland.[225]

Nhiều chương trình truyền hình đã nhắc tới Aston Villa trong vài thập niên qua. Trong loạt phim hài tình huống Porridge, nhân vật Lennie Godber là một cổ động viên của Villa.[226] Khi quá trình quay Dad's Army bắt đầu, người hâm mộ Villa Ian Lavender đã được phép chọn chiếc khăn của Frank Pike từ một loạt đạo cụ trong kho phục trang của BBC; ông chọn một chiếc khăn màu claret và xanh da trời — màu sắc của Aston Villa.[227] Nhân vật Nessa trong loạt phim hài tình huống của BBC Gavin & Stacey được tiết lộ là cổ động viên của Aston Villa trong một tập phát sóng vào tháng 12 năm 2009.[228]

Trong bộ phim năm 1952 The Card, nhân vật chính Denry Machin (Alec Guinness) trở thành một nghị viên thành phố và mua quyền sở hữu cầu thủ Aston Villa sinh ra tại địa phương tên 'Callear', “trung phong hay nhất nước Anh”, cho câu lạc bộ bóng đá địa phương đang sa sút.[229]

Villa cũng nhiều lần xuất hiện trong văn xuôi. Stanley Woolley, một nhân vật trong tiểu thuyết vào chung khảo Booker Goshawk Squadron của Derek Robinson, là một cổ động viên Aston Villa và nêu tên một đội hình xuất phát của Villa trước chiến tranh. Cùng với The Oval, Villa Park được nhà thơ Philip Larkin nhắc tới trong bài thơ về Chiến tranh thế giới thứ nhất của ông, MCMXIV.[230] Aston Villa cũng được nhắc thoáng qua trong vở kịch The Dumb Waiter của Harold Pinter.[231]Câu lạc bộ cũng được nhắc tới thoáng qua trong tiểu thuyết đầu tay Crome Yellow của Aldous Huxley.

Những người ủng hộ nổi bật của Aston Villa gồm có Hoàng tử William,[232] cựu Thủ tướng David Cameron, các nhạc sĩ Ozzy Osbourne và Geezer Butler của Black Sabbath, diễn viên Tom Hanks, nghệ sĩ violin Nigel Kennedy, golfer Justin Rose, và các diễn viên của loạt phim Harry Potter là David Bradley và Oliver Phelps.[233]

Aston Villa Women

Aston Villa có một đội bóng đá nữ thi đấu tại Women's Super League sau khi thăng hạng với tư cách nhà vô địch của FA Women's Championship 2019-20. Đội được thành lập với tên gọi Solihull F.C. vào năm 1973 và trở thành đội trực thuộc Aston Villa vào năm 1989.[234]

Chú thích

  1. 1 2 3 Cho tới năm 1992, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh là Football League First Division. Premier League thay thế First Division để trở thành cấp độ cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh khi được thành lập vào năm 1992. First Division sau đó trở thành cấp độ thứ hai của bóng đá Anh, Second Division trở thành cấp độ thứ ba, v.v. First Division nay được biết tới với tên gọi Football League Championship, còn Second Division nay là Football League One.
  2. 1 2 Năm 2001, Aston Villa là một trong ba đội đồng vô địch Intertoto Cup cùng với Paris Saint-Germain và Troyes. Câu lạc bộ cũng thắng tất cả các vòng đấu của mình tại Cúp Intertoto 2008 để được công nhận là đồng vô địch và giành quyền vào UEFA Cup; thể thức được thay đổi vào năm 2006 để trao Intertoto Trophy cho đội tiến xa nhất tại Cúp UEFA, đó là Braga.
  3. Saunders chưa từng là cầu thủ của Aston Villa; ông là huấn luyện viên của câu lạc bộ từ năm 1974 tới năm 1982.
  4. Tỉ lệ thắng được làm tròn đến hai chữ số thập phân.

Tham khảo

Cụ thể

  1. "Premier League Handbook 2025/26" (PDF).
  2. "Aston Villa: Wes Edens & Nassef Sawiris to make 'significant investment' in club". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019.
  3. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 161.
  4. "10 Oldest Clubs in the Football League". SQaF. ngày 20 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
  5. "All Time English Trophy Winners". Myfootballfacts.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
  6. "William McGregor". Spartacus Educational. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023.
  7. "Aston Villa". Goal.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010.
  8. "Premier League + 1. Division – All-time league table". worldfootball.net. ngày 12 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
  9. 1 2 Matthews, Tony (2000). "Aston Villa". The Encyclopedia of Birmingham City Football Club 1875-2000. Cradley Heath: Britespot. tr. 17. ISBN 978-0-9539288-0-4.
  10. Woodhall, Dave (2007). The Aston Villa Miscellany. Vision Sports Publishing Ltd. tr. 16. ISBN 978-1-905326-17-4.
  11. 1 2 "Introducing our badge for 2016/17" (Thông cáo báo chí). Aston Villa F.C. ngày 6 tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  12. "History comes to life with 'The Gas Lamp'". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  13. "The Original Aston Villa". Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026.
  14. A Football Jubilee, John Hughes, Sunday Mercury & Sunday News 9 March 1924
  15. "Birmingham Mail - Wednesday 24 October 1883". Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020 qua British Newspaper Archive.
  16. McCarthy, Nick (ngày 26 tháng 11 năm 2007). "Cup presented to Aston Villa founder member Jack Hughes is back with his family". Birmingham Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  17. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 6.
  18. "Mens | AVFC". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
  19. "George Ramsay". Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
  20. Grant, Michael; Robertson, Rob (2011). The Management: Scotland's Great Football Managers. Edinburgh: Birlinn. ISBN 978-1-78027016-6.
  21. McColl, Graham (1998). Aston Villa: 1874-1998. Hamlyn. ISBN 0600595293.
  22. 1 2 3 "Aston Villa Hall of Fame". Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2007.
  23. Lerwill, John (2009). The Aston Villa Chronicles 1874-1924. Aston Villa Ltd. tr. 198. ISBN 9780956286109.
  24. Phil Soar; Martin Tyler. Encyclopedia of British Football. tr. 162.
  25. 1 2 Davies, Hunter (2003). Boots, Balls and Haircuts: An Illustrated History of Football from Then to Now. Cassell Illustrated. tr. 39–41. ISBN 1-84403-261-2.
  26. Butler, Bryon (1987). The Football League 1888-1988 The Official Illustrated History. Macdonald Queen Anne Press. tr. 11. ISBN 0-356-15072-0.
  27. "Football League". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  28. "The Founding of the Football League". Scottish Football Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  29. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 192.
  30. Morris, Peter (1974). Aston Villa The First 100 Years.
  31. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; pp. 33-36.
  32. Hayes, Dean; p. 170.
  33. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 71.
  34. "'He'd get you doing stepovers' The intriguing story of an unappreciated Aston Villa legend". ngày 26 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2021.
  35. "Jimmy Hogan: The Englishman who inspired the Magical Magyars". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2021.
  36. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 75.
  37. Lerwill, John (2012). Aston Villa The First Superclub. Unknown Publisher. tr. 209. ISBN 978-0-9569833-1-2.
  38. Lerwill, John (2012). Aston Villa The First Superclub. Unknown Publisher. tr. 213. ISBN 978-0-9569833-1-2.
  39. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; pp. 86-87.
  40. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 93.
  41. James, Gary (2010). Joe Mercer Football with a Smile. James Ward. tr. 140. ISBN 978-0-9558127-4-3.
  42. 1 2 Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 100.
  43. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 106.
  44. Sydenham, Richard (2018). Ticket to the Moon. deCoubertin Books. tr. 19. ISBN 978-1-909245-76-1.
  45. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 111.
  46. Sydenham, Richard (2018). Ticket to the Moon. deCoubertin Books. tr. 155. ISBN 978-1-909245-76-1.
  47. Hayes, Dean, p.172
  48. Inglis, Simon (1997), p.188
  49. Sydenham, Richard (2018). Ticket to the Moon. deCoubertin Books. ISBN 978-1-909245-76-1.
  50. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 148.
  51. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; p. 155.
  52. "Southgate wants to quit Villa". BBC Sport. ngày 8 tháng 6 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2008.
  53. "Aston Villa". Football Club History Database. Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  54. "Chelsea claim FA Cup glory". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010.
  55. "O'Leary parts company with Villa". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  56. "Lerner set to complete Villa deal". BBC Sport. ngày 27 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  57. 1 2 "The Aston Villa Hit: The Current Crest". Aston Villa F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  58. "Villa secure new kit deal with Nike". ESPNsoccernet. ngày 7 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  59. McNulty, Phil (ngày 28 tháng 2 năm 2010). "Aston Villa 1-2 Man Utd". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2010.
  60. "Club Statement: Martin O'Neill". Aston Villa F.C. ngày 9 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
  61. "Aston Villa appoint Alex McLeish as manager". BBC Sport. ngày 17 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011.
  62. "Alex McLeish sacked as Aston Villa manager". BBC Sport. BBC. ngày 14 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012.
  63. "Aston Villa appoint Paul Lambert as new manager". BBC Sport. BBC. ngày 2 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
  64. "Aston Villa announce £53.9m loss for 2010-11 financial year". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  65. "Aston Villa: Owner Randy Lerner puts club up for sale". BBC Sport. ngày 12 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014.
  66. "Aston Villa: Paul Lambert sacked as manager". BBC Sport. ngày 11 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015.
  67. "Tim Sherwood appointed new Aston Villa boss". BBC Sport. ngày 14 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  68. Percy, John (ngày 25 tháng 10 năm 2015). "Tim Sherwood sacked as Aston Villa owner Randy Lerner runs out of patience with beleagured [sic] manager". Telegraph.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
  69. Jennings, Patrick (ngày 16 tháng 4 năm 2016). "Manchester United 1 – 0 Aston Villa". BBC Sport. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2016.
  70. "Aston Villa: Dr Tony Xia completes takeover of Championship club". BBC Sport. ngày 14 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2016.
  71. "Roberto di Matteo: Aston Villa sack manager 124 days after he takes charge". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2016.
  72. "Aston Villa: Steve Bruce appointed manager of Championship club". BBC Sport. ngày 12 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2016.
  73. 1 2 Evans, Gregg (ngày 28 tháng 6 năm 2018). "Exclusive: Tony Xia in talks to sell Aston Villa". Birmingham Live. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2024.
  74. 1 2 Official, AVFC (ngày 20 tháng 7 năm 2018). "Club statement: Investment in Aston Villa". Aston Villa F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
  75. "Steve Bruce: Aston Villa sack manager after one win in nine league games". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018.
  76. "Dean Smith: Aston Villa appoint new head coach with John Terry as assistant". BBC Sport. ngày 10 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018.
  77. "John Terry appointed Aston Villa assistant as Smith named manager | Goal.com". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018.
  78. "Championship play-off final: Aston Villa 2-1 Derby County". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
  79. 1 2 Maher, Matt (ngày 9 tháng 8 năm 2019). "Tony Xia leaves Aston Villa with former owner's remaining shareholding wiped out". Express & Star. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2019.
  80. "Aston Villa staying up better than play-off win - Dean Smith". BBC Sport. ngày 26 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  81. "Aston Villa Club Statement". Aston Villa Football Club. ngày 7 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  82. "Villa announce Steven Gerrard as Head Coach". ngày 11 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2021.
  83. "Aston Villa sack Gerrard after defeat by Fulham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2022.
  84. "Aston Villa appoint Emery as Gerrard's successor". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2023.
  85. "Villa qualify for Europe after 13-year absence". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2023.
  86. Johnston, Neil (ngày 18 tháng 4 năm 2024). "Lille 2-1 Aston Villa". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2024.
  87. "Aston Villa reach Champions League for first time". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2024.
  88. "Aston Villa 3-2 PSG: Unai Emery 'proud' of Champions League performance and insists his side 'deserve' to play at the level". Sky Sports. ngày 16 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  89. Martyn Ziegler (ngày 13 tháng 2 năm 2026). "Aston Villa face second Uefa fine for breaching financial rules". The Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  90. 1 2 3 4 5 "Aston Villa". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  91. Hughes, John (ngày 9 tháng 3 năm 1924). "A Football Jubilee". Sunday Mercury: 10.
  92. When Saturday Comes: The Half Decent Football Book; p. 183.
  93. Schwartz, Nick (ngày 26 tháng 5 năm 2014). "Meet the 3 teams promoted to the Premier League". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2014.
  94. "Aston Villa fans vote on new Club crest: The results". Aston Villa Football Club. ngày 10 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2023.
  95. Townley, John (ngày 23 tháng 6 năm 2023). "Aston Villa notebook: Chris Heck's plan, crest explained and Jacob Ramsey's England message". Birmingham Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2023.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  96. Chapman, Joseph (ngày 31 tháng 5 năm 2024). "Aston Villa promote four messages as they unveil new club badge". Birmingham Mail. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  97. "Aston Villa agree Principal Partnership with BK8". Aston Villa Football Club. ngày 22 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2023.
  98. "Aston Villa announce Trade Nation as new partner". Aston Villa Football Club. ngày 22 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2023.
  99. "adidas and Aston Villa Football Club announce multi-year partnership". Aston Villa Football Club. ngày 20 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.
  100. "Aston Villa and Betano announce Principal Partnership". Aston Villa Football Club. ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
  101. Gardner, Alan (ngày 3 tháng 6 năm 2008). "Aston Villa to promote charity in place of shirt sponsor". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008.
  102. Griffin, Jon (ngày 16 tháng 7 năm 2010). "Villa sign biggest kit deal in history". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  103. "Aston Villa secure BR88 as first ever sleeve sponsor". Soccerex. ngày 13 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  104. "Aston Villa partner with Red Bull". Aston Villa F.C. ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  105. "Red Bull adds sixth Premier League sponsorship". Inside World Football. ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  106. "Aston Villa and Red Bull partnership details". EPL Fixtures. ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  107. Lockley, Mike (ngày 7 tháng 6 năm 2014). "When the world came to Villa Park..." Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2016.
  108. "Aston Villa launch ground improvement plans" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2022.
  109. "Gaffer on BMH". Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  110. "Villa Park to make debut in EA SPORTS FIFA 15 game – Latest News – Aston Villa". avfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2014.
  111. "Legia Warsaw fans barred from Villa match after police clashes". ESPN. ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2025.
  112. "Maccabi Tel Aviv fans not allowed to attend Europa League match at Aston Villa". Reuters. ngày 16 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2025.
  113. Sparrow, Andrew (ngày 24 tháng 11 năm 2025). "Risk of Maccabi Tel Aviv facing antisemitic attacks not 'predominant' reason for match ban, police tell MPs". The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025.
  114. O’Hara, Mike (ngày 21 tháng 11 năm 2025). "Letter to Chair of the Home Affairs Committee". West Midlands Police. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025 qua UK Parliament.
  115. "Company Histories & Profiles: Aston Villa plc". FundingUniverse.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012.
  116. 1 2 Austin, Simon (ngày 19 tháng 9 năm 2006). "End of Ellis era". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  117. 1 2 Conn, David (ngày 23 tháng 8 năm 2006). "Ellis rolls away from his nice Villa earner". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  118. Percy, John (ngày 20 tháng 4 năm 2014). "Randy Lerner ready to sell as Aston Villa limp to Premier League safety". Telegraph.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
  119. Murphy, Pat (ngày 14 tháng 6 năm 2016). "Aston Villa: Dr Tony Xia completes takeover of Championship club". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016.
  120. Percy, John (ngày 6 tháng 6 năm 2018). "Aston Villa to avoid imminent threat of administration after owner Dr Tony Xia secures £6m loan". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2024.
  121. Hughes, Matt; Madeley, Steve (ngày 5 tháng 6 năm 2018). "American Peter B Freund lines up £75m bid to buy Aston Villa". www.thetimes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  122. Wollaston, Steve (ngày 6 tháng 6 năm 2018). "Meet Peter Freund - the man linked with £75m Aston Villa takeover". Birmingham Live (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  123. Williams, Randall (ngày 15 tháng 12 năm 2023). "Aston Villa Parent Sells Stake to Comcast-Backed Fund". Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  124. Massoudi, Arash; Levingston, Ivan (ngày 14 tháng 2 năm 2024). "Egypt's richest man Nassef Sawiris considers breaking up his empire". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  125. Aston Villa Football Club (ngày 12 tháng 4 năm 2024). "Club Statement". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2024.
  126. "Billionaire businessman joins Aston Villa board". www.expressandstar.com. ngày 17 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2024.
  127. Gardner, Alan (ngày 3 tháng 6 năm 2008). "Aston Villa to promote charity in place of shirt sponsor". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
  128. Lansley, Peter (ngày 4 tháng 6 năm 2008). "Aston Villa's bold initiative boosts charity" (reprint hosted at NewsBank). The Sunday Times. London. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
  129. Kendrick, Mathew (ngày 23 tháng 12 năm 2009). "Aston Villa stars visit Acorns Hospice in Walsall". Birmingham Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  130. "Aston Villa & Acorns in partnership". Acorns Children's Hospice. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  131. Kendrick, Mathew (ngày 20 tháng 9 năm 2010). "Aston Villa's new restaurant hopes to serve up hospitality success to disaffected youngsters". Birmingham Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010.
  132. "Aston Villa Foundation - Charity Number 1152848". Charity Commission For England and Wales. ngày 31 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  133. "Foundation". Aston Villa F.C. Official Site. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  134. Preece, Ashley (ngày 4 tháng 5 năm 2021). "Prince William laughs with Aston Villa players as he visits football club he supports". The Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  135. "Richard FitzGerald: Bright Future". Aston Villa Supporters' Trust. ngày 10 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007.
  136. "Villa in the Community". Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  137. "Aston Villa Supporters Survey Website". Aston Villa F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  138. "Check out new version of classic 'Bells Are Ringing' anthem". Aston Villa F.C. ngày 8 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  139. Wells, Tom (ngày 19 tháng 12 năm 2004). "Death of a Steward ... what 'really' happened". Sunday Mercury. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  140. Brown, Danny; Brittle, Milo; p. 1.
  141. "Lions Club Directory". Aston Villa F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  142. "Club rivalries uncovered" (PDF). The Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  143. Gordos, Phil (ngày 8 tháng 5 năm 2006). "Is West Midlands Football in decline?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  144. Dawkes, Phil (ngày 22 tháng 5 năm 2011). "Tottenham 2-1 Birmingham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  145. "Birmingham City 1-1 Aston Villa". BBC Sport. ngày 30 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
  146. "West Brom relegated from Premier League after Southampton beat Swansea". BBC Sport. ngày 8 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
  147. "Aston Villa 2-1 Derby County". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
  148. "Aston Villa news from BirminghamLive as the 1897 Group prepare for Bournemouth trial display after encouraging meeting with the club". BirminghamLive (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 4 năm 2024.
  149. Dawson, Jack (ngày 2 tháng 10 năm 2024). "Three things you may have missed in Aston Villa's sensational Champions League victory against Bayern Munich". Aston Villa News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
  150. "UEFA Champions League Away Match Information". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
  151. Pietarinen, Heikki (ngày 1 tháng 11 năm 2014). "England – First Level All-Time Tables 1888/89-2011/12". Rec.Sport.Soccer Statistics Federation. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2014.
  152. "All-time English Honours Table". KryssTal. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  153. "League Records: Goals". The Football League. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  154. Goodyear, David; Matthews, Tony; p. 168.
  155. Ward, Adam; Griffin, Jeremy; pp. 130-135.
  156. "England Players' Clubs – Aston Villa". www.englandfootballonline.com. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2024.
  157. "England Players' Club Affiliations Most Players". www.englandfootballonline.com. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2024.
  158. "Which clubs have provided the most England players?". www.goal.com (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2023.
  159. 1 2 3 Cho tới năm 1992, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh là Football League First Division; từ đó trở đi, đó là FA Premier League. Đồng thời, Second Division được đổi tên thành First Division, và Third Division được đổi tên thành Second Division.
  160. "Report: Championship Play–Off Final". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
  161. Coupe Intertoto 2008 Lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2014 tại Wayback Machine. Liệt kê toàn bộ 11 đội cùng đồng vô địch Intertoto Cup năm 2008 và giành quyền vào UEFA Cup.
  162. "Intertoto eleven join UEFA Cup". UEFA. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2025.
  163. "Mens". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  164. "Under 21". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2025.
  165. "Hollingshead joins the Academy". Aston Villa Football Club. ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
  166. "Aston Villa announce Brian Madjo signing". Aston Villa Football Club. ngày 12 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2026.
  167. Burnton, Simon (ngày 16 tháng 12 năm 2014). "The forgotten story of … Frank Barson's seven-month ban". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  168. "Southgate quits Villa captaincy". RTÉ. ngày 16 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  169. "Villa held by Basle". BBC Sport. ngày 7 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  170. "Staunton's knife fear". BBC Sport. ngày 21 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  171. "Mellberg fears derby mayhem". BBC Sport. ngày 12 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  172. "Gareth Barry: The Aston Villa years". Birmingham Mail. ngày 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  173. Kendrick, Mat (ngày 21 tháng 8 năm 2018). "Martin Laursen set to stay as Aston Villa captain". Birmingham Mail. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  174. Jones, Steve (ngày 30 tháng 8 năm 2016). "Stiliyan Petrov: A tribute to the man who joined Aston Villa ten years ago today". Birmingham Mail. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  175. Bailey, Graeme (ngày 3 tháng 10 năm 2012). "Aston Villa captain Ron Vlaar wants more consistency from the team". Sky Sports. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  176. Lansley, Peter (ngày 30 tháng 8 năm 2015). "Tim Sherwood urges Aston Villa's Gabriel Agbonlahor to show bottle". The Guardian. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  177. "Tommy Elphick ready to help rebuild Aston Villa 'house that needed to be knocked down'". The Independent (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  178. "John Terry named Aston Villa captain for 2017/18 season - but suffers defeat to Shrewsbury". Sky Sports. ngày 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  179. 1 2 "Aston Villa: Tyrone Mings loses captaincy to John McGinn". BBC Sport. ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  180. "Sport: Football Legends list in full". BBC News. ngày 5 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  181. "Premier League Hall of Fame: Sergio Aguero, Paul Scholes, Didier Drogba, Vincent Kompany, Ian Wright and Peter Schmeichel latest to be inducted". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2024.
  182. "Andy Cole and John Terry inducted into Premier League Hall of Fame". Sky Sports. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2024.
  183. "Steve Staunton in the World Cups". www.thesoccerworldcups.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  184. 1 2 "Paul Mcgrath in the World Cups". www.thesoccerworldcups.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  185. Muralidharan, Ashwin (ngày 11 tháng 7 năm 2021). "'Lionel Messi and Neymar best players' – All awards at the 2021 Copa America". Goal. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  186. "Messi makes Golden Ball history". FIFA. ngày 18 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  187. "World Cup hero Martinez wins Best FIFA Men's Goalkeeper honour". FIFA. ngày 27 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
  188. "Emiliano Martinez wins the 2023 Yashin Trophy". 90min.com (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
  189. "Aston Villa: Martinez wins Yashin Trophy at Ballon d'Or awards" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. ngày 29 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2024.
  190. "Emiliano Martinez: Aston Villa goalkeeper wins Fifa award for best goalkeeper" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2024.
  191. "ASTON VILLA'S EUROPEAN CUP WINNERS JOIN HALL OF FAME". Football Hall of Fame. ngày 26 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  192. 1 2 "Sport: Popular Petrov to be added to Iconic Villa Hall of Fame". Aston Villa F.C. ngày 10 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2013.
  193. "Who's who". Aston Villa F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
  194. "Francesco Calvo Appointed New President of Business Operations". Aston Villa F.C. ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
  195. 1 2 3 "Aston Villa announce appointments to Senior Leadership Team". Aston Villa Football Club. ngày 19 tháng 9 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2023.
  196. "Villa appoint Emery as new Head Coach". ngày 24 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2023.
  197. "Club Statement". Aston Villa Football Club. ngày 23 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
  198. 1 2 3 4 5 "Villa confirm Unai Emery's backroom team". Aston Villa Football Club. ngày 4 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2022.
  199. "MacPhee joins as specialised set piece coach". Aston Villa Football Club. ngày 3 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2021.
  200. Preece, Ashley (ngày 24 tháng 1 năm 2022). "Meet Steven Gerrard's new mystery man at Aston Villa". BirminghamLive. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  201. "Monchi appointed President of Football Operations". Aston Villa Football Club. ngày 16 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2023.
  202. 1 2 "V Sports and Aston Villa announce additions to global recruitment network". Aston Villa Football Club. ngày 22 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
  203. "Villa appoint new Head of Emerging Talents & Loans". Aston Villa F.C. Official Site. ngày 31 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2021.
  204. Preece, Ashley (ngày 17 tháng 11 năm 2022). "Meet Aston Villa chief scout who surprised Gerrard with £13m transfer". BirminghamLive. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2022.
  205. "Youth Development and International Academies update". Aston Villa Football Club. ngày 9 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2023.
  206. "New Academy Manager appointed". www.avfc.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019.
  207. "Jimmy Shan appointed Under-21 Head Coach". Aston Villa Football Club. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  208. 1 2 "George Boateng leaves Villa Academy for Ghana role". Aston Villa Football Club. ngày 30 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2022.
  209. "Aston Villa appoint Inigo Idiakez as U21s coach". Aston Villa Football Club. ngày 20 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2023.
  210. "Richard Beale appointed U18 Lead Coach". Aston Villa Football Club. ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
  211. "Aston Villa confirm backroom staff". Aston Villa Football Club. ngày 13 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
  212. Evans, Gregg. "Aston Villa's new structure - who reports to whom in Project Emery?". The Athletic. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2023.
  213. "League Managers Association - George Ramsay". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  214. "League Managers Association - Jimmy Hogan". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  215. "League Managers Association - Eric Houghton". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  216. "League Managers Association - Joe Mercer OBE". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  217. "League Managers Association - Ron Saunders". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  218. "League Managers Association - TONY BARTON". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  219. "Venglos first foreign coach". BBC Sport. ngày 17 tháng 7 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  220. "League Managers Association - RON ATKINSON". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  221. "League Managers Association - BRIAN LITTLE". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  222. Milledge, Adrian (ngày 22 tháng 8 năm 2001). "Villa nourished by Angel delight". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  223. "League Managers Association - DEAN SMITH". leaguemanagers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  224. "Manager Stats - Aston Villa". Manager Stats (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022.
  225. Henchard, James (ngày 21 tháng 11 năm 2017). "The famous Sunderland v Aston Villa painting that hangs in the lobby of the SoL — a history of". Roker Report. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  226. Whitehead, Richard (ngày 1 tháng 9 năm 2008). "The soul of Aston Villa in 50 moments, page 2". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  227. Whitehead, Richard (ngày 1 tháng 9 năm 2008). "The soul of Aston Villa in 50 moments, page 9". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2008.
  228. "Stud Marks: We won't lie to you, another famous fan signs up for Aston Villa". Birmingham Mail. ngày 14 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012.
  229. "Alec Guinness in "The Card"". The Australian Women's Weekly. Quyển 20 số 25. Australia, Australia. ngày 19 tháng 11 năm 1952. tr. 44. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025 qua National Library of Australia.
  230. As if they were stretched outside The Oval or Villa Park, Philip Larkin, MCMXIV.
  231. Fisher, Philip (2007). "The Dumb Waiter at Trafalgar Studios 1". The British Theatre Guide. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012.
  232. "Aston Villa back in EPL". National Post. ngày 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
  233. "Five Famous Aston Villa Fans you never knew supported Villa". atletifo.com. ngày 17 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2021.
  234. "Introducing Aston Villa Ladies". FA WSL. The Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019.

Tài liệu dẫn

Liên kết ngoài

Nghe bài viết này (35 phút)
Icon Wikipedia được đọc ra
Tệp âm thanh này được tạo từ phiên bản sửa đổi bài viết ngày
Lỗi: không cung cấp được ngày tháng
và không phản ánh các phiên bản tiếp theo.

Các trang web độc lập

Bản mẫu:Aston Villa F.C.