Bước tới nội dung

Brentford F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Brentford
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Brentford
Biệt danhThe Bees
Tên ngắn gọnBrentford
Thành lập10 tháng 10 năm 1889; 136 năm trước (1889-10-10)
SânSân vận động Cộng đồng Brentford
Sức chứa17.250[1]
Chủ sở hữuMatthew Benham
Chủ tịch điều hànhCliff Crown
Huấn luyện viên trưởngKeith Andrews
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 10 trên 20
Websitebrentfordfc.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Brentford (tiếng Anh: Brentford Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Brentford, Tây London, Anh. Đội thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Có biệt danh là "The Bees", câu lạc bộ được thành lập vào năm 1889 và đã thi đấu các trận sân nhà tại Griffin Park từ năm 1904 trước khi chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford vào năm 2020.

Brentford ban đầu thi đấu nghiệp dư trước khi gia nhập London League vào năm 1896 và lần lượt kết thúc ở vị trí á quân của Second Division rồi First Division để giành quyền được bầu vào Southern League năm 1898. Đội vô địch Southern League Second Division mùa giải 1900-01 và được bầu vào Football League năm 1920. Brentford vô địch Third Division South mùa giải 1932-33 và vô địch Second Division mùa giải 1934-35. Câu lạc bộ trải qua một giai đoạn thành công ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, đạt đỉnh với vị trí thứ năm tại First Division ở mùa giải 1935-36, thành tích cao nhất của họ tại giải vô địch, trước khi ba lần xuống hạng liên tiếp đẩy đội xuống Fourth Division vào năm 1962. Họ lên ngôi vô địch Fourth Division mùa giải 1962-63, nhưng lại xuống hạng vào năm 1966 và một lần nữa vào năm 1973 sau khi giành quyền thăng hạng ở mùa giải 1971-72. Brentford trải qua 14 mùa giải tại Third Division sau khi thăng hạng ở mùa giải 1977-78 và tiếp tục vô địch Third Division mùa giải 1991-92, dù sau đó lại xuống hạng vào năm 1993.

Brentford xuống hạng xuống cấp độ thứ tư vào năm 1998 và giành quyền thăng hạng với tư cách đội vô địch ở mùa giải 1998-99. Câu lạc bộ xuống hạng vào năm 2007 và giành quyền thăng hạng với tư cách vô địch League Two mùa giải 2008-09, sau đó tiếp tục thăng hạng từ League One ở mùa giải 2013-14. Họ có những chiến dịch play-off Championship không thành công vào các năm 2015 và 2020. Brentford có thành tích không tốt ở các trận chung kết, khi kết thúc với vị trí á quân ở ba trận chung kết Associate Members' Cup/Football League Trophy (1985, 2001 và 2011) và thua bốn trận chung kết play-off (trận chung kết Second Division 1997, trận chung kết Second Division 2002, trận chung kết League One 2013 và trận chung kết Championship 2020). Tuy vậy, Brentford đã giành chiến thắng ở trận chung kết Championship 2021 để thăng hạng lên cấp độ cao nhất lần đầu tiên kể từ mùa giải 1946-47. Các đối thủ chính của đội là những câu lạc bộ cùng khu vực West London như FulhamQueens Park Rangers. Đội có liên kết với câu lạc bộ nữ Brentford Women.

Lịch sử

Vị trí của Brentford tại giải vô địch kể từ mùa giải 1920-21 của Football League.

1889-1920: Thành lập và những năm đầu

Năm 1889, thị trấn Brentford, Middlesex, là nơi đặt trụ sở của Brentford Rowing Club và Boston Park Cricket Club.[2] Những nỗ lực thành lập các câu lạc bộ bóng đárugby trong thị trấn đều không thành cho tới khi một sân giải trí mới được mở cửa vào ngày 17 tháng 10 năm 1889.[2] Bảy ngày trước đó, một cuộc họp đã diễn ra tại quán rượu Oxford & Cambridge gần Kew Bridge, trong đó các thành viên của câu lạc bộ chèo thuyền và câu lạc bộ cricket đã cố gắng quyết định cách sử dụng tốt nhất sân giải trí mới.[2] Ngày 16 tháng 10 năm 1889, các thành viên câu lạc bộ chèo thuyền lại gặp nhau tại quán Oxford & Cambridge và bỏ phiếu quyết định rằng câu lạc bộ mới sẽ chơi bóng đá, đồng thời mang tên "Brentford Football Club".[2]

Ngày 26 tháng 10 năm 1889,[2] câu lạc bộ tổ chức trận đấu tập đầu tiên, còn ngày 23 tháng 11 là trận đấu chính thức đầu tiên của câu lạc bộ trước Kew, kết thúc với tỉ số hòa 1-1.[3] Ở mùa giải 1892-93, Brentford lần đầu tiên tham dự một giải đấu — West London Alliance.[4][5] Mùa giải 1894-95 là thời điểm Brentford lần đầu có biệt danh The Bees. Một nhóm người từ Borough Road College đã tới xem một trận đấu để cổ vũ người bạn của họ là Joseph Gettins, lúc đó đang chơi cho Brentford. Họ hô vang khẩu hiệu của trường là 'Buck up Bs!', nhưng truyền thông lại nghe thành 'Buck up bees!', và cái tên này gắn liền với câu lạc bộ từ đó.[6][7]

Brentford tiếp tục chủ yếu chơi các trận cúp và giao hữu cho tới năm 1896, khi câu lạc bộ được bầu vào Second Division của London League.[8] The Bees kết thúc ở vị trí thứ hai để giành quyền thăng hạng lên First Division.[8] Những thành tích của Brentford tại London League và việc đội đã trở thành một trong những câu lạc bộ nghiệp dư hàng đầu ở London đã giúp câu lạc bộ được bầu vào Second Division (khu vực London) của Southern League cho mùa giải 1898-99.[9] Câu lạc bộ trở thành một đội bóng chuyên nghiệp ở mùa giải 1899-1900[10] và giành được một suất ở hạng đấu cao nhất vào tháng 7 năm 1901 sau khi Gravesend United rút khỏi Southern League.[11]

Brentford chuyển tới Griffin Park, sân nhà cố định đầu tiên của câu lạc bộ, kịp cho thời điểm bắt đầu của mùa giải 1904-05.[12] The Bees lần đầu tiên lọt vào vòng Một chính thức của FA Cup ở mùa giải 1905-06, tiến tới vòng Ba trước khi dừng bước trước Liverpool tại Anfield.[13] Dù phong độ ban đầu có cải thiện, 9 thất bại trong 11 trận cuối cùng của mùa giải 1912-13 khiến Brentford xuống hạng sau quãng thời gian 11 mùa giải ở First Division.[14]

Vào tháng 7 năm 1915, Southern League hủy giải đấu của mình trong suốt thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất.[15] Brentford thi đấu tại London Combination trong thời gian chiến tranh.[16] Đội hình bị suy yếu nghiêm trọng vì nhiều cầu thủ được gọi nhập ngũ hoặc tham gia công việc phục vụ chiến tranh.[16] Brentford vô địch London Combination mùa giải 1918-19, hơn đội xếp ngay sau là Arsenal bốn điểm.[15] Brentford từ chối cơ hội nộp đơn xin được bầu vào Football League cho mùa giải 1919-20 và thay vào đó nộp đơn xin một suất ở First Division của Southern League, nơi đội được chấp thuận và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 15.[17]

1920-1954: Khẳng định vị thế tại Football League và những năm tháng huy hoàng

Vào tháng 5 năm 1920, Brentford và 20 câu lạc bộ khác của Southern League First Division được bầu vào Football League với tư cách là những thành viên sáng lập của Third Division cho mùa giải 1920-21.[18] 11 cầu thủ mới được kí hợp đồng và trận đấu đầu tiên của The Bees tại Football League diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1920 trên sân St James Park của Exeter City,[18] với kết quả là thất bại 0-3.[19] Dù Harry King ghi được 18 bàn, việc thiếu bàn thắng từ những vị trí khác trong đội khiến Brentford chỉ kết thúc ở vị trí thứ 21,[20] nhưng câu lạc bộ vẫn được bầu lại vào giải mà không cần bỏ phiếu.[18]

Tập tin:Harry Curtis, (huấn luyện viên bóng đá), 1926.jpg
Harry Curtis, được biết đến với biệt danh "The Guv'nor", là huấn luyện viên tại vị lâu nhất và thành công nhất của Brentford.

Mọi thứ thay đổi tại Griffin Park trong giai đoạn nghỉ giữa các mùa giải năm 1926, khi cựu huấn luyện viên Gillingham là Harry Curtis được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.[21] Chỉ có 9 thành viên của đội hình mùa trước được giữ lại, nhưng dù Brentford chỉ kết thúc ở giữa bảng trong ba mùa giải tiếp theo,[21] Curtis vẫn từ từ xây dựng lại đội hình. Mùa giải 1929-30 tại Third Division South đã đặt nền móng cho thành công sau này của The Bees, dù câu lạc bộ không thể giành quyền thăng hạng khi về sau Plymouth Argyle.[22][23] The Bees băng băng tới chức vô địch Third Division South mùa giải 1932-33, với Jack Holliday ghi kỉ lục 39 bàn cho câu lạc bộ.[24]

Sau khi đứng đầu bảng lần thứ ba trong mùa giải 1934-35 vào ngày 2 tháng 3 năm 1935,[25] The Bees không còn đánh mất ngôi đầu nữa, thẳng tiến tới chức vô địch và giành quyền thăng hạng lên First Division lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.[26] Brentford cũng hoàn tất cú đúp độc đáo khi giành London Challenge Cup.[27] Sau khi đi từ hạng Ba lên hạng Nhất chỉ trong ba mùa giải, huấn luyện viên Harry Curtis quyết định giữ nguyên đội hình cho mùa giải 1935-36 tại First Division.[28] Việc mở rộng khu khán đài New Road terrace giúp sức chứa của Griffin Park tăng thêm 4.000 chỗ, qua đó tạo ra nguồn thu bổ sung.[28] Sau 15 trận đấu, Brentford trông có vẻ chắc chắn sẽ xuống hạng, nhưng câu lạc bộ đã tạo ra một màn lội ngược dòng đáng kinh ngạc khi The Bees chỉ thua hai trong 23 trận cuối cùng và kết thúc ở vị trí thứ 5, thành tích cao nhất mọi thời đại của câu lạc bộ tại giải vô địch.[29] Brentford tiếp tục thi đấu vượt xa kỳ vọng ở các mùa giải 1936-37 và 1937-38, khi cùng kết thúc ở vị trí thứ 6 trong cả hai mùa giải và lần đầu tiên lọt vào vòng Sáu của FA Cup ở mùa giải sau.[30] Câu lạc bộ đạt tới đỉnh cao trong giai đoạn từ tháng 10 năm 1937 tới tháng 2 năm 1938, khi giữ ngôi đầu First Division trong 17 trận liên tiếp.[31]

Mùa giải 1938-39 đánh dấu khởi đầu cho hồi kết của thời kì đỉnh cao của Brentford; đội chỉ vừa đủ tránh xuống hạng.[32] Mùa giải 1939-40 chỉ kéo dài ba trận trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai khiến bóng đá thi đấu chính thức bị đình chỉ.[33] Brentford thi đấu tại Football League South và London War League trong những năm chiến tranh, với phần lớn đội hình được bổ sung bằng các cầu thủ khách mời và những cầu thủ nghiệp dư trẻ, dù bộ khung của đội trước chiến tranh vẫn tiếp tục góp mặt trong phần lớn các trận đấu của câu lạc bộ.[33] Ngày 30 tháng 5 năm 1942, The Bees giành chiến thắng 2-0 trước Portsmouth trong trận chung kết London War Cup tại Wembley Stadium.[34]

Đội hình Brentford của mùa giải 1946-47, mùa giải thi đấu chính thức đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, được chống đỡ bởi bộ khung đã già nua của đội hình trước chiến tranh 1939-40, và điều đó dẫn tới việc The Bees xuống hạng khỏi First Division.[35] Sau khi chỉ vừa đủ tránh được lần xuống hạng thứ hai liên tiếp ở mùa giải 1947-48, huấn luyện viên Harry Curtis thông báo rằng mùa giải 1948-49 sẽ là mùa giải cuối cùng của ông trên cương vị huấn luyện viên sau gần 23 năm nắm quyền.[22][36] Mùa giải kết thúc với vị trí thứ 18 đáng thất vọng,[36] dù đáng chú ý trận đấu vòng Sáu FA Cup trên sân nhà với Leicester City đã lập kỉ lục mới về số khán giả tới sân của câu lạc bộ với 38.678 người.[37] Ở mùa giải 1953-54, việc Brentford xuống hạng xuống Third Division South được xác nhận ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải sau thất bại 1-3 trước Leicester City tại Griffin Park.[38]

1954-1986: Sa sút và khó khăn tài chính

Việc xuống hạng xuống Third Division South vào cuối mùa giải 1953-54 đồng nghĩa mùa giải 1954-55 sẽ là mùa giải đầu tiên của Brentford ở hạng đấu thấp nhất sau 21 năm.[39] Sau ba lần liên tiếp kết thúc trong tốp 6,[39] sự sa sút bắt đầu ở mùa giải 1960-61, khi phong độ yếu kém trên sân cỏ đi kèm với tin tức từ phòng họp rằng câu lạc bộ đang gánh khoản nợ 50.000 bảng (tương đương £1.300.000 vào năm 2026).[40]

Sau khi bán đi một số cầu thủ chủ chốt, The Bees kết thúc mùa giải 1961-62 ở vị trí áp chót của Third Division và xuống hạng, mở đầu cho những năm tháng lên xuống liên tục giữa Third Division và Fourth Division.[41] Dù chỉ thắng bảy trong 14 trận cuối cùng của mùa giải, Brentford vẫn kết thúc mùa giải 1962-63 với tư cách nhà vô địch Fourth Division.[42] Tuy vậy, ở mùa giải 1965-66, Billy Gray không thể ngăn đội xuống hạng trở lại Fourth Division.[43] Vào tháng 12 năm 1966, chủ tịch Dunnett tiết lộ tại đại hội cổ đông thường niên của Brentford rằng câu lạc bộ đã lỗ 20.000 bảng trong năm tài chính trước đó và ông sẽ bán cổ phần của mình trong câu lạc bộ.[44] Trước đó trong cùng tháng, các đội láng giềng Queens Park Rangers đã tiếp cận Brentford, đề xuất hai câu lạc bộ cùng sử dụng Griffin Park.[45] Ngày 19 tháng 1 năm 1967, tin tức bùng nổ rằng Dunnett và người đồng cấp bên phía QPR là Jim Gregory đã đạt được thỏa thuận theo đó đối thủ của Brentford sẽ chuyển tới Griffin Park, sân Loftus Road của Rangers sẽ được tái phát triển thành khu nhà ở, còn Brentford, với tư cách một câu lạc bộ, sẽ không còn tồn tại.[44]

Sau một tháng căng thẳng với các cuộc phản đối của người hâm mộ, những cuộc đàm phán và các khoản quyên góp lên tới 8.500 bảng (tương đương £180.000 vào năm 2026),[46][47] một liên danh gồm sáu người do cựu chủ tịch Plymouth Argyle là Ron Blindell đứng đầu đã tiếp quản cổ phần của Dunnett vào ngày 23 tháng 2 năm 1967 và bảo đảm một khoản vay bắc cầu 104.000 bảng trong 12 tháng.[44] Ngày hôm sau, với tư cách chủ tịch, Blindell tiếp quản quyền kiểm soát câu lạc bộ.[44] Sau đó, người ta phát hiện rằng chủ tịch QPR Jim Gregory đã khơi lại sự quan tâm của mình đối với Griffin Park và đề nghị 250.000 bảng để sử dụng sân đấu này, số tiền đủ để xóa ngay khoản nợ 135.000 bảng của Brentford nếu câu lạc bộ chuyển tới Hillingdon.[48] Tên gọi "Brentford Borough FC" thậm chí đã được chọn cho câu lạc bộ mới có trụ sở tại Hillingdon, nhưng một lần nữa Brentford được cứu vào phút chót, khi cựu giám đốc Walter Wheatley cho câu lạc bộ vay 69.000 bảng không tính lãi, hoàn trả trong vòng 12 tháng.[48]

Dưới sự dẫn dắt của Frank Blunstone, Brentford giành quyền thăng hạng trở lại Third Division khi mùa giải vẫn còn hai trận.[49] Tuy vậy, The Bees lại xuống hạng ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải 1972-73.[50] Sau một giai đoạn củng cố lực lượng, Bill Dodgin Jr. đã đưa Brentford kết thúc ở vị trí thứ tư và giành quyền thăng hạng lên Third Division ở mùa giải 1977-78.[51] Brentford vào tới trận chung kết cúp lớn đầu tiên trong lịch sử thi đấu chính thức ở mùa giải 1984-85, nhưng thua Wigan Athletic 1-3 trong trận chung kết Football League Trophy 1985 tại Wembley Stadium.[52] Ở mùa giải 1988-89, The Bees lọt vào vòng Sáu FA Cup, nơi hành trình của họ kết thúc sau thất bại 0-4 trước Liverpool tại Anfield.[53]

1986-2014: Câu lạc bộ lên xuống giữa các hạng đấu thấp

Ở mùa giải 1991-92, sáu chiến thắng trong sáu trận cuối cùng giúp Brentford bứt lên để vô địch Third Division ở ngày thi đấu cuối cùng và giành quyền chơi bóng ở hạng Hai lần đầu tiên kể từ mùa giải 1953-54.[30][53] Tuy vậy, Brentford lập tức trở lại hạng Ba.[54] Năm 1996-97, Brentford lỡ suất thăng hạng khi thua Crewe Alexandra ở trận chung kết play-off.[55] Ở mùa giải 1997-98, Brentford xuống hạng xuống Third Division ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải.[56]

Vào tháng 6 năm 1998, cựu chủ tịch Crystal Palace là Ron Noades tiếp quản quyền sở hữu Brentford và tiến hành những thay đổi toàn diện trong toàn câu lạc bộ, đồng thời tự bổ nhiệm mình làm chủ tịch kiêm huấn luyện viên.[57] The Bees vô địch Third Division mùa giải 1998-99 ở ngày thi đấu cuối cùng, sau khi đánh bại Cambridge United 1-0 trong trận “đội thắng giành tất cả” tại Abbey Stadium.[57] Brentford lọt vào trận chung kết Football League Trophy 2001, nhưng thua Port Vale 1-2.[58] Vào cuối mùa giải 2001-02, Brentford chỉ thiếu chút nữa là giành suất thăng hạng trực tiếp trước Reading ở ngày thi đấu cuối cùng. The Bees chỉ có thể giành một trận hòa trong trận đấu buộc phải thắng, trước khi sau đó thua Stoke City 0-2 ở trận chung kết play-off 2002.[59][60]

Sau sự sụp đổ của ITV Digital, những ràng buộc tài chính mà Noades đặt lên câu lạc bộ khiến tân huấn luyện viên Wally Downes chỉ có trong tay một đội hình non kinh nghiệm, và việc rơi vào quản trị tài chính chỉ vừa được tránh khỏi vào tháng 8 năm 2002.[61][62] Noades rời câu lạc bộ và trao quyền kiểm soát cho hội cổ động viên Bees United.[63] Brentford chỉ vừa đủ tránh xuống hạng vào cuối mùa giải 2003-04.[64][65] Ở cả mùa giải 2004-05 và 2005-06, Brentford đều lọt vào vòng Năm Cúp FA và vòng bán kết play-off.[66] Năm 2006, Matthew Benham lần đầu tiên có liên hệ với Brentford khi quyên góp 500.000 bảng. Ông ẩn danh và được biết tới với biệt danh “Nhà đầu tư bí ẩn”.[67] Dù khởi đầu tốt ở mùa giải 2006-07, Brentford chính thức xuống hạng vào ngày 9 tháng 4 năm 2007, và cuối cùng đứng cuối bảng.[68][30] Mặc dù xuống hạng, tình hình tài chính của câu lạc bộ đã được cải thiện sau khi Matthew Benham chi gần 3 triệu bảng để tiếp quản một phần các khoản nợ của câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2007.[69]

Vào tháng 7 năm 2009, Benham và Bees United đạt được một thỏa thuận dưới mật danh ‘Gecko’, theo đó ông đồng ý cấp 1 triệu bảng mỗi năm trong 5 năm, đổi lại việc nâng tỉ lệ cổ phần của mình lên 35% và có quyền lựa chọn trở thành chủ sở hữu của Brentford vào năm 2014.[67] Dưới sự dẫn dắt của Andy Scott, The Bees vô địch League Two sau chiến thắng ở trận áp chót của mùa giải 2009-10.[70] Mùa giải 2010-11 trở nên đáng nhớ nhờ hành trình cúp của Brentford, khi đội vào tới vòng Bốn League Cup và lọt vào trận chung kết Football League Trophy 2011, nơi họ thua Carlisle United 0-1.[71] Vào tháng 6 năm 2012, Benham mua lại toàn bộ câu lạc bộ từ Bees United. Tuy nhiên, Bees United vẫn giữ một vị trí trong ban lãnh đạo câu lạc bộ.[67] Brentford chỉ còn cách suất thăng hạng trực tiếp lên Championship đúng một quả phạt đền ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải 2012-13, khi thua Doncaster Rovers 0-1 tại Griffin Park, đội bóng chỉ cần một trận hòa để giành suất thăng hạng trực tiếp.[72] Cuối cùng, The Bees lại để thua Yeovil Town trong trận chung kết play-off 2013.[73] Dù khởi đầu mùa giải không tốt, Mark Warburton đã đưa The Bees giành quyền thăng hạng trực tiếp lên Championship vào ngày 18 tháng 4 năm 2014, điều được xác nhận bằng trận sân nhà gặp Preston North End.[30][74]

2014-nay: Thăng tiến tới Premier League và khẳng định vị thế ở hạng đấu cao nhất

Tập tin:Sân vận động Cộng đồng Brentford 2020.jpg
Câu lạc bộ rời Griffin Park và chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford vào tháng 8 năm 2020.[75]

Trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng Hai kể từ năm 1993, Brentford kết thúc ở vị trí thứ 5 nhưng thua Middlesbrough ở vòng bán kết play-off.[76][77] Dưới sự dẫn dắt của Dean Smith, Brentford trở thành một đội bóng ổn định tại Championship.[78] Người kế nhiệm Smith, Thomas Frank, đã đưa Brentford vào tới trận chung kết play-off Championship 2020 sau khi đứng thứ ba tại giải, nhưng lại thua 1-2 trước đối thủ cùng khu Tây London là Fulham.[79] Trong giai đoạn nghỉ giữa các mùa giải năm 2020, câu lạc bộ rời Griffin Park (sân nhà của họ trong 116 năm) và chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford, một sân vận động toàn chỗ ngồi có sức chứa 17.250 chỗ.[75][80] Brentford cuối cùng cũng phá được lời nguyền play-off sau khi trước đó đã thua 9 trong 9 chiến dịch play-off, khi đó là một kỉ lục quốc gia, và làm tốt hơn nữa ở vòng play-off năm 2021, giành quyền thăng hạng lên Premier League bằng chiến thắng 2-0 trước Swansea City trong trận chung kết play-off Championship 2021.[81]

Brentford chơi ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh lần đầu tiên sau 74 năm.[67] Frank đã đưa đội bóng của mình kết thúc ở các vị trí thứ 13, thứ 9, thứ 16 và thứ 10 trong bốn mùa giải đầu tiên của Brentford tại Premier League,[30] trước khi cuối cùng rời câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2025 để dẫn dắt Tottenham Hotspur.[82] Keith Andrews sau đó được công bố là người kế nhiệm ông vào cuối tháng đó.[83]

Vào tháng 2 năm 2026, đạo diễn điện ảnh người Anh Sir Matthew Vaughn đã tăng gấp đôi khoản đầu tư của mình vào Brentford FC, bơm thêm 40 triệu bảng để tăng cường sức mạnh cho câu lạc bộ trong bối cảnh đội hướng tới mục tiêu giành quyền dự cúp châu Âu.[84]

Các sân đấu hiện tại và trước đây

Cầu thủ

Đội một

Tính đến 3 tháng 2 năm 2026[88][89]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMCộng hòa IrelandCaoimhín Kelleher
2HVScotlandAaron Hickey
3HVJamaicaRico Henry
4HVHà LanSepp van den Berg
5HVJamaicaEthan Pinnock
6TVAnhJordan Henderson
7ĐứcKevin Schade
8TVĐan MạchMathias Jensen
9BrasilIgor Thiago
10TVAnhJosh Dasilva
11AnhReiss Nelson (mượn từ Arsenal)
12TMIcelandHákon Valdimarsson
14TVBồ Đào NhaFábio Carvalho
SốVT Quốc giaCầu thủ
17TVHà LanAntoni Milambo
18TVUkrainaYehor Yarmolyuk
19Burkina FasoDango Ouattara
20HVNa UyKristoffer Ajer
22HVCộng hòa IrelandNathan Collins (đội trưởng)
23TVAnhKeane Lewis-Potter
24TVĐan MạchMikkel Damsgaard
27TVĐứcVitaly Janelt
31TMAnhEllery Balcombe
33HVÝMichael Kayode
41TMHoa KỳJulian Eyestone
45AnhRomelle Donovan
47BỉKaye Furo

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
13TMAnhMatthew Cox (tại Shrewsbury Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
15TVNigeriaFrank Onyeka (tại Coventry City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
26TVThổ Nhĩ KỳYunus Emre Konak (tại Oxford United tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
21HVAnhJayden Meghoma (tại Rangers tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
28TVAnhRyan Trevitt (tại Wigan tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
36HVHàn QuốcKim Ji-soo (tại Kaiserslautern tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
39BrasilGustavo Nunes (tại Swansea City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
43AnhBenjamin Arthur (tại Celtic tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Brentford B

Tính đến 16 tháng 1 năm 2026[90]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
48TVBỉLuka Bentt
49HVAnhOllie Shield
50HVAnhJosh Stephenson
TMAnhReggie Rose
TMZimbabweMarley Tavaziva
TMĐứcConnor Wolfheimer
HVCộng hòa IrelandVal Adedokun
HVAnhGregory Asemokhai
HVAnhCaelan Avenell
HVLitvaMatas Klimas
HVAnhMaxwell McKnight
SốVT Quốc giaCầu thủ
HVCộng hòa IrelandConor McManus
HVAnhLuca Picotto
TVAnhAndre Grey
TVAnhTheo Mawene
TVAnhRiley Owen
TVAnhKyrie Pierre
BéninMichel Boni
AnhIsaac Holland
ScotlandEthan Laidlaw
AnhMichael McSorley

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
HVNigeriaBenjamin Fredrick (tại Dender tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhEthan Brierley (tại Exeter City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
WalesIwan Morgan (tại Shrewsbury Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
AnhMichael Olakigbe (tại Swindon Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhBen Krauhaus (tại Bromley tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
AnhTony Yogane (tại Dundee tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Ban huấn luyện

Tính đến 9 tháng 9 năm 2025[91][92][93][94]

Đội một

TênVai trò
Cộng hòa Ireland Keith AndrewsHuấn luyện viên trưởng
Cộng hòa Ireland Kevin O'ConnorTrợ lí huấn luyện viên
Scotland Neil MacFarlaneTrợ lí huấn luyện viên đội một
Thổ Nhĩ Kỳ Mehmet AliTrợ lí huấn luyện viên đội một
Anh Jack LesterTrợ lí huấn luyện viên đội một
Tây Ban Nha Manu SoteloHuấn luyện viên thủ môn
Cộng hòa Ireland Stephen RiceHuấn luyện viên bóng chết
Anh Ben RyanGiám đốc hiệu suất
Anh Josh KirkTrưởng bộ phận phân tích
Anh Luke StopforthTrưởng bộ phận dữ liệu và công nghệ
Anh Bob OtengQuản lí hậu cần trang phục
Anh Dr. Stephen ThompsonTrưởng bộ phận y tế
Wales Rhys WestonTrưởng bộ phận hoạt động bóng đá

Brentford B

TênVai trò
Anh Sam SaundersHuấn luyện viên trưởng
Phần Lan Jani VianderHuấn luyện viên thủ môn
Cameron Tucker-WhiteHuấn luyện viên thể lực
Alex DavisHuấn luyện viên hiệu suất
Anh Haydee AgrasChuyên viên phân tích
Anh Jordan MarleyQuản lí trang phục

Ban quản lí

Tính đến 30 tháng 1 năm 2025[95]
TênVai trò
Matthew BenhamChủ sở hữu
Cliff CrownChủ tịch
Jon VarneyGiám đốc điều hành,
thành viên điều hành
Lisa SkelhornThư kí câu lạc bộ
Roger Crook
Phil GilesGiám đốc bóng đá,
thành viên điều hành
Lee DykesGiám đốc kĩ thuật
Nity RajCố vấn pháp lí tổng quát,
thành viên điều hành
Deji DaviesThành viên không điều hành
Stuart Hatcher
Preeti Shetty
Marcus GayleĐại sứ câu lạc bộ
Peter Gilham

Biệt danh

Biệt danh của Brentford là "The Bees".[96] Biệt danh này được tạo ra một cách tình cờ bởi các sinh viên của Borough Road College vào thập niên 1890, khi họ tới xem một trận đấu và hô vang khẩu hiệu của trường là “buck up Bs” để cổ vũ cho người bạn của họ, cũng là cầu thủ Brentford khi đó, Joseph Gettins.[96] Các tờ báo địa phương nghe nhầm thành “Buck up Bees”, và biệt danh này gắn với câu lạc bộ từ đó.[97]

Màu sắc và huy hiệu

Màu sân nhà chủ đạo của Brentford là áo sọc đỏ-trắng, quần đen và tất đỏ hoặc đen.[98] Đây là những màu sân nhà chủ đạo của câu lạc bộ kể từ mùa giải 1925-26, ngoại trừ một mùa giải là 1960-61 khi màu vàng (gold) và xanh được sử dụng nhưng không thành công.[99] Màu áo khi gia nhập Football League, ở mùa giải 1920-21, là áo trắng, quần xanh navy và tất xanh navy.[98] Trang phục sân khách thay đổi qua nhiều năm, với màu hiện tại là áo và tất hồng nhạt, quần tím, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử câu lạc bộ. Bộ trang phục này có chi tiết cài cúc với cổ áo gân nổi. Huy hiệu Brentford xuất hiện với màu tím và tay áo có cổ tay in sọc.

Brentford đã sử dụng nhiều huy hiệu khác nhau trên áo đấu kể từ khi được thành lập vào năm 1889.[100] Huy hiệu đầu tiên, vào năm 1893, là một tấm khiên trắng, có chữ ‘BFC’ màu xanh và một đường lượn sóng màu xanh, được cho là tượng trưng cho dòng sông và câu lạc bộ chèo thuyền, đơn vị đã sáng lập câu lạc bộ bóng đá.[100] Huy hiệu được biết tới tiếp theo là huy hiệu của hạt Middlesex, xuất hiện trên các áo đấu do một cổ động viên của câu lạc bộ tặng vào năm 1909.[100] Huy hiệu Brentford and Chiswick chỉ được sử dụng trong một mùa giải, ở mùa giải 1938-39.[100] Huy hiệu tiếp theo xuất hiện ở mùa giải 1971-72, là một tấm khiên chia thành bốn ô, trong đó một ô có tổ ong và ong, một ô khác có ba thanh kiếm seax, còn hai ô còn lại là các sọc đỏ và trắng.[100] Năm 1972, câu lạc bộ tổ chức một cuộc thi thiết kế huy hiệu mới, và phương án chiến thắng thuộc về ông B. G. Spencer, với thiết kế hình tròn có một con ong, các sọc và năm thành lập là 1888. Huy hiệu này được đưa vào sử dụng năm 1973 và tồn tại tới tháng 5 năm 1975, khi Graham Haynes thông báo cho câu lạc bộ rằng câu lạc bộ được thành lập năm 1889 chứ không phải 1888. Vì vậy, một huy hiệu mới, được cho là do Dan Tana – chủ tịch câu lạc bộ khi đó – thiết kế, đã được đưa vào sử dụng cho mùa giải 1975-76 và kéo dài tới năm 1994, khi huy hiệu hiện tại được giới thiệu.[100] Năm 2011, Russell Grant tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn với BBC rằng mình là người thiết kế huy hiệu này;[101] tuy nhiên, trên thực tế huy hiệu này được cổ động viên Andrew Henning thiết kế vào năm 1993 cho hai mẫu vé mùa giải, theo đề nghị của Keith Loring, giám đốc điều hành khi đó.[99] Năm 2017, câu lạc bộ thiết kế lại huy hiệu theo phong cách hiện đại hơn, gọn hơn, với khả năng sử dụng linh hoạt trong in hai màu.[100] Thiết kế là một vòng tròn kép với tên câu lạc bộ và năm thành lập màu trắng trên nền đỏ, cùng một con ong lớn ở trung tâm.[100]

Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu

Giai đoạnNhà cung cấp trang phụcNhà tài trợ áo đấu (mặt trước)Nhà tài trợ tay áoNhà tài trợ sau lưngNhà tài trợ quần
1975-1976Umbro[102]Không cóKhông cóKhông cóKhông có
1977-1980Bukta[103]
1980-1981Adidas[104]
1981-1984Osca[105]DHL
1984-1986KLM
1986-1988Spall
1988-1990Hobott
1990-1992Chad
1992-1995Hummel[106]
1995-1996CoreEricsson
1996-1998Cobra
1998-2000Super LeagueGMB
2000-2002Patrick
2002-2003TFG
2003-2004St. George PLC
2004-2005UK PackagingUK Packaging
2005-2006Lonsdale
2006-2007Samvo Group
2007-2008Puma
2008-2009Hertings (Home) & MKT Computers (Away)Intermode Shipping (Home) & Cardiac Risk in the Young (Away)MKT Computers (Home)
2009-2010SPIT Tools (Home) & Cardiac Risk in the Young (Away)Reliable Networks
2010-2011Hertings (Home) & Bathwise (Away)Reliable NetworksThames Valley University
2011-2012Không cóKhông có
2012-2013SkyEx.co.ukReliable Networks
2013-2014Adidas[107]Reliable Networks (Home)
2014-2015Matchbook.comMatchbook.com
2015-2016Matchbook.comKhông có
2016-2017888sport
2017-2019LeoVegas
2019-2020Umbro[108]EcoWorld London
2020-2021UtilitaHollywoodbetsHollywoodbets
2021-2023HollywoodbetsSafetyCultureKhông có
2023-2025PensionBee
2025-nayJoma[109][110]Cazoo

Kình địch

Các đối thủ chính của Brentford là Fulham, ChelseaQueens Park Rangers.[111] Câu lạc bộ có mối kình địch lâu đời với Fulham.[112] Trong quá khứ, cặp đấu này từng bị vấy bẩn bởi bạo lực đám đông.[113] Mối kình địch giữa Brentford và Queens Park Rangers trở nên gay gắt hơn vào năm 1967, khi Rangers thất bại trong nỗ lực thâu tóm The Bees, một động thái mà nếu thành công sẽ khiến Rangers chuyển tới Griffin Park còn Brentford rời khỏi Football League.[114][45] Cũng như ở các mối kình địch với Fulham và Chelsea, cặp đấu này luôn khiến cảm xúc dâng cao trong cả hai nhóm cổ động viên khi niềm tự hào địa phương bị đặt lên bàn cân.[115]

Liên kết quốc tế

Vào tháng 2 năm 2013, có thông báo rằng Brentford đã thiết lập quan hệ hợp tác với câu lạc bộ UMF Selfoss của giải 1. deild karla tại Iceland, qua đó cho phép Brentford gửi các cầu thủ trẻ và đội phát triển sang Iceland để tích lũy kinh nghiệm.[116] Sự hợp tác này cũng giúp hai câu lạc bộ trao đổi triết lí huấn luyện và cho phép Brentford tận dụng mạng lưới tuyển trạch của UMF Selfoss.[116] Vào tháng 5 năm 2013, đội ngũ Brentford thiết lập liên kết với câu lạc bộ hạng dưới của Uganda là Gulu United trong khuôn khổ dự án “United for United”, nhằm xây dựng trại huấn luyện trẻ đầu tiên của khu vực và phát hiện các cầu thủ tài năng.[117] Chủ sở hữu Brentford là Matthew Benham trở thành cổ đông chi phối của câu lạc bộ Đan Mạch FC Midtjylland vào năm 2014, và đội ngũ nhân sự của hai câu lạc bộ đã chia sẻ ý tưởng với nhau.[118] Năm 2023, Benham bán FC Midtjylland cho tỉ phú Đan Mạch Anders Holch Povlsen, vì vậy hiện hai đội không còn là các câu lạc bộ chị em nữa.[119] Vào tháng 4 năm 2025, có thông báo rằng công ty mẹ của Brentford FC, Best Intentions Analytics, đang mua lại 100% quyền sở hữu đội bóng Tây Ban Nha Asociación Deportiva Mérida (Mérida AD). Tương tự như những mối liên kết quốc tế trước đây, động thái này giúp việc tiếp cận thị trường Tây Ban Nha và các mạng lưới tuyển trạch trở nên dễ dàng hơn.[120]

Các câu lạc bộ liên kết

Trong văn hóa đại chúng

  • Câu lạc bộ thường xuyên được nhắc tới trong loạt phim hài của BBC People Just Do Nothing. Nhân vật DJ Beats thường mặc áo khoác Brentford, còn phòng của Angel đầy những vật kỉ niệm về Brentford.
  • Diễn viên kiêm danh hài Bradley Walsh từng là cầu thủ chuyên nghiệp của câu lạc bộ vào cuối thập niên 1970, nhưng chưa bao giờ có tên trong đội hình đội một.[123]
  • Dan Tana, diễn viên và chủ nhà hàng ở Hollywood, từng là thành viên ban lãnh đạo và giữ chức chủ tịch câu lạc bộ.[124]
  • Người mẫu Stephen James từng chơi cho đội trẻ của câu lạc bộ trước khi bị thanh lí vào năm 2008.[125]
  • Nghệ sĩ giải trí Vic Oliver từng giữ chức phó chủ tịch câu lạc bộ vào đầu thập niên 1950, và sau đó là chủ tịch hội cổ động viên Brentford.[126]
  • Chính trị gia Jack Dunnett từng là chủ tịch câu lạc bộ trong giai đoạn từ năm 1961 tới năm 1967.[127]
  • Cựu nghệ sĩ keyboard của Yes và nghệ sĩ solo Rick Wakeman từng là giám đốc của câu lạc bộ trong một năm vào 1979.
  • Tay guitar của Radiohead là Ed O'Brien là một cổ động viên và cũng là người sở hữu vé mùa giải.
  • Tay bass của Status Quo là John "Rhino" Edwards là một cổ động viên; ông đã sáng tác và thu âm một ca khúc dành cho cầu thủ Brentford Lloyd Owusu.
  • Trong mùa Hai của Ted Lasso, Brentford được nhắc đến như là đối thủ lớn nhất của AFC Richmond.[128]

Danh hiệu

Nguồn:[30]

Giải vô địch

  • Second Division / Championship (cấp độ 2)
    • Vô địch: 1934-35
    • Vô địch play-off: 2021
  • Third Division South / Third Division / League One (cấp độ 3)
    • Vô địch: 1932-33, 1991-92
    • Thăng hạng: 2013-14
  • Fourth Division / League Two (cấp độ 4)
    • Vô địch: 1962-63, 1998-99, 2008-09
    • Thăng hạng: 1971-72, 1977-78
  • United League
    • Vô địch: 1907-08
  • London League
    • Vô địch: 1908-09
  • Southern League Second Division
    • Vô địch: 1900-01
  • London League Second Division[129]
    • Vô địch: 1896-97
  • West London Alliance[130]
    • Vô địch: 1892-93[a]

Cúp

  • Football League Trophy
    • Á quân: 1984-85, 2000-01, 2010-11
  • London Senior Cup[131]
    • Vô địch: 1897-98*, 2021-22
  • London Challenge Cup[132]
    • Vô địch: 1934-35, 1964-65, 1966-67
  • Middlesex Junior Cup[133]
    • Vô địch: 1893-94
  • West Middlesex Cup[130]
    • Vô địch: 1894-95
  • Middlesex Senior Cup[131]
    • Vô địch: 1897-98
  • Southern Professional Charity Cup[134]
    • Vô địch: 1908-09
  • Ealing Hospital Cup[135]
    • Vô địch: 1910-11
  • London Charity Fund[136]
    • Vô địch: 1928

Danh hiệu thời chiến

  • London Combination[137]
    • Vô địch: 1918-19
  • London War Cup[132]
    • Vô địch: 1941-42

Thành tích tốt nhất

  • Thứ hạng cao nhất tại giải vô địch: hạng 5 tại First Division (cấp độ 1), 1935-36[30]
  • Thành tích tốt nhất tại Cúp FA: vòng Sáu/tứ kết, 1937-38, 1945-46, 1948-49, 1988-89[30]
  • Thành tích tốt nhất tại League Cup: bán kết, 2020-21[30]
  • Thành tích tốt nhất tại League Trophy: á quân, 1984-85, 2000-01, 2010-11[30]
  • Thành tích tốt nhất tại Empire Exhibition Trophy: Vòng Một, 1938[138]
  • Thành tích tốt nhất tại Southern Professional Floodlit Cup: bán kết, 1955-56, 1956-57[134]
  • Thành tích tốt nhất tại First Alliance Cup: vòng Một, 1988[139]

Ghi chú

  1. Không có hệ thống thăng hạng vào thời điểm đó.

Tham khảo

  1. "The stadium". Brentford Football Club New Stadium. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  2. 1 2 3 4 5 White 1989, tr. 56-57.
  3. Brett, Ciaran. "Match report from Brentford FC's first ever fixture". brentfordfc.com. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
  4. White 1989, tr. 60.
  5. White 1989, tr. 13.
  6. "Brentford". premierskillsenglish.britishcouncil.org (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2025.
  7. Cooper, Vince. "THE BEES. THE HISTORY OF BRENTFORD – Part One | Read The League" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2025.
  8. 1 2 White 1989, tr. 67.
  9. White 1989, tr. 71-72.
  10. White 1989, tr. 73-74.
  11. White 1989, tr. 75-76.
  12. Haynes 1998, tr. 65-66.
  13. White 1989, tr. 357-360.
  14. White 1989, tr. 362.
  15. 1 2 White 1989, tr. 104-110.
  16. 1 2 White 1989, tr. 363-364.
  17. White 1989, tr. 112.
  18. 1 2 3 White 1989, tr. 113-114.
  19. Haynes 1998, tr. 55.
  20. White 1989, tr. 366.
  21. 1 2 White 1989, tr. 121-128.
  22. 1 2 Chapman, Mark. "Remembering The Guvnor: Harry Curtis". brentfordfc.com. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  23. "Brentford League Table 1929-1930". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  24. White 1989, tr. 136-138.
  25. White 1989, tr. 142-145.
  26. "Brentford results for the 1934-1935 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  27. Haynes 1998, tr. 82-83.
  28. 1 2 White 1989, tr. 146-151.
  29. "Brentford results for the 1935-1936 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  30. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Brentford F.C. tại dữ liệu lịch sử câu lạc bộ bóng đá
  31. "Brentford results for the 1937-1938 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2016.
  32. White 1989, tr. 162-165.
  33. 1 2 White 1989, tr. 166-178.
  34. Haynes 1998, tr. 83-84.
  35. White 1989, tr. 179-184.
  36. 1 2 White 1989, tr. 190-194.
  37. Haynes 1998, tr. 13-16.
  38. White 1989, tr. 212-214.
  39. 1 2 "Brentford Complete History". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016.
  40. White 1989, tr. 238-241.
  41. White 1989, tr. 229-232.
  42. "Brentford results for the 1962-1963 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2016.
  43. White 1989, tr. 260-262.
  44. 1 2 3 4 White 1989, tr. 263-266.
  45. 1 2 Haynes 1998, tr. 123-125.
  46. Street, Tim (ngày 19 tháng 1 năm 2017). "When Brentford were almost taken over by QPR – 50 years on". getwestlondon. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017.
  47. Brett, Ciaran. "Brentford supporters wanted for 50th anniversary documentary of failed Queens Park Rangers takeover". Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2016.
  48. 1 2 White 1989, tr. 266-270.
  49. White 1989, tr. 284-287.
  50. White 1989, tr. 292-294.
  51. White 1989, tr. 305-308.
  52. Haynes 1998, tr. 13.
  53. 1 2 "Brentford results for the 1988-1989 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  54. "Brentford results for the 1992-1993 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016.
  55. Croxford, Lane & Waterman 2013, tr. 226-229.
  56. Croxford, Lane & Waterman 2013, tr. 235.
  57. 1 2 Croxford, Lane & Waterman 2013, tr. 270.
  58. "Vale vault Brentford to lift Vans trophy". BBC. ngày 22 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  59. Street, Tim (ngày 2 tháng 10 năm 2014). "Rewind: Brentford heartache as Reading snatch promotion". Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  60. "Stoke seal promotion". BBC. ngày 11 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  61. "Downes gets sack from troubled Brentford" (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  62. "Administration shelved – thanks to £400.000 Powell". This Is Local London (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018.
  63. "Ron Steps Down". brentfordfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018.
  64. Haynes & Coumbe 2006, tr. 185.
  65. "Brentford 1-0 Bournemouth" (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2023.
  66. "Brentford 2-1 Sunderland". BBC. ngày 28 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  67. 1 2 3 4 Waterman, Greville (2022). Just a bus stop in Hounslow. Hawksmoor Publishing. ISBN 978-191406616-0.
  68. "Bees Seek New Management Team". brentfordfc.co.uk. ngày 10 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018.
  69. "Brentford fan takes on club debts". BBC. ngày 22 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  70. "aHighlight". ahighlight.com. ngày 26 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
  71. "Brentford results for the 2010-2011 season". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  72. "Brentford 0-1 Doncaster". BBC Sport. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  73. "Brentford 1-2 Yeovil: Bees lose League One play-off final". Evening Standard (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2016.
  74. Wickham, Chris. "Mark Warburton Appointed Manager". brentfordfc.com. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016.
  75. 1 2 "Brentford FC move in to new home". brentfordfc.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  76. Matt Newsum (ngày 15 tháng 5 năm 2015). "Middlesbrough 3-0 Brentford". BBC Sport. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023.
  77. "Brentford results for the 2014-2015 season". Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
  78. "Dean Smith: Aston Villa appoint new head coach with John Terry as assistant". BBC Sport. ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023.
  79. "Championship play-off final: Brentford 1-2 Fulham (AET)". BBC Sport. ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  80. "How Far is it Between Griffin Park, London and Sân vận động Cộng đồng Brentford". freemaptools.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  81. Gareth Vincent (ngày 29 tháng 5 năm 2021). "Brentford 2-0 Swansea City". BBC Sport. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2023.
  82. Smith, Emma (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Frank replaces Postecoglou as Tottenham head coach". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  83. Johnston, Neil (ngày 27 tháng 6 năm 2025). "Andrews' journey from set-piece expert to Brentford boss". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  84. "Brentford FC announces further investment and new appointments to its ownership Board". www.brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026.
  85. 1 2 3 4 5 Haynes 1998, tr. 66.
  86. "The last night at Griffin Park". brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  87. "Brentford 1 Wycombe Wanderers 1 (Brentford win 4-2 on penalties)". brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  88. "Men's". Brentford F.C. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024.
  89. "Brentford Football Club Official Instagram". www.instagram.com. ngày 17 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  90. "B Team Squad". Brentford F.C. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  91. "Coaching Staff". www.brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  92. "Brentford B and Academy squads, coaching staff and pre-season updates | Brentford FC". www.brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  93. "Martin Drury departs Brentford | Brentford FC". www.brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  94. "Brentford appoint Jack Lester as assistant first-team coach | Brentford FC". www.brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  95. "Brentford FC Company Details". brentfordfc.com.
  96. 1 2 Haynes 1998, tr. 98.
  97. Daly, Ken. "Ken Daly's alternative look at the history of Middlesbrough and Brentford who play in a Sky Bet Championship play off at Griffin Park on Friday 8 May 2015". mfc.co.uk. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2015.
  98. 1 2 Haynes 1998, tr. 30-31.
  99. 1 2 "Brentford – Historical Football Kits". Historicalkits.co.uk. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016.
  100. 1 2 3 4 5 6 7 8 "Introducing our new club crest". Brentford FC. ngày 10 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
  101. "Which Strictly star designed Brentford's badge?". BBC News. ngày 12 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018.
  102. Brentford FC. "Brentford and Umbro agree extension of partnership". brentfordfc.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  103. Brentford Shirts. "Football League Division Three". brentfordshirts.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  104. Brentford FC. "The 80's Stripes: The good, the bad and the unusual". brentfordfc.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  105. Bees United. "The Bees Red and White story 3". beesunited.org. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  106. Club Football Shirts. "Brentford Football Shirt Detail History". clubfootballshirts.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  107. "Brentford FC extended Adidas deal". Brentford F.C. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  108. "Brentford and Umbro agree extension of partnership". Brentford F.C. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025. Umbro, with over 95 years of existence in the sportswear industry, and Brentford, have been in partnership since the 2019/20 season and the new agreement will see the Manchester-based brand produce The Bees kits until the end of the 2024/25 season.
  109. "Brentford announce Joma as new official kit partner | Brentford FC". Brentford F.C. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
  110. FourFourTwo. "Brentford home kit for 2025/26". fourfourtwo.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  111. "The results of the largest ever survey into club rivalries" (PDF). Footballfancensus.com. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016.
  112. "Football Ground Guide". Football Ground Guide. tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  113. "Fulham F.C. – The 1995/1996 Season". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  114. "I'm Backing Brentford part two: how the proposed 1967 takeover started". brentfordfc.com.
  115. "Brentford FC vs. QPR". Footballderbies.com. ngày 6 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  116. 1 2 3 Wickham, Chris. "Bees agree Icelandic partnership". brentfordfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
  117. 1 2 Wickham, Chris. "Join Brentford in supporting Gulu United". brentfordfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
  118. Wickham, Chris. "Brentford club staff visit FC Midtjylland". brentfordfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
  119. Sim, Josh (ngày 17 tháng 8 năm 2023). "Brentford owner Matthew Benham sells FC Midtjylland to Danish billionaire". Sports Pro. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2023.
  120. "Best Intentions Analytics purchases Spanish club Mérida". brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  121. "London Tigers play on Griffin Park pitch". brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  122. "Best Intentions Analytics purchases Spanish club Mérida". brentfordfc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  123. "Ex bees Rover returns". brentfordfc.co.uk. ngày 16 tháng 8 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  124. "A match made in Hollywood interview". Evening Standard. ngày 12 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019.
  125. "Stephen James | The Man Behind The Body Art Model". brother2brother.co.uk (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2020.
  126. Haynes 1998, tr. 100-101.
  127. Haynes 1998, tr. 27.
  128. Newton, Becca (ngày 19 tháng 10 năm 2021). "Ted Lasso Season 2 Report Card: Most Valuable Player, Most Disappointing Storyline, & More!". tvfanatic.com/.
  129. "London League 1896-1910". nonleaguematters.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2018.
  130. 1 2 Haynes 1998, tr. 135-136.
  131. 1 2 White 1989, tr. 354.
  132. 1 2 White 1989, tr. 82-84.
  133. Haynes 1998, tr. 96.
  134. 1 2 Haynes 1998, tr. 119-120.
  135. White 1989, tr. 97.
  136. Argus (ngày 16 tháng 11 năm 1928). "A Changed Brentford". The Brentford & Chiswick Times.
  137. "England 1918/19". RSSSF.com. ngày 15 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  138. Haynes 1998, tr. 46.
  139. Haynes 1998, tr. 51.

Tài liệu dẫn

  • White, Eric, biên tập (1989). 100 Years of Brentford. Oldfield Press. ISBN 0-9515262-0-0.
  • Haynes, Graham (1998). A-Z of Bees: Brentford Encyclopaedia. Harefield: Yore Publications. ISBN 1-874427-57-7.
  • Haynes, Graham; Coumbe, Frank (2006). Timeless Bees: Brentford F.C. Who's Who 1920-2006. Harefield: Yore Publications. ISBN 0955294916.
  • Croxford, Mark; Lane, David; Waterman, Greville (2013). The Big Brentford Book of the Nineties. Sunbury, Middlesex: Legends Publishing. ISBN 9781906796723.

Xem thêm

  • Bóng đá Luân Đôn

Liên kết ngoài

Các trang web độc lập

Bản mẫu:Brentford F.C.