Everton F.C.
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Everton | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh |
| |||
| Thành lập | 1878 | |||
| Sân | Sân vận động Hill Dickinson | |||
| Sức chứa | 52.769 | |||
| Chủ sở hữu | The Friedkin Group (thông qua Roundhouse Capital Holdings Limited) | |||
| Chủ tịch điều hành | Dan Friedkin | |||
| Người quản lý | David Moyes | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | |||
| 2024-25 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 13 trên 20 | |||
| Website | evertonfc | |||
Câu lạc bộ bóng đá Everton (tiếng Anh: Everton Football Club) (/ˈɛvərtən/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Liverpool, Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.
Được thành lập vào năm 1878, câu lạc bộ là một thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888, đồng thời cũng là thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992, là một trong chỉ ba câu lạc bộ từng là thành viên sáng lập của cả hai giải đấu này. Everton là một trong những câu lạc bộ lâu đời và thành công nhất tại Anh, với 15 danh hiệu lớn: 9 chức vô địch giải vô địch bóng đá Anh, 5 Cúp FA và 1 Cúp C2 châu Âu. Everton giành chức vô địch giải quốc gia đầu tiên ở mùa giải 1890-91. Sau khi giành thêm bốn chức vô địch quốc gia và hai Cúp FA, câu lạc bộ trải qua một giai đoạn sa sút sau Chiến tranh thế giới thứ hai trước khi hồi sinh trong thập niên 1960. Một thời kì thành công bền vững đến vào giữa thập niên 1980, khi Everton giành thêm hai chức vô địch quốc gia, một Cúp FA và Cúp C2 châu Âu 1985. Danh hiệu lớn gần nhất của câu lạc bộ là Cúp FA 1995.
Everton là câu lạc bộ có thời gian hiện diện liên tục dài thứ hai tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, và đứng thứ ba trên bảng xếp hạng điểm số mọi thời đại.[1][2] Tính đến tháng 8 năm 2025, câu lạc bộ đã thi đấu ở hạng đấu cao nhất trong 123 mùa giải, một kỉ lục, và chỉ vắng mặt ở bốn mùa giải tại hạng đấu cao nhất (1930-31, 1951-52, 1952-53 và 1953-54).[3]
Trang phục thi đấu truyền thống của câu lạc bộ là áo xanh hoàng gia với quần đùi và tất màu trắng. Everton thi đấu tại Sân vận động Hill Dickinson kể từ mùa giải 2025-26. Trước đó Everton đã chơi trên sân nhà cũ Goodison Park từ năm 1892, sau khi rời sân ban đầu là Anfield khi có một bất đồng với chủ đất John Houlding về tiền thuê. Người hâm mộ câu lạc bộ thường được gọi là "Evertonians", "Toffees" hoặc "Blues". Everton có mối kình địch lâu đời với câu lạc bộ láng giềng Liverpool, hai đội tạo nên derby Merseyside. Câu lạc bộ từng thuộc sở hữu của Farhad Moshiri, sau khi ông mua 49,9% cổ phần của đội bóng vào năm 2016. Tính đến tháng 5 năm 2023, giá trị của câu lạc bộ là 744 triệu USD. Doanh thu và thu nhập hoạt động của câu lạc bộ trong mùa giải 2022-23 lần lượt là 242 triệu USD và âm 23 triệu USD.[4] Vào tháng 12 năm 2024, tỉ phú người Mỹ Dan Friedkin mua lại câu lạc bộ.
Lịch sử

Everton được thành lập với tên gọi St. Domingo's FC vào năm 1878[5][6] bởi các thành viên của giáo đoàn tại nhà nguyện St Domingo Methodist New Connexion trên đường Breckfield Road North, Everton, có thể chơi thể thao quanh năm – cricket được chơi vào mùa hè. Trận đấu đầu tiên của câu lạc bộ là chiến thắng 1-0 trước Everton Church Club.[7] Câu lạc bộ được đổi tên thành Everton vào tháng 11 năm 1879 theo tên khu vực địa phương, do những người ngoài giáo đoàn cũng muốn tham gia.[7][8]

Câu lạc bộ là một thành viên sáng lập của Football League vào mùa giải 1888-89 và giành chức vô địch giải vô địch quốc gia đầu tiên ở mùa giải 1890-91. Mùa giải 1890-91 khởi đầu cực kì ấn tượng với năm chiến thắng liên tiếp, trong đó Fred Geary ghi bàn ở mỗi trận trong sáu trận đầu tiên.[9] Đến giữa tháng 1, Everton đã hoàn tất tất cả trừ một trận đấu và có 29 điểm, trong khi Preston North End kém tới mười một điểm nhưng vẫn còn bảy trận chưa đấu. Sau đó Everton phải ngồi chờ trong hai tháng tiếp theo khi Preston hoàn tất lịch thi đấu, cho đến lúc khoảng cách chỉ còn hai điểm và mỗi đội còn lại một trận. Cả hai đội chơi trận cuối mùa vào ngày 14 tháng 3, với Everton thua 2-3 trên sân của Burnley (Geary ghi cả hai bàn cho Everton), còn Preston thua 0-3 trước Sunderland.[10] Nhờ đó, Everton giành chức vô địch Football League lần đầu tiên với cách biệt hai điểm, sau mười bốn chiến thắng trong tổng số 22 trận tại giải. Geary ra sân trong mọi trận đấu và là chân sút số một của câu lạc bộ với 21 bàn thắng.
Everton vào tới bốn trận Cúp FA trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, thua 0-1 trước Wolverhampton Wanderers tại Sân vận động Fallowfield, Manchester ngày 25 tháng 3 năm 1893 và thua 2-3 trước Aston Villa tại Crystal Palace ngày 10 tháng 4 năm 1897, trước khi giành chiến thắng ở lần thứ ba vào ngày 20 tháng 4 năm 1906 trước Newcastle United, cũng tại Crystal Palace. Everton sau đó vào trận chung kết liên tiếp thứ hai vào ngày 20 tháng 4 năm 1907, nhưng lần này thua 1-2 trước Sheffield Wednesday.[11][12] Mùa giải 1914-15 là mùa giải cuối cùng trước khi bóng đá giải vô địch bị đình chỉ trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất. Everton giành chức vô địch quốc gia lần thứ hai, hơn Oldham Athletic một điểm, còn Bobby Parker kết thúc mùa giải với tư cách chân sút ghi nhiều bàn nhất giải với 35 bàn.[13] Sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 đã làm gián đoạn chương trình bóng đá trong khi Everton đang là đương kim vô địch, và điều tương tự lại xảy ra vào năm 1939.[14][15]
Năm 1925, câu lạc bộ ký hợp đồng với Dixie Dean từ Tranmere Rovers. Ở mùa giải 1927-28, Dean lập kỉ lục số bàn thắng tại hạng đấu cao nhất trong một mùa giải với 60 bàn sau 39 trận tại giải, một kỉ lục vẫn còn tồn tại đến nay. Ông giúp Everton giành chức vô địch quốc gia lần thứ ba trong mùa giải đó.[16] Tuy nhiên, Everton bị xuống Second Division chỉ hai năm sau đó trong bối cảnh nội bộ câu lạc bộ bất ổn. Câu lạc bộ nhanh chóng hồi phục và thăng hạng ngay trong lần thử đầu tiên, đồng thời ghi số bàn thắng kỉ lục tại Second Division. Khi trở lại hạng đấu cao nhất ở mùa giải 1931-32, Everton không mất nhiều thời gian để khẳng định lại vị thế và giành chức vô địch quốc gia lần thứ tư ngay lập tức.[17][18] Everton cũng giành Cúp FA thứ hai vào năm 1933 với chiến thắng 3-0 trước Manchester City trong trận chung kết. Kỉ nguyên đó khép lại ở mùa giải 1938-39 với chức vô địch quốc gia thứ năm.[19][20]
Sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai một lần nữa khiến bóng đá giải vô địch bị đình chỉ, và khi các giải đấu chính thức trở lại vào năm 1946, đội hình Everton đã tan rã và kém xa đội hình trước chiến tranh. Tommy Lawton bị bán cho Chelsea, Joe Mercer bất đồng với huấn luyện viên trưởng Theo Kelly rồi bị bán cho Arsenal, còn T. G. Jones cũng suýt bị bán sang Roma. Chẳng bao lâu sau, chỉ còn Ted Sagar ở lại. Dưới sự dẫn dắt của Cliff Britton, một huấn luyện viên trưởng thiếu cảm hứng và ít được đầu tư, Everton xuống hạng lần thứ hai ở mùa giải 1950-51 và chỉ trở lại hạng đấu cao nhất ở mùa giải 1953-54, khi đứng á quân trong mùa giải thứ ba tại Second Division. Kể từ đó, câu lạc bộ luôn hiện diện ở hạng đấu cao nhất.[21]
Thời kì thành công thứ hai của Everton bắt đầu khi Harry Catterick được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng vào năm 1961. Ở mùa giải 1962-63, mùa giải thứ hai ông cầm quân, Everton giành chức vô địch quốc gia.[22] Năm 1966, câu lạc bộ giành Cúp FA với chiến thắng 3-2 trước Sheffield Wednesday.[23] Everton một lần nữa vào chung kết năm 1968, nhưng lần này không thể vượt qua West Bromwich Albion tại Wembley.[24] Hai mùa giải sau, ở mùa giải 1969-70, Everton giành chức vô địch quốc gia, hơn đội xếp sau là Leeds United tới chín điểm.[25] Trong giai đoạn này, Everton là câu lạc bộ Anh đầu tiên có năm năm liên tiếp góp mặt ở các giải đấu châu Âu – kéo dài từ các mùa giải 1961-62 đến 1966-67.[26]
Tuy nhiên, thành công không kéo dài; đội bóng lần lượt đứng thứ mười bốn, mười lăm, mười bảy và thứ bảy trong các mùa giải tiếp theo. Harry Catterick nghỉ hưu, nhưng những người kế nhiệm ông không thể mang về bất kì danh hiệu nào trong phần còn lại của thập niên 1970, dù Everton xếp thứ tư ở mùa giải 1974-75 dưới thời Billy Bingham, thứ ba ở mùa giải 1977-78 và thứ tư ở mùa tiếp theo dưới thời Gordon Lee. Lee bị sa thải vào năm 1981.[27]
Howard Kendall tiếp quản cương vị huấn luyện viên trưởng và đưa Everton đến giai đoạn thành công nhất trong lịch sử. Ở đấu trường trong nước, Everton giành Cúp FA năm 1984 và hai chức vô địch quốc gia ở các mùa giải 1984-85 và 1986-87. Tại châu Âu, câu lạc bộ giành danh hiệu châu Âu đầu tiên, và cho tới nay vẫn là duy nhất, khi vô địch Cúp C2 châu Âu năm 1985.[28] Thành công tại châu Âu đến sau khi Everton lần lượt vượt qua University College Dublin, Inter Bratislava và Fortuna Sittard. Sau đó, Everton đánh bại gã khổng lồ Đức Bayern Munich 3-1 ở bán kết, dù bị dẫn trước sau hiệp Một (trong một trận đấu được bình chọn là vĩ đại nhất trong lịch sử Goodison Park), rồi thắng với cùng tỉ số trước câu lạc bộ Áo Rapid Vienna trong trận chung kết.[29] Sau khi đã giành cả chức vô địch quốc gia lẫn Cúp C2 châu Âu vào năm 1985, Everton tiến rất gần đến một cú ăn ba, nhưng để thua Manchester United trong trận chung kết Cúp FA.[28] Mùa giải tiếp theo, 1985-86, Everton đứng sau Liverpool ở cả giải vô địch quốc gia lẫn Cúp FA, nhưng lại giành lại chức vô địch quốc gia ở mùa giải 1986-87.
Sau thảm họa Heysel và lệnh cấm tất cả các câu lạc bộ Anh tham dự cúp châu Âu sau đó, Everton mất cơ hội cạnh tranh thêm các danh hiệu châu Âu. Phần lớn đội hình vô địch bị chia tách sau lệnh cấm. Chính Kendall cũng chuyển sang Athletic Bilbao sau chức vô địch năm 1987 và được thay bởi trợ lí Colin Harvey. Harvey đã đưa Everton tới Chung kết Cúp FA 1989, nhưng để thua Liverpool 2-3 sau hiệp phụ.[30]
Everton là thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992, nhưng gặp khó khăn trong việc tìm ra huấn luyện viên trưởng phù hợp. Howard Kendall trở lại vào năm 1990 nhưng không thể lặp lại thành công trước đây. Người kế nhiệm ông, Mike Walker, về mặt thống kê là huấn luyện viên trưởng kém thành công nhất của Everton cho tới thời điểm đó. Khi cựu cầu thủ Everton Joe Royle tiếp quản vào năm 1994, phong độ của câu lạc bộ bắt đầu cải thiện; trận đầu tiên ông cầm quân là chiến thắng 2-0 trước đối thủ derby Liverpool. Royle đưa Everton thoát khỏi khu vực xuống hạng và dẫn dắt câu lạc bộ đến chức vô địch Cúp FA lần thứ năm trong lịch sử sau khi đánh bại Manchester United 1-0 trong trận chung kết. Chức vô địch cúp cũng là tấm vé đưa Everton trở lại Cúp C2 châu Âu, chiến dịch châu Âu đầu tiên của họ trong giai đoạn hậu Heysel. Sự tiến bộ dưới thời Royle tiếp tục ở mùa giải 1995-96 khi đội bóng leo lên vị trí thứ sáu tại Premiership.[28] Vị trí thứ mười lăm ở mùa giải sau khiến Royle từ chức vào cuối chiến dịch, và ông tạm thời được thay bởi đội trưởng câu lạc bộ Dave Watson.
Howard Kendall được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng Everton lần thứ ba vào năm 1997, nhưng quyết định này không thành công khi Everton kết thúc ở vị trí thứ mười bảy tại Premiership. Câu lạc bộ chỉ tránh xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại tốt hơn Bolton Wanderers. Cựu huấn luyện viên trưởng Rangers là Walter Smith sau đó thay Kendall vào mùa hè năm 1998, nhưng chỉ có thể giúp Everton kết thúc ba mùa giải liên tiếp ở nửa dưới bảng xếp hạng.[28] Ban lãnh đạo Everton cuối cùng hết kiên nhẫn với Smith, và ông bị sa thải vào tháng 3 năm 2002 sau khi đội bị loại khỏi Cúp FA trên sân của Middlesbrough trong bối cảnh Everton đối mặt nguy cơ xuống hạng thực sự.[31] Người thay thế ông là David Moyes, người đã đưa Everton về đích an toàn ở vị trí thứ mười lăm.[32][33]
Ở mùa giải 2002-03, Everton kết thúc ở vị trí thứ bảy, thành tích cao nhất của họ kể từ năm 1996. Dưới sự dẫn dắt của Moyes, Wayne Rooney vươn lên đội một trước khi được bán cho Manchester United với mức phí kỉ lục của câu lạc bộ là 28 triệu bảng vào mùa hè năm 2004.[34] Vị trí thứ tư ở mùa giải 2004-05 giúp Everton giành quyền dự vòng loại UEFA Champions League. Tuy nhiên, đội bóng không thể lọt vào vòng bảng Champions League rồi tiếp tục bị loại khỏi Cúp UEFA. Everton giành quyền tham dự các giải đấu 2007-08[35] và 2008-09 UEFA Cup, đồng thời là á quân ở Chung kết Cúp FA 2009. Trong giai đoạn này, Moyes đã bốn lần phá kỉ lục chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng chi: ký hợp đồng với James Beattie với giá 6 triệu bảng vào tháng 1 năm 2005,[36] Andy Johnson với giá 8,6 triệu bảng vào mùa hè năm 2006,[36] Yakubu với giá 11,25 triệu bảng vào mùa hè năm 2007,[37] và Marouane Fellaini với giá 15 triệu bảng vào tháng 9 năm 2008.[38]

Vào cuối mùa giải 2012-13, Moyes rời Everton để tiếp quản Manchester United, và được thay thế bởi Roberto Martínez.[39] Martínez đã đưa Everton lên vị trí thứ 5 tại Premier League ngay trong mùa giải đầu tiên của mình, đồng thời giúp câu lạc bộ đạt tổng điểm cao nhất trong 27 năm với 72 điểm.[40] Ở mùa giải tiếp theo, ông đưa Everton vào vòng 16 đội của UEFA Europa League 2014-15, nơi họ bị Dynamo Kyiv loại,[41] trong khi ở đấu trường trong nước họ kết thúc Premier League ở vị trí thứ 11. Everton lọt vào bán kết cả Cúp Liên đoàn lẫn Cúp FA trong mùa giải 2015-16, nhưng đều bị đánh bại ở cả hai giải. Sau một chuỗi phong độ kém tại Premier League, Martínez bị sa thải sau trận áp chót của mùa giải, khi Everton đang đứng thứ 12.[42]
Martínez được thay thế vào mùa hè năm 2016 bởi cựu huấn luyện viên trưởng Southampton là Ronald Koeman.[43] Ở mùa giải đầu tiên tại câu lạc bộ, ông giúp đội giành quyền tham dự Europa League, nhưng khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2017-18 khiến Everton rơi vào nhóm xuống hạng sau chín trận, và Koeman bị sa thải vào ngày 23 tháng 10 sau thất bại 2-5 trên sân nhà trước Arsenal.[44] Sam Allardyce kế nhiệm ông,[45] nhưng ông từ chức vào cuối mùa giải trong bối cảnh người hâm mộ bất mãn với lối chơi mà ông xây dựng.[46]

Marco Silva được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng Everton vào tháng 5 năm 2018.[47] Vào tháng 11 năm đó, câu lạc bộ bị cấm chiêu mộ các cầu thủ học viện từ những đội trẻ của các câu lạc bộ khác trong hai năm.[48] Silva đưa Everton kết thúc ở vị trí thứ 8 trong mùa giải đầu tiên của ông, nhưng sau khởi đầu tệ ở mùa giải kế tiếp khiến đội rơi vào nhóm xuống hạng, ông bị sa thải vào ngày 5 tháng 12 năm 2019.[49] Trận đấu cuối cùng của ông tại giải là thất bại 2-5 trước Liverpool tại Anfield. Cựu cầu thủ kiêm huấn luyện viên đội một Duncan Ferguson được giao quyền tạm thời trong ba trận tiếp theo trước khi người kế nhiệm là Carlo Ancelotti được bổ nhiệm; Ferguson tiếp tục ở lại với vai trò trợ lí huấn luyện viên trưởng.[50][51]
Ancelotti rời câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2021 để trở lại dẫn dắt câu lạc bộ cũ Real Madrid, sau khi giúp Everton kết thúc ở vị trí thứ 10 trong mùa giải trọn vẹn duy nhất mà ông cầm quân tại đây.[52] Cựu huấn luyện viên trưởng Liverpool Rafael Benítez được bổ nhiệm thay thế, qua đó trở thành người thứ hai từng dẫn dắt cả Liverpool lẫn Everton.[53] Ông bị sa thải vào tháng 1 năm 2022 sau chín thất bại trong 13 trận cuối cùng dẫn dắt câu lạc bộ,[54] và được thay bởi cựu huấn luyện viên trưởng Chelsea Frank Lampard.[55] Lampard sau đó cũng bị sa thải vào tháng 1 năm 2023 sau chuỗi kết quả nghèo nàn.[56] Everton suýt chút nữa thoát hiểm trong cuộc chiến trụ hạng nhờ chiến thắng 1-0 trước Bournemouth ở trận cuối cùng của Premier League 2022-23 dưới sự dẫn dắt của tân huấn luyện viên trưởng Sean Dyche.[57]

Vào ngày 17 tháng 11 năm 2023, câu lạc bộ bị trừ 10 điểm có hiệu lực ngay lập tức vì vi phạm các quy định về lợi nhuận và tính bền vững của Premier League. Câu lạc bộ đã chịu khoản lỗ 124,5 triệu bảng trong ba năm tính đến mùa giải 2021-22, trong khi giới hạn cho phép là 105 triệu bảng.[58] Đây là án phạt trừ điểm lớn nhất trong lịch sử Premier League, vượt qua mức chín điểm từng được áp dụng với Portsmouth vào năm 2010.[59] Everton đã kháng cáo quyết định này, cho rằng hội đồng xét xử thiên vị và hình phạt là quá mức, không công bằng.[60] Vào ngày 24 tháng 1 năm 2024, Everton tiếp tục bị buộc tội vi phạm thêm các quy định tài chính của Premier League sau khi "chịu khoản lỗ vượt ngưỡng cho phép trong kì đánh giá kết thúc ở mùa giải 2022-23".[61]
Ngày 9 tháng 1 năm 2025, Dyche bị miễn nhiệm trong bối cảnh Everton chỉ hơn nhóm xuống hạng một điểm,[62] và David Moyes trở lại câu lạc bộ sau gần 12 năm xa cách.[63] Vào tháng 8 năm 2025, Everton thông báo họ sẽ trở thành câu lạc bộ bóng đá Premier League đầu tiên cam kết áp dụng chế độ hưu trí đủ sống cho toàn bộ nhân viên.[64]
Màu sắc và huy hiệu
Màu sân nhà truyền thống của Everton là áo xanh hoàng gia, quần đùi trắng và tất trắng. Tuy nhiên, trong những thập niên đầu của lịch sử, Everton từng sử dụng nhiều màu trang phục khác nhau. Ban đầu đội bóng mặc áo trắng rồi sau đó là áo sọc xanh-trắng, nhưng do các cầu thủ mới đến câu lạc bộ thường mặc áo đội cũ của mình trong các trận đấu nên sự nhầm lẫn nhanh chóng xảy ra. Người ta quyết định nhuộm áo thành màu đen, vừa để tiết kiệm chi phí vừa để tạo vẻ ngoài chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, bộ trang phục này trông quá ảm đạm, nên một dải chéo đỏ thẫm được thêm vào.[13] Khi câu lạc bộ chuyển tới Goodison Park vào năm 1892, màu sắc của họ là áo sọc hồng cá hồi và xanh sẫm cùng quần đùi xanh sẫm. Sau đó câu lạc bộ chuyển sang áo đỏ ruby viền xanh cùng quần đùi xanh sẫm. Áo xanh hoàng gia với quần đùi trắng lần đầu được sử dụng ở mùa giải 1901-02.[13] Câu lạc bộ từng mặc màu xanh da trời vào năm 1906; tuy nhiên, người hâm mộ phản đối và màu sắc được đổi trở lại thành xanh hoàng gia. Đôi khi Everton cũng từng sử dụng các sắc xanh nhạt hơn xanh hoàng gia (như ở các mùa giải 1930-31 và 1997-98).[65] Bộ trang phục sân nhà hiện nay là áo xanh hoàng gia với quần đùi và tất trắng. Câu lạc bộ cũng có thể mặc toàn xanh để tránh trùng màu.Màu sân khách truyền thống của Everton là áo trắng với quần đùi đen, nhưng từ năm 1968, áo màu hổ phách cùng quần đùi xanh hoàng gia trở nên phổ biến. Nhiều biến thể khác nhau xuất hiện trong suốt thập niên 1970 và 1980. Áo sân khách màu đen, trắng, xám và vàng cũng từng được sử dụng.

Vào cuối mùa giải 1937-38, thư kí Everton là Theo Kelly, người sau này trở thành huấn luyện viên trưởng đầu tiên của câu lạc bộ, muốn thiết kế một chiếc cà vạt cho câu lạc bộ. Hai bên thống nhất rằng màu sẽ là xanh, và Kelly được giao nhiệm vụ thiết kế một huy hiệu để đưa lên cà vạt. Ông mất bốn tháng làm việc trước khi quyết định sử dụng hình tái hiện của Everton Lock-Up, công trình nằm ở trung tâm khu Everton.[66] Lock-Up đã gắn liền với khu Everton kể từ khi được xây dựng vào năm 1787. Ban đầu, công trình này được dùng như một nhà tạm giam để giam giữ chủ yếu những người say rượu và tội phạm vặt, và nó vẫn còn đứng trên Everton Brow. Lock-Up được đặt giữa hai vòng nguyệt quế ở hai bên, và theo College of Arms tại London, Kelly đã chọn thêm nguyệt quế vì đó là biểu tượng của người chiến thắng. Huy hiệu được đi kèm với khẩu hiệu của câu lạc bộ, "Nil satis nisi optimum", có nghĩa là "Không gì ngoài điều tốt nhất là đủ tốt".[66] Những chiếc cà vạt này lần đầu được Kelly và chủ tịch Everton, ông E. Green, đeo vào ngày mở màn của mùa giải 1938-39.[66]
Câu lạc bộ hiếm khi đưa bất kì dạng huy hiệu nào lên áo đấu. Thiết kế chữ "EFC" lồng vào nhau được sử dụng trong giai đoạn từ năm 1922 đến năm 1930 trước khi câu lạc bộ trở lại với áo xanh hoàng gia trơn cho đến năm 1972, khi dòng chữ "EFC" đậm được thêm vào. Huy hiệu do Kelly thiết kế lần đầu xuất hiện trên áo đấu của đội vào năm 1978 và tồn tại từ đó tới nay, dù trải qua những thay đổi dần dần để trở thành phiên bản hiện tại.
Vào tháng 5 năm 2013, câu lạc bộ ra mắt một huy hiệu mới để cải thiện khả năng tái tạo thiết kế trên các phương tiện in ấn và truyền hình, đặc biệt ở kích thước nhỏ.[67] Những người chỉ trích cho rằng áp lực từ nhà sản xuất trang phục Nike, Inc. là nguyên nhân dẫn tới việc thiết kế lại, bởi số lượng màu đã bị cắt giảm và hiệu ứng tỏa tròn bị loại bỏ, khiến trang phục tiết kiệm chi phí hơn khi tái tạo.[68][69] Thiết kế lại này bị người hâm mộ đón nhận rất tiêu cực, với một cuộc thăm dò trên một trang người hâm mộ Everton ghi nhận 91% ý kiến phản đối huy hiệu.[70] Một kiến nghị phản đối đã thu được hơn 22.000 chữ ký trước khi câu lạc bộ đưa ra lời xin lỗi và thông báo rằng một huy hiệu mới sẽ được tạo ra cho mùa giải 2014-15, với trọng tâm là tham vấn người hâm mộ. Không lâu sau đó, trưởng bộ phận tiếp thị rời câu lạc bộ. Huy hiệu mới nhất được câu lạc bộ công bố vào ngày 3 tháng 10 năm 2013. Sau quá trình tham vấn với người ủng hộ, ba phương án huy hiệu mới đã được chọn vào danh sách rút gọn. Ở cuộc bỏ phiếu cuối cùng, huy hiệu mới được gần 80% người hâm mộ tham gia lựa chọn[71][72] và bắt đầu được sử dụng từ tháng 7 năm 2014.[73]
Biệt danh
Biệt danh được biết đến rộng rãi nhất của Everton là "The Toffees" hoặc "The Toffeemen", xuất hiện sau khi Everton chuyển tới Goodison. Có một số cách giải thích về nguồn gốc của tên gọi này, trong đó nổi tiếng nhất là việc từng có một cửa hàng ở làng Everton, nằm giữa Everton Brow và Brow Side, mang tên Mother Noblett's; đây là một cửa hàng toffee bán nhiều loại kẹo, trong đó có Everton Mints (một dạng kẹo humbug). Nó cũng nằm đối diện Lock-Up, công trình làm nền tảng cho huy hiệu câu lạc bộ của Everton. Truyền thống Toffee Lady, trong đó một cô gái đi quanh đường biên trước khi trận đấu bắt đầu và tung những viên Everton Mints miễn phí lên khán đài, tượng trưng cho mối liên hệ ấy. Một khả năng khác là từng có một ngôi nhà mang tên Ye Anciente Everton Toffee House trên phố Village gần đó, Everton, do Ma Bushell điều hành. Cửa hàng kẹo này nằm gần khách sạn Queen's Head, nơi các cuộc họp đầu tiên của câu lạc bộ từng được tổ chức.[74]
Everton còn có nhiều biệt danh khác qua các năm. Khi bộ trang phục màu đen được sử dụng, đội bóng có biệt danh "The Black Watch" theo tên trung đoàn quân đội nổi tiếng.[16] Từ khi chuyển sang màu xanh năm 1901, đội bóng được gọi đơn giản là "The Blues". Lối chơi hấp dẫn của Everton khiến Steve Bloomer gọi đội là "scientific" vào năm 1928, và điều này được cho là nguồn cảm hứng cho biệt danh "The School of Science".[75] Đội hình vô địch Cúp FA năm 1995 với tinh thần chiến đấu quyết liệt được gọi chung là "The Dogs of War". Năm 2002, khi David Moyes tới làm huấn luyện viên trưởng, ông tuyên bố Everton là "The People's Club", và điều này đã được tiếp nhận như một biệt danh bán chính thức của câu lạc bộ.[76]
Các sân vận động
Những sân đấu ban đầu

Ban đầu Everton thi đấu ở góc đông nam của Stanley Park. Trận đấu chính thức đầu tiên diễn ra vào năm 1879. Năm 1882, một người tên là J. Cruitt đã hiến tặng một mảnh đất ở Priory Road, nơi trở thành sân nhà của câu lạc bộ, dù trong thời gian sân mới được chuẩn bị thì câu lạc bộ đã chơi ít nhất một trận tại sân Walton Stiles (ở đầu bên kia của City Road so với nơi sau này trở thành Goodison Park).[77] Trận đầu tiên của Everton tại đó diễn ra vào tháng 11 năm 1883, là chiến thắng 3-1 trước Hartford St. John’s; tuy nhiên, câu lạc bộ chỉ gắn bó với nơi này trong đúng một mùa giải, trước khi Cruitt yêu cầu họ rời đi vì lo ngại về tiếng ồn và hành vi của người hâm mộ.[77] Năm 1884 Everton trở thành bên thuê sân tại Anfield, thuộc sở hữu của John Orrell, một chủ đất và cũng là bạn của thành viên Everton F.C. John Houlding. Orrell cho câu lạc bộ mượn Anfield với mức tiền thuê nhỏ. Houlding mua lại khu đất từ Orrell vào năm 1885 và למעשה trở thành chủ đất của Everton khi thu tiền thuê từ câu lạc bộ; số tiền này tăng từ 100 bảng lên 240 bảng mỗi năm vào năm 1888 – và vẫn tiếp tục tăng cho tới khi Everton rời sân vào năm 1892.[78][79] Câu lạc bộ cho rằng việc tăng tiền thuê là không thể chấp nhận được.[79] Một tranh chấp khác giữa Houlding và ban chấp hành câu lạc bộ đã dẫn tới việc Houlding cố gắng giành toàn quyền kiểm soát đội bóng bằng cách đăng ký công ty "Everton F.C. and Athletic Grounds Ltd". Everton rời Anfield để chuyển sang sân mới là Goodison Park, nơi đội nam thi đấu cho tới hết mùa giải 2024-25. Houlding đã cố gắng chiếm lấy tên gọi, màu áo, lịch thi đấu và vị trí thi đấu tại giải của Everton, nhưng bị The Football Association từ chối. Thay vào đó, Houlding thành lập một câu lạc bộ mới là Liverpool F.C..[80]
Goodison Park

Goodison Park, sân vận động bóng đá lớn đầu tiên được xây dựng tại Anh, mở cửa vào năm 1892.[81] Goodison Park đã tổ chức nhiều trận đấu ở hạng đấu cao nhất hơn bất kì sân nào khác tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, đồng thời là sân duy nhất của một câu lạc bộ Anh từng đăng cai một trận bán kết tại 1966 FIFA World Cup. Đây cũng là sân đầu tiên ở Anh có hệ thống sưởi dưới mặt cỏ và là sân đầu tiên có hai tầng khán đài ở cả bốn phía. Khuôn viên nhà thờ St Luke the Evangelist nằm sát góc giữa Main Stand và Howard Kendall Gwladys Street End.[82]
Vào các ngày diễn ra trận đấu, theo một truyền thống có từ năm 1962, các cầu thủ bước ra sân trên nền nhạc "Johnny Todd", được phát theo bản phối từng được dùng làm nhạc chủ đề cho Z-Cars.[83] Đây là một bài hát thiếu nhi truyền thống của Liverpool, được Frank Kidson sưu tầm vào năm 1890, kể câu chuyện về một thủy thủ bị người yêu phản bội khi đang ở ngoài khơi.[84] Có hai lần trong năm 1994 câu lạc bộ bước ra sân với những bài hát khác. Tháng 8 năm 1994, câu lạc bộ sử dụng ca khúc "Get Ready For This" của 2 Unlimited. Một tháng sau đó, câu lạc bộ dùng bản phối lại của ca khúc kinh điển "Bad Moon Rising" của Creedence Clearwater Revival. Cả hai bài hát này đều bị người hâm mộ Everton phản đối hoàn toàn.[85]
Bắt đầu từ mùa giải 2025-26, Goodison Park sẽ là sân nhà của Everton F.C. Women, khi đội nam chuyển sang Everton Stadium. Điều này sẽ khiến nơi đây trở thành sân vận động chuyên dụng cho bóng đá nữ lớn nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[86]
Sân vận động Hill Dickinson

Các cuộc thảo luận về một sân vận động mới cho Everton bắt đầu từ năm 1996. Kế hoạch ban đầu là một sân vận động 60.000 chỗ ngồi, sau đó là đề xuất sân 55.000 chỗ tại King's Dock, nhưng bị bác bỏ vì vấn đề tài chính.[87] Năm 2004, Everton bước vào đàm phán với Liverpool F.C. về việc dùng chung một sân vận động được đề xuất tại Stanley Park, nhưng thương lượng đổ vỡ vì Everton không thể huy động 50% chi phí.[88]
Everton giành được giấy phép quy hoạch cho sân Everton Stadium mới vào tháng 7 năm 2021. Công việc xây dựng bắt đầu vào tháng 8 năm 2021, với Laing O'Rourke là nhà thầu chính của dự án. Giai đoạn đầu bao gồm việc lấp bến cảng bằng 500.000 mét khối cát nạo vét từ biển và lắp đặt 2.500 cọc bê tông thẳng đứng. Sân vận động sẽ có sức chứa 52.888 chỗ và dự kiến mở cửa vào đầu mùa giải 2025-26, thay thế Goodison Park, với chi phí ước tính 760 triệu bảng.[89][90] Ngày 16 tháng 5 năm 2025, nhà tài trợ tên sân đầu tiên của sân vận động được công bố là Hill Dickinson, qua đó đổi tên sân thành Sân vận động Hill Dickinson.[91]
Sân tập
Từ năm 1966 đến năm 2007, Everton tập luyện tại Bellefield ở khu vực West Derby của Liverpool.[92] Năm 2007, câu lạc bộ chuyển đến khu phức hợp tập luyện Finch Farm tại Halewood sau khi mua lại nơi này vào năm trước. Đội một chính thức chuyển tới khu phức hợp này vào ngày 9 tháng 10 năm 2007. Sân tập hiện được sử dụng bởi cả đội một nam, đội một nữ của Everton và học viện trẻ.[93] Sân tập có 10 sân cỏ kích thước tiêu chuẩn chia trên ba khu, trong đó có một sân được chiếu sáng, cùng với một sân cỏ nhân tạo có hệ thống đèn bổ sung và các khu tập chuyên biệt cho thể lực và huấn luyện thủ môn, cũng như một sân được tái hiện theo mặt sân Goodison Park. Bên trong khu phức hợp tập luyện có các phòng thay đồ cho cầu thủ đội một và cầu thủ học viện. Cơ sở vật chất bao gồm trung tâm thể lực, sân tập trong nhà mặt cỏ nhân tạo, bể thủy trị liệu, khu spa, phòng xông hơi, phòng vật lí trị liệu, trung tâm truyền thông và phòng xem video kèm khu biên tập video.[94]
Cổ động
Everton có lượng người hâm mộ đông đảo, với mức khán giả trung bình cao thứ tám tại Premier League trong mùa giải 2008-09.[95] Cổ động viên của câu lạc bộ thường được gọi là Evertonians hoặc Blues.[96] Phần lớn sự ủng hộ dành cho Everton trong ngày thi đấu đến từ North West of England, chủ yếu là Merseyside, Cheshire, West Lancashire và một phần phía tây của Greater Manchester, cùng với nhiều người hâm mộ di chuyển từ North Wales, Ireland và Scotland. Trong phạm vi thành phố Liverpool, sự ủng hộ dành cho Everton và đối thủ cùng thành phố Liverpool không được quyết định theo ranh giới địa lí, mà người hâm mộ của hai đội phân bố xen kẽ trên khắp thành phố. Everton cũng có nhiều hội cổ động viên trên toàn thế giới[97] ở các nơi như Bắc Mỹ,[98] Singapore,[99] Indonesia,[100] Lebanon, Malaysia,[101] Thái Lan, Ấn Độ,[102][103] và Australia.[104][105] Paul McCartney là một người hâm mộ Everton.[106] Hội cổ động viên chính thức là FOREVERTON,[107] và cũng có một số fanzine như When Skies are Grey và Speke from the Harbour, được bán quanh Goodison Park vào ngày diễn ra trận đấu.
Everton thường xuyên có số lượng cổ động viên theo chân đội rất đông ở cả các trận sân khách trong nước lẫn tại châu Âu. Câu lạc bộ áp dụng hệ thống điểm trung thành, theo đó cơ hội đầu tiên để mua vé sân khách được dành cho các chủ vé mùa đã tham dự nhiều trận sân khách nhất. Everton thường bán hết toàn bộ số vé được phân bổ tại sân khách, và vé đặc biệt bán rất chạy ở các trận sân khách tại vùng North West England. Vào tháng 10 năm 2009, Everton mang theo 7.000 cổ động viên đến sân của Benfica,[108] đây là lượng cổ động viên sân khách đông nhất của họ tại châu Âu kể từ trận chung kết Cúp C2 châu Âu 1985.
Kình địch

Đối thủ kình địch lớn nhất của Everton là láng giềng Liverpool, đội mà họ đối đầu trong trận derby Merseyside. Mối kình địch này bắt nguồn từ một tranh chấp nội bộ giữa các quan chức Everton và chủ sở hữu Anfield, sân nhà của Everton khi đó. Cuộc tranh chấp dẫn đến việc Everton chuyển sang Goodison Park và sau đó là sự ra đời của Liverpool F.C. vào năm 1892. Kể từ những sự kiện đó, một sự kình địch gay gắt đã tồn tại giữa Everton và Liverpool, dù nhìn chung vẫn được xem là tôn trọng nhau hơn so với nhiều trận derby khác ở bóng đá Anh. Điều này từng được thể hiện qua một chuỗi khăn quàng màu đỏ và xanh được nối giữa cổng của hai sân qua Stanley Park như một lời tri ân tới những cổ động viên Liverpool thiệt mạng trong thảm họa Hillsborough.[109] Trận derby này thường luôn kín chỗ và từng được gọi là "friendly derby" vì người hâm mộ hai đội thường đứng cạnh nhau, mặc màu đỏ và xanh, bên trong cả Anfield lẫn Goodison Park.[110] Trên sân cỏ, các trận đấu thường rất căng thẳng; trận derby này đã có nhiều thẻ đỏ hơn bất kì cặp đấu nào khác trong lịch sử Premier League.[111]
Trận Merseyside derby cuối cùng tại Goodison Park diễn ra vào ngày 12 tháng 2 năm 2025 và kết thúc với tỉ số hòa 2-2.[112]
Quyền sở hữu và tài chính
Everton F.C. là một công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó hội đồng quản trị nắm giữ phần lớn cổ phần.[113] Các báo cáo tài chính gần nhất của câu lạc bộ, từ tháng 5 năm 2014,[Cần cập nhật] cho thấy tổng nợ ròng là 28,1 triệu bảng, với doanh thu 120,5 triệu bảng và lợi nhuận 28,2 triệu bảng.[114] Khoản thấu chi của câu lạc bộ tại Barclays Bank được bảo đảm bằng "Basic Award Fund" của Premier League,[115] tức khoản tiền được bảo đảm dành cho các câu lạc bộ tham dự Premier League.[116] Everton đã đồng ý một khoản vay dài hạn 30 triệu bảng với Bear Stearns và Prudential plc vào năm 2002, với thời hạn 25 năm. Khoản vay này vừa là sự hợp nhất các khoản nợ khi đó, vừa là nguồn vốn để chiêu mộ cầu thủ mới.[117] Goodison Park được dùng làm tài sản bảo đảm. Vào ngày 27 tháng 2 năm 2016, có thông báo rằng Farhad Moshiri sẽ mua 49,9% cổ phần của câu lạc bộ.[118] Vào ngày 15 tháng 9 năm 2023, Everton thông báo rằng 777 Partners có trụ sở tại Miami đã ký thỏa thuận với Farhad Moshiri để mua toàn bộ 94,1% cổ phần của ông tại câu lạc bộ, chờ Premier League phê chuẩn thông qua cuộc kiểm tra chủ sở hữu và giám đốc.[119] Thương vụ tiếp quản này đổ vỡ vì không đáp ứng được thời hạn ngày 1 tháng 6 năm 2024.[120] Thỏa thuận này chính thức sụp đổ vào ngày 19 tháng 7 năm 2024 do các vấn đề liên quan đến các khoản nợ với 777 Partners và A-Cap Holdings.[121]
Vào ngày 21 tháng 6 năm 2024, Everton thông báo về một thỏa thuận độc quyền với Friedkin Group, chủ sở hữu câu lạc bộ Serie A là A.S. Roma.[122][123] Vào ngày 23 tháng 9 năm 2024, Everton và Friedkin Group ra tuyên bố chung rằng hai bên đã đạt được thỏa thuận về các điều khoản mua bán, chờ sự chấp thuận từ Premier League, The Football Association và Financial Conduct Authority.[124] Vào ngày 14 tháng 12, Friedkin chính thức nhận được sự chấp thuận từ Premier League để mua Everton, và năm ngày sau đó ông chính thức tiếp quản câu lạc bộ.[125]
Vào tháng 7 năm 2025, các chủ sở hữu đa số của câu lạc bộ là The Friedkin Group đã ra mắt Pursuit Sports, một đơn vị quản lí đa câu lạc bộ chuyên trách để giám sát các tài sản bóng đá của họ, bao gồm Everton và A.S. Roma.[126][127] Pursuit Sports do giám đốc điều hành Dave Beeston đứng đầu và được định hướng cung cấp sự hỗ trợ mang tính chiến lược, dựa trên dữ liệu cho các câu lạc bộ, đồng thời vẫn duy trì bản sắc riêng của từng đội.[128]
| Chức vụ | Tên | Số cổ phần sở hữu | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Chủ sở hữu, người sở hữu câu lạc bộ | Dan Friedkin | 127.031 | Mua 94,10% Everton từ Farhad Moshiri vào tháng 12 năm 2024. |
| Chủ tịch | Marc Watts | – | – |
| Tổng lượng cổ phần câu lạc bộ do các thành viên hội đồng quản trị sở hữu | 128.781 | ||
| Giám đốc điều hành/Giám đốc | Angus Kinnear | – | Được bổ nhiệm vào tháng 5 năm 2024 từ Leeds United |
Các con số lấy từ báo cáo tài khoản giai đoạn 2013 đến 2014.[129]
Tổng lượng cổ phần do các thành viên hội đồng quản trị sở hữu sẽ vẫn là 128.781 cho tới khi có thêm sự làm rõ liên quan đến tương lai số cổ phần của cố chủ tịch Bill Kenwright CBE trong câu lạc bộ.
Nhà tài trợ áo đấu và nhà sản xuất trang phục
Kể từ mùa giải 2022-23, nhà tài trợ chính trên áo đấu của câu lạc bộ là công ty cá cược trực tuyến Stake.com, sau khi câu lạc bộ chấm dứt thỏa thuận trước đó với SportPesa vào tháng 2 năm 2020.[130] Các nhà tài trợ trước đây gồm có Cazoo (2020-2022), SportPesa (2017-20),[131][132] Chang Beer (2004-17), Hafnia (1979-85), NEC (1985-95), Danka (1995-97), one2one (1997-2002) và Kejian (2002-04). Ở mùa giải 2008-09, Everton bán các áo đấu sao chép dành cho trẻ em mà không in tên hay biểu trưng hiện tại của nhà tài trợ chính Chang beer, làm theo khuyến nghị của Portman Group rằng tên các nhãn hiệu rượu bia nên được gỡ khỏi trang phục bán cho trẻ em.[133]
Nhà sản xuất trang phục của Everton trong giai đoạn 2020-2024 là Hummel, sau khi hợp đồng trước đó với Umbro bị câu lạc bộ chấm dứt sớm.[134] Umbro từng bốn lần là nhà sản xuất trang phục của câu lạc bộ (1974-83, 1986-2000, 2004-09 và 2014-20).[135] Những công ty sản xuất trước đó khác gồm Le Coq Sportif (1983-86, 2009-12),[136] Puma (2000-04) và Nike (2012-14).[137] Sau khi hợp đồng của Everton với Hummel kết thúc vào cuối mùa giải 2023-24, ngày 14 tháng 6 năm 2024 câu lạc bộ đã ký một thỏa thuận nhiều năm với hãng sản xuất trang phục có trụ sở tại Vương quốc Liên hiệp Anh là Castore.[138]
Hiện câu lạc bộ có hai 'megastore': một nằm gần Goodison Park trên phố Walton Lane với tên gọi 'Everton One', và một nằm trong khu mua sắm Liverpool One với tên gọi 'Everton Two', qua đó khiến cửa hàng thứ hai có địa chỉ là 'Everton Two, Liverpool One'.[139]
| Giai đoạn | Thương hiệu | Nhà tài trợ áo đấu (ngực) | Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) |
|---|---|---|---|
| 1974-1979 | Umbro | Không | Không |
| 1979-1983 | Hafnia | ||
| 1983-1985 | Le Coq Sportif | ||
| 1985-1986 | NEC | ||
| 1986-1995 | Umbro | ||
| 1995-1997 | Danka | ||
| 1997-2000 | one2one | ||
| 2000-2002 | Puma | ||
| 2002-2004 | Kejian | ||
| 2004-2009 | Umbro | Chang | |
| 2009-2012 | Le Coq Sportif | ||
| 2012-2014 | Nike | ||
| 2014-2017 | Umbro | ||
| 2017-2020 | SportPesa | Angry Birds | |
| 2020-2022 | Hummel | Cazoo | Không |
| 2022-2023 | Stake.com | BOXT | |
| 2023-2024 | Kick | ||
| 2024-2026 | Castore | Christopher Ward |
Công bằng tài chính
Vào tháng 3 năm 2023, Premier League đã chuyển Everton sang một ủy ban độc lập để điều tra các cáo buộc vi phạm các quy định công bằng tài chính ở mùa giải 2021-2022.[140] Cuộc điều tra kết thúc vào tháng 11 năm 2023 với kết luận rằng Everton đã vi phạm các quy định công bằng tài chính sau khi báo lỗ 371,8 triệu bảng trong ba năm, trong khi theo quy định của Premier League, các câu lạc bộ chỉ được phép lỗ tối đa 105 triệu bảng trong ba năm.[141] Kết quả là Everton bị trừ 10 điểm, mức phạt nặng nhất trong lịch sử Premier League.[142] Ở thời điểm đó, Everton có 14 điểm sau 12 trận và đứng thứ 14 trên bảng xếp hạng; án phạt khiến Everton rơi xuống vị trí thứ 19, trong nhóm xuống hạng của Premier League.[143] Everton cho biết câu lạc bộ "vừa bị sốc vừa thất vọng trước phán quyết của Ủy ban Premier League" và đã thông báo về "ý định kháng cáo quyết định này lên Premier League".[144] Nghị sĩ Liverpool Ian Byrne đã đưa vụ trừ 10 điểm này ra Hạ viện Anh, kêu gọi đình chỉ mọi thủ tục và chế tài, đồng thời mô tả án phạt này là "cực kì không công bằng".[145]
Trong cộng đồng
Bộ phận cộng đồng của Everton, Everton in the Community (EitC), là một tổ chức từ thiện cung cấp các hoạt động thể thao và những hoạt động xã hội khác cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả dành cho người khuyết tật.[146] EitC đại diện cho câu lạc bộ trong European Multisport Club Association.[147]
Mối quan hệ với các câu lạc bộ khác
Everton có liên kết với nhiều câu lạc bộ thể thao và tổ chức khác. Câu lạc bộ có mối liên hệ với học viện bóng đá Ballyoulster United của Ireland tại Celbridge,[148] Ontario Soccer Association của Canada,[149] và Liên đoàn bóng đá Thái Lan (nơi có một giải đấu mang tên Chang-Everton Cup, dành cho các học sinh địa phương tranh tài).[150] Câu lạc bộ cũng có một học viện bóng đá tại thành phố Limassol của Síp[151] và một thỏa thuận hợp tác với câu lạc bộ Mỹ Pittsburgh Riverhounds.[152][153]
Everton có liên hệ với đội bóng Chile Everton de Viña del Mar, đội được đặt tên theo câu lạc bộ này.[154][155] Vào ngày 4 tháng 8 năm 2010, hai đội Everton đã gặp nhau trong một trận giao hữu tại Goodison Park mang tên "Copa Hermandad" để đánh dấu kỉ niệm 100 năm của đội bóng Chile.[156] Dịp này được tổ chức bởi Ruleteros Society, một tổ chức được thành lập để thúc đẩy mối liên hệ giữa hai câu lạc bộ.[157] Những câu lạc bộ khác mang tên Everton cũng tồn tại tại Colonia ở Uruguay,[158] La Plata và Río Cuarto ở Argentina,[159][160] Elk Grove tại bang California của Hoa Kỳ,[161] và Cork ở Ireland.[162] Tại Trinidad và Tobago cũng từng có một đội mang tên Everton. Tại Auckland, New Zealand từng có một câu lạc bộ Everton từ năm 1907 đến năm 1915, được đặt tên theo chức vô địch Cúp FA đầu tiên của Everton.[163]
Câu lạc bộ từng sở hữu và điều hành một đội bóng rổ chuyên nghiệp mang tên Everton Tigers, thi đấu tại hạng đấu cao nhất là British Basketball League. Đội được thành lập vào mùa hè năm 2007 như một phần của chương trình cộng đồng của câu lạc bộ và chơi các trận sân nhà tại Greenbank Sports Academy ở khu ngoại ô Mossley Hill của Liverpool. Đội bóng này là sự kết hợp với chương trình thanh thiếu niên cộng đồng Toxteth Tigers, vốn khởi đầu từ năm 1968. Đội nhanh chóng trở thành một trong những đội thành công nhất giải khi giành BBL Cup năm 2009 và vô địch play-off năm 2010. Tuy nhiên, Everton rút tài trợ trước mùa giải 2010-11 và đội được tái ra mắt với tên gọi Mersey Tigers.[164]
Chủ sở hữu của Everton cũng sở hữu AS Roma.
Trong văn hóa đại chúng
Điện ảnh và truyền hình
Bộ phim truyền hình năm 1969 The Golden Vision của Ken Loach kết hợp giữa chính kịch ứng biến và các thước phim tài liệu để kể câu chuyện về một nhóm cổ động viên Everton, những người mà mục đích chính của cuộc sống – theo chân đội bóng – lại bị gián đoạn bởi những phiền toái như công việc và đám cưới. Tiền đạo Everton Alex Young, người có biệt danh cũng chính là tên phim, đã xuất hiện với vai trò là chính mình.[165]
Bộ phim truyền hình năm 1997 The Fix của Paul Greengrass đã tái hiện theo lối chính kịch câu chuyện có thật về một vụ bê bối dàn xếp tỉ số, trong đó cầu thủ mới nhất của câu lạc bộ là Tony Kay (do Jason Isaacs thủ vai) bị liên đới vì đã giúp dàn xếp kết quả một trận đấu giữa câu lạc bộ cũ của anh là Sheffield Wednesday và Ipswich Town. Phần lớn câu chuyện diễn ra trong mùa giải Everton vô địch quốc gia 1962-63, với huấn luyện viên trưởng Harry Catterick do Colin Welland thủ vai.[166]
Trong bộ phim Creed năm 2015 thuộc loạt Rocky, Goodison Park được sử dụng làm địa điểm cho cảnh đấu cao trào. Những hình ảnh của sân vận động và khán giả trong một trận sân nhà gặp West Bromwich Albion đã được dùng cho cảnh quay này. Nhà vô địch quyền anh sinh ra tại Liverpool là Tony Bellew, một người hâm mộ Everton suốt đời,[167] vào vai đối thủ của Creed và mang huy hiệu Everton trên trang phục tập luyện cũng như quần thi đấu của mình.[168]
Âm nhạc
Câu lạc bộ đã bốn lần góp mặt trên bảng xếp hạng đĩa đơn của Vương quốc Liên hiệp Anh dưới những tiêu đề khác nhau trong thập niên 1980 và 1990, khi nhiều câu lạc bộ phát hành các ca khúc để đánh dấu việc vào tới Cúp FA Final. "The Boys in Blue", phát hành năm 1984, đạt vị trí cao nhất là hạng 82.[169] Năm tiếp theo, câu lạc bộ có bản hit thành công nhất khi "Here We Go" đạt vị trí thứ 14.[170]
Năm 1986, Everton phát hành "Everybody's Cheering the Blues", ca khúc này đạt vị trí thứ 83.[171] "All Together Now", một bản phối lại từ một ca khúc của ban nhạc Liverpool The Farm, được phát hành cho Chung kết Cúp FA 1995 và đạt vị trí thứ 27.[172] Tới thời điểm câu lạc bộ vào Chung kết Cúp FA 2009, truyền thống này hầu như đã bị tất cả các câu lạc bộ từ bỏ và không có ca khúc nào được phát hành.
Năm 2020, Everton FC phát hành đĩa đơn "Spirit of the Blues", ca khúc này đạt vị trí thứ 64 trên bảng xếp hạng tại Vương quốc Liên hiệp Anh.[172]
Cầu thủ
Đội hình đội một
- Tính đến 2 tháng 2 năm 2026[173]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội dự bị và học viện
Cầu thủ cũ
Đội trưởng câu lạc bộ
Kể từ năm 1888, đã có 48 cầu thủ giữ vai trò đội trưởng câu lạc bộ của Everton. Đội trưởng đầu tiên của câu lạc bộ là Nick Ross, người đeo băng đội trưởng Everton trong mùa giải 1888-89. Đội trưởng có thời gian giữ vai trò lâu nhất là Peter Farrell, người làm đội trưởng câu lạc bộ trong 9 năm – từ năm 1948 đến năm 1957. Dù giữ vai trò rất lâu, Peter Farrell chưa từng giành một danh hiệu nào cùng Everton. Kevin Ratcliffe, người làm đội trưởng Everton trong giai đoạn thành công nhất lịch sử đội bóng, là đội trưởng giàu thành tích nhất của Everton. Ông giành 7 danh hiệu trên cương vị đội trưởng, gồm 2 chức vô địch First Division, 4 FA Charity Shield và 1 Cúp C2 châu Âu. Đội trưởng hiện tại của Everton là Séamus Coleman. Ông giữ vai trò này kể từ khi Phil Jagielka rời câu lạc bộ vào năm 2019.[174]

|
|
|
Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải
Thành viên đại sảnh danh vọng
Quan chức câu lạc bộ
- Tính đến 12 tháng 5 năm 2025
Ban điều hành
| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Chủ tịch | |
| Chủ tịch điều hành | |
| Giám đốc điều hành | |
| Đại sứ câu lạc bộ | |
Ban huấn luyện

| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lí huấn luyện viên trưởng | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Huấn luyện viên các tình huống cố định | |
| Huấn luyện viên hiệu suất thể chất | |
| Chuyên viên vật lí trị liệu | |
| Trưởng huấn luyện học viện | |
| Huấn luyện viên trưởng đội U21 |
Các huấn luyện viên trưởng đáng chú ý
Huấn luyện viên trưởng hiện tại của câu lạc bộ là David Moyes, người trở lại trong nhiệm kì thứ hai tại câu lạc bộ khi thay Sean Dyche vào tháng 1 năm 2025.[179] Câu lạc bộ cũng từng có bốn huấn luyện viên tạm quyền, và trước năm 1939 đội hình được lựa chọn bởi thư kí câu lạc bộ hoặc bởi một ủy ban. Huấn luyện viên trưởng có thời gian phục vụ lâu nhất của câu lạc bộ là Harry Catterick, người dẫn dắt đội từ năm 1961 đến năm 1973 qua 594 trận đội một.[180] Huấn luyện viên trưởng của Everton giành nhiều danh hiệu trong nước và quốc tế nhất là Howard Kendall, người đoạt hai chức vô địch First Division, Cúp FA 1984, Cúp C2 châu Âu 1985 và ba FA Charity Shield.[181]
Kỉ lục và thống kê

Neville Southall nắm giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho Everton với 751 trận đội một trong giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1997. Cố trung vệ và cựu đội trưởng Brian Labone đứng thứ hai với 534 trận. Cầu thủ có thời gian gắn bó lâu nhất là thủ môn Ted Sagar, người thi đấu trong 23 năm từ năm 1929 đến năm 1953. Quãng thời gian này trải dài qua cả hai phía của Chiến tranh thế giới thứ hai và bao gồm tổng cộng 495 lần ra sân. Southall trước đây cũng giữ kỉ lục số trận giữ sạch lưới nhiều nhất ở giải vô địch trong một mùa giải với 15 trận. Tuy nhiên, kỉ lục này đã bị vượt qua ở mùa giải 2008-09 bởi thủ môn người Mỹ Tim Howard, người kết thúc mùa giải với 17 trận giữ sạch lưới.[182] Chân sút ghi nhiều bàn nhất của câu lạc bộ, với 383 bàn trên mọi đấu trường, là Dixie Dean; người đứng thứ hai là Graeme Sharp với 159 bàn. Dean vẫn giữ kỉ lục quốc gia Anh về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải với 60 bàn.[183]

Kỉ lục khán giả dự khán một trận sân nhà của Everton là 78.299 người trong trận gặp Liverpool vào ngày 18 tháng 9 năm 1948. Đáng chú ý là chỉ có một ca chấn thương xảy ra ở trận này, khi Tom Fleetwood bị một đồng xu ném từ khán đài trúng đầu trong lúc ông diễu quanh đường biên và chơi cornet cùng ban nhạc St Edward's Orphanage.[183] Goodison Park, giống như tất cả các sân bóng lớn ở Anh kể từ khi các khuyến nghị của Taylor Report được áp dụng, hiện là sân toàn ghế ngồi và chỉ chứa chưa tới 40.000 người, điều đó có nghĩa là kỉ lục khán giả này khó có thể bị phá tại Goodison.[183] Mức phí chuyển nhượng cao nhất Everton từng chi là trả cho Swansea City để mua tiền vệ người Iceland Gylfi Sigurðsson với số tiền 45 triệu bảng vào năm 2017.[184] Việc bán Romelu Lukaku cho Manchester United trong cùng năm với khoản phí ban đầu 75 triệu bảng là số tiền lớn nhất Everton từng thu về cho một cầu thủ và khi đó cũng là thương vụ chuyển nhượng lớn nhất giữa hai câu lạc bộ Anh.[185]
Everton giữ kỉ lục về số mùa giải nhiều nhất ở hạng đấu cao nhất của Anh (Division One/Premier League), với 122 mùa trong tổng số 126, tính đến khi kết thúc mùa giải 2024-25 (câu lạc bộ thi đấu ở Division 2 trong mùa giải 1930-31 và từ năm 1951 đến năm 1954). Họ là một trong sáu đội đã thi đấu trong mọi mùa giải của Premier League kể từ khi giải ra đời vào tháng 8 năm 1992 – các đội còn lại là Arsenal, Chelsea, Liverpool, Manchester United và Tottenham Hotspur. Everton gặp Aston Villa là cặp đấu được chơi nhiều nhất tại hạng đấu cao nhất của Anh. Tính đến mùa giải 2024-25, hai thành viên sáng lập của Football League này đã gặp nhau tổng cộng 214 trận tại giải, một kỉ lục.[186]
Danh hiệu
| Loại | Giải đấu | Số danh hiệu | Mùa giải |
|---|---|---|---|
| Trong nước | First Division[nb 1] | 9 | 1890-91, 1914-15, 1927-28, 1931-32, 1938-39, 1962-63, 1969-70, 1984-85, 1986-87[187] |
| Second Division[nb 1] | 1 | 1930-31[187] | |
| Cúp FA | 5 | 1905-06, 1932-33, 1965-66, 1983-84, 1994-95[187] | |
| FA Charity Shield[nb 2] | 9 | 1928, 1932, 1963, 1970, 1984, 1985, 1986 (đồng vô địch), 1987, 1995[187] | |
| Châu lục | UEFA Cup Winners' Cup | 1 | 1984-85[187] |
Xem thêm
- Danh sách huấn luyện viên Everton F.C
- Danh sách cầu thủ bóng đá Everton F.C.
- Danh sách cầu thủ bóng đá Everton F.C. thi đấu quốc tế
- Danh sách kỉ lục và thống kê Everton F.C.
- Danh sách mùa giải Everton F.C.
- Everton F.C. ở bóng đá châu Âu
- Everton W.F.C.
Ghi chú
- 1 2 Khi ra đời vào năm 1992, Premier League trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; Football League First Division và Second Division sau đó lần lượt trở thành hạng Hai và hạng Ba. Từ năm 2004, First Division đổi tên thành Championship và Second Division đổi tên thành League One.
- ↑ Năm 2002, Charity Shield được đổi tên thành Community Shield
Tham khảo
- ↑ "Seasons in English Top Flight Football by Clubs 1888-89 to 2019-20". MyFootballFacts.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "All-Time English Football Top Flight Table from Season 1888-89 to 2021-22". MyFootballFacts.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "When did Everton last get relegated from the Premier League?". Tales From The Top Flight. ngày 14 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Everton on the Forbes Soccer Team Valuations List". Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "A brief history of Everton". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Gore's Directory 1878". FamilySearch. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2017.
- 1 2 "Club profile: Everton". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "St Domingo's – 53.425799°N, 2.964903°W". Everton F.C. ngày 10 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "Everton match results – 1890-91 season". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
- ↑ Association Football in Victorian England – A History of the Game from 1863 to 1900 by Philip Gibbons
- ↑ "Sheffield Wednesday 2-1 Everton 20 tháng 4 năm 1907 - Attendance: 84.584". Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Everton's Record in 1906-07". Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- 1 2 3 "Everton history – II: Before World War I (1888-1915)". Toffeeweb. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "9 Facts About Football in the First World War". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "10 Facts About Football in the Second World War". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- 1 2 "The Everton Story – 1878 to 1930". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ Scott Murray (ngày 21 tháng 1 năm 2011). "The Joy of Six: Newly promoted success stories". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ↑ Karel Stokkermans (ngày 17 tháng 6 năm 2018). "English Energy and Nordic Nonsense". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Football and the First World War". Spartacus Educational. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
- ↑ "Everton 1938-1939 : Home". statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
- ↑ "The Everton Story – 1931 to 1960". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "1962/63 Season | Everton Football Club". www.evertonfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "A great final – a fantastic comeback". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "West Brom to honour Jeff Astle by wearing replica Chung kết Cúp FA 1968 kit". The Guardian. Press Association. ngày 26 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "1969/70 Season | Everton Football Club". www.evertonfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "1969/70 SEASON". Everton FC. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "The Everton Story – 1961 to 1980". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- 1 2 3 4 "The Everton Story – 1981 to 2006". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "Goodison's greatest night". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Chung kết Cúp FA 1989: Liverpool vs Everton". Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Everton sack boss Walter Smith". CBBC Newsround. ngày 13 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2007.
- ↑ "Can Moyes revive Everton?". BBC Sport. ngày 14 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2007.
- ↑ "Final 2001/2002 English Premier Table". Soccerway.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "Rooney deal explained". BBC Sport. ngày 1 tháng 9 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Final 2006-07 English Premier League Table". FastScore.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
- 1 2 "Everton complete Johnson capture". BBC Sport. ngày 30 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Yakubu joins Everton for £11.25m". BBC Sport. UK. ngày 29 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Everton smash record for Fellaini". BBC Sport. ngày 2 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Roberto Martínez confirmed as the new Everton manager". The Guardian. ngày 5 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Darling, Kevin (ngày 11 tháng 5 năm 2014). "Hull 0 – 2 Everton". BBC Sport. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014.
- ↑ "Dynamo Kyiv 5-2 Everton". UEFA. UEFA. ngày 19 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 12 tháng 5 năm 2016). "Roberto Martínez sacked by Everton after disappointing season". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "Ronald Koeman: Everton appoint ex-Southampton boss as manager". BBC Sport. BBC. ngày 14 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Ronald Koeman: Everton sack manager after Arsenal defeat". BBC Sport. BBC. ngày 23 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Sam Allardyce appointed new Everton manager before Huddersfield game". The Guardian. ngày 30 tháng 11 năm 2017. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Sam Allardyce sacked by Everton after six months as manager". The Guardian. ngày 16 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 31 tháng 5 năm 2018). "Everton confirm appointment of Marco Silva as new manager". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Everton handed 2-year ban from signing academy players". FOX Sports. ngày 8 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Club Statement". www.evertonfc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 11 tháng 12 năm 2019). "Duncan Ferguson to stay in charge of Everton for Manchester United game". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
- ↑ "Everton appoint Carlo Ancelotti as manager to succeed Marco Silva". The Guardian. ngày 21 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2019.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 2 tháng 6 năm 2021). "Carlo Ancelotti leaves Everton: 'Italian's exit to Real Madrid major blow to Toffees' ambitions'". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Benitez Appointed Everton Manager". www.evertonfc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Rafael Benitez: Everton sack manager after just six-and-a-half months in charge following Norwich defeat". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Frank Lampard: Everton appoint former Chelsea boss as new manager to replace Rafael Benitez". Sky Sports. ngày 31 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Frank Lampard: Everton manager sacked after defeat by West Ham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Everton seal Premier League survival as Doucouré screamer sinks Bournemouth". The Guardian. ngày 28 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2023.
- ↑ Poole, Harry (ngày 17 tháng 11 năm 2023). "Everton receive immediate 10-point Premier League deduction for financial rules breach". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Everton: What other big points deductions have there been?". BBC Sport. ngày 17 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 1 tháng 12 năm 2023). "Everton lodge appeal and hint at tension over commission's independence". The Guardian.
- ↑ "Everton and Nottingham Forest charged with breaking financial rules by Premier League". BBC Sport. ngày 15 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Everton sack manager Sean Dyche". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2025.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 11 tháng 1 năm 2025). "David Moyes returns as Everton manager after almost 12 years away". The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Everton becomes first Premier League football club to commit to a Living Pension for all staff". livingwage.org.uk. ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Everton". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
- 1 2 3 "History of Everton crest from official site". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Breakdown of Elements". Everton F.C. Official Website. ngày 25 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Everton Reveal New Crest for 2013/14 After Fan Vote". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Everton announce new club badge design voted for by the fans to replace 'awful' 2013-14 version". Independent.co.uk. ngày 4 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2023.
- ↑ Jones, Neil (ngày 27 tháng 5 năm 2013). "Everton fans' disappointment at 'modern, cleaner' Blues badge". Liverpool Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013.
- ↑ Clark, Adam (ngày 3 tháng 10 năm 2013). "Next Crest Revealed". Everton F.C. Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Everton reveal crest vote results after motto U-turn". BBC. ngày 3 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
- ↑ Bleaney, Rob (ngày 4 tháng 7 năm 2014). "Everton begin using new club crest chosen by fans after huge backlash". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Reasons behind the "toffees" nickname". Toffeeweb. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "The School of Science". Toffeeweb. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ Mullock, Simon (ngày 8 tháng 5 năm 2010). "Everton are a better buy than Liverpool, says David Moyes". Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
- 1 2 Royden, Mike (ngày 1 tháng 11 năm 2021). "In Search of Priory Road 1883-84". Everton FC Heritage Society. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "I: THE EARLY DAYS (1878-88)". Toffeeweb. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2007.
- 1 2 Groom, Andy (2014). The Illustrated Everton Story. Andrews UK Limited.
- ↑ "Liverpool Football Club is formed". Liverpool FC. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014.
- ↑ "History of Goodison Park". Toffeeweb. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2009.
- ↑ "Everton firsts". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006.
- ↑ Prentice, David (ngày 18 tháng 9 năm 2014). "The 'real' story behind Everton's enduring anthem Z-Cars". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Johnny Todd". feniks.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ Mimms, Robert (tháng 7 năm 1998). "Amateur Dramatics". When Saturday Comes. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Goodison Park to become home of Everton's women". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Kings Dock proposal collapse". BBC Sport. ngày 11 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Everton and Liverpool say no to ground share". icliverpool. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Everton web-site - Stadium". Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2022.
- ↑ "Interim CEO Explains Everton Stadium Decision". www.evertonfc.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Hill Dickinson Named As Official Stadium Naming Rights Partner". Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Prentice, David (ngày 22 tháng 3 năm 2011). "The Ghosts of Bellefield part one: Football history in the making for Everton FC". Liverpool Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
- ↑ "Plans for new football academy". Liverpool Echo. ngày 26 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Finch Farm Visit – Everton FC Heritage Society". ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "English Premier League – Attendance – 2009/2010". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
- ↑ O'Keeffe, Greg (ngày 19 tháng 5 năm 2022). "Everton fans on surviving in the Premier League: 'This is our life. We cannot fail'". The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "List of Everton Supporters Clubs". Bluekipper. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Everton Supporters Clubs (North America)". Everton USA. ngày 5 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "Everton Supporters Club (Singapore)". Singapore Everton Supporters' Club Website. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Profil IndoEvertonian: Seperti Permen Toffee, Keras dan Setia dalam Mendukung Everton". Bola.net (bằng tiếng Indonesia). ngày 14 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Everton Supporters Club of Malaysia". Everton Supporters Club of Malaysia. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
- ↑ "'Everton means every single emotion I have experienced'". ngày 8 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "EUROPE, MIDDLE EAST & AFRICA SUPPORTERS' CLUBS". Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Everton Official Site" (bằng tiếng Thái). Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Everton Supporters Club Australia". Everton Supporters Club Australia. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010.
- ↑ Sunderland, Tom (ngày 11 tháng 5 năm 2015). "20 Stars of the music world and the football clubs they support". Bleacher Report. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "FOREVERTON – Official Everton Supporters Club". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ↑ Brett, Oliver (ngày 22 tháng 10 năm 2009). "Benfica 5 – 0 Everton". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010.
- ↑ "Merseyside Derby". footballderbies.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2006.
- ↑ "Liverpool: 10 Reasons Liverpool Fans Can't Stand Everton". Bleacher Report.
- ↑ Malam, Colin (ngày 26 tháng 3 năm 2006). "Gerrard off as Reds take derby honours". Daily Telegraph. UK. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Four sent off as last Merseyside derby at Goodison ends in brawl". Sky News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "Annual Report and Accounts 2010" (PDF). Everton Football Club Company Limited. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "Everton Reveal Strong Financial Results | Everton Football Club". www.evertonfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Premier League Handbook: Season 2009/10" (PDF). Premier League. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2010.
- ↑ "Everton secure overdraft with TV money". EUFootball.biz. ngày 17 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
- ↑ "Everton Football Club Secures 30M Pounds Sterling Financing Deal with Bear Stearns". Business Wire. ngày 22 tháng 3 năm 2002.
- ↑ Law, Matt (ngày 27 tháng 2 năm 2016). "Iranian billionaire sells up at Arsenal to take over at Everton". www.telegraph.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 15 tháng 9 năm 2023). "Everton's sale to American firm 777 Partners tests Premier League rules". The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Ogden, Mark (ngày 1 tháng 6 năm 2024). "Everton seek new buyer after deal with 777 Partners collapses". ESPN. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Everton back in crisis as Friedkin Group's proposed takeover off". The Athletic. ngày 19 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Slater, Matt; Boyland, Patrick (ngày 21 tháng 6 năm 2024). "Friedkin Group enters exclusivity talks over Everton takeover". The Athletic. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Club Statement". Everton F.C. ngày 21 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "U.S. firm Friedkin Group agree Everton takeover". ESPN.com. ngày 23 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Everton confirm takeover by American billionaire Dan Friedkin". independent.co.uk. ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Friedkin Group launches Pursuit Sports for oversight of pro team portfolio". SportsBusiness Journal. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Friedkin Group launches Pursuit Sports to oversee AS Roma, Everton FC and more". Houston Chronicle. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Friedkin Group launches multi-club ownership group". SportsPro Media. ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Annual Report & Accounts 2014" (PDF). Everton F.C. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Kirkbride, Phil (ngày 10 tháng 6 năm 2020). "Everton, Cazoo and understanding the club's new shirt deals and commercial plans". Liverpool Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Everton Signs Record Partnership Deal". Everton FC. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Everton confirm SportPesa as new shirt sponsor". Liverpool Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Ducker, James (ngày 6 tháng 6 năm 2008). "Everton sober up for sake of their young fans". Times Online. London: Times Newspapers Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2008.
- ↑ Hunter, Andy (ngày 20 tháng 5 năm 2020). "Everton agree £9m-a-season kit deal with Hummel and drop Umbro". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2020.
- ↑ O'Keeffe, Greg (ngày 4 tháng 2 năm 2014). "Boss unveils new umbro partnership". evertonfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014.
- ↑ King, Dominic (ngày 1 tháng 5 năm 2009). "Everton F.C. confirm record commercial deal with Kitbag Limited". Liverpool Echo. Trinity Mirror North West & North Wales Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
- ↑ O'Keeffe, Greg (ngày 8 tháng 3 năm 2012). "Everton FC agree three-year kit deal with US sportswear giant Nike". Liverpool Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "Everton And Castore Partner In Landmark Agreement". Everton F.C. ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Everton Two, Liverpool One". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
- ↑ Boyland, Patrick (ngày 25 tháng 3 năm 2023). "Everton referred to independent commission by Premier League over alleged breach of FFP rules". The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Unwin, Will (ngày 17 tháng 11 năm 2023). "Everton deducted 10 points by Premier League over financial fair play breach". The Guardian. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Everton deducted 10 points by Premier League in record-breaking punishment over FFP breach". The Mirror. ngày 17 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Everton rocked by points deduction as Premier League takes stand over financial fair play". The Independent. ngày 17 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Club Statement". www.evertonfc.com. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Everton points deduction taken to Parliament by MP Ian Byrne with early day motion". BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Everton FC charity's free school approved". BBC News. ngày 14 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Monday, 1 tháng 12 năm 2014 / Session 6: Multi-sport clubs" (PDF). European Commission. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- ↑ ""Everton in Ireland" launched". Everton F.C. ngày 24 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "Ontario Soccer Association". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "Everton's Annual Report 2004" (PDF). Everton F.C. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "MegaSport". MegaSport. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010.
- ↑ Zeise, Paul (ngày 13 tháng 7 năm 2007). "Riverhounds kick up ante". Pittsburgh Post-Gazette. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008.
- ↑ McLeod, Scott (ngày 10 tháng 8 năm 2007). "Blues Partner Riverhounds". EvertonFC.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008.
- ↑ Prentice, David (ngày 25 tháng 3 năm 2009). "Everton Shareholders celebrate Chile's Everton". Liverpool Echo. Trinity Mirror North West & North Wales Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Everton in Chile – The Ruleteros". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ↑ Tallentire, Mark (ngày 3 tháng 8 năm 2010). "A hundred years after inspiring their name, Everton face Everton again". The Guardia. London. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "The Ruleteros Society". The Ruleteros Society. ngày 3 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "Uruguay 2002 – Campeonatos Departamentales de Colonia". rsssf. ngày 6 tháng 1 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Historia de una institución decana del fútbol amateur platense" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Agencia Nova. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Argentina Fifth Level (Torneo Argentino "C" – Interior) 2008/09". rsssf. ngày 3 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Elk Grove United". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010.
- ↑ "Everton AFC – Togher, Cork". Cork, Ireland: Everton AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2010.
- ↑ "The Sportsman, Reg Boyne and Auckland's Everton". The Sportsman, Reg Boyne and Auckland's Everton. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Everton Tigers to join BBL ranks". BBC Sport. ngày 20 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007.
- ↑ Kelner, Martin (ngày 2 tháng 3 năm 2009). "Loach and Boorman prove that footballers were once real people". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011.
- ↑ "The Fix (TV Movie 1997)". IMDb. ngày 31 tháng 7 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Liverpool v Everton: Tony Bellew on 'a day of torment and stress'". BBC Sport. ngày 8 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- ↑ Prentice, David (ngày 15 tháng 9 năm 2015). "Everton club crest gets Hollywood treatment in new Rocky movie". liverpoolecho. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Everton Football Club Hits - The Boys in Blue". officialcharts.com. ngày 26 tháng 5 năm 1984. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Everton 1985 - Here We Go". officialcharts.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Everton Football Team 1986 – Everybody's Cheering The Blues". officialcharts.com. ngày 17 tháng 5 năm 1986. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 "Everton FC Hits". officialcharts.com. ngày 20 tháng 5 năm 1995. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Men". Everton F.C. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Everton club captain history
- ↑ O’Keeffe, Greg (ngày 18 tháng 11 năm 2014). "Everton FC: Bill Kenwright unveils trio of Goodison greats as club ambassadors". Liverpool Echo. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Dimond, Alex. "Everton Legends Sharp, Snodin and Stuart on the Club's Unique Qualities". Bleacher Report. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Everton in the Community - Club Ambassador Helps 'Tackle The Blues' With Mental Health Programme". Everton in the Community. ngày 16 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Moyes Returns To Everton". Everton F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "Everton sack manager Sean Dyche". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "History: Managers". www.evertonfc.com. Everton FC. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Everton Managers: Howard Kendall".
- ↑ Culley, Jon (ngày 11 tháng 5 năm 2009). "Howard ends long search for real No 1". The Independent. London: Independent News and Media Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
- 1 2 3 "Everton F.C. records". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.
- ↑ "Gylfi Sigurdsson: Everton sign Swansea midfielder for £45m". BBC Sport. ngày 16 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Romelu Lukaku: Man Utd sign Everton striker for initial £75m on five-year deal". BBC Sport. ngày 10 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2023.
- ↑ "Everton Results". Evertonresults.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 "Honours". Everton FC.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.
Thư mục tài liệu
- Ball, D.; Buckland, G. (2001). Everton: The Ultimate Book of Stats & Facts. The Bluecoat Press. ISBN 1-872568-79-3.
- Corbett, James (2004). Everton: School of Science. Pan. ISBN 0-330-42006-2.
- Tallentire, Becky (2004). The Little Book of Everton. Carlton Books Ltd. ISBN 1-84442-652-1.
Liên kết ngoài
Các trang web độc lập
- Everton F.C. trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Everton tại Sky Sports
- Everton FC tại Premier League
- Everton FC tại UEFA
Bản mẫu:Everton F.C.