Bước tới nội dung

Charlton Athletic F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Charlton Athletic
Tập tin:Charlton Athletic FC crest.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Charlton Athletic
Biệt danhThe Addicks
Thành lập9 tháng 6 năm 1905; 120 năm trước (1905-06-09)
SânThe Valley
Sức chứa27.111
Chủ sở hữuGlobal Football Partners
Chủ tịch điều hànhGavin Carter[1]
Người quản lýNathan Jones
Giải đấuChampionship
2024-25League One, thứ 4 trên 24 (thăng hạng thông qua play-off)
Websitecharltonafc.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Charlton Athletic (tiếng Anh: Charlton Athletic Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Charlton, đông nam Luân Đôn, Anh. Đội bóng hiện thi đấu tại Championship, hạng đấu cao thứ Hai của bóng đá Anh.

Sân nhà của đội là The Valley, nơi câu lạc bộ thi đấu từ năm 1919. Trong mùa giải 1923-24, đội từng chơi tại The Mount ở Catford. Câu lạc bộ cũng có tổng cộng bảy năm thi đấu xa nhà, lần lượt tại Selhurst Park và sân cũ Upton Park (còn được gọi là Boleyn Ground) trong giai đoạn 1985-1992, do những khó khăn tài chính và các lo ngại về an toàn từ hội đồng địa phương. Trang phục truyền thống của câu lạc bộ gồm áo đỏ, quần trắng và tất đỏ. Biệt danh được dùng phổ biến nhất của đội là The Addicks. Charlton có các mối kình địch địa phương với những đội bóng khác ở nam Luân Đôn là Crystal PalaceMillwall.

Câu lạc bộ được thành lập vào ngày 9 tháng 6 năm 1905 và chuyển sang chuyên nghiệp vào năm 1920. Đội trải qua một mùa giải ở Kent League và một mùa giải ở Southern League, trước khi được mời gia nhập Football League Third Division South 1985-86 mới thành lập vào năm 1921. Charlton vô địch hạng đấu này ở mùa giải 1928-29, và một lần nữa ở mùa giải 1934-35 sau khi xuống hạng năm 1933. Câu lạc bộ giành quyền thăng hạng từ Second Division ở mùa giải 1935-36, rồi kết thúc ở vị trí á quân của First Division ngay mùa sau đó. Sau khi thất bại trong trận chung kết Cúp FA năm 1946, đội đã nâng cao Cúp FA vào năm tiếp theo với chiến thắng 1-0 trước Burnley. Sự ra đi của Jimmy Seed, huấn luyện viên dẫn dắt đội suốt 23 năm, vào năm 1956 khiến câu lạc bộ rớt khỏi hạng đấu cao nhất ngay mùa sau. Charlton lại xuống hạng vào năm 1972, sau đó thăng hạng từ Third Division ở mùa giải 1974-75, rồi tiếp tục thăng hạng ở mùa giải 1980-81 sau khi vừa rớt hạng mùa trước.

Charlton thoát khỏi tình trạng quản lí tài chính đặc biệt để trở lại First Division ở mùa giải 1985-86, rồi thua trong trận chung kết năm 1987 của Full Members' Cup, dù đội thắng trận chung kết play-off năm 1987 để giữ suất ở hạng đấu cao nhất. Sau khi xuống hạng năm 1990, Charlton thắng trận chung kết play-off năm 1998 để lần đầu góp mặt tại Premier League. Dù rớt hạng ngay năm sau, huấn luyện viên Alan Curbishley đã đưa đội trở lại với tư cách nhà vô địch mùa giải 1999-2000. Charlton trải qua bảy mùa giải liên tiếp ở Premier League, trước khi phải nhận hai lần xuống hạng trong ba năm. Đội dẫn đầu League One với 101 điểm ở mùa giải 2011-12, nhưng rớt khỏi Championship vào năm 2016. Charlton lại thăng hạng sau khi thắng trận chung kết play-off EFL League One năm 2019, nhưng một năm sau lại xuống hạng khi đứng thứ 22. Cuối cùng, câu lạc bộ trở lại Championship vào năm 2025 thông qua vòng play-off.

Lịch sử

Lịch sử ban đầu (1905-1946)

Charlton Athletic được thành lập vào ngày 9 tháng 6 năm 1905[2] bởi một nhóm thiếu niên 14 đến 15 tuổi trên phố East Street, Charlton, nơi nay mang tên Eastmoor Street và không còn là khu dân cư.

Trái với một số tài liệu lịch sử, câu lạc bộ được thành lập với tên gọi "Charlton Athletic" và không có liên hệ với các đội bóng hay tổ chức khác như East St Mission, Blundell Mission hoặc Charlton Reds;[3] đội không được thành lập bởi một nhà thờ, trường học, đơn vị sử dụng lao động, cũng không phải là một nhượng quyền dành cho một sân bóng có sẵn. Charlton trải qua phần lớn những năm trước Chiến tranh thế giới thứ nhất tại các giải đấu địa phương nhưng thăng tiến rất nhanh, giành quyền lên hạng trong tám năm liên tiếp. Trong mùa giải 1905-06, đội chỉ chơi các trận giao hữu nhưng đã gia nhập và vô địch Lewisham League Division III ở mùa giải 1906-07. Sang mùa giải 1907-08, đội tranh tài ở Lewisham League, Woolwich League và góp mặt tại Woolwich Cup. Cũng vào khoảng thời gian này, biệt danh Addicks lần đầu được báo chí địa phương sử dụng, dù có thể nó đã xuất hiện từ trước. Ở mùa giải 1908-09, Charlton Athletic thi đấu tại Blackheath and District League và đến mùa giải 1910-11 thì đã tiến lên Southern Suburban League. Trong giai đoạn này, Charlton Athletic vô địch Woolwich Cup bốn lần, vô địch Woolwich League ba lần, giành chức vô địch Blackheath League hai lần và Southern Suburban League ba lần.[cần dẫn nguồn]

Đội trở thành một câu lạc bộ cấp cao vào năm 1913, cũng là năm Woolwich Arsenal gần đó chuyển tới bắc Luân Đôn.[2]

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Charlton là một trong những câu lạc bộ đầu tiên ngừng hoạt động để tham gia "Greater Game" ở nước ngoài. Câu lạc bộ được tái lập vào năm 1917, chủ yếu chơi các trận giao hữu để gây quĩ cho các tổ chức từ thiện liên quan tới chiến tranh và cho Woolwich Memorial Hospital Cup, chiếc cúp do chính Charlton trao tặng. Trước đó, đội đã giành luôn quyền sở hữu Woolwich Cup sau ba lần vô địch liên tiếp.

Sau chiến tranh, đội gia nhập Kent League trong một mùa giải (1919-20) trước khi chuyển sang chuyên nghiệp và bổ nhiệm Walter Rayner làm huấn luyện viên toàn thời gian đầu tiên. Charlton được chấp nhận vào Southern League và chỉ thi đấu đúng một mùa giải (1920-21) trước khi được bầu vào Football League cùng với Aberdare Athletic. Trận đấu đầu tiên của Charlton tại Football League diễn ra trước Exeter City vào tháng 8 năm 1921 và đội thắng 1-0. Năm 1923, Charlton trở thành "kẻ chuyên hạ gục những đội bóng lớn" ở Cúp FA khi đánh bại các đội thuộc hạng đấu cao nhất là Manchester City, West Bromwich AlbionPreston North End, trước khi thua nhà vô địch sau đó là Bolton Wanderers ở vòng Tứ kết. Cũng trong năm đó, có đề xuất để Charlton sáp nhập với Catford Southend nhằm tạo ra một đội bóng lớn hơn với lượng người ủng hộ đông đảo hơn.[4] Trong mùa giải 1923-24, Charlton thi đấu tại Catford ở The Mount stadium và mặc màu áo của "The Enders", gồm các sọc dọc xanh lam nhạt và xanh lam đậm. Tuy nhiên, kế hoạch chuyển đi đã đổ vỡ và The Addicks trở lại khu vực Charlton vào năm 1924, đồng thời quay lại màu đỏ và trắng truyền thống.[5]

Charlton đứng áp chót Football League vào năm 1926 và buộc phải xin tái bầu chọn, điều đã diễn ra thành công. Ba năm sau, The Addicks giành chức vô địch Division Three năm 1929[6] và ở lại Division Two trong bốn năm.[2] Sau khi xuống hạng xuống Third Division South vào cuối mùa giải 1932-33, câu lạc bộ bổ nhiệm Jimmy Seed làm huấn luyện viên, và ông đã dẫn dắt giai đoạn thành công nhất trong lịch sử Charlton ở hai bên bờ của Chiến tranh thế giới thứ hai. Seed, một cựu thợ mỏ đã tạo dựng sự nghiệp cầu thủ bất chấp di chứng khí độc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, vẫn là huấn luyện viên thành công nhất trong lịch sử Charlton. Ông được tưởng niệm qua tên một khán đài tại The Valley.[7]:19 Seed là một nhà tư duy đổi mới về bóng đá trong thời điểm các sơ đồ chiến thuật vẫn còn tương đối sơ khai. Sau này ông nhớ lại "một kế hoạch đơn giản giúp chúng tôi thoát hiểm trong nhiều trận đấu" ở mùa giải 1934-35: khi đội gặp khó khăn, "trung vệ sẽ từ bỏ vai trò phòng ngự của mình và dâng lên tấn công để tăng cường sức nặng cho hàng năm tiền đạo".[7]:66 Cách tổ chức mà Seed mang tới cho đội tỏ ra hiệu quả và The Addicks giành các lần thăng hạng liên tiếp từ Third Division lên First Division trong giai đoạn 1934-1936, trở thành câu lạc bộ đầu tiên từng làm được điều này.[2] Charlton cuối cùng bảo đảm suất thăng hạng lên First Division bằng chiến thắng trước đối thủ địa phương West Ham United tại Upton Park (còn được gọi là Boleyn Ground), trong trận đấu mà trung vệ John Oakes vẫn tiếp tục thi đấu dù bị chấn động não và gãy mũi.[8]

Năm 1937, Charlton kết thúc mùa giải với vị trí á quân ở First Division,[9] năm 1938 đứng thứ tư[10] và năm 1939 đứng thứ ba.[11] Charlton là đội bóng ổn định nhất ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh trong ba mùa giải ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai.[2] Sự ổn định này tiếp tục trong những năm chiến tranh, khi đội vô địch Football League War Cup và góp mặt trong các trận chung kết.

Thành công sau chiến tranh và sự sa sút (1946-1984)

Charlton vào tới Chung kết Cúp FA 1946, nhưng thua 4-1 trước Derby County tại Wembley. Cầu thủ Bert Turner của Charlton phản lưới nhà ở phút 80 trước khi gỡ hòa cho The Addicks chỉ một phút sau đó để đưa trận đấu vào hiệp phụ, nhưng đội lại để thủng lưới thêm ba bàn trong quãng thời gian kéo dài này.[12] Khi lịch thi đấu đầy đủ của giải vô địch được nối lại vào mùa giải 1946-47, Charlton chỉ có thể đứng thứ 19 ở First Division, ngay trên nhóm xuống hạng, nhưng đã chuộc lỗi bằng màn trình diễn tại Cúp FA khi tiến vào Chung kết Cúp FA 1947. Lần này Charlton thành công, đánh bại Burnley 1-0, với Chris Duffy ghi bàn thắng duy nhất trong ngày.[13] Trong thời kì lượng khán giả trở lại sân bóng, Charlton trở thành một trong chỉ 13 đội bóng Anh có lượng khán giả trung bình vượt mốc 40.000 trong một mùa giải trọn vẹn.[2] The Valley là sân bóng lớn nhất giải, thu hút những đám đông vượt quá 70.000 người.[2] Tuy nhiên, trong thập niên 1950, rất ít khoản đầu tư được dành cho cầu thủ cũng như cho The Valley, điều cản trở sự phát triển của câu lạc bộ. Năm 1956, ban lãnh đạo khi đó làm suy yếu vị thế của Jimmy Seed và yêu cầu ông từ chức; Charlton xuống hạng ngay năm sau đó.[2]

Biểu đồ thể hiện vị trí của Charlton trên bảng xếp hạng kể từ khi gia nhập Football League

Từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1970, Charlton là một đội quen thuộc của Second Division trước khi rớt xuống Third Division vào năm 1972.[14] Điều này khiến lượng người ủng hộ đội sụt giảm, và ngay cả việc thăng hạng trở lại Second Division vào năm 1975[15] cũng không thể thực sự hồi sinh sự ủng hộ và tình hình tài chính của câu lạc bộ. Mùa giải 1979-80, Charlton lại xuống hạng xuống Third Division,[16] nhưng giành quyền trở lại Second Division ngay lập tức ở mùa giải 1980-81.[17] Đây là bước ngoặt trong lịch sử câu lạc bộ, mở ra một giai đoạn đầy biến động và thay đổi, bao gồm lần thăng hạng tiếp theo và quãng thời gian phải lưu vong khỏi sân nhà. Sự thay đổi trong ban huấn luyện và không lâu sau đó là thay đổi quyền sở hữu câu lạc bộ dẫn tới các vấn đề nghiêm trọng, như việc kí hợp đồng thiếu thận trọng với cựu European Footballer of the Year Allan Simonsen, khiến câu lạc bộ có vẻ như sắp phá sản.[18]

Những năm "lưu vong" (1985-1992)

Năm 1984, các vấn đề tài chính lên tới đỉnh điểm và câu lạc bộ rơi vào tình trạng quản lí tài chính đặc biệt, sau đó được tái lập thành Charlton Athletic (1984) Ltd.[2] dù tình hình tài chính của đội vẫn còn rất bấp bênh. Câu lạc bộ buộc phải rời The Valley ngay sau khi mùa giải 1985-86 bắt đầu, sau khi vấn đề an toàn tại sân bị các quan chức Football League chỉ trích בעקבות thảm họa cháy sân Bradford City.Câu lạc bộ bắt đầu dùng chung sân với Crystal Palace tại Selhurst Park[2] và sự sắp xếp này tưởng chừng sẽ kéo dài lâu dài, bởi Charlton không có đủ tiền để cải tạo The Valley đáp ứng các yêu cầu an toàn.

Bất chấp việc rời The Valley, Charlton vẫn thăng hạng lên First Division với tư cách đội á quân Second Division vào cuối mùa giải 1985-86,[19] và duy trì ở cấp độ này trong bốn năm (thành tích cao nhất là đứng thứ 14), thường xuyên trụ hạng nhờ những màn thoát hiểm muộn, đáng chú ý nhất là trước Leeds vào năm 1987, khi The Addicks giành chiến thắng trong hiệp phụ của trận đá lại chung kết play-off để giữ suất ở hạng đấu cao nhất.[2] Năm 1987, Charlton cũng trở lại Wembley lần đầu tiên kể từ Chung kết Cúp FA 1947 để đá trận chung kết Full Members' Cup gặp Blackburn.[20]Cuối cùng, Charlton xuống hạng vào năm 1990 cùng với Sheffield Wednesday và đội cuối bảng Millwall.[2] Huấn luyện viên Lennie Lawrence tiếp tục tại vị thêm một mùa giải trước khi nhận lời dẫn dắt Middlesbrough. Ông được thay thế bởi hai cầu thủ kiêm huấn luyện viên Alan Curbishley và Steve Gritt.[2] Bộ đôi này gây bất ngờ với thành công ngay trong mùa đầu tiên khi chỉ đứng ngoài nhóm play-off trong gang tấc, và mùa giải 1992-93 khởi đầu đầy hứa hẹn khi Charlton được xem là ứng viên sáng giá cho suất thăng hạng ở Division One mới (tên gọi mới của Second Division cũ sau khi Premier League ra đời). Tuy nhiên, câu lạc bộ buộc phải bán những cầu thủ như Rob Lee để góp phần chi trả cho việc trở lại The Valley, trong lúc người hâm mộ thành lập Valley Party và đề cử ứng viên tham gia bầu cử địa phương năm 1990, gây sức ép lên hội đồng địa phương nhằm cho phép câu lạc bộ trở lại The Valley – điều cuối cùng đã thành hiện thực vào tháng 12 năm 1992.

Vào tháng 3 năm 1993, hậu vệ Tommy Caton, người đã phải nghỉ thi đấu vì chấn thương từ tháng 1 năm 1991, tuyên bố giải nghệ theo lời khuyên y tế. Ông đột ngột qua đời vào cuối tháng sau đó ở tuổi 30.

Những năm ở Premier League (1998-2007)

Vào mùa hè năm 1995, chủ tịch mới Richard Murray đã bổ nhiệm Alan Curbishley làm huấn luyện viên duy nhất của Charlton.[21] Dưới sự dẫn dắt riêng của ông, Charlton góp mặt ở vòng play-off năm 1996 nhưng bị Crystal Palace loại tại bán kết, còn mùa giải sau đó kết thúc với vị trí thứ 15 đầy thất vọng. Mùa giải 1997-98 là mùa giải tốt nhất của Charlton trong nhiều năm. Đội vào tới trận chung kết play-off Division One và chạm trán Sunderland trong một trận đấu nghẹt thở kết thúc với tỉ số hòa 4-4 sau hiệp phụ. Charlton thắng 7-6 trong loạt sút luân lưu,[22] với trận đấu được mô tả là "có thể là trận bóng kịch tính nhất trong lịch sử Wembley",[23] và giành quyền thăng hạng lên Premier League.

Chiến dịch Premier League đầu tiên của Charlton khởi đầu đầy hứa hẹn (đội đứng đầu bảng sau hai trận), nhưng không thể duy trì phong độ và nhanh chóng phải vật lộn trong cuộc đua trụ hạng. Cuộc chiến ấy thất bại ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải, nhưng ban lãnh đạo câu lạc bộ vẫn đặt niềm tin vào Curbishley, tin rằng đội có thể trở lại. Curbishley đáp lại lòng tin của chủ tịch bằng chức vô địch Division One năm 2000, qua đó đưa đội trở lại Premier League.[24]

Sau khi trở lại Premier League, Curbishley cho thấy ông rất biết chi tiêu hợp lí, giúp The Addicks cán đích ở vị trí thứ chín trong mùa giải ngay sau khi thăng hạng, và đội nhanh chóng trở thành một tập thể quen thuộc ở khu vực giữa bảng xếp hạng, đôi lúc còn cạnh tranh suất dự cúp châu Âu.

Charlton dành phần lớn Premier League 2003-04 để cạnh tranh một vị trí dự Champions League, nhưng sự sa sút phong độ vào cuối mùa cùng việc bán ngôi sao Scott Parker cho Chelsea khiến đội khép lại mùa giải ở vị trí thứ bảy,[25] dù đây vẫn là thành tích cao nhất của câu lạc bộ kể từ thập niên 1950. Charlton không thể xây dựng tiếp trên nền tảng thành công đó và Curbishley rời đội vào năm 2006, trong khi câu lạc bộ vẫn được xem là một đội bóng ổn định ở giữa bảng xếp hạng.[26]

Vào tháng 5 năm 2006, Iain Dowie được chọn làm người kế nhiệm Curbishley,[27] nhưng bị sa thải vào tháng 11 năm 2006 sau 12 trận đấu tại giải vô địch, khi chỉ giành được hai chiến thắng.[28] Les Reed thay Dowie làm huấn luyện viên,[29] nhưng ông cũng không thể cải thiện vị trí của Charlton trên bảng xếp hạng, và vào đêm Giáng sinh năm 2006, Reed bị thay thế bởi cựu cầu thủ Alan Pardew.[30] Dù kết quả có cải thiện, Pardew vẫn không thể giúp Charlton trụ hạng, và việc xuống hạng được xác nhận ở trận áp chót của mùa giải.[31]

Trở lại Football League (2007-2014)

Sự trở lại của Charlton với hạng đấu cao thứ Hai của bóng đá Anh là một nỗi thất vọng, khi chiến dịch thăng hạng của đội suy yếu dần và kết thúc với vị trí thứ 11. Đầu mùa giải tiếp theo, The Addicks được liên hệ với một thương vụ tiếp quản từ nước ngoài,[32] nhưng điều này nhanh chóng bị câu lạc bộ bác bỏ. Vào ngày 10 tháng 10 năm 2008, Charlton nhận được một đề nghị mua lại mang tính chỉ báo từ một công ti đầu tư đa ngành có trụ sở tại Dubai. Tuy nhiên, thương vụ sau đó đổ vỡ. Tầm nghiêm trọng của việc này sớm bộc lộ khi câu lạc bộ ghi nhận khoản lỗ ròng hơn 13 triệu bảng trong năm tài chính đó. Pardew rời đội vào ngày 22 tháng 11 sau thất bại 2-5 trên sân nhà trước Sheffield United, kết quả khiến đội rơi vào nhóm xuống hạng.[33] Tình hình không khá hơn dưới thời huấn luyện viên tạm quyền Phil Parkinson, khi đội trải qua 18 trận liên tiếp không thắng, một kỉ lục mới của câu lạc bộ, trước khi cuối cùng giành chiến thắng 1-0 trên sân khách trước Norwich City trong trận đá lại vòng Ba Cúp FA; Parkinson sau đó được bổ nhiệm chính thức. Đội rớt xuống League One sau trận hòa 2-2 trước Blackpool ngày 18 tháng 4 năm 2009.[34]

Mùa giải 2009-10, chiến dịch đầu tiên của Charlton ở hạng Ba sau 29 năm, chứng kiến đội nằm trong top sáu gần như suốt cả mùa; tuy nhiên, đội bị Swindon Town loại ở lượt về bán kết Football League One play-offs sau loạt sút luân lưu.[35]

Cựu cầu thủ Charlton Chris Powell trở lại câu lạc bộ trên cương vị huấn luyện viên trong giai đoạn 2011-2014

Sau khi quyền sở hữu thay đổi, Parkinson và huyền thoại Charlton Mark Kinsella rời đội sau một chuỗi kết quả nghèo nàn. Một huyền thoại khác của Charlton, Chris Powell, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 1 năm 2011, và thắng trận đầu tiên dẫn dắt đội với tỉ số 2-0 trước Plymouth tại The Valley. Đây là chiến thắng đầu tiên của Charlton tại giải vô địch kể từ tháng 11. Khởi đầu sáng sủa của Powell tiếp tục với thêm ba chiến thắng nữa, trước khi đội sa sút và trải qua chuỗi 11 trận liên tiếp không biết mùi chiến thắng. Tuy nhiên, sự tôn trọng của người hâm mộ dành cho Powell khiến ông hầu như không phải chịu nhiều chỉ trích. Vận mệnh của câu lạc bộ được cải thiện vào cuối mùa giải, dù vẫn kém rất xa nhóm play-off. Trong một mùa hè bận rộn, Powell mang về 19 cầu thủ mới và sau một mùa giải thành công, vào ngày 14 tháng 4 năm 2012, Charlton Athletic giành quyền thăng hạng trở lại Championship nhờ chiến thắng 1-0 trên sân khách trước Carlisle United. Một tuần sau, ngày 21 tháng 4 năm 2012, đội được xác nhận là nhà vô địch sau chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Wycombe Wanderers. Charlton sau đó nâng cúp League One vào ngày 5 tháng 5 năm 2012, sau khi giữ ngôi đầu kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2011, và với chiến thắng 3-2 trước Hartlepool United, đội lập kỉ lục điểm số cao nhất trong lịch sử thi đấu tại giải vô địch với 101 điểm, nhiều nhất trong mọi giải đấu chuyên nghiệp châu Âu năm đó.

Trong mùa giải đầu tiên trở lại Championship, mùa giải 2012-13 chứng kiến Charlton cán đích ở vị trí thứ chín với 65 điểm, chỉ kém ba điểm so với nhóm play-off giành vé lên Premier League.

Quyền sở hữu của Duchâtelet (2014-2019)

Vào đầu tháng 1 năm 2014 trong mùa giải 2013-14, doanh nhân người Bỉ Roland Duchâtelet tiếp quản Charlton với tư cách ông chủ trong một thương vụ trị giá 14 triệu bảng. Điều này khiến Charlton trở thành một phần trong mạng lưới các câu lạc bộ bóng đá thuộc sở hữu của Duchâtelet. Vào ngày 11 tháng 3 năm 2014, hai ngày sau thất bại trước Sheffield United ở tứ kết Cúp FA, và khi Charlton đang đứng cuối bảng, Powell bị sa thải; các email riêng tư cho thấy ông có bất đồng với chủ sở hữu.[36]

Huấn luyện viên mới Jose Riga, dù chỉ có thể tới Charlton sau khi kì chuyển nhượng đã đóng cửa, vẫn cải thiện được phong độ của đội và cuối cùng giúp Charlton cán đích ở vị trí thứ 18, qua đó tránh được việc xuống hạng. Sau khi Riga rời đi để dẫn dắt Blackpool, cựu cầu thủ Millwall Bob Peeters được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 5 năm 2014 theo hợp đồng 12 tháng. Charlton khởi đầu mạnh mẽ, nhưng một chuỗi trận hòa kéo dài khiến Peeters bị sa thải chỉ sau 25 trận cầm quân, khi đội đang đứng thứ 14.[37][38] Người thay thế ông, Guy Luzon, giúp đội không phải dính vào cuộc chiến trụ hạng khi thắng phần lớn các trận còn lại, qua đó kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12.

Mùa giải 2015-16 khởi đầu đầy hứa hẹn, nhưng kết quả dưới thời Luzon ngày càng sa sút và vào ngày 24 tháng 10 năm 2015, sau thất bại 0-3 trên sân nhà trước Brentford, ông bị sa thải.[39] Trong một cuộc phỏng vấn với News Shopper, Luzon nói rằng "không phải tôi là người chọn cách tuyển mộ cầu thủ", và xem đó là lí do khiến ông thất bại trên cương vị huấn luyện viên.[40] Karel Fraeye được bổ nhiệm làm "huấn luyện viên trưởng tạm quyền",[41] nhưng cũng bị sa thải sau 14 trận và chỉ hai chiến thắng, khi câu lạc bộ lúc đó đứng áp chót ở Championship.[42] Ngày 14 tháng 1 năm 2016, Jose Riga được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng nhiệm kì thứ hai,[43] nhưng không thể ngăn Charlton rớt xuống League One cho mùa giải 2016-17.[44] Riga từ chức vào cuối mùa giải.[45] Với nhiều người hâm mộ, các thay đổi liên tục trên băng ghế huấn luyện cùng việc rớt xuống League One là biểu hiện của sự quản lí yếu kém dưới quyền sở hữu của Duchâtelet, và nhiều cuộc phản đối đã nổ ra.[46][47]

Sau khởi đầu chậm chạp ở mùa giải mới, khi câu lạc bộ đứng thứ 15 tại League One, đội thông báo đã "chia tay" Russell Slade vào tháng 11 năm 2016.[48] Karl Robinson được bổ nhiệm chính thức không lâu sau đó.[49] Ông đưa The Addicks tới vị trí thứ 13 khá lặng lẽ. Mùa giải tiếp theo, Robinson giúp đội cạnh tranh suất play-off, nhưng sự sa sút phong độ trong tháng 3 khiến ông từ chức theo thỏa thuận chung. Ông được thay bởi cựu cầu thủ Lee Bowyer trên cương vị huấn luyện viên tạm quyền; Bowyer đưa đội về đích ở vị trí thứ sáu, nhưng thất bại ở bán kết play-off.

Bowyer được bổ nhiệm chính thức vào tháng 9 theo hợp đồng một năm và giúp Charlton đứng thứ ba tại EFL League One 2018-19, qua đó giành quyền vào vòng play-off. Trong lần đầu trở lại New Wembley Stadium và cũng là cuộc tái ngộ trận đấu nổi tiếng năm 1998, Charlton đánh bại Sunderland 2-1 trong trận chung kết play-off League One để giành quyền trở lại EFL Championship sau ba mùa giải vắng bóng.[50] Sau đó Bowyer kí hợp đồng mới có thời hạn một năm sau khi thăng hạng, rồi được gia hạn thành ba năm vào tháng 1 năm 2020.[51]

Nhiều lần thay đổi quyền sở hữu (2019-nay)

ESI (2019-2020)

Vào ngày 29 tháng 11 năm 2019, Charlton Athletic được East Street Investments (ESI) từ Abu Dhabi mua lại từ Roland Duchâtelet, với điều kiện được EFL phê duyệt.[52] Việc phê duyệt được cho là đã được thông qua vào ngày 2 tháng 1 năm 2020. Tuy nhiên, vào ngày 10 tháng 3 năm 2020, một cuộc bất đồng công khai giữa các ông chủ mới bùng nổ cùng với các thông tin cho rằng nhà đầu tư chính đang rút lui,[53] và EFL cho biết thương vụ tiếp quản chưa được phê duyệt.[54] The Valley và sân tập của Charlton vẫn thuộc sở hữu của Duchâtelet, trong khi lệnh cấm chuyển nhượng có hiệu lực vì các ông chủ mới không cung cấp được bằng chứng về nguồn tài trợ kéo dài tới tháng 6 năm 2021.[55] Vào ngày 20 tháng 4 năm 2020, EFL cho biết câu lạc bộ đang bị điều tra về hành vi sai trái liên quan đến thương vụ tiếp quản.[56] Vào tháng 6 năm 2020, Charlton xác nhận ESI đã được một liên danh do doanh nhân Paul Elliott đứng đầu tiếp quản,[57] và cho biết đã liên hệ với EFL để hoàn tất thay đổi quyền sở hữu.[58] Tuy nhiên, một tranh chấp pháp lí liên quan đến cựu giám đốc ESI Matt Southall vẫn tiếp diễn.[59] Southall tìm cách giành lại quyền kiểm soát câu lạc bộ để ngăn thương vụ tiếp quản của Elliott diễn ra, nhưng thất bại, sau đó bị phạt tiền và bị miễn nhiệm vì thách thức các giám đốc của câu lạc bộ.[60] Vào ngày 7 tháng 8 năm 2020, EFL cho biết ba cá nhân, trong đó có chủ sở hữu ESI Elliott và luật sư Chris Farnell, đã không vượt qua bài kiểm tra Chủ sở hữu và Giám đốc, khiến quyền sở hữu câu lạc bộ trở nên không rõ ràng;[61] Charlton đã kháng cáo quyết định này.[62] Trong khi đó, Charlton rớt xuống League One vào cuối mùa giải 2019-20 sau khi đứng thứ 22.[63] Do đại dịch COVID-19, các trận cuối mùa được thi đấu trên sân không khán giả, và tình trạng này tiếp tục trong phần lớn mùa giải sau đó.

Cuối tháng 8, doanh nhân người Đan Mạch sống tại Colorado là Thomas Sandgaard được cho là đang đàm phán để mua câu lạc bộ.[64] Sau các phiên điều trần khác tại tòa án,[65][66] Elliott được trao lệnh cấm tạm thời để ngăn việc bán ESI cho đến phiên điều trần vào tháng 11 năm 2020.[67]

Thomas Sandgaard (2020-2023)

Vào ngày 25 tháng 9 năm 2020, Thomas Sandgaard mua lại chính câu lạc bộ từ ESI, và được cho là đã vượt qua bài kiểm tra Chủ sở hữu và Giám đốc của EFL;[68] EFL ghi nhận sự thay đổi quyền kiểm soát, nhưng cho biết việc bán câu lạc bộ giờ đây là "vấn đề của các bên liên quan".[69]

Vào ngày 15 tháng 3 năm 2021, khi câu lạc bộ đang đứng thứ tám, Bowyer từ chức khỏi cương vị huấn luyện viên và được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Birmingham City.[70][71] Người kế nhiệm ông là Nigel Adkins, được bổ nhiệm ba ngày sau đó.[72] Câu lạc bộ kết thúc mùa giải 2020-21 ở vị trí thứ bảy, nhưng khởi đầu mùa giải tiếp theo bằng việc chỉ thắng hai trong 13 trận tại League One và đang nằm trong nhóm xuống hạng khi Adkins bị sa thải vào ngày 21 tháng 10 năm 2021.[73]

Sau quãng thời gian thành công trên cương vị huấn luyện viên tạm quyền, Johnnie Jackson được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 12 năm 2021,[74] nhưng sau khi Charlton khép lại mùa giải ở vị trí thứ 13, ông cũng bị sa thải.[75] Huấn luyện viên của Swindon Town là Ben Garner được bổ nhiệm thay thế ông vào tháng 6 năm 2022,[76] nhưng bị sa thải vào ngày 5 tháng 12 năm 2022 khi đội đang đứng thứ 17.[77] Sau khi câu lạc bộ bị đội bóng League Two là Stockport County loại khỏi Cúp FA vào ngày 7 tháng 12,[78] những người ủng hộ cho rằng Charlton đang ở "mức thấp nhất trong kí ức còn sống", và người hâm mộ "đang mất niềm tin" vào ông chủ Thomas Sandgaard.[79] Dean Holden được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào ngày 20 tháng 12 năm 2022,[80] và Charlton cải thiện thành tích để kết thúc mùa giải 2022-23 ở vị trí thứ 10.[81]

SE7 Partners (2023-nay)

Vào ngày 5 tháng 6 năm 2023, câu lạc bộ thông báo rằng SE7 Partners, gồm cựu giám đốc Sunderland Charlie Methven và Edward Warrick, đã đồng ý tiếp quản Charlton Athletic, trở thành nhóm chủ sở hữu thứ tư của câu lạc bộ trong chưa đầy bốn năm.[82] Vào ngày 19 tháng 7, EFL và FA đã chấp thuận để SE7 Partners tiếp quản câu lạc bộ,[83] và thương vụ được hoàn tất vào ngày 21 tháng 7 năm 2023.[84] Vào ngày 27 tháng 8 năm 2023, sau một chiến thắng trong sáu trận mở màn của mùa giải 2023-24, Holden bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên,[85] và được thay thế bởi Michael Appleton.[86] Vào ngày 23 tháng 1 năm 2024, sau thất bại 3-2 tại The Valley trước Northampton Town – và không thắng trong 10 trận League One – Appleton bị sa thải.[87][88] Ông được thay thế vào ngày 4 tháng 2 năm 2024 bởi Nathan Jones,[89] dưới thời người mà Charlton thua một và hòa ba trong bốn trận tiếp theo, qua đó san bằng chuỗi không thắng dài nhất trong lịch sử câu lạc bộ là 18 trận.[90] Chuỗi không thắng chấm dứt với chiến thắng 2-1 trên sân khách trước Derby County vào ngày 27 tháng 2 năm 2024,[91] mở đầu cho chuỗi 14 trận bất bại, dài nhất của Charlton trong 24 năm. Tuy nhiên, Charlton kết thúc mùa giải đáng thất vọng ở vị trí thứ 16, vị trí chung cuộc thấp nhất của họ trong 98 năm,[92][93] dù tiền đạo Charlton Alfie May đã giành danh hiệu Vua phá lưới League One của mùa giải EFL League One 2023-24 với 23 bàn thắng.[94]

Ở mùa giải tiếp theo, Charlton giành quyền thăng hạng trở lại Championship với chiến thắng 1-0 trước Leyton Orient trong trận chung kết play-off League One vào ngày 25 tháng 5 năm 2025.[95] Vào ngày 6 tháng 12 năm 2025, trận đấu tại Championship của Charlton với Portsmouth trên sân The Valley bị hủy bỏ sau khi cổ động viên tiêu biểu của năm của Charlton Athletic là Norman Barker (được biết đến với biệt danh "Headphones Norm") đổ gục và sau đó qua đời tại bệnh viện.[96]

Bản sắc câu lạc bộ

Màu sắc và huy hiệu

Huy hiệu của hội đồng Huyện vùng đô thị Greenwich cũ, được Charlton sử dụng trong thời gian ngắn vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950

Charlton đã sử dụng nhiều huy hiệu và biểu trưng khác nhau trong lịch sử, dù thiết kế hiện tại không thay đổi kể từ năm 1968. Huy hiệu đầu tiên được biết đến, từ thập niên 1930, gồm các chữ cái CAF tạo thành hình của một cây chuồn trong bộ bài. Trong thập niên 1940, Charlton sử dụng một thiết kế có hình chim robin đậu trên quả bóng đá bên trong một tấm khiên, đôi khi có thêm các chữ cái CAFC ở bốn phần của tấm khiên, và mẫu này đã được sử dụng trong Chung kết Cúp FA 1946. Vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950, huy hiệu của Huyện vùng đô thị Greenwich cũ được dùng làm biểu tượng cho câu lạc bộ, dù nó không xuất hiện trên áo đấu của đội. Bản dịch khẩu hiệu Latin của quận, Tempore utimur, ("Chúng ta dùng thời gian"),[97] mang ý nghĩa biểu tượng gắn với Kinh tuyến gốc tại Greenwich.[98]

Năm 1963, một cuộc thi được tổ chức để tìm huy hiệu mới cho câu lạc bộ, và tác phẩm chiến thắng là hình bàn tay cầm thanh gươm, phù hợp với biệt danh của Charlton khi đó là the Valiants.[98] Trong năm năm tiếp theo, thiết kế này được chỉnh sửa, chẳng hạn như bổ sung một vòng tròn bao quanh bàn tay và thanh gươm, đồng thời thêm tên câu lạc bộ vào huy hiệu. Đến năm 1968, thiết kế đã đạt tới hình thức được biết đến ngày nay, và đã được sử dụng liên tục từ đó, ngoại trừ một giai đoạn trong thập niên 1970 khi chỉ có các chữ cái CAFC xuất hiện trên áo đấu của đội.[98]

Ngoại trừ một mùa giải, Charlton luôn thi đấu trong màu đỏ và trắng – những màu sắc được các chàng trai sáng lập Charlton Athletic chọn vào năm 1905 sau khi phải chơi những trận đầu tiên trong bộ trang phục mượn từ đối thủ địa phương Woolwich Arsenal, đội cũng mặc đỏ và trắng.[99] Ngoại lệ diễn ra trong một phần của mùa giải 1923-24 khi Charlton mặc màu áo của Catford Southend như một phần của kế hoạch chuyển tới Catford, đó là các sọc xanh lam nhạt và xanh lam đậm.[100] Tuy nhiên, sau khi việc chuyển đi đổ vỡ, Charlton quay lại sử dụng đỏ và trắng làm màu sân nhà.

Các nhà tài trợ như sau:[101]

NămNhà sản xuất trang phụcNhà tài trợ chính trên áoNhà tài trợ sau lưng áoNhà tài trợ quần
1974-80BuktaKhông cóKhông có
1980-81Adidas
1981-82FADS
1982-83Không có
1983-84Osca
1984-86The Woolwich
1986-88Adidas
1988-92Admiral
1992-93RiberoKhông có
1993-94Viglen
1994-98Quaser
1998-00Le Coq SportifMESH
2000-02Redbus
2002-03All:Sports
2003-05Joma
2005-08Llanera
2008-09Carbrini Sportswear
2009Kent Reliance Building Society
2010-12Macron
2012-14NikeAndrews Sykes
2014-16University of GreenwichAndrews SykesMitsubishi Electric
2016-17BETDAQITRMEmmaus Consulting
2017-19HummelGaughan Services
2019-20Children with Cancer UKCannon Glass
2020-21KW Holdings (sân nhà)
Vitech Services (sân khách)
2021-22KW Holdings (sân nhà và bộ thứ ba)
Walker Mower (sân khách)
2022-25CastoreRSK (sân nhà)
University of Greenwich (sân khách)
Generous Robots DAO
2025-ReebokRSK GroupTBATBA

Biệt danh

Biệt danh phổ biến nhất của Charlton là The Addicks. Nguồn gốc của tên gọi này đến từ một người bán cá địa phương, Arthur "Ikey" Bryan, người thường thưởng cho đội những bữa cá haddock và khoai tây chiên.[102]

Sự phát triển của biệt danh này có thể thấy trong cuốn sách The Addicks Cartoons: An Affectionate Look into the Early History of Charlton Athletic, tác phẩm kể lại lịch sử của Charlton trước Chiến tranh thế giới thứ nhất thông qua lời dẫn dựa trên 56 tranh biếm họa từng xuất hiện trên tờ Kentish Independent nay đã ngừng xuất bản. Tranh biếm họa đầu tiên, từ ngày 31 tháng 10 năm 1908, gọi đội bóng là the Haddocks. Đến năm 1910, tên gọi đã chuyển thành Addicks dù Haddick vẫn còn xuất hiện. Câu lạc bộ cũng có thêm hai biệt danh khác là The Robins, được sử dụng từ năm 1931, và The Valiants, được chọn trong một cuộc thi của người hâm mộ vào thập niên 1960, đồng thời cũng dẫn tới việc chọn huy hiệu thanh gươm vẫn còn được dùng tới nay. Biệt danh The Addicks chưa bao giờ biến mất và được người hâm mộ khôi phục sau khi câu lạc bộ mất sân nhà The Valley vào năm 1985 và phải lưu vong trên sân của Crystal Palace. Hiện nay, nó một lần nữa là biệt danh chính thức của câu lạc bộ.

Những bài hát cổ vũ của người hâm mộ Charlton bao gồm "Valley, Floyd Road", một bài hát nhắc đến địa chỉ của sân vận động theo giai điệu của "Mull of Kintyre".[103]

Sân vận động

Một trong những sân đấu đầu tiên của Charlton, Siemens Meadow

Sân đầu tiên của câu lạc bộ là Siemens Meadow (1905-1907), một khu đất gồ ghề bên bờ sông Thames, nằm dưới bóng của xưởng điện tín Siemens Brothers. Sau đó lần lượt là Woolwich Common (1907-1908), Pound Park (1908-1913), và Angerstein Lane (1913-1915). Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, một mỏ đá phấn được gọi là the Swamps được chọn làm sân mới của Charlton, và vào mùa hè năm 1919, công việc tạo mặt sân bằng phẳng và dọn sạch các đống đổ nát tại khu vực này bắt đầu.[104]

Vào tháng 9 năm 1919, trận đấu đầu tiên được tổ chức tại địa điểm này, tức sân hiện tại của câu lạc bộ với tên gọi The Valley. Charlton ở lại The Valley cho tới năm 1923, khi câu lạc bộ chuyển đến sân The Mount tại Catford như một phần của kế hoạch sáp nhập với Catford Southend. Tuy nhiên, sau khi việc chuyển đi sụp đổ vào năm 1924, Charlton đã trở lại The Valley.

Trong các thập niên 1930 và 1940, sân vận động đã được cải thiện đáng kể, biến nơi đây thành một trong những sân lớn nhất cả nước vào thời điểm đó.[104] Năm 1938, lượng khán giả cao nhất từng được ghi nhận tại sân vượt quá 75.000 người trong một trận Cúp FA gặp Aston Villa. Trong các thập niên 1940 và 1950, lượng khán giả thường vượt quá 40.000 và Charlton sở hữu một trong những lực lượng người ủng hộ lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, sau khi câu lạc bộ xuống hạng, rất ít khoản đầu tư được dành cho The Valley và sân dần xuống cấp.

Trong thập niên 1980, mọi chuyện trở nên nghiêm trọng khi quyền sở hữu câu lạc bộ và The Valley bị tách rời. Khán đài lớn phía đông bị chính quyền đóng cửa sau thảm họa cháy sân Bradford City, còn chủ sở hữu sân muốn dùng một phần khu đất để xây nhà ở. Vào tháng 9 năm 1985, Charlton thực hiện quyết định gây tranh cãi là dùng chung sân với đối thủ cùng khu vực nam Luân Đôn là Crystal Palace tại Selhurst Park. Quyết định này không được những người ủng hộ chấp nhận, và vào cuối thập niên 1980, nhiều bước đi quan trọng đã được tiến hành để đưa câu lạc bộ trở lại The Valley.

Một đảng phái chính trị chỉ theo đuổi một vấn đề duy nhất là Valley Party đã tham gia cuộc bầu cử hội đồng quận Greenwich năm 1990 với cương lĩnh mở lại sân vận động, giành được 11% số phiếu bầu,[104] qua đó hỗ trợ cho nỗ lực đưa câu lạc bộ trở về. Chương trình đầu tư Valley Gold được lập ra để giúp người hâm mộ gây quĩ cho việc trở lại The Valley, và một số cầu thủ cũng được bán đi để tăng nguồn tài chính. Trong mùa giải 1991-92 và một phần của mùa giải 1992-93, The Addicks thi đấu trên sân West Ham là Upton Park[104] do Wimbledon đã chuyển tới Selhurst Park để dùng chung với Crystal Palace. Cuối cùng Charlton trở lại The Valley vào tháng 12 năm 1992, và ăn mừng bằng chiến thắng 1-0 trước Portsmouth.[105]

Kể từ khi trở lại The Valley, ba mặt của sân đã được tái phát triển hoàn toàn, biến nơi đây thành một sân vận động hiện đại toàn ghế ngồi với sức chứa 27.111, lớn nhất ở nam Luân Đôn. Hiện có những kế hoạch nâng sức chứa của sân lên khoảng 31.000 và thậm chí vào khoảng 40.000 trong tương lai.[106]Vào tháng 5 năm 2024, một mặt sân GrassMaster Desso mới đã được lắp đặt.

Người ủng hộ và các mối kình địch

Phần lớn lực lượng người ủng hộ câu lạc bộ đến từ đông nam Luân Đôn và Kent, đặc biệt là các quận của Luân Đôn như Greenwich, Bexley và Bromley. Những người ủng hộ đóng vai trò then chốt trong việc đưa câu lạc bộ trở lại The Valley vào năm 1992 và được ghi nhận bằng cách có tiếng nói trong ban lãnh đạo dưới hình thức một giám đốc đại diện người hâm mộ do bầu chọn. Bất kì người giữ vé mùa giải nào cũng có thể ra ứng cử nếu có đủ số lượng đề cử nhất định, và tất cả người giữ vé mùa giải từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bỏ phiếu. Giám đốc cuối cùng ở vị trí này, Ben Hayes,[107] được bầu vào năm 2006 để phục vụ đến năm 2008, khi vai trò này bị chấm dứt vì các vấn đề pháp lí. Chức năng của vị trí này được thay bằng một diễn đàn người hâm mộ,[108] nhóm đã họp lần đầu tiên vào tháng 12 năm 2008 và vẫn hoạt động cho tới ngày nay.[107]

Charlton và Millwall tri ân Graham Taylor tại The Valley vào tháng 1 năm 2017.

Những đối thủ chính của Charlton là các đội láng giềng ở nam Luân Đôn, Crystal PalaceMillwall.

Năm 1985, Charlton buộc phải dùng chung sân với Crystal Palace sau những lo ngại về an toàn tại The Valley. Họ chơi các trận sân nhà tại sân Selhurst Park của the Glaziers cho đến năm 1991. Cách sắp xếp này được chủ tịch Crystal Palace Ron Noades xem là cần thiết cho tương lai của bóng đá, nhưng lại không được cả hai nhóm người hâm mộ chấp nhận. Người hâm mộ Charlton đã vận động cho việc trở lại The Valley trong suốt thời gian đội còn ở Selhurst Park. Năm 2005, Palace bị Charlton đẩy xuống hạng tại The Valley sau trận hòa 2-2. Palace cần thắng để trụ hạng. Tuy nhiên, khi trận đấu còn bảy phút, Charlton gỡ hòa và khiến đối thủ của mình xuống hạng. Sau trận, đã xảy ra một cuộc cãi vã được nhắc đến nhiều giữa hai chủ tịch của hai câu lạc bộ, Richard Murray và Simon Jordan. Kể từ lần gặp đầu tiên tại Football League năm 1925, Charlton đã thắng 17, hòa 13 và thua 26 trận trước Palace. Hai đội gặp nhau lần gần nhất vào năm 2015, khi Palace thắng 4-1 tại Cúp Liên đoàn.[109]

Charlton ở gần Millwall hơn bất kì câu lạc bộ EFL nào khác, khi The Valley và The Den chỉ cách nhau chưa đến bốn dặm (6,4 km). Hai đội gặp nhau lần gần nhất vào tháng 1 năm 2026, trong trận Millwall thắng 4-0 tại The Den.[110] Kể từ trận đầu tiên của họ tại Football League năm 1921, Charlton đã thắng 11, hòa 27 và thua 38 trận tại giải vô địch trước Millwall (hai đội cũng gặp nhau hai lần tại Anglo-Italian Cup trong mùa giải 1992-93; Charlton thắng một trận và hòa một trận).[111] The Addicks đã không thắng Millwall trong 14 trận tại giải vô địch gần nhất giữa hai đội; lần thắng gần nhất của họ là vào ngày 9 tháng 3 năm 1996 tại The Valley.[110]

Trong văn hóa đại chúng

Điện ảnh và truyền hình

Sau khi thăng hạng lên Division 1 năm 1936, công ty British Pathé đã đến The Valley để quay phim các cầu thủ tập luyện.[112] Lời bình trong phim nhắc tới một "niềm tự hào" rằng không một cầu thủ nào của đội trong năm thi đấu ở Division 2 bị "khiển trách". Bộ phim sau đó, Famous Football Teams at Home. No.5: Charlton Athletic (canister:PT 353, media URN: 39727), được phát hành ngày 28 tháng 12 năm 1936, và có những góc quay rõ nét về sân vận động buổi đầu.[113]

Movietone News của Anh đã quay trận đấu vòng Sáu (tứ kết) Cúp FA với Preston North End tại The Valley vào ngày 1 tháng 3 năm 1947, trận mà Charlton thắng 2-1. Người bình luận là Lionel Gamlin. Bộ phim mở đầu bằng cảnh tù binh chiến tranh người Đức dọn tuyết ở khu khán đài phía đông cũ. (Để nhận diện, video có i.d. là: BM48249. Friendly Key của phim là: 470306131).[114]

Charlton Athletic giữ vai trò quan trọng trong bộ phim The Silent Playground (1963). Ba đứa trẻ gặp rắc rối khi bạn trai của mẹ chúng là 'Uncle' Alan (John Ronane) cho chúng tiền tiêu vặt để tự đi lang thang, còn ông ta thì tới xem một trận của Charlton. Bộ phim có một số cảnh quay từ sân vận động mà sau đó Ronane được thấy đang rời khỏi.[115]

Trong loạt phim hài tình huống lâu năm của BBCOnly Fools and Horses, Rodney Charlton Trotter (do Nicholas Lyndhurst thủ vai) được đặt tên theo câu lạc bộ này.[116] Trong loạt phim khoa học viễn tưởng của BBC là Doctor Who, người đồng hành của Seventh Doctor tên Ace (do Sophie Aldred thủ vai) đeo huy hiệu Charlton Athletic trên áo khoác bomber màu đen.[117] Một trận đấu của Charlton Athletic với Manchester United trong thập niên 1950 được tái hiện trong BBC Two phim truyền hình United (phát hành năm 2011).[118]

The Valley và huấn luyện viên Alan Curbishley từng xuất hiện chớp nhoáng trong bộ phim chính kịch thể thao của Sky One là Dream Team.[119]

Charlton Athletic cũng xuất hiện trong bộ phim chính kịch phát sóng một lần của ITV là Albert's Memorial, trình chiếu ngày 12 tháng 9 năm 2010 với sự tham gia của David Jason và David Warner.[120]

Một Billy Butcher thời trẻ có treo cờ Charlton trong phòng của mình trong loạt phim siêu anh hùng của Amazon Prime VideoThe Boys.[121]

Sách

Charlton Athletic cũng xuất hiện trong một số ấn phẩm sách, cả ở mảng hư cấu lẫn các tác phẩm thể thao phi hư cấu. Trong số đó có các tác phẩm của Charlie Connelly[122] và tác phẩm hư cấu đại chúng của Paul Breen mang tên The Charlton Men. Cuốn sách lấy bối cảnh mùa giải 2011-12 thành công của Charlton, khi đội vô địch League One và thăng hạng trở lại Championship đồng thời với các cuộc bạo loạn ở Luân Đôn năm 2011.[123]

Timothy Young, nhân vật chính trong Out of the Shelter, cuốn tiểu thuyết năm 1970 của David Lodge, là người ủng hộ Charlton Athletic. Cuốn sách mô tả Timothy nghe tin Charlton chiến thắng trong Chung kết Cúp FA 1947 qua radio.[124]

Kỉ lục và thống kê

  • Sam Bartram là cầu thủ ra sân nhiều nhất trong lịch sử Charlton, với tổng cộng 623 trận trong giai đoạn 1934-1956. Nếu không có sáu năm bị mất do Chiến tranh thế giới thứ hai, khi không có bóng đá giải vô địch diễn ra, con số này còn có thể cao hơn nhiều.[125]
  • Keith Peacock là cầu thủ ra sân nhiều thứ hai của câu lạc bộ với 591 trận trong giai đoạn 1962-1979.[126] Ông cũng là cầu thủ dự bị đầu tiên trong lịch sử một trận đấu của Football League, khi vào thay thủ môn Mike Rose bị chấn thương sau 11 phút trong trận gặp Bolton Wanderers ngày 21 tháng 8 năm 1965.
  • Hậu vệ và tiền vệ Radostin Kishishev là cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất của Charlton, với 42 lần ra sân cho Bulgaria trong thời gian còn là cầu thủ của Charlton.[127]
  • Tổng cộng đã có 12 cầu thủ Charlton khoác áo đội tuyển Anh. Người đầu tiên là Seth Plum vào năm 1923 và người gần nhất là Darren Bent vào năm 2006. Luke Young, với bảy lần khoác áo đội tuyển, là tuyển thủ Anh ra sân nhiều nhất của Charlton.[128]
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử Charlton là Derek Hales, người ghi 168 bàn trên mọi đấu trường trong 368 trận, qua hai giai đoạn khoác áo câu lạc bộ.[126]
  • Nếu chỉ tính các bàn thắng tại giải vô địch, Stuart Leary là chân sút số một của câu lạc bộ với 153 bàn trong giai đoạn 1951-1962.[129]
  • Kỉ lục số bàn thắng ghi trong một mùa giải là 33, do Ralph Allen lập ở mùa giải 1934-35.[130]
  • Kỉ lục khán giả sân nhà của Charlton là 75.031 người, được thiết lập ngày 12 tháng 2 năm 1938 trong một trận Cúp FA gặp Aston Villa.[131]
  • Kỉ lục khán giả tại sân toàn ghế ngồi là 27.111 người, đúng bằng sức chứa hiện tại của The Valley. Kỉ lục này lần đầu được thiết lập vào tháng 9 năm 2005 trong một trận Premier League gặp Chelsea và sau đó đã được cân bằng nhiều lần.[131]
Thành tíchKỉ lục (năm, hạng đấu)
Thứ hạng cao nhất tại giải vô địchÁ quân mùa 1936-37 (First Division)
Nhiều điểm nhất trong một mùa giải vô địch101 ở mùa giải 2011-12 (League One)
Nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải vô địch107 ở mùa giải 1957-58 (Second Division)
Chiến thắng đậm nhất8-0 trước Stevenage, ngày 9 tháng 10 năm 2018
Chiến thắng sân khách đậm nhất8-0 trước Stevenage, ngày 9 tháng 10 năm 2018
Thất bại nặng nề nhất1-11 trước Aston Villa, ngày 14 tháng 11 năm 1959
Chiến thắng đậm nhất tại Cúp FA7-0 trước Burton Albion, ngày 7 tháng 1 năm 1956
Chiến thắng đậm nhất tại Cúp Liên đoàn5-0 trước Brentford, ngày 12 tháng 8 năm 1980
Chuỗi thắng liên tiếp dài nhất12 trận (từ 26 tháng 12 năm 1999 đến 7 tháng 3 năm 2000)
Chuỗi không thắng dài nhất18 trận (từ 18 tháng 10 năm 2008 đến 13 tháng 1 năm 2009; và từ 2 tháng 12 năm 2023 đến 24 tháng 2 năm 2024)
Chuỗi thua liên tiếp dài nhất10 trận (từ 11 tháng 4 năm 1990 đến 15 tháng 9 năm 1990)
Chuỗi hòa liên tiếp dài nhất6 trận (từ 13 tháng 12 năm 1992 đến 16 tháng 1 năm 1993)
Chuỗi bất bại dài nhất15 trận (từ 4 tháng 10 năm 1980 đến 20 tháng 12 năm 1980)
Kỉ lục khán giả75.031 trước Aston Villa, ngày 17 tháng 10 năm 1938
Kỉ lục khán giả tại giải vô địch68.160 trước Arsenal, ngày 17 tháng 10 năm 1936
Doanh thu bán vé cao nhất400.920 bảng trước Leicester City, ngày 19 tháng 2 năm 2005

Kỉ lục cầu thủ

Thành tíchCầu thủ (kỉ lục)
Nhiều lần ra sân nhấtSam Bartram (623)
Nhiều lần ra sân nhất (cầu thủ ngoài sân)Keith Peacock (591)
Nhiều bàn thắng nhấtDerek Hales (168)
Nhiều hat-trick nhấtJohnny Summers và Eddie Firmani (8)
Cầu thủ có nhiều lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhấtDennis Rommedahl (126)
Cầu thủ có nhiều lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhất khi còn thi đấu cho câu lạc bộRadostin Kishishev (42)
Cầu thủ lớn tuổi nhấtSam Bartram (42 tuổi và 47 ngày)
Cầu thủ trẻ nhấtJonjo Shelvey (16 tuổi và 59 ngày)
Cầu thủ ghi bàn lớn tuổi nhấtChris Powell (38 tuổi và 239 ngày)
Cầu thủ ghi bàn trẻ nhấtJonjo Shelvey (16 tuổi và 310 ngày)
Cầu thủ ghi bàn nhanh nhấtJim Melrose (9 giây)
Thẻ đỏ nhanh nhấtNaby Sarr (1 phút)

Cầu thủ

Tính đến 6 tháng 4 năm 2026[132][133][134][135]

Đội hình đội một

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMBỉThomas Kaminski
2HVAnhKayne Ramsay
3HVAnhMacaulay Gillesphey
5HVAnhLloyd Jones
6TVCộng hòa IrelandConor Coventry
7JamaicaTyreece Campbell
8TVAnhLuke Berry
10TVScotlandGreg Docherty (đội trưởng)
11AnhMiles Leaburn
14TVAnhSonny Carey
15HVAnhConor Coady (cho mượn từ Wrexham)
16HVScotlandJosh Edwards
17HVJamaicaAmari'i Bell
19HVAnhLuke Chambers (cho mượn từ Liverpool)
SốVT Quốc giaCầu thủ
20HVAnhZach Mitchell
21TMCộng hòa IrelandTiernan Brooks
23Hoa KỳCharlie Kelman
24AnhMatt Godden
25TMAnhWill Mannion
26TVAnhJoe Rankin-Costello
28HVKenyaCollins Sichenje
32HVAnhReece Burke
37TVAnhIbrahim Fullah
41TVAnhHarvey Knibbs
44HVAnhHarry Clarke (cho mượn từ Ipswich Town)
77TVAnhJayden Fevrier (cho mượn từ Stockport County)
99ScotlandLyndon Dykes

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
4HVAnhAlex Mitchell (cho Plymouth Argyle mượn)
9MarocGassan Ahadme (cho Stevenage mượn)
12TVWalesTerry Taylor (cho Northampton Town mượn)
18TVJamaicaKaroy Anderson (cho Blackpool mượn)
22AnhTanto Olaofe (cho Stockport County mượn)
29Sierra LeoneDaniel Kanu (cho Walsall mượn)
30TVScotlandRob Apter (cho Bolton Wanderers mượn)
31TMAnhTommy Reid (cho Farnborough mượn)
33AnhMicah Mbick (cho Colchester United mượn)
SốVT Quốc giaCầu thủ
34TVAnhKai Enslin (cho Dorking Wanderers mượn)
38HVFijiJosh Laqeretabua (cho Bath City mượn)
39TVAnhHenry Rylah (cho Derry City mượn)
40TMAnhLennon MacLorg (cho Whitehawk mượn)
42HVAnhOliver Hobden (cho Chatham Town mượn)
50HVAnhMason Hunter (cho Ramsgate mượn)
HVUgandaNathan Asiimwe (cho AFC Wimbledon mượn)
HVAnhToby Bower (cho Farnborough mượn)
Cộng hòa IrelandPatrick Casey (cho Dorking Wanderers mượn)

Đội hình U-21

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
13JamaicaKaheim Dixon
35TVAnhAlan Mwamba
36HVAnhKeenan Gough
43AnhParis Lock
45HVAnhTy Ewens-Findlay
46AnhReuben Reid
47AnhEmmanuel Sol-Loza
SốVT Quốc giaCầu thủ
48TVAnhJacob Safa
49HVAnhEthan Brown
TMAnhGeorge Hardy
HVAnhMax Kuzcynski
TVAnhReuben Amissah
TVAnhManu Wales

Đội hình U-18

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
TMAnhLogan Williams
TMAnhFinley Woodman
HVAnhDionte Davis
HVAnhTate Elliott
HVAnhTaku Muvhuti
HVAnhLanre Olatunji
HVAnhMarley Rayment-Dawkins
HVAnhPhoenix Valentine
TVAnhJack Belton
TVAnhPatrick Boje
SốVT Quốc giaCầu thủ
TVAnhMichael Mylona
TVAnhKacper Podgorny
TVAnhHarry Randall
TVAnhEd Thomas
TVAnhSam Washington-Amoah
AnhShia-Lee Burnham
AnhEllis McMillan
AnhKayode Peterkin
AnhRaynon Richman
AnhBradley Tagoe

Đội nữ

Cầu thủ xuất sắc nhất năm

  • 1971 Anh Paul Went
  • 1972 Anh Keith Peacock
  • 1973 Anh Arthur Horsfield
  • 1974 Anh John Dunn
  • 1975 Anh Richie Bowman
  • 1976 Anh Derek Hales
  • 1977 Anh Mike Flanagan
  • 1978 Anh Keith Peacock
  • 1979 Anh Keith Peacock
  • 1980 Anh Les Berry
  • 1981 Anh Nicky Johns
  • 1982 Anh Terry Naylor
  • 1983 Anh Nicky Johns
  • 1984 Anh Nicky Johns
  • 1985 Wales Mark Aizlewood
  • 1986 Wales Mark Aizlewood
  • 1987 Anh Bob Bolder
  • 1988 Anh John Humphrey
  • 1989 Anh John Humphrey
  • 1990 Anh John Humphrey
  • 1991 Anh Rob Lee
  • 1992 Anh Simon Webster
  • 1993 Scotland Stuart Balmer
  • 1994 Anh Carl Leaburn
  • 1995 Anh Richard Rufus
  • 1996 Wales John Robinson
  • 1997 Úc Andy Petterson
  • 1998 Cộng hòa Ireland Mark Kinsella
  • 1999 Cộng hòa Ireland Mark Kinsella
  • 2000 Anh Richard Rufus
  • 2001 Anh Richard Rufus
  • 2002 Cộng hòa Ireland Dean Kiely
  • 2003 Anh Scott Parker
  • 2004 Cộng hòa Ireland Dean Kiely
  • 2005 Anh Luke Young
  • 2006 Anh Darren Bent
  • 2007 Anh Scott Carson
  • 2008 Cộng hòa Ireland Matt Holland
  • 2009 Anh Nicky Bailey
  • 2010 Scotland Christian Dailly
  • 2011 Bồ Đào Nha José Semedo
  • 2012 Anh Chris Solly
  • 2013 Anh Chris Solly
  • 2014 Uruguay Diego Poyet
  • 2015 Anh Jordan Cousins
  • 2016 Anh Jordan Cousins
  • 2017 Anh Ricky Holmes
  • 2018 Wales Jay DaSilva
  • 2019 Montserrat Lyle Taylor
  • 2020 Anh Dillon Phillips
  • 2021 Anh Jake Forster-Caskey
  • 2022 Anh George Dobson
  • 2023 Anh Jesurun Rak-Sakyi
  • 2024 Anh Alfie May
  • 2025 Anh Lloyd Jones

Quan chức câu lạc bộ

Tính đến 23 tháng 12 năm 2025

Ban huấn luyện

Vai tròTên
Huấn luyện viên đội mộtWales Nathan Jones[136]
Trợ lí huấn luyện viên đội mộtCộng hòa Ireland Curtis Fleming
Huấn luyện viên đá phạt cố định và đội mộtAnh Danny Hylton
Huấn luyện viên thủ môn đội mộtCộng hòa Ireland Stephen Henderson
Huấn luyện viên phát triển cá nhânAnh Dave Huzzey
Trưởng bộ phận khoa học thể thaoAnh Luke Sanders
Bác sĩ đội mộtAnh Toby Longwill
Trưởng bộ phận thể lựcAnh Josh Hornby
Trưởng bộ phận vật lí trị liệu đội mộtAnh Adam Coe
Chuyên viên vật lí trị liệu đội mộtHồng Kông Alex Ng
Trợ lí trị liệu đội mộtAnh Steve Jackson
Trưởng bộ phận phân tích hiệu suấtAnh Pete Booker
Quản lí trang phục đội mộtAnh Harry Williams
Trưởng bộ phận chăm sóc cầu thủAnh Jack Tebbutt
Giám đốc học việnAnh Tom Pell[137]
Trưởng bộ phận huấn luyện học việnAnh Rhys Williams
Huấn luyện viên trưởng giai đoạn phát triển cầu thủ chuyên nghiệp cấp caoAnh Jason Pearce
Huấn luyện viên trưởng U21Anh Chris Lock
Huấn luyện viên giai đoạn phát triển cầu thủ chuyên nghiệpAnh Chris Solly
Huấn luyện viên giai đoạn phát triển cầu thủ chuyên nghiệpAnh Kevin James
Trưởng bộ phận khoa học thể thao và y học học việnAnh Danny Campbell
Tuyển trạch viên học viện cấp caoAnh Bert Dawkins
Chuyên viên phân tích hiệu suất học việnAnh James Parker
Chuyên viên vật lí trị liệu học việnAnh Andriana Tsiantoula
Trợ lí trang phụcAnh Ben Mehmet
Trợ lí trang phụcAnh James Simmons

Lịch sử huấn luyện viên

Alan Curbishley dẫn dắt Charlton từ năm 1991 đến năm 2006

Nguồn:[138]

TênThời gianThành tích
Anh Walter Raynertháng 6 năm 1920 – tháng 5 năm 1925
Scotland Alex MacFarlanetháng 5 năm 1925 – tháng 1 năm 1928
Anh Albert Lindontháng 1 năm 1928 – tháng 6 năm 1928
Scotland Alex MacFarlanetháng 6 năm 1928 – tháng 12 năm 1932Third Division vô địch (1929)
Anh Albert Lindontháng 12 năm 1932 – tháng 5 năm 1933
Anh Jimmy Seedtháng 5 năm 1933 – tháng 9 năm 1956Third Division vô địch (1935);
Second Division á quân (1936);
First Division á quân (1937);
Football League War Cup đồng vô địch (1944);
Cúp FA á quân 1946;
Cúp FA vô địch 1947
Anh David Clark (tạm quyền)tháng 9 năm 1956
Anh Jimmy Trottertháng 9 năm 1956 – tháng 10 năm 1961
Anh David Clark (tạm quyền)tháng 10 năm 1961 – tháng 11 năm 1961
Scotland Frank Hilltháng 11 năm 1961 – tháng 8 năm 1965
Anh Bob Stokoetháng 8 năm 1965 – tháng 9 năm 1967
Ý Eddie Firmanitháng 9 năm 1967 – tháng 3 năm 1970
Cộng hòa Ireland Theo Foleytháng 3 năm 1970 – tháng 4 năm 1974
Anh Les Gore (tạm quyền)tháng 4 năm 1974 – tháng 5 năm 1974
Anh Andy Nelsontháng 5 năm 1974 – tháng 3 năm 1980Third Division hạng ba (thăng hạng; 1975)
Anh Mike Baileytháng 3 năm 1980 – tháng 6 năm 1981Third Division hạng ba (thăng hạng; 1981)
Anh Alan Mullerytháng 6 năm 1981 – tháng 6 năm 1982
Anh Ken Craggstháng 6 năm 1982 – tháng 11 năm 1982
Anh Lennie Lawrencetháng 11 năm 1982 – tháng 7 năm 1991Division Two á quân (1986);
Full Members' Cup á quân (1987)
Anh Alan Curbishley &
Anh Steve Gritt
tháng 7 năm 1991 – tháng 6 năm 1995
Anh Alan Curbishleytháng 6 năm 1995 – tháng 5 năm 2006First Division thắng play-off (1998);
First Division vô địch (2000)
Bắc Ireland Iain Dowietháng 5 năm 2006 – tháng 11 năm 2006
Anh Les Reedtháng 11 năm 2006 – tháng 12 năm 2006
Anh Alan Pardewtháng 12 năm 2006 – tháng 11 năm 2008
Anh Phil Parkinsontháng 11 năm 2008 – tháng 1 năm 2011
Anh Keith Peacock (tạm quyền)tháng 1 năm 2011
Anh Chris Powelltháng 1 năm 2011 – tháng 3 năm 2014League One vô địch (2012)
Bỉ José Rigatháng 3 năm 2014 – tháng 5 năm 2014
Bỉ Bob Peeterstháng 5 năm 2014 – tháng 1 năm 2015
Anh Damian Matthew &
Anh Ben Roberts (tạm quyền)
tháng 1 năm 2015
Israel Guy Luzontháng 1 năm 2015 – tháng 10 năm 2015
Bỉ Karel Fraeyetháng 10 năm 2015 – tháng 1 năm 2016
Bỉ José Rigatháng 1 năm 2016 – tháng 5 năm 2016
Anh Russell Sladetháng 6 năm 2016 – tháng 11 năm 2016
Anh Kevin Nugent (tạm quyền)tháng 11 năm 2016
Anh Karl Robinsontháng 11 năm 2016 – tháng 3 năm 2018
Anh Lee Bowyer (tạm quyền)tháng 3 năm 2018 – tháng 9 năm 2018
Anh Lee Bowyertháng 9 năm 2018 – tháng 3 năm 2021League One thắng play-off (2019)
Anh Johnnie Jackson (tạm quyền)tháng 3 năm 2021 
Anh Nigel Adkinstháng 3 năm 2021 – tháng 10 năm 2021
Anh Johnnie Jackson (tạm quyền)tháng 10 năm 2021 – tháng 12 năm 2021
Anh Johnnie Jacksontháng 12 năm 2021 – tháng 5 năm 2022
Anh Ben Garnertháng 6 năm 2022 – tháng 12 năm 2022
Cộng hòa Ireland Anthony Hayes (tạm quyền)tháng 12 năm 2022
Anh Dean Holdentháng 12 năm 2022 – tháng 8 năm 2023
Anh Jason Pearce (tạm quyền)tháng 8 năm 2023 – tháng 9 năm 2023
Anh Michael Appletontháng 9 năm 2023 – tháng 1 năm 2024
Cộng hòa Ireland Curtis Fleming (tạm quyền)tháng 1 năm 2024 – tháng 2 năm 2024
Wales Nathan Jonestháng 2 năm 2024 –League One thắng play-off (2025)

Danh sách chủ tịch

NămTên
1921-1924Douglas Oliver
1924-1932Edwin Radford
1932-1951Albert Gliksten
1951-1962Stanley Gliksten
1962-1982Michael Gliksten
1982-1983Mark Hulyer
1983Richard Collins
1983-1984Mark Hulyer
1984John Fryer
1984-1985Jimmy Hill
1985-1987John Fryer
1987-1989Richard Collins
1989-1995Roger Alwen
1995-2008Richard Murray (PLC)
1995-2008Martin Simons
2008-2010Derek Chappell
2008-2010Richard Murray
2010-2014Michael Slater
2014-2020Richard Murray
2020Matt Southall
2020-2023Thomas Sandgaard
2024James Rodwell
2024-Gavin Carter

Danh hiệu

Nguồn:[139][140]

Giải vô địch

  • First Division (cấp độ 1)[141]
    • Á quân: 1936-37
  • Second Division / First Division (cấp độ 2)
    • Vô địch: 1999-2000
    • Thăng hạng với vị trí thứ hai: 1935-36, 1985-86
    • Thắng play-off: 1987, 1998
  • Third Division South / Third Division / League One (cấp độ 3)
    • Vô địch: 1928-29 (miền Nam), 1934-35 (miền Nam), 2011-12
    • Thăng hạng với vị trí thứ ba: 1974-75, 1980-81
    • Thắng play-off: 2019, 2025

Cúp

  • Cúp FA
    • Vô địch: 1946-47
    • Á quân: 1945-46
  • Full Members' Cup
    • Á quân: 1986-87
  • Football League War Cup
    • Đồng vô địch: 1943-44
  • Kent Senior Cup
    • Vô địch: 1994-95, 2012-13, 2014-15
    • Á quân: 1995-96, 2015-16
  • London Senior Cup
    • Vô địch: 2022-23, 2023-24

Xem thêm

  • Bóng đá Luân Đôn

Tham khảo

  1. "Update on structure of the club's board | Charlton Athletic Football Club".
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 "Charlton Athletic – Club History". Charlton Athletic FC. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2011.
  3. "We've Always Been Athletic – Charlton Athletic Museum" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  4. Clayton 2001, tr. 30.
  5. Clayton 2001, tr. 33.
  6. Felton, Paul; Spencer, Barry. "England 1928/1929". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  7. 1 2 Seed, Jimmy (1947). Soccer From the Inside. Thorsons.
  8. Colin Cameron, Home and Away with Chalton Athletic 1920-2004 (2004), p.69.
  9. Felton, Paul; Edwards, Gareth. "England 1936/1937". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  10. Felton, Paul; Edwards, Gareth. "England 1937/1938". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  11. Felton, Paul; Edwards, Gareth. "England 1938/1939". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  12. Cameron, Home and Away with Charlton Athletic 1910-2004, p.112.
  13. "Burnley 0 – 1 Charlton". Charlton Athletic FC. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  14. Felton, Paul. "England 1971/1972". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  15. Felton, Paul. "England 1974/1975". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  16. Felton, Paul. "England 1979/1980". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  17. Felton, Paul. "England 1980/1981". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  18. Clayton 2001, tr. 141-150.
  19. Felton, Paul. "England 1985/1986". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  20. Clayton 2001, tr. 156.
  21. "Alan Curbishley – Background". Charlton Athletic FC. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  22. "Charlton clinch nail-biter". BBC News. BBC. ngày 25 tháng 5 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  23. Wembley's Greatest Events (1923-2010) Lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine Wembley Stadium
  24. "Charlton bounce back in style". BBC Sport. ngày 29 tháng 6 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007.
  25. "Curbishley basks in glory". BBC Sport. BBC. ngày 15 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  26. "Curbishley to leave Charlton". BBC Sport. BBC. ngày 29 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  27. "Charlton unveil Dowie as new boss". BBC Sport. ngày 30 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007.
  28. "Dowie exits Addicks". football.co.uk. ngày 13 tháng 11 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2006.
  29. "Charlton appoint Reed as new boss". BBC Sport. ngày 14 tháng 11 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  30. "Pardew replaces Reed at Charlton". BBC Sport. ngày 24 tháng 12 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007.
  31. Sinnott, John (ngày 7 tháng 5 năm 2007). "Charlton 0-2 Tottenham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  32. Bose, Mihir (ngày 7 tháng 5 năm 2007). "Group eyes £50m Charlton takeover". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  33. "Pardew and Charlton part company". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008.
  34. "Charlton 2-2 Blackpool". BBC Sport. ngày 18 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009.
  35. Fletcher, Paul (ngày 17 tháng 5 năm 2010). "Charlton 2-1 Swindon (Agg 3-3) Swindon win 5-4 on penalties". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
  36. Grace, Alex (ngày 29 tháng 8 năm 2018). "The Demise Of Charlton Athletic Since 2014". All Out Football. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2021.
  37. "Bob Peeters sacked as Charlton coach after 25 league games". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2015.
  38. "Charlton Athletic have sacked Bob Peeters after a dismal run of form". Daily Express. London.
  39. "Guy Luzon: Charlton Athletic sack manager after winless run". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  40. "Former Charlton Athletic boss reveals he never had final say on transfers". News Shopper (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018.
  41. "Karel Fraeye: Charlton Athletic appoint interim head coach". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  42. "Karel Fraeye: Charlton Athletic sack interim head coach". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  43. "Jose Riga: Charlton Athletic reappoint Belgian as head coach". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  44. "Bolton Wanderers 0-0 Charlton Athletic". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016.
  45. "Jose Riga: Charlton Athletic head coach resigns following Burnley defeat". CAFC.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016.
  46. "Charlton Athletic fans call for Roland Duchatelet to sell club". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  47. "Charlton Athletic fans protest against owners in England and Belgium". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2016.
  48. "Charlton Athletic has today parted company with manager Russell Slade". Charlton Athletic F.C. ngày 14 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
  49. "Kevin Nugent placed in caretaker charge of Charlton Athletic". BBC Sport. ngày 17 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2016.
  50. "Charlton 2-1 Sunderland – League One Play-off Final". BBC Sport. ngày 26 tháng 5 năm 2019.
  51. "Charlton boss Lee Bowyer signs new three-year contract". Sky Sports.
  52. "Charlton Athletic: Roland Duchatelet agrees sale to East Street Investments". BBC Sport. BBC. ngày 29 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  53. "East Street Investments complete takeover of Charlton Athletic". Charlton Athletic. ngày 2 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
  54. Conn, David (ngày 10 tháng 3 năm 2020). "Charlton takeover in chaos after public disagreement between new owners". Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  55. "Charlton Athletic: Majority shareholder Tahnoon Nimer claims he will remain as director". BBC Sport. BBC. ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  56. Ransom, Ben (ngày 20 tháng 4 năm 2020). "Charlton Athletic takeover by East Street Investments under investigation by EFL". Sky Sports. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  57. "Charlton Athletic: Tahnoon Nimer agrees sale of club to consortium". BBC Sport. BBC. ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  58. "Consortium led by businessman Paul Elliott purchases East Street Investments". Charlton Athletic FC. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  59. "Charlton Athletic to defend 'ridiculous' High Court insolvency action". BBC Sport. BBC. ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2020.
  60. Stone, Simon (ngày 17 tháng 7 năm 2020). "Matt Southall: Ex-Charlton chief executive told to pay £21.000 in costs". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2020.
  61. "Charlton Athletic: English Football League rejects takeover by Paul Elliott". BBC Sport. ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2020.
  62. "Update following EFL statement". Charlton Athletic F.C. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2020.
  63. "This is who is promoted and relegated from the Championship". ngày 22 tháng 7 năm 2020.
  64. Stone, Simon (ngày 19 tháng 8 năm 2020). "Charlton Athletic: Thomas Sandgaard says it will take time to earn fans' trust". BBC Sport. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  65. Stone, Simon (ngày 1 tháng 9 năm 2020). "Charlton Athletic can be taken over after Paul Elliott injunction refused". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2020.
  66. Stone, Simon (ngày 2 tháng 9 năm 2020). "Charlton Athletic: League One club cannot be sold before 9 September". BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
  67. Stone, Simon (ngày 17 tháng 9 năm 2020). "Charlton Athletic: Paul Elliott granted sale injunction of League One club". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020.
  68. Doyle, Tom (ngày 25 tháng 9 năm 2020). "Charlton Athletic confirm Thomas Sandgaard is the club's new owner". The Evening Standard.
  69. "Charlton Athletic: Thomas Sandgaard claims he has bought League One club". BBC Sport. ngày 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2020.
  70. "Lee Bowyer: Charlton Athletic manager resigns from League One club". BBC Sport. ngày 15 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  71. "Lee Bowyer: Going back to Birmingham 'the right thing to do', says new boss". BBC Sport. ngày 16 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  72. "Nigel Adkins: Charlton Athletic appoint ex-Southampton & Reading boss as new manager". BBC Sport. ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  73. "Nigel Adkins: Charlton Athletic sack manager after poor run". BBC Sport. ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  74. Cawley, Richard (ngày 17 tháng 12 năm 2021). "Charlton Athletic fans' favourite Johnnie Jackson appointed permanent boss". South London Press. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2021.
  75. "Johnnie Jackson departs as club's manager". charltonafc.com. ngày 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2024.
  76. "Charlton appoint Ben Garner as Men's First-Team Manager | Charlton Athletic Football Club". Charltonafc.com. ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2022.
  77. "Ben Garner departs as Men's First-Team Manager". Charlton Athletic Official Website. ngày 5 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2022.
  78. "Stockport County 3-1 Charlton Athletic". BBC Sport. ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
  79. "Charlton Athletic are at 'lowest ebb in living memory' say supporters' trust". BBC Sport. ngày 8 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
  80. "HOLDEN, SCOTT, RODWELL AND WARRICK APPOINTED TO SENIOR ROLES". ngày 20 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2022.
  81. "Cheltenham Town 2-2 Charlton Athletic". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2023.
  82. "Charlton Athletic: Charlie Methven's SE7 Partners agree deal to buy club from Thomas Sandgaard". BBC Sport. ngày 5 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2023.
  83. "SE7 Partners: Charlton Athletic takeover cleared for ex-Sunderland director Charlie Methven's firm". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2023.
  84. "Charlton Athletic: SE7 Partners complete takeover from Thomas Sandgaard". BBC Sport. ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2023.
  85. "Dean Holden: Charlton Athletic manager sacked by League One club". BBC Sport. ngày 27 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2023.
  86. "Michael Appleton: Charlton Athletic appoint former Oxford United boss as manager". BBC Sport. ngày 8 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2023.
  87. "CLUB STATEMENT : MICHAEL APPLETON". ngày 23 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.
  88. "Michael Appleton: Charlton Athletic sack head coach after 12-game winless run". BBC Sport. ngày 23 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
  89. "Nathan Jones: Charlton Athletic appoint former Southampton and Luton manager". BBC Sport. ngày 4 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
  90. "Charlton Athletic 0-0 Portsmouth". BBC Sport. ngày 24 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2024.
  91. "Charlton Athletic finally end wait for League One win as they secure 2-1 victory at Derby County". South London News (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 2 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  92. "Charlton Athletic owners fully intent on backing Nathan Jones in summer transfer window". South London News (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 4 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  93. "Wycombe end Addicks' unbeaten run | Charlton Athletic Football Club". www.charltonafc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  94. "Alfie May wins Sky Bet League One Golden Boot award". EFL (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
  95. Hashim, Taha (ngày 25 tháng 5 năm 2025). "Charlton Athletic 1-0". the Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
  96. Low, Harry (ngày 8 tháng 12 năm 2025). "Tributes paid to Charlton fan who died at match". BBC News. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  97. "Blackheath war memorial". London Remembers (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  98. 1 2 3 "Charlton Athletic F.C. Crest History". footballcrests.com. ngày 4 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  99. Clayton 2001, tr. 8.
  100. Clayton 2001, tr. 32.
  101. "Charlton Athletic". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
  102. Clayton 2001, tr. 10.
  103. "Charlton songs". www.cafc.co.uk. Charlton Athletic FC. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  104. 1 2 3 4 "Details about Charlton Athletic". BBC London. ngày 15 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
  105. "Charlton 1 – 0 Portsmouth". Charlton Athletic FC. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  106. "Expansion plans underway". Charlton Athletic FC. ngày 29 tháng 11 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007.
  107. 1 2 "History of the fans' forum". Charlton Athletic FC. ngày 29 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2011.
  108. "Fans' forum". Charlton Athletic FC. ngày 29 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2011.
  109. "Crystal Palace 4-1 Charlton: Dwight Gayle scores hat-trick in win". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
  110. 1 2 "Charlton head-to-head v Millwall". Soccerbase. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2023.
  111. "Head-to-Head v Millwall". Statto. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2015.
  112. British Pathé (ngày 13 tháng 4 năm 2014). Football Comes In - Charlton Athletic In Training (1936). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025 qua YouTube.
  113. British Pathé (ngày 13 tháng 4 năm 2014). Famous Football Teams At Home (1936). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025 qua YouTube.
  114. British Movietone (ngày 21 tháng 7 năm 2015). FA CUP - SIXTH ROUND - CHARLTON V PRESTON NORTH END. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025 qua YouTube.
  115. "Reelstreets | Silent Playground, The". www.reelstreets.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  116. "The Top 10 Football References In Only Fools And Horses". Balls.ie. ngày 18 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  117. "Doctor Who stars join forces for Ace book about iconic jacket". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  118. Wollaston, Sam (ngày 24 tháng 4 năm 2011). "TV review: Doctor Who; United". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  119. "Assassinations, Affairs & Alcohol: How Harchester United Won The FA Cup". The Sportsman (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  120. "Albert's Memorial". www.itv.com. ITV plc. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013.
  121. Bojalad, Alec (ngày 1 tháng 7 năm 2022). "The Boys Season 3: All the Real Life References". Den of Geek (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  122. "Many Miles.... A Season In The Life Of Charlton Athletic". charlieconnelly.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014.
  123. "Paul Breen, Author of The Charlton Men speaks to The Football Hour's Dom Betts & Alex Mearns". Audio Boom.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  124. Lodge, David (ngày 29 tháng 2 năm 2012). Out of the Shelter, by David Lodge on Google Books. Random House. ISBN 9781446496725. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2019.
  125. Clayton 2001, tr. 104.
  126. 1 2 Clayton 2001, tr. 320.
  127. "Radostin Kishishev – International Appearances".
  128. "Every Addick Who Wore the Three Lions".
  129. Clayton 2001, tr. 112.
  130. Clayton 2001, tr. 58.
  131. 1 2 "Charlton Athletic, The Valley". Football Ground Guide. Duncan Adams. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008.
  132. "First team". Charlton Athletic F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
  133. "U21 team". Charlton Athletic F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
  134. "U18 team". Charlton Athletic F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
  135. "2025/26 squad numbers confirmed". Charlton Athletic F.C. ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  136. "NATHAN JONES APPOINTED MANAGER". ngày 4 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2024.
  137. "Tom Pell appointed Academy Manager as Steve Avory becomes Academy Director". Charlton Athletic. ngày 9 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
  138. "Charlton Athletic Manager History". Soccerbase. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2024.
  139. "Trophy Cabinet". CAFC.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  140. "Charlton Athletic". Football Club History Database. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2024.
  141. "Charlton Athletic". Historical Kits.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.

Tiểu sử

  • Clayton, Paul (2001). The Essential History of Charlton Athletic. Headline Book Publishing. ISBN 978-0-7553-1020-3.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:BBC Football Info

Bản mẫu:Charlton Athletic F.C.Bản mẫu:Mùa giải Charlton Athletic F.C.