Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bỉ
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhRode Duivels
Diables Rouges
Die Roten Teufel (Quỷ đỏ)
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ
Liên đoàn châu lụcUEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên trưởngRudi Garcia
Đội trưởngYouri Tielemans[1]
Thi đấu nhiều nhấtJan Vertonghen (157)[a]
Ghi bàn nhiều nhấtRomelu Lukaku (89)[a]
Sân nhàNhà vua Baudouin
Mã FIFABEL
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 9 Giảm 1 (ngày 19 tháng 1 năm 2026)[6]
Cao nhất1 (9.2018)
Thấp nhất71 (6.2007)
Hạng Elo
Hiện tại 9 Giảm 5 (30 tháng 11 năm 2022)[7]
Cao nhất1 (11.2019)
Thấp nhất74 (9.2009)
Trận quốc tế đầu tiên
 Bỉ 3–3 Pháp 
(Uccle, Bỉ; 1 tháng 5 năm 1904)
Trận thắng đậm nhất
 Bỉ 9–0 Zambia 
(Bruxelles, Bỉ; 4 tháng 6 năm 1994)
 Bỉ 10–1 San Marino 
(Bruxelles, Bỉ; 28 tháng 2 năm 2001)
 Bỉ 9–0 Gibraltar 
(Liège, Bỉ; 31 tháng 8 năm 2017)
 Bỉ 9–0 San Marino 
(Brussels, Bỉ; 10 tháng 10 năm 2019)
Trận thua đậm nhất
Anh Nghiệp dư Anh 11–2 Bỉ 
(Luân Đôn, Anh; 17 tháng 4 năm 1909)
Giải thế giới
Sồ lần tham dự14 (Lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhấtHạng ba (2018)
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Sồ lần tham dự7 (Lần đầu vào năm 1972)
Kết quả tốt nhấtÁ quân (1980)
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Thế vận hội
Huy chương vàng – vị trí thứ nhấtAntwerpen 1920 Đồng đội

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ[b] chính thức đại diện cho Bỉ tại các giải đấu bóng đá nam quốc tế kể từ trận đấu đầu tiên vào năm 1904. Đội tuyển thuộc thẩm quyền toàn cầu của FIFA và được quản lý ở Châu Âu bởi UEFA—cả hai tổ chức này đều được đồng sáng lập bởi cơ quan giám sát đội tuyển Bỉ, Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ. Các giai đoạn đại diện thường xuyên của Bỉ ở cấp độ quốc tế cao nhất, từ 1920 đến 1938, từ 1982 đến 2002 và một lần nữa từ 2014 trở đi, xen kẽ với các vòng loại hầu như không thành công. Hầu hết các trận đấu trên sân nhà của Bỉ đều diễn ra tại Sân vận động Nhà vua BaudouinBruxelles.

Đội tuyển quốc gia Bỉ tham gia ba giải đấu bóng đá lớn bốn năm một lần. Đội xuất hiện trong giai đoạn cuối của mười bốn Giải vô địch bóng đá thế giới và sáu Giải vô địch bóng đá châu Âu, đồng thời góp mặt tại ba giải đấu bóng đá Thế vận hội, bao gồm cả Giải bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1920 mà họ đã giành được. Các màn trình diễn đáng chú ý khác là chiến thắng trước bốn nhà đương kim vô địch thế giới—Tây Đức, Brasil, Argentina và Pháp—từ năm 1954 đến năm 2002. Bỉ có sự cạnh tranh bóng đá lâu đời với các đối tác Hà Lan và Pháp, gần như năm nào hai đội cũng thi đấu với nhau từ năm 1905 đến năm 1967 .Quỷ đỏ được biết đến từ năm 1906; câu lạc bộ người hâm mộ của nó được đặt tên là "1895".

Trong sự nghiệp tuyển thủ quốc gia của tiền đạo Paul Van Himst, cầu thủ bóng đá người Bỉ được ca ngợi nhiều nhất trong thế kỷ 20, Bỉ đã về đích ở vị trí thứ ba với tư cách là chủ nhà tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1972. Sau đó, họ trải qua hai thời kỳ hoàng kim với nhiều cầu thủ tài năng. Trong giai đoạn đầu tiên, kéo dài từ những năm 1980 đến đầu những năm 1990, đội kết thúc với vị trí á quân tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1980 và hạng tư tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1986. Ở giai đoạn thứ hai, dưới sự dẫn dắt của Marc Wilmots và sau đó là Roberto Martínez vào những năm 2010, Bỉ lần đầu tiên đứng đầu Bảng xếp hạng thế giới của FIFA vào tháng 11 năm 2015 và đứng thứ ba tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Cho đến nay, Bỉ là đội tuyển quốc gia duy nhất trên thế giới đứng đầu bảng xếp hạng FIFA mà không vô địch World Cup hay cúp châu lục (Tây Ban Nha đứng đầu bảng xếp hạng vào cuối năm 2008 mà không vô địch World Cup, nhưng đã giành chức vô địch châu Âu vào năm 1964 và 2008).

Lịch sử

Bỉ có trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 là trận hoà 3-3 trước đội tuyển Pháp. Trước trận đấu này, đội tuyển chọn lọc của Bỉ có thi đấu vài trận, nhưng trong đội hình có một số cầu thủ Anh, do đó không được tính là trận đấu chính thức. Ví dụ Bỉ thắng Hà Lan 8-0 ngày 28 tháng 4 năm 1901 với sự có mặt của vài cầu thủ Anh. Sau trận đấu này, hai nước láng giềng Bỉ và Hà Lan có truyền thống một năm đấu 2 trận bắt đầu từ năm 1905, thường được tổ chức ở AntwerpRotterdam (sau chuyển sang Amsterdam). Vào thời điểm đó, đội tuyển Bỉ thường do 1 ban tuyển lựa quyết định gồm đại diện của 6 hoặc 7 câu lạc bộ lớn.

Biệt danh Những con quỷ đỏ của đội tuyển Bỉ do phóng viên Pierre Walckiers đặt cho sau trận thắng 3-2 trước Hà Lan (Rotterdam, 1906).

Hơn sáu thập kỉ sau, Bỉ trở thành một trong những đội bóng mạnh, tuy không vô địch các giải đấu lớn nhưng đối thủ không dễ vượt qua họ, kể cả ở sân nhà hay sân khách. Chìa khoá thành công của đội tuyển là việc sử dụng bẫy việt vị, một chiến thuật phòng ngự được phát triển trong thập niên 1960, ban đầu tại câu lạc bộ Anderlecht của huấn luyện viên người Pháp Pierre Sinibaldi.

Giai đoạn thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 là thời gian mạnh nhất trong lịch sử của Bỉ. Thành tích cao nhất của họ trong giai đoạn này là á quân Euro 1980. Dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên dày dạn kinh nghiệm Guy Thys, người từng chỉ đạo hơn 100 trận đấu chính thức, Bỉ nổi tiếng là 1 đội tuyển tổ chức tốt, thể lực sung mãn, 1 đối thủ khó vượt qua.

Đội tuyển có những cầu thủ trình độ cao như thủ môn Jean-Marie Pfaff, hậu vệ phải Eric Gerets, tiền vệ Jan Ceulemans, và tiền vệ kiến thiết Enzo Scifo. Tuy có một vài trận đấu không tốt với các đối thủ yếu hơn, nhưng họ thường đấu hay khi gặp các đối thủ mạnh. Cho đến tận gần đây, năm 2002, các đội bóng hàng đầu thế giới cũng ngại chạm trán với Những con quỷ đỏ, thậm chí cả nhà vô địch World Cup 2002, đội tuyển Brasil cũng phải chật vật mới thắng Bỉ 2-0 ở trận đấu loại trực tiếp trong giải này. Tuy nhiên kể từ đó, đội tuyển Bỉ dần xuống phong độ, chưa tìm lại được danh tiếng thuở trước.

Sau khi thất bại tại vòng loại World Cup 2006 (lần đầu tiên sau 24 năm), huấn luyện viên Aimé Anthuenis không được gia hạn hợp đồng, và René Vandereycken thay thế Anthuenis từ 1 tháng 1 năm 2006. Tuy vậy ông cũng không đưa được đội tuyển Bỉ vượt qua vòng loại Euro 2008, chỉ xếp thứ 5 ở bảng đấu loại.

Bỉ hiện tại có hàng loạt cầu thủ chuyên môn như các tiền đạo Mirallas, Benteke, Lukaku, Batshuayi, các tiền vệ Fellaini, Witsel, Carrasco, Dembele, De Bruyne, Nainggolan, MertensHazard. Hàng thủ thì có những Kompany, Vermaelen, Alderweireld, Vertonghen cùng các thủ môn CourtoisMignolet.

Kết quả và lịch thi đấu

2025

2026

Ban huấn luyện

Vị tríTên
Huấn luyện viên trưởngPháp Rudi Garcia
Trợ lý huấn luyện viênPháp Stéphane Jobard
Huấn luyện viên thủ mônAnh Andy Fairman
Huấn luyện viên thể lựcBỉ Bram Gielen
Quản lý đội tuyểnBỉ Piet Erauw
Trợ lý giám đốc kỹ thuậtBỉ Jelle Schelstraete
Chuyên gia dinh dưỡngBỉ Janne Geers
Nhà phân tích hiệu suấtBỉ Dylan Vanhaeren
Bỉ Maxim Wouters
Bác sĩBỉ Kristof Sas
Bỉ Geert Declercq
Bác sĩ vật lý trị liệuBỉ James Van Gemert
Bỉ Gertjan Jespers
Bỉ Sander Nuyens
Anh Thomas O'Malley

Lịch sử huấn luyện viên

Trước năm 1910, một hội đồng của Hiệp hội bóng đá Bỉ đứng ra lựa chọn cầu thủ.

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận giao hữu gặp Hoa KỳMéxico, diễn ra lần lượt vào ngày 28 và 31 tháng 3 năm 2026. Các cầu thủ được triệu tập lần đầu tiên bao gồm Nathan De Cat, Mika Godts và Lucas Stassin, trong khi Thibaut Courtois là sự vắng mặt đáng chú ý nhất vì chấn thương.[9] Vào ngày 23 tháng 3 năm 2026, bộ đôi Hans VanakenLeandro Trossard đều bị loại khỏi đội hình vì chấn thương.[10] Ngày 24 tháng 3 năm 2026, Liên đoàn bóng đá Bỉ thông báo rằng Romelu Lukaku sẽ bỏ lỡ hai trận giao hữu vì anh ấy muốn tập luyện trong thời gian tới để tối ưu hóa hơn nữa thể lực của mình.[11]

Số lần ra sân và số bàn thắng cập nhật đến ngày 18 tháng 11 năm 2025, sau trận đấu với Liechtenstein.[12][13]

SốVTCầu thủNgày sinh (tuổi)TrậnBànCâu lạc bộ
1TMMatz Sels26 tháng 2, 1992 (34 tuổi)120Anh Nottingham Forest
1TMSenne Lammens7 tháng 7, 2002 (23 tuổi)10Anh Manchester United
1TMMaarten Vandevoordt26 tháng 2, 2002 (24 tuổi)00Đức RB Leipzig

2HVThomas Meunier12 tháng 9, 1991 (34 tuổi)7610Pháp Lille
2HVTimothy Castagne5 tháng 12, 1995 (30 tuổi)602Anh Fulham
2HVArthur Theate25 tháng 5, 2000 (25 tuổi)311Đức Eintracht Frankfurt
2HVZeno Debast24 tháng 10, 2003 (22 tuổi)240Bồ Đào Nha Sporting CP
2HVMaxim De Cuyper22 tháng 12, 2000 (25 tuổi)154Anh Brighton & Hove Albion
2HVBrandon Mechele28 tháng 1, 1993 (33 tuổi)61Bỉ Club Brugge
2HVKoni De Winter12 tháng 6, 2002 (23 tuổi)50Ý Milan
2HVJoaquin Seys28 tháng 3, 2005 (21 tuổi)20Bỉ Club Brugge
2HVNathan Ngoy10 tháng 6, 2003 (22 tuổi)00Pháp Lille

3TVAxel Witsel12 tháng 1, 1989 (37 tuổi)13412Tây Ban Nha Girona
3TVKevin De Bruyne28 tháng 6, 1991 (34 tuổi)11536Ý Napoli
3TVYouri Tielemans (đội trưởng)7 tháng 5, 1997 (28 tuổi)8112Anh Aston Villa
3TVAmadou Onana16 tháng 8, 2001 (24 tuổi)250Anh Aston Villa
3TVNicolas Raskin23 tháng 2, 2001 (25 tuổi)91Scotland Rangers
3TVNathan De Cat19 tháng 7, 2008 (17 tuổi)00Bỉ Anderlecht

4Jérémy Doku27 tháng 5, 2002 (23 tuổi)397Anh Manchester City
4Loïs Openda16 tháng 2, 2000 (26 tuổi)313Ý Juventus
4Dodi Lukébakio24 tháng 9, 1997 (28 tuổi)272Bồ Đào Nha Benfica
4Charles De Ketelaere10 tháng 3, 2001 (25 tuổi)264Ý Atalanta
4Alexis Saelemaekers27 tháng 6, 1999 (26 tuổi)212Ý Milan
4Lucas Stassin29 tháng 11, 2004 (21 tuổi)00Pháp Saint-Étienne
4Mika Godts7 tháng 6, 2005 (20 tuổi)00Hà Lan Ajax

Triệu tập gần đây

Những cầu thủ sau đây cũng đã được gọi vào đội tuyển Bỉ trong vòng 12 tháng qua.

VtCầu thủNgày sinh (tuổi)Số trậnBtCâu lạc bộLần cuối triệu tập
TMMike Penders31 tháng 7, 2005 (20 tuổi)00Pháp Strasbourgv.  Liechtenstein, 18 tháng 11 năm 2025
TMThibaut Courtois11 tháng 5, 1992 (33 tuổi)1070Tây Ban Nha Real Madridv.  Kazakhstan, 15 tháng 11 năm 2025 INJ
TMNordin Jackers5 tháng 9, 1997 (28 tuổi)00Bỉ Club Bruggev.  Wales, 9 tháng 6 năm 2025

HVWout Faes3 tháng 4, 1998 (28 tuổi)280Pháp Monaco[d]v.  Wales, 9 tháng 6 năm 2025

TVHans Vanaken24 tháng 8, 1992 (33 tuổi)327Bỉ Club Bruggev.  Hoa Kỳ, 28 tháng 3 năm 2026 INJ
TVDiego Moreira6 tháng 8, 2004 (21 tuổi)20Pháp Strasbourgv.  Liechtenstein, 18 tháng 11 năm 2025
TVCharles Vanhoutte16 tháng 9, 1998 (27 tuổi)10Pháp Nicev.  Liechtenstein, 18 tháng 11 năm 2025
TVJorthy Mokio29 tháng 2, 2008 (18 tuổi)10Hà Lan Ajaxv.  Wales, 9 tháng 6 năm 2025

Romelu Lukaku (đội phó)13 tháng 5, 1993 (32 tuổi)12489Ý Napoliv.  Hoa Kỳ, 28 tháng 3 năm 2026 WD
Leandro Trossard4 tháng 12, 1994 (31 tuổi)5011Anh Arsenalv.  Hoa Kỳ, 28 tháng 3 năm 2026 INJ
Romeo Vermant24 tháng 1, 2004 (22 tuổi)10Bỉ Club Bruggev.  Liechtenstein, 18 tháng 11 năm 2025
Michy Batshuayi2 tháng 10, 1993 (32 tuổi)5527Đức Eintracht Frankfurtv.  Wales, 13 tháng 10 năm 2025
Malick Fofana31 tháng 3, 2005 (21 tuổi)51Pháp Lyonv.  Wales, 13 tháng 10 năm 2025

  • RET Đã giã từ đội tuyển quốc gia
  • INJ Chấn thương của cầu thủ
  • ILL Bệnh của cầu thủ
  • U21 Chuyển sang đội U21
  • WD Cầu thủ đã rút khỏi đội vì vấn đề không liên quan đến chấn thương

Kỷ lục

Cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất

Jan Vertonghen là cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều nhất với 157 lần ra sân.

Tính đến 18 tháng 11 năm 2025, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều lần nhất là:

#Cầu thủNăm thi đấuSố trậnBàn thắngVị trí
1Jan Vertonghen2007–202415710Hậu vệ
2Axel Witsel2008–13412Tiền vệ
3Toby Alderweireld2009–20221275Hậu vệ
4Eden Hazard2008–202212633Tiền đạo
5Romelu Lukaku2010–12489Tiền đạo
6Kevin De Bruyne2011–11536Tiền vệ
7Dries Mertens2011–202210921Tiền đạo
8Thibaut Courtois2011–1070Thủ môn
9Jan Ceulemans1977–19919623Tiền vệ/Tiền đạo
10Timmy Simons2001–2013946Hậu vệ/Tiền vệ

Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất

Romelu Lukaku là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ với 89 bàn.

Tính đến 18 tháng 11 năm 2025, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ là:

#Cầu thủNăm thi đấuBàn thắngSố trậnVị tríHiệu suất
1Romelu Lukaku2010–89124Tiền đạo0.72
2Kevin De Bruyne2010–36115Tiền vệ0.31
3Eden Hazard2008–202233126Tiền vệ/Tiền đạo0.26
4Bernard Voorhoof1928–19403061Tiền đạo0.49
Paul Van Himst1960–19743081Tiền đạo0.37
6Marc Wilmots1990–20022870Tiền vệ0.41
Joseph Mermans1945–19562856Tiền đạo0.5
8Michy Batshuayi2015–2755Tiền đạo0.49
9Ray Braine1925–19392654Tiền đạo0.48
Robert De Veen1906–19132623Tiền đạo1.13

Thành tích tại các giải đấu quốc tế

Giải vô địch bóng đá thế giới

Sự xuất hiện của Bỉ tại giải vô địch thế giới (World Cup) phản ánh mức độ xuất hiện của tài năng ở trong nước tại từng thời điểm, giống như ở các đội tuyển Cộng hoà Séc, Hà Lan, hay Thụy Điển. Bỉ đã 6 lần liên tiếp vượt qua vòng loại World Cup (từ 1982 đến 2002), thành tích chỉ kém Ý (12 lần), Argentina (9) và Tây Ban Nha (8). Các đội tuyển khác có số lần vào vòng chung kết liên tục nhiều hơn không được tính do trong số đó có những lần không phải tham gia vòng loại vì là chủ nhà hoặc đương kim vô địch.

Thi đấu một cách nỗ lực ở World Cup, đội tuyển Bỉ đã vượt qua vòng đấu bảng 5 trong 6 lần tham dự từ 1982 đến 2002, trong đó có 4 lần liên tiếp. Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất của họ là trận thắng đương kim vô địch Argentina 1-0 tại trận khai mạc World Cup 1982 tại Camp Nou.

Bốn năm sau, họ có được thành tích tốt nhất ở World Cup trong lịch sử, khi xếp hạng 4 chung cuộc ở World Cup 1986 với những cầu thủ nổi bật như Jan Ceulemans, Eric Gerets và Jean-Marie Pfaff. Bỉ bất ngờ chiến thắng đội bóng được mến mộ Liên Xô với những hảo thủ như Igor Belanov, Rinat Dasayev... 4–3 sau 2 hiệp phụ ở vòng 2, sau đó là Tây Ban Nha ở tứ kết. Tuy nhiên Bỉ chịu khuất phục trước đội vô địch giải Argentina 0–2 ở bán kết. Tại trận tranh giải ba, Bỉ thua Pháp 2–4 sau hai hiệp phụ. Đội trưởng tuyển Bỉ, tiền vệ Jan Ceulemans là cầu thủ Bỉ đầu tiên được lựa chọn vào đội hình tiêu biểu của một World Cup.

Mặc dù bị loại ngay từ vòng 2, màn trình diễn của Bỉ tại World Cup 1990 được đánh giá còn tốt hơn 4 năm trước. Ở trận đấu loại trực tiếp, Bỉ chiếm ưu thế trước Anh, chỉ thua ở những phút cuối của hiệp phụ bởi bàn thắng của David Platt. Enzo Scifo nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất và cầu thủ xuất sắc thứ nhì sau Lothar Matthäus.

Tại World Cup 1994, Bỉ thua đương kim vô địch Đức tại vòng 2. Trận đấu đáng nhớ bởi 1 quyết định gây tranh cãi của trọng tài Kurt Röthlisberger. Bỉ không được 1 quả phạt đền khi Josip Weber bị chèn ngã trong vòng cấm. Michel Preud'homme được bầu là thủ môn xuất sắc nhất giải và có tên trong đội hình tiêu biểu.

World Cup 1998, Bỉ cùng đội vô địch Pháp là 2 đội không thua 1 trận đấu nào. 3 trận hòa ở vòng bảng trước Hà Lan, MexicoHàn Quốc không đủ giúp họ vào vòng sau. Tại giải này Enzo Scifo và Franky Van Der Elst tham dự World Cup lần thứ 4, lập kỉ lục của Bỉ.

Bỉ khởi đầu World Cup 2002 không thật suôn sẻ, nhưng đội bóng tiến bộ qua từng trận đấu. Đội trưởng Marc Wilmots ghi bàn trong cả ba trận đấu vòng bảng. Ở vòng 2 họ gặp phải nhà vô địch của giải Brasil. Giống như năm 1994, kết quả trận đấu bị ảnh hưởng bởi quyết định không chính xác của trọng tài. Ngay cả người Brasil cũng ngạc nhiên khi trọng tài Peter Prendergast không công nhận bàn thắng mở tỉ số của Marc Wilmots. Kết cục Bỉ thua 0–2. Huấn luyện viên Brasil Luiz Felipe Scolari thừa nhận sau giải rằng Những con quỷ đỏ là đối thủ khó khăn nhất của Brasil ở giải này. Bỉ giành được giải thưởng fair-play (cho đội bóng chơi đẹp). Marc Wilmots cân bằng kỉ lục tham dự 4 kì World Cup của Enzo Scifo và Franky Van Der Elst, tuy nhiên lần tham dự đầu tiên Wilmots không được ra sân. Wilmots cũng lập kỉ lục ghi bàn cho Bỉ tại các kì World Cup với 5 bàn thắng.

Sau World Cup 2002, phong độ đội tuyển không tốt khi họ không vượt qua vòng loại ở 2 kỳ World Cup 20062010. Năm 2014, với lứa cầu thủ tài năng mới, Bỉ lọt vào đến tứ kết nhưng để thua Argentina. World Cup 2018 được xem là bước ngoặt lớn khi lứa cầu thủ này đã xuất sắc giành huy chương đồng. Tuy nhiên, đội lại gây thất vọng tại World Cup 2022 khi phải dừng bước từ vòng bảng, dù chỉ gặp những đối thủ không được đánh giá cao là Croatia, MarocCanada.

NămThành tíchThứ
hạng*
Số
trận
ThắngHòa**ThuaBàn
thắng
Bàn
thua
Uruguay 1930Vòng 111200204
Ý 193415100125
Pháp 193813100113
Brasil 1950Bỏ cuộc
Thụy Sĩ 1954Vòng 112201158
Thụy Điển 1958Không vượt qua vòng loại
Anh 1966
México 1970Vòng 110310245
Đức 1974Không vượt qua vòng loại
Argentina 1978
Tây Ban Nha 1982Vòng 210521235
México 1986Hạng tư472231215
Ý 1990Vòng 211420264
Hoa Kỳ 199411420244
Pháp 1998Vòng 119303033
Hàn Quốc Nhật Bản 2002Vòng 214412167
Đức 2006Không vượt qua vòng loại
Cộng hòa Nam Phi 2010
Brasil 2014Tứ kết6540163
Nga 2018Hạng ba37601166
Qatar 2022Vòng 123311112
CanadaMéxicoHoa Kỳ 2026Vượt qua vòng loại
Tây Ban Nha Bồ Đào Nha Maroc 2030Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng cộng14/22
Hạng ba
512110206974
*Thứ hạng không chính thức dựa trên vòng đấu mà đội bóng lọt vào và điểm số đạt được với các đội bóng cùng vào một vòng đấu.
**Tính cả các trận hòa ở các vòng đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu.

Thế vận hội

Bỉ từng đoạt huy chương vàng môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1920 và huy chương đồng Thế vận hội Mùa hè 1900.

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
NămThành
tích
Số
trận
ThắngHòaThuaBàn
thắng
Bàn
thua
Pháp 1900Hạng ba100126
1904 đến 1912Không tham dự
Bỉ 1920Huy chương vàng330081
Pháp 1924Vòng 2100118
Hà Lan 1928Tứ kết3102912
1936 đến 1976Không tham dự
1980 đến 1984Không vượt qua vòng loại
1988Không tham dự
Tổng cộng1 lần
vô địch
84042027

Giải vô địch bóng đá châu Âu

Thành tích của Bỉ tại Giải vô địch bóng đá châu Âu tốt hơn so với World Cup. Thành tích tốt nhất của đội là ngôi á quân năm 1980 tại Ý sau khi thua sát nút 1–2 trước Tây Đức trong trận chung kết. Bỉ là chủ nhà (hoặc đồng chủ nhà) 2 lần, xếp thứ ba năm 1972 và gây thất vọng trong năm 2000 khi là đội chủ nhà đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng.

Sau Euro 2000, phong độ đội tuyển không tốt khi họ không vượt qua vòng loại ở 3 kỳ Euro 2004, 20082012. Năm 20162020, với lứa cầu thủ tài năng mới, Bỉ lọt vào đến tứ kết nhưng để thua Xứ WalesÝ. Bỉ vẫn không thể đạt thành tích tốt hơn khi phải dừng bước tại vòng 16 đội Euro 2024 sau thất bại trước Pháp.

NămThành tíchSố trậnThắngHòaThuaBàn
thắng
Bàn
thua
1960 đến 1968Không vượt qua vòng loại
Bỉ 1972Hạng ba210133
1976Không vượt qua vòng loại
Ý 1980Á quân412144
Pháp 1984Vòng 1310248
1988 đến 1996Không vượt qua vòng loại
BỉHà Lan 2000Vòng 1310225
2004 đến 2012Không vượt qua vòng loại
Pháp 2016Tứ kết530295
Liên minh châu Âu 2020540193
Đức 2024Vòng 2411222
Cộng hòa Ireland Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2028Chưa xác định
Ý Thổ Nhĩ Kỳ 2032
Tổng cộng1 lần á quân26123113330

UEFA Nations League

Thành tích tại UEFA Nations League
Mùa giảiHạng đấuBảngPosPldWDLGFGA
2018–19AVòng bảng5th430196
Ý 2020–21AHạng tư4th6501166
2022–23AVòng bảng7th6312118
Tổng cộng1 lần
hạng tư
3/31611143620

Danh hiệu

Hạng ba: 2018
Á quân: 1980
Hạng ba: 1972
1992 1920
1920 1900

Ghi chú

  1. 1 2 Số trận và bàn thắng vào lưới România vào ngày 15 (thực tế là ngày 14) tháng 11 năm 2012, trước Luxembourg vào ngày 26 tháng 5 năm 2014 và trước Cộng hòa Séc vào ngày 5 tháng 6 năm 2017 được tính bởi RBFA nhưng không được FIFA chính thức công nhận – hai giải trước do có quá nhiều sự thay người theo Luật thi đấu,[2][3][4] thay người sau do các liên đoàn bóng đá Bỉ và Séc đã quá muộn trong việc yêu cầu một trận đấu chính thức.[5]
  2. tiếng Hà Lan: Belgisch nationaal voetbalelftal
    tiếng Pháp: Équipe nationale belge de football
    tiếng Đức: Belgische Fußballnationalmannschaft
  3. Do cuộc xâm lược Ukraine của Nga, Ukraine được yêu cầu phải chơi các trận đấu trên sân nhà của mình tại các địa điểm trung lập.[8]
  4. Monaco là một câu lạc bộ của Monaco thi đấu trong hệ thống giải bóng đá Pháp.

Chú thích

  1. "Tielemans named as new Belgium captain". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  2. "Football MATCH: 14.11.2012 (Romania v Belgium)". EU Football. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017.
  3. "Football MATCH: 26.05.2014 (Belgium v Luxembourg)". EU Football. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017.
  4. "Rules & Governance – Law 3: The number of players". The FA. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
  5. "Welles-nietesspel rond oefenmatch tegen Tsjechië: Daarom was het geen officiële wedstrijd" [Yes or no game about friendly against Czech Republic: this is why it was no official match] (bằng tiếng Hà Lan). Sporza. ngày 6 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.
  6. "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  7. Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  8. "Các quyết định từ cuộc họp bất thường của Ủy ban điều hành UEFA ngày hôm nay". UEFA.com. Liên đoàn bóng đá châu Âu. ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
  9. "Bondscoach Rudi Garcia roept met De Cat, Godts en Stassin 3 nieuwe Rode Duivels op voor oefenstage/" [National coach Rudi Garcia calls up 3 new Red Devils for the training camp: De Cat, Godts, and Stassin.]. sporza. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026.
  10. https://sporza.be/nl/2026/03/23/niet-100-door-zijn-heupblessure-hans-vanaken-reist-niet-mee-met-de-rode-duivels-naar-de-vs~1774270816718/
  11. https://sporza.be/nl/2026/03/24/romelu-lukaku-past-voor-de-trip-met-de-rode-duivels-naar-de-vs~1774367206759/
  12. "Belgium-North Macedonia; UEFA.com". UEFA.
  13. "Most Belgium Caps". EU-Football.info.

Liên kết ngoài