Bước tới nội dung

Cúp bóng đá châu Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cúp bóng đá châu Á
Cơ quan tổ chứcAFC
Thành lập1956; 70 năm trước (1956)
Khu vựcChâu Á
Số đội24 (vòng chung kết)
47 (đủ điều kiện tham dự vòng loại)
Đội vô địch
hiện tại
 Qatar (lần thứ 2)
Đội bóng
thành công nhất
 Nhật Bản (4 lần)
Websitethe-afc.com
Cúp bóng đá châu Á 2027

Cúp bóng đá châu Á (tên chính thức là AFC Asian Cup) là giải đấu bóng đá hàng đầu dành cho các đội tuyển nam quốc gia trực thuộc thành viên của Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC), nhằm xác định nhà vô địch châu lục. Đây là giải vô địch bóng đá châu lục lâu đời thứ hai trên thế giới chỉ sau Cúp bóng đá Nam Mỹ (Copa América). Đội vô địch sẽ trở thành nhà vô địch châu Á và trước năm 2015 còn giành quyền tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục.[1]

Cúp bóng đá châu Á được tổ chức với chu kỳ 4 năm một lần kể từ lần tổ chức đầu tiên năm 1956 tại Hồng Kông cho đến giải đấu năm 2004 tại Trung Quốc. Tuy nhiên, vì năm 2004 trùng với Thế vận hội Mùa hèGiải vô địch bóng đá châu Âu, AFC quyết định chuyển lịch tổ chức để tránh trùng lặp. Giải đấu tiếp theo được tổ chức vào năm 2007 do bốn quốc gia Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam đồng đăng cai, rồi tiếp tục duy trì chu kỳ 4 năm một lần trong những năm sau đó.

Cúp bóng đá châu Á thường được thống trị bởi một số ít đội tuyển hàng đầu. Những đội tuyển nổi bật gồm Nhật Bản (4 lần vô địch), IranẢ Rập Xê Út (3 lần), Hàn QuốcQatar (2 lần). Một số đội khác từng lên ngôi là Úc (2015), Iraq (2007) và Kuwait (1980). Israel từng vô địch năm 1964 nhưng sau đó bị khai trừ khỏi AFC và gia nhập UEFA.

Úc gia nhập AFC từ năm 2007 và là chủ nhà của vòng chung kết Cúp châu Á vào năm 2015, nơi họ lên ngôi vô địch sau khi đánh bại Hàn Quốc trong trận chung kết. Kể từ giải năm 2019, số lượng đội tham dự được mở rộng từ 16 lên 24 đội, còn vòng loại của giải đồng thời đóng vai trò là vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới.[2][3]

Lịch sử

Khởi đầu

Một giải đấu bóng đá toàn châu Á lần đầu tiên được đề xuất sau khi Thế chiến II kết thúc, nhưng mãi đến những năm 1950 mới được hiện thực hóa. Hai năm sau khi Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC) được thành lập vào năm 1954, kỳ AFC Asian Cup đầu tiên đã được tổ chức tại Hồng Kông thuộc Anh với sự tham dự của 7 trong số 12 quốc gia sáng lập AFC, biến giải đấu này trở thành giải vô địch bóng đá châu lục lâu đời thứ hai trên thế giới. Vòng loại bao gồm đội chủ nhà cùng các đội vô địch của ba khu vực: Trung Á, Đông ÁTây Á. Giải đấu ban đầu chỉ có bốn đội, thể thức này được duy trì trong các kỳ năm 1960 và 1964. Các liên đoàn khu vực thuộc AFC cũng tổ chức các giải vô địch riêng theo chu kỳ hai năm, với mức độ quan tâm khác nhau.

Thời gian đầu, các đội tuyển quốc gia mạnh không mấy mặn mà với giải mà tập trung chủ yếu cho đấu trường Olympics và Asiad. Tình trạng các đội bỏ dở thi đấu hoặc không tham gia ngay từ vòng loại thường xuyên diễn ra.

Hàn Quốc thể hiện sự vượt trội trong giai đoạn đầu của giải khi giành chức vô địch ở cả hai kỳ đầu tiên vào năm 19561960; đây vẫn là thành tích tốt nhất của họ tại giải đấu cho đến nay.[4]

Sự thống trị của Tây Á (1964–1988)

Sau khi Hồng Kông và Hàn Quốc đăng cai hai kỳ đầu, Israel được chọn làm chủ nhà Cúp bóng đá châu Á 1964. Vẫn theo thể thức cũ, giải đấu chỉ có bốn đội và thi đấu vòng tròn một lượt để xác định nhà vô địch. Israel giành ngôi vô địch với ba trận thắng, xếp trên Ấn Độ.[5] Đến năm 1968, giải được mở rộng lên năm đội, sau đó tăng lên sáu đội ở các kỳ 19721976.

Giai đoạn này chứng kiến sự thống trị tuyệt đối của Iran khi đội tuyển này vô địch ba kỳ liên tiếp vào các năm 1968, 19721976, trong đó Iran là chủ nhà của hai kỳ đầu và cuối. Iran hiện vẫn là đội tuyển quốc gia duy nhất ở châu Á giành ba chức vô địch liên tiếp. Cúp bóng đá châu Á 1972 đánh dấu lần đầu tiên giải đấu áp dụng thể thức vòng bảng - loại trực tiếp, và thể thức này tiếp tục được duy trì với một số điều chỉnh ở các kỳ sau. Israel bị khai trừ khỏi AFC vào năm 1972 do xung đột Ả Rập – Israel.

Từ năm 1980 đến 1988, số đội tham dự tăng lên 10, nhưng sự thống trị của các quốc gia Tây Á vẫn tiếp diễn. Kuwait trở thành quốc gia Ả Rập đầu tiên vô địch Asian Cup vào năm 1980 khi tổ chức giải trên sân nhà và đánh bại Hàn Quốc 3–0 trong trận chung kết.[6] Ả Rập Xê Út, sau khởi đầu không mấy ấn tượng, đã nhanh chóng vươn lên và giành hai chức vô địch liên tiếp vào các năm 19841988, vượt qua Trung Quốc và Hàn Quốc trong hai trận chung kết. Đây cũng là những giải đấu lớn đầu tiên mà Ả Rập Xê Út tham dự.[7]

Sự trỗi dậy của Nhật Bản và sự chuyên nghiệp hóa của Asian Cup (1992–2011)

Cho đến những năm 1990, AFC Asian Cup chủ yếu được tổ chức ở cấp độ nghiệp dư hơn, bất chấp nỗ lực nâng cao tiêu chuẩn. Tuy nhiên, với việc châu Á được trao nhiều suất hơn cho Giải vô địch bóng đá thế giới, các nỗ lực chuyên nghiệp hóa giải đấu cũng bắt đầu. Cuối những năm 1990, giải bắt đầu được chuyên nghiệp hóa.

Trước những năm 1990, Nhật Bản chỉ là một tên tuổi nhỏ trong làng bóng đá châu Á và chỉ lần đầu góp mặt tại giải đấu vào năm 1988. Tuy nhiên, sau khi Nhật Bản bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ trong công cuộc chuyên nghiệp hóa bóng đá, sức mạnh của họ thay đổi rõ rệt. Nhật Bản đăng cai tổ chức Cúp bóng đá châu Á 1992, giải đấu lúc đó thu gọn còn tám đội chia làm hai bảng. Đội chủ nhà đã giành chức vô địch đầu tiên trong lịch sử sau chiến thắng 1–0 trước đương kim vô địch Ả Rập Xê Út, đánh dấu danh hiệu quốc tế lớn đầu tiên của bóng đá Nhật Bản.[8][9]

Giải năm 1996 tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đánh dấu lần mở rộng đầu tiên lên 12 đội, phản ánh xu hướng chuyên nghiệp hóa trong khu vực. Chủ nhà UAE lần đầu tiên vào đến trận chung kết, nhưng thua Ả Rập Xê Út trên loạt sút luân lưu. Đây là chức vô địch châu Á thứ ba của Ả Rập Xê Út, và cũng là lần thứ tư liên tiếp họ lọt vào chung kết giải đấu.[8][10][11]

Tại Asian Cup 2000, Lebanon lần đầu góp mặt trong khi Ả Rập Xê Út lại vào chung kết, nhưng thất bại trước Nhật Bản với tỷ số 0–1 trong một trận đấu mà khán đài tràn ngập cổ động viên Ả Rập.[12] Nhật Bản tiếp tục bảo vệ thành công ngôi vương tại Asian Cup 2004 trên đất Trung Quốc, dù giải đấu bị chi phối bởi những căng thẳng chính trị giữa hai nước.[13] Giải năm 2004 cũng là lần đầu tiên mở rộng lên 16 đội và đánh dấu lần đầu tiên Ả Rập Xê Út không vào đến chung kết.

Cúp bóng đá châu Á 2007 đánh dấu lần đầu tiên Úc tham dự giải sau khi rời Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC) vào năm 2006 và cũng là giải đấu đầu tiên trên thế giới được đồng tổ chức bởi bốn quốc gia (Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Indonesia).[14][15] Bất chấp cuộc chiến tranh và bất ổn trong nước, Iraq đã tạo nên kỳ tích khi lên ngôi vô địch sau khi vượt qua các đối thủ mạnh như Australia, Hàn Quốc và Ả Rập Xê Út.[16]

Úc, sau màn ra mắt đáng thất vọng năm 2007, đã vào đến trận chung kết năm 2011 tại Qatar, nhưng thất bại 0–1 trước Nhật Bản trong hiệp phụ. Với chiến thắng này, Nhật Bản trở thành đội tuyển giàu thành tích nhất châu Á với bốn chức vô địch.[17] Đây cũng là giải đấu đầu tiên áp dụng việc đánh số áo cầu thủ theo thứ tự từ 1 đến 23, một chuẩn mực mới của bóng đá châu lục.

Sự mở rộng của Asian Cup (2015–nay)

Sau thành công của Úc tại Cúp bóng đá châu Á 2011, AFC đã phê duyệt quốc gia này đăng cai Cúp bóng đá châu Á 2015. Tại giải đấu, Úc đã hạ gục mọi đối thủ chỉ với một trận thua, trước khi vào trận chung kết gặp Hàn Quốc, đội bóng mà Úc phục thù chung cuộc 2–1 sau hiệp phụ; chiến thắng chính thức đánh dấu chức vô địch châu Á đầu tiên của Đông Nam Á khi Úc tham gia AFF vào năm 2013.

Sau thành công của Úc tại Cúp bóng đá châu Á 2011, Úc được AFC trao quyền đăng cai Cúp bóng đá châu Á 2015. Tại đây, đội chủ nhà chỉ để thua một trận trước Hàn Quốc tại vòng bảng, nhưng sau đó đã phục hận thành công trong trận chung kết với chiến thắng 2–1 sau hiệp phụ. Đây là danh hiệu châu Á đầu tiên cho Úc, đồng thời cũng là lần đầu tiên Đông Nam Á có đại diện đăng quang sau khi Úc gia nhập AFF vào năm 2013.[18]

Tại Asian Cup 2019, lần đầu tiên công nghệ trợ lý trọng tài video (VAR) được áp dụng[19] và số đội tham dự tăng lên 24.[20] Giải đấu cũng cho phép thay cầu thủ thứ tư trong hiệp phụ.[21] UAE là nước chủ nhà lần thứ hai và giải năm đó chứng kiến sự trỗi dậy bất ngờ của Qatar, đội bóng giành chức vô địch đầu tiên sau khi đánh bại Nhật Bản 3–1 trong trận chung kết.[22] Tuy nhiên, giải đấu bị phủ bóng bởi căng thẳng ngoại giao giữa Qatar và các nước vùng Vịnh, bao gồm lệnh cấm cổ động viên Qatar vào UAE và những vụ việc phản cảm trong trận bán kết với đội chủ nhà.[23]

Tại Asian Cup 2019, công nghệ trợ lý trọng tài video lần đầu tiên được sử dụng trong giải đấu, cũng như mở rộng lên 24 đội. Ngoài ra, quyền thay người thứ tư được cho phép trong thời gian bù giờ. Giải đấu do Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đăng cai lần thứ hai, chứng kiến sự trỗi dậy của Qatar, đội đã lần đầu tiên giành danh hiệu châu Á sau khi đánh bại Nhật Bản 3–1 trong trận chung kết. Giải đấu bị ảnh hưởng một phần do cuộc khủng hoảng ngoại giao Qatar, do lệnh cấm nhập cảnh của UAE đối với cổ động viên Qatar, cũng như hành vi ném giày trong trận bán kết của hai đội.

Thể thức thi đấu

Vòng chung kết

Kể từ năm 1972, vòng chung kết của Cúp bóng đá châu Á được tổ chức theo hai giai đoạn: vòng bảng và vòng đấu loại trực tiếp.

Từ năm 2019, vòng chung kết đã được mở rộng lên 24 đội, thay cho thể thức 16 đội được áp dụng trong giai đoạn 2004–2015.[24][25] Mỗi đội thi đấu ba trận trong một bảng gồm bốn đội; hai đội đứng đầu mỗi bảng cùng với bốn đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất sẽ giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp. Ở giai đoạn này, 16 đội sẽ thi đấu theo thể thức loại trực tiếp, bắt đầu từ vòng 16 đội và kết thúc bằng trận chung kết.

NămSố độiSố trậnThể thức
195646Vòng tròn một lượt gồm 4 đội
196046
196446
1968510Vòng tròn một lượt gồm 5 đội
1972613Các trận phân nhóm, chia thành 2 bảng gồm 3 đội, sau đó bán kết, tranh hạng ba, chung kết
19766102 bảng gồm 3 đội, sau đó bán kết, tranh hạng ba, chung kết
198010242 bảng gồm 5 đội, sau đó bán kết, tranh hạng ba, chung kết
19841024
19881024
19928162 bảng gồm 4 đội, sau đó bán kết, tranh hạng ba, chung kết
199612263 bảng gồm 4 đội, sau đó tứ kết, bán kết, tranh hạng ba, chung kết
20001226
200416324 bảng gồm 4 đội, sau đó tứ kết, bán kết, tranh hạng ba, chung kết
20071632
20111632
20151632
201924516 bảng gồm 4 đội, sau đó vòng 16 đội, tứ kết, bán kết, chung kết
20232451
20272451
20312451

Kết quả các trận tranh hạng ba (từ 1972 đến 2015) và chung kết

STTNămChủ nhàChung kếtTranh hạng ba hoặc hai đội thua ở bán kếtSố lượng các đội
Vô địchTỉ sốÁ quânHạng baTỉ sốHạng tư
11956
Chi tiết
 Hồng Kông
Hàn Quốc
Vòng tròn tính điểm
Israel

Hồng Kông
Vòng tròn tính điểm
Việt Nam Cộng hòa
4
21960
Chi tiết
 Hàn Quốc
Hàn Quốc
Vòng tròn tính điểm
Israel

Trung Hoa Dân Quốc
Vòng tròn tính điểm
Việt Nam Cộng hòa
4
31964
Chi tiết
 Israel
Israel
Vòng tròn tính điểm
Ấn Độ

Hàn Quốc
Vòng tròn tính điểm
Hồng Kông
4
41968
Chi tiết
 Iran
Iran
Vòng tròn tính điểm
Miến Điện

Israel
Vòng tròn tính điểm
Trung Hoa Dân Quốc
5
51972
Chi tiết
 Thái Lan
Iran
2 - 1 (s.h.p.)
Hàn Quốc

Thái Lan
2 - 2 (s.h.p.)
(5 - 3 p)

Cộng hòa Khmer
6
61976
Chi tiết
 Iran
Iran
1 - 0
Kuwait

Trung Quốc
1 - 0
Iraq
6
71980
Chi tiết
 Kuwait
Kuwait
3 - 0
Hàn Quốc

Iran
3 - 0
CHDCND Triều Tiên
10
81984
Chi tiết
 Singapore
Ả Rập Xê Út
2 - 0
Trung Quốc

Kuwait
1 - 1 (s.h.p.)
(5 - 3 p)

Iran
10
91988
Chi tiết
 Qatar
Ả Rập Xê Út
0 - 0 (s.h.p.)
(4 - 3 p)

Hàn Quốc

Iran
0 - 0 (s.h.p.)
(3 - 0 p)

Trung Quốc
10
101992
Chi tiết
 Nhật Bản
Nhật Bản
1 - 0
Ả Rập Xê Út

Trung Quốc
1 - 1 (s.h.p.)
(4–3 p)

UAE
8
111996
Chi tiết
 UAE
Ả Rập Xê Út
0 - 0 (s.h.p.)
(4 - 2 p)

UAE

Iran
1 - 1 (s.h.p.)
(3 - 2 p)

Kuwait
12
122000
Chi tiết
 Liban
Nhật Bản
1 - 0
Ả Rập Xê Út

Hàn Quốc
1 - 0
Trung Quốc
12
132004
Chi tiết
 Trung Quốc
Nhật Bản
3 - 1
Trung Quốc

Iran
4 - 2
Bahrain
16
142007
Chi tiết
 Indonesia
 Malaysia
 Thái Lan
 Việt Nam

Iraq
1 - 0
Ả Rập Xê Út

Hàn Quốc
0 - 0 (s.h.p.)
(6 - 5 p)

Nhật Bản
16
152011
Chi tiết
 Qatar
Nhật Bản
1 - 0 (s.h.p.)
Úc

Hàn Quốc
3 - 2
Uzbekistan
16
162015
Chi tiết
 Úc
Úc
2 - 1 (s.h.p.)
Hàn Quốc

UAE
3 - 2
Iraq
16
172019
Chi tiết
 UAE
Qatar
3 - 1
Nhật Bản
 Iran UAE24
182023
Chi tiết
 Qatar
Qatar
3 - 1
Jordan
 Iran Hàn Quốc24
192027
Chi tiết
 Ả Rập Xê ÚtCXĐCXĐCXĐ và CXĐ24

Các đội lọt vào top 4

Bốn kỳ đầu tiên của giải đấu chỉ có bốn hoặc năm đội tham dự và thi đấu theo thể thức vòng tròn một bảng. Kể từ năm 1972, vòng chung kết bắt đầu áp dụng thể thức đấu loại trực tiếp. Từ năm 2019, trận tranh hạng ba không còn được tổ chức; kể từ năm 2023, hai đội thua ở bán kết sẽ được xếp hạng bởi AFC dựa trên hiệu số bàn thắng bại trong trận bán kết.[26]

Đội tuyểnVô địchÁ quânHạng baHạng tưBán kếtTổng số lần vào top 4
 Nhật Bản4 (1992 *, 2000, 2004, 2011)1 (2019)-1 (2007)-6
 Ả Rập Xê Út3 (1984, 1988, 1996)3 (1992, 2000, 2007)---6
 Iran3 (1968 *, 1972, 1976 *)-4 (1980, 1988, 1996, 2004)1 (1984)2 (2019, 2023)10
 Hàn Quốc2 (1956, 1960*)4 (1972, 1980, 1988, 2015)4 (1964, 2000, 2007, 2011)-1 (2023)11
 Qatar2 (2019, 2023 *)----2
 Israel #1 (1964 *)2 (1956, 1960)1 (1968)--4
 Kuwait1 (1980 *)1 (1976)1 (1984)1 (1996)-4
 Úc1 (2015 *)1 (2011)---2
 Iraq1 (2007)--2 (1976, 2015)-3
 Trung Quốc-2 (1984, 2004*)2 (1976, 1992)2 (1988, 2000)-6
 UAE-1 (1996 *)1 (2015)1 (1992)1 (2019)4
 Ấn Độ-1 (1964)---1
 Myanmar-1 (1968)---1
 Jordan-1 (2023)---1
 Hồng Kông--1 (1956)1 (1964)-2
 Đài Bắc Trung Hoa--1 (1960)1 (1968)-2
 Thái Lan--1 (1972*)--1
 Việt Nam ^---2 (1956, 1960)-2
 Campuchia---1 (1972)-1
 CHDCND Triều Tiên---1 (1980)-1
 Bahrain---1 (2004)-1
 Uzbekistan---1 (2011)-1
* Chủ nhà
# Israel bị khai trừ khỏi AFC trong những năm 1970 và cuối cùng trở thành một thành viên của UEFA.
^ Năm 1975, đất nước Việt Nam được hoàn toàn thống nhất. Do đó, kể từ năm 1975 trở về sau, thành tích của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa sẽ được sáp nhập vào thành tích chung của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam.

Thành tích của các nước chủ nhà

NămNước đăng caiChung kết
1956 Hồng KôngHạng ba
1960 Hàn QuốcVô địch
1964 Israel
1968 Iran
1972 Thái LanHạng ba
1976 IranVô địch
1980 Kuwait
1984 SingaporeVòng bảng
1988 Qatar
1992 Nhật BảnVô địch
1996 UAEÁ quân
2000 LibanVòng bảng
2004 Trung QuốcÁ quân
2007 Việt NamTứ kết
 IndonesiaVòng bảng
 Thái Lan
 Malaysia
2011 QatarTứ kết
2015 ÚcVô địch
2019 UAEBán kết
2023 QatarVô địch
2027 Ả Rập Xê ÚtChưa xác định

Thành tích đội đương kim vô địch

NămĐương kim vô địchChung kết
1960 Hàn QuốcVô địch
1964Hạng ba
1968 Israel
1972 IranVô địch
1976
1980Hạng ba
1984 Kuwait
1988 Ả Rập Xê ÚtVô địch
1992Á quân
1996 Nhật BảnTứ kết
2000 Ả Rập Xê ÚtÁ quân
2004 Nhật BảnVô địch
2007Hạng tư
2011 IraqTứ kết
2015 Nhật Bản
2019 Úc
2023 QatarVô địch
2027Chưa xác định

Vô địch theo từng khu vực

Liên đoàn khu vựcCác đội vô địchSố lần vô địch
WAFF (Tây Á)Iran (3), Ả Rập Xê Út (3), Qatar (2), Kuwait (1), Iraq (1)10
EAFF (Đông Á)Nhật Bản (4), Hàn Quốc (2)6
AFF (Đông Nam Á)Úc (1)1
CAFA (Trung Á)0
SAFF (Nam Á)0
  • Israel ngày nay chuyển sang trực thuộc UEFA.

Giải thưởng

Cúp

Lịch sử danh hiệu
Chiếc cúp ban đầu ra mắt vào năm 1956, được sử dụng cho đến năm 2015
Chiếc cúp được sử dụng từ năm 2019

Đã có hai phiên bản Cúp châu Á; chiếc cúp đầu tiên được sử dụng từ năm 1956 đến 2015 và chiếc thứ hai được sử dụng kể từ năm 2019.

Chiếc cúp đầu tiên có dạng một cái bát có đế hình tròn. Nó cao 42 cm và nặng 15 kg.[27] Cho đến giải đấu năm 2000, phần đế màu đen có các bảng khắc tên của mọi quốc gia chiến thắng, cũng như ấn bản đã giành chiến thắng.[28][29] Chiếc cúp được thiết kế lại, thêm nhiều bạc hơn và giảm phần đế màu đen xuống chỉ còn một lớp mỏng. Căn cứ này không có biển báo và tên của các quốc gia chiến thắng được khắc xung quanh đế.[30]

Trong lễ bốc thăm vòng bảng 2019 vào ngày 4 tháng 5 năm 2018 tại Burj Khalifa ở Dubai, một chiếc cúp hoàn toàn mới do Thomas Lyte chế tạo đã được công bố. Nó cao 78 cm, rộng 42 cm và nặng 15 kg bạc.[31] Chiếc cúp được mô phỏng theo hoa sen , một loài thực vật thủy sinh quan trọng mang tính biểu tượng của châu Á. Năm cánh hoa sen tượng trưng cho năm tiểu liên đoàn trực thuộc AFC.[32] Tên của các quốc gia chiến thắng được khắc xung quanh đế cúp, có thể tách rời khỏi thân chính của cúp. Chiếc cúp này có một tay cầm ở mỗi bên, không giống như chiếc cúp tiền nhiệm của nó.

Cầu thủ xuất sắc nhất giải

NămCầu thủ
1972Iran Ebrahim Ashtiani
1976Iran Ali Parvin
1980Không có
1984Trung Quốc Giả Tú Toàn
1988Hàn Quốc Kim Joo-Sung
1992Nhật Bản Takagi Takuya
1996Iran Khodadad Azizi
2000Nhật Bản Nanami Hiroshi
2004Nhật Bản Nakamura Shunsuke
2007Iraq Younis Mahmoud
2011Nhật Bản Honda Keisuke
2015Úc Massimo Luongo
2019Qatar Almoez Ali
2023Qatar Akram Afif
2027

Vua phá lưới

NămCầu thủSố bàn
thắng
1956Israel Nahum Stelmach4
1960Hàn Quốc Cho Yoon-Ok
1964Ấn Độ Inder Singh2
Israel Mordechai Spiegler
1968Iran Homayoun Behzadi4
Israel Giora Spiegel
Israel Moshe Romano
1972Iran Hossein Kalani5
1976Iran Nasser Nouraei3
Iran Gholam Hossein Mazloomi
Kuwait Fatehi Kamil
1980Iran Behtash Fariba7
Hàn Quốc Choi Soon-Ho
1984Trung Quốc Giả Tú Toàn3
Iran Shahrokh Bayani
Iran Nasser Mohammadkhani
1988Hàn Quốc Lee Tae-Ho3
1992Ả Rập Xê Út Fahad Al-Bishi
1996Iran Ali Daei8
2000Hàn Quốc Lee Dong-Gook6
2004Bahrain A'ala Hubail5
Iran Ali Karimi
2007Iraq Younis Mahmoud4
Nhật Bản Takahara Naohiro
Ả Rập Xê Út Yasser Al-Qahtani
2011Hàn Quốc Koo Ja-Cheol5
2015Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Ali Mabkhout
2019Qatar Almoez Ali9
2023Qatar Akram Afif8
2027

Các đội tuyển tham dự

Đội tuyểnHồng Kông
1956
(4)
Hàn Quốc
1960
(4)
Israel
1964
(4)
Iran
1968
(5)
Thái Lan
1972
(6)
Iran
1976
(6)
Kuwait
1980
(10)
Singapore
1984
(10)
Qatar
1988
(10)
Nhật Bản
1992
(8)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
1996
(12)
Liban
2000
(12)
Trung Quốc
2004
(16)
Indonesia
Malaysia
Thái Lan
Việt Nam
2007
(16)
Qatar
2011
(16)
Úc
2015
(16)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
2019
(24)
Qatar
2023
(24)
Ả Rập Xê Út
2027
(24)
Lần tham dự
Thành viên Tây Á
 KuwaitChưa là thành viên AFC×VB2nd1st3rdVB4thTKVBVBVB×Q11
 IraqChưa là thành viên AFCVB4th××××TKTKTK1stTK4thV2V2Q11
 Syria×VBVBVBVBVBVBV2Q8
 LibanChưa là thành viên AFC×××××VB×VBVB3
 BahrainThuộc địa của Vương quốc Anh×ו•×VB×4thVBVBVBV2V2Q8
 JordanChưa là thành viên AFC×××TKTKVBV22ndQ6
 QatarThuộc địa của Vương quốc AnhVBVBVBVBTKVBVBTKVB1st1stQ12
 Ả Rập Xê ÚtChưa là thành viên AFC••×1st1st2nd1st2ndVB2ndVBVBV2V2H12
 UAEThuộc địa của Vương quốc Anh×VBVBVB4th2ndVBVBVB3rdBKV2Q12
 YemenChưa là thành viên AFC×VB1
 Oman×VBVBVBV2VBQ6
 PalestineChưa là thành viên AFCVBVBV2Q4
Thành viên Trung Á
 Iran××1st1st1st3rd4th3rdVB3rdTK3rdTKTKTKBKBKQ16
 UzbekistanMột phần của Liên XôChưa là thành viên AFCVBVBTKTK4thTKV2TKQ9
 TurkmenistanVBVB2
 Kyrgyzstan×V2VBQ3
 Tajikistan×TKQ2
Thành viên Nam Á
 Ấn Độ×2nd×VBVBVBVB5
 BangladeshMột phần của PakistanChưa là thành viên AFC×VB×1
Thành viên Đông Á
 Hàn Quốc1st1st3rd2nd2ndVB2ndTK3rdTK3rd3rd2ndTKBKQ16
 Hồng Kông3rd4th5thVB4
 Đài Bắc Trung Hoa3rd×4th×Thành viên OFC2
 Nhật Bản××××××VB1stTK1st1st4th1stTK2ndTKQ11
 Trung QuốcChưa là thành viên AFC3rdVB2nd4th3rdTK4th2ndVBVBTKTKVBQ14
 CHDCND Triều Tiên••4th×VB××VBVBVB×Q6
Thành viên Đông Nam Á
 Việt Nam4th4th×××××TKTKVBQ6
 Philippines×××××××VB1
 Campuchia××4th××××××××1
 Singapore×××VB×Q2
 Thái Lan××3rd••VBVBVBVBVBV2V2Q9
 Myanmar×××2nd×××××××1
 Indonesia×××VBVBVBVB×V2Q6
 MalaysiaVBVBVBVB4
 ÚcThành viên OFCTK2nd1stTKTKQ6
Cựu thành viên AFC
 Israel2nd2nd1st3rd••Rời khỏi AFCThành viên UEFA4
 Nam YemenChưa là thành viên AFCVB××Một phần của Yemen1
Chú thích
Các đội tuyển chưa từng tham dự Asian Cup
 Afghanistan,  Bhutan,  Brunei,  Đông Timor,  Guam,  Lào,  Ma Cao,  Maldives,  Mông Cổ,  Nepal,  Quần đảo Bắc Mariana,  Pakistan,  Sri Lanka

Lần đầu tham dự

Dưới đây là thống kê giải đấu đầu tiên mà các đội tuyển có mặt tại vòng chung kết Asian Cup.

NămĐội tuyển
1956 Hồng Kông  Israel  Hàn Quốc  Việt Nam Cộng hòa
1960 Trung Hoa Dân Quốc
1964 Ấn Độ
1968 Iran  Miến Điện
1972 Cộng hòa Khmer  Iraq  Kuwait  Thái Lan
1976 Trung Quốc  Malaysia  Nam Yemen
1980 Bangladesh  CHDCND Triều Tiên  Qatar  Syria  UAE
1984 Ả Rập Xê Út  Singapore
1988 Bahrain  Nhật Bản
1992Không có
1996 Indonesia  Uzbekistan
2000 Liban
2004 Jordan  Oman  Turkmenistan
2007 Úc
2011Không có
2015 Palestine
2019 Kyrgyzstan  Philippines  Yemen
2023 Tajikistan
2027Không có

Bảng xếp hạng tổng thể

Tính đến Cúp bóng đá châu Á 2023
Chú thích
Đội đã vô địch giải đấu
TTĐội tuyểnTrậnThắngHòaThuaBàn thắngBàn thuaHiệu sốĐiểm
1. Iran744520914355+88155
2. Hàn Quốc7338191611774+43133
3. Nhật Bản533312810452+52111
4. Ả Rập Xê Út522315147450+2484
5. Trung Quốc592315218866+2284
6. Qatar461912156652+1469
7. Iraq42187175452+261
8. UAE481613194764–1761
9. Kuwait421510174751–455
10. Uzbekistan33157114950–152
11. Úc[a]2615564917+3250
12. Jordan2210753018+1237
13. Syria2585121930–1129
14. Israel[b]139042815+1327
15. Bahrain2776143344–1127
16. Thái Lan28311142254–3220
17. Oman163581220–814
18. CHDCND Triều Tiên1832131540–2511
19. Indonesia1632111338–2511
20. Ấn Độ1631121233–2110
21. Việt Nam[c]1823132143–229
22. Myanmar421154+17
23. Malaysia121471028–187
24. Liban9135817–96
25. Palestine10136721–146
26. Tajikistan512234–15
27. Đài Bắc Trung Hoa7124512–75
28. Singapore411234–14
29. Campuchia5113810–24
30. Kyrgyzstan7115712–54
31. Hồng Kông1303101030–203
32. Turkmenistan6015716–91
33. Philippines300317–60
34. Nam Yemen[d]200209–90
35. Yemen3003010–100
36. Bangladesh4004217–150

Ghi chú

  1. Úc chuyển từ OFC sang AFC vào tháng 1 năm 2006.
  2. Israel bị trục xuất khỏi AFC vào năm 1974 và là thành viên của UEFA từ năm 1994 đến nay.
  3. Tính cả thành tích của  Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1956–1976.
  4. Nam Yemen tham dự Asian Cup trong giai đoạn 1976–1988.

Các huấn luyện viên vô địch

NămHuấn luyện viênVô địch
1956Hàn Quốc Lee Yoo-hyung Hàn Quốc
1960Hàn Quốc Wui Hye-deok
1964Israel Yosef Merimovich Israel
1968Iran Mahmoud Bayati Iran
1972Iran Mohammad Ranjbar
1976Iran Heshmat Mohajerani
1980Brasil Carlos Alberto Parreira Kuwait
1984Ả Rập Xê Út Khalil Al-Zayani Ả Rập Xê Út
1988Brasil Carlos Alberto Parreira
1992Hà Lan Hans Ooft Nhật Bản
1996Bồ Đào Nha Nelo Vingada Ả Rập Xê Út
2000Pháp Philippe Troussier Nhật Bản
2004Brasil Zico
2007Brasil Jorvan Vieira Iraq
2011Ý Alberto Zaccheroni Nhật Bản
2015Úc Ange Postecoglou Úc
2019Tây Ban Nha Félix Sánchez Bas Qatar
2023Tây Ban Nha Tintín Márquez
2027

Ghi chú

Tham khảo

  1. "FIFA Council votes for the introduction of a revamped FIFA Club World Cup". FIFA.com. ngày 15 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  2. "Revamp of AFC competitions". The-afc.com. ngày 25 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2014.
  3. "AFC Asian Cup changes set for 2019". Afcasiancup.com. ngày 26 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2014.
  4. "The AFC".
  5. "The AFC".
  6. "The AFC".
  7. "Factbox: Saudi Arabia at the Asian Cup". Reuters. ngày 29 tháng 12 năm 2018.
  8. 1 2 "Asian Cup: Know Your History – Part Two (1992–2007)". Goal.com. ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  9. "How the 1992 Asian Cup awoke Japanese football, the continent's sleeping giant". ngày 4 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2022.
  10. "The AFC".
  11. "The 1996 Asian Cup: What was and what could have been for the UAE". ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  12. "Facts of the 2000 Asian Cup Final until now – Parkview". parkview-modelhouse.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2021.
  13. "Japan sink China in heated Asia Cup final". ABC News. ngày 7 tháng 8 năm 2004.
  14. "Viet Nam to co-host Asian Cup in 2007". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2022.
  15. "Australia gets President's blessing to join AFC in 2006". ABC News. ngày 16 tháng 6 năm 2005.
  16. Lampen, Jerry (ngày 29 tháng 7 năm 2007). "Iraq ride wave of support to lift Asian Cup". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
  17. "Extra time winner secures Japan record fourth Asian Cup title". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2022.
  18. "Australia wins Asian Cup thanks to Troisi's extra-time finish". Australian Broadcasting Corporation. ngày 31 tháng 1 năm 2015.
  19. "AFC plans to introduce VAR at UAE 2019". ngày 27 tháng 9 năm 2018.
  20. "AFC Asian Cup UAE 2019 – Match Schedule" (PDF). AFC. ngày 7 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018.
  21. "Fourth substitution to be introduced at UAE 2019". AFC. ngày 12 tháng 10 năm 2018.
  22. "Qatar stun Japan with 3–1 win to be crowned Asian Cup champions". TheGuardian.com. tháng 2 năm 2019.
  23. "Fans throw shoes as Qatar reach Asian Cup final". ABC News. ngày 29 tháng 1 năm 2019.
  24. "ExCo approves expanded AFC Asian Cup finals". Asian Football Confederation. ngày 16 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2015.
  25. "AFC Asian Cup China 2023 Competition Regulations" (PDF). AFC. ngày 10 tháng 9 năm 2020.
  26. "AFC Competition Operations Manual (Edition 2023)" (PDF). Asian Football Confederation. tr. 88. If there is no 3rd/4th place playoff ... the Participating Teams ranked three (3) and four (4) shall be determined in descending order as follows:
    (i) superior goal difference in the semi-finals;
    (ii) higher number of goals scored in the semi-finals;
    (iii) superior goal difference in the quarter-finals (if applicable);
    (iv) higher number of goals scored in the quarter-finals (if applicable)...
  27. AFC Asian Cup Trophy trên YouTube
  28. "The Asian Cup Trophy – Asia Cup". Getty Images. ngày 21 tháng 12 năm 1996.
  29. "Japan coach Philippe Troussier lifts the Asian Cup trophy". Alamy. ngày 29 tháng 10 năm 2000.
  30. "The remarkable rise of Asia's greatest showpiece". Asian Football Confederation. ngày 5 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc 5 tháng 2 2019. Truy cập 5 tháng 2 2019.
  31. "Dazzling new AFC Asian Cup trophy unveiled in Dubai". Asian Football Confederation. ngày 4 tháng 5 năm 2018.
  32. Highlights: AFC Asian Cup 2019 trophy reveal trên YouTube

Liên kết ngoài