A.F.C. Bournemouth
![]() | ||||
| Tên đầy đủ | AFC Bournemouth[a] | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Cherries Boscombe | |||
| Thành lập | 1899 (với tên gọi Boscombe) | |||
| Sân | Dean Court | |||
| Sức chứa | 11.307[7] | |||
| Chủ sở hữu | Black Knight Football Club UK Limited[b][1][9] | |||
| Chủ tịch điều hành | Bill Foley | |||
| Người quản lý | Andoni Iraola | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | |||
| 2024-25 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 9 trên 20 | |||
| Website | afcb | |||
AFC Bournemouth (/ˈbɔːrnməθ/ ⓘ BORN-məth) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Kings Park, Boscombe, một vùng ngoại ô của Bournemouth, Dorset, Anh. Đội thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh. Được thành lập vào năm 1899 với tên gọi Boscombe, câu lạc bộ lấy tên hiện tại vào năm 1971. Có biệt danh là "The Cherries", và thường được gọi ngắn gọn là Bournemouth, đội đã thi đấu các trận sân nhà tại Dean Court từ năm 1910.
Câu lạc bộ từng thi đấu ở các giải khu vực trước khi đi lên từ Hampshire League tới Southern League vào năm 1920. Khi đó, đội mang tên Bournemouth & Boscombe Athletic và được bầu vào Football League năm 1923. Đội ở lại Third Division South trong 35 năm, giành Third Division South Cup vào năm 1946. Sau khi được xếp vào Third Division mới được tái tổ chức năm 1958, đội xuống hạng năm 1970, nhưng giành quyền thăng hạng trở lại ngay ở mùa giải 1970-71. Sau khi rớt trở lại Fourth Division năm 1975, Bournemouth lại thăng hạng ở mùa giải 1981-82 và sau khi nâng Associate Members' Cup năm 1984, đội tiếp tục vô địch Third Division ở mùa giải 1986-87. Đội trải qua ba mùa giải ở hạng Hai nhưng rơi vào tình trạng quản lý tài chính năm 1997, rồi lại bị đẩy xuống hạng Tư sau khi xuống hạng năm 2002, dù ngay lập tức thăng hạng trở lại bằng chiến thắng ở vòng play-off năm 2003.
Bournemouth lần thứ hai rơi vào quản trị tài chính và xuống trở lại League Two năm 2008, nhưng khép lại năm đó bằng việc bổ nhiệm Eddie Howe làm huấn luyện viên. Dưới sự dẫn dắt của Howe, Bournemouth giành ba lần thăng hạng trong sáu năm để lần đầu tiên trong lịch sử giành một suất ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Thành tích này đến từ vị trí á quân League Two mùa giải 2009-10, vị trí á quân League One mùa giải 2012-13 và chức vô địch Championship mùa giải 2014-15. Câu lạc bộ trụ lại Premier League trong năm mùa giải trước khi xuống hạng năm 2020, nhưng trở lại vào năm 2022 với tư cách á quân Championship, lần này dưới sự dẫn dắt của Scott Parker.
Lịch sử
Boscombe
Dù ngày thành lập chính xác của câu lạc bộ chưa được xác định, có bằng chứng cho thấy đội được thành lập vào mùa thu năm 1899 từ tàn dư của câu lạc bộ cũ Boscombe St. John's Institute Football Club.[10] Ban đầu, câu lạc bộ mang tên Boscombe Football Club. Chủ tịch đầu tiên là ông J. C. Nutt.[11]
Ở mùa giải đầu tiên, 1899-1900, Boscombe thi đấu tại Bournemouth and District Junior League. Đội cũng tham dự Hants Junior Cup. Trong hai mùa giải đầu tiên, đội thi đấu trên một sân bóng ở Castlemain Avenue, Pokesdown. Từ mùa giải thứ ba, đội chuyển sang thi đấu trên một sân tại King's Park. Ở mùa giải 1905-06, Boscombe bước lên thi đấu ở cấp độ nghiệp dư cao cấp.[12]
Năm 1910, câu lạc bộ được doanh nhân địa phương J. E. Cooper-Dean cho thuê dài hạn một khu đất hoang cạnh Kings Park để làm sân bóng của câu lạc bộ. Với sân nhà riêng, được đặt tên là Dean Court theo tên nhà hảo tâm, câu lạc bộ tiếp tục phát triển và thống trị bóng đá địa phương. Cũng trong năm đó, câu lạc bộ kí hợp đồng với cầu thủ chuyên nghiệp đầu tiên là Baven Penton.[13]
Khoảng thời gian này, câu lạc bộ có được biệt danh "The Cherries". Có hai cách giải thích chính về việc đội có biệt danh này: một là từ những chiếc áo sọc đỏ anh đào mà đội từng mặc, và hai là, dù có phần kém thuyết phục hơn, vì Dean Court được xây ngay cạnh điền trang Cooper-Dean, nơi được cho là có nhiều cây anh đào.[14]
Lần đầu tiên, ở mùa giải 1913-14, câu lạc bộ tham dự Cúp FA. Tuy nhiên, bước tiến của đội bị chặn lại vào năm 1914 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, và Boscombe trở lại Hampshire League.[cần dẫn nguồn]
Năm 1920, Third Division của Football League được thành lập, và Boscombe được đưa lên Southern League, nơi đội đạt thành công ở mức vừa phải.[cần dẫn nguồn]

Bournemouth & Boscombe Athletic
Để khiến câu lạc bộ mang tính đại diện hơn cho khu vực, tên đội được đổi thành Bournemouth & Boscombe Athletic Football Club vào năm 1923. Cũng trong năm đó, câu lạc bộ được bầu vào Third Division South vừa được mở rộng. Trận đấu đầu tiên tại giải diễn ra trên sân của Swindon Town ngày 25 tháng 8 năm 1923, và Bournemouth thua 1-3. Trận đấu đầu tiên tại giải trên sân Dean Court cũng là gặp Swindon, nơi Bournemouth giành điểm đầu tiên tại giải sau trận hòa 0-0.[cần dẫn nguồn]
Bournemouth gặp nhiều khó khăn tại Football League nhưng cuối cùng cũng khẳng định được mình như một câu lạc bộ của Third Division. Bournemouth vẫn còn được ghi nhận là câu lạc bộ có thời gian liên tục dài nhất tại Third Division.[15]
Với tư cách một câu lạc bộ của giải vô địch, Bournemouth phải đợi tới sau Chiến tranh thế giới thứ hai mới giành được danh hiệu đầu tiên. Điều đó đến khi đội đánh bại Walsall trong trận chung kết Third Division (South) Cup tại Stamford Bridge.
AFC Bournemouth
Câu lạc bộ lấy tên AFC Bournemouth từ đầu mùa giải 1971-72,[16] với mục đích để câu lạc bộ xuất hiện đầu tiên trong các danh sách xếp theo thứ tự chữ cái của các câu lạc bộ Anh, đồng thời vẫn giữ chữ viết tắt AFC (Athletic Football Club) như một phần trong tên của mình.[17] Một năm sau, câu lạc bộ sử dụng huy hiệu mới như biểu tượng cho bước tiến của mình.[18] Những sọc ở nền dựa trên áo đấu của câu lạc bộ, còn phía trước là hình nghiêng một cầu thủ đánh đầu, nhằm tôn vinh Dickie Dowsett, một tay săn bàn sung mãn của đội trong các thập niên 1950 và 1960.[19]
Bộ trang phục đỏ và đen của đội, được giới thiệu vào năm 1971, dựa trên áo đấu của AC Milan.[20] Đây là thời kì của Ted MacDougall, một chân sút ghi bàn dồi dào, người đã ghi chín bàn trong chiến thắng 11-0 trước Margate ở một trận Cúp FA vào tháng 11 năm 1971.[21]
Cuối thế kỉ 20

Bournemouth có một chiến thắng nổi tiếng trước đương kim vô địch Manchester United tại Cúp FA vào tháng 1 năm 1984, khi đội được dẫn dắt bởi Harry Redknapp.[22][23] Câu lạc bộ giành danh hiệu lớn thứ hai khi vô địch Associate Members' Cup ngay ở mùa giải đầu tiên của giải đấu này, sau khi đánh bại Hull City 2-1 tại Boothferry Park ngày 24 tháng 5 năm 1984 trong trận chung kết.[24]
Redknapp đưa Bournemouth lên hạng Hai của bóng đá Anh lần đầu tiên trong lịch sử với tư cách nhà vô địch Third Division vào năm 1987. Sau khi trụ hạng khá thoải mái trong mùa giải đầu tiên tại Second Division, Bournemouth thực sự cạnh tranh suất thăng hạng lên hạng đấu cao nhất ở mùa giải 1988-89; cuối cùng đội hụt hơi sau một chuỗi trận tệ vào cuối mùa, nhưng vị trí thứ 12 chung cuộc vẫn là thành tích cao nhất của đội tại Football League cho tới mùa giải 2013-14.[cần dẫn nguồn]
Ngày 5 tháng 5 năm 1990, ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải 1989-90, Leeds United có cơ hội vô địch Second Division và giành quyền thăng hạng lên First Division nếu đánh bại Bournemouth tại Dean Court. Một số cổ động viên Leeds đã gây rối trong thị trấn từ buổi sáng và bầu không khí trở nên căng thẳng khi Leeds thắng trận với cách biệt một bàn. Kết hợp với kết quả từ các trận khác, điều đó đồng nghĩa Leeds thăng hạng còn Bournemouth xuống hạng. Bạo lực và sự phá hoại do cổ động viên đội khách gây ra tại Bournemouth tiếp tục kéo dài suốt dịp nghỉ lễ, gây thiệt hại hơn 1 triệu bảng và làm bị thương cả cổ động viên đối phương lẫn cảnh sát.[25] Tờ Daily Echo của thị trấn đưa tin rằng “khán giả, bao gồm nhiều trẻ em nhỏ, đã phải chạy đi tìm nơi an toàn khi vật thể bị ném khắp nơi và cảnh sát chống bạo động phải can thiệp để kiểm soát đám đông.”[25] Vấn đề này sau đó còn được nêu ra tại Quốc hội bởi một trong các nghị sĩ của thị trấn. Về mặt tài chính, vụ bạo loạn liên quan tới Leeds ảnh hưởng tới câu lạc bộ trong hơn một thập kỉ, khi Bournemouth bị cảnh sát địa phương ngăn không cho tổ chức các trận sân nhà vào các ngày nghỉ lễ ngân hàng, vốn theo truyền thống là thời điểm phổ biến để đá bóng, cho tới trận gặp Shrewsbury Town ngày 21 tháng 4 năm 2003.[cần dẫn nguồn]
Redknapp ở lại câu lạc bộ thêm hai mùa giải nữa, và cả hai mùa giải đều kết thúc với việc đội chỉ kém nhóm play-off ba điểm. Tuy nhiên, áp lực tài chính ngày càng lớn khiến ông từ chức vào cuối mùa giải 1991-92, rồi sau đó trở lại câu lạc bộ cũ West Ham United với vai trò huấn luyện viên. Người thay thế là Tony Pulis, người xây dựng một đội hình rẻ hơn nhiều nhưng chỉ có thể đưa đội tới hai mùa giải liên tiếp đứng thứ 17 trước khi ông rời câu lạc bộ, đổ lỗi cho áp lực tài chính.[cần dẫn nguồn]
Bournemouth trải qua những tháng đầu của mùa giải 1994-95 mà không có huấn luyện viên chính thức, và khởi đầu tệ hại khiến đội đứng cuối bảng trong phần lớn nửa đầu mùa giải. Dù phong độ có cải thiện đôi chút khi Mel Machin được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, đội vẫn bị xem là gần như không thể trụ hạng, bởi mùa giải đó có tới năm suất xuống hạng ở Division Two do quá trình tái cơ cấu giải đấu. Tuy nhiên, một chuỗi phong độ khởi sắc cuối mùa cùng với sự sụp đổ của các đối thủ cạnh tranh trụ hạng là Cambridge United và Plymouth Argyle giúp đội trụ hạng ở ngày cuối cùng với cách biệt hai điểm.[cần dẫn nguồn]
Machin cuối cùng tại vị trong sáu năm, phần lớn thời gian ấy chỉ gắn với những vị trí giữa bảng không mấy nổi bật. Mùa giải 1998-99 có thể được xem là đỉnh cao trong nhiệm kì của ông, khi câu lạc bộ cạnh tranh nghiêm túc một suất play-off trong phần lớn mùa giải, nhưng cuối cùng hụt hơi và kết thúc ở vị trí thứ bảy. Tuy nhiên, việc rơi xuống vị trí thứ 16 ở mùa giải 1999-2000, rồi khởi đầu tệ hại ở mùa tiếp theo, khiến Machin bị miễn nhiệm khỏi vị trí của mình và được giao vai trò giám đốc bóng đá.[cần dẫn nguồn]
Đầu thế kỉ 21
Sean O'Driscoll được đôn lên từ ban huấn luyện để thay Mel Machin khi bắt đầu mùa giải 2000-01. Trong mùa giải đầu tiên của O'Driscoll trên cương vị huấn luyện viên, Bournemouth chỉ lỡ suất dự play-off Division Two trong gang tấc, nhưng lại xuống hạng một năm sau đó tại sân vận động mới của mình (ở giai đoạn đầu của mùa giải 2001-02, đội đá sân nhà trên sân của Dorchester Town trong khi sân của chính họ đang được tái phát triển). Ban lãnh đạo vẫn đặt niềm tin vào O'Driscoll và được đền đáp bằng suất thăng hạng thông qua vòng play-off Division Three ở mùa giải 2002-03. Câu lạc bộ trở thành đội đầu tiên ghi năm bàn tại Millennium Stadium khi đánh bại Lincoln City 5-2 trong trận chung kết play-off Division Three mùa giải 2002-03, với các bàn thắng của Steve Fletcher, Carl Fletcher (2), Stephen Purches và Garreth O'Connor. Dưới sự dẫn dắt của O'Driscoll, Bournemouth lại chỉ lỡ play-off trong gang tấc ở các mùa giải 2003-04 và 2004-05, đồng thời chỉ vừa đủ để tránh xuống hạng ở mùa giải 2005-06.[cần dẫn nguồn]
Cầu thủ gắn bó lâu năm James Hayter đã ghi hat-trick nhanh nhất lịch sử giải vô địch Anh ở mùa giải 2003-04. The Cherries đang dẫn 3-0 trước Wrexham nhờ các bàn thắng của Stephen Purches, Warren Cummings và Warren Feeney khi Hayter được tung vào sân từ băng ghế dự bị. Khi đồng hồ sang phút 86, Hayter ghi ba bàn chỉ trong 2 phút 21 giây, ấn định chiến thắng 6-0 cho Bournemouth.[26]
Vào tháng 9 năm 2006, khi đội đang đứng thứ tám tại giải, Sean O'Driscoll rời đi để trở thành huấn luyện viên của Doncaster Rovers. Người thay thế ông là Kevin Bond.[27]
Sa sút và rơi vào quản trị tài chính (2008-2009)
Vào tháng 2 năm 2008, Bournemouth buộc phải rơi vào tình trạng quản trị tài chính, đồng thời bị trừ mười điểm, khiến đội lâm vào nguy cơ xuống hạng. Bournemouth khi đó có khoản nợ khoảng 4 triệu bảng và suýt phải ngừng hoạt động.[28] Sự bất ổn ngoài sân cỏ tiếp diễn trong suốt mùa giải, với chỉ một đề nghị mua lại câu lạc bộ được chấp nhận nhưng cuối cùng không thành công,[29] và câu lạc bộ kết thúc mùa giải bằng việc xuống hạng xuống League Two.[30]
Trước thềm mùa giải 2008-09, tương lai của đội tại Football League bị đặt trong nghi ngờ khi giải đấu đe dọa ngăn Bournemouth tham dự League Two, do những vấn đề liên quan tới quá trình quản trị tài chính kéo dài và việc thay đổi quyền sở hữu của câu lạc bộ. Giải đấu yêu cầu cả Bournemouth lẫn Rotherham United phải chứng minh rằng họ có thể hoàn thành toàn bộ lịch thi đấu và tìm ra lối thoát khỏi tình trạng quản trị tài chính,[31] sau đó cuối cùng cho phép câu lạc bộ thi đấu nhưng với án phạt trừ 17 điểm vì không tuân thủ các quy định về mất khả năng thanh toán của Football League. Công ty mới cũng bị yêu cầu phải thanh toán cho các chủ nợ không có bảo đảm theo mức đã được đề nghị tại thời điểm thỏa thuận CVA ban đầu (khoảng mười xu trên một bảng) trong vòng hai năm.[32]
Ngay đầu mùa giải, huấn luyện viên Bond bị sa thải và được thay bằng cựu cầu thủ Jimmy Quinn, người sau đó cũng rời câu lạc bộ chỉ vài tháng sau đó.[33]Cựu cầu thủ Eddie Howe tiếp quản vị trí huấn luyện viên khi câu lạc bộ vẫn còn kém nhóm an toàn mười điểm ở đáy bảng, ban đầu chỉ với vai trò tạm quyền, và trở thành huấn luyện viên trẻ nhất tại Football League ở tuổi 31.[34]
Cuối năm 2008, có thông báo rằng doanh nhân địa phương Adam Murray đã hoàn tất việc mua 50% cổ phần của câu lạc bộ từ chủ tịch trước đó là Paul Baker. Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 2009, Murray không kịp hoàn tất việc mua nốt số cổ phần của Baker trước thời hạn.[35]
Ở trận sân nhà cuối cùng của mùa giải 2008-09, The Cherries bảo đảm được vị thế của mình tại Football League sau khi đánh bại Grimsby Town 2-1, với bàn thắng quyết định của Steve Fletcher bên phía Bournemouth tới khi trận đấu chỉ còn mười phút, tạo nên những màn ăn mừng cuồng nhiệt sau đoạn kết cổ tích của "Cuộc đào thoát vĩ đại". Họ khép lại mùa giải đầy sóng gió bằng chiến thắng sân khách đậm nhất trong 30 năm, với tỉ số 4-0 trên sân của Morecambe.[cần dẫn nguồn]
Vào tháng 6 năm 2009, một liên danh có Adam Murray góp mặt cuối cùng đã tiếp quản Bournemouth. Liên danh này còn bao gồm Jeff Mostyn, cựu phó chủ tịch Steve Sly, Neill Blake và cựu chủ tịch Dorchester Town là Eddie Mitchell.[cần dẫn nguồn]
Thăng tiến tới Premier League (2009-2015)
Mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Howe trên cương vị huấn luyện viên kết thúc với thành công khi Bournemouth đứng thứ hai tại League Two để giành quyền thăng hạng sớm hai vòng đấu. Howe rời câu lạc bộ để đến với Burnley trong mùa giải tiếp theo; người kế nhiệm ông, một cựu cầu thủ khác của Bournemouth là Lee Bradbury, đã đưa Bournemouth vào vòng play-off League One. Trận bán kết hai lượt với Huddersfield Town kết thúc với tổng tỉ số 3-3 sau hiệp phụ, và Huddersfield đi tiếp vào chung kết sau khi thắng 4-2 trên chấm luân lưu. Bradbury không thể giúp Bournemouth tạo nên một chiến dịch đua thăng hạng khác tại Football League 2011-12 One, khi đội chỉ đứng thứ 11 sau một mùa giải có kết quả thất thường, và ông bị thay bằng huấn luyện viên đội trẻ Paul Groves cho những trận cuối cùng của mùa giải.[cần dẫn nguồn]
Groves tiếp tục nắm quyền ở giai đoạn đầu mùa giải 2012-13, nhưng bị sa thải vào tháng 10 năm 2012 sau một khởi đầu khiến câu lạc bộ ở gần cuối bảng xếp hạng. Eddie Howe trở lại làm huấn luyện viên, và ông không chỉ giúp câu lạc bộ thoát xa cuộc chiến trụ hạng ở đầu mùa giải, mà còn đưa đội thăng hạng lên Championship, qua đó trở lại hạng Hai của bóng đá Anh lần đầu tiên kể từ năm 1990. Câu lạc bộ cũng công bố một huy hiệu mới.[36] Sau khởi đầu đầy hứa hẹn tại Championship, câu lạc bộ được bốc thăm gặp Premier League club Liverpool ở vòng Bốn FA Cup, và trận đấu kết thúc với thất bại 0-2. Bournemouth khép lại mùa giải đầu tiên trở lại Championship ở vị trí thứ mười, thành tích cao nhất của họ từ trước tới nay tại Football League.[cần dẫn nguồn]
Ngày 25 tháng 10 năm 2014, Bournemouth thắng 8-0 trên sân St Andrew's của Birmingham City. Đây là lần đầu tiên The Cherries ghi được tám bàn trong một trận đấu tại giải vô địch, đồng thời là chiến thắng đậm nhất của họ tại giải (không tính chiến thắng 10-0 trước Northampton Town vào tháng 9 năm 1939, trận đấu sau đó không được tính do giải bị hủy vì Chiến tranh thế giới thứ Hai).[37] Câu lạc bộ tiếp nối thành công này bằng chiến thắng 2-1 trước đội Premier League West Bromwich Albion tại League Cup, qua đó lần đầu tiên vào tới tứ kết của giải đấu. Bournemouth một lần nữa bốc phải Liverpool nhưng thua 1-3. Câu lạc bộ dành phần lớn mùa giải 2014-15 trong nhóm đầu bảng, và chiến thắng 3-0 trên sân của Charlton Athletic ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải là đủ để giúp đội vô địch Championship và lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.[38]
Giai đoạn Premier League đầu tiên (2015-2020)
Ở mùa giải đầu tiên của Bournemouth tại Premier League, đội bóng bị tàn phá bởi hàng loạt chấn thương nghiêm trọng, trong đó có chấn thương của Callum Wilson, chân sút ngôi sao của mùa giải trước. Đội gặp khó khăn trong phần lớn nửa đầu mùa giải, nhưng sự khởi sắc về phong độ trong nửa sau mùa giải đã đảo ngược tình thế. Bournemouth cuối cùng đứng thứ 16 tại giải, qua đó tránh được việc xuống hạng.[39]
Câu lạc bộ bị nhiều người dự đoán sẽ rơi vào tình trạng second season syndrome, nhưng mùa giải 2016-17 nhìn chung lại rất thành công. Dù khởi đầu yếu kém khiến họ nằm trong nhóm xuống hạng suốt ba tuần đầu tiên, đội nhanh chóng hồi phục và cuối cùng kết thúc ở vị trí thứ chín.[40] Cầu thủ mượn ngôi sao Nathan Aké được mua đứt từ Chelsea với mức phí kỉ lục của câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2017, được cho là vào khoảng 20 triệu bảng.[41] Dù lại khởi đầu chậm chạp ở mùa giải 2017-18, một chuỗi phong độ tốt kéo dài trong cuối tháng 12 và tháng 1 giúp họ thoát xa khỏi khu vực xuống hạng, đồng thời mang về cho Howe giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của Premier League lần thứ hai.[42] Bournemouth sau đó giành được 19 điểm từ những trận đấu mà họ bị dẫn trước trong nửa sau mùa giải — một kỉ lục của Premier League — giúp đội kết thúc ở vị trí thứ 12.[43][cần nguồn thứ cấp][44]
Mùa giải 2018-19 chứng kiến câu lạc bộ lại phá kỉ lục chuyển nhượng của mình trong mùa hè với thương vụ Jefferson Lerma,[45][46] và trái ngược với mùa giải trước, câu lạc bộ có một khởi đầu mạnh mẽ khi đứng thứ sáu sau 12 trận đầu tiên. Tuy nhiên, phong độ của họ sa sút trong phần còn lại của mùa giải vì nhiều vấn đề chấn thương. Cuối cùng, Bournemouth đứng thứ 14, qua đó bảo đảm mùa giải thứ năm tại Premier League.
Khởi đầu sáng sủa ở mùa giải 2019-20 giúp đội đứng thứ bảy vào đầu tháng 11.[47] Tuy nhiên, những vấn đề chấn thương kéo dài cùng một chuỗi kết quả tệ hại sau đó khiến câu lạc bộ rơi vào nhóm xuống hạng vào tháng 1. Phong độ kém tiếp diễn sau khi đại dịch COVID-19 tại Anh làm gián đoạn mùa giải, với những thất bại then chốt trước Manchester City và Southampton đẩy câu lạc bộ tới bờ vực.[48] Dù đánh bại Everton 3-1 trên sân khách tại Goodison Park ở vòng cuối cùng, việc Aston Villa hòa với West Ham khiến Bournemouth chính thức xuống hạng.[49] Ngày 1 tháng 8 năm 2020, Howe rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung, khép lại nhiệm kì thứ hai kéo dài tám năm của ông trên cương vị huấn luyện viên.[50]
Vi phạm Luật công bằng tài chính và án phạt
Năm 2016, Bournemouth bị xác định là có vi phạm các quy định về Luật công bằng tài chính của Football League trong mùa giải 2014-15, mùa giải mà đội giành quyền thăng hạng lên Premier League. Mức chi tiêu vượt ngưỡng của câu lạc bộ đã phá vỡ “mức chênh lệch tối đa”, với khoản lỗ tài chính 38,3 triệu bảng ở mùa giải 2014-15. Trước đó là khoản lỗ 10,3 triệu bảng ở mùa giải 2013-14. Ban đầu, câu lạc bộ bị Football League phạt 7,6 triệu bảng, nhưng sau đó thương lượng được một thỏa thuận với mức phạt 4,75 triệu bảng vì vi phạm các quy định về Luật công bằng tài chính.[51][52][53]
Trở lại EFL Championship (2020-2022)
Ngày 8 tháng 8, Jason Tindall, một cựu cầu thủ Bournemouth và là trợ lí lâu năm của Howe, được đôn lên làm huấn luyện viên.[54] Dù đứng thứ hai vào giữa tháng 12, Tindall bị sa thải ngày 3 tháng 2 năm 2021 sau chuỗi chỉ thắng một trong tám trận, khiến đội rơi xuống vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng.[55] Ông được thay bằng huấn luyện viên đội một Jonathan Woodgate, ban đầu với vai trò tạm quyền.[56] Woodgate tiếp tục dẫn dắt đội cho tới hết mùa giải, khi câu lạc bộ đứng thứ sáu và vào play-off, nhưng thua Brentford với tổng tỉ số 2-3 ở bán kết.[57] Hợp đồng của Woodgate không được gia hạn sau mùa giải, và ngày 28 tháng 6 năm 2021, cựu huấn luyện viên Fulham là Scott Parker được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới, với Matt Wells là trợ lí huấn luyện viên.[58] Parker giúp câu lạc bộ có chuỗi 15 trận bất bại đầy ấn tượng ở đầu mùa giải Championship 2021-22, trước khi chính thức giành quyền thăng hạng ở trận áp chót của mùa giải, chiến thắng 1-0 trước đối thủ cạnh tranh thăng hạng Nottingham Forest, với tổng cộng 88 điểm.[59][60][61]
Giai đoạn Premier League thứ hai và quyền sở hữu mới (2022-nay)
Sự trở lại Premier League của câu lạc bộ khởi đầu rất khó khăn. Sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa câu lạc bộ với Parker và thất bại 0-9 trước Liverpool tại Anfield — cân bằng kỉ lục thất bại đậm nhất lịch sử Premier League — dẫn tới việc Parker bị sa thải chỉ sau bốn trận đấu tại giải vào ngày 30 tháng 8 năm 2022.[62][63] Huấn luyện viên đội một Gary O'Neil được giao làm huấn luyện viên trưởng tạm quyền và mang lại sự khởi sắc về phong độ trong 12 trận cầm quân tạm thời, trước khi được bổ nhiệm chính thức vào ngày 27 tháng 11 năm 2022.[64]
Ngày 13 tháng 12 năm 2022, câu lạc bộ được mua lại từ chủ sở hữu trước đó là Maxim Demin bởi Black Knight Football Club, một liên danh do doanh nhân người Mỹ Bill Foley và Cannae Holdings dẫn đầu.[65] Nhóm cổ đông thiểu số do diễn viên Hollywood Michael B. Jordan và nhà sáng lập Kosmos Nullah Sarker dẫn đầu.[66][67] Ngày 19 tháng 6 năm 2023, câu lạc bộ thông báo chia tay huấn luyện viên O'Neil, với Andoni Iraola được đưa về thay thế.[68] Ở mùa giải 2023-24, Bournemouth dưới sự dẫn dắt của Iraola đạt tổng điểm cao nhất trong lịch sử của họ tại Premier League, giành 48 điểm để kết thúc ở vị trí thứ 12.[69] Ở mùa giải tiếp theo, mùa giải 2024-25, Bournemouth một lần nữa phá kỉ lục điểm số của mình tại Premier League, đạt 56 điểm, đồng thời cân bằng vị trí chung cuộc cao nhất trong lịch sử của họ là đứng thứ 9 tại Premier League. Cùng với đó, câu lạc bộ cũng thiết lập các kỉ lục mới về số trận thắng nhiều nhất trong một mùa giải Premier League (15), số trận thua ít nhất (12), số bàn thắng ghi được nhiều nhất (58), và số bàn thua ít nhất (46).[70]
Lịch sử giải đấu
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
>
- Tính đến 27 tháng 3 năm 2026[71]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội U-21 và Học viện
Quan chức câu lạc bộ
- Nguồn:[72]
| Ban lãnh đạo | ||||
|---|---|---|---|---|
| Chủ sở hữu | ||||
| Chủ tịch | Chủ tịch phụ trách hoạt động bóng đá | Trợ lí giám đốc kĩ thuật đội một | Chủ tịch phụ trách kinh doanh | |
| Đội một | ||||
| Ban huấn luyện | ||||
| Huấn luyện viên | ||||
| Các huấn luyện viên đội một | ||||
| Trưởng bộ phận huấn luyện thủ môn | Trợ lí huấn luyện viên thủ môn đội một | |||
| Huấn luyện viên thể lực đội một | ||||
| Y tế | ||||
| Giám đốc hiệu suất | Trưởng bộ phận trị liệu | Các chuyên viên vật lí trị liệu | ||
| Các nhà khoa học thể thao | ||||
| Chuyên gia hồi phục và hiệu suất trưởng | Các nhà khoa học thể thao | |||
| Phân tích và hiệu suất | ||||
| Chuyên viên phân tích hiệu suất cấp cao đội một | Các chuyên viên phân tích | |||
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Giám đốc học viện | |
| Trưởng bộ phận huấn luyện thủ môn học viện | |
| Huấn luyện viên đội phát triển | |
| Huấn luyện viên U18 |
Các quan chức cũ
Các huấn luyện viên
- Nguồn:[75]
Vincent Kitcher (1914-1923)
Harry Kinghorn (1923-1925, 1939-1947)
Leslie Knighton (1925-1928)
Frank Richards (1928-1930)
Billy Birrell (1930-1935)
Bob Crompton (1935-1936)
Charlie Bell (1936-1939)
Harry Lowe (1947-1950)
Jack Bruton (1950-1956)
Freddie Cox (1956-1958, 1965-1970)
Don Welsh (1958-1961)
Bill McGarry (1961-1963)
Reg Flewin (1963-1965)
John Bond (1970-1973)
Trevor Hartley (1974-1975)
Tony Nelson (2-23 tháng 1 năm 1975)
John Benson (23 tháng 1 năm 1975 - 1978)
Alec Stock (1979-1980)
David Webb (1980-1982)
Don Megson (March-October 1983)
Harry Redknapp (October 1983 - 1992)
Tony Pulis (1992 - August 1994)
John Williams (August-tháng 9 năm 1994)
Mel Machin (1 tháng 9 năm 1994 - 18 tháng 8 năm 2000)
Sean O'Driscoll (19 tháng 8 năm 2000 - 8 tháng 9 năm 2006)
Stuart Murdoch and
Joe Roach (đồng huấn luyện viên, 10 tháng 9 năm 2006 - 13 tháng 10 năm 2006)
Kevin Bond (13 tháng 10 năm 2006 - 1 tháng 9 năm 2008)
Jimmy Quinn (2 tháng 9 năm 2008 - 31 December 2008)
Eddie Howe (31 December 2008 - 16 tháng 1 năm 2011, 12 tháng 10 năm 2012 - 1 tháng 8 năm 2020)
Lee Bradbury (16 tháng 1 năm 2011 - 25 tháng 3 năm 2012)
Paul Groves (25 tháng 3 năm 2012 - 3 tháng 10 năm 2012)
Jason Tindall (8 tháng 8 năm 2020 - 3 tháng 2 năm 2021)
Jonathan Woodgate (3 tháng 2 năm 2021 - 28 tháng 6 năm 2021)
Scott Parker (28 tháng 6 năm 2021 - 30 tháng 8 năm 2022)
Gary O'Neil (30 tháng 8 năm 2022 - 19 tháng 6 năm 2023)
Andoni Iraola (19 tháng 6 năm 2023 - )
Màu sắc
Màu sắc của đội đã thay đổi đôi chút trong suốt lịch sử của câu lạc bộ. Khởi đầu với trang phục sọc đỏ-trắng, Bournemouth cũng từng thi đấu với áo đỏ toàn bộ, áo đỏ tay trắng, và chủ yếu, kể từ năm 1990, là áo sọc đỏ-đen.[76] Một mẫu áo đỏ là chủ đạo đã được chọn cho các mùa giải 2004-05 và 2005-06, nhưng do yêu cầu từ người hâm mộ, đội đã quay trở lại với áo sọc ở mùa giải 2006-07.[77]
Kể từ năm 2017, trang phục của Bournemouth do Umbro sản xuất. Trước đó, trang phục từng được sản xuất bởi Umbro (1974-78, 1983-86), Adidas (1978-81), Osca (1982-83), Henson (1986-87), Scoreline (1987-90), Ellgren (1990-92), Matchwinner (1993-95), Le Coq Sportif (1995-96), Patrick (1996-2000), Super League (2000-01), TFG Sportswear (2001-03), Bourne Red (2003-08), Carbrini Sportswear (2008-11, 2014-15), Fila (2011-14) và JD Sports (2015-17).[cần dẫn nguồn]
Ở mùa giải 2025-26, áo đấu của đội được tài trợ bởi bj88,[78] còn LEOS International là nhà tài trợ tay áo.[79] Trước đó, các nhà tài trợ từng gồm Reg Heynes Toyota (1980-82, 1983-85), Coopers Beers (1985-87), Canberra Homes (1987-88), Nolan (1988-89), A1 Windscreens (1990-92), Exchange & Mart (1992-94), Frizzell (1994-97), Seward (1997-2006), Focal Point (2006-08, 2011-12), Carbrini Sportswear (2008-11), Energy Consulting (2012-15), Mansion (2015-2020), Vitality (2020), MSP Capital (2020-2022) và Dafabet (2022-2024).[80] Từ mùa giải 2017-18 tới mùa giải 2019-20, logo Mansion xuất hiện trên tay áo trái của Bournemouth, ngoài ra DeWalt là nhà tài trợ tay áo từ mùa giải 2022-23 tới hết mùa giải 2023-24.
| Năm | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) | Nhà tài trợ tay áo | Nhà tài trợ sau lưng | Nhà tài trợ quần |
|---|---|---|---|---|---|
| 1974-1978 | Umbro | Không có | Không có | Không có | Không có |
| 1978-1980 | Adidas | ||||
| 1980-1981 | Reg Heynes Toyota | ||||
| 1981-1982 | In-House | ||||
| 1982-1983 | Osca | Không có | |||
| 1983-1985 | Umbro | Reg Heynes Toyota | |||
| 1985-1986 | Coopers Beers | ||||
| 1986-1987 | Hensons | ||||
| 1987-1988 | Scoreline | Canberra Homes | |||
| 1988-1989 | Nolan | ||||
| 1989-1990 | Không có | ||||
| 1990-1992 | Ellgren | A1 Windscreens | |||
| 1992-1994 | Matchwinner | Exchange & Mart | |||
| 1994-1995 | Frizzell | ||||
| 1995-1996 | Le Coq Sportif | ||||
| 1996-1997 | Patrick | ||||
| 1997-2000 | Seward Cars | ||||
| 2000-2001 | Super League | ||||
| 2001-2003 | TFG Sports | ||||
| 2003-2006 | Bourne Red | ||||
| 2006-2008 | Focal Point Fires | ||||
| 2008-2011 | Carbrini Sportswear | Carbrini Sportswear | JD Sports | JD Sports | |
| 2011-2012 | Fila | Focal Point Fires | Focal Point Fires | Không có sponsor | |
| 2012-2014 | Energy-Consulting | Energy-Consulting | |||
| 2014-2015 | Carbrini Sportswear | ||||
| 2015-2017 | JD Sports | MansionBet | Không có | ||
| 2017-2019 | Umbro | MansionBet | |||
| 2019-2020 | MansionBet / Vitality | ||||
| 2020-2021 | MSP Capital | Không có | DWP Housing Partnership | United Pallet Network | |
| 2021-2022 | QuinnBet | ||||
| 2022-2024 | Dafabet | DeWalt | Không có | Không có | |
| 2024- | bj88 | LEOS International | The Soccer Tournament (trong các trận Cúp FA) |
Kình địch
Theo một cuộc thăm dò gần đây mang tên 'The League of Love and Hate' vào tháng 8 năm 2019, người hâm mộ Bournemouth gọi đội láng giềng gần nhất của mình là Southampton là đối thủ lớn nhất, tiếp theo là Portsmouth, Brighton and Hove Albion, Reading và Leeds United.[81]
Kỉ lục và thống kê
Steve Fletcher giữ kỉ lục số lần ra sân cho Bournemouth, với 726 trận cho đội một trong giai đoạn từ năm 1992 tới năm 2013.[82] Fletcher cũng nắm giữ kỉ lục số lần ra sân tại giải vô địch, với 628 trận.[83] Ron Eyre giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất với 229 bàn trong màu áo Bournemouth sau 337 trận cho đội một trong giai đoạn từ năm 1924 tới năm 1933.[84] Ted MacDougall giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải, với 42 bàn ở mùa giải 1970-71 tại Fourth Division.[85]
Phí chuyển nhượng cao nhất mà Bournemouth từng thu về cho tới nay là 65 triệu bảng, từ Tottenham Hotspur cho thương vụ Dominic Solanke vào tháng 8 năm 2024,[86] còn mức phí cao nhất mà câu lạc bộ từng chi ra tới nay là 40,2 triệu bảng, cho Evanilson từ Porto, cũng vào tháng 8 năm 2024.[87]
Thành tích cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch cho tới nay là vị trí thứ 9 tại Premier League, đạt được ở cả mùa giải 2016-17,[88] cũng như mùa giải 2024-25.[89] Thành tích tốt nhất của đội tại FA Cup là vào tới tứ kết ở các mùa giải 1956-57, 2020-21 và 2024-25, trong khi tại EFL Cup, thành tích tốt nhất của Bournemouth là vào tới tứ kết ở các mùa giải 2014-15, 2017-18 và 2018-19.[90]
Danh hiệu
League
- Championship (cấp độ 2)
- Vô địch: 2014-15
- Á quân: 2021-22
- Third Division South / Third Division / League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 1986-87
- Á quân: 1947-48, 2012-13
- Fourth Division / Third Division / League Two (cấp độ 4)
- Á quân: 1970-71, 2009-10
- Thăng hạng: 1981-82
- Vô địch play-off: 2003
- Southern League
- Á quân: 1922-23
Cúp
- Associate Members' Cup / Football League Trophy
- Vô địch: 1983-84
- Á quân: 1997-98
- Third Division South Cup
- Vô địch: 1945-46[92]
Xem thêm
- Danh sách mùa giải AFC Bournemouth
- Danh sách kỉ lục và thống kê AFC Bournemouth
- AFC Bournemouth Women
- Dean Court
- Premier League
Ghi chú
- ↑ Tên đầy đủ của câu lạc bộ là AFC Bournemouth, không được viết tách nghĩa.[1][2] Tiền tố AFC không phải là từ viết tắt, mà được đưa vào tên đầy đủ dưới dạng các chữ cái để bảo đảm AFC Bournemouth sẽ đứng trước Arsenal và Aston Villa trong các danh sách xếp theo thứ tự chữ cái.[3] Các chữ cái này là sự gợi nhắc tới tên cũ của câu lạc bộ là Bournemouth and Boscombe Athletic Football Club chứ không phải viết tắt của tên đó.[4] Tuy vậy, bên thứ ba đôi khi vẫn triển khai sai AFC thành Athletic Football Club[5] hoặc Association Football Club.[6]
- ↑ Black Knight Football Club UK Limited là công ty con do Foley Entertainment Group sở hữu.[8].
Tham khảo
- 1 2 "Company details". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Club trademarks". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "AFC Bournemouth". Premier Skills English. British Council. ngày 17 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
The AFC is part of the name and not an abbreviation. The name was changed by Dickie Dowsett who was the club's commercial manager and an ex-player. He insisted that the AFC should not stand for anything because that way, the club would appear in alphabetical league lists above Arsenal and Aston Villa and is why the club is the first in the list of clubs on the Premier League and Premier Skills English websites.
- ↑ "AFC Bournemouth". Premier Skills English. British Council. ngày 17 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
The AFC recalls the older name of the club, it represents Athletic Football Club, but it does not stand for Athletic Football Club.
- ↑ Burt, Jason (ngày 8 tháng 2 năm 2018). "Ticket-price war places clubs at a tipping point". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
Each of the 20 teams in the Premier League are clubs – from Manchester United Football Club to Athletic Football Club Bournemouth (AFC Bournemouth).
- ↑ "Association Football Club Bournemouth". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Premier League Handbook 2022/23" (PDF). ngày 19 tháng 7 năm 2022. tr. 4. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
- ↑ https://www.foleyentertainmentgroup.com/affiliate-list/
- ↑ Tanner, Jack (ngày 13 tháng 1 năm 2023). "Bill Foley outlines Black Knight Football Club structure". Bournemouth Daily Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "AFC Bournemouth History". Bournemouth: AFC Bournemouth. ngày 12 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015.
- ↑ The official Handbook of Bournemouth and Boscombe Athletic Football Club; Golden Jubilee 1899-1949
- ↑ "AFCB Club History". ngày 24 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Holley, Duncan; Chalk, Gary (1992). The Alphabet of the Saints. ACL & Polar Publishing. tr. 270. ISBN 0-9514862-3-3.
- ↑ "Ever Wonder why Bournemouth are nicknamed The Cherries?". NBC Sports (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Football Club History Database – A F C Bournemouth". fchd.info. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2024.
- 1 2 "A F C Bournemouth". Football Club History Database. Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Bournemouth AFC". The Beautiful History. Han van Eijden. ngày 14 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "AFC Bournemouth". Bournemouth.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Cherries launch evolved crest". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015.
- ↑ Roopanarine, Les (2011). Harry Redknapp-The Biography. John Blake Publishing. ISBN 9781843589426. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "When Supermac scored nine". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Struthers, Greg (ngày 8 tháng 1 năm 2006). "Caught in Time: Bournemouth beat Manchester United, FA Cup, 1984". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ↑ "8 tháng 1 năm 1984: Bournemouth 2 Man Utd 0". The Observer. London. ngày 6 tháng 1 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ↑ Perrett, Neil (ngày 24 tháng 5 năm 2019). "Cup win was simply red-markable for club legend Mozzy". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
"What the FA Cup Final really means to Hull fans". The Yorkshire Post. Leeds. ngày 15 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
"Hull City v AFC Bournemouth, 24 tháng 5 năm 1984". 11v11.com. AFS Enterprises. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020. - 1 2 "Bournemouth, Poole, Christchurch news, sports and jobs. Dorset and Hampshire what's on and leisure – Cherry-o Leeds!". Archive.bournemouthecho.co.uk. ngày 5 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
- ↑ "Records". efl.com. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Ex-Saints coach unveiled as Cherries boss". dailyecho.co.uk. ngày 12 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Cherries go into administration". BBC Sport. ngày 8 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
- ↑ "3 April Press conference transcript". AFC Bournemouth. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
- ↑ "Football Club History Database – A F C Bournemouth". fchd.info. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2024.
- ↑ Troubled League Two clubs on the brink Lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine The Guardian, 6 tháng 8 năm 2008
- ↑ Bournemouth hit by 17 point penalty Lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine The Guardian, 7 tháng 8 năm 2008
- ↑ Quinn and Cherries Part Company Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine Bournemouth Daily Echo, 31 December 2008
- ↑ "Howe handed permanent role". Sky Sports. ngày 19 tháng 1 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2009.
- ↑ Club Confirms Baker Buy-Out Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine Bournemouth Daily Echo, 31 December 2008
- ↑ Bournemouth Launch New Crest[liên kết hỏng vĩnh viễn] Football-shirts.co.uk, 15 July 2013
- ↑ "Managerless Birmingham City suffered a humiliating defeat as Bournemouth scored eight goals at St Andrew's". BBC Sport. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Gallery: All the incredible pictures as Cherries are crowned champions of Football League". Bournemouth Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Prem Report Card: Bournemouth". ESPN.com. ngày 18 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "Wilson gets winner as Bournemouth beat West Brom". BBC Sport. ngày 10 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Simpson, Christopher. "Nathan Ake Officially Completes Bournemouth Transfer from Chelsea for Record Fee". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Howe wins January Barclays Manager of the Month". Premier League. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "AFC Bournemouth 🍒 on Twitter". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua Twitter.
- ↑ "Premier League Table, Form Guide & Season Archives". Premier League. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Cherries Complete Rico Swoop". AFC Bournemouth. ngày 24 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Lerma signs in club record deal". AFC Bournemouth. ngày 7 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Leicester go third with win at Palace". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Bournemouth 0-2 Southampton: Eddie Howe 'deeply hurt' after devastating defeat". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Richards, Alex (ngày 26 tháng 7 năm 2020). "Premier League relegation decided as Watford and Bournemouth down on final day". Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Eddie Howe leaves Bournemouth by mutual consent after relegation". BBC Sport. ngày 1 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Bournemouth fined £7.6m after breaching Financial Fair Play rules". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "CHERRIES CHARGED AFC Bournemouth agree to pay £4.75million fine for breaching Financial Fair Play rules". Talksport. ngày 5 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Bournemouth face hefty fine by the Football League for breaking Financial Fair Play rules". Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Jason Tindall Appointed AFC Bournemouth Manager". AFC Bournemouth. ngày 8 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Club statement: Jason Tindall". AFC Bournemouth. ngày 3 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Woodgate to remain in charge". AFC Bournemouth. ngày 21 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Brentford 3-1 AFC Bournemouth". BBC Sport. ngày 22 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Parker unveiled as head coach". AFC Bournemouth. ngày 28 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Reading 0-2 Bournemouth: Dominic Solanke and Jamal Lowe goals restore Cherries' five-point Championship lead". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ "Nottingham Forest fans deliver 'horrible' verdict as Bournemouth clinch promotion". NottinghamshireLive. ngày 3 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2022.
- ↑ Moore sends Bournemouth to the PREMIER LEAGUE | AFC Bournemouth 1-0 Nottingham Forest (bằng tiếng Anh), ngày 4 tháng 5 năm 2022, lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2022, truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022
- ↑ "STATEMENT: Scott Parker". AFCB. ngày 30 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "What led to Scott Parker's sacking; are Bournemouth 'under-equipped' for the Premier League?". YouTube. ngày 30 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Gary O'Neil appointed head coach". AFCB. ngày 27 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Partnership Led by William P. Foley, II and Cannae Holdings, Inc. Announces Completion of the Acquisition of A.F.C. Bournemouth". www.yahoo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Bournemouth deal means 8 EPL clubs U.S.-owned". www.sportsbusinessjournal.com. ngày 13 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Bournemouth takeover: American businessman Bill Foley's consortium completes purchase worth over £100m". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Andoni Iraola appointed AFC Bournemouth head coach". AFCB. ngày 19 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Records broken on and off the field in 2023-24 campaign". AFC Bournemouth. ngày 20 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Semenyo double caps historic season for the Cherries". Premier League. ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "First team". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "AFC Bournemouth Staff Profiles". AFC Bournemouth. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Bournemouth: Eddie Mitchell's 'important role in Cherries' journey'". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Davis, Daniel (ngày 15 tháng 12 năm 2022). "The catalyst for Bournemouth's success, Maxim Demin leaves behind a stunning legacy at the club". DorsetLive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Bournemouth manager history". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Redknapp, Harry (2014). Always Managing. p. 109. Random House
- ↑ "Q&A: All you need to know about AFC Bournemouth – Journalism & News from Bournemouth University". Buzz. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "BJ88 TO BECOME FRONT OF SHIRT PARTNER". AFC Bournemouth. ngày 23 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "CLUB SIGNS A TWO-YEAR PARTNERSHIP WITH LEOS INTERNATIONAL". AFC Bournemouth. ngày 24 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "AFC Bournemouth - Historical Kits". Historicalkits.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2016.
- ↑ "The top five rivals of English football's top 92 clubs have been revealed". Givemesport.com. ngày 27 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "Steve Fletcher talks about his enduring love for football and his club". Daily Echo. ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Oakley, Will (ngày 9 tháng 9 năm 2021). "Bournemouth legends quiz: 5 quickfire questions on Steve Fletcher". the72.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Every Premier League club's all-time league record scorer". Talksport.com. ngày 11 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Ted MacDougall Player Profile". Football-england.com. ngày 11 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Tottenham complete £65m deal for striker Solanke". BBC Sport. ngày 10 tháng 8 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Bournemouth seal record deal for £40.2m Evanilson". BBC Sport. ngày 16 tháng 8 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Bournemouth 2016/17 Premier League season review". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Leyser, Crispin (ngày 25 tháng 5 năm 2025). "Liverpool Won the 2024/25 Premier League but Bournemouth, Brentford, Palace and Fulham are the Unsung Heroes". Athlon Sports. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "AFC Bournemouth". stevesfootballstats.uk. ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "AFC Bournemouth football club honours". 11v11. AFS Enterprises. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Rollin, Jack (2005). Soccer at War 1939-45. Headline. tr. 259. ISBN 0-7553-1431-X.
Liên kết ngoài
Các trang web độc lập
- A.F.C. Bournemouth trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Bournemouth tại Sky Sports
- AFC Bournemouth tại Premier League
- AFC Bournemouth tại UEFA
Bản mẫu:AFC BournemouthBản mẫu:Cầu thủ xuất sắc nhất năm AFC BournemouthBản mẫu:Mùa giải AFC Bournemouth
Bản mẫu:Bournemouth
