Brighton & Hove Albion F.C.
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh |
| |||
| Tên ngắn gọn | Brighton | |||
| Thành lập | 24 tháng 6 năm 1901 | |||
| Sân | Sân vận động Falmer | |||
| Sức chứa | 31.876[1] | |||
| Chủ sở hữu | Tony Bloom | |||
| Chủ tịch điều hành | Tony Bloom | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Fabian Hürzeler | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | |||
| 2024-25 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 8 trên 20 | |||
| Website | brightonandhovealbion | |||
Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion, thường được gọi đơn giản là Brighton, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Brighton and Hove, Đông Sussex, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Sân nhà của đội là Sân vận động từ năm 2011, sau khi từng chơi ở Goldstone Ground trong phần lớn thế kỉ 20.
Được thành lập vào năm 1901, Brighton thi đấu bóng đá chuyên nghiệp trong giai đoạn đầu tại Southern League. Sau đó, đội được bầu vào Football League vào năm 1920. Trong giai đoạn từ năm 1979 tới năm 1983, đội chơi tại First Division, đồng thời vào tới chung kết Cúp FA 1983, nơi họ thua Manchester United sau trận đá lại.[2] Brighton cũng bị xuống hạng khỏi First Division ngay trong chính mùa giải đó.
Tới cuối thập niên 1990, Brighton đã rơi xuống hạng Tư của bóng đá Anh và gặp khó khăn tài chính. Sau khi chỉ vừa đủ tránh được việc xuống hạng khỏi Football League xuống Conference vào năm 1997, một cuộc tiếp quản ở thượng tầng đã cứu câu lạc bộ khỏi nguy cơ bị thanh lí. Hai lần thăng hạng liên tiếp vào các năm 2001 và 2002 đưa Brighton trở lại hạng Hai, và tới năm 2011, câu lạc bộ chuyển vào Falmer Stadium sau 14 năm không có sân nhà cố định. Ở mùa giải 2016-17, Brighton kết thúc ở vị trí thứ hai tại EFL Championship và nhờ đó giành quyền thăng hạng lên Premier League, chấm dứt 34 năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất. Trong mùa giải 2022-23, Brighton đứng thứ sáu tại Premier League, thành tích cao nhất của đội ở hạng đấu cao nhất trong lịch sử, đồng thời giành quyền tham dự UEFA Europa League; lần đầu tiên câu lạc bộ góp mặt ở đấu trường châu Âu cấp câu lạc bộ.
Brighton có biệt danh là the Seagulls và trong phần lớn lịch sử của mình, đội sử dụng áo sọc xanh-trắng. Mối kình địch dữ dội và lâu đời nhất của câu lạc bộ là với Crystal Palace, được hình thành từ thập niên 1970 vì những lí do cạnh tranh.
Lịch sử
Thành lập và những năm đầu (1901-1972)
Brighton & Hove Albion F.C. được thành lập vào năm 1901, và 19 năm sau, vào năm 1920, đội được bầu vào Football League ở Third Division mới — trước đó họ từng là thành viên của Southern League. Tại Southern League, đội giành được danh hiệu cấp quốc gia duy nhất tính tới nay là FA Charity Shield, giải đấu khi đó diễn ra giữa đội vô địch Southern League và đội vô địch Football League, bằng chiến thắng trước nhà vô địch Football League là Aston Villa vào năm 1910.[3] Sau khi chuyển sang giải Third Division South mang tính khu vực vào năm 1921, Brighton trụ lại ở hạng đấu này cho tới mùa giải 1957-58, khi đội vô địch và đồng thời giành quyền thăng hạng lên Second Division, đúng vào thời điểm các giải North và South mang tính khu vực được hợp nhất thành Third Division và Fourth Division trên quy mô toàn quốc cho mùa giải 1958-59. Albion duy trì vị thế ở hạng Hai cho tới khi xuống hạng vào năm 1962, rồi tiếp tục xuống hạng thêm một lần nữa vào năm 1963, qua đó lần đầu tiên rơi xuống Fourth Division. Đội vô địch Fourth Division ở mùa giải 1964-65 và ở lại Third Division cho tới năm 1972, khi về nhì và giành quyền thăng hạng trở lại Second Division.
Những năm của Mike Bamber (1972-1987)
Mike Bamber là chủ tịch của Brighton từ tháng 10 năm 1972 tới năm 1983. Ông nổi tiếng khi đưa Brian Clough tới câu lạc bộ vào năm 1973, rồi sau đó bổ nhiệm cựu tuyển thủ Anh Alan Mullery làm huấn luyện viên. Cuộc sống của Brighton với tư cách một câu lạc bộ thuộc Football League trước đó hầu như không mang lại nhiều thành công hay sự chú ý, cho tới năm 1979, khi dưới sự dẫn dắt của Mullery, đội giành quyền thăng hạng lên First Division với tư cách á quân Second Division. Mùa giải 1982-83 chứng kiến một khởi đầu thiếu ổn định của câu lạc bộ, với những chiến thắng trước Arsenal và Manchester United xen lẫn các thất bại nặng nề. Huấn luyện viên Mike Bailey cuối cùng mất việc vào đầu tháng 12 năm 1982. Jimmy Melia lên thay nhưng không thể xoay chuyển tình thế, và Brighton, sau bốn mùa giải ở hạng đấu cao nhất, đã xuống hạng năm 1983, đứng cuối bảng.
Bất chấp việc xuống hạng, Brighton trong mùa giải đó đã vào tới trận Cúp FA chung kết đầu tiên trong lịch sử và hòa 2-2 với Manchester United ở trận đầu tiên. Các bàn thắng của Brighton được ghi bởi Gordon Smith và Gary Stevens. Trận chung kết có pha bỏ lỡ khét tiếng của Gordon Smith ở cú đá cuối cùng của hiệp phụ, khiến bình luận viên Peter Jones của BBC thốt lên câu nói nổi tiếng: "...and Smith must score". Cú dứt điểm của Smith đã bị thủ môn Gary Bailey bên phía Manchester United cản phá. Ở trận đá lại, Manchester United thắng 4-0.
Xuống hạng, những năm cuối cùng, và được Knight cứu sống (1987-1997)

Sau bốn mùa giải, Brighton xuống hạng xuống Division Three vào năm 1987, nhưng đã thăng hạng trở lại ngay ở mùa giải kế tiếp. Năm 1991, đội thua Notts County 1-3 trong trận chung kết play-off tại Wembley, rồi bị xuống hạng ở mùa giải sau đó xuống Division Two, tên gọi mới của hạng đấu. Năm 1996, đội tiếp tục xuống hạng xuống Division Three. Tình hình tài chính của câu lạc bộ lúc này trở nên ngày càng bấp bênh, và các giám đốc quyết định rằng Goldstone Ground phải bị bán đi để trả bớt một phần các khoản nợ lớn của câu lạc bộ. Huấn luyện viên Jimmy Case bị sa thải sau khi khởi đầu rất tệ ở mùa giải 1996-97 khiến Brighton bị bỏ lại ở đáy bảng với khoảng cách lớn. Ban lãnh đạo câu lạc bộ bổ nhiệm Steve Gritt, cựu đồng huấn luyện viên của Charlton Athletic, làm huấn luyện viên — Gritt là một nhân vật tương đối ít tên tuổi. Thành tích tại giải của Brighton cải thiện đều đặn dưới thời Gritt, dù cơ hội trụ hạng được cải thiện ấy lại tiếp tục bị đe dọa bởi án phạt trừ hai điểm từ Football Association, áp dụng như hình phạt cho một vụ khán giả tràn xuống sân để phản đối việc bán Goldstone Ground. Một cổ động viên suốt đời của câu lạc bộ là Dick Knight nắm quyền kiểm soát Brighton vào năm 1997 sau khi dẫn đầu áp lực từ người hâm mộ nhằm lật đổ ban lãnh đạo trước đó בעקבות việc họ bán Goldstone Ground cho các nhà phát triển bất động sản.[4]
Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải, sau khi từng kém nhóm an toàn tới 13 điểm ở một thời điểm, Brighton đã thoát khỏi đáy bảng và phải đối đầu trực tiếp với đội đứng ngay dưới họ là Hereford United để tránh xuống hạng khỏi Football League. Nếu Brighton thắng hoặc hòa, họ sẽ trụ hạng. Hậu vệ Kerry Mayo của Brighton phản lưới nhà trong hiệp một, và dường như hành trình 77 năm của Brighton ở giải đấu đã chấm dứt. Tuy nhiên, bàn gỡ muộn của Robbie Reinelt đã giúp Brighton giữ lại vị thế của mình tại giải đấu nhờ số bàn thắng ghi được nhiều hơn (dù Hereford có hiệu số bàn thắng bại tốt hơn, nhưng trong Football League thời điểm đó, số bàn thắng ghi được được ưu tiên hơn), và chuỗi 25 năm của Hereford ở giải đấu thay vào đó đã kết thúc.
Thời kì Withdean và thương vụ tiếp quản của Bloom (1997-2011)
Việc bán Goldstone Ground được hoàn tất vào năm 1997, khiến Brighton phải chơi các trận sân nhà cách đó khoảng 70 dặm tại sân Priestfield của Gillingham trong hai mùa giải. Micky Adams được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Brighton vào năm 1999. Trước khi bắt đầu mùa giải 1999-2000, the Seagulls có được hợp đồng thuê để chơi các trận sân nhà tại Withdean Stadium, một sân điền kinh cải tạo tại Brighton thuộc sở hữu của chính quyền địa phương.
Mùa giải 2000-01 là mùa giải thành công đầu tiên của Brighton sau 13 năm. Đội vô địch Division Three và thăng hạng lên Division Two. Adams rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 2001 để làm trợ lí cho Dave Bassett tại Leicester City, và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Leicester là Peter Taylor. Sự chuyển giao này mang lại tác động tích cực cho Brighton, khi đội duy trì được phong độ tốt và kết thúc mùa giải với chức vô địch Division Two, qua đó giành lần thăng hạng thứ hai liên tiếp. Chỉ năm năm sau khi gần như chịu chung mối đe dọa kép là mất vị thế trong Football League và phá sản, Brighton đã chỉ còn cách Premier League đúng một hạng đấu.
Vào tháng 5 năm 2009, Knight được thay thế trên cương vị chủ tịch Brighton bởi Tony Bloom, người đã thành công trong việc đảm bảo gói tài trợ 93 triệu bảng cho sân vận động mới Falmer Stadium và nắm 75% cổ phần của câu lạc bộ.[5]
Mùa giải cuối cùng của Brighton tại Withdean là 2010-11, mùa giải mà đội vô địch League One dưới sự dẫn dắt của Gus Poyet. Ở mùa giải tiếp theo, Brighton thay đổi huy hiệu của mình sang một thiết kế tương tự huy hiệu được dùng từ thập niên 1970 tới thập niên 1990. Điều này nhằm phản ánh việc câu lạc bộ trở về nhà sau quãng thời gian không có sân vận động riêng kể từ năm 1997.
Chuyển tới sân vận động mới và thăng hạng dưới thời Hughton (2011-2017)
Falmer Stadium tổ chức trận đấu tại giải đầu tiên vào ngày khai màn mùa giải 2011-12, gặp Doncaster Rovers, cũng chính là đối thủ cuối cùng từng chơi tại Goldstone Ground năm 1997. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 2-1 cho Brighton. Mùa giải 2012-13 chứng kiến Brighton đứng thứ tư và thua Crystal Palace ở bán kết play-off. Poyet bị đình chỉ công tác huấn luyện sau những bình luận gây tranh cãi trong cuộc phỏng vấn sau trận,[6] sau đó bị sa thải và được thay bằng Óscar García.
Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 2013-14, Brighton đánh bại Nottingham Forest 2-1 với bàn thắng ở phút cuối của Leonardo Ulloa để giành vị trí thứ sáu. Sau khi thua Derby County ở bán kết play-off, García từ chức. Sami Hyypiä được bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho mùa giải 2014-15 nhưng từ chức chỉ sau bốn tháng vì chuỗi kết quả nghèo nàn, và được thay thế bởi Chris Hughton. Ở chiến dịch sau đó, Brighton lại đua tranh suất thăng hạng, được tiếp sức bởi chuỗi 21 trận bất bại từ ngày khai màn tới ngày 19 tháng 12. Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải, Brighton hành quân tới sân Middlesbrough với yêu cầu buộc phải thắng để giành quyền thăng hạng lên Premier League, nhưng trận hòa 1-1 khiến đội chỉ xếp thứ ba và phải dự play-off, nơi thất bại trước Sheffield Wednesday là lần thứ ba Brighton thua ở bán kết play-off trong bốn mùa giải. Tiền vệ Beram Kayal, người gia nhập đội từ Celtic vào tháng 1 năm 2015, được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải 2015-16 của câu lạc bộ, đồng thời góp phần vào cuộc đua thăng hạng của Brighton và sau đó là các chiến dịch trụ hạng tại Premier League.[7]
Brighton khởi đầu mùa giải 2016-17 với chuỗi 18 trận bất bại, đưa đội lên đầu bảng trong phần lớn tháng 12 và tháng 1. Đội ở trong nhóm thăng hạng trực tiếp trong phần lớn thời gian còn lại của mùa giải, và chính thức giành quyền thăng hạng lên Premier League sau chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Wigan Athletic vào ngày 17 tháng 4 năm 2017.[8]
Trở lại hạng đấu cao nhất (2017-nay)
Mùa giải đầu tiên của Brighton tại Premier League nhìn chung là một mùa giải thành công, khi câu lạc bộ nhiều lần vươn lên nửa trên bảng xếp hạng trong mùa bóng. Sau khi chỉ hơn nhóm xuống hạng một điểm vào tháng 1, những chiến thắng trước Arsenal và Manchester United trong những tháng cuối của chiến dịch đã giúp đội bảo đảm vị trí thứ 15.
Câu lạc bộ trải qua mùa giải thứ hai đầy khó khăn ở hạng đấu cao nhất, chỉ vừa đủ tránh xuống hạng với vị trí thứ 17. Tại Cúp FA, Brighton vào tới vòng bán kết lần đầu tiên מאז năm 1983, nhưng thua 0-1 trước Manchester City. Hughton bị sa thải sau khi mùa giải khép lại vì chuỗi kết quả nghèo nàn.[9]
Sau khi Hughton bị sa thải, huấn luyện viên Swansea City là Graham Potter được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới theo bản hợp đồng có thời hạn bốn năm.[10] Potter gia hạn hợp đồng thêm hai năm vào tháng 11 năm 2019.[11] Từ tháng 3 tới tháng 6 năm 2020, mùa giải bị tạm dừng vì đại dịch COVID-19.[12] Brighton lần lượt kết thúc ở các vị trí thứ 15 và thứ 16 trong hai mùa giải đầu tiên của Potter, đồng thời bảo đảm mùa giải thứ năm liên tiếp tại Premier League vào tháng 5 năm 2021, qua đó giúp giai đoạn hiện tại của họ ở hạng đấu cao nhất vượt qua quãng thời gian trước đó từ năm 1979 tới năm 1983.[13]
Mùa giải 2021-22 của câu lạc bộ khép lại với vị trí thứ chín tại Premier League, thứ hạng cao nhất mà Brighton từng đạt được ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, cùng số điểm kỉ lục là 51 điểm.[14] Vào tháng 9 năm 2022, Potter rời câu lạc bộ để trở thành huấn luyện viên trưởng của Chelsea, sau khi Thomas Tuchel bị sa thải.[15]
Ngày 18 tháng 9 năm 2022, Brighton công bố Roberto De Zerbi là huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ.[16] Mùa giải bị tạm dừng vì 2022 FIFA World Cup, giải đấu mà tiền vệ Alexis Mac Allister của Brighton đóng vai trò quan trọng trong chức vô địch của Argentina, bao gồm cả việc đá chính và kiến tạo trong trận chung kết. Brighton vào tới trận bán kết Cúp FA thứ hai trong vòng bốn mùa giải, nhưng thua Manchester United trên chấm luân lưu sau trận hòa 0-0.[17] Ngày 21 tháng 5 năm 2023, Brighton giành quyền dự cúp châu Âu lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến thắng 3-1 trước Southampton.[18] Ba ngày sau, sau trận hòa 1-1 với Manchester City, Brighton chính thức giành quyền vào vòng bảng 2023-24 UEFA Europa League.[19] Brighton kết thúc mùa giải ở vị trí thứ sáu với số điểm kỉ lục là 62 điểm.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, Brighton đứng đầu bảng đấu tại UEFA Europa League và giành quyền vào vòng 16 đội sau chiến thắng 1-0 trước Marseille.[20] Brighton sau đó bị loại ở vòng 16 đội bởi Roma với tổng tỉ số 1-4 vào ngày 14 tháng 3 năm 2024.[21] Ngày 18 tháng 5 năm 2024, Brighton và De Zerbi đi đến thỏa thuận chấm dứt hợp đồng vào cuối mùa giải 2023-24, khi Brighton rơi xuống vị trí thứ 11 ở vòng đấu cuối với 48 điểm, bị đối thủ truyền kiếp Crystal Palace vượt qua về hiệu số bàn thắng bại sau khi đã xếp trên trong suốt cả mùa giải.[22]
Vào tháng 6 năm 2024, De Zerbi được thay thế bởi Fabian Hürzeler, người trở thành huấn luyện viên chính thức trẻ nhất trong lịch sử Premier League ở tuổi 31.[23] Hürzeler từng là huấn luyện viên của FC St. Pauli, nơi ông đưa đội bóng này trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Đức sau 13 năm vắng mặt.[24] Trận chính thức đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên Brighton diễn ra vào ngày 17 tháng 8 năm 2024, gặp Everton. Brighton thắng trận này với tỉ số 3-0. Hürzeler giành giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của Premier League cho tháng 8 năm 2024 sau khởi đầu bất bại ở mùa giải.[25][26] Brighton kết thúc mùa giải 2024-25 ở vị trí thứ tám.[27]
Sân vận động
Goldstone Ground

Trong 95 năm, Brighton and Hove Albion đặt đại bản doanh tại Goldstone Ground ở Hove, cho tới khi ban giám đốc quyết định bán sân vận động này. Việc bán sân, do cổ đông lớn nhất Bill Archer và giám đốc điều hành David Bellotti thực hiện, đã gây tranh cãi lớn, và động thái này châm ngòi cho các cuộc phản đối rộng khắp nhắm vào ban lãnh đạo. Câu lạc bộ hầu như không nhận được, hoặc nhận được rất ít, tiền từ thương vụ này.[28]
Ở mùa giải cuối cùng tại Goldstone, 1996-97, the Seagulls đứng trước nguy cơ xuống hạng khỏi Football League. Họ thắng trận cuối cùng trên sân Goldstone trước Doncaster Rovers,[29] qua đó dẫn tới trận “đội thắng giành tất cả” trong cuộc chiến trụ hạng với Hereford United, đội bằng điểm với the Seagulls. Brighton hòa 1-1, và Hereford bị xuống hạng xuống Football Conference do kém số bàn thắng ghi được.[30]
Sân vận động Withdean

Trong hai năm, từ 1997 tới 1999, câu lạc bộ thuê chung Sân vận động Priestfield, sân nhà của Gillingham, trước khi trở lại Brighton để thi đấu tại Sân vận động Withdean. Đây vốn không phải sân bóng đá chuyên dụng, bởi nơi này trong phần lớn lịch sử được dùng cho điền kinh, và trước đó còn từng là một vườn thú.[31]
Vì chi phí của cuộc điều tra công khai liên quan tới giấy phép quy hoạch cho sân vận động mới, tiền thuê Withdean Stadium, các khoản phải trả để sử dụng Priestfield Stadium của Gillingham, cùng tình trạng thâm hụt vận hành nói chung do lượng vé bán ra thấp vốn là điều tất yếu ở một sân nhỏ, câu lạc bộ tích lũy khoản thâm hụt 9,5 triệu bảng vào năm 2004. Ban giám đốc đã chi trả 7 triệu bảng; 2,5 triệu bảng còn lại phải được huy động từ hoạt động của câu lạc bộ. Để làm điều đó, một chiến dịch gây quỹ mang tên Alive and Kicking Fund được phát động, với đủ mọi hình thức từ thiệp Giáng sinh ảnh nude có sự xuất hiện của cầu thủ cho tới việc phát hành một đĩa đơn CD nhằm gây quỹ. Ngày 9 tháng 1 năm 2005, đĩa đơn gây quỹ này, Tom Hark, tiến thẳng lên vị trí thứ 17 trên bảng xếp hạng tại Anh và được phát sóng trên toàn quốc qua BBC Radio 1.[32]
Sân vận động Falmer

Sân nhà của câu lạc bộ là Sân vận động Falmer, nằm trên Village Way, Brighton.
Ngày 28 tháng 10 năm 2005, Office of the Deputy Prime Minister thông báo rằng đơn xin xây dựng sân Falmer đã được chấp thuận. Hội đồng quận Lewes phản đối quyết định của John Prescott về việc phê duyệt giấy phép quy hoạch cho Falmer, buộc phải tiến hành một cuộc xem xét tư pháp. Cơ sở của việc này là một lỗi nhỏ trong văn bản phê duyệt ban đầu của Prescott, khi ông không nêu rõ rằng một phần bãi đỗ xe dành cho sân vận động nằm trong địa phận quận Lewes chứ không phải thuộc chính quyền đơn nhất Brighton & Hove. Điều này gây ra thêm trì hoãn. Khi cuộc xem xét tư pháp đưa ra phán quyết có lợi cho dự án sân vận động, Hội đồng quận Lewes tuyên bố rằng họ sẽ không tiếp tục kháng nghị thêm.
Việc xây dựng Falmer Stadium bắt đầu vào tháng 12 năm 2008. Ngày 31 tháng 5 năm 2011, câu lạc bộ chính thức hoàn tất việc bàn giao và nhận chìa khóa sân với sức chứa ban đầu là 22.374 chỗ ngồi, đánh dấu chấm hết cho 14 năm không có sân nhà được chỉ định. Trong tháng 1 năm 2012, câu lạc bộ nộp đơn lên hội đồng thành phố Brighton and Hove để tăng thêm 8.000 chỗ ngồi cho sân, đồng thời bổ sung thêm các phòng khách doanh nghiệp, cơ sở truyền hình mới và một khu phòng suite cao cấp.[33] Đề xuất này được ủy ban quy hoạch của Hội đồng thành phố Brighton & Hove thông qua nhất trí vào ngày 25 tháng 4 năm 2012. Sân sau đó được mở rộng lên 27.250 chỗ khi bắt đầu mùa giải 2012-13, rồi tiếp tục lên 27.750 chỗ trong tháng 12 năm 2012 trước khi đạt 30.750 chỗ vào tháng 5 năm 2013.
Năm 2020, câu lạc bộ nộp kế hoạch mở rộng sân từ 30.750 chỗ lên 32.500 chỗ, bao gồm cả việc tăng thêm không gian hospitality. Năm 2021, sân được mở rộng lên 31.800 chỗ, dù vẫn còn một số hạng mục chưa hoàn tất.[34]
Màu sắc và trang phục
Trong phần lớn lịch sử của Brighton, đội chơi trong trang phục áo xanh-trắng, thường là sọc dọc, với nhiều cách phối khác nhau giữa quần đùi và tất màu trắng hoặc xanh,[35] dù điều này từng thay đổi trong một thời gian ngắn sang toàn trắng vào thập niên 1970 và sau đó là xanh hoàng gia trơn vào đầu thập niên 1980.[36]
Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ
Kể từ năm 2014, trang phục của câu lạc bộ do Nike sản xuất. Các nhà sản xuất trước đó gồm Bukta (1971-74, 1977-80), Admiral (1974-75, 1994-97), Umbro (1975-77), Adidas (1980-87), Spall (1987-89), Sports Express (1989-91), Ribero (1991-94), Superleague (1997-99), và Erreà (1999-2014).Nhà tài trợ hiện tại trên mặt trước áo là American Express. Các nhà tài trợ trước đây gồm British Caledonian Airways (1980-83), Phoenix Brewery (1983-86), NOBO (1986-91), TSB Bank (1991-93), Sandtex (1993-98), Donatello (1998-99), Skint Records (1999-2008), IT First (2008-11), và BrightonandHoveJobs.com (2011-13). Nhà tài trợ hiện tại trên tay áo là Experience Kissimmee.[37] Các nhà tài trợ tay áo trước đây gồm JD Sports,[38] và Snickers UK.[39]
| Year | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) | Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) | Nhà tài trợ áo đấu (sau lưng) | Nhà tài trợ quần đùi |
|---|---|---|---|---|---|
| 1971-1974 | Bukta | Không có | Không có | Không có | Không có |
| 1974-1975 | Admiral | ||||
| 1975-1977 | Umbro | ||||
| 1977-1980 | Bukta | ||||
| 1980-1983 | Adidas | British Caledonian | |||
| 1983-1986 | Phoenix Brewery | ||||
| 1986-1987 | NOBO | ||||
| 1987-1989 | Spall | ||||
| 1989-1991 | Sports Express | ||||
| 1991-1993 | Ribero | TSB Bank | |||
| 1993-1994 | Sandtex | ||||
| 1994-1997 | Admiral | ||||
| 1997-1998 | Superleague | ||||
| 1998-1999 | Donatello Restaurant | ||||
| 1999-2004 | Erreà | Skint Records | |||
| 2004-2005 | Alive and Kicking Fund | ||||
| 2005-2008 | Donatello Restaurant | Donatello Restaurant | |||
| 2008-2011 | IT First | ||||
| 2011-2013 | BrightonandHoveJobs.com | ||||
| 2013-2014 | American Express | American Express | American Express | ||
| 2014-2017 | Nike | ||||
| 2017-2020 | JD Sports | Không có | Không có | ||
| 2020-2024 | Snickers UK | ||||
| 2024-nay | Experience Kissimmee |
Kình địch
Dù hai câu lạc bộ cách nhau gần 40 mi (64 km), Crystal Palace vẫn là đối thủ lớn nhất của Brighton, với nguồn gốc bắt đầu từ thập niên 1970 và sự thù địch giữa hai huấn luyện viên Alan Mullery và Terry Venables, những người tiếp quản Brighton và Palace lần lượt vào năm 1976 trước một mùa giải sít sao ở Third Division, nơi hai đội cùng với Mansfield Town cạnh tranh quyết liệt. Mùa giải ấy kết thúc khi cả Palace lẫn Brighton đều bị Mansfield vượt mặt trong cuộc đua vô địch; tuy nhiên cả hai đội đều thăng hạng, và sự thù địch giữa hai huấn luyện viên đã tạo nên mối kình địch dữ dội giữa hai đội bóng. Điều này tiếp tục kéo dài sang mùa giải sau tại Second Division, khi Brighton — đội đã kết thúc mùa giải của mình ở ngôi đầu — rơi xuống vị trí thứ hai sau khi Palace thắng trận đấu bù với Burnley vào cuối tuần tiếp theo, qua đó vượt qua Brighton để vô địch với cách biệt một điểm.[40] Ngoài ra, tuyến đường A23 road nối thẳng Brighton với Croydon, nơi đặt sân Selhurst Park của Palace. Điều này khiến truyền thông gọi mối kình địch này là derby A23 hoặc M23,[41][42] mặc dù người hâm mộ của cả hai câu lạc bộ đều không dùng cách gọi này.
Nằm ở Đông Sussex, Brighton bị tách biệt với phần lớn các đội bóng khác, khiến họ không có một trận derby địa phương thực sự cố định. Các trận đấu với những đội bóng cùng vùng bờ biển phía nam như Southampton và Portsmouth đôi khi được truyền thông gắn nhãn là derby địa phương, nhưng phần lớn cổ động viên của bất kì đội nào cũng không xem đối phương là kình địch, do khoảng cách giữa các câu lạc bộ lên tới hơn 60 mi (97 km), và do đã tồn tại mối kình địch rất rõ ràng giữa Southampton và Portsmouth.[43][44]
Cầu thủ
Đội hình đội một
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội U-21 và Học viện
Đội dưới 21 tuổi và học viện là các đội trẻ của Brighton & Hove Albion. Các cầu thủ dưới 21 tuổi thi đấu tại Premier League 2, hạng đấu cao nhất dành cho các đội dưới 21 tuổi ở Anh. Họ cũng tham dự EFL Trophy, Premier League Cup, National League Cup, Premier League International Cup và Sussex Senior Challenge Cup.
Các đội học viện phát triển đến cấp độ đội dưới 18 tuổi, đội đang thi đấu tại U18 Premier League Division South.
Các cầu thủ học viện đã được điền tên vào danh sách thi đấu của đội một trong mùa giải 2025-26.Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Các huấn luyện viên
Danh sách
John Jackson 1901-1905
Frank Scott-Walford 1905-1908
Jack Robson 1908-1914
Charlie Webb 1919-1947
Tommy Cook 1947
Don Welsh 1947-1951
Billy Lane 1951-1961
George Curtis 1961-1963
Archie Macaulay 1963-1968
Freddie Goodwin 1968-1970
Pat Saward 1970-1973
Brian Clough 1973-1974
Peter T. Taylor 1974-1976
Alan Mullery 1976-1981
Mike Bailey 1981-1982
Jimmy Melia 1982-1983
Chris Cattlin 1983-1986
Alan Mullery 1986-1987
Barry Lloyd 1987-1993
Liam Brady 1993-1995
Jimmy Case 1995-1996
Steve Gritt 1996-1998
Brian Horton 1998-1999
Jeff Wood 1999
Micky Adams 1999-2001
Peter J. Taylor 2001-2002
Martin Hinshelwood 2002
Steve Coppell 2002-2003
Mark McGhee 2003-2006
Dean Wilkins 2006-2008
Micky Adams 2008-2009
Russell Slade 2009
Gus Poyet 2009-2013
Óscar García 2013-2014
Sami Hyypiä 2014
Chris Hughton 2014-2019
Graham Potter 2019-2022
Roberto De Zerbi 2022-2024
Fabian Hürzeler 2024–
Dòng thời gian

Ban quản lí
| Ban huấn luyện đội một | |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lí huấn luyện viên trưởng | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Huấn luyện viên các tình huống cố định | |
| Trưởng bộ phận phân tích | |
| Chuyên viên phân tích chiến thuật | |
| Tuyển trạch | |
| Trưởng bộ phận tuyển trạch | Trống |
| Quản lí cầu thủ cho mượn | |
| Học viện | |
| Giám đốc học viện | |
| Huấn luyện viên trưởng đội dưới 21 tuổi | |
| Huấn luyện viên trưởng đội dưới 18 tuổi (tạm quyền) | |
| Y tế và thể lực | |
| Trưởng bộ phận thể lực | |
| Bác sĩ câu lạc bộ | |
| Ban lãnh đạo | |
|---|---|
| Chủ tịch | Tony Bloom |
| Giám đốc điều hành kiêm phó chủ tịch | Paul Barber |
| Giám đốc tài chính | Lee Cooper |
| Giám đốc vận hành | Paul Mullen |
| Trưởng bộ phận nhân sự và văn hóa | Rose Read |
| Phó chủ tịch không điều hành | Peter Godfrey |
| Giám đốc không điều hành | Ray Bloom Paul Brown Robert Comer Adam Franks Anna Jones Michelle Walder |
| Ban quản lí cấp cao | |
| Giám đốc điều hành kiêm phó chủ tịch | Paul Barber |
| Giám đốc thể thao | Jason Ayto |
| Giám đốc kĩ thuật | Mike Cave |
| Giám đốc vận hành | Paul Mullen |
| Trưởng bộ phận truyền thông và quan hệ báo chí | Paul Camillin |
| Giám đốc tài chính | Lee Cooper |
| Trưởng bộ phận tiếp thị | Anna Easthope |
| Trưởng bộ phận bán vé và dịch vụ cổ động viên | Jenny Gower |
| Giám đốc công nghệ | Mark Loch |
| Trưởng bộ phận an toàn và an ninh | Adrian Morris |
| Trưởng bộ phận nhân sự và văn hóa | Rose Read |
| Cố vấn pháp lí | Lloyd Thomas |
| Trưởng bộ phận thương mại | Russell Wood |
Danh hiệu

Nguồn:[60]
Giải vô địch
- Second Division / Championship (cấp độ 2)
- Á quân: 1978-79, 2016-17
- Third Division South / Second Division / League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 1957-58, 2001-02, 2010-11
- Fourth Division / Third Division (cấp độ 4)
- Vô địch: 1964-65, 2000-01
- Southern League
- Vô địch: 1909-10
Cúp
- Cúp FA
- Á quân: 1982-83
- FA Charity Shield
- Vô địch: 1910
- Sussex Senior Challenge Cup
- Vô địch (15): 1942-43, 1987-88, 1991-92, 1993-94, 1994-95, 1999-00, 2003-04, 2006-07, 2007-08, 2009-10, 2010-11, 2012-13, 2016-17, 2017-18, 2021-22
- The Sussex Royal Ulster Rifles Charity Cup
- ↑ đồng chia sẻ với Chichester City ở mùa giải 1960-61
Tham khảo
- ↑ "Brighton & Hove Albion".
- ↑ "Chung kết Cúp FA 1983". Fa-CupFinals.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Brighton & Hove Albion Lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine Talk Football. Retrieved 9 tháng 8 năm 2011
- ↑ "Former Albion chairman Dick Knight made freeman of the city". The Argus (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Stadium Funding Secured Lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine, Brighton & Hove Albion F.C., 18 May 2009. Retrieved 18 May 2009
- ↑ Percy, John (ngày 16 tháng 5 năm 2013). "Brighton & Hove Albion suspend manager Gus Poyet for an alleged breach of contract". The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "Goodbye Beram Kayal, the player who kick started the Brighton revolution". WeAreBrighton.com. ngày 22 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Brighton 2-1 Wigan". BBC Sport. ngày 17 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "Chris Hughton sacked by Brighton after four-and-a-half years as manager". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "Graham Potter appointed new Brighton manager after leaving Swansea". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Graham Potter Brighton manager given contract extension to 2025". BBC Sport. ngày 26 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "English football suspended until at least 30 April, governing bodies announce". ngày 19 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Safe as houses – Brighton and Hove Albion can prepare for record-breaking fifth consecutive Premier League season". ngày 10 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2021 – qua brightonandhovenews.org.
- ↑ "Albion secure ninth spot with final day win over West Ham". ngày 22 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022 – qua brightonandhovealbion.com.
- ↑ "Chelsea confirm Graham Potter as new manager after deal struck with Brighton". the Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Roberto De Zerbi confirmed as new Albion head coach". ngày 18 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Burt, Jason; Bagchi, Rob (ngày 23 tháng 4 năm 2023). "Solly March misses as Brighton lose FA Cup semi-final on penalties to Manchester United". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Ferguson hits double as Brighton seal European spot". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Brighton seal Europa League place with Man City draw". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Brighton 1-0 Marseille: Late Joao Pedro winner puts Brighton in Europa League last 16". BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 21 tháng 5 năm 2024). "Brighton 1-0 Roma (Agg: 1-4): Danny Welbeck scores but the Seagulls exit Europa League". BBC. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "De Zerbi to leave Albion after Manchester United match". Brighton & Hove Albion. ngày 18 tháng 5 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
- ↑ (Brighton and Hove Albion Football Club), BHAFC (ngày 15 tháng 6 năm 2024). "Albion appoint Hürzeler as new head coach". www.brightonandhovealbion.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Brighton appoint Hurzeler as head coach". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Hurzeler makes history with Barclays Manager of the Month award". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- ↑ (Brighton and Hove Albion Football Club), BHAFC (ngày 17 tháng 8 năm 2024). "match-centre. gameId=2444472". www.brightonandhovealbion.com. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Premier League Table, Standings & Form Guide". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Club in Crisis Brighton". Club in Crisis. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ "WELCOME – BRIGHTON & HOVE ALBION". Doncaster Rovers F.C. ngày 16 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Archived at Ghostarchive and the Wayback Machine: "WE ARE STAYING UP". ngày 5 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011 – qua YouTube.
- ↑ "Withdean Stadium". Royal Pavilion & Brighton Museums. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ "Brighton fans single makes top 20". BBC. ngày 10 tháng 1 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ "Albion's £36 million plans to push for Premiership". The Argus. ngày 2 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Mills, Richard (ngày 10 tháng 7 năm 2021). "Paul Barber says Brighton have paused plans to max out the Amex's capacity". sussexlive (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Brighton & Hove Albion". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.
- ↑ "Brighton & Hove Albion". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ "Experience Kissimmee announces partnership with Albion". www.brightonandhovealbion.com. ngày 11 tháng 6 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Brighton renew JD sleeve deal". ngày 5 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Snickers UK extend sleeve sponsorship". Brighton & Hove Albion Football Club. ngày 18 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Burnton, Simon (ngày 27 tháng 9 năm 2011). "How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Club Rivalries Uncovered Results" (PDF). FootballFanCensus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Burnton, Simon (2011) How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry, The Guardian, 27 September Lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine (Accessed December 2012)
- ↑ Leach, Tom (ngày 3 tháng 12 năm 2020). "Southampton, Brighton and the Portsmouth and Palace rivalries that really matter". hampshirelive. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Southampton v Brighton: A 'derby' fans don't care about - Scott McCarthy". www.brightonandhoveindependent.co.uk. ngày 15 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Men's Team". Brighton & Hove Albion F.C. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "2025/26 squad numbers confirmed". Brighton & Hove Albion F.C. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Watson completes loan move". Brighton & Hove Albion FC. ngày 1 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Cashin complete Rovers switch". Blackburn Rovers F.C. ngày 6 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Evan Ferguson joins Roma on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Jeremy Sarmiento joins Middlesbrough on loan". Brighton & Hove Albion FC. ngày 27 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Malick Yalcouyé joins Swansea City on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Carl Rushworth joins Coventry City on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Buonanotte makes loan switch". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 15 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Coppola heads to Paris FC on loan". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 29 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Yoon Doyoung joins FC Dordrecht on loan". Brighton & Hove Albion FC. ngày 9 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Who's Who". www.brightonandhovealbion.com (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Men's First Team Coaches". www.brightonandhovealbion.com. ngày 25 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Men's Academy Coaches". www.brightonandhovealbion.com. ngày 25 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Yannick Euvrard appointed set-piece coach". www.brightonandhovealbion.com (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Club records". Brighton & Hove Albion F.C. ngày 3 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "R.U.R. Cup Final Results – Sussex County Football Association". Sussexcountyleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
Liên kết ngoài
- Website chính thức

- Brighton & Hove Albion F.C. trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Brighton & Hove Albion tại Sky Sports
- Brighton & Hove Albion tại Premier League
- Brighton & Hove Albion tại UEFA
Bản mẫu:Brighton and Hove Albion F.C.