Bước tới nội dung

Sunderland A.F.C.

Nghe bài viết này
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sunderland
Biểu tượng Sunderland
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Sunderland
Biệt danh
  • The Black Cats (Mèo đen)
  • Mackems (cổ động viên)
Tên ngắn gọnSAFC, Sunderland
Thành lập1879; 147 năm trước (1879)
(với tên gọi Sunderland and District Teachers)
SânSân vận động Ánh sáng
Sức chứa49.000
Chủ sở hữuKyril Louis-Dreyfus (64%)
Juan Sartori (36%)[1]
Chủ tịch điều hànhKyril Louis-Dreyfus
Huấn luyện viên trưởngRégis Le Bris
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Championship, thứ 4 trên 24 (thăng hạng thông qua play-off)
Websitesafc.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Sunderland (tiếng Anh: Sunderland Association Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Sunderland, Tyne and Wear, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của Hệ thống giải bóng đá Anh.

Được thành lập vào năm 1879, câu lạc bộ đã giành sáu chức vô địch hạng đấu cao nhất (1892, 1893, 1895, 1902, 1913 và 1936) tại First Division, đồng thời về nhì 5 lần. Câu lạc bộ cũng đã giành Cúp FA hai lần (1937 và 1973), về nhì hai lần (1913 và 1992), và giành FA Charity Shield vào năm 1936. Họ cũng là đội vào chung kết Football League Cup vào các năm 1985 và 2014.

Mang biệt danh The Black Cats, Sunderland thi đấu các trận sân nhà tại Sân vận động Ánh sáng có sức chứa 49.000 chỗ, sau khi chuyển từ Roker Park vào năm 1997. Câu lạc bộ có mối kình địch gay gắt, lâu đời với đội bóng gần đó là Newcastle United, đối thủ mà họ tranh tài trong trận Derby Tyne-Wear từ năm 1898. Họ thi đấu trong trang phục áo sọc đỏ trắng và quần đùi đen.

Lịch sử Sunderland A.F.C.

Tập tin:Sunderland-1884.jpg
Ảnh đội bóng chụp năm 1884

Những năm đầu và "Đội bóng của mọi tài năng" (1879-1908)

Câu lạc bộ được thành lập với tên gọi Sunderland and District Teachers A.F.C. bởi thầy giáo James Allan vào thời điểm lâu nay thường được cho là tháng 10 năm 1879.[2] Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy câu lạc bộ chỉ chính thức được thành lập một năm sau đó, vào ngày 25 tháng 9 năm 1880.[3] Câu lạc bộ được đổi tên thành Sunderland A.F.C. và mở rộng cho nhiều đối tượng hơn chứ không chỉ riêng giáo viên vào tháng 10 năm 1880.[3]

John Campbell, một phần của "Đội bóng của mọi tài năng", đồng thời là vua phá lưới giải vô địch quốc gia trong ba chức vô địch đầu tiên của Sunderland.

Sunderland gia nhập Football League ở mùa giải 1890-91.[4] Tom Watson trở thành huấn luyện viên đầu tiên của Sunderland khi được bổ nhiệm vào năm 1888.[5] Vào cuối thế kỉ 19, họ được William McGregor,[6] người sáng lập giải đấu, gọi là "Đội bóng của mọi tài năng" sau chiến thắng 7-2 trước Aston Villa.[6] Sunderland vô địch giải quốc gia ở mùa giải 1891-92, chỉ một mùa giải sau khi gia nhập Football League, và thành tích đó đã khiến The Times mô tả các cầu thủ là "một đội bóng tuyệt vời đến lạ thường".[7] Sunderland bảo vệ thành công danh hiệu ở mùa giải tiếp theo, nhờ công của tiền đạo trung tâm người Scotland John Campbell, người đã vượt mốc 30 bàn thắng lần thứ hai liên tiếp trong hai mùa giải. Trong quá trình đó, họ trở thành đội đầu tiên ghi 100 bàn trong một mùa giải, một thành tích phải tới mùa giải 1919-20 mới được tái lập.

Sunderland tiến rất gần đến việc giành chức vô địch quốc gia lần thứ ba liên tiếp ở mùa giải 1893-94, khi kết thúc ở vị trí thứ hai sau Aston Villa. Tuy nhiên, họ giành lại danh hiệu ở mùa giải 1894-95, với Campbell lần thứ ba trở thành vua phá lưới giải đấu.[8] Sunderland sau đó đánh bại nhà vô địch Scotland Heart of Midlothian trong một trận đấu được mô tả là trận "vô địch thế giới".[9][10][11] Thủ môn Ned Doig của họ lập kỉ lục thế giới trong thế kỉ 19 khi không để thủng lưới trong 87 trên tổng số 290 lần ra sân ở hạng đấu cao nhất (30%).[12] Từ năm 1886 đến năm 1898, sân nhà của Sunderland nằm ở Newcastle Road.[13] Năm 1898, câu lạc bộ chuyển tới nơi sẽ trở thành sân nhà của họ trong gần một thế kỉ, Roker Park.[14] Ban đầu sân có sức chứa 30.000 chỗ.[14]

Sau khi đưa Sunderland tới ba chức vô địch quốc gia Anh, huấn luyện viên Watson từ chức vào cuối mùa giải 1895-96 để gia nhập Liverpool.[15] Robert Campbell thay thế ông.[15] Campbell không đạt được thành công tương tự Watson về mặt chuyên môn, khi Sunderland không giành được bất kì danh hiệu nào trong ba mùa giải ông dẫn dắt câu lạc bộ.[16]

Người Scotland Alex Mackie thay Campbell làm huấn luyện viên cho mùa giải 1899.[17] Sau khi về nhì ở mùa giải 1900-01, câu lạc bộ giành chức vô địch quốc gia lần thứ tư ở mùa giải 1901-02,[17] rồi tiếp nối bằng chiến thắng tại Sheriff of London Charity Shield.[18]

Vào tháng 12 năm 1902, Arthur Bridgett gia nhập Sunderland. Ông sau đó làm đội trưởng của "Mèo đen" trong mười năm và có mười một lần khoác áo đội tuyển Anh, trở thành tuyển thủ Anh có số lần khoác áo nhiều thứ hai của câu lạc bộ, chỉ sau Dave Watson.[19]

Các chức vô địch quốc gia tiếp theo (1908-1945)

Đội hình Sunderland vô địch Cúp FA năm 1937

Vào ngày 5 tháng 12 năm 1908, Sunderland giành chiến thắng đậm nhất trong lịch sử ở giải vô địch quốc gia, 9-1 trước đối thủ vùng đông bắc Newcastle United.[20] Dưới quyền huấn luyện viên người Ireland Bob Kyle và với người Scotland Charles Thomson làm đội trưởng, câu lạc bộ lại vô địch giải quốc gia vào năm 1913,[21] nhưng để thua 0-1 trước Aston Villa trong trận chung kết Cúp FA đầu tiên của mình.[22]

Hai mùa giải sau đó, Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến giải quốc gia bị gián đoạn. Khi bóng đá vô địch quốc gia trở lại, Sunderland tiến rất gần đến một chức vô địch nữa ở mùa giải 1922-23, khi họ về nhì sau Liverpool.[23] Họ cũng tiến sát thành công ở mùa giải tiếp theo, khi kết thúc ở vị trí thứ ba.[24] Câu lạc bộ thoát khỏi việc xuống hạng khỏi First Division với cách biệt một điểm ở mùa giải 1927-28 bất chấp 35 bàn thắng của Dave Halliday. Halliday nâng thành tích ghi bàn của mình lên 43 bàn sau 42 trận ở mùa giải tiếp theo,[25] một kỉ lục mọi thời đại của Sunderland về số bàn thắng ghi được trong một mùa giải.[4]

Chức vô địch quốc gia lần thứ sáu của câu lạc bộ đến ở mùa giải 1935-36 dưới quyền huấn luyện viên người Scotland Johnny Cochrane.[26] Họ ghi 109 bàn trong mùa giải đó, với Raich Carter và Bobby Gurney mỗi người ghi 31 bàn.[27] Sau đó họ tiếp tục giành Charity Shield trước đội vô địch Cúp FA là Arsenal.[28]

Dù vô địch giải quốc gia, mùa giải đó không thiếu bi kịch. Thủ môn trẻ của đội, Jimmy Thorpe, qua đời do bị đá sau khi anh đã bắt gọn bóng từ một đường backpass trong trận gặp Chelsea. Anh vẫn tiếp tục thi đấu cho đến khi trận đấu kết thúc, nhưng gục xuống tại nhà và qua đời trong bệnh viện bốn ngày sau đó.[29] Sự việc này dẫn đến một thay đổi trong luật thi đấu, theo đó các cầu thủ không còn được phép giơ chân lên trước thủ môn khi thủ môn đang kiểm soát bóng trong tay.[30]

Họ giành Cúp FA ở mùa giải tiếp theo, sau chiến thắng 3-1 trước Preston North End tại Sân vận động Wembley.[31] Một số trận bóng đá vẫn được tổ chức trong Chiến tranh thế giới thứ hai như một hoạt động nâng cao tinh thần, dưới hình thức Football League War Cup. Sunderland là đội vào chung kết giải đấu này vào năm 1942.[32]

"Câu lạc bộ Bank of England", khó khăn tài chính và ba trận chung kết cúp (1945-1995)

Bàn thắng quyết định của Ian Porterfield trong Chung kết Cúp FA 1973

Đối với Sunderland, những năm ngay sau chiến tranh được đặc trưng bởi mức chi tiêu lớn; câu lạc bộ trả 18.000 bảng Anh (£755 nghìn theo giá trị hiện nay) cho Carlisle United để chiêu mộ Ivor Broadis vào tháng 1 năm 1949.[33] Broadis khi đó cũng là huấn luyện viên của Carlisle, và đây là trường hợp đầu tiên một cầu thủ tự chuyển mình sang một câu lạc bộ khác.[34] Điều này, cùng với các mức phí chuyển nhượng phá kỉ lục để có được sự phục vụ của Len Shackleton và tuyển thủ xứ Wales Trevor Ford, đã dẫn tới biệt danh đương thời là "câu lạc bộ Bank of England".[35] Câu lạc bộ kết thúc First Division ở vị trí thứ ba vào năm 1950,[36] thành tích cao nhất của họ kể từ chức vô địch năm 1936.

Cuối thập niên 1950 chứng kiến sự sa sút rõ rệt trong vận may của Sunderland, và câu lạc bộ lại bị cuốn vào một vụ bê bối tài chính lớn vào năm 1957.[37] Bị kết luận có hành vi trả cho cầu thủ khoản tiền vượt quá mức lương tối đa, họ bị phạt 5.000 bảng Anh (£143.000 theo giá trị hiện nay), còn chủ tịch cùng ba giám đốc của câu lạc bộ bị đình chỉ chức vụ.[33][38][39] Mùa giải tiếp theo, Sunderland bị xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất lần đầu tiên trong lịch sử 68 năm thi đấu ở giải vô địch quốc gia.[40]

Sự vắng mặt của Sunderland ở hạng đấu cao nhất kéo dài sáu năm. Sau khi thoát hiểm sát nút ở mùa giải trước đó, câu lạc bộ thăng hạng lên Division One vào năm 1964 sau khi kết thúc ở vị trí thứ hai. Vào cuối thập niên, họ lại xuống hạng trở lại Second Division sau khi đứng thứ 21.[41]

Cuộc diễu hành bằng xe buýt mui trần chào mừng đội bóng trở về sau chiến thắng tại Chung kết Cúp FA 1973

Sunderland giành danh hiệu lớn gần nhất của mình vào năm 1973, trong chiến thắng 1-0 trước Don Revie's Leeds United ở trận chung kết Cúp FA.[42] Là một câu lạc bộ Second Division vào thời điểm đó, Sunderland thắng trận phần lớn nhờ nỗ lực của thủ môn Jimmy Montgomery.[43] Ian Porterfield ghi một cú vô lê ở phút 30 để đánh bại Leeds và mang về chiếc cúp.[43] Kể từ năm 1973, chỉ có thêm hai câu lạc bộ khác, Southampton vào năm 1976[44]West Ham United vào năm 1980,[45] có thể tái lập thành tích của Sunderland là nâng Cúp FA khi đang chơi ngoài hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.

Nhờ vô địch Cúp FA, Sunderland giành quyền dự UEFA Cup Winners' Cup, lần duy nhất cho tới nay câu lạc bộ góp mặt ở đấu trường châu Âu.[46] Họ đánh bại Vasas Budapest nhưng sau đó thua chung cuộc trước Sporting của Bồ Đào Nha ở vòng Hai.[46] Sau sáu mùa giải ở Second Division, Sunderland thăng hạng lên Division One ở mùa giải 1975-76, nhưng lại xuống hạng ngay mùa tiếp theo, bất chấp cú nước rút cuối mùa khi họ thắng hai trận với các tỉ số 6-0 và 6-1.[47]

Sunderland góp mặt trong trận chung kết Cúp Liên đoàn đầu tiên của mình vào năm 1985, nhưng thua 0-1 trước Norwich City.[48] Năm 1987, Sunderland chứng kiến một trong những giai đoạn tồi tệ nhất lịch sử của mình khi bị xuống Third Division của giải vô địch quốc gia Anh lần đầu tiên.[49] Dưới thời chủ tịch mới Bob Murray và huấn luyện viên mới Denis Smith, câu lạc bộ thăng hạng ngay ở mùa giải tiếp theo.[50] Năm 1990, họ trở lại hạng đấu cao nhất trong những hoàn cảnh khác thường, sau khi thua Swindon Town trong trận chung kết play-off, nhưng suất thăng hạng của Swindon bị hủy sau khi câu lạc bộ bị phát hiện có sai phạm tài chính và Sunderland được đôn lên thay thế.[51] Họ trụ lại được một năm trước khi xuống hạng ở ngày cuối cùng của mùa giải kế tiếp.[52]

Peter Reid được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Sunderland vào năm 1995 và tại vị đến năm 2002

Lần tiếp theo Sunderland góp mặt ở một trận chung kết lớn là vào năm 1992, khi với tư cách một câu lạc bộ Second Division, họ trở lại chung kết Cúp FA. Tuy nhiên, không có sự tái hiện của chiến công năm 1973, khi Sunderland thua Liverpool 0-2.[53]

Sân vận động mới, thăng hạng và xuống hạng (1995-2006)

Năm 1995, Sunderland phải đối mặt với viễn cảnh rơi trở lại hạng Ba của bóng đá Anh.[54] Peter Reid được đưa về làm huấn luyện viên, và nhanh chóng xoay chuyển tình thế. Thời gian Reid cầm quân mang lại tác dụng ổn định; ông tại vị bảy năm.[55] Sau khi thăng hạng từ Division One ở mùa giải 1995-96,[56] Sunderland bắt đầu mùa giải đầu tiên của mình tại Premier League, nhưng kết thúc ở vị trí thứ ba từ dưới lên và lại xuống First Division.

Năm 1997, Sunderland rời Roker Park[57][58] và chuyển tới Sân vận động Ánh sáng, một sân vận động 42.000 chỗ ngồi mà vào thời điểm đó là sân lớn nhất được xây dựng tại Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[59] Sức chứa về sau được nâng lên 49.000 chỗ.[60]

Sunderland trở lại Premier League với tư cách nhà vô địch First Division vào năm 1999 với kỉ lục khi đó là 105 điểm.[61] Vào cuối mùa giải, Sunderland kết thúc ở vị trí thứ bảy, với Kevin Phillips giành European Golden Shoe ngay trong mùa giải đầu tiên của anh ở hạng đấu cao nhất, sau khi ghi 30 bàn thắng.[62]

Một vị trí thứ bảy khác ở mùa giải 2000-01 được nối tiếp bằng hai mùa giải kém thành công hơn, và họ xuống hạng xuống cấp độ hai với kỉ lục thấp khi đó là chỉ 19 điểm vào năm 2003.[4][63] Cựu huấn luyện viên đội tuyển Ireland Mick McCarthy tiếp quản câu lạc bộ, và vào năm 2005, ông đưa Sunderland thăng hạng với tư cách nhà vô địch lần thứ ba trong chưa đầy 10 năm.[4] Tuy nhiên, quãng thời gian của câu lạc bộ ở hạng đấu cao nhất lại ngắn ngủi khi Sunderland một lần nữa xuống hạng, lần này với kỉ lục thấp mới là 15 điểm. McCarthy rời câu lạc bộ giữa mùa giải, và cựu cầu thủ Sunderland Kevin Ball được bổ nhiệm tạm thời thay thế ông.[64]

Thương vụ tiếp quản của Drumaville Consortium và kỉ nguyên Ellis Short (2006-2016)

Cựu cầu thủ Niall Quinn là người dẫn dắt thương vụ tiếp quản câu lạc bộ vào năm 2006, và gắn bó thêm sáu năm nữa trong các vai trò huấn luyện viên, chủ tịch và Giám đốc Phát triển Quốc tế

Sau khi Sunderland xuống hạng khỏi Premier League, câu lạc bộ được tiếp quản bởi Drumaville Consortium của Ireland,[4] do cựu cầu thủ Niall Quinn dẫn đầu; ông bổ nhiệm cựu đội trưởng Manchester United Roy Keane làm huấn luyện viên mới.[65] Dưới thời Keane, câu lạc bộ tiến đều trên bảng xếp hạng với chuỗi 17 trận bất bại[66] để giành quyền thăng hạng lên Premier League vào cuối mùa giải 2006-07.[67][68] Hai mùa giải sau đó, sau khởi đầu thiếu ổn định ở mùa giải 2008-09, Keane từ chức.[69] Trước khi chiến dịch tiếp theo bắt đầu, doanh nhân người Ireland-Mĩ Ellis Short hoàn tất việc tiếp quản toàn bộ câu lạc bộ,[70]Steve Bruce được công bố là huấn luyện viên tiếp theo vào ngày 3 tháng 6 năm 2009.[71]

Một trong những bản hợp đồng đầu tiên của Bruce, Darren Bent, có giá kỉ lục câu lạc bộ là 10 triệu bảng Anh, con số bị phá một năm sau khi họ mua tuyển thủ Ghana Asamoah Gyan với mức giá khoảng 13 triệu bảng Anh.[72] Sunderland khởi đầu mùa giải 2010-11 đầy mạnh mẽ, nhưng sau khi Bent chuyển sang Aston Villa vào tháng 1 năm 2011 trong một thương vụ có thể trị giá tới 24 triệu bảng Anh, mức phí chuyển nhượng nhận được cao nhất trong lịch sử câu lạc bộ,[73] cuối cùng họ kết thúc ở vị trí thứ 10 — thành tích cao nhất của họ ở hạng đấu cao nhất trong vòng 10 năm.[74] Sau khi được bầu là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Sunderland trong hai mùa giải liên tiếp,[75] cầu thủ địa phương Jordan Henderson được chuyển sang Liverpool vào cuối mùa giải 2010-11, nơi anh sau đó giành được Champions League cùng nhiều danh hiệu khác.[76][77]

Short thay Quinn ở cương vị chủ tịch vào tháng 10 năm 2011, còn Quinn ban đầu trở thành Giám đốc Phát triển Quốc tế;[78] ông rời câu lạc bộ ngay lập tức vào tháng 2 năm 2012.[79] Bruce bị sa thải vào tháng 11 năm 2011,[80][81] và được thay bằng Martin O'Neill.[82][83] O'Neill bị sa thải vào tháng 3 năm 2013[84] và người Ý Paolo Di Canio được công bố là người thay thế ông ngay ngày hôm sau[85] trong bối cảnh tranh cãi rộng rãi.[86][87][88][89][90] Sunderland sau đó tránh được xuống hạng khi դեռ một trận chưa đấu. Di Canio bị sa thải sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2013-14, cùng những báo cáo cho thấy quan hệ giữa ông và các cầu thủ đã hoàn toàn đổ vỡ.[91] Gus Poyet được công bố là người thay thế ông,[92] và đưa Sunderland tới Chung kết Football League Cup 2014, nơi họ thua 1-3 trước Manchester City.[93] Vào tháng 3 năm 2015 Poyet bị sa thải,[94] và lão tướng người Hà Lan Dick Advocaat được bổ nhiệm,[95] qua đó giúp câu lạc bộ trụ hạng thành công.[96] Tám trận sau khi mùa giải 2015-16 bắt đầu, ông từ chức.[97] Sam Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tiếp theo vào tháng 10 năm 2015, và câu lạc bộ lại một lần nữa trụ hạng vào cuối mùa giải.[98]

Biến động giữa các hạng đấu và những thay đổi về quyền sở hữu (2016-nay)

Vào tháng 7 năm 2016, Allardyce rời câu lạc bộ để được công bố là huấn luyện viên của đội tuyển Anh,[99]David Moyes được bổ nhiệm làm người thay thế ông.[100] Dưới thời Moyes, Sunderland có khởi đầu tệ nhất từ trước đến nay trong một mùa giải Premier League, chỉ giành được hai điểm sau 10 trận mở màn.[101] Câu lạc bộ xuống hạng lần đầu tiên sau 10 năm vào cuối mùa giải 2016-17, khi đứng cuối bảng xếp hạng,[102] và Moyes từ chức.[103] Vào tháng 6 năm 2017, thủ môn Jordan Pickford, một sản phẩm của học viện Sunderland, được chuyển sang Everton với mức phí 25 triệu bảng Anh, có thể tăng lên 30 triệu bảng Anh — mức kỉ lục đối với một thủ môn người Anh. Sau đó anh trở thành thủ môn số một của đội tuyển Anh.[104]

Sau khi xuống hạng, Simon Grayson được công bố là huấn luyện viên mới.[105] Câu lạc bộ có khởi đầu rất tệ ở EFL Championship 2017-18 (điều này được ghi lại trong loạt phim Netflix Sunderland 'Til I Die) và Grayson bị sa thải vào cuối tháng 10,[106] với Chris Coleman thay thế ông.[107] Vào tháng 4 năm 2018, sau lần xuống hạng thứ hai liên tiếp, lần này xuống League One,[108] câu lạc bộ được bán cho Stewart Donald và Juan Sartori. Coleman sau đó cũng được giải phóng khỏi hợp đồng của mình.[109]

Jack Ross được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới vào tháng 5 năm 2018.[110] Trong mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ ở League One, họ vào chung kết EFL Trophy, đồng thời kết thúc ở vị trí thứ năm và vào tới chung kết play-off, nhưng thua Charlton Athletic tại Wembley. Sau khởi đầu đáng thất vọng ở mùa giải 2019-20 tiếp theo, Ross bị sa thải.[111] Ông được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Bolton Wanderers là Phil Parkinson.[112] Sunderland kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 8, thứ hạng thấp nhất trong lịch sử thi đấu giải quốc gia của họ, với bảng xếp hạng cuối cùng được xác định theo điểm trung bình mỗi trận do bóng đá bị gián đoạn bởi đại dịch COVID-19.[113]

Parkinson bị sa thải vào tháng 11 năm 2020 và được thay thế bởi Lee Johnson vào tháng kế tiếp.[114][115] Cuối tháng đó, câu lạc bộ đạt được thỏa thuận với Kyril Louis-Dreyfus để ông mua lại cổ phần kiểm soát tại câu lạc bộ.[116] Thương vụ tiếp quản được hoàn tất vào ngày 18 tháng 2 năm 2021.[117] Vào tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ một lần nữa lỡ hẹn với suất thăng hạng sau khi thua Lincoln City với tổng tỉ số 2-3 ở bán kết play-off.[118]

Vào tháng 2 năm 2022, cựu huấn luyện viên Norwich City Alex Neil được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng, sau khi Johnson bị sa thải בעקבות thất bại 0-6 trước Bolton trong tháng 1.[119] Sau khi kết thúc League One 2021-22 ở vị trí thứ năm vào cuối mùa giải, Sunderland giành quyền dự play-off.[120] Ở bán kết, họ đánh bại Sheffield Wednesday với tổng tỉ số 2-1,[121] rồi tiếp tục đánh bại Wycombe Wanderers 2-0 trong trận chung kết để giành quyền trở lại hạng Hai của bóng đá Anh lần đầu tiên sau bốn năm.[122] Tony Mowbray tiếp quản vị trí huấn luyện viên trưởng vào tháng 8 năm đó sau khi Neil rời đi để dẫn dắt Stoke City.[123] Sunderland kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 6, và bị loại ở bán kết play-off bởi Luton Town.[124] Mowbray bị sa thải vào tháng 12 năm 2023 và được thay thế bởi Michael Beale,[125] nhưng chính ông cũng bị sa thải sau 12 trận, nhiệm kì ngắn nhất trong lịch sử huấn luyện của Sunderland;[126] huấn luyện viên tạm quyền Mike Dodds khép lại mùa giải 2023-24 ở vị trí thứ 16.[127] Huấn luyện viên người Pháp Régis Le Bris được công bố làm huấn luyện viên trưởng vào tháng 6 năm 2024, chuyển đến từ Lorient.[128]

Năm 2023, Stewart Donald chính thức rời Sunderland, khi Juan Sartori mua nốt phần cổ phần còn lại của ông.[129] Theo Sunderland, Louis-Dreyfus sở hữu 64% câu lạc bộ, còn Sartori nắm 36% còn lại.[130]

Cổ động viên Sunderland tại Sân vận động Wembley trong trận chung kết play-off Championship năm 2025 gặp Sheffield United vào tháng 5 năm 2025

Sunderland kết thúc EFL Championship 2024-25 ở vị trí thứ tư, qua đó giành quyền dự play-off, nơi họ gặp Coventry City.[131] Sau chiến thắng 2-1 trên sân khách ở lượt đi, câu lạc bộ hòa 1-1 trên sân nhà ở lượt về, với bàn thắng của hậu vệ Daniel Ballard ở phút cuối cùng của hiệp phụ. Điều đó đồng nghĩa với chiến thắng chung cuộc 3-2 và một suất vào trận chung kết play-off.[132] Trong trận chung kết ngày 24 tháng 5 năm 2025, Sunderland ngược dòng từ thế bị dẫn 0-1 để đánh bại Sheffield United với tỉ số 2-1, nhờ các bàn thắng của Eliezer Mayenda và bàn quyết định trong thời gian bù giờ của Tom Watson.[133] Chiến thắng này giúp Mèo đen trở lại Premier League sau tám năm vắng bóng khỏi hạng đấu cao nhất.[134]

Việc Sunderland trở lại Premier League đã kéo theo sự đầu tư vào đội hình thi đấu, với 115 triệu euro được chi ra tính đến ngày 13 tháng 7 năm 2025. Mỗi thương vụ trong số này đều có mức phí cao hơn kỉ lục chuyển nhượng trước đó của họ, từng được thiết lập khi Asamoah Gyan được chiêu mộ.

Màu sắc và huy hiệu Sunderland A.F.C.

Sunderland mặc trang phục màu xanh dương toàn bộ từ khi thành lập cho đến năm 1884,[4] khi họ chuyển sang bộ áo nửa đỏ nửa trắng.[135] Họ sử dụng bộ áo sọc đỏ trắng hiện tại từ mùa giải 1887-88.[136] Huy hiệu của họ gồm một con tàu, phần trên của huy hiệu Sunderland, một con mèo đen và một quả bóng đá đặt trước nền sọc đỏ trắng của Sunderland.[137] Năm 1972, huy hiệu được thay đổi,[138] bỏ con mèo đen nhưng vẫn giữ con tàu, quả bóng và nền sọc đỏ trắng.[139] Huy hiệu này lần đầu tiên được sử dụng trên áo đấu ngày thi đấu vào năm 1977, thay thế cho chữ viết tắt màu đen đơn giản 'SAFC' vốn được dùng từ năm 1973.[140] Phần trên cùng và viền của huy hiệu có màu xanh dương cho đến năm 1991, khi nó đổi sang màu đen.[140]

Để trùng với việc chuyển từ Roker Park sang Sân vận động Ánh sáng vào năm 1997, Sunderland ra mắt một huy hiệu mới được chia thành bốn phần; góc trên bên phải và góc dưới bên trái mang các màu đỏ trắng truyền thống của họ, nhưng hình con tàu đã bị loại bỏ. Phần trên bên trái có Penshaw Monument còn phần dưới bên phải thể hiện Wearmouth Bridge.[141] Một bánh xe mỏ than ở phía trên huy hiệu tưởng niệm lịch sử khai khoáng của County Durham, đồng thời gợi nhắc đến khu đất nơi Stadium of Light được xây dựng, vốn trước đây là Monkwearmouth Colliery. Huy hiệu cũng có hai con sư tử, những con mèo đen của Sunderland, và một dải băng thể hiện khẩu hiệu của câu lạc bộ, Consectatio Excellentiae, nghĩa là "Theo đuổi sự xuất sắc".[141]

Sân vận động Sunderland A.F.C.

Sunderland đã có tám sân đấu trong suốt lịch sử của mình; sân đầu tiên là tại Blue House Field ở Hendon vào năm 1879. Sân nằm gần nơi Sunderland được thành lập, tại Trường Hendon Board; khi đó tiền thuê sân là 10 bảng Anh (£1,2 nghìn theo giá trị hiện nay).[33][142] Sau đó câu lạc bộ sử dụng một số bãi sân khác, một trong số đó gần đường The Cedars,[143] trước khi chuyển tới Groves Field ở Ashbrooke vào năm 1882 trong một mùa giải.[144] Sân vận động thứ ba của câu lạc bộ là Horatio Street tại Roker, sân đầu tiên của Sunderland ở phía bắc sông Wear; câu lạc bộ chỉ chơi một mùa giải tại đó trước khi lại chuyển sân,[145] lần này tới Abbs Field ở Fulwell trong hai mùa giải. Abbs Field đáng chú ý vì là sân đầu tiên của Sunderland thu tiền vé vào cửa.[146]

Sunderland chuyển đến Newcastle Road vào năm 1886. Đến năm 1898, sân đạt sức chứa 15.000 chỗ sau khi được cải tạo, và tiền thuê đã tăng lên 100 bảng Anh (£13,2 nghìn theo giá trị hiện nay) mỗi năm.[33][147] Gần bước sang thế kỉ 20, Sunderland cần một sân vận động lớn hơn. Họ trở lại Roker và chọn Roker Park làm sân nhà. Sân được khai trương vào ngày 10 tháng 9 năm 1898, và đội chủ nhà đá trận đấu đầu tiên ngay trong ngày hôm đó gặp Liverpool,[148] trận đấu mà họ giành chiến thắng. Sức chứa của sân tăng lên 50.000 sau khi được cải tạo bởi kiến trúc sư Archibald Leitch vào năm 1913. Sunderland suýt phá sản do chi phí cải tạo Khán đài Chính, và Roker Park đã được rao bán nhưng không có thêm hành động nào được tiến hành. Ngày 8 tháng 3 năm 1933, Roker Park chật kín khán giả đã ghi nhận lượng người xem cao nhất từ trước đến nay trong một trận đấu của Sunderland, 75.118 người trong trận đá lại vòng Sáu Cúp FA gặp Derby County.[4] Roker Park bị đánh bom vào năm 1943, khiến một góc của sân vận động bị phá hủy. Một cảnh sát dự bị đặc biệt đã thiệt mạng khi tuần tra quanh sân. Đến thập niên 1990, sân vận động không còn đủ lớn và không còn chỗ để mở rộng thêm.[149] Vào tháng 1 năm 1990, Taylor Report được công bố sau khi tình trạng quá tải khán giả tại Hillsborough Stadium khiến 97 cổ động viên Liverpool thiệt mạng.[150] Bản báo cáo khuyến nghị rằng mọi sân vận động lớn phải được chuyển sang thiết kế toàn ghế ngồi.[151] Vì thế, sức chứa của Roker Park bị giảm xuống. Sân bị phá dỡ vào năm 1997 và một khu nhà ở được xây dựng trên địa điểm cũ.[148]

Năm 1997, Sunderland chuyển tới sân nhà hiện tại của họ là Sân vận động Ánh sáng ở Monkwearmouth, sân được khánh thành bởi Hoàng tử Andrew, Công tước xứ York khi đó (về sau là Andrew Mountbatten-Windsor). Được xây dựng với sức chứa ban đầu là 42.000 chỗ ngồi, sân tổ chức trận đấu đầu tiên gặp đội bóng Hà Lan Ajax.[59] Sân vận động mang tên gọi tương tự sân nhà của câu lạc bộ Bồ Đào Nha BenficaEstádio da Luz, dù bằng ngôn ngữ khác. Một đợt mở rộng sân vào năm 2000 đã nâng sức chứa lên 49.000 chỗ. Một tượng đài đèn Davy đứng bên ngoài sân vận động, và một lá cờ thợ mỏ được trao cho câu lạc bộ bởi Durham Miners' Association,[152] như một lời nhắc nhớ về mỏ Monkwearmouth Colliery từng nằm trên khu đất nơi sân vận động được xây dựng.

Cổ động viên và các mối kình địch Sunderland A.F.C.

Lượng khán giả và độ phủ người hâm mộ

Câu lạc bộ từ lâu đã sở hữu một lượng người hâm mộ đông đảo và cuồng nhiệt, với các con số khán giả cao hơn nhiều câu lạc bộ thời thượng hơn khác. Chẳng hạn, một nghiên cứu năm 2019 của International Centre for Sports Studies (CIES) cho thấy trong 5 mùa giải trước đó (2013 đến 2018), Sunderland ghi nhận lượng khán giả trung bình cao thứ 38 trong bóng đá thế giới, với trung bình 39.249 người hâm mộ tại Sân vận động Ánh sáng. Lượng khán giả trung bình của Sunderland trong giai đoạn đó cao hơn cả những đội thường xuyên cạnh tranh chức vô địch như Juventus FC của Ý và FC Porto của Bồ Đào Nha.[153][154] Bất chấp việc xuống hạng khỏi Premier League vào năm 2017, câu lạc bộ vẫn tiếp tục duy trì lượng khán giả trung bình hằng năm rất lớn, ghi nhận hơn 30.000 người ở các mùa giải 2019 và 2020, đủ để đứng thứ 16 trong cả nước.[155][156] Sau khi xuống hạng khỏi the Championship vào cuối mùa giải 2017-18, Sunderland sau đó đã phá kỉ lục lượng khán giả của League One vào ngày 26 tháng 12 năm 2018 trong trận gặp Bradford City, với tổng cộng 46.039 khán giả.[157][158][159]

Những bài hát, giai điệu và khẩu hiệu nổi tiếng

Một bài hát mà cổ động viên Sunderland hát trước giờ giao bóng ở mỗi trận đấu, và được mô tả là ca khúc biểu tượng của câu lạc bộ, là phiên bản của "Can't Help Falling in Love" do Elvis Presley thể hiện, trong đó từ "Sunderland" được hát lặp đi lặp lại sau câu "but I can't help falling in love with you".[160][161] "Dance of the Knights" từ vở ba lê Romeo and Juliet của Sergei Prokofiev theo truyền thống được phát trước khi hai đội bước ra sân; ca khúc khi đội bóng ra sân của câu lạc bộ là "Ready to Go" của Republica, và đám đông thường hát phần điệp khúc của bài hát này. Ngoài ra, trong thời kì Gus Poyet nắm quyền, cổ động viên Sunderland bắt đầu hát "Things Can Only Get Better" của D:Ream.[160] Người hâm mộ đã phát động một chiến dịch để đưa ca khúc này trở lại bảng xếp hạng, trùng với thời điểm đội bóng của họ vào chung kết Cúp Liên đoàn 2014.[162] Một ngày sau trận chung kết, ca khúc này quay lại Bảng xếp hạng Dance của Vương quốc Liên hiệp Anh ở vị trí thứ 19.[163]

Hai trong số những khẩu hiệu cổ động nổi tiếng nhất của cổ động viên Sunderland là "I'm Sunderland till I die" và "We're by far the greatest team, the world has ever seen" — trong đó khẩu hiệu đầu tiên đã được chọn làm nhan đề cho chương trình Netflix Sunderland 'Til I Die.[164] Một trong những khẩu hiệu lâu đời nhất của Sunderland là "Ha'way the lads", vốn đã được hát tại các trận đấu của Sunderland từ tận thập niên 1960.[165]

Theo một cuộc thăm dò của YouGov vào năm 2014, cổ động viên Sunderland có xu hướng nghiêng về chính trị cánh tả.[166] Đôi khi họ hát một phiên bản của "The Red Flag" trong các trận đấu.[167]

Ain't No Stopping Us Now là đĩa phát hành chính thức của SAFC khi câu lạc bộ vào Chung kết Cúp FA 1992 gặp Liverpool. Bài hát có sự tham gia của đội một và được phát hành bởi A Love Supreme Records.

Cheer Up Peter Reid được người hâm mộ phát hành vào năm 1996 sau khi bài hát trên khán đài về huấn luyện viên trở nên phổ biến. Bài hát bán được 40.000 bản, đạt vị trí 41 trên bảng xếp hạng Vương quốc Liên hiệp Anh, và đứng số một trên bảng xếp hạng Indie của NME. Toàn bộ lợi nhuận từ Cheer Up Peter Reid được quyên góp cho các tổ chức từ thiện phòng chống ung thư. Một khẩu hiệu khác cũng trở thành bản thu âm khi A Love Supreme phát hành Niall Quinn's Disco Pants vào năm 1999. Ca khúc này đứng số một trên bảng xếp hạng Indie của NME.

Fanzine và các sản phẩm do người hâm mộ thực hiện

Fanzine A Love Supreme được xuất bản lần đầu vào năm 1989 và đã giành chín giải Fanzine of the Year.[168] A Love Supreme đặt trụ sở đối diện Sân vận động Ánh sáng, nơi đội ngũ của họ thiết kế tạp chí, cập nhật trang web, mạng xã hội, đồng thời tạo và bán dòng sản phẩm lưu niệm liên quan đến người hâm mộ của riêng mình, cũng như tổ chức xe khách đưa cổ động viên SAFC đến mọi trận sân khách. Từ năm 2010, fanzine trực tuyến Roker Report hoạt động trên mạng blog SB Nation.[169] Kể từ đó, Roker Report ngày càng trở nên phổ biến trong cộng đồng cổ động viên Sunderland, sản xuất bài viết hằng ngày và tạo sự tương tác với người hâm mộ. Năm 2016, Roker Report bắt đầu một podcast có tên RokerRapport với ba hoặc bốn tập mỗi tuần. Thỉnh thoảng họ phỏng vấn các cầu thủ, huấn luyện viên, chủ sở hữu hiện tại và trước đây, cũng như những cổ động viên nổi bật của Sunderland. Kể từ năm 2013, một podcast độc lập mang tên Wise Men Say được thành lập và ban đầu chỉ có một tập mỗi tuần; tuy nhiên, từ đó chương trình ngày càng được yêu thích và hiện có ba tập mỗi tuần. Năm 2021, họ bắt đầu đăng các bài viết quan điểm trên wisemensay.co.uk với một đội ngũ cây bút sản xuất nhiều chuyên mục và bài viết chuyên sâu đa dạng. Cũng trong năm 2021, Wise Men Say Podcast được đề cử ở hạng mục Club Podcast of the Year tại giải thưởng Football Supporters Association Awards 2021. Năm 2022, Wise Men Say đạt mốc 2 triệu lượt tải thông qua nền tảng lưu trữ Acast.[170] Trước đây câu lạc bộ cũng từng có một tạp chí thuê bao chính thức hằng tháng mang tên Legion of Light, được những người sở hữu vé mùa nhận miễn phí.[171] Những ấn phẩm khác trong quá khứ bao gồm It's The Hope I Can't Stand, Sex and Chocolate, Wise Men Say, và The Roker Roar (về sau là The Wearside Roar).[172]

Các hội cổ động viên và tổ chức được công nhận chính thức

Theo câu lạc bộ, có hơn 70 chi hội chính thức của Hội Cổ động viên ở Anh và trên toàn thế giới, bao gồm cả Triều Tiên.[173][174] Các hội chính thức này được đại diện tập thể bởi một Hội đồng Liên lạc Chi hội được thành lập từ thập niên 1970.[175] Ngoài ra, câu lạc bộ còn có SAFC Liaison Group (SLG) từ năm 1994, phối hợp cùng người hâm mộ về các vấn đề của câu lạc bộ, cũng như một nhóm cổ động viên độc lập là Red & White Army (RAWA).[176][177]

Các mối kình địch và quan hệ thân thiết

Theo truyền thống, hai đối thủ chính của Sunderland là Newcastle UnitedMiddlesbrough, những đội bóng mà Sunderland lần lượt tranh tài trong trận derby Tyne-Wear và derby Tees-Wear. Dù cả hai đều khá gần về mặt địa lí, Newcastle vẫn được xem là đối thủ lớn nhất của Sunderland. Câu lạc bộ cũng từng có mối kình địch với đội bóng cùng thành phố là Sunderland Albion trong thập niên 1880 và 1890, một đội bóng tách ra do người sáng lập Sunderland là James Allan lập nên,[178] cho đến khi đội bóng đó giải thể. Một mối kình địch gần đây hơn là với Coventry City, bắt nguồn từ một trận đấu gây tranh cãi năm 1977, mà kết hợp với các kết quả ở nơi khác đã khiến Sunderland phải xuống hạng khỏi First Division nhưng Coventry lại trụ hạng.

Sunderland cũng duy trì mối quan hệ tốt đẹp và tình bạn với câu lạc bộ Hà Lan Feyenoord; điều này được hình thành sau khi các công nhân đóng tàu từ Wearside tìm được việc làm tại Rotterdam trong thập niên 1970 và 1980.[179] Câu lạc bộ cũng có quan hệ tốt và tình bạn với Norwich City, với các trận đấu giữa hai đội được gọi là Friendship Trophy, בעקבות mối quan hệ hòa nhã từ trận chung kết Milk Cup 1985.[180]

Liên hệ từ thiện Sunderland A.F.C.

Năm 2001, chủ tịch Bob Murray thành lập tổ chức từ thiện Foundation of Light nhằm hỗ trợ phát triển giáo dục thông qua bóng đá, đồng thời cung cấp các trung tâm học tập bên cạnh học bổng.[181][182] Trong vòng một năm, tổ chức này đã tiếp cận 280 trẻ em, và ba năm sau khi thành lập đã khai trương một cơ sở trị giá 1,6 triệu bảng Anh cùng với các xe buýt hai tầng được cải tạo thành phòng học.[183][184]

Trong văn hóa đại chúng Sunderland A.F.C.

Sunderland, cùng với Aston Villa, là chủ thể của một trong những bức tranh bóng đá sớm nhất trên thế giới, khi vào năm 1895 họa sĩ Thomas M. M. Hemy vẽ một bức tranh về trận đấu giữa hai đội tại sân Newcastle Road của Sunderland khi đó.[185]

Một trong những bức tranh bóng đá sớm nhất trên thế giới, "Sunderland v. Aston Villa 1895" của Thomas M. M. Hemy, khắc họa một trận đấu giữa hai đội bóng Anh thành công nhất của thập niên đó.

Năm 1973, nghệ sĩ hài Bobby Knoxall thu âm ca khúc "Sunderland All the Way" làm bản nhạc cho Chung kết Cúp FA 1973.[186]

Năm 1996, một nhóm cổ động viên Sunderland dưới tên Simply Red and White phát hành bài hát "Daydream Believer (Cheer Up Peter Reid)" trên giai điệu của "Daydream Believer" dành tặng huấn luyện viên Peter Reid. Bài hát đạt vị trí 41 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn và album của Vương quốc Liên hiệp Anh.[187][188] Người hâm mộ thu âm ca khúc này vì huấn luyện viên thường có vẻ mặt u sầu trong khi đội bóng lại chơi rất tốt, thậm chí còn giành quyền thăng hạng vào cuối mùa giải.[189][190]

Sunderland được nhắc đến trong State Opening of Parliament tháng 5 năm 1997, khi Chris Mullin, nghị sĩ Quốc hội đại diện cho Sunderland South, phát biểu tán thành Gracious Speech của Queen Elizabeth II như sau:

Sunderland đã trải qua những giai đoạn khó khăn trong quá khứ, và đã vượt qua; cũng như trước đây, chúng tôi sẽ đứng dậy, phủi bụi và bước ra chiến đấu. Sunderland hướng về tương lai, không phải quá khứ, và chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ trở lại Premier League.[191][192]

Năm 1998, sau khi Roker Park bị phá dỡ, nhà viết kịch Tom Kelly và diễn viên Paul Dunn đã sáng tạo một vở kịch độc diễn mang tên "I Left My Heart at Roker Park" kể về một người hâm mộ vật lộn với việc chuyển sân và về ý nghĩa của Roker Park đối với anh — vở kịch ban đầu được công diễn vào năm 1997 và đã có một vài lần phục dựng kể từ đó.[193][194]

Năm 1998, BBC phát sóng một bộ phim tài liệu gồm sáu phần mang tên Premier Passions. Bộ phim ghi lại mùa giải 1996-97 của Sunderland, mùa giải mà câu lạc bộ xuống hạng khỏi Premier League chỉ một năm sau khi giành quyền thăng hạng từ Football League First Division, đồng thời cũng là thời điểm chuyển đến Sân vận động Ánh sáng.[195]

Năm 2018, Netflix phát hành một bộ phim tài liệu tám phần mang tên Sunderland 'Til I Die. Bộ phim ghi lại những diễn biến quanh mùa giải 2017-18 của Sunderland, mùa giải chứng kiến câu lạc bộ xuống hạng khỏi EFL Championship.[196] Do thành công của mùa đầu tiên, mùa thứ hai đã được xác nhận, bất chấp sự phản đối từ nhiều thành viên trong câu lạc bộ.[197] Sự phản đối chủ yếu xuất phát từ việc các cầu thủ lo ngại bộ phim sẽ khiến những thất bại của mình gắn liền với họ trong suốt phần còn lại của sự nghiệp.[198]

Biệt danh Sunderland A.F.C.

Biểu trưng Mèo đen ở mặt ngoài Stadium of Light

Biệt danh chính thức của Sunderland là "The Black Cats". Tên gọi này được chính thức hóa thông qua một cuộc bỏ phiếu công khai vào năm 2000.[199] Dù biệt danh này chỉ mới được chính thức hóa tương đối gần đây, hình ảnh mèo đen đã được dùng như biểu tượng của câu lạc bộ trong phần lớn lịch sử của mình. Có những bức ảnh cho thấy cầu thủ ôm một con mèo đen đã chọn Roker Park làm nơi ở trong thập niên 1900 và 1910, và được câu lạc bộ bóng đá cho ăn uống.[200] Huy hiệu chính thức đầu tiên của câu lạc bộ có hình một con mèo đen nổi bật ở trung tâm, và từ thập niên 1960, biểu trưng của Hội Cổ động viên Sunderland A.F.C. đã là một con mèo đen.[201][202] Một cổ động viên Sunderland, Billy Morris, đã mang theo một con mèo đen trong túi áo ngực như một lá bùa may mắn đến Chung kết Cúp FA 1937, trận đấu mà Sunderland mang chiếc cúp về nhà lần đầu tiên; đồng thời cũng có nhắc đến một "Black Cat Battery", một đơn vị pháo binh đóng tại sông Wear trong Napoleonic Wars.[203]

Trước đó, khi đội bóng vẫn còn thi đấu tại Roker Park, Sunderland được biết đến với tên gọi Rokerites. Tên gọi này trở nên lỗi thời sau khi câu lạc bộ rời Roker Park để chuyển đến Stadium of Light vào năm 1997.[203] Những biệt danh khác được truyền thông sử dụng gồm Mackems (được cho là liên quan đến ngành đóng tàu và cũng là tên gọi dành cho cư dân Sunderland) hoặc Wearsiders, nhằm chỉ con sông mà thành phố và khu vực rộng hơn là Wearside nằm bên cạnh, đồng thời đối lập với đối thủ Tyneside là Newcastle United.[204][205][206][207]

Bên cạnh các biệt danh của câu lạc bộ, nhiều tên gọi cũng được dùng để chỉ những giai đoạn đáng nhớ trong lịch sử của Sunderland. Danh xưng "Team of All Talents" được sử dụng trong giai đoạn thành công của Sunderland ở thập niên 1890,[4] còn Sunderland được gọi là "Bank of England club" trong thập niên 1950. Điều này liên quan đến mức chi tiêu của câu lạc bộ trên thị trường chuyển nhượng vào thời điểm đó, khi kỉ lục chuyển nhượng bị phá vỡ tới hai lần.[4]

Thống kê và kỉ lục Sunderland A.F.C.

Các vị trí tại giải vô địch quốc gia kể từ mùa giải 1890-91.

Người giữ kỉ lục về số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia là Jimmy Montgomery, với 527 lần ra sân cho đội một trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1976.[208] Chân sút ghi nhiều bàn nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là Charlie Buchan, người ghi 209 bàn từ năm 1911 đến năm 1925;[209] Bobby Gurney là chân sút ghi nhiều bàn nhất trên mọi đấu trường với 228 bàn trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1939.[210] Dave Halliday giữ kỉ lục về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải: 43 bàn ở mùa giải 1928-29 tại First Division.[209] Tính đến tháng 10 năm 2014, John O'Shea là cầu thủ được khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn thuộc Sunderland, với 100 lần ra sân cho đội tuyển Cộng hòa Ireland.[209]

Chiến thắng với cách biệt lớn nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là trận thắng 9-1 trước Newcastle United tại First Division vào năm 1908. Chiến thắng đậm nhất của Sunderland tại Cúp FA là trận thắng 11-1 trước Fairfield vào năm 1895.[211] Những thất bại nặng nề nhất của Sunderland tại giải vô địch quốc gia là các trận thua 0-8 trước Sheffield Wednesday năm 1911, West Ham United năm 1968, Watford năm 1982 và Southampton năm 2014.[211] Sunderland gia nhập hạng đấu cao nhất nước Anh, The Football League, ở mùa giải 1890-91 và không xuống hạng cho đến mùa giải 1957-58 (một khoảng thời gian kéo dài 67 năm, dù chỉ có 56 mùa giải bóng đá chính thức được diễn ra do giải đấu bị gián đoạn trong giai đoạn 1915-1919 và 1939-1946 bởi Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai). Vào tháng 10 năm 2015, Sunderland đánh bại đối thủ Newcastle United trong trận thứ sáu liên tiếp, một kỉ lục mới.

Kỉ lục khán giả sân nhà của Sunderland là 75.200 người, được thiết lập trong trận đá lại vòng Sáu Cúp FA gặp Derby County ngày 8 tháng 3 năm 1933.[212]

Những chân sút ghi nhiều bàn nhất

Mười cầu thủ Sunderland đã ghi từ 100 bàn trở lên tại các giải vô địch quốc gia.[3] Danh sách như sau:

TênBàn thắng
1Anh Charlie Buchan209
2Anh Bobby Gurney205
3Scotland Dave Halliday156
4Anh George Holley150
5Scotland John Campbell133
6Anh Raich Carter118
7Anh Kevin Phillips113
8Scotland Jimmy Millar109
9Anh Arthur Bridgett108
10Scotland Patsy Gallacher100

Bobby Gurney giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất trên mọi đấu trường với tổng cộng 228 bàn trong các trận tại giải vô địch quốc gia và cúp.[213]

Chuyển nhượng

Mức phí chuyển nhượng lớn nhất mà Sunderland từng thu được từ việc bán một cầu thủ là 30 triệu bảng Anh cho thương vụ Jordan Pickford chuyển đến Everton vào tháng 7 năm 2017.[104] Đây cũng là khoản phí lớn nhất mà Sunderland từng nhận được cho một cầu thủ trưởng thành từ học viện của câu lạc bộ. Mức phí chuyển nhượng lớn nhất mà Sunderland từng chi ra là 31,5 triệu euro để chiêu mộ Habib Diarra từ Strasbourg vào ngày 1 tháng 7 năm 2025.[214]

Tổng thể

  • Số mùa giải thi đấu ở Cấp 1 của hệ thống giải bóng đá: 86
  • Số mùa giải thi đấu ở Cấp 2 của hệ thống giải bóng đá: 33
  • Số mùa giải thi đấu ở Cấp 3 của hệ thống giải bóng đá: 5
  • Số mùa giải thi đấu ở Cấp 4 của hệ thống giải bóng đá: 0

Tính đến mùa giải 2024-25[215]

Nhà tài trợ trang phục Sunderland A.F.C.

Nhà tài trợ đầu tiên xuất hiện trên trang phục của Sunderland là Cowie's, tập đoàn kinh doanh của chủ tịch khi đó là Tom Cowie, trong giai đoạn từ năm 1983 đến năm 1985.[216][217] Câu lạc bộ được Vaux Breweries tài trợ từ năm 1985 đến năm 1999, với các thương hiệu đồ uống như Lambtons đôi khi xuất hiện trên trang phục. Sau đó, câu lạc bộ được công ty đại lí ô tô Reg Vardy ở Sunderland tài trợ từ năm 1999 đến năm 2007.[216] Sunderland được nhà cái Ireland Boylesports tài trợ, với hợp đồng bốn năm kí năm 2007, được ước tính trị giá 8 triệu bảng Anh.[218] Vào tháng 4 năm 2010, Sunderland kí hợp đồng tài trợ áo đấu trong hai năm với tombola, một công ty bingo trực tuyến địa phương.[219] Ngày 25 tháng 6 năm 2012, Sunderland công bố tăng cường quan hệ hợp tác với sáng kiến Invest in Africa, và sáng kiến này trở thành nhà tài trợ áo đấu của câu lạc bộ trong hai năm. Dự án có liên hệ chặt chẽ với Tullow Oil.[220] Tuy nhiên, sau một năm, câu lạc bộ công bố một thỏa thuận tài trợ mới với công ty Nam Phi Bidvest. Ngày 1 tháng 6 năm 2015, Sunderland công bố một thỏa thuận tài trợ mới với Dafabet, kéo dài trong ba mùa giải tiếp theo.[221] Tiếp đó Sunderland hợp tác với Betdaq, nhưng sau đúng một mùa giải, công ty cá cược Ireland này đã nhường quyền tài trợ mặt trước áo đấu của mình cho tổ chức từ thiện Children with Cancer UK.[222][223] Sau khi quan hệ hợp tác với Betdaq hết hạn, công ty địa phương Great Annual Savings Group đã mở rộng thỏa thuận hiện có với câu lạc bộ để trở thành nhà tài trợ áo đấu trong hai năm tiếp theo.[224] Vào ngày 29 tháng 6 năm 2022, Sunderland công bố một thỏa thuận có thời hạn ba năm với Spreadex Sports.[225] Vào ngày 27 tháng 6 năm 2025, Sunderland công bố một thỏa thuận tài trợ mới với W88 cho mùa giải 2025-26.[226]

Nhà sản xuất trang phục đầu tiên xuất hiện trên áo đấu của Sunderland là Umbro, trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1981. Thương hiệu Pháp Le Coq Sportif sản xuất trang phục trong giai đoạn 1981-1983. Giai đoạn đầu tiên Nike làm nhà sản xuất trang phục kéo dài từ năm 1983 đến năm 1986, trước khi các bộ trang phục của Patrick (1986-88), Hummel (1988-94), Avec (1994-97) và Asics (1997-00) lần lượt xuất hiện. Nike trở lại trong giai đoạn 2000-2004. Diadora sản xuất trang phục trong đúng một mùa giải, 2004-05, còn Lonsdale sản xuất từ năm 2005 đến năm 2007. Umbro trở lại trong năm mùa giải từ năm 2007 đến năm 2012, trước khi Adidas trở thành nhà sản xuất trang phục của câu lạc bộ lần đầu tiên vào năm 2012. Sau đó Nike trở lại lần thứ ba với tư cách nhà sản xuất trang phục của Sunderland trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024.[227] Từ mùa hè năm 2024 theo một thỏa thuận ban đầu kéo dài 5 năm, áo đấu của Sunderland do Hummel — thương hiệu mang đậm tính cổ điển — cung cấp, với cả các thiết kế lấy cảm hứng hoài cổ (đặc biệt là phiên bản hồi sinh của mẫu áo sân khách năm 1992) lẫn những thiết kế riêng hoàn toàn mới.[228]

Giai đoạnNhà sản xuất trang phụcNhà tài trợ áo đấu (mặt trước)Nhà tài trợ áo đấu (tay áo)
1975-81Umbrokhông cókhông có
1981-83Le Coq Sportif
1983-85NikeCowie's
1985-86Vaux Breweries
1986-88Patrick
1988-94Hummel
1994-97Avec
1997-00Asics
2000-04NikeReg Vardy
2004-05Diadora
2005-07Lonsdale
2007-10UmbroBoylesports
2010-12Tombola
2012-13AdidasInvest In Africa
2013-15Bidvest
2015-18Dafabet
2018-19Betdaq
2019-20Children with Cancer UK
2020-22NikeGreat Annual Savings Group
2022-23Spreadex Sports
2023-24Hays Travel[229]
2024-25HummelSeriös Group[230]
2025-26W88LiveScore[231]

Cầu thủ Sunderland A.F.C.

Đội hình đội một

Tính đến 2 tháng 3 năm 2026[232]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
3HVLatviaDennis Cirkin
5HVBắc IrelandDaniel Ballard
6HVHà LanLutsharel Geertruida (mượn từ RB Leipzig)
7TVMarocChemsdine Talbi
9Hà LanBrian Brobbey
10EcuadorNilson Angulo
11TVAnhChris Rigg
12Tây Ban NhaEliezer Mayenda
13TVAnhLuke O'Nien
14AnhRomaine Mundle
15HVParaguayOmar Alderete
17HVMozambiqueReinildo Mandava
18HaitiWilson Isidor
19TVSénégalHabib Diarra
SốVT Quốc giaCầu thủ
20HVPhápNordi Mukiele
21TMAnhSimon Moore
22TMHà LanRobin Roefs
25TVBurkina FasoBertrand Traoré
27TVCHDC CongoNoah Sadiki
28TVPhápEnzo Le Fée
29NigeriaAhmed Abdullahi
30TVSerbiaMilan Aleksić
31TMThụy ĐiểnMelker Ellborg
32HVBắc IrelandTrai Hume
34TVThụy SĩGranit Xhaka (đội trưởng)
37Bờ Biển NgàJocelin Ta Bi
46TVPhápAbdoullah Ba

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMAnhAnthony Patterson (cho Millwall mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
4TVAnhDan Neil (cho Ipswich Town mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
24TVBờ Biển NgàSimon Adingra (cho Monaco mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
26HVCHDC CongoArthur Masuaku (cho Lens mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
33HVNa UyLeo Hjelde (cho Sheffield United mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
42HVAnhAji Alese (cho Portsmouth mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVWalesNiall Huggins (cho Wycombe Wanderers mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
HVPhápTimothée Pembélé (cho Le Havre mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVHà LanJenson Seelt (cho Wolfsburg mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVCộng hòa IrelandAlan Browne (cho Middlesbrough mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
UkrainaNazariy Rusyn (cho Arka Gdynia mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Bồ Đào NhaLuís Semedo (cho Moreirense mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
UkrainaTimur Tutierov (cho Exeter City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Cầu thủ nổi bật

Đội dự bị và học viện

Quan chức câu lạc bộ Sunderland A.F.C.

Hội đồng quản trị

Chức vụTên
Chủ tịchKyril Louis-Dreyfus
Giám đốc không điều hànhMaurice Louis-Dreyfus
Juan Sartori
Igor Levin
Patrick Treuer
Simon Vumbaca
Leo Pearlman

Thông tin chính xác tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2025[233]

Ban điều hành

Chức vụTên
Giám đốc kinh doanhDavid Bruce
Giám đốc bóng đáFlorent Ghisolfi
Giám đốc thể thaoKristjaan Speakman

Thông tin chính xác tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2025[233]

Ban huấn luyện

Chức vụTên
Huấn luyện viên trưởngRégis Le Bris
Trợ lí huấn luyện viên trưởngLuciano Vulcano
Trợ lí huấn luyện viênAlessandro Barcherini
Isidre Ramón Madir
Michael Proctor
Huấn luyện viên thủ mônNeil Cutler
Người phụ trách đội Under-21Graeme Murty
Người phụ trách đội Under-18Finbarr Lynch
Jordan Moore

Thông tin chính xác tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2025[233]

Bộ phận vận hành bóng đá

Chức vụTên
Trưởng bộ phận hiệu năng và y họcJamie Harley
Quản lí học việnRobin Nicholls
Trưởng bộ phận phân tích và dữ liệu chuyên sâuRoss Appleton
Trưởng bộ phận hành chính và vận hành bóng đáSamuel Ash
Trưởng bộ phận huấn luyệnStuart English
Trưởng bộ phận tuyển trạch cầu thủStuart Harvey

Thông tin chính xác tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2025[233]

Bộ phận vận hành kinh doanh

Chức vụTên
Giám đốc thương mạiAshley Peden
Trưởng bộ phận cơ sở vật chấtChris Ferguson
Trưởng bộ phận sự kiệnNik Chapman
Trưởng bộ phận truyền thông và truyền thông sốOscar Chamberlain
Giám đốc vận hànhPaul Kingsmore
Kế toán quản trị kinh doanhRoger Whitehill
Trưởng bộ phận an toànSteve Wood

Thông tin chính xác tính đến ngày 18 tháng 8 năm 2025[233]

Danh hiệu Sunderland A.F.C.

Sau đây là những danh hiệu mà Sunderland đã giành được kể từ khi thành lập vào năm 1879.[28][234][235]

Giải vô địch quốc gia

Cúp

  • Cúp FA
    • Vô địch: 1936-37, 1972-73
    • Á quân: 1912-13, 1991-92
  • Football League Cup
  • FA Charity Shield
    • Vô địch: 1936
    • Á quân: 1937
  • EFL Trophy
    • Vô địch: 2020-21
    • Á quân: 2018-19
  • Sheriff of London Charity Shield
    • Vô địch: 1903
  • Football World Championship
    • Vô địch: 1892, 1893, 1895

Giải thưởng

  • BBC Sports Personality Team of the Year Award
1973

Tham khảo Sunderland A.F.C.

  1. "Club Statement". Sunderland A.F.C. ngày 27 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2023.
  2. "Beginnings". Sunderland A.F.C. (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  3. 1 2 3 "Sunderland AFC – Statistics, History and Records". www.thestatcat.co.uk. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 "Club History". Sunderland A.F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  5. "Past Managers 1889-1939". Sunderland A.F.C. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009.
  6. 1 2 Days, p. 21.
  7. Days, pp. 29-30.
  8. Callaghan, Richard (ngày 20 tháng 7 năm 2016). "Sunderland's First Great Centre Forward". Roker Report. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  9. Days, pp. 35-36.
  10. Jonathan Wilson (ngày 25 tháng 4 năm 2020). "Sunderland's Victorian all-stars blazed trail for money's rule of football". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2020.
  11. "When Sunderland met Hearts in the first ever 'Champions League' match". Nutmeg Magazine (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021.
  12. "History: Curiosities of World Football (1891-1900)". IFFHS. ngày 25 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  13. Days, p. 44.
  14. 1 2 Days, pp. 45-46.
  15. 1 2 Days, p. 39.
  16. Days, p. 45.
  17. 1 2 Days, pp. 55-56.
  18. Days, pp. 59-60.
  19. "England Players from Sunderland". englandstats.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2020.
  20. Days, pp. 73-76.
  21. Days, pp. 85-86.
  22. "English FA Cup — Final 1913". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008.
  23. Days, pp. 107-108.
  24. Days, pp. 111-112.
  25. Ross, James M. (ngày 20 tháng 6 năm 2019). "English League Leading Goalscorers". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  26. Days, pp. 139-140.
  27. Days, pp. 139-142.
  28. 1 2 Ross, James M. (ngày 5 tháng 8 năm 2019). "England – List of FA Charity/Community Shield Matches". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  29. "Goalkeeper's Death". The Times. ngày 14 tháng 2 năm 1936.[liên kết hỏng]
  30. Inverdale, John. "On the run with dogs and a long-dead goalkeeper". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  31. "Sunderland Results 1936/37". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  32. Days, p. 154.
  33. 1 2 3 4 UK Retail Price Index inflation figures are based on data from Clark, Gregory (2017). "The Annual RPI and Average Earnings for Britain, 1209 to Present (New Series)". MeasuringWorth. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
  34. Amos, Mike (ngày 14 tháng 12 năm 2007). "Broadis still; bubbling along at 85". The Northern Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  35. Days, pp. 169-170.
  36. Felton, Paul. "Season 1949-50". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  37. Days, p. 63.
  38. Days, pp. 183-184.
  39. Harding, John (ngày 1 tháng 5 năm 2007). "The Jimmy Hill Years: PFA Chairman 1957-1961". Professional Footballers' Association. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009.
  40. Days, p. 187.
  41. Days, pp. 217-218.
  42. "Shocks Do Happen". The FA. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  43. 1 2 Richard Morgan (ngày 31 tháng 12 năm 2003). "Monty wanting more heroics". The FA. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2008.
  44. "Classic Cup Finals: 1976". The FA. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  45. Henry Winter (ngày 7 tháng 4 năm 2008). "Ledley volley sends Cardiff City to Chung kết Cúp FA". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2008.
  46. 1 2 Ross, James M. (ngày 4 tháng 6 năm 2015). "European Competitions 1973-74". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008.
  47. Smyth, Rob (ngày 11 tháng 5 năm 2012). "The Joy of Six: last-day relegation battles". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
  48. Abbink, Dinant (ngày 28 tháng 3 năm 2008). "England League Cup Full Results 1960-1996". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  49. Days, pp. 265-266.
  50. Days, pp. 269-270.
  51. Chris Kelly (ngày 4 tháng 11 năm 2004). "Football fan's 1.000 game milestone". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011.
  52. Felton, Paul. "Season 1990-91". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  53. "Liverpool 2 Sunderland 0". FA Cup Finals. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  54. Days, pp. 291-292.
  55. "Peter Reid's managerial career". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008.
  56. Felton, Paul (ngày 22 tháng 7 năm 2001). "England 1995/96". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  57. "'I Left My Heart In Roker Park' – Roker Report Meets Paul Dunn". Roker Report. ngày 11 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  58. Lathan, Peter (2004). "I Left My Heart in Roker Park... (And Extra Time at the Stadium of Light)". British Theatre Guide. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  59. 1 2 "Stadium of Light". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  60. "Club Profile | Sunderland". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  61. Days, p. 312.
  62. "Phillips nets Golden prize". BBC Sport. ngày 29 tháng 7 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2008.
  63. "Club Profile". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008.
  64. "Sunderland sack manager McCarthy". BBC Sport. ngày 6 tháng 3 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  65. "Keane becomes new Sunderland boss". BBC Sport. ngày 28 tháng 8 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  66. Alexander, Jeremy (ngày 23 tháng 4 năm 2007). "Keane's march to the top falters on tiny Colchester's own ambitions". The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  67. Mercer, Nathan (ngày 29 tháng 4 năm 2007). "Crystal Palace 2-0 Derby". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  68. Walker, Michael (ngày 7 tháng 5 năm 2007). "Sunderland's title has Keane almost smiling". The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  69. "Sbragia resigns from Sunderland". BBC Sport. ngày 25 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2009.
  70. Rob Stewart (ngày 27 tháng 5 năm 2009). "Steve Bruce set for Sunderland talks while Ellis Short completes takeover". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2011.
  71. "Bruce named as Sunderland manager". BBC Sport. ngày 3 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2009.
  72. "Asamoah Gyan joins Sunderland for record £13m fee". BBC Sport. ngày 31 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  73. Louise Taylor (ngày 17 tháng 1 năm 2011). "Darren Bent heads for Aston Villa in record £24m deal". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2011.
  74. "West Ham 0 Sunderland 3: Win means Sunderland finish above Newcastle". Sunderland Echo. ngày 22 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2011.
  75. McCormick, Sean (ngày 2 tháng 11 năm 2018). "Sunderland AFC's academy graduates – where are they now?". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  76. Bacon, Jake (ngày 15 tháng 8 năm 2018). "Signing Super Cup and Champions League-winning captain Jordan Henderson at Liverpool cost Damien Comolli his job". talkSPORT. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  77. Doyle, Ian (ngày 24 tháng 7 năm 2019). "What happened after Liverpool's Champions League final win and why Jurgen Klopp turned down Jordan Henderson request". Liverpool Echo. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  78. "Niall Quinn steps down as Sunderland chairman". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  79. "Niall Quinn leaves Sunderland with immediate effect to concentrate on business interests outside football". The Daily Telegraph. ngày 20 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  80. "Sunderland sack Steve Bruce as manager". BBC Sport. ngày 30 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  81. "Steve Bruce sacked by Sunderland". The Guardian. ngày 30 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  82. "Martin O'Neill named Sunderland manager". BBC Sport. ngày 3 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  83. "Martin O'Neill named as Sunderland manager after signing three-year deal". The Guardian. ngày 3 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  84. "Martin O'Neill sacked as Sunderland manager after Manchester United defeat". SkySports. ngày 31 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2014.
  85. "Paolo Di Canio appointed Sunderland head coach". BBC Sport. ngày 31 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014.
  86. "Di Canio: David Miliband quits Sunderland role". BBC News. ngày 1 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013.
  87. Ubha, Ravi (ngày 3 tháng 4 năm 2013). "'Fascist' Di Canio polarizes opinion". CNN. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020.
  88. "Miners' Di Canio protest 'will only end with Sunderland campaign support'". BBC News. ngày 6 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013.
  89. Daunt, Joe. "Durham Miners' Association: Our Issues With Di Canio At Sunderland Now Resolved". Sky Tyne and Wear. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013.
  90. Taylor, Matthew (ngày 2 tháng 4 năm 2013). "Sunderland miners demand return of banner after Paolo Di Canio's arrival". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013.
  91. Hardy, Martin (ngày 24 tháng 9 năm 2013). "Paolo Di Canio was fired by Sunderland for 'systematic destruction' of". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2013.
  92. Dennis, Ian (ngày 8 tháng 10 năm 2013). "Gus Poyet: Sunderland name Uruguayan as head coach". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014.
  93. McNulty, Phil (ngày 2 tháng 3 năm 2014). "Manchester City 3-1 Sunderland". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014.
  94. "Gus Poyet: Sunderland sack manager after crisis talks". BBC Sport. ngày 16 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  95. "Sunderland: Dick Advocaat appointed Black Cats boss". BBC Sport. ngày 17 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  96. McNulty, Phil (ngày 20 tháng 5 năm 2015). "Arsenal 0-0 Sunderland". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  97. "Dick Advocaat: Sunderland boss quits Premier League strugglers". BBC Sport. ngày 4 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  98. "Sunderland 3-0 Everton". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
  99. "Sam Allardyce appointed new England manager on two-year deal". Sky Sports. ngày 23 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  100. "Sunderland: David Moyes replaces Sam Allardyce as manager". BBC Sport. ngày 23 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  101. Smith, Peter (ngày 29 tháng 10 năm 2016). "Sunderland make worst ever start to a Premier League season". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  102. "Sunderland 0-1 AFC Bournemouth". BBC Sport. ngày 29 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2017.
  103. "David Moyes resigns as Sunderland boss after relegation from Premier League". BBC Sport. ngày 22 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  104. 1 2 "Jordan Pickford: Everton confirm £25m, rising to £30m, deal with Sunderland". BBC Sport. ngày 15 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  105. "Sunderland appoint Simon Grayson as manager after shelving takeover talks". The Guardian. ngày 29 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.
  106. "Simon Grayson sacked as Sunderland manager after draw with Bolton". The Guardian. ngày 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017.
  107. "Coleman named new manager". Sunderland A.F.C. ngày 19 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017.
  108. "Sunderland 1-2 Burton Albion". BBC Sport. ngày 21 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  109. Taylor, Louise (ngày 29 tháng 4 năm 2018). "Sunderland sold by Ellis Short as Chris Coleman is sacked". The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  110. "Jack Ross: Sunderland name St Mirren boss as new manager". BBC Sport. ngày 25 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  111. "Sunderland sack Jack Ross as manager". Sky Sports. ngày 8 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  112. "Phil Parkinson: Sunderland name ex-Bolton Wanderers boss as manager". BBC Sport. ngày 17 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  113. Dubas-Fisher, David; Johns, Craig (ngày 9 tháng 6 năm 2020). "Sunderland officially finish the season in their lowest ever position in history". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  114. "Sunderland sack Phil Parkinson after sluggish start to League One campaign". The Guardian. ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  115. "Sunderland appoint Lee Johnson as head coach". Sky Sports News. ngày 5 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2025.
  116. Hewitt, Matty (ngày 24 tháng 12 năm 2020). "Who is 22-year-old Kyril Louis-Dreyfus? Sunderland's new majority shareholder". Chronicle Live. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2021.
  117. "Louis-Dreyfus acquires controlling interest in Sunderland AFC". ngày 18 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  118. "Sunderland 2-1 Lincoln City (2-3 agg.) - BBC Sport". BBC Sport. ngày 22 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  119. "Sunderland appoint Neil as head coach". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  120. "Sunderland beat Morecambe to secure play-off spot". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  121. "Roberts goal sends Sunderland to play-off final". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  122. "Sunderland back in Championship after play-off win". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  123. "Sunderland appoint Mowbray as boss". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2023.
  124. "Luton overpower Sunderland to reach play-off final". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2023.
  125. "Ex-Rangers boss Beale named Sunderland head coach". BBC Sport. ngày 18 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2023.
  126. "Sunderland sack head coach Beale after 12 games". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2024.
  127. Copley, James (ngày 8 tháng 5 năm 2024). "Next Sunderland manager: Fans name 17 candidates they want Kristjaan Speakman to appoint". Sunderland Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2024.
  128. "Régis Le Bris". safc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2024.
  129. Bazeley, Edward (ngày 19 tháng 5 năm 2024). "Sunderland AFC ownership: A look at Kyril Louis-Dreyfus & Juan Sartori's source of wealth + Net worth". FootballLeagueWorld (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
  130. Thrower, Luke (ngày 13 tháng 2 năm 2024). "'Potential'... Sunderland co-owner explains driving force behind takeover". Sunderland AFC News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
  131. "2024-25 English League Championship Standings - ESPN (IN)". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  132. "Sunderland 1-1 Coventry City, AET (Agg: 3-2): Dan Ballard's last-minute header sends Black Cats to Championship play-off final". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  133. "Sheffield United 1-2 Sunderland LIVE: Black Cats stun Blades". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  134. "Sheffield United 1-2 Sunderland: Black Cats secure return to Premier League after stunning turnaround at Wembley". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  135. "Red and white stripes". Roker Park. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  136. Days, p. 15.
  137. "European Football Club Logos". UEFA Clubs. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008.
  138. "Views divided on Sunderland AFC's new badge". Sunderland Echo. ngày 9 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  139. "European Football Club Logos". UEFA Clubs. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008.
  140. 1 2 "Sunderland". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019.
  141. 1 2 "SAFC Crest". Sunderland A.F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  142. "Blue House Field, Hendon". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  143. "The Cedars". Sunderland A.F.C. (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  144. "The Grove, Ashbrooke". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  145. "Horatio Street, Roker". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  146. "Abbs Field, Fulwell". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  147. "Newcastle Road". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  148. 1 2 "Roker Park". Sunderland A.F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  149. Days, pp. 153-154.
  150. "Service marks Hillsborough deaths". BBC Sport. ngày 15 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009.
  151. Lord Justice Taylor (tháng 1 năm 1990). "Lord Taylor's final report on the Hillsborough stadium disaster (zipped pdf)" (PDF). Home Office. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009.
  152. Taylor, Matthew (ngày 2 tháng 4 năm 2013). "Sunderland miners demand return of banner after Paolo Di Canio's arrival". The Guardian. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
  153. Rayner, Stuart (ngày 13 tháng 4 năm 2019). "Sunderland harnessing fanbase bigger than Valencia, Porto and Juventus". ChronicleLive. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  154. "CIES Football Observatory Monthly Report n°44 - tháng 4 năm 2019 Attendances in football stadia (2003-2018)". CIES. ngày 10 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  155. "The amazing Sunderland attendance statistic which shows how loyal Black Cats fans are". Chronicle Live. ngày 14 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  156. "The astonishing average attendances of England's biggest clubs - where do Sunderland AFC rank?". Sunderland Echo. ngày 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  157. "Sunderland break League One attendance record". Chronicle Live. ngày 26 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  158. "What is Sunderland's home attendance record?". Chronicle Live. ngày 23 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  159. "Sunderland record biggest attendance outside of Premier League with EFL crowds reaching 60-year high". TalkSport. ngày 9 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  160. 1 2 Johns, Craig (ngày 3 tháng 10 năm 2018). "Sunderland AFC chants: Memorable songs from supporters of the Black Cats". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  161. Walker, Michael (ngày 13 tháng 5 năm 2002). "Sunderland 1-1 Derby County". The Guardian. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  162. "Campaign to get 1990s Sunderland anthem Things Can Only Get Better to No1". Sunderland Echo. ngày 24 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  163. "Official Dance Singles Chart Top 40 02 tháng 3 năm 2014 – 08 tháng 3 năm 2014". Official Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  164. White, Peter (ngày 4 tháng 3 năm 2020). "Netflix Sets Premiere For Season Two Of Soccer Doc Series 'Sunderland 'Til I Die'". Deadline. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  165. Mason, Rob (ngày 17 tháng 10 năm 2018). "Ha'way the Lads". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  166. Campbell, Paul (ngày 18 tháng 11 năm 2014). "Are you an average fan? Find out with YouGov's Premier League profiles". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2015.
  167. "Viva Il Duce? Can socialist Sunderland AFC learn to live with self-proclaimed 'fascist' Paolo di Canio". Daily Mirror. tháng 4 năm 2013.
  168. "A Love Supreme — The Independent Sunderland Football Club Fanzine". ALS Publications. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  169. Gav (ngày 25 tháng 4 năm 2018). "Roker Report shortlisted as a finalist in Football Blogging Awards - we need YOUR votes!". Roker Report. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020.
  170. "About us". WiseMenSay. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2022.
  171. "Magazine — Legion of Light". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  172. "History of Fanzines". ALS Publications. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  173. "SAFC Supporters Branches". www.SAFC.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
  174. Pilnick, Brent (ngày 4 tháng 3 năm 2019). "Sunderland's North Korea fan club: Supporter aims to build fan base". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  175. "SAFC Branch Liaison Council". www.SAFC.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
  176. "SAFC Liaison Group". www.SAFC.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
  177. "About:RAWA". www.redandwhitearmy.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
  178. Days, p. 19.
  179. Lawley, Charles (ngày 2 tháng 8 năm 2013). "7 Friendships Between Football Clubs". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2015.
  180. Moore, Nick (ngày 15 tháng 4 năm 2016). "What the heck is the Friendship Trophy? Football's oddest closed cup competitions". FourFourTwo. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019.
  181. "Sunderland's Foundation of Light launches North Durham Football Scholarship". Sunderland Echo. ngày 19 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  182. "Sunderland AFC gets royal recognition". Sunderland Echo (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2018.
  183. "Charity Details". beta.charitycommission.gov.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2018.
  184. "A bit of class at the Stadium of Light" (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2018.
  185. Henchard, James (ngày 21 tháng 11 năm 2017). "The famous Sunderland v Aston Villa painting that hangs in the lobby of the SoL — a history of". Roker Report. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  186. Bennett, Steve (ngày 21 tháng 7 năm 2009). "End of a North-East legend". Chortle. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  187. Chronicle, Evening (ngày 29 tháng 11 năm 2012). "North East's top Tweeters revealed: No 50 to 35". ChronicleLive. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2021.
  188. "daydream believer (cheer up peter reid) | full Official Chart History | Official Charts Company". www.officialcharts.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2021.
  189. Davinson, Mark (ngày 25 tháng 1 năm 2021). "Football songs – a brief introduction". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2021.
  190. "Martyn: Cheer Up Peter Reid | Mr Draytons Human Jukebox". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2021.
  191. "House of Commons Hansard Debates for 14 tháng 5 năm 1997 (pt 5)". UK Parliament. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  192. "First Day: 14 tháng 5 năm 1997: House of Commons debates". TheyWorkForYou. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  193. "'I Left My Heart In Roker Park' – Roker Report Meets Paul Dunn". Roker Report. ngày 11 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  194. "Share your Stadium of Light tales". Sunderland Echo. ngày 11 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  195. Hunter, James (ngày 11 tháng 6 năm 2017). "Sunderland's Premier Passions remembered 20 years after fly-on-the-wall TV came to Roker Park". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  196. Johns, Craig (ngày 26 tháng 11 năm 2018). "Sunderland AFC Netflix documentary gets a release date and a title too". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019.
  197. Pantoja, Stacy (ngày 25 tháng 8 năm 2019). "'Sunderland 'Til I Die' Season 2 Will Happen Despite Club Members' Disapproval To Documentary Series". Business Times. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  198. Mullen, Scott (ngày 9 tháng 8 năm 2019). "Sunderland: Jack Ross on Netflix, promotion & his legacy". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  199. Ross, Ian; Sills, Adam (ngày 22 tháng 2 năm 2000). "Sunderland find new identity as The Black Cats". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  200. "The Original Sunderland Black Cat". Ryehill Football. ngày 19 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  201. "Heart of England Branch". Sunderland A.F.C. Supporters Association. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  202. "Sunderland". The Beautiful History (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2018.
  203. 1 2 "Black Cats Nickname". Sunderland A.F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  204. Jones, Jason (ngày 18 tháng 12 năm 2020). "Entire Sunderland squad told to isolate and warned to stick to strict rules as Christmas effectively cancelled". SunderlandEcho.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  205. Nicholson, Joe (ngày 18 tháng 12 năm 2020). "Sunderland AFC news and transfer rumours: Championship winger linked as former coach joins Sam Allardyce at West Brom". SunderlandEcho.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  206. "Sunderland Covid-19 outbreak: Wearsiders postpone next three matches". BBC.co.uk. ngày 16 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  207. "Why are Sunderland called the Black Cats? Wearsiders' nickname explained". ChronicleLive. ngày 4 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  208. Dykes, pp. 280-282.
  209. 1 2 3 "Sunderland all time records". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008.
  210. "11. Bobby Gurney". Sunderland A.F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  211. 1 2 Mason, p. 443.
  212. "Roker Park". The Stadium Guide. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  213. "Bobby Gurney". The Stat Cat. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2020.
  214. Sutcliffe, Steve (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "Sunderland sign Diarra from Strasbourg in club record deal". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
  215. "Sunderland AFC". European Football Statistics. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2020.
  216. 1 2 "Kit History". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009.
  217. "Sir Tom gets own campus!". Sunderland Echo. ngày 27 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009.
  218. "A safe bet". Irish Examiner. ngày 1 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2018.
  219. "Tombola to become club sponsor". Sunderland A.F.C. ngày 13 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  220. "Sunderland steps up African partnership". Sunderland A.F.C. ngày 25 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  221. Johns, Craig (ngày 1 tháng 6 năm 2015). "Sunderland AFC announce new shirt sponsor will be eGaming operator Dafabet". Evening Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  222. "BETDAQ's title sponsorship with Sunderland AFC". Betdaq. ngày 5 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  223. "Revealed! Sunderland AFC unveil bold new home strip to mixed response from supporters". Sunderland Echo. ngày 21 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  224. "Sunderland AFC announce new principal partner deal with Great Annual Savings Group". Wear Business. ngày 20 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  225. "Sunderland announce new main club sponsor ahead of latest kit release". Sunderland Echo. ngày 29 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  226. "W88 named principal partner". Sunderland A.F.C. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  227. "Sunderland Announce Nike Kit Deal". Football Shirt Culture. ngày 28 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  228. "Partnership: Hummel to become Technical Kit Partner". Sunderland A.F.C. ngày 12 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  229. "SAFC partner with Hays Travel". Sunderland A.F.C. ngày 14 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2025.
  230. "Seriös Group become official data partner". Sunderland A.F.C. ngày 12 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  231. "SUNDERLAND AFC PARTNER WITH LIVESCORE GROUP". Sunderland A.F.C. ngày 13 tháng 8 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  232. "Teams". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  233. 1 2 3 4 5 "Club Personnel". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  234. "Roll of Honour". Sunderland A.F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  235. "Football and the Second World War". Spartacus. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  236. Do các sai phạm tài chính, Swindon Town (đội thắng trận chung kết play-off) bị ngăn không cho giành suất lên hạng đấu cao nhất, và suất này được trao cho đội thua ở chung kết là Sunderland.
  237. "Sheffield United v Sunderland LIVE: Championship play-off final score & updates". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.

Đọc thêm Sunderland A.F.C.

  • Paul Days; John Hudson; Bernard Callaghan (ngày 1 tháng 12 năm 1999). Sunderland AFC: The Official History 1879-2000. Business Education Publishers Ltd. tr. 336. ISBN 978-0-9536984-1-7.
  • Garth Dykes; Doug Lamming (tháng 11 năm 2000). All The Lads: A Complete Who's Who of Sunderland A.F.C. Polar Print Group Ltd. tr. 312. ISBN 978-1-899538-14-0.
  • Rob Mason (tháng 10 năm 2005). Sunderland: The Complete Record. Breedon Books Publishing Co Ltd. ISBN 978-1-85983-472-5.

Liên kết ngoài Sunderland A.F.C.

Nghe bài viết này (48 phút)
Icon Wikipedia được đọc ra
Tệp âm thanh này được tạo từ phiên bản sửa đổi bài viết ngày
Lỗi: không cung cấp được ngày tháng
và không phản ánh các phiên bản tiếp theo.

Bản mẫu:BBC Football Info

Bản mẫu:Sunderland A.F.C.Bản mẫu:Mùa giải Sunderland A.F.C.