Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Derby County F.C.”
Không có tóm lược sửa đổi | viết lại toàn bộ nội dung, dựa theo bản dịch enwiki của Derby County F.C. | ||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
{{Short description|Câu lạc bộ bóng đá ở Derby, Anh}} | |||
{{redirect|Derby County|hạt nghi lễ nơi thành phố Derby tọa lạc|Derbyshire}} | |||
{{About|đội bóng nam|đội bóng nữ|Derby County F.C. Women}} | |||
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá | {{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá | ||
|clubname = Derby County | | clubname = Derby County | ||
|current = | | current = Derby County F.C. mùa giải 2025-26 | ||
|image = [[Tập tin:Derby_County_FC.png|200px]] | | image = [[Tập tin:Derby_County_FC.png|200px]] | ||
|fullname = | | fullname = Câu lạc bộ bóng đá Derby County | ||
|nickname = The Rams | | nickname = The Rams | ||
| short name = Derby | |||
The sheep | |||
|founded = | | founded = {{Start date and age|df=yes|1884}} | ||
|ground = [[ | | ground = [[Sân vận động Pride Park]] | ||
|capacity = 33 | | capacity = 33.597 | ||
|owner = | | owner = [[David Clowes]] | ||
|chairman = | | chairman = David Clowes | ||
| mgrtitle = Huấn luyện viên trưởng | |||
|coach = [[Liam Rosenior]] (tạm quyền)<ref>{{cite news |title=Derby County Club Statement|url=https://www.dcfc.co.uk/news/2022/06/club-statement-240622 |access-date=24 June 2022 |work=dcfc.co.uk |date=24 June 2022}}</ref><ref>{{cite news |title=Rosenior Appointed Interim Manager|url=https://www.dcfc.co.uk/news/2022/06/rosenior-appointed-interim-manager |access-date=26 June 2022 |work=dcfc.co.uk |date=26 June 2022}}</ref> | |||
| | | manager = [[John Eustace]] | ||
| league = {{English football updater|DerbyCou}} | |||
|season = 2021–22 | |||
| season = {{English football updater|DerbyCou2}} | |||
|position = [[EFL Championship]], 23 trên 24 (xuống hạng) | |||
| position = {{English football updater|DerbyCou3}} | |||
|kit_alt1 = White shirt with black trim and black shorts | |||
| website = {{URL|https://dcfc.co.uk}} | |||
|pattern_la1 = _thickblackhoop | |||
| pattern_la1 = _derby2526h | |||
|pattern_b1 = _collarblack | |||
| pattern_b1 = _derby2526h | |||
|pattern_ra1 = _thickblackhoop | |||
| pattern_ra1 = _derby2526h | |||
|pattern_sh1 = _kappa | |||
| pattern_sh1 = _derby2526h | |||
|pattern_so1 = _band_black | |||
| pattern_so1 = _derby2526hl | |||
|leftarm1 = FFFFFF | |||
| | | leftarm1 = FFFFFF | ||
| | | body1 = FFFFFF | ||
| rightarm1 = FFFFFF | |||
|shorts1 = 000000 | |||
| | | shorts1 = 000000 | ||
| socks1 = ffffff | |||
|kit_alt2 = Maroon shirt with black and white trim and maroon shorts | |||
|pattern_la2 = | | pattern_la2 = _derby2526a | ||
|pattern_b2 = | | pattern_b2 = _derby2526a | ||
|pattern_ra2 = | | pattern_ra2 = _derby2526a | ||
|pattern_sh2 = | | pattern_sh2 = _derby2526a | ||
|pattern_so2 = | | pattern_so2 = | ||
|leftarm2 = | | leftarm2 = 6a6a6a | ||
|body2 = | | body2 = 6a6a6a | ||
|rightarm2 = | | rightarm2 = 6a6a6a | ||
|shorts2 = | | shorts2 = 6a6a6a | ||
|socks2 = | | socks2 = 6a6a6a | ||
|pattern_la3 = | | pattern_la3 = _derbyc2425t | ||
|pattern_b3 = | | pattern_b3 = _derbyc2425t | ||
|pattern_ra3 = | | pattern_ra3 = _derbyc2425t | ||
|pattern_sh3 = | | pattern_sh3 = _derbyc2425t | ||
|pattern_so3 = | | pattern_so3 = _derbyc2425tl | ||
|leftarm3 = | | leftarm3 = | ||
|body3 = | | body3 = | ||
|rightarm3 = | | rightarm3 = | ||
|shorts3 = | | shorts3 = | ||
|socks3 = | | socks3 = | ||
|website = http://www.dcfc.co.uk/ | |||
}} | }} | ||
'''Câu lạc bộ bóng đá Derby County''' ({{Langx|en|Derby County Football Club}}) ({{IPAc-en|ˈ|d|ɑr|b|i}}) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại [[Derby]], Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại [[EFL Championship|Championship]], hạng đấu cao thứ Hai của [[Hệ thống giải bóng đá Anh|bóng đá Anh]]. | |||
'''Derby County Football Club''' / dɑrbi kaʊnti / là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh có trụ sở tại [[Derby]], [[Anh]], là 1 trong 12 thành viên của [[Liên đoàn bóng đá Anh]] vào năm 1888. Năm 2009, câu lạc bộ được xếp hạng thứ 137 trong 200 đội bóng hàng đầu châu Âu của thế kỷ 20 bởi Liên đoàn Thống kê và Lịch sử Bóng đá Quốc tế..<ref name="Europe">{{chú thích web|url=http://www.iffhs.de/?a413f0e03790c443e0f40390b41be8b01905fdcdc3bfcdc0aec70aeedb883ccb05ff1d|title=Europe's club of the Century|work=International Federation of Football History & Statistics|access-date =ngày 10 tháng 9 năm 2009}}</ref> | |||
Là một trong 12 thành viên sáng lập của [[English Football League|Football League]] vào năm 1888, Derby County là một trong chỉ chín câu lạc bộ đã góp mặt trong mọi mùa giải của hệ thống giải bóng đá Anh (126 mùa giải tính đến hết mùa giải 2024-25), trong đó chỉ có sáu mùa nằm ngoài hai hạng đấu cao nhất. | |||
Câu lạc bộ được William Morley thành lập năm 1884 như một nhánh tách ra từ Derbyshire County Cricket Club. Đỉnh cao thành tích của đội đến trong thập niên 1970 khi họ hai lần vô địch First Division và dự các giải đấu lớn của châu Âu trong bốn dịp, vào tới bán kết European Cup cũng như giành thêm một số danh hiệu nhỏ. Ngoài ra, câu lạc bộ cũng là một thế lực đáng gờm trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến – hai lần đứng á quân giải vô địch trong thập niên 1930 – và giành Cúp FA đầu tiên của thời kì hậu chiến vào năm 1946. | |||
Màu đen và trắng là màu sắc truyền thống của câu lạc bộ trong những năm 1890 và biệt danh câu lạc bộ là [[The Rams]],The Sheep nhằm tưởng nhớ đến mối liên hệ giữa những con cừu đực với trung đoàn đầu tiên của dân quân Derby. Linh vật của câu lạc bộ là một con cừu đực tên Rammie và bài hát " [[The Derby Ram]]" là bài hát truyền thống của câu lạc bộ.<ref name="The Derby Ram">{{chú thích báo| url =http://www.folkplay.info/Texts/86sk--lj.htm| publisher =Folkplay| title =The Derby Ram, 1867|date = ngày 28 tháng 6 năm 2004}}</ref> Trụ sở câu lạc bộ tại sân vận động Pride Park, nằm ở [[Pride Park]], [[Derby]], là nơi câu lạc bộ chuyển đến trong năm 1997. Tính đến năm 2013, câu lạc bộ hiện đang chơi ở giải [[Hạng nhất Anh]] và được quản lý bởi [[Steve McClaren]]. Nhưng ở mùa giải 2007/08 Derby County đã phải lãnh trọn những trận đấu tệ nhất giải và nhận thành tích tệ nhất lịch sử [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Ngoại hạng Anh]] khi chỉ giành được đúng 11 điểm sau 38 vòng đấu. Những mùa giải Premier League 1996/97 cho đến 2000/01 Derby County đã phải cố gắng trụ hạng nhưng đến mùa giải 2001/02 Derby County phải xuống hạng. | |||
Màu áo sân nhà của câu lạc bộ là đen và trắng từ thập niên 1890. Biệt danh của đội, The Rams, tôn vinh mối liên hệ của họ với Trung đoàn Thứ nhất của lực lượng dân quân Derby, linh vật của họ là một con cừu đực, cùng bài hát [[The Derby Ram (song)|cấp trung đoàn]],<ref name="The Derby Ram">{{Chú thích báo| url =http://www.folkplay.info/Texts/86sk--lj.htm| publisher =Folkplay| title =The Derby Ram, 1867| date =28 tháng 6 năm 2004| access-date =12 tháng 6 năm 2008| archive-url =https://web.archive.org/web/20080605193920/http://www.folkplay.info/Texts/86sk--lj.htm| archive-date =5 tháng 6 năm 2008| url-status =dead| df =dmy-all}}</ref> như một lời tri ân đối với truyền thống của hạt này. Họ có mối kình địch lâu đời với [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]], đội mà họ cùng tạo nên trận [[Derby County F.C.–Nottingham Forest F.C. rivalry|derby East Midlands]]. | |||
==Sân vận động== | |||
==Lịch sử== | |||
{| class="wikitable sortable" style="text-align: center;" | |||
{{Main|Lịch sử Derby County F.C.}} | |||
! Năm | |||
! Địa điểm | |||
===Khởi đầu và thành công ban đầu=== | |||
! Sức chứa | |||
Derby County F.C. được thành lập năm 1884 như một nhánh tách ra từ [[Derbyshire County Cricket Club]] nhằm mang lại cho cầu thủ và người ủng hộ một mối quan tâm trong mùa đông, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho câu lạc bộ cricket. Ban đầu, ý định là đặt tên câu lạc bộ là "Derbyshire County F.C." để nhấn mạnh mối liên hệ này, nhưng Derbyshire FA, được thành lập năm 1883, đã phản đối với lí do tên gọi quá dài và do đó người hâm mộ có thể sẽ hiểu nhầm đây là một đội bóng của Derbyshire FA. Chơi các trận sân nhà tại [[Racecourse Ground, Derby|Racecourse Ground]] của câu lạc bộ cricket, mùa giải 1884-85 chứng kiến câu lạc bộ thực hiện một chương trình thi đấu giao hữu quy mô lớn, trận đầu tiên là thất bại 0-6 trước Great Lever vào ngày 13 tháng 9 năm 1884. Trận đấu chính thức đầu tiên của câu lạc bộ diễn ra tại [[Cúp FA 1884-85]], nơi họ thua 0-7 trên sân nhà trước [[Walsall Town F.C.|Walsall Town]]. | |||
Có thể nói trận đấu quan trọng nhất trong lịch sử câu lạc bộ diễn ra ở Cúp FA [[Cúp FA 1885-86|mùa giải kế tiếp]], khi chiến thắng 2-0 trước [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]], đội khi ấy đã nổi lên như một thế lực của bóng đá Anh, giúp Derby County ghi dấu trên bản đồ bóng đá Anh, qua đó giúp câu lạc bộ thu hút được những đối thủ chất lượng hơn cho các trận giao hữu và, vào năm 1888, nhận được lời mời tham gia mùa giải khai sinh của [[The Football League|Football League]]. Ngày khai mạc của mùa giải vô địch đầu tiên trong lịch sử là ngày 8 tháng 9 năm 1888, khi Derby bị dẫn 0-3 trên sân khách trước [[Bolton Wanderers F.C.|Bolton Wanderers]] nhưng lội ngược dòng thắng 6-3, dù chung cuộc câu lạc bộ chỉ đứng thứ 10 trong số 12 đội. Năm 1891, họ sáp nhập thêm một câu lạc bộ khác của Derby là [[Derby Midland F.C.|Derby Midland]], đội từng là thành viên của [[Midland Football League (1889)|Midland League]], qua đó trở thành câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp duy nhất của Derby. [[Steve Bloomer]], người thường được xem là cầu thủ xuất sắc nhất lịch sử Derby County, gia nhập câu lạc bộ năm 1892. Năm 1895, câu lạc bộ chuyển đến một sân vận động mới là [[Baseball Ground]] (được gọi như vậy vì trước đó nơi này được dùng cho bóng chày), trở thành sân nhà của họ trong 102 năm tiếp theo. Cũng từ thời điểm đó, câu lạc bộ sử dụng màu áo sân nhà truyền thống là đen và trắng. | |||
Dù Derby thi đấu thiếu ổn định tại giải vô địch, họ vẫn về nhì sau Aston Villa ở mùa giải [[Football League 1895-96|1896]], và có thêm một số lần đứng thứ ba. Họ cũng là một thế lực đáng gờm tại Cúp FA, vào tới ba trận chung kết trong vòng sáu năm quanh bước chuyển sang thế kỉ 20, dù thua cả ba, vào các năm 1898 (1-3 trước [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]]),<ref name="1897FACup">{{Chú thích web|url=http://www.fa-cupfinals.co.uk/1898.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20110928080720/http://www.fa-cupfinals.co.uk/1898.html|archive-date=28 tháng 9 năm 2011|title=Nottingham Forest 3 – 1 Derby County|publisher= facupfinals.co.uk|date=16 April 1898|access-date=30 tháng 10 năm 2013}}</ref> 1899 (1-4 trước [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]])<ref name="1899FACup">{{Chú thích web|url=http://www.fa-cupfinals.co.uk/1899.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20110928080749/http://www.fa-cupfinals.co.uk/1899.html|archive-date=28 tháng 9 năm 2011|title=Sheffield United 4 – 1 Derby County|publisher= facupfinals.co.uk|date=15 April 1899|access-date=30 tháng 10 năm 2013}}</ref> và 1903 (0-6 trước [[Bury F.C.|Bury]]).<ref name="1903FACup">{{Chú thích web|url=http://www.fa-cupfinals.co.uk/1903.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20080804184801/http://www.fa-cupfinals.co.uk/1903.html|archive-date=4 tháng 8 năm 2008|title=Bury 6 – 0 Derby County|publisher= facupfinals.co.uk|date=18 tháng 4 năm 1903|access-date=30 tháng 10 năm 2013}}</ref> | |||
Những nhân vật đáng chú ý gồm có W. D. Clarke, người được cho là "một trong những gương mặt nổi tiếng nhất trong thế giới bóng đá hiệp hội ở thời kì trước chiến tranh".<ref>{{Chú thích báo|last=Piper|first=W. J.|date=February 1, 1939|title=A DERBY MAN'S DIARY|work=Derby Evening Telegraph}}</ref> | |||
===Thời Edward và giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến=== | |||
Năm 1906, [[Steve Bloomer]] được bán cho [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]] do những ràng buộc tài chính, và Derby sau đó phải nhận lần xuống hạng đầu tiên trong lịch sử ở [[Football League 1906-07|mùa giải kế tiếp]],<ref name="historyofdcfc">{{Chú thích web| title=The History of Derby County Football Club| publisher=Derby County F.C.| url=http://www.dcfc.co.uk/news/article/the-history-of-derby-county-255102.aspx| access-date=30 tháng 10 năm 2013| archive-url=https://web.archive.org/web/20131102010833/http://www.dcfc.co.uk/news/article/the-history-of-derby-county-255102.aspx| archive-date=2 tháng 11 năm 2013| url-status=live| df=dmy-all }}</ref> nhưng dưới sự dẫn dắt của [[Jimmy Methven]], họ đưa Bloomer trở lại và giành lại vị trí ở [[Football League First Division|First Division]] vào năm 1911.<ref name="historyofdcfc"/> Năm 1914, họ lại xuống hạng, nhưng ngay lập tức vô địch Second Division để thăng hạng,<ref name="historyofdcfc"/> dù [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] khiến họ phải chờ đến năm 1919 mới lại được chơi bóng ở First Division. Sau hai mùa giải, họ lại xuống hạng vào năm 1921. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm [[George Jobey]] vào năm 1925 đã mở ra một giai đoạn thành công, và sau khi thăng hạng vào năm 1926,<ref name="historyofdcfc"/> câu lạc bộ trở thành một thế lực đáng gờm, với nhiều thứ hạng cao từ cuối thập niên 1920 và xuyên suốt thập niên 1930,<ref name="historyofdcfc"/> trong đó có hai lần về nhì. | |||
[[File:Brian Clough and Peter Taylor Statue Derby.jpg|thumb|right|200px|Tượng Brian Clough và Peter Taylor]] | |||
Derby là một trong số nhiều câu lạc bộ ngừng hoạt động sau khi [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] bùng nổ nhưng bắt đầu trở lại từ đầu thập niên 1940, một phần nhờ sự kiên trì của Jack Nicholas và Jack Webb. Nhờ chiêu mộ được [[Raich Carter]] và [[Peter Doherty (cầu thủ bóng đá)|Peter Doherty]], hai người đều đóng quân tại [[Loughborough]] trong chiến tranh, Derby đã đi trước các đối thủ một bước khi bóng đá chính thức được nối lại với [[Cúp FA 1945-46|Cúp FA 1946]] và giành danh hiệu lớn đầu tiên với chiến thắng 4-1 trước [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]].<ref name="FACupWinners">{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.premiumtv.co.uk/page/History/0,.10270~1026308.00.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20090901205856/http://www.dcfc.co.uk/page/History/0%2C%2C10270~1026308%2C00.html|archive-date=1 tháng 9 năm 2009|title=FA Cup Winners 1946|publisher=Derby County F.C.|date=26 tháng 3 năm 2009|access-date=30 tháng 10 năm 2013|url-status=dead }}</ref> | |||
===Thành công sau chiến tranh và sự sa sút=== | |||
Giải vô địch được nối lại vào mùa giải tiếp theo sau quãng gián đoạn vì [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] và, dưới sự quản lí của Stuart McMillan, đồng thời hai lần phá kỉ lục chuyển nhượng của Anh để kí hợp đồng với [[Billy Steel]] và [[Johnny Morris (cầu thủ bóng đá)|Johnny Morris]] nhằm thay thế Carter và Doherty, Derby kết thúc ở vị trí thứ tư và thứ ba lần lượt vào các mùa giải 1948 và 1949, trước khi bắt đầu một quá trình sa sút đều đặn và câu lạc bộ xuống hạng vào năm 1953, sau gần 30 năm ở hạng đấu cao nhất, rồi lại xuống hạng vào năm 1955 để rơi xuống hạng Ba của bóng đá Anh lần đầu tiên trong lịch sử.<ref name="historyofdcfc"/> [[Harry Storer Jr.|Harry Storer]] đưa Derby trở lại hạng Hai ở lần thử sức thứ hai vào [[Bóng đá Anh mùa giải 1956-57|năm 1957]], song câu lạc bộ không tiến xa hơn trong thập niên kế tiếp dưới thời Storer hoặc người kế nhiệm ông, cựu cầu thủ Derby [[Tim Ward (cầu thủ bóng đá)|Tim Ward]]. | |||
===Thời Brian Clough=== | |||
Năm 1967, [[Brian Clough]] và [[Peter Taylor (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1928)|Peter Taylor]] tiếp quản đội bóng và dẫn dắt Derby tới giai đoạn huy hoàng nhất. Khởi đầu từ vị trí thứ 18 ở Second Division năm 1968, Clough và Taylor chiêu mộ [[Alan Hinton]], [[Roy McFarland]] và [[John O'Hare]], rồi thực hiện bản hợp đồng có ảnh hưởng lớn là [[Dave Mackay]] để đưa câu lạc bộ lên vị trí số 1 vào năm 1969 và thăng hạng lên First Division.<ref>{{Chú thích sách|last1=Rostron|first1=Phil|title=We are the damned united: The real story of Brian Clough at Leeds United|date=2011|publisher=Mainstream Pub.|location=Edinburgh|isbn=9781845969394}}</ref> Derby sau đó đứng thứ tư năm 1970,<ref name="historyofdcfc"/> bị cấm dự cúp châu Âu vì những sai phạm tài chính vào năm 1971, và giành chức vô địch Football League đầu tiên trong lịch sử vào năm 1972.<ref name="historyofdcfc"/> Dù Derby không bảo vệ được danh hiệu ở mùa giải sau, họ vẫn vào tới [[European Cup 1972-73#Semi-finals|bán kết]] của [[UEFA Champions League|European Cup]], nơi họ thua [[Juventus FC|Juventus]]. Những phát biểu thẳng thắn thường xuyên của Clough chống lại giới điều hành bóng đá cuối cùng dẫn tới mâu thuẫn với ban giám đốc câu lạc bộ, và Clough cùng Taylor rời đội vào tháng 10 năm 1973. Ảnh hưởng của họ đối với câu lạc bộ lớn đến mức, 37 năm sau, một bức tượng đồng cao 9 ft (2,75 mét) của cặp đôi này được dựng bên ngoài [[Sân vận động Pride Park|Pride Park]] để tưởng niệm di sản của họ.<ref name="cloughtaylormonument">{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.co.uk/page/CloughTaylorMonument/0,.10270~2083075.00.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20101024222410/http://www.dcfc.co.uk/page/CloughTaylorMonument/0%2C%2C10270~2083075%2C00.html|archive-date=24 tháng 10 năm 2010|title=Rams Name The Date For Clough/Taylor Reveal|publisher=Derby County F.C.|date=27 tháng 8 năm 2010|access-date=30 tháng 10 năm 2013|url-status=dead }}</ref> | |||
===Thành công và sa sút sau thời Clough=== | |||
Dù Clough và Taylor ra đi, thành công ở giải vô địch của Derby được lặp lại trong [[Bóng đá Anh mùa giải 1974-75|mùa giải 1974-75]] khi họ giành chức vô địch dưới sự dẫn dắt của người kế nhiệm Dave Mackay, người từng là cầu thủ dưới thời Clough khi đội trở lại hạng đấu cao nhất năm 1969. Tuy nhiên, phong độ của Derby sa sút về cuối thập niên 1970 và họ rớt xuống Second Division vào năm 1980 sau một loạt đời huấn luyện viên, trong đó có cựu huấn luyện viên [[Manchester United F.C.|Manchester United]] là [[Tommy Docherty]], làm câu lạc bộ mất ổn định. Dù khởi đầu khá tốt ở mùa đầu tiên tại Division Two, Derby sớm bị ảnh hưởng nặng nề bởi nợ nần gia tăng, lượng khán giả giảm sút và màn trình diễn đáng thất vọng.{{citation needed|date=tháng 12 năm 2024}} | |||
Peter Taylor trở lại Baseball Ground trên cương vị huấn luyện viên đầu năm 1983 và giúp Derby trụ hạng mùa đó, nhưng ông giải nghệ một năm sau, ngay trước khi Derby rớt xuống [[Football League Third Division|Third Division]] chỉ lần thứ hai trong lịch sử. Tuy nhiên, Derby vẫn tránh được nguy cơ phá sản, và chẳng bao lâu sau họ thuộc quyền sở hữu của doanh nhân giàu có [[Robert Maxwell]]. [[File:Derby Former Baseball Ground Commemoration by Denis O'Connor.JPG|thumb|right|200px|Tác phẩm tưởng niệm sân Baseball Ground cũ của Derby County do [[Denis O'Connor (British-Irish sculptor)|Denis O'Connor]] thực hiện]] | |||
===Sự hồi sinh trong thập niên 1980 và thăng hạng lên Premier League=== | |||
Sau khi xuống hạng xuống Third Division vào tháng 5 năm 1984, câu lạc bộ bổ nhiệm [[Arthur Cox (cầu thủ bóng đá)|Arthur Cox]] làm huấn luyện viên. Dù lỡ suất thăng hạng ở mùa giải đầu tiên của Cox, họ sau đó giành hai lần thăng hạng liên tiếp và trở lại First Division cho [[Bóng đá Anh mùa giải 1987-88|mùa giải 1987-88]], trong bối cảnh lượng khán giả cũng tăng lên khi thành tích trên sân và tình hình tài chính của câu lạc bộ được cải thiện. Sự hậu thuẫn tài chính của tân chủ tịch Robert Maxwell giúp những ngôi sao như [[Peter Shilton]], [[Mark Wright (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1963)|Mark Wright]], [[Dean Saunders]], [[Trevor Hebberd]] và [[Ted McMinn]] được đưa về câu lạc bộ, và họ kết thúc [[Bóng đá Anh mùa giải 1988-89|mùa giải 1988-89]] ở vị trí thứ năm. | |||
Việc Maxwell không tiếp tục đầu tư thêm nhanh chóng dẫn tới sa sút và làn sóng bất mãn trong giới người hâm mộ câu lạc bộ, đỉnh điểm là việc rớt lại xuống Second Division vào năm 1991 khi Derby đứng cuối First Division với chỉ năm chiến thắng trong cả mùa giải. Vào thời điểm này, doanh nhân báo chí địa phương [[Lionel Pickering]] trở thành cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ, nắm quyền kiểm soát ngay trước khi Maxwell qua đời vào tháng 11 năm 1991. Năm 1992, Derby County trả 2,5 triệu bảng cho trung vệ [[Craig Short]] của [[Notts County F.C.|Notts County]], vào thời điểm đó – và trong năm năm sau đó – là cầu thủ đắt giá nhất được một câu lạc bộ ngoài hạng đấu cao nhất kí hợp đồng, và thực tế cũng là một trong những mức phí cao nhất mà bất kì câu lạc bộ Anh nào từng trả cho một cầu thủ vào thời điểm ấy. Những bản hợp đồng đắt giá khác gồm các tiền đạo [[Tommy Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1971)|Tommy Johnson]] và [[Marco Gabbiadini]]. Việc Cox từ chức huấn luyện viên vào tháng 10 năm 1993 dẫn tới sự bổ nhiệm cựu cầu thủ [[Roy McFarland]] làm huấn luyện viên. Derby vào tới chung kết play-off Division One ở mùa giải đó, nhưng bị đối thủ địa phương [[Leicester City F.C.|Leicester City]] đánh bại. McFarland bị sa thải một năm sau khi Derby bỏ lỡ suất play-off, và người thay ông là [[Jim Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1940)|Jim Smith]] – một huấn luyện viên mà thành tích tại các câu lạc bộ trước đó gồm bốn lần thăng hạng và một lần vào bán kết Cúp FA. | |||
Dù [[Bóng đá Anh mùa giải 1995-96|mùa giải 1995-96]] khởi đầu chậm chạp, việc kí hợp đồng với cầu thủ quét [[Igor Štimac]] vào đầu mùa thu đã chứng tỏ có ý nghĩa quyết định. Smith dẫn dắt The Rams tới vị trí thứ hai và giành quyền lên [[Premier League]], lúc này là hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Trong mùa giải đó, thông báo được đưa ra rằng Derby sẽ rời Baseball Ground sau hơn 100 năm để chuyển tới một sân vận động toàn ghế ngồi mới, sau những kế hoạch trước đó nhằm phát triển Baseball Ground thành sân có sức chứa 26.000 chỗ.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/page/the-baseball-ground|title=The Baseball Ground – Derby County|website=www.dcfc.co.uk|access-date=21 tháng 1 năm 2019}}</ref> | |||
Sau khi đứng thứ 12 trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, câu lạc bộ rời Baseball Ground, sân nhà của họ suốt 102 năm, để chuyển đến [[Sân vận động Pride Park]] mới với sức chứa 33.597 chỗ cho [[Bóng đá Anh mùa giải 1997-98|mùa giải 1997-98]]. Baseball Ground bị phá dỡ sáu năm sau đó và cuối cùng một công trình tưởng niệm đã được dựng lên để ghi nhớ vai trò của sân trong lịch sử thành phố Derby.<ref name="BBGMemorial">{{Chú thích web| title=Baseball Ground sculpture has been unveiled| work=ThisIsDerbyshire| url=http://www.derbytelegraph.co.uk/Baseball-Ground-sculpture-unveiled/story-11593931-detail/story.html| access-date=30 tháng 10 năm 2013| url-status=dead| archive-url=https://web.archive.org/web/20141105215736/http://www.derbytelegraph.co.uk/Baseball-Ground-sculpture-unveiled/story-11593931-detail/story.html| archive-date=5 tháng 11 năm 2014| df=dmy-all}}</ref> | |||
===Xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất và khủng hoảng tài chính=== | |||
Câu lạc bộ thích nghi tốt với sân nhà mới khi liên tiếp có hai mùa giải kết thúc trong top 10 lần đầu tiên kể từ đỉnh cao thập niên 1970, trước khi sự sa sút đột ngột ở bước ngoặt thiên niên kỉ khiến họ trải qua ba năm chật vật. Smith từ chức và được thay bằng các cựu cầu thủ [[Colin Todd]], người chỉ trụ được ba tháng, và [[John Gregory (cầu thủ bóng đá)|John Gregory]], trước khi The Rams xuống hạng năm 2002 sau sáu năm ở hạng đấu cao nhất. | |||
Việc Derby County xuống hạng khiến câu lạc bộ rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, buộc họ phải bán đi nhiều cầu thủ chủ chốt. Gregory sau đó bị đình chỉ công tác huấn luyện vì những cáo buộc liên quan đến hành vi sai trái, và cựu huấn luyện viên [[Ipswich Town F.C.|Ipswich Town]] là [[George Burley]] được đưa về. Câu lạc bộ rơi vào tình trạng [[receivership|bị đặt dưới sự quản lí tài sản]] rồi được bán vào tháng 10 năm 2003 với giá 3 bảng cho một nhóm do [[Jeremy Keith]] dẫn đầu. Sau khi kết thúc [[Bóng đá Anh mùa giải 2003-04|mùa giải 2003-04]] ở vị trí thứ 20, một sự cải thiện ngoạn mục ở [[Bóng đá Anh mùa giải 2004-05|mùa giải 2004-05]] giúp Derby đứng thứ tư tại [[Football League Championship|Championship]], giành suất dự play-off thăng hạng, dù họ thua [[Preston North End F.C.|Preston North End]] ở bán kết. Không lâu sau, Burley từ chức với lí do bất đồng giữa ông và ban lãnh đạo. Người thay ông là huấn luyện viên đội một của Bolton Wanderers [[Phil Brown (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1959)|Phil Brown]]. Vào tháng 1 năm 2006, Brown bị sa thải sau chuỗi kết quả nghèo nàn. Terry Westley, huấn luyện viên học viện khi đó, tiếp quản đội một đến cuối mùa giải và cứu Derby khỏi xuống hạng. | |||
===Trở lại Premier League rồi lập tức quay về Championship=== | |||
Vào tháng 4 năm 2006, một liên danh doanh nhân địa phương do cựu phó chủ tịch [[Peter Gadsby]] dẫn đầu đã mua lại câu lạc bộ, qua đó giảm nợ và đồng thời đưa [[Sân vận động Pride Park]] trở lại quyền sở hữu của câu lạc bộ. Vào tháng 6 năm 2006, cựu huấn luyện viên Preston North End là [[Billy Davies]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức mới của Derby County. Trong mùa giải đầu tiên, Davies đưa Derby vào loạt [[play-off]] Championship, nơi họ đánh bại [[Southampton F.C.|Southampton]] trong loạt sút luân lưu ở bán kết trước khi vượt qua [[West Bromwich Albion F.C.|West Bromwich Albion]] 1-0 bằng bàn thắng trong hiệp Hai của [[Stephen Pearson]] tại [[Sân vận động Wembley]] mới, qua đó giành quyền trở lại Premier League cùng khoản tiền thưởng đi kèm trị giá 60 triệu bảng.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_div_1/6689971.stm|title=Derby 1-0 West Brom|date=28 tháng 5 năm 2007|access-date=21 tháng 1 năm 2019|via=news.bbc.co.uk}}</ref> | |||
Sau khi không thắng ở năm trận mở màn mùa giải (một trận hòa và bốn thất bại liên tiếp), Derby có chiến thắng đầu tiên với tỉ số 1-0 trước Newcastle, trận đấu mà [[Kenny Miller]] ghi bàn duy nhất.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2007/sep/18/match.derbycounty|title=Premier League: Derby 1-0 Newcastle|first=Stuart James at Pride|last=Park|newspaper=The Guardian|date=17 tháng 9 năm 2007|access-date=21 tháng 1 năm 2019|via=www.theguardian.com}}</ref> Vào tháng 10 năm 2007, Peter Gadsby rời cương vị chủ tịch để được thay bằng cựu chủ sở hữu [[Hull City A.F.C.|Hull City]] là [[Adam Pearson (sports executive)|Adam Pearson]], người ngay lập tức bắt đầu tìm kiếm nguồn đầu tư từ nước ngoài.<ref>[https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/7067444.stm New Derby chairman backs Davies] BBC Sport</ref> Sau khởi đầu tệ hại của mùa giải, huấn luyện viên Billy Davies rời đội theo thỏa thuận chung vào tháng 11.<ref>[http://www.timesonline.co.uk/tol/sport/football/premier_league/derby/article2946767.ece Billy Davies leaves Derby by mutual consent] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080724055356/http://www.timesonline.co.uk/tol/sport/football/premier_league/derby/article2946767.ece|date=24 tháng 7 năm 2008 }} ''The Times''</ref> Ông được thay bằng [[Paul Jewell]],<ref>{{Chú thích web|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/2326932/Paul-Jewell-appointed-Derby-manager.html|title=Paul Jewell appointed Derby manager|author=Giles Mole and agencies|date=28 tháng 11 năm 2007|work=Telegraph.co.uk|access-date=4 tháng 4 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180428093419/https://www.telegraph.co.uk/sport/football/2326932/Paul-Jewell-appointed-Derby-manager.html|archive-date=28 tháng 4 năm 2018|url-status=live}}</ref> nhưng ông không thể cứu câu lạc bộ khi Derby phải nhận suất xuống hạng sớm nhất trong lịch sử Premier League, vào tháng 3,<ref>{{Chú thích báo|first=Phil|last=McNulty|title=Derby 2-2 Fulham|url=https://newsimg.bbc.co.uk/sport1/hi/football/eng_prem/7309363.stm|work=BBC Sport|date=29 tháng 3 năm 2008|access-date=29 tháng 3 năm 2008 }}</ref> lập kỉ lục số điểm thấp nhất lịch sử Premier League,<ref>{{Chú thích báo|title=Dismal Derby take Cats' sad place in the record books|url=http://www.sunderlandecho.com/sport/dismal-derby-take-cats-sad-place-in-the-record-books-1-1149317|publisher=Sunderland Echo|date=29 tháng 3 năm 2008|access-date=31 tháng 10 năm 2013|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102124833/http://www.sunderlandecho.com/sport/dismal-derby-take-cats-sad-place-in-the-record-books-1-1149317|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead }}</ref> và cân bằng kỉ lục 108 năm của [[Loughborough F.C.|Loughborough]] tại Football League về việc chỉ thắng một trận trong cả mùa, điều từng xảy ra ở mùa giải 1899-1900 khi Loughborough đứng cuối [[1899-1900 Football League Second Division|Second Division]]. Vào tháng 1 năm 2008, Derby được tiếp quản bởi một nhóm đầu tư quốc tế do General Sports and Entertainment dẫn đầu, trong đó Pearson tiếp tục là chủ tịch ''de facto''.<ref>{{Chú thích báo|title=New owners reveal Derby ambition|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/7210230.stm|work=BBC Sport|date=28 tháng 1 năm 2008|access-date=31 tháng 10 năm 2013 }}</ref> | |||
Trận sân nhà của Derby trước Sheffield United ngày 13 tháng 9 năm 2008 thu hút sự chú ý lớn từ truyền thông do nó diễn ra gần tròn một năm kể từ chiến thắng gần nhất của Derby ở giải vô địch, một chuỗi trận khiến câu lạc bộ phá kỉ lục bóng đá Anh về số trận liên tiếp không thắng. Chỉ còn bốn ngày nữa là tới đúng một năm từ chiến thắng 1-0 trước [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]], [[Rob Hulse]] ghi bàn vào lưới câu lạc bộ cũ giúp Derby thắng 2-1, mang về cho Paul Jewell chiến thắng đầu tiên của ông ở giải vô địch trên cương vị huấn luyện viên Derby sau lần thử thứ 27. Dù đưa câu lạc bộ tới bán kết Cúp Liên đoàn, lần đầu tiên vào bán kết một giải cúp lớn kể từ năm 1976, nơi Derby thua Manchester United 3-4 sau hai lượt trận, Jewell từ chức huấn luyện viên vào tháng 12 năm 2008 sau chuỗi chỉ hai chiến thắng trong 11 trận.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/7802617.stm|title=Jewell resigns as Derby manager|work=BBC Sport}}</ref> Ông được thay bằng [[Nigel Clough]],<ref>{{Chú thích báo|title=Clough takes over as Derby boss|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/7813858.stm|work=BBC Sport|date=6 tháng 1 năm 2009|access-date=31 tháng 10 năm 2013 }}</ref> con trai của cựu huấn luyện viên Brian Clough. Nigel Clough đưa câu lạc bộ về đích ở vị trí thứ 18 và trụ hạng thành công. Sau bốn năm mờ nhạt ở khu vực giữa bảng xếp hạng, Clough bị thay bởi [[Steve McClaren]] vào tháng 9 năm 2013; McClaren giúp câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ ba tại [[Football League Championship|mùa giải 2013-14]], nhưng thua [[Queens Park Rangers]] trong trận chung kết play-off. | |||
===Thất bại ở play-off, bị quản lí tài chính đặc biệt và xuống hạng=== | |||
Trong mùa giải tiếp theo, doanh nhân địa phương [[Mel Morris (doanh nhân)|Mel Morris]] nắm quyền sở hữu câu lạc bộ. Ban đầu, Morris giám sát một mức chi tiêu chưa từng có trong lịch sử Derby, khi phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ bốn lần chỉ trong ba năm đầu tiên, nhưng đồng thời cũng chứng kiến một sự thay đổi huấn luyện viên chưa từng có, với chín huấn luyện viên trong sáu năm kể từ [[Derby County F.C. mùa giải 2014-15|tháng 6 năm 2015]]. Trong giai đoạn đó, câu lạc bộ trải qua ba chiến dịch play-off không thành công, thất bại hai lần ở bán kết và thua [[Chung kết play-off EFL Championship 2019|trận chung kết năm 2019]] trước [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]]. Vào tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ, dưới sự dẫn dắt của [[Wayne Rooney]], đã suýt tránh được việc xuống hạng xuống League One.<ref name="BBC-08May2021">{{Chú thích báo|title=Derby County 3-3 Sheffield Wednesday|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/56953366|access-date=11 tháng 5 năm 2021|work=BBC Sport|date=8 tháng 5 năm 2021}}</ref> Cũng trong tháng 5 năm 2021, khả năng bị EFL trừng phạt xuất hiện giữa những cáo buộc vi phạm [[UEFA Financial Fair Play Regulations|quy định công bằng tài chính]].<ref name="BBC-11May2021">{{Chú thích báo|title=Derby County set to lose FFP case after EFL appeal|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/57068040|access-date=11 tháng 5 năm 2021|work=BBC Sport|date=11 tháng 5 năm 2021}}</ref> Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, EFL áp đặt lệnh cấm chuyển nhượng đối với câu lạc bộ,<ref name="BBC-08Jul2021">{{Chú thích báo|title=Derby County, Reading & Hull City among eight clubs under EFL transfer embargoes|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/57760968|access-date=19 tháng 7 năm 2021|work=BBC Sport|date=8 tháng 7 năm 2021}}</ref> khiến Rooney chỉ còn trong tay đội hình gồm vỏn vẹn chín cầu thủ chuyên nghiệp cấp cao có hợp đồng.<ref name="BBC-18Jul2021">{{Chú thích báo|last1=Stone|first1=Simon|title=Derby County face starting season without a centre-back, says Wayne Rooney|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/57880074|access-date=19 tháng 7 năm 2021|work=BBC Sport|date=18 tháng 7 năm 2021}}</ref> | |||
Vào ngày 17 tháng 9 năm 2021, ban giám đốc câu lạc bộ thông báo rằng câu lạc bộ sẽ rơi vào tình trạng quản lí tài chính đặc biệt, và [[English Football League|EFL]] xác nhận Derby sẽ bị trừ 12 điểm.<ref name="Administration">{{Chú thích báo|title=Derby County: Championship club file notice to appoint administrators|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/58604851|access-date=20 tháng 9 năm 2021|work=BBC Sport|date=17 tháng 9 năm 2021}}</ref> Vào ngày 16 tháng 11, câu lạc bộ bị trừ thêm chín điểm vì vi phạm các quy tắc kế toán của EFL. Mức trừ thêm ba điểm nữa, vì vi phạm các quy tắc về lợi nhuận và tính bền vững của EFL, đã bị đình chỉ.<ref name="BBC-16Nov2021">{{Chú thích báo|title=Derby County: Championship bottom club docked nine more points for accounting rule breaches|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/59288687|access-date=16 tháng 11 năm 2021|work=BBC Sport|date=16 tháng 11 năm 2021}}</ref> Derby và các công ti liên quan được cho là nợ HMRC 29,3 triệu bảng. Các khoản nợ khác gồm một khoản vay 20 triệu bảng từ tập đoàn đầu tư Mỹ MSD Holdings, cùng nhiều chủ nợ trong bóng đá và thương mại khác với tổng số tiền khoảng 15 triệu bảng.<ref name="BBC-20Nov2021">{{Chú thích báo|title=Derby County and connected firms owe £29m to HM Revenue and Customs|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/59358676|access-date=20 tháng 11 năm 2021|work=BBC Sport|date=20 tháng 11 năm 2021}}</ref> Sau thất bại trước [[Queens Park Rangers F.C.|QPR]], Derby County bị xuống hạng xuống League One.<ref name="BBC-18Apr2022">{{Chú thích báo|title=Queens Park Rangers 1-0 Derby County|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/61062993|access-date=18 tháng 4 năm 2022|work=BBC Sport|date=18 tháng 4 năm 2022}}</ref> | |||
Vào ngày 26 tháng 6 năm 2022, sau khi nhà phát triển bất động sản có trụ sở tại Derbyshire là [[David Clowes]] mua lại Pride Park,<ref name=BBC-24Jun2022/> đề nghị mua câu lạc bộ của ông được chấp nhận, và Quantuma trao cho Clowes tư cách nhà thầu ưu tiên. Các quản tài viên cho biết đề nghị của Clowes phù hợp với chính sách mất khả năng thanh toán của EFL, đồng nghĩa Derby sẽ tránh được một án trừ điểm nữa. Thương vụ này, cùng việc câu lạc bộ thoát khỏi tình trạng quản lí tài chính đặc biệt, cuối cùng được xác nhận vào ngày 1 tháng 7 năm 2022,<ref name="Fisher-01Jul2022">{{Chú thích báo|last1=Fisher|first1=Ben|title=Derby out of administration as David Clowes seals 'exciting' takeover|url=https://www.theguardian.com/football/2022/jul/01/derby-out-of-administration-as-david-clowes-seals-exciting-takeover|access-date=2 tháng 7 năm 2022|work=Guardian|date=1 tháng 7 năm 2022}}</ref> dù EFL và các ông chủ mới của Derby đã thống nhất một số hạn chế liên quan tới chuyển nhượng.<ref name="BBC-01Jul2022">{{Chú thích báo|title=Derby County: David Clowes completes takeover of League One club|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/61927037|access-date=2 tháng 7 năm 2022|work=BBC Sport|date=1 tháng 7 năm 2022}}</ref> (Clowes đã chi 33 triệu bảng để mua câu lạc bộ, trong đó có 19,7 triệu bảng trả cho các chủ nợ, đồng thời đồng ý một thỏa thuận trị giá 22 triệu bảng để mua Pride Park và thanh toán khoản vay còn tồn đọng cho MSD.)<ref name="BBC-08Mar2024">{{Chú thích báo|last1=Aloia|first1=Andrew|last2=Dietrich|first2=Dom|title=Derby County: Owner David Clowes spent £55m to take Rams out of administration|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/68511786|access-date=11 tháng 3 năm 2024|work=BBC Sport|date=8 tháng 3 năm 2024}}</ref> Vào tháng 9 năm 2022, Derby bổ nhiệm huấn luyện viên của [[Rotherham United F.C.|Rotherham United]] là [[Paul Warne]].<ref>{{Chú thích web|title=Paul Warne Appointed as Derby County Head Coach|url=https://www.dcfc.co.uk/news/2022/09/derby-county-club-statement-paul-warne-september-2022|access-date=22 tháng 9 năm 2022|website=dcfc.co.uk}}</ref> Đội bóng cạnh tranh cho suất thăng hạng, nhưng lỡ vòng play-off của League One khi đứng thứ bảy.<ref name="BBC-07May2023">{{Chú thích báo|date=7 tháng 5 năm 2023|title=Sheffield Wednesday 1-0 Derby County|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/65439678|access-date=10 tháng 5 năm 2023|work=BBC Sport}}</ref> Lệnh cấm chuyển nhượng của câu lạc bộ cuối cùng được gỡ bỏ vào tháng 5 năm 2023.<ref name="Aloia-10May2023">{{Chú thích báo|last1=Aloia|first1=Andrew|date=10 tháng 5 năm 2023|title=Derby County: Transfer embargo lifted on League One club after more than two years|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/65543136|access-date=10 tháng 5 năm 2023|work=BBC Sport}}</ref> | |||
===Trở lại Championship=== | |||
Vào cuối [[EFL League One 2023-24|mùa giải 2023-24]], Derby thăng hạng trở lại Championship với tư cách á quân cùng tổng số điểm cao nhất trong lịch sử đội bóng.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/68913311|title=Paul Warne: Derby County boss relieved after Rams seal promotion|first=Andrew|last=Aloia|website=BBC Sport|date=27 tháng 4 năm 2024|access-date=27 tháng 4 năm 2024}}</ref> Vào tháng 9 năm 2024, có thông tin cho rằng ông chủ câu lạc bộ David Clowes đã có các cuộc đàm phán với những nhà đầu tư tiềm năng không nêu tên về việc bán cổ phần chi phối tại Derby County. Các nguồn tin xác nhận "một số bên quan tâm" đã cân nhắc đầu tư.<ref>{{Chú thích báo|title=Derby owner Clowes in talks with new investors|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/articles/cx256365n25o|access-date=25 tháng 9 năm 2024|work=BBC Sport|date=24 tháng 9 năm 2024}}</ref> | |||
Vào ngày 7 tháng 2 năm 2025, sau chuỗi kết quả nghèo nàn mà đỉnh điểm là bảy thất bại liên tiếp tại giải vô địch, Derby thông báo rằng họ đã miễn nhiệm huấn luyện viên [[Paul Warne]] và sẽ lập tức bắt đầu tìm kiếm huấn luyện viên mới.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/news/2025/02/derby-county-paul-warne-february-2024|title=Club Statement: Paul Warne|publisher=Derby County Football Club|date=7 tháng 2 năm 2025|access-date=17 tháng 2 năm 2025}}</ref> Vào ngày 13 tháng 2, Derby thông báo rằng cựu cầu thủ [[John Eustace]] đã được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên trưởng mới.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/news/2025/02/club-statement-john-eustace-appointed-derby-county-head-coach|title=Club Statement: John Eustace Appointed Derby County Head Coach|publisher=Derby County Football Club|date=13 tháng 2 năm 2025|access-date=31 tháng 3 năm 2025}}</ref> Quyết định này khiến ông rời vị trí tại [[Blackburn Rovers]], dù The Rams khi đó đứng thấp hơn đáng kể trên bảng xếp hạng. | |||
==Bản sắc câu lạc bộ== | |||
===Huy hiệu=== | |||
[[File:Derby County badge old.png|frame|Huy hiệu của Derby County từ năm 1946]] | |||
Giống như phần lớn các câu lạc bộ bóng đá lâu đời, Derby County ban đầu không sử dụng huy hiệu trên áo đấu. Huy hiệu đầu tiên của họ được giới thiệu vào năm 1924. Huy hiệu này gồm một tấm khiên tròn chia làm ba phần bằng nhau, tượng trưng cho câu lạc bộ, người hâm mộ và khu vực địa phương, mỗi phần đều chứa các biểu tượng gắn liền theo truyền thống với thành phố Derby: một [[Tudor rose|hoa hồng Tudor]] và một [[crown (headgear)|vương miện]] ở một phần, một [[Nai|con nai đực]] trong công viên ở phần thứ hai, và đầu một [[domestic sheep|con cừu đực]] ở phần cuối cùng. Huy hiệu này chỉ được in trên áo của các cầu thủ trong hai mùa giải trước khi họ trở lại dùng áo trơn. | |||
Đến năm 1934, một huy hiệu khác được giới thiệu. Lần này, đó là một tấm khiên theo hình thức truyền thống, კვლავ chia thành ba phần. Hình con nai đực trong công viên bị loại bỏ, còn hoa hồng và vương miện được tách riêng, mỗi biểu tượng chiếm một phần. Đầu con cừu đực vẫn được giữ lại và nay chiếm phần lớn nhất trên tấm khiên. Huy hiệu này không bao giờ xuất hiện trên áo đấu của cầu thủ. Tấm khiên được chỉnh sửa vào năm 1946 khi hoa hồng và vương miện bị loại bỏ và được thay bằng các chữ cái "DC" (Derby County) và "FC" (Football Club). Huy hiệu, ở bên phải, được in trên áo đấu của cầu thủ kể từ khi ra mắt, dù chỉ phần đầu cừu đực riêng lẻ mới được dùng từ cuối thập niên 1960 (tuy vậy, toàn bộ tấm khiên vẫn là biểu trưng chính thức của câu lạc bộ). | |||
[[File:Derby County.png|thumb|150px|left|Huy hiệu của Derby County từ năm 1997 đến năm 2007]] | |||
Một huy hiệu câu lạc bộ mới được giới thiệu vào năm 1971, với thiết kế hiện đại hơn, và vẫn được sử dụng tới nay sau một số chỉnh sửa. Ban đầu, huy hiệu này gồm một con cừu đực màu trắng cách điệu quay mặt sang trái. Huy hiệu lần đầu được chỉnh sửa nhẹ vào năm 1979 để thêm dòng chữ "Derby County FC" dưới con cừu đực (dù hình con cừu vẫn được dùng riêng lẻ trên trang phục sân khách). Năm 1982, con cừu quay sang phải và dòng chữ phía dưới bị loại bỏ. Con cừu được bao quanh bởi một vòng nguyệt quế, và phía dưới in dòng chữ "Centenary 1984-1985" cho mùa giải kỉ niệm trăm năm của câu lạc bộ. Vòng nguyệt quế bị loại bỏ và dòng chữ "Derby County FC" quay trở lại từ mùa giải tiếp theo. Năm 1993, con cừu lại quay sang trái và dòng chữ một lần nữa bị loại bỏ. Từ năm 1995, con cừu quay sang phải và được đặt trong một hình thoi, phía dưới là dải băng màu vàng ghi "Derby County FC" và tiếp dưới nữa là dòng chữ "1884" (năm thành lập câu lạc bộ). Thiết kế lại được thay đổi vào năm 1997 (xem bên trái): con cừu nay quay sang trái và dải băng vàng chỉ còn ghi "Derby County"; hình thoi và năm thành lập bị loại bỏ. | |||
[[File:Derby County F.C. logo.png|thumb|150px|right|Huy hiệu của Derby County từ năm 2009 đến năm 2013; một phiên bản của huy hiệu này có viền vàng đã được sử dụng từ năm 2007 đến năm 2009.]] | |||
Một thập niên sau, vào năm 2007, huy hiệu lại được chỉnh sửa với con cừu vẫn quay sang trái và dòng chữ "Est. 1884" nay nằm ở giữa một khung tròn có dòng "Derby County Football Club" bằng chữ vàng, trong khi màu sắc được đổi thành màu chính thức của câu lạc bộ là đen và trắng vào năm 2009 (xem đầu trang). Vào tháng 7 năm 2012, câu lạc bộ thông báo ý định chỉ sử dụng hình con cừu mang tính biểu tượng, lúc này chỉ còn là đường viền, trên các áo đấu tương lai thay vì toàn bộ biểu trưng câu lạc bộ. Vào tháng 7 năm 2013, hình con cừu truyền thống này một lần nữa trở thành biểu trưng đầy đủ của câu lạc bộ. | |||
===Màu sắc=== | |||
{{Commons|Trang phục thi đấu Derby County F.C.}} | |||
Màu sắc ban đầu của Derby County (bên phải) là màu hổ phách, nâu sô-cô-la và xanh lam, dù đến thập niên 1890 câu lạc bộ đã chuyển sang màu truyền thống là đen và trắng, và những màu này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Trong các thập niên 1970 và 1980, màu áo sân nhà là áo trắng với một vài điểm nhấn nhỏ màu xanh lam hoặc đỏ (trên huy hiệu câu lạc bộ hoặc biểu tượng của nhà sản xuất áo), quần xanh lam và tất có thể là xanh lam, đỏ, trắng hoặc kết hợp cả ba màu.<ref name="DerbyKits">{{Chú thích web|url=http://www.historicalkits.co.uk/Derby_County/Derby_County.htm|title=Derby County|publisher=Historical Football Kits|access-date=31 tháng 10 năm 2013|archive-url=https://web.archive.org/web/20131019060615/http://www.historicalkits.co.uk/Derby_County/Derby_County.htm|archive-date=19 tháng 10 năm 2013|url-status=live }}</ref> Màu sắc của trang phục sân khách thay đổi rất đa dạng, và dù thường là vàng/vàng kim hoặc xanh lam, màu áo sân khách của mùa giải 2008-09 lại là xanh lục huỳnh quang.<ref name="AwayKits">{{Chú thích web| title=New green Rams away kit revealed| work=Soccerlens| url=http://www.derbycounty-mad.co.uk/news/tmnw/new_rams_green_away_shirt_revealed_401625/index.shtml| access-date=31 tháng 10 năm 2013| archive-url=https://web.archive.org/web/20131102022836/http://www.derbycounty-mad.co.uk/news/tmnw/new_rams_green_away_shirt_revealed_401625/index.shtml| archive-date=2 tháng 11 năm 2013| url-status=live| df=dmy-all}}</ref> Câu lạc bộ cũng giới thiệu một bộ trang phục thứ ba gây bất ngờ vào tháng 8 năm 2008. Có thiết kế tương tự bộ trang phục sân khách của câu lạc bộ trong thập niên 1970, với các sọc xanh lam và trắng, gợi nhớ tới trang phục của [[Argentina national football team|đội tuyển quốc gia Argentina]], kiểu dáng này được tái sử dụng sau phản hồi từ người hâm mộ, những người nói rằng đây là một trong những bộ trang phục yêu thích nhất trong quá khứ của câu lạc bộ.<ref name="ThirdKit">{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.premiumtv.co.uk/page/NewsDetail/0,.10270~1379192.00.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20100301143310/http://www.dcfc.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10270~1379192%2C00.html|archive-date=1 tháng 3 năm 2010|title=Stars in stripes|publisher=Derby County F.C.|date=30 tháng 8 năm 2008|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead }}</ref> | |||
{{Football kit box | |||
|align = right | |||
|pattern_la = | |||
|pattern_b = _amberhalf2 | |||
|pattern_ra = | |||
|leftarm = AAD0FF | |||
|body = D2691E | |||
|rightarm = AAD0FF | |||
|shorts = ffffff | |||
|socks = 000000 | |||
|title = Trang phục giai đoạn [[Bóng đá Anh mùa giải 1884-85|1884]]-[[Bóng đá Anh mùa giải 1893-94|94]] | |||
}} | |||
{| class="wikitable" style="text-align:center;margin-left:1em" | |||
|- | |||
!Giai đoạn | |||
!Nhà sản xuất trang phục | |||
!Nhà tài trợ áo đấu | |||
|- | |||
|1973-1979 | |||
|[[Umbro]] | |||
|rowspan=2|<small>Không có</small> | |||
|- | |||
|1979-1980 | |||
|rowspan=3|[[Le Coq Sportif]] | |||
|- | |||
|1980-1981 | |||
|[[BMI (airline)|British Midland]] | |||
|- | |||
|1981-1982 | |||
|rowspan=2|[[Patrick (shoe company)|Patrick]] | |||
|- | |||
|1982-1984 | |||
|[[Patrick (shoe company)|Patrick]] | |||
|- | |||
|1984-1985 | |||
|[[Admiral (sportswear)|Admiral]] | |||
|rowspan=2|[[Bass Brewery]] | |||
|- | |||
|1985-1986 | |||
|rowspan=2|OSCA | |||
|- | |||
|1986-1987 | |||
|Sportsweek | |||
|- | |||
|1987-1992 | |||
|rowspan=2|[[Umbro]] | |||
|[[Maxwell Communications Corporation|Maxwell Communications]] | |||
|- | |||
|1992-1993 | |||
|rowspan=3|[[Auto Windscreens]] | |||
|- | |||
|1993-1994 | |||
|[[Bukta]] | |||
|- | |||
|1994-1995 | |||
|Rams Pro Wear | |||
|- | |||
|1995-1998 | |||
|rowspan=2|[[Puma AG|Puma]] | |||
|[[Puma AG|Puma]] | |||
|- | |||
|1998-2001 | |||
|[[Electronic Data Systems|EDS]] | |||
|- | |||
|2001-2005 | |||
|[[Erreà]] | |||
|[[Marston's plc|Marston's Pedigree]] | |||
|- | |||
|2005-2007 | |||
|[[Joma]] | |||
|rowspan=2|[[Derbyshire Building Society]] | |||
|- | |||
|2007-2008 | |||
|rowspan=3|[[Adidas]] | |||
|- | |||
|2008-2010 | |||
|[[Bombardier Inc.|Bombardier]] | |||
|- | |||
|2010-2012 | |||
|rowspan=2|buymobiles.net | |||
|- | |||
|2012-2014 | |||
|[[Kappa (company)|Kappa]] | |||
|- | |||
|2014-2017 | |||
|rowspan=5|[[Umbro]] | |||
|[[Just Eat]] | |||
|- | |||
|2017-2018 | |||
|[[Avon Tyres]] | |||
|- | |||
|2018-2022 | |||
|[[32Red]] | |||
|- | |- | ||
|2022-2023 | |||
| 1884–95 ||align=left| [[Racecourse Ground, Derby|Racecourse Ground]] || n/a | |||
|[[NSPCC]] | |||
|- | |- | ||
|2023-2024 | |||
| 1895–1997 ||align=left| [[Baseball Ground]] || 42000 | |||
|Host and Stay | |||
|- | |- | ||
|2024- | |||
| 1997–''present'' ||align=left| [[Pride Park Stadium]] ||33597 | |||
|[[Puma AG|Puma]] | |||
|FanHub | |||
|} | |} | ||
== | ===Linh vật câu lạc bộ=== | ||
[[File:Rammie.jpg|thumb|right|Linh vật của Derby County, Rammie]]{{Redirect|Rammie|thương hiệu do jschlatt tạo ra|jschlatt#Rammie}} | |||
{{updated|17 tháng 8 năm 2021}}<ref>{{chú thích web |title=First team |url=https://www.dcfc.co.uk/teams |website=dcfc.co.uk |publisher=Derby County FC |access-date=ngày 18 tháng 1 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20170728161722/https://www.dcfc.co.uk/teams |archive-date=ngày 28 tháng 7 năm 2017 |url-status=live }}</ref><ref>{{chú thích web |title=Derby |url=https://www.soccerbase.com/teams/team.sd?team_id=747 |website=soccerbase.com |publisher=Soccerbase |access-date=ngày 20 tháng 3 năm 2019}}</ref> | |||
Linh vật của Derby là một con cừu đực tên Rammie, đồng thời cũng đảm nhiệm việc duy trì mối liên hệ của câu lạc bộ với người hâm mộ và khu vực East Midlands nói chung, chẳng hạn như các chuyến thăm trường học để khuyến khích việc đọc viết và các sự kiện từ thiện.<ref name="Rammie">{{Chú thích web| title=Rammie| publisher=Derby County F.C.| url=http://www.dcfc.co.uk/club/rammie/| access-date=31 tháng 10 năm 2013| url-status=dead| archive-url=https://web.archive.org/web/20131102155841/http://www.dcfc.co.uk/club/rammie/| archive-date=2 tháng 11 năm 2013| df=dmy-all}}</ref><ref name="RammiePledge">{{Chú thích web|url=http://www.therams.co.uk/details.asp?back=true&key=3957%7C0%7C33E8304982607%7CR%7C830%7C1047024412007312598132&parentkey=3957%7C0%7C33E8304982607%7Cp%7C830%7C0|archive-url=https://web.archive.org/web/20070711224408/http://www.therams.co.uk/details.asp?back=true&key=3957%7C0%7C33E8304982607%7CR%7C830%7C1047024412007312598132&parentkey=3957%7C0%7C33E8304982607%7Cp%7C830%7C0|archive-date=11 tháng 7 năm 2007|title=Rammie sets example with pledge for 2007|publisher= therams.co.uk|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> Ban đầu, Rammie xuất hiện như một lựa chọn thân thiện hơn so với mối liên hệ truyền thống của câu lạc bộ với [[British Army]] và đặc biệt là [[Mercian Regiment]] trong phần [[Mercian Regiment#Mascot|linh vật]]. | |||
Rammie là linh vật toàn thời gian đầu tiên của bóng đá Anh.<ref name="RammieDVD">{{Chú thích web|url=http://www.film-studios.co.uk/Rammie.aspx|archive-url=https://web.archive.org/web/20070213090959/http://www.film-studios.co.uk/Rammie.aspx|archive-date=13 tháng 2 năm 2007|title=Reading with Rammie|publisher= film-studios.co.uk|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.amazon.co.uk/Rammie-Reads-Aesops-Fables-DVD/dp/B000JU7MDO|title=Rammie Read's Aesops Fables [DVD]|date=23 tháng 10 năm 2006|publisher=Amazon|access-date=31 tháng 10 năm 2013|archive-url=https://web.archive.org/web/20131103082110/http://www.amazon.co.uk/Rammie-Reads-Aesops-Fables-DVD/dp/B000JU7MDO|archive-date=3 tháng 11 năm 2013|url-status=live }}</ref> Những hoạt động truyền thống của Rammie gồm các màn sút luân lưu với khán giả trong giờ nghỉ giữa hiệp, với Rammie làm thủ môn, làm nóng bầu không khí trước trận đấu và cổ vũ người hâm mộ Derby trong suốt trận đấu. Rammie là một nhân vật rất được yêu mến trong cộng đồng người hâm mộ The Rams<ref name="RammieFC">{{Chú thích web| title=Rammie Fan Club| url=http://www.bebo.com/Profile.jsp?MemberId=3790372676| access-date=12 tháng 6 năm 2008| archive-url=https://web.archive.org/web/20121025163148/http://www.bebo.com/Profile.jsp?MemberId=3790372676| archive-date=25 tháng 10 năm 2012| url-status=live| df=dmy-all}}</ref><ref name="Rammiedream">{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.premiumtv.co.uk/page/NewsDetail/0,.10270~1185992.00.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20090516040459/http://www.dcfc.premiumtv.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10270~1185992%2C00.html|archive-date=16 tháng 5 năm 2009|title=Brave Mum realises Rammie dream|publisher=Derby County F.C.|date=9 tháng 12 năm 2007|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead }}</ref> và vào năm 2005 đã phát hành đĩa DVD đầu tiên, trong đó nhân vật này đọc [[Aesop's Fables]] tại vùng quê Derbyshire.<ref name="RammieDVD"/> | |||
Không lâu sau đó, Rammie có thêm một phiên bản nữ tương đương và cũng là em gái của mình, mang tên Ewie. Tuy nhiên, Ewie không ở lại Pride Park lâu và được cho là đã "đi nghỉ" tại Hoa Kì. Cô trở lại sau 10 năm lưu vong vào ngày 3 tháng 10 năm 2015 trong trận sân nhà gặp [[Brentford F.C.|Brentford]].<ref>{{Chú thích web|title = Derby County: Rams supporters welcome home Ewie – can you spot yourself with Rammie?|url = http://www.derbytelegraph.co.uk/pictures/Derby-County-Rams-supporters-welcome-home-Ewie/pictures-27915294-detail/pictures.html|website = Derby Telegraph|access-date = 1 tháng 12 năm 2015|url-status = dead|archive-url = https://web.archive.org/web/20151005031801/http://www.derbytelegraph.co.uk/pictures/Derby-County-Rams-supporters-welcome-home-Ewie/pictures-27915294-detail/pictures.html|archive-date = 5 tháng 10 năm 2015|df = dmy-all}}</ref> | |||
==Sân đấu== | |||
[[File:Pride Park.jpg|thumb|left|300px|Sân vận động Pride Park là sân nhà của Derby từ năm 1997]] | |||
Với tư cách là một nhánh tách ra từ câu lạc bộ cricket, sân nhà đầu tiên của Derby County là [[County Cricket Ground, Derby|County Cricket Ground]], còn được gọi là Racecourse Ground, nơi câu lạc bộ thi đấu từ năm 1884 đến năm 1895. Dù bản thân sân đấu đủ tiêu chuẩn để tổ chức trận chung kết Cúp FA đầu tiên ngoài [[London]], khi [[Blackburn Rovers F.C.|Blackburn Rovers]] đánh bại West Bromwich Albion 2-0 trong [[Chung kết Cúp FA 1886|trận đá lại chung kết Cúp FA 1886]],<ref name="1886CupFinal">{{Chú thích web|url=http://www.fa-cupfinals.co.uk/1886.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20110928075854/http://www.fa-cupfinals.co.uk/1886.html|archive-date=28 tháng 9 năm 2011|title=1886 – Blackburn Rovers|publisher= facupfinals.co.uk|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> và cả một trận đấu quốc tế chính thức của [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh|đội tuyển Anh]], những tranh chấp về lịch thi đấu chồng chéo giữa câu lạc bộ bóng đá và câu lạc bộ cricket khiến khi có cơ hội chuyển sang sân [[Francis Ley|Sir Francis Ley]] là [[Baseball Ground]], câu lạc bộ đã chấp nhận.<ref name="BBGArtcicle">{{Chú thích báo| url =https://www.independent.co.uk/sport/football-derbys-muddy-oasis-of-sulphur-and-spectacle-1260743.html| work =The Independent| title =Derby's muddy oasis of sulphur and spectacle| date =10 tháng 5 năm 1997| location =London| first =Jon| last =Culley| access-date =1 tháng 5 năm 2010| archive-url =https://web.archive.org/web/20100307042128/http://www.independent.co.uk/sport/football-derbys-muddy-oasis-of-sulphur-and-spectacle-1260743.html| archive-date =7 tháng 3 năm 2010| url-status =live| df =dmy-all}}</ref> | |||
Thường được người hâm mộ gọi là "the BBG", câu lạc bộ chuyển đến Baseball Ground vào năm 1895 và ở lại đó trong 102 năm tiếp theo, bất chấp những cơ hội chuyển đi trong các thập niên 1920 và 1940.<ref name="BBGArtcicle"/><ref>{{Chú thích web|url=http://footysphere.tumblr.com/post/491143430/derby-county-1945|title=Proposed new Derby County stadium 1945|publisher=Footysphere|access-date=8 tháng 2 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20110816135854/http://footysphere.tumblr.com/post/491143430/derby-county-1945|archive-date=16 tháng 8 năm 2011|url-status=live}}</ref> Derby thực ra đã từng thi đấu tại đây rồi, với chiến thắng 1-0 trước [[Sunderland A.F.C|Sunderland]] trong [[Football League 1891-92|mùa giải 1891-92]], như một địa điểm thay thế do trùng lịch tại County Ground. Ở thời kì cực thịnh vào cuối thập niên 1960, sân có thể chứa khoảng 42.000 người – mức khán giả kỉ lục của câu lạc bộ được thiết lập sau khi khán đài Ley Stand mở cửa, khi 41.826 người chứng kiến chiến thắng 5-0 trước [[Tottenham Hotspur F.C.|Tottenham Hotspur]] vào ngày 20 tháng 9 năm 1969.<ref name="BBGArtcicle"/> Từ đỉnh cao này, việc liên tục bổ sung ghế ngồi khiến sức chứa giảm xuống còn 26.500 vào năm 1985. | |||
Sau [[Taylor Report]] năm 1989, cùng yêu cầu pháp lí về các sân vận động toàn ghế ngồi, sức chứa của sân giảm xuống chỉ còn 18.500 vào giữa thập niên 1990, không đủ cho một đội bóng hạng Hai khi ấy đầy tham vọng. Dù ban đầu hi vọng tái thiết Baseball Ground để chứa 26.000 khán giả và đã từ chối đề nghị về hai địa điểm khác tại Derby, chủ tịch khi đó là [[Lionel Pickering]] vào tháng 2 năm 1996 đã thông báo ý định chuyển tới một sân vận động mới được xây dựng chuyên dụng tại khu [[Pride Park]] mới tái phát triển, với trận cuối cùng của đội một tại Baseball Ground diễn ra vào tháng 5 năm 1997, một thất bại 1-3 trên sân nhà trước [[Arsenal F.C.|Arsenal]], dù sân này vẫn tiếp tục tổ chức các trận của đội dự bị cho đến năm 2003. Sân mới của Derby, mang tên [[Sân vận động Pride Park]], được [[Elizabeth II of the United Kingdom|Nữ hoàng]] chính thức khánh thành vào ngày 18 tháng 7, trước khi trận giao hữu với câu lạc bộ Ý [[U.C. Sampdoria|Sampdoria]] diễn ra vào ngày 4 tháng 8. | |||
Derby giữ một vị thế đặc biệt là câu lạc bộ duy nhất từng có ba sân nhà đăng cai các trận quốc tế chính thức của đội tuyển Anh. Anh thắng [[Ireland national football team (1882-1950)|Ireland]] 9-0 tại [[County Cricket Ground, Derby|Racecourse Ground]] năm 1895, thắng Ireland lần nữa 2-1 tại Baseball Ground năm 1911 và gần đây nhất, Pride Park tổ chức chiến thắng 4-0 của Anh trước [[Mexico national football team|México]] vào tháng 5 năm 2001.<ref>[http://www.englandstats.com/venue.php] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131015081206/http://www.englandstats.com/venue.php|date=15 tháng 10 năm 2013}}, England AFC. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013</ref> | |||
Pride Park được đổi tên thành iPro Stadium vào ngày 7 tháng 12 năm 2013, như một phần của hợp đồng tài trợ kéo dài 10 năm trị giá 7 triệu bảng với công ti nước uống thể thao toàn cầu iPro. Vào đầu năm 2017, sân quay trở lại tên gốc là Sân vận động Pride Park. | |||
[[Clowes Developments|Clowes Developments (UK) Ltd]] đã mua lại Pride Park từ Mel Morris vào ngày 17 tháng 6 năm 2022.<ref name=BBC-24Jun2022>{{Chú thích báo|title=Clowes to make bid for Derby after buying stadium|language=en-GB|work=BBC Sport|url=https://www.bbc.com/sport/football/61923835|access-date=2022-06-24}}</ref> | |||
==Cổ động viên và kình địch== | |||
===Cổ động viên=== | |||
Derby thường được cả cổ động viên đối thủ<ref name="FootballGdGuide">{{Chú thích báo| title=Sân vận động Pride Park| publisher=Football Ground Guide| date=10 tháng 6 năm 2008| url=http://www.footballgroundguide.com/derby_county/#Visiting-Pride-Park-Derby| access-date=31 tháng 10 năm 2013| url-status=dead| archive-url=https://web.archive.org/web/20120826044430/http://www.footballgroundguide.com/derby_county/#Visiting-Pride-Park-Derby| archive-date=26 tháng 8 năm 2012| df=dmy-all }}</ref> lẫn báo chí xem là một "thành phố bóng đá cuồng nhiệt". Tony Francis của ''[[The Daily Telegraph]]'' nhận xét: "Derby là một thành phố bóng đá cuồng nhiệt... Ngay cả ở Division 2013-14 Two, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng số khán giả tại Pride Park sẽ không giảm nhiều dưới mốc 30.000. Điều đó thuộc về lịch sử, địa lí, và nằm trong máu. Có nơi có điều đó, có nơi thì không."<ref name="CoffeeCup">{{Chú thích báo| title=The Coffee Horror Show| publisher=BBC| date=22 tháng 3 năm 2004| url=https://www.bbc.co.uk/derby/rams/2004/forest/coffee_cup.shtml| access-date=10 tháng 6 năm 2008| archive-url=https://web.archive.org/web/20050408033852/http://www.bbc.co.uk/derby/rams/2004/forest/coffee_cup.shtml| archive-date=8 tháng 4 năm 2005| url-status=live| df=dmy-all }}</ref> Trong mùa giải Premier League 2007-08, người hâm mộ Derby County nhiều lần được nhắc đến như những người hâm mộ tuyệt vời nhất nước Anh nhờ lòng trung thành của mình bất chấp chiến dịch thảm họa của câu lạc bộ.<ref name="SpursHome">{{Chú thích báo| title=Passion undimmed is sole solace for doomed Derby| work=The Guardian| date=10 tháng 6 năm 2008| url=https://www.theguardian.com/football/2008/feb/11/match.newsstory6| access-date=31 tháng 10 năm 2013| location=London| first=David| last=Lacey| archive-url=https://web.archive.org/web/20131103200222/http://www.theguardian.com/football/2008/feb/11/match.newsstory6| archive-date=3 tháng 11 năm 2013| url-status=live| df=dmy-all }}</ref> Gần như mọi trận sân nhà tại Sân vận động Pride Park đều bán hết vé cho người hâm mộ Derby và câu lạc bộ cũng có lượng cổ động viên đi sân khách rất đông. Sự ghi nhận này bao gồm việc họ được gọi là người hâm mộ của mùa giải trong nhiều bài tường thuật toàn quốc về mùa giải đó, giành một giải thưởng từ tạp chí [[Nuts (magazine)|''Nuts'']],<ref name="RSGoesNuts">{{Chú thích web|url=http://ramspace.entadsl.com/Ramspacegoesnuts%20part2.htm|archive-url=https://web.archive.org/web/20090821103817/http://ramspace.entadsl.com/Ramspacegoesnuts%20part2.htm|archive-date=21 tháng 8 năm 2009|title=RamsSpace Goes Nuts|publisher= ramspace|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> và được một khảo sát năm 2008 của ''Sky Sports Magazine'' gọi là những người ủng hộ trung thành nhất cả nước.<ref name="LoyalSupporters">{{Chú thích báo| title=And our survey says...| publisher=British Sky Broadcasting| work=Sky Sports| date=25 tháng 7 năm 2008| url=http://www.skysports.com/story/0.19528.11096_3856241.00.html| access-date=14 tháng 6 năm 2012| archive-url=https://web.archive.org/web/20121022005227/http://www.skysports.com/story/0.19528.11096_3856241.00.html| archive-date=22 tháng 10 năm 2012| url-status=live| df=dmy-all }}</ref> Năm 2013, người hâm mộ Derby là Nick Webster được bầu là [[Football League Awards#2013 Awards|Người hâm mộ Championship của năm]].<ref name="nickwebster">{{Chú thích báo| title=Derby County's Nick Webster is npower Championship Fan of the Year| work=The Football League| date=24 tháng 3 năm 2013| url=http://www.football-league.co.uk/flawards/news/20130324/derby-countys-nick-webster-is-npower-championship-fan-of-the-year_2293338_3118986| access-date=25 tháng 4 năm 2013}}</ref> | |||
Về mặt thống kê, câu lạc bộ có lượng khán giả trung bình cao thứ 12 cả nước ở các mùa giải 2007-08,<ref name="attendance">{{Chú thích web| title= Premier League Attendance 2007-08| work= Soccernet| url= http://espnfc.com/stats/attendance/_/league/eng.1/year/2007/?cc=5739| access-date= 31 tháng 10 năm 2013| archive-url= https://web.archive.org/web/20131230071251/http://espnfc.com/stats/attendance/_/league/eng.1/year/2007/?cc=5739| archive-date= 30 tháng 12 năm 2013| url-status= live| df= dmy-all}}</ref> 2008-09,<ref name="attendance2009">{{Chú thích web| title= Coca-Cola Football League Championship Attendance 2008-09| work= itv.stats| url= http://stats.football365.com/2009/ENG/D1/attend.html| access-date= 31 tháng 10 năm 2013| url-status= dead| archive-url= https://web.archive.org/web/20131102140738/http://stats.football365.com/2009/ENG/D1/attend.html| archive-date= 2 tháng 11 năm 2013| df= dmy-all}}</ref> và 2009-10,<ref name="attendance2010">{{Chú thích web| title= Coca-Cola Football League Championship Attendance 2009-10 inclusive| work= stats.football365.com| url= http://stats.football365.com/2010/ENG/D1/attend.html| access-date= 31 tháng 10 năm 2013| url-status= dead| archive-url= https://web.archive.org/web/20131102140735/http://stats.football365.com/2010/ENG/D1/attend.html| archive-date= 2 tháng 11 năm 2013| df= dmy-all}}</ref> dù chỉ sở hữu [[List of English football stadia by capacity|sân vận động của câu lạc bộ lớn thứ 15]] và kết thúc ở vị trí thứ 18 trở xuống trong hạng đấu tương ứng. Ở mùa giải 2008-09, họ là câu lạc bộ được ủng hộ đông đảo nhất tại Championship, với lượng khán giả trung bình cao hơn chín câu lạc bộ Premier League. Kể từ khi chuyển tới Sân vận động Pride Park vào năm 1997, lượng khán giả trung bình của Derby chưa bao giờ giảm xuống dưới 23.000 và đội đã nằm trong top 20 câu lạc bộ có lượng khán giả trung bình cao nhất ở 20 trong số 25 mùa giải, dù phần lớn thời gian chơi ở hạng Hai.<ref name="European-football-statistics.co.uk">{{Chú thích web|url=http://european-football-statistics.co.uk/attnclub/league/derc.htm|title=England historical attendance and performance|publisher=European-football-statistics.co.uk|date=|accessdate=21 tháng 2 năm 2022}}</ref> Trong [[Bóng đá Anh mùa giải 2023-24|mùa giải 2023-24]], Derby là đội được ủng hộ đông thứ 6 trong toàn bộ EFL, với lượng khán giả trung bình 27.278 dù thi đấu ở hạng Ba; họ cũng có lượng khán giả trung bình cao hơn sáu câu lạc bộ Premier League.<ref name="European-football-statistics.co.uk"/> | |||
Những người nổi tiếng ủng hộ Derby gồm các diễn viên [[George Clooney]]<ref>{{Chú thích web|url=https://www.nme.com/news/film/george-clooney-opens-up-about-love-of-derby-county-in-new-interview-3190906|title=George Clooney opens up about love for Derby County in new interview|website=[[NME]]|last=Aubrey|first=Elizabeth|date=26 tháng 3 năm 2022|access-date=27 tháng 3 năm 2022}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.goal.com/en/news/george-clooney-admits-to-being-derby-county-fan-as/blt976d07d02d2cd340|title=George Clooney admits to being Derby County fan as Championship club edge closer to new ownership|website=[[Goal (website)|Goal]]|last=Westwood|first=James|date=27 tháng 3 năm 2022|access-date=27 tháng 3 năm 2022}}</ref> và [[Robert Lindsay (actor)|Robert Lindsay]], cựu nghị sĩ Công đảng [[Dennis Skinner]],<ref>{{Chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/uk_politics/2859277.stm|title=Skinner undergoes by-pass surgery|work=BBC News|date=18 tháng 3 năm 2003|access-date=26 tháng 6 năm 2021 }}</ref> ca sĩ [[Irish people|người Ireland]] [[Niall Horan]],<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.derbytelegraph.co.uk/Rams-fan-Niall-scores-X-Factor-place-Direction/story-11648146-detail/story.html|title=Rams fan Niall scores X-Factor place as part of One Direction|date=13 tháng 12 năm 2010|work=Derby Telegraph|publisher=Northcliffe Media|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20141011225655/http://www.derbytelegraph.co.uk/Rams-fan-Niall-scores-X-Factor-place-Direction/story-11648146-detail/story.html|archive-date=11 tháng 10 năm 2014 }}</ref> nghệ sĩ guitar của [[Blur (band)|Blur]] là [[Graham Coxon]],<ref>{{Chú thích web|url=http://drownedinsound.com/in_depth/4142585-theres-no-point-in-touring-with-a-band-if-you-re-playing-music-that-you-hate---dis-meets-graham-coxon|title="There's no point in touring with a band if you're playing music that you hate": DiS meets Graham Co|first=Dom|last=Gourlay|work=DrownedInSound|date=12 tháng 5 năm 2011|access-date=18 tháng 8 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20110824063844/http://drownedinsound.com/in_depth/4142585-theres-no-point-in-touring-with-a-band-if-you-re-playing-music-that-you-hate---dis-meets-graham-coxon|archive-date=24 tháng 8 năm 2011|url-status=live}}</ref> nghệ sĩ guitar của [[The Gaslight Anthem]] là [[Alex Rosamilia]],<ref>{{Chú thích báo|url=http://vivamanchester.co.uk/viva-interview-garry-hayes-the-gaslight-anthem/|title=VIVA Interview: Garry Hayes (The Gaslight Anthem)|date=17 tháng 11 năm 2014|work=VIVA Lifestyle Magazine|access-date=25 tháng 3 năm 2017|language=en-GB}} {{Dead link|date=tháng 7 năm 2019|bot=InternetArchiveBot|fix-attempted=yes }}</ref> diễn viên phim người lớn [[Keiran Lee]],<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.derbytelegraph.co.uk/news/celebs-tv/keiran-lee-britains-top-porn-189114|title={title}|access-date=13 tháng 3 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180314042313/https://www.derbytelegraph.co.uk/news/celebs-tv/keiran-lee-britains-top-porn-189114|archive-date=14 tháng 3 năm 2018|url-status=live |newspaper=Derbytelegraph|date=6 tháng 5 năm 2016 }}</ref> các võ sĩ [[Sandy Ryan]] và [[Zach Parker]], cùng diễn viên [[Jack O'Connell (actor)|Jack O'Connell]]<ref>{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.co.uk/news/article/jack-oconnell-named-as-derby-countys-201415-designated-charity-ambassador-1897153.aspx|title=Jack O'Connell Named As Derby County's 2014/15 Designated Charity Ambassador|work=DCFC Media|access-date=30 tháng 1 năm 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150222164434/http://www.dcfc.co.uk/news/article/jack-oconnell-named-as-derby-countys-201415-designated-charity-ambassador-1897153.aspx|archive-date=22 tháng 2 năm 2015|url-status=live}}</ref> Có thông tin cho rằng O'Connell đã thuyết phục thêm những người nổi tiếng khác ủng hộ câu lạc bộ, bao gồm nữ diễn viên [[Angelina Jolie]],<ref>{{Chú thích báo|title = Angelina Jolie: Hollywood actress now a Derby County fan after filming with Alvaston's Jack O'Connell|url = http://www.derbytelegraph.co.uk/Angelina-Jolie-Derby-County-fan-filming-Alvaston/story-25717432-detail/story.html|work = Derby Telegraph|access-date = 1 tháng 12 năm 2015|url-status = dead|archive-url = https://web.archive.org/web/20151208090825/http://www.derbytelegraph.co.uk/Angelina-Jolie-Derby-County-fan-filming-Alvaston/story-25717432-detail/story.html|archive-date = 8 tháng 12 năm 2015|df = dmy-all}}</ref> và người mẫu [[Cara Delevingne]].<ref>{{Chú thích báo|title = Which club does model Cara Delevingne support?|url = https://www.mirror.co.uk/sport/football/news/cara-delevingne-derby-county-fan-4273756|work = Daily Mirror|access-date = 1 tháng 12 năm 2015|archive-url = https://web.archive.org/web/20151209004856/http://www.mirror.co.uk/sport/football/news/cara-delevingne-derby-county-fan-4273756|archive-date = 9 tháng 12 năm 2015|url-status = live|df = dmy-all}}</ref>{{better source needed|date=tháng 9 năm 2020}} | |||
===Kình địch=== | |||
Những đối thủ chính của Derby là [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]], [[Leicester City F.C.|Leicester City]] và [[Leeds United F.C.|Leeds United]].<ref name="top3rivals">{{Chú thích web|url=http://www.footballfanscensus.com/issueresults/Club_Rivalries_Uncovered_Results.pdf|archive-url=https://web.archive.org/web/20131020074918/http://www.footballfanscensus.com/issueresults/Club_Rivalries_Uncovered_Results.pdf|archive-date=20 tháng 10 năm 2013|title=Club Rivalries Uncovered|publisher= Football Fans Census|date=tháng 12 năm 2003|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> | |||
Forest, có trụ sở tại [[Nottingham]], cách Derby {{convert|14|mi}} về phía đông, là đối thủ dữ dội nhất; một khảo sát năm 2008 xếp mối kình địch này lớn thứ 11 trong bóng đá Anh, cho thấy chín trên mười người hâm mộ của cả hai câu lạc bộ đều xem đội còn lại là đối thủ lớn nhất của mình,<ref>{{Chú thích web|url=http://www.footballpools.com/football-fever/rivalries-11to15.html|title=Football Rivalries Report 2008|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20120210190951/http://www.footballpools.com/football-fever/rivalries-11to15.html|archive-date=10 tháng 2 năm 2012|website=Football Fever – Rivalries|access-date=17 tháng 12 năm 2009}}</ref> trong khi một khảo sát năm 2020 xếp nó đồng hạng 12.<ref name="joint12th">{{Chú thích báo|title=The 30 Biggest Rivalries In English Football Based On Hatred Between The Teams|url=https://www.sportbible.com/football/football-news-rivalries-top-10s-the-30-biggest-rivalries-in-english-football-based-on-hatred-20201212|access-date=22 tháng 4 năm 2021|publisher=Sports Bible|date=12 tháng 12 năm 2020}}</ref> Những cuộc đối đầu giữa hai đội được gọi là [[Cạnh tranh giữa Derby County F.C. và Nottingham Forest F.C.|trận derby East Midlands]] và đội thắng sẽ nhận [[Brian Clough Trophy]]. Toàn bộ mối kình địch này phần lớn phát triển từ thập niên 1970, do cựu huấn luyện viên Derby là [[Brian Clough]] chuyển sang dẫn dắt Forest, điều khiến người hâm mộ Derby hết sức tức giận. Mối kình địch này được xem không chỉ là chuyện khoảng cách địa lí gần nhau giữa hai câu lạc bộ mà còn là chuyện câu lạc bộ nào thực sự giữ được trái tim của Clough.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.timesonline.co.uk/tol/sport/football/football_league/article5489265.ece|title=Nigel Clough: father's pride|work=The Times|access-date=15 tháng 1 năm 2010|location=London|first=Duncan|last=Hamilton|date=11 tháng 1 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20110604144850/http://www.timesonline.co.uk/tol/sport/football/football_league/article5489265.ece|archive-date=4 tháng 6 năm 2011|url-status=dead}}</ref> | |||
Mối kình địch với Leicester bắt nguồn từ vị trí địa lí, cũng như việc Leicester giành chiến thắng trong trận chung kết play-off năm 1994.<ref name="Rivals">{{Chú thích web|url=http://www.youandyesterday.co.uk/articles/Derby_County#Local_rivals|archive-url=https://web.archive.org/web/20091217010209/http://bygonederbyshire.co.uk/articles/Derby_County#Local_rivals|archive-date=17 tháng 12 năm 2009|title=Derby County|publisher= You and Yesterday|date=8 tháng 12 năm 2009|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> | |||
Leeds United bị ghét vì sự ma sát kéo dài từ đầu thập niên 1970 khi Derby và Leeds là hai trong số những đội bóng mạnh nhất nước Anh, cùng với sự thù địch gần như không che giấu giữa các huấn luyện viên tương ứng của họ là Brian Clough và [[Don Revie]]<ref name="Rivals"/> và điều này đã được ghi lại trong tiểu thuyết [[The Damned Utd|''The Damned Utd'']] và bộ phim [[The Damned United|''The Damned United'']]. Theo truyền thống, mối kình địch này mạnh hơn từ phía Derby: trong khi Derby xem Leeds là đối thủ lớn thứ Hai hoặc thứ Ba của mình, người hâm mộ Leeds lại tập trung nhiều hơn vào sự căm ghét dành cho Manchester United và [[Chelsea F.C.|Chelsea]],<ref name="top3rivals"/> tuy nhiên mối kình địch một lần nữa trở nên gay gắt hơn trong [[EFL Championship 2018-19|mùa giải 2018-19]] sau vụ bê bối 'Spygate', trận bán kết [[Play-off English Football League 2019#Championship|play-off]] và sự thù địch gia tăng giữa các huấn luyện viên, ban huấn luyện và người hâm mộ của hai câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.sportinglife.com/football/news/the-rivalry-leeds-v-derby/171612|title=Leeds United v Derby County: A look at the developing rivalry ahead of Sky Bet Championship clash|publisher= Sporting Life|date=21 tháng 9 năm 2019|access-date=3 tháng 10 năm 2019}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/49730392|title=Leeds United v Derby County: How much do you know about their rivalry?|publisher= BBC Sport|date=20 tháng 9 năm 2019|access-date=3 tháng 10 năm 2019}}</ref> | |||
Một nghiên cứu năm 2019 mang tên 'The League of Love And Hate' cho biết năm đối thủ lớn nhất theo người hâm mộ Derby là [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]] (88%), [[Leicester City F.C.|Leicester City]] (64%), [[Leeds United F.C.|Leeds United]] (63%), [[Stoke City F.C.|Stoke City]] (43%) và [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] (30%). Bản thân Derby cũng xuất hiện trong top năm đối thủ của Forest (hạng 1 – 77%), Leicester (hạng 2 – 60%), [[Burton Albion F.C.|Burton Albion]] (hạng 3 – 56%), Leeds (hạng 5 – 30%) và Stoke (hạng 5 – 28%).<ref name="Leagueofloveandhate">{{Chú thích báo|title=The top five rivals of English football's top 92 clubs revealed|url=https://www.givemesport.com/1500300-the-top-five-rivals-of-english-footballs-top-92-clubs-revealed|access-date=22 tháng 4 năm 2021|publisher=Give Me Sport|date=27 tháng 8 năm 2019}}</ref> | |||
==Lịch sử thi đấu tại giải vô địch== | |||
{{Main|Danh sách mùa giải Derby County F.C.}} | |||
[[File:DerbyCountyFC League Performance.svg|thumb|300px|right|Biểu đồ thứ hạng của Derby County tại Football League]] | |||
Derby là một trong mười hai thành viên sáng lập của [[Football League]] và là một trong chỉ mười câu lạc bộ đã góp mặt trong mọi mùa giải của bóng đá vô địch Anh. Câu lạc bộ chủ yếu thi đấu ở hai hạng đấu cao nhất của hệ thống bóng đá, dù đã có ba giai đoạn riêng biệt kéo dài hai năm ở hạng Ba (1955-57, 1984-86 và 2022-24). | |||
Quãng thời gian dài nhất của câu lạc bộ ở hạng đấu cao nhất là 27 năm, diễn ra trong giai đoạn 1926-1953. Tuy nhiên, vào thời điểm đó câu lạc bộ thực tế chỉ thi đấu 21 mùa giải liên tiếp ở Division One do bóng đá chính thức bị đình chỉ trong giai đoạn 1940 và 1946 vì [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] bùng nổ. | |||
Câu lạc bộ hiện đang trải qua quãng thời gian dài nhất ở ngoài hạng đấu cao nhất; họ sẽ thi đấu tại [[EFL Championship|hạng Hai]] ở [[Bóng đá Anh mùa giải 2024-25|mùa giải 2024-25]], là mùa giải thứ 17 liên tiếp không có bóng đá hạng đấu cao nhất kể từ khi rớt khỏi [[Premier League]] vào [[Premier League 2007-08|năm 2008]]. Điều này phá vỡ kỉ lục trước đó là 16 mùa giải liên tiếp trong giai đoạn 1953-1969. | |||
{| class="wikitable" | |||
|- style="vertical-align: top;" | |||
| | |||
* 1888-1907 [[Football League First Division|Division 1]] (L1){{efn|Vào đầu mùa giải 1892-93, Football League mở rộng để bao gồm thêm một hạng đấu thứ hai; hạng đấu hiện có (nơi Derby đang thi đấu) được đổi tên thành First Division.}} | |||
* 1907-1912 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
* 1912-1914 [[Football League First Division|Division 1]] (L1) | |||
* 1914-1915 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
* 1919-1921 [[Football League First Division|Division 1]] (L1) | |||
* 1921-1926 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
| | |||
* 1926-1953 [[Football League First Division|Division 1]] (L1) | |||
* 1953-1955 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
* 1955-1957 [[Football League Third Division North|Division 3 (North)]] (L3) | |||
* 1957-1969 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
* 1969-1980 [[Football League First Division|Division 1]] (L1) | |||
* 1980-1984 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
| | |||
* 1984-1986 [[Football League Third Division|Division 3]] (L3) | |||
* 1986-1987 [[Football League Second Division|Division 2]] (L2) | |||
* 1987-1991 [[Football League First Division|Division 1]] (L1) | |||
* 1991-1996 [[Football League First Division|Division 1]] (L2){{efn|Vào đầu mùa giải 1992-93, các câu lạc bộ tại Football League First Division tách ra để thành lập FA Premier League; vì vậy, ba hạng đấu còn lại của Football League được đổi tên: Second Division (nơi Derby đang thi đấu) trở thành First Division, Third Division trở thành Second Division và Fourth Division trở thành Third Division.}} | |||
* 1996-2002 [[Premier League]] (L1) | |||
* 2002-2007 [[EFL Championship|Championship]] (L2){{efn|Vào đầu mùa giải 2004-05, Football League đổi tên các hạng đấu của mình: First Division (nơi Derby đang thi đấu) trở thành The Championship, Second Division trở thành League One và Third Division trở thành League Two.}} | |||
| | |||
* 2007-2008 [[Premier League]] (L1) | |||
* 2008-2022 [[EFL Championship|Championship]] (L2) | |||
* 2022-2024 [[EFL League One|League One]] (L3) | |||
* 2024– [[EFL Championship|Championship]] (L2) | |||
|} | |||
{{refbegin}}L1 = Cấp độ 1 của hệ thống giải bóng đá; L2 = Cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá; L3 = Cấp độ 3 của hệ thống giải bóng đá.{{refend}} | |||
* Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 1 của [[Hệ thống giải bóng đá Anh|hệ thống giải bóng đá]]: 65 | |||
* Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá: 55 | |||
* Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 3 của hệ thống giải bóng đá: 6 | |||
(tính đến và bao gồm mùa giải 2024-25) | |||
==Cầu thủ== | |||
===Đội hình hiện tại=== | |||
{{updated|5 tháng 2 năm 2026}}<ref>{{Chú thích web| url=https://www.dcfc.co.uk/teams| title=Men's First Team - Player Profiles|access-date=5 tháng 8 năm 2025}}</ref> | |||
{{fs start}} | {{fs start}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 1|nat=SWE|pos=GK|name=[[Jacob Widell Zetterström]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=2|nat=ENG|pos=DF|name=[[Derry Murkin]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 3|nat=SCO|pos=DF|name=[[Craig Forsyth]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 4|nat=ENG|pos=DF|name=[[Danny Batth]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 5|nat=ENG|pos=DF|name=[[Matthew Clarke (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1996)|Matt Clarke]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 6|nat=NOR|pos=DF|name=[[Sondre Langås]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 7|nat=USA|pos=FW|name=[[Patrick Agyemang (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2000)|Patrick Agyemang]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no= 9|nat=ENG|pos=FW|name=[[Carlton Morris]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=10|nat=ENG|pos=FW|name=[[Rhian Brewster]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=12|nat=ENG|pos=GK|name=[[Richard O'Donnell (cầu thủ bóng đá)|Richard O'Donnell]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=15|nat=NOR|pos=FW|name=[[Lars-Jørgen Salvesen]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=16|nat=ENG|pos=MF|name=[[Liam Thompson (cầu thủ bóng đá)|Liam Thompson]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=18|nat=ENG|pos=MF|name=[[David Ozoh]]|other=mượn từ [[Crystal Palace F.C.|Crystal Palace]]}} | ||
{{fs player |no=21 |nat=NED |pos=GK |name=[[Kelle Roos]]}} | |||
{{fs mid}} | {{fs mid}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=19|nat=IRL|pos=MF|name=[[Sammie Szmodics]]|other=mượn từ [[Ipswich Town F.C.|Ipswich Town]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=20|nat=AUS|pos=DF|name=[[Callum Elder]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=22|nat=SCO|pos=DF|name=[[Max Johnston (cầu thủ bóng đá)|Max Johnston]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=23|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe Ward (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995)|Joe Ward]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=25|nat=CHI|pos=FW|name=[[Ben Brereton Díaz]]|other=mượn từ [[Southampton F.C.|Southampton]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=27|nat=ENG|pos=MF|name=[[Lewis Travis]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=28|nat=ENG|pos=DF|name=[[Dion Sanderson]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=29|nat=DEN|pos=MF|name=[[Oscar Fraulo]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=31|nat=ENG|pos=GK|name=[[Josh Vickers]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=34|nat=NED|pos=FW|name=[[Jaydon Banel]]|other=mượn từ [[Burnley F.C.|Burnley]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=37|nat=ENG|pos=MF|name=[[Owen Eames]]}} | ||
{{fs player | {{fs player|no=42|nat=ENG|pos=MF|name=[[Bobby Clark (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2005)|Bobby Clark]]|other=mượn từ [[FC Red Bull Salzburg|Red Bull Salzburg]]}} | ||
{{fs player |no=43 |nat=ENG |pos=DF |name=[[Dylan Williams (footballer, born 2003)|Dylan Williams]]}} | |||
{{fs end}} | {{fs end}} | ||
====Cho mượn==== | |||
==Danh sách các huấn luyện viên== | |||
{{fs start}} | |||
Danh sách của tất cả các HLV của CLB Derby County kể từ khi bổ nhiệm [[Harry Newbould]] vào năm 1900.Huấn luyện viên trưởng của CLB hiện tại là [[Wayne Rooney]]. | |||
{{fs player|no=8|nat=ENG|pos=MF|name=[[Ben Osborn]]|other=cho [[Stockport County F.C.|Stockport County]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs player|no=11|nat=ENG|pos=FW|name=[[Corey Blackett-Taylor]]|other=cho [[Bolton Wanderers F.C.|Bolton Wanderers]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs player|no=14|nat=AUT|pos=MF|name=[[Andreas Weimann]]|other=cho [[SK Rapid Wien|Rapid Wien]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs player|no=17|nat=NED|pos=MF|name=[[Kenzo Goudmijn]]|other=cho [[Go Ahead Eagles]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=21|nat=ENG|pos=DF|name=[[Jake Rooney]]|other=cho [[Boston United F.C.|Boston United]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs player|no=24|nat=NAM|pos=DF|name=[[Ryan Nyambe]]|other=cho [[Reading F.C.|Reading]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs player|no=39|nat=JAM|pos=FW|name=[[Dajaune Brown]]|other=cho [[Port Vale F.C.|Port Vale]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}} | |||
{{fs end}} | |||
====Under-21 và học viện==== | |||
{{main|Derby County F.C. Development Squad and Academy}} | |||
Những cầu thủ Under-21 sau đây từng được điền tên vào đội hình Derby County ở một trận đấu chính thức:<ref>{{Chú thích web| url=https://www.dcfc.co.uk/teams/u21| title=View Under-21s|access-date=22 tháng 2 năm 2026}}</ref> | |||
{{fs start}} | |||
{{fs player|no=44|nat=ENG|pos=DF|name=Isaac Gordon}} | |||
{{fs player|no=45|nat=ENG|pos=MF|name=Charlie Smith}} | |||
{{Fs player|no=48|nat=ENG|pos=FW|name=[[Lennon Wheeldon]]}} | |||
{{fs player|no=51|nat=ENG|pos=GK|name=Harley Price}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=52|nat=ENG|pos=GK|name=Jack Thompson}} | |||
{{fs player|no=53|nat=ENG|pos=DF|name=Rio Canoville}} | |||
{{fs player|no=54|nat=WAL|pos=MF|name=[[Cruz Allen]]}} | |||
{{fs end}} | |||
===Đội nữ=== | |||
{{Main|Derby County F.C. Women}} | |||
===Những cựu cầu thủ đáng chú ý=== | |||
{{Main|Danh sách cầu thủ bóng đá Derby County F.C.}} | |||
====Đại sảnh Danh vọng Premier League==== | |||
[[Premier League Hall of Fame]] vinh danh những cầu thủ và huấn luyện viên hàng đầu từng thi đấu và dẫn dắt tại Premier League, giải đấu cao nhất của hệ thống bóng đá Anh. Được ra mắt vào năm 2020 nhưng bị lùi lại một năm do đại dịch COVID-19, Đại sảnh Danh vọng được thiết kế để ghi nhận và tôn vinh những cầu thủ và huấn luyện viên đã đạt thành công lớn và có đóng góp đáng kể cho giải đấu kể từ khi giải này ra đời vào năm 1992. Ba cựu cầu thủ/huấn luyện viên gắn liền với Derby County đã có mặt trong Đại sảnh Danh vọng Premier League. | |||
*2021 – {{Flagicon|England}} [[Frank Lampard]] | |||
*2022 – {{Flagicon|England}} [[Wayne Rooney]] | |||
*2024 – {{Flagicon|England}} [[Ashley Cole]] | |||
====Các thành viên của Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Anh==== | |||
Một số cựu cầu thủ/huấn luyện viên gắn liền với Derby County có mặt trong [[English Football Hall of Fame]], được thành lập vào năm 2002 để tôn vinh những người đã đạt tới đỉnh cao của bóng đá Anh. Để được xem xét đưa vào, cầu thủ/huấn luyện viên phải từ 30 tuổi trở lên và đã thi đấu/dẫn dắt ít nhất năm năm tại Anh.<ref>{{Chú thích web| url = http://www.nationalfootballmuseum.com/hall-of-fame/about/| title = Hall of Fame – National Football Museum| publisher = [[National Football Museum]]| access-date = 31 tháng 10 năm 2013| archive-url = https://web.archive.org/web/20131102011615/http://www.nationalfootballmuseum.com/hall-of-fame/about/| archive-date = 2 tháng 11 năm 2013| url-status = live| df = dmy-all}}</ref> | |||
*2002 – {{Flagicon|England}} [[Brian Clough]] {{Flagicon|Northern Ireland}} [[Peter Doherty (cầu thủ bóng đá)|Peter Doherty]] {{Flagicon|England}} [[Peter Shilton]] {{Flagicon|Scotland}} [[Dave Mackay]] | |||
*2008 – {{Flagicon|England}} [[Steve Bloomer]] | |||
*2010 – {{Flagicon|England}} [[Francis Lee (cầu thủ bóng đá)|Francis Lee]] | |||
*2013 – {{Flagicon|England}} [[Raich Carter]] | |||
*2014 – {{flagicon|Scotland}} [[Hughie Gallacher]] | |||
*2015 - {{fbicon|IRL}} {{sortname|Paul|McGrath|Paul McGrath (cầu thủ bóng đá)}} | |||
*2016 – {{flagicon|Scotland}} [[John Robertson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1953)|John Robertson]] | |||
*2017 – {{Flagicon|England}} [[Frank Lampard]] | |||
*2025 – {{Flagicon|England}} [[Ashley Cole]] | |||
====100 huyền thoại của Football League==== | |||
[[Football League 100 Legends]] là danh sách "100 cầu thủ bóng đá huyền thoại" do The Football League công bố vào năm 1998 để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá thuộc Football League.<ref name="FL100"/> Tám cựu cầu thủ Derby có mặt trong danh sách này. | |||
Nguồn:<ref name="FL100">{{Chú thích web|url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/sport/football/144986.stm|title=Sport: Football Legends list in full|website=BBC Sport|date=5 August 1998|access-date=19 tháng 12 năm 2023}}</ref> | |||
* {{Flagicon|England}} [[John Goodall]] | |||
* {{Flagicon|England}} [[Steve Bloomer]] | |||
* {{Flagicon|Scotland}} [[Hughie Gallacher]] | |||
* {{Flagicon|England}} [[Raich Carter]] | |||
* {{Flagicon|Northern Ireland}} [[Peter Doherty (cầu thủ bóng đá)|Peter Doherty]] | |||
* {{Flagicon|Scotland}} [[Dave Mackay]] | |||
* {{Flagicon|England}} [[Peter Shilton]] | |||
* {{Flagicon|Ireland}} [[Paul McGrath (cầu thủ bóng đá)|Paul McGrath]] | |||
====Cúp Jack Stamps (Cầu thủ xuất sắc nhất năm)==== | |||
{{Main|Derby County F.C. Player of the Year}} | |||
====Cầu thủ của thập kỉ (thập niên 1970-thập niên 2010)==== | |||
Để đánh dấu kỉ niệm 50 năm chức vô địch First Division của Derby, BBC đã khảo sát người hâm mộ nhằm xác định những cầu thủ xuất sắc nhất của The Rams trong năm thập kỉ kể từ năm 1972. Ở thập niên 1970, [[Kevin Hector]] nhận được nhiều phiếu nhất; ở thập niên 1980 là [[Bobby Davison]]; ở thập niên 1990 là [[Dean Saunders]]; ở thập niên 2000 là [[Mart Poom]]; và ở thập niên 2010 là [[Craig Bryson]].<ref name="BBCpoll-15May2022">{{Chú thích báo|title=Derby County: Fans vote for their Rams player of each decade over the 50 years since the club's first Football League title|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/61421660|access-date=17 tháng 5 năm 2022|work=BBC Sport|date=15 tháng 5 năm 2022}}</ref> | |||
==Quản lí câu lạc bộ== | |||
===Các vị trí huấn luyện=== | |||
{{updated|20 tháng 5 năm 2025}}<ref name="directory"/> | |||
*Huấn luyện viên trưởng: [[John Eustace]] | |||
*Trợ lí huấn luyện viên trưởng: [[Matthew Gardiner (cầu thủ bóng đá)|Matt Gardiner]] | |||
*Huấn luyện viên đội một: [[Keith Downing]] | |||
*Huấn luyện viên bán thời gian: [[Steve Round]] | |||
*Trưởng bộ phận thủ môn: Paul Clements | |||
*Giám đốc học viện: Matt Hale | |||
*Trưởng bộ phận tuyển mộ: [[Leigh Bromby]] | |||
===Ban giám đốc và quyền sở hữu=== | |||
{{Xem thêm|Danh sách chủ sở hữu câu lạc bộ bóng đá Anh}} | |||
{{updated|30 tháng 6 năm 2023}}<ref>{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/page/ownership-board|title=Ownership and board|website=Derby County F.C.|access-date=19 tháng 12 năm 2023}}</ref><ref name="directory">{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/page/club-directory|title=Club directory|website=Derby County F.C.|access-date=19 tháng 12 năm 2023}}</ref> | |||
*Chủ sở hữu và Chủ tịch: [[David Clowes]] | |||
*Thư kí câu lạc bộ và Thành viên ban giám đốc: Richard Tavernor | |||
*Thành viên ban giám đốc: Ian Dickinson | |||
*Tổng giám đốc điều hành: Stephen Pearce | |||
*Đại sứ câu lạc bộ: [[Roy McFarland]]; [[Roger Davies (cầu thủ bóng đá)|Roger Davies]] | |||
===Lịch sử huấn luyện viên=== | |||
{{Main|Danh sách huấn luyện viên Derby County F.C.}} | |||
Dưới đây là danh sách tất cả các huấn luyện viên chính thức mà Derby County từng có kể từ khi [[Harry Newbould]] được bổ nhiệm vào năm 1900.<ref name="Managers">{{Chú thích web|url=https://www.soccerbase.com/teams/team.sd?team_id=747&season_id=149&teamTabs=managers|title=Derby Manager History|website=Soccerbase|access-date=19 tháng 12 năm 2023}}</ref> Trong 12 năm trước khi Newbould được bổ nhiệm, đội bóng do ủy ban của câu lạc bộ lựa chọn, một thông lệ phổ biến của các câu lạc bộ bóng đá vào thời điểm đó. | |||
{| | {| | ||
|- style="vertical-align: top;" | |- style="vertical-align: top;" | ||
* 2020–: {{Flagicon|ENG}} [[Wayne Rooney]] | |||
* 2018–2019: {{Flagicon|ENG}} [[Frank Lampard]] | |||
* 2013–2015, 2016-2017: {{Flagicon|ENG}} [[Steve McClaren]] | |||
* 2009–2013: {{Flagicon|ENG}} [[Nigel Clough]] | |||
* 2007–2008: {{Flagicon|ENG}} [[Paul Jewell]] | |||
* 2006–2007: {{Flagicon|SCO}} [[Billy Davies]] | |||
* 2005–2006: {{Flagicon|ENG}} [[Phil Brown (footballer born 1959)|Phil Brown]] | |||
* 2003–2005: {{Flagicon|SCO}} [[George Burley]] | |||
* 2002–2003: {{Flagicon|ENG}} [[John Gregory (footballer)|John Gregory]] | |||
* 2001–2002: {{Flagicon|ENG}} [[Colin Todd]] | |||
* 1995–2001: {{Flagicon|ENG}} [[Jim Smith (footballer)|Jim Smith]] | |||
| | | | ||
* 2025–: {{flagicon|ENG}} [[John Eustace]] | |||
* 2022-2025: {{flagicon|ENG}} [[Paul Warne]] | |||
* 2020-2022: {{flagicon|ENG}} [[Wayne Rooney]] | |||
* 2019-2020: {{flagicon|NED}} [[Phillip Cocu]] | |||
* 2018-2019: {{flagicon|ENG}} [[Frank Lampard]] | |||
* 2017-2018: {{flagicon|ENG}} [[Gary Rowett]] | |||
* 2016-2017: {{Flagicon|ENG}} [[Steve McClaren]] | |||
* 2016: {{Flagicon|ENG}} [[Nigel Pearson]] | |||
* 2016: {{Flagicon|ENG}} [[Darren Wassall]] | |||
* 2015-2016: {{Flagicon|ENG}} [[Paul Clement ((huấn luyện viên bóng đá))|Paul Clement]] | |||
* 2013-2015: {{Flagicon|ENG}} [[Steve McClaren]] | |||
* 2009-2013: {{Flagicon|ENG}} [[Nigel Clough]] | |||
* 2007-2008: {{Flagicon|ENG}} [[Paul Jewell]] | |||
* 2006-2007: {{Flagicon|SCO}} [[Billy Davies]] | |||
| | | | ||
* | * 2006: {{Flagicon|ENG}} [[Terry Westley]] | ||
* | * 2005-2006: {{Flagicon|ENG}} [[Phil Brown (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1959)|Phil Brown]] | ||
* | * 2003-2005: {{Flagicon|SCO}} [[George Burley]] | ||
* | * 2002-2003: {{Flagicon|ENG}} [[John Gregory (cầu thủ bóng đá)|John Gregory]] | ||
* | * 2001-2002: {{Flagicon|ENG}} [[Colin Todd]] | ||
* | * 1995-2001: {{Flagicon|ENG}} [[Jim Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1940)|Jim Smith]] | ||
* | * 1993-1995: {{Flagicon|ENG}} [[Roy McFarland]] | ||
* | * 1984-1993: {{Flagicon|ENG}} [[Arthur Cox (cầu thủ bóng đá)|Arthur Cox]] | ||
* | * 1984: {{Flagicon|ENG}} [[Roy McFarland]] | ||
* 1982-1984: {{Flagicon|ENG}} [[Peter Taylor (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1928)|Peter Taylor]] | |||
* 1982: {{Flagicon|ENG}} [[John Newman (cầu thủ bóng đá)|John Newman]] | |||
* 1979-1982: {{Flagicon|ENG}} [[Colin Addison]] | |||
* 1977-1979: {{Flagicon|SCO}} [[Tommy Docherty]] | |||
| | | | ||
* 1976-1977: {{Flagicon|ENG}} [[Colin Murphy (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1950)|Colin Murphy]] | |||
| | |||
* | * 1973-1976: {{Flagicon|SCO}} [[Dave Mackay]] | ||
* | * 1967-1973: {{Flagicon|ENG}} [[Brian Clough]] | ||
* | * 1962-1967: {{Flagicon|ENG}} [[Tim Ward (cầu thủ bóng đá)|Tim Ward]] | ||
* | * 1955-1962: {{Flagicon|ENG}} [[Harry Storer Jr.|Harry Storer]] | ||
* | * 1953-1955: {{Flagicon|ENG}} [[Jack Barker]] | ||
* | * 1946-1953: {{Flagicon|ENG}} [[Stuart McMillan (cricketer)|Stuart McMillan]] | ||
* | * 1944-1946: {{Flagicon|ENG}} [[Ted Magner]] | ||
* | * 1942-1944: {{Flagicon|ENG}} [[Jack Nicholas]] | ||
* | * 1925-1941: {{Flagicon|ENG}} [[George Jobey]] | ||
* | * 1922-1925: {{Flagicon|ENG}} [[Cecil Potter]] | ||
* 1906-1922: {{Flagicon|SCO}} [[Jimmy Methven]] | |||
* 1896-1906: {{Flagicon|ENG}} [[Harry Newbould]] | |||
|} | |||
==Học viện câu lạc bộ== | |||
{{Main|Đội phát triển và Học viện Derby County F.C.}} | |||
===Moor Farm=== | |||
Học viện của Derby County, mang tên Moor Farm, là một khu phức hợp được xây dựng chuyên dụng nằm gần khu ngoại ô [[Oakwood, Derbyshire|Oakwood]] của thành phố. Cơ sở này được xây dựng vào năm 2003, với chi phí 5 triệu bảng,<ref name="Academy">{{Chú thích báo| title=Down on the farm| work=BBC Sport| url=https://www.bbc.co.uk/derby/rams/2003/rams_academy/pictures_derby_county_academy.shtml| access-date=12 tháng 6 năm 2008| archive-url=https://web.archive.org/web/20080430041542/http://www.bbc.co.uk/derby/rams/2003/rams_academy/pictures_derby_county_academy.shtml| archive-date=30 tháng 4 năm 2008| url-status=live| df=dmy-all}}</ref> để thay thế học viện trước đó của câu lạc bộ là The Ram-Arena, đặt tại Raynesway. Cơ sở này trải rộng trên {{Convert|50|acre|m2}} và có sáu sân tập kích thước tiêu chuẩn cùng một sân trong nhà, đồng thời bao gồm phòng tập thể hình, nhà hàng, phòng ProZone và khu giặt là.<ref name="Academy"/> Khi افتتاح học viện, chủ tịch khi đó là [[Lionel Pickering]] nói rằng mục tiêu là sẽ có "ít nhất tám cầu thủ từ học viện... trong đội một trong vòng ba năm."<ref name="Academy"/> Dù điều này không đạt được, học viện đã đào tạo ra nhiều cầu thủ đáng chú ý, trong đó có tiền vệ tuyển Anh [[Tom Huddlestone]], hậu vệ tuyển [[Wales national football team|Wales]] [[Lewin Nyatanga]], thủ môn tuyển [[Northern Ireland national football team|Bắc Ireland]] [[Lee Camp (cầu thủ bóng đá)|Lee Camp]], các cầu thủ [[England national under-21 football team|U-21 Anh]] [[Miles Addison]] và [[Lee Grant (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1983)|Lee Grant]], cũng như cầu thủ [[England national under-19 football team|U-19 Anh]] [[Giles Barnes]]. | |||
Vào tháng 4 năm 2009, tân huấn luyện viên Nigel Clough thông báo ý định tái cấu trúc học viện, bổ nhiệm các cựu cầu thủ Derby là [[Darren Wassall]] và [[Michael Forsyth (cầu thủ bóng đá)|Michael Forsyth]]<ref name="wassall">{{Chú thích báo| title=Ex-Rams given academy roles| newspaper=Derby Telegraph| url=http://www.derbytelegraph.co.uk/EX-RAMS-GIVEN-ACADEMY-ROLES/story-11594188-detail/story.html| access-date=31 tháng 10 năm 2013| url-status=dead| archive-url=https://web.archive.org/web/20150923230439/http://www.derbytelegraph.co.uk/EX-RAMS-GIVEN-ACADEMY-ROLES/story-11594188-detail/story.html| archive-date=23 tháng 9 năm 2015| df=dmy-all}}</ref> và giám đốc học viện của Wolverhampton Wanderers là John Perkins vào ban hậu trường, thay thế Phil Cannon, [[David Lowe (cầu thủ bóng đá)|David Lowe]] và Brian Burrows đã rời đi.<ref name="Cannon">{{Chú thích báo| title=Academy exit for cannon| newspaper=Derby Telegraph| url=http://www.derbytelegraph.co.uk/Academy-exit-Cannon/story-11610046-detail/story.html| access-date=31 tháng 10 năm 2013| url-status=dead| archive-url=https://web.archive.org/web/20150923213701/http://www.derbytelegraph.co.uk/Academy-exit-Cannon/story-11610046-detail/story.html| archive-date=23 tháng 9 năm 2015| df=dmy-all}}</ref> Sau đó, cùng với khoản đầu tư tăng thêm 1 triệu bảng mỗi năm từ câu lạc bộ,<ref name="walsallinterview">{{Chú thích web| title = Rams confident their academy can compete with best under redrawn rules| url = http://www.derbytelegraph.co.uk/story-14068438-detail/story.html| archive-url = https://archive.today/20131031121407/http://www.derbytelegraph.co.uk/story-14068438-detail/story.html| url-status = dead| archive-date = 31 tháng 10 năm 2013| publisher = thisisderbyshire| date = 31 tháng 10 năm 2013}}</ref> một số cầu thủ đã được đôn lên đội một trước [[Derby County F.C. mùa giải 2010-11#Current squad|mùa giải 2010-11]], và gần một phần ba đội hình Derby là sản phẩm của học viện, với [[Mason Bennett]] lập kỉ lục cầu thủ trẻ nhất ra sân cho đội một của câu lạc bộ khi có trận đá chính đầu tiên trong thất bại trước Middlesbrough ngày 22 tháng 10 năm 2011 ở tuổi 15 năm 99 ngày.<ref name="Bennettbreaksrecord">{{Chú thích web| title = Teams news: Bennett to make Rams history at Boro| url = http://www.derbytelegraph.co.uk/story-13631868-detail/story.html| archive-url = https://archive.today/20131031121408/http://www.derbytelegraph.co.uk/story-13631868-detail/story.html| url-status = dead| archive-date = 31 tháng 10 năm 2013| publisher = thisisderbyshire| date = 31 tháng 10 năm 2013}}</ref> Điều này góp phần củng cố danh tiếng của học viện<ref name="glickmidlandsbeacon">{{Chú thích web| title = Glick says Academy aims to be Midlands beacon| url = http://www.derbytelegraph.co.uk/story-14068562-detail/story.html| archive-url = https://archive.today/20131031121447/http://www.derbytelegraph.co.uk/story-14068562-detail/story.html| url-status = dead| archive-date = 31 tháng 10 năm 2013| publisher = thisisderbyshire| date = 7 tháng 12 năm 2011}}</ref> và củng cố mong muốn mà giám đốc điều hành Tom Glick từng nêu ra là biến Moor Farm thành "học viện được lựa chọn tại Midlands".<ref name="glickmidlandsbeacon"/> Vào tháng 8 năm 2012, học viện của Derby trở thành học viện hạng 2 theo [[Elite Player Performance Plan]] mới gây nhiều tranh cãi.<ref name="tier2">{{Chú thích báo| url =http://www.dcfc.co.uk/news/article/derby-to-compete-in-new-u21-league-294974.aspx?pageView=full#anchored| publisher =Derby County F.C.| title =Derby To Compete in New U21 League| date =6 tháng 8 năm 2012| access-date =6 tháng 8 năm 2012| archive-url =https://web.archive.org/web/20131102174649/http://www.dcfc.co.uk/news/article/derby-to-compete-in-new-u21-league-294974.aspx?pageView=full#anchored| archive-date =2 tháng 11 năm 2013| url-status =live| df =dmy-all }}</ref> Hai năm sau, vào tháng 7 năm 2014, học viện được nâng lên hạng 1.<ref name="tier1">{{Chú thích báo| url =https://www.bbc.com/sport/0/football/28482377| work =BBC Sport| title =Derby County awarded category one academy status| date =26 tháng 7 năm 2014| access-date =13 tháng 2 năm 2018| archive-url =https://web.archive.org/web/20150924210240/http://www.bbc.com/sport/0/football/28482377| archive-date =24 tháng 9 năm 2015| url-status =live| df =dmy-all }}</ref> Việc chú trọng học viện vẫn tiếp tục dưới quyền sở hữu của [[Mel Morris (doanh nhân)|Mel Morris]] sau khi ông mua lại câu lạc bộ vào cuối năm đó và, vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 2019-20|mùa giải 2019-20]], Derby là đội đã trao nhiều số phút thi đấu cho các cầu thủ dưới 21 tuổi hơn bất kì câu lạc bộ nào khác tại [[Football League Championship|Championship]], với các sản phẩm học viện như [[Max Bird]], [[Louie Sibley]], [[Jason Knight (cầu thủ bóng đá)|Jason Knight]], [[Jayden Bogle]], [[Morgan Whittaker]] và [[Lee Buchanan (cầu thủ bóng đá)|Lee Buchanan]] có tổng cộng 7.946 phút thi đấu tại giải vô địch trong mùa giải đó.<ref name="7946minutes">{{Chú thích báo| url =https://www.derbytelegraph.co.uk/sport/football/football-news/derby-county-academy-mel-morris-4377783| work =Derby Telegraph| title ='His plan' – Derby County fans send Mel Morris message after revealing figures emerge| date =30 tháng 7 năm 2020}}</ref> Khi nói về các mục tiêu cho [[Bóng đá Anh mùa giải 2020-21|mùa giải 2020-21]], Morris phát biểu: "Chúng ta sẽ không thấy một đội hình gồm 11 cầu thủ từ học viện ra sân ở mùa này (2019/20), nhưng mục tiêu cho mùa tới là 50% đội hình xuất phát của chúng ta phải là cầu thủ học viện. Đó là mục tiêu của chúng ta, và tôi nghĩ có khả năng chúng ta có thể đạt được điều đó."<ref name="academytarget">{{Chú thích báo| url =https://www.derbytelegraph.co.uk/sport/football/football-news/a-possibility-mel-morris-reveals-3717262| work =Derby Telegraph| title ='A possibility' – Mel Morris reveals ambitious Derby County vision| date =8 tháng 1 năm 2020}}</ref> | |||
==Derby County tại châu Âu== | |||
{{Main|Derby County F.C. tại bóng đá châu Âu}} | |||
Derby lần đầu tiên thi đấu tại châu Âu khi tham dự [[European Cup 1972-73]] sau khi giành chức vô địch [[Bóng đá Anh mùa giải 1971-72#First Division|First Division 1971-72]],<ref name="DerbyInEurope">{{Chú thích web|url=http://beehive.thisisderbyshire.co.uk/default.asp?WCI=SiteHome&ID=11165&PageID=65889|archive-url=https://web.archive.org/web/20110926231729/http://beehive.thisisderbyshire.co.uk/default.asp?WCI=SiteHome&ID=11165&PageID=65889|archive-date=26 tháng 9 năm 2011|title=The Rams in Europe|publisher= thisisderbyshire.co.uk|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> vào tới bán kết, nơi họ thua [[Juventus FC|Juventus]] với tổng tỉ số 1-3. Họ từng giành quyền dự [[1970-71 Inter-Cities Fairs Cup|Fairs Cup 1970-71]] sau khi đứng thứ tư tại [[Bóng đá Anh mùa giải 1969-70#First Division|First Division 1969-70]], nhưng bị cấm tham dự do những sai phạm tài chính. Thập niên 1970 là đỉnh cao của Derby County trong bóng đá Anh, và họ giành quyền dự cúp châu Âu trong ba trên bốn mùa giải tiếp theo, thi đấu tại [[UEFA Cup]] hoặc [[European Cup]] trong cả ba mùa giải từ [[Bóng đá Anh mùa giải 1974-75|1974-75]] đến [[Bóng đá Anh mùa giải 1976-77|1976-77]]. | |||
Sau đó câu lạc bộ sa sút nhanh chóng và không còn xuất hiện ở các giải đấu lớn của châu Âu kể từ đó, dù họ đứng thứ năm tại [[Bóng đá Anh mùa giải 1988-89|First Division 1989]], vị trí vốn sẽ bảo đảm cho họ một suất dự [[Cúp UEFA 1989-90]] nếu các câu lạc bộ Anh không bị cấm tham dự cúp châu Âu sau [[thảm họa Heysel]]. | |||
Ngoài các giải đấu lớn, câu lạc bộ còn tham dự [[Anglo-Italian Cup]] từ [[Bóng đá Anh mùa giải 1992-93|1992-93]] đến [[Bóng đá Anh mùa giải 1994-95|1994-95]], vào tới trận chung kết năm 1993 nhưng thua 1-3 trước [[U.S. Cremonese|Cremonese]] tại [[Sân vận động Wembley|Wembley]]. | |||
==Kỉ lục và thống kê== | |||
{{Further|Danh sách kỉ lục và thống kê Derby County F.C.}} | |||
{{Further|Thành tích giải vô địch Derby County F.C. theo đối thủ}} | |||
[[Kevin Hector]] giữ kỉ lục số lần ra sân cho Derby County trên mọi đấu trường, với 589 lần trong hai giai đoạn khoác áo câu lạc bộ từ năm 1966 đến năm 1982.<ref name="Records">{{Chú thích web|url=https://www.dcfc.co.uk/page/derby-county-club-honours|title=Derby County Club Honours, Records + Managers|website=Derby County FC|access-date=26 tháng 10 năm 2023}}</ref> Ông đứng trên [[Ron Webster]], người có 535 lần ra sân cho câu lạc bộ. Nếu chỉ tính các lần ra sân tại giải vô địch, Hector vẫn dẫn đầu với 486 trận, trên Jack Parry, người có 483 trận cho câu lạc bộ trong giai đoạn 1948-1967. Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử câu lạc bộ là [[Steve Bloomer]], người ghi 332 bàn trong hai giai đoạn từ năm 1892 đến năm 1914.<ref name="Records"/> Ông hơn người đứng thứ hai là Kevin Hector hơn 100 bàn, khi Hector ghi 201 bàn cho câu lạc bộ. [[Jack Bowers]] giữ kỉ lục câu lạc bộ về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải, khi ông ghi 43 bàn (35 bàn tại giải vô địch và thêm 8 bàn tại Cúp FA) trong [[Bóng đá Anh mùa giải 1932-33|mùa giải 1932-33]]. Kỉ lục ghi bàn tại giải vô địch trong một mùa giải thuộc về Jack Bowers và [[Ray Straw]], với cùng 37 bàn ở các [[Bóng đá Anh mùa giải 1930-31|mùa giải 1930-31]] và [[Bóng đá Anh mùa giải 1956-57|1956-57]].<ref name="Records"/> | |||
Kỉ lục khán giả của câu lạc bộ là 41.826 người, trong một trận [[Football League First Division|First Division]] gặp [[Tottenham Hotspur F.C.|Tottenham Hotspur]] tại Baseball Ground ngày 20 tháng 9 năm 1969, trận đấu mà Derby thắng 5-0.<ref name="Records"/> Kỉ lục này khó có thể bị phá vỡ trong tương lai gần vì sân hiện tại của Derby, Sân vận động Pride Park, chỉ có sức chứa tối đa 33.597 khán giả. Kỉ lục khán giả tại Pride Park trong một trận chính thức của Derby County là 33.378 người, ở trận Premier League gặp [[Liverpool F.C.|Liverpool]] ngày 18 tháng 3 năm 2000.<ref name="Records"/> Đám đông lớn nhất từng theo dõi một trận đấu của Derby County là 120.000 người khi Derby County gặp [[Real Madrid C.F.|Real Madrid]] tại [[Santiago Bernabéu Stadium]] trong [[European Cup 1975-76]]. | |||
Chiến dịch [[Derby County F.C. season 2007-08|Premier League 2007-08]] tệ hại nổi tiếng của Derby khiến câu lạc bộ lập kỉ lục giải đấu về tổng số điểm thấp nhất trong một mùa giải (tính theo hệ 3 điểm cho một trận thắng), khi họ chỉ giành được 11 điểm sau 38 trận (T38 Th1 H8 B29), đồng thời cân bằng kỉ lục của [[Loughborough F.C.|Loughborough]] ở mùa giải [[1899-1900 Football League|1899-1900]] là chỉ thắng 1 trận trong một mùa giải.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.fourfourtwo.com/features/derby-county-200708-worst-premier-league-season-ever|title=Derby County's shocking 2007/08 revisited: the Premier League's worst ever season, told by those who were there|author=Chris Flanagan|publisher=FourFourTwo|date=13 tháng 11 năm 2017|access-date=26 tháng 10 năm 2023}}</ref><ref>{{Chú thích web|title=For the record: Premier League facts and figures|url=https://www.premierleague.com/stats/records|website=Premierleague.com}}</ref> Tính đến hết [[Bóng đá Anh mùa giải 2024-25|mùa giải 2024-25]], họ đồng giữ một số kỉ lục Premier League. | |||
* Ít trận thắng sân nhà nhất trong một mùa giải (1, đồng giữ cùng [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]], [[Sunderland A.F.C. mùa giải 2005-06|2005-2006]], [[Ipswich Town F.C.|Ipswich Town]], [[2024-25 Ipswich Town F.C. season|2024-25]] và [[Southampton F.C.|Southampton]], [[2024-25 Southampton F.C. season|2024-25]].) | |||
* Ít trận thắng sân khách nhất trong một mùa giải (0, đồng giữ cùng năm câu lạc bộ khác) | |||
* Ít bàn thắng nhất trong một mùa giải (20, đồng giữ cùng [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]], [[2023-24 Sheffield United F.C. season|2023-24]].) | |||
* Hiệu số bàn thắng bại tệ nhất (-69, đồng giữ cùng [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]], [[2023-24 Sheffield United F.C. season|2023-24]].) | |||
Mùa giải đó cũng kéo dài sang [[Derby County F.C. mùa giải 2008-09|chiến dịch tiếp theo]], khi Derby mãi đến vòng đấu thứ 5 mới có chiến thắng đầu tiên tại giải vô địch – qua đó lập kỉ lục số trận liên tiếp không thắng nhiều nhất tại giải vô địch (36), kỉ lục hiện được họ đồng nắm giữ cùng [[Macclesfield Town F.C.|Macclesfield Town]]. | |||
Derby cũng đồng giữ (cùng [[Watford F.C.|Watford]]) kỉ lục thất bại chênh lệch nhất trong một trận chung kết Cúp FA, là trận thua 0-6 trước Bury năm 1903.<ref name = "Derby County Stats">Statistics taken from Rothmans Football Yearbook 2008.</ref> | |||
===Đội hình tiêu biểu mọi thời đại=== | |||
{{football squad on pitch|align=right | |||
| GK_nat = ENG| GK = [[Colin Boulton|Boulton]] | |||
| RB_nat = ENG| RB = [[Ron Webster|Webster]] | |||
| RCB_nat = ENG| RCB = [[Roy McFarland|McFarland]] | |||
| LCB_nat = CRO| LCB = [[Igor Štimac|Štimac]] | |||
| LB_nat = ENG| LB = [[David Nish|Nish]] | |||
| RM_nat = ITA| RM = [[Stefano Eranio|Eranio]] | |||
| RCM_nat = SCO| RCM = [[Archie Gemmill|Gemmill]] | |||
| LCM_nat = WAL| LCM = [[Alan Durban|Durban]] | |||
| LM_nat = ENG| LM = [[Alan Hinton|Hinton]] | |||
| RCF_nat = ENG| RCF = [[Steve Bloomer|Bloomer]] | |||
| LCF_nat = ENG| LCF = [[Kevin Hector|Hector]] | |||
| caption = Đội hình một tiêu biểu mọi thời đại của Derby County F.C. | |||
}} | |||
Là một phần trong các hoạt động kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ,<ref>{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1475633.00.html|title=Legends unite to celebrate 125|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181219/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1475633.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> đã có thông báo rằng trong năm 2009 sẽ tổ chức một cuộc bình chọn mỗi tháng để quyết định Đội hình tiêu biểu mọi thời đại chính thức của câu lạc bộ, bắt đầu từ tháng 2 năm 2009 với vị trí [[Thủ môn (bóng đá)|thủ môn]], trong khi tám tháng tiếp theo là cơ hội để người ủng hộ Derby chọn ra một đội hình theo sơ đồ [[Formation (association football)#4-4-2|4-4-2]], với cuộc bình chọn tháng 12 được dành cho vị trí huấn luyện viên.<ref>{{Chú thích web|url=http://therams.co.uk/notices/anniversary|archive-url=https://web.archive.org/web/20090206102845/http://therams.co.uk/notices/anniversary|archive-date=6 tháng 2 năm 2009|title=Derby County Football Club 125th Anniversary|publisher=therams.co.uk|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> Việc bỏ phiếu kết thúc vào ngày 25 hằng tháng, và người chiến thắng được công bố trong vài ngày sau đó.<ref>{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1539496.00.html|title=Keeper voting is now closed|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181210/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1539496.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
{| class="wikitable" | |||
|- | |||
! Cầu thủ | |||
! Vị trí | |||
! Những năm khoác áo câu lạc bộ | |||
!Ref | |||
|- | |||
| [[Colin Boulton]] | |||
| [[Thủ môn (bóng đá)|Goalkeeper]] | |||
| 1964-1978 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|title=Top keeper poll-winner Boulton thanks fans|newspaper=Derby Telegraph|url=http://www.derbytelegraph.co.uk/keeper-poll-winner-Boulton-thanks-fans/story-11600791-detail/story.html|archive-url=https://archive.today/20131031121409/http://www.derbytelegraph.co.uk/keeper-poll-winner-Boulton-thanks-fans/story-11600791-detail/story.html|url-status=dead|archive-date=31 tháng 10 năm 2013|access-date=31 tháng 10 năm 2013}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Ron Webster]] | |||
| [[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ phải]] | |||
| 1960-1978 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|title=Webster the right choice|newspaper=Derby Telegraph|url=http://www.derbytelegraph.co.uk/WEBSTER-RIGHT-CHOICE/story-11558396-detail/story.html|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20150924013539/http://www.derbytelegraph.co.uk/WEBSTER-RIGHT-CHOICE/story-11558396-detail/story.html|archive-date=24 tháng 9 năm 2015}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Roy McFarland]] | |||
| [[Hậu vệ (bóng đá)|Trung vệ]] | |||
| 1967-1981; 1983-84 | |||
|<ref name="therams.co.uk">{{Chú thích báo|title=Vote pairs Roy, Igor at heart of all-time top team's defence| newspaper=Derby Telegraph|url=http://www.derbytelegraph.co.uk/Vote-pairs-Roy-Igor-heart-time-team-s-defence/story-11572405-detail/story.html|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20150924013536/http://www.derbytelegraph.co.uk/Vote-pairs-Roy-Igor-heart-time-team-s-defence/story-11572405-detail/story.html|archive-date=24 tháng 9 năm 2015}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Igor Štimac]] | |||
| [[Hậu vệ (bóng đá)|Trung vệ]] | |||
| 1995-1999 | |||
| <ref name="therams.co.uk"/> | |||
|- | |||
| [[David Nish]] | |||
| [[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ trái]] | |||
| 1972-1979 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1638592.00.html|title=Nish is latest all-time XI inductee|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181238/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1638592.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Stefano Eranio]] | |||
| [[Tiền đạo (bóng đá)|Tiền vệ cánh phải]] | |||
| 1997-2001 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|title=Eranio proves to be right choice as he is included in the all-time greats team| newspaper=Derby Telegraph|url=http://www.derbytelegraph.co.uk/Eranio-proves-right-choice-included-time-greats-team/story-11598230-detail/story.html|access-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20150402221524/http://www.derbytelegraph.co.uk/Eranio-proves-right-choice-included-time-greats-team/story-11598230-detail/story.html|archive-date=2 tháng 4 năm 2015}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Archie Gemmill]] | |||
| [[Tiền vệ (bóng đá)|Tiền vệ trung tâm]] | |||
| 1970-1977; 1982-1984 | |||
| <ref name="dcfc.co.uk">{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1769944.00.html|title=Gemmill & Durban named in all-time XI|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181234/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1769944.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Alan Durban]] | |||
| [[Tiền vệ (bóng đá)|Tiền vệ trung tâm]] | |||
| 1963-1973 | |||
| <ref name="dcfc.co.uk"/> | |||
|- | |||
| [[Alan Hinton]] | |||
| [[Tiền đạo (bóng đá)|Tiền đạo cánh trái]] | |||
| 1967-1975 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1742650.00.html|title=Hinton makes all-time XI|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181231/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1742650.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Steve Bloomer]] | |||
| [[Tiền đạo (bóng đá)|Tiền đạo trung tâm]] | |||
| 1892-1906; 1910-1914 | |||
| <ref name="BestStrikers">{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1811628.00.html|title=Greatest XI Line-Up Complete|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181215/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/125News/0,.10270~1811628.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
|- | |||
| [[Kevin Hector]] | |||
| [[Tiền đạo (bóng đá)|Tiền đạo trung tâm]] | |||
| 1966-1978; 1980-1982 | |||
| <ref name="BestStrikers"/> | |||
|- | |||
| [[Brian Clough]] | |||
| Huấn luyện viên | |||
| 1967-1973 | |||
| <ref>{{Chú thích báo|url=http://origin-www.dcfc.co.uk/page/AllTimeXI/0,.10270.00.html|title=Derby County's All-Time XI|access-date=31 tháng 10 năm 2013|publisher=Derby County F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20131102181223/http://origin-www.dcfc.co.uk/page/AllTimeXI/0,.10270.00.html|archive-date=2 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref> | |||
|} | |} | ||
==Danh hiệu== | ==Danh hiệu== | ||
''Lưu ý: các giải đấu và hạng đấu của bóng đá Anh đã thay đổi đôi chút theo thời gian, vì vậy ở đây chúng được nhóm theo cấp độ tương ứng của chúng trong [[Hệ thống giải bóng đá Anh]] tại thời điểm giành được để dễ so sánh thành tích'' | |||
Nguồn:<ref>{{Chú thích web|url=http://www.dcfc.co.uk/news/article/derby-county-club-honours-255118.aspx|title=Derby County Club Honours – Derby County|website=www.dcfc.co.uk|access-date=8 tháng 9 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160804005308/http://www.dcfc.co.uk/news/article/derby-county-club-honours-255118.aspx|archive-date=4 tháng 8 năm 2016|url-status=live}}</ref> | |||
'''Giải vô địch''' | |||
*[[Football League First Division|First Division]] (cấp độ 1) | *[[Football League First Division|First Division]] (cấp độ 1) | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[Football League First Division 1971-72|1971-72]], [[Football League First Division 1974-75|1974-75]] | ||
**Á quân: [[ | **Á quân: [[Football League First Division 1895-96|1895-96]], [[Football League First Division 1929-30|1929-30]], [[Football League First Division 1935-36|1935-36]] | ||
*[[Football League Second Division|Second Division]] / First Division / [[EFL Championship|Championship]] (cấp độ 2) | *[[Football League Second Division|Second Division]] / First Division / [[EFL Championship|Championship]] (cấp độ 2) | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[Football League Second Division 1911-12|1911-12]], [[Football League Second Division 1914-15|1914-15]], [[Football League Second Division 1968-69|1968-69]], [[Football League Second Division 1986-87|1986-87]] | ||
**Á quân: [[ | **Á quân: [[Football League Second Division 1925-26|1925-26]], [[Football League First Division 1995-96|1995-96]] | ||
** | **Thắng play-off: [[Play-off Football League 2007#Championship|2007]] | ||
*[[Football League Third Division North|Third Division North]] / [[Football League Third Division|Third Division]] / [[EFL League One|League One]] (cấp độ 3) | *[[Football League Third Division North|Third Division North]] / [[Football League Third Division|Third Division]] / [[EFL League One|League One]] (cấp độ 3) | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[Football League Third Division 1956-57|1956-57]] | ||
**Á quân: [[ | **Á quân: [[Football League Third Division 1955-56|1955-56]], [[EFL League One 2023-24|2023-24]] | ||
**Thăng hạng: [[ | **Thăng hạng: [[Football League Third Division 1985-86|1985-86]] | ||
*[[FA Cup]] | |||
'''Cúp''' | |||
**Vô địch: [[1945–46 FA Cup|1945–46]] | |||
*[[Cúp FA]] | |||
**Á quân: [[1897–98 FA Cup|1897–98]], [[1898–99 FA Cup|1898–99]], [[1902–03 FA Cup|1902–03]] | |||
**Vô địch: [[Cúp FA 1945-46|1945-46]] | |||
**Á quân: [[Cúp FA 1897-98|1897-98]], [[Cúp FA 1898-99|1898-99]], [[Cúp FA 1902-03|1902-03]] | |||
*[[FA Community Shield|FA Charity Shield]] | *[[FA Community Shield|FA Charity Shield]] | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[FA Charity Shield 1975|1975]] | ||
*[[Texaco Cup]] | *[[Texaco Cup]] | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[Texaco Cup 1971-72|1971-72]] | ||
*[[Anglo-Italian Cup]] | *[[Anglo-Italian Cup]] | ||
**Á quân: [[ | **Á quân: [[Anglo-Italian Cup 1992-93|1992-93]] | ||
*[[Watney Cup]] | *[[Watney Cup]] | ||
**Vô địch: [[ | **Vô địch: [[Watney Cup 1970|1970]] | ||
==Ghi chú== | |||
{{Danh sách ghi chú}} | |||
==Tham khảo== | ==Tham khảo== | ||
{{ | {{Tham khảo}} | ||
==Liên kết ngoài== | ==Liên kết ngoài== | ||
{{ | {{Commons category}} | ||
* [ | * [https://dcfc.co.uk/ DCFC.CO.UK] – trang web chính thức | ||
* [ | * [https://web.archive.org/web/20100502151437/http://www.wearederby.com/web/guest Official Derby County F.C Fan Engagement Site] (lưu trữ) | ||
* [http://www.dcfcfans.co.uk/ Derby County Fans Online] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140626045226/http://dcfcfans.co.uk/ | * [http://www.dcfcfans.co.uk/ Derby County Fans Online]. {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140626045226/http://dcfcfans.co.uk/|date=26 tháng 6 năm 2014 }}. | ||
* [http://www.therams.co.uk/ TheRams.co.uk] – [[Derby Evening Telegraph]] | * [http://www.therams.co.uk/ TheRams.co.uk] – trang The Rams của [[Derby Evening Telegraph]]. | ||
* [http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/d/derby_county/default.stm/ BBC Sport Derby County] | * [https://archive.today/20020807194636/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/d/derby_county/default.stm/ BBC Sport Derby County] – chuyên mục Derby County của [[BBC]]. [https://www.bbc.co.uk/sport/football/teams/derby-county]. | ||
* [http://footysphere.tumblr.com/post/491143430/derby-county-1945 Proposed new Derby County stadium 1945] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110816135854/http://footysphere.tumblr.com/post/491143430/derby-county-1945 |date = ngày 16 tháng 8 năm 2011}} | |||
{{ | {{Derby County F.C.}} | ||
{{Mùa giải Derby County F.C.}} | |||
{{Derby}} | |||
{{Premier League}} | |||
{{Football League Championship}} | |||
{{Football League One}} | |||
{{Authority control}} | |||
[[Thể loại:Derby County F.C.]] | [[Thể loại:Derby County F.C.| ]] | ||
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1884 ở Anh]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1884]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Derbyshire]] | |||
[[Thể loại:Thể thao Derby]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | [[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | ||
[[Thể loại: | [[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]] | [[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]] | ||
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh]] | |||
Phiên bản lúc 12:29, ngày 8 tháng 4 năm 2026
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Derby County | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Rams | |||
| Tên ngắn gọn | Derby | |||
| Thành lập | 1884 | |||
| Sân | Sân vận động Pride Park | |||
| Sức chứa | 33.597 | |||
| Chủ sở hữu | David Clowes | |||
| Chủ tịch điều hành | David Clowes | |||
| Huấn luyện viên trưởng | John Eustace | |||
| Giải đấu | Championship | |||
| 2024-25 | Championship, thứ 19 trên 24 | |||
| Website | dcfc | |||
Câu lạc bộ bóng đá Derby County (tiếng Anh: Derby County Football Club) (/ˈdɑːrbi/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Derby, Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại Championship, hạng đấu cao thứ Hai của bóng đá Anh.
Là một trong 12 thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888, Derby County là một trong chỉ chín câu lạc bộ đã góp mặt trong mọi mùa giải của hệ thống giải bóng đá Anh (126 mùa giải tính đến hết mùa giải 2024-25), trong đó chỉ có sáu mùa nằm ngoài hai hạng đấu cao nhất.
Câu lạc bộ được William Morley thành lập năm 1884 như một nhánh tách ra từ Derbyshire County Cricket Club. Đỉnh cao thành tích của đội đến trong thập niên 1970 khi họ hai lần vô địch First Division và dự các giải đấu lớn của châu Âu trong bốn dịp, vào tới bán kết European Cup cũng như giành thêm một số danh hiệu nhỏ. Ngoài ra, câu lạc bộ cũng là một thế lực đáng gờm trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến – hai lần đứng á quân giải vô địch trong thập niên 1930 – và giành Cúp FA đầu tiên của thời kì hậu chiến vào năm 1946.
Màu áo sân nhà của câu lạc bộ là đen và trắng từ thập niên 1890. Biệt danh của đội, The Rams, tôn vinh mối liên hệ của họ với Trung đoàn Thứ nhất của lực lượng dân quân Derby, linh vật của họ là một con cừu đực, cùng bài hát cấp trung đoàn,[1] như một lời tri ân đối với truyền thống của hạt này. Họ có mối kình địch lâu đời với Nottingham Forest, đội mà họ cùng tạo nên trận derby East Midlands.
Lịch sử
Khởi đầu và thành công ban đầu
Derby County F.C. được thành lập năm 1884 như một nhánh tách ra từ Derbyshire County Cricket Club nhằm mang lại cho cầu thủ và người ủng hộ một mối quan tâm trong mùa đông, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho câu lạc bộ cricket. Ban đầu, ý định là đặt tên câu lạc bộ là "Derbyshire County F.C." để nhấn mạnh mối liên hệ này, nhưng Derbyshire FA, được thành lập năm 1883, đã phản đối với lí do tên gọi quá dài và do đó người hâm mộ có thể sẽ hiểu nhầm đây là một đội bóng của Derbyshire FA. Chơi các trận sân nhà tại Racecourse Ground của câu lạc bộ cricket, mùa giải 1884-85 chứng kiến câu lạc bộ thực hiện một chương trình thi đấu giao hữu quy mô lớn, trận đầu tiên là thất bại 0-6 trước Great Lever vào ngày 13 tháng 9 năm 1884. Trận đấu chính thức đầu tiên của câu lạc bộ diễn ra tại Cúp FA 1884-85, nơi họ thua 0-7 trên sân nhà trước Walsall Town.
Có thể nói trận đấu quan trọng nhất trong lịch sử câu lạc bộ diễn ra ở Cúp FA mùa giải kế tiếp, khi chiến thắng 2-0 trước Aston Villa, đội khi ấy đã nổi lên như một thế lực của bóng đá Anh, giúp Derby County ghi dấu trên bản đồ bóng đá Anh, qua đó giúp câu lạc bộ thu hút được những đối thủ chất lượng hơn cho các trận giao hữu và, vào năm 1888, nhận được lời mời tham gia mùa giải khai sinh của Football League. Ngày khai mạc của mùa giải vô địch đầu tiên trong lịch sử là ngày 8 tháng 9 năm 1888, khi Derby bị dẫn 0-3 trên sân khách trước Bolton Wanderers nhưng lội ngược dòng thắng 6-3, dù chung cuộc câu lạc bộ chỉ đứng thứ 10 trong số 12 đội. Năm 1891, họ sáp nhập thêm một câu lạc bộ khác của Derby là Derby Midland, đội từng là thành viên của Midland League, qua đó trở thành câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp duy nhất của Derby. Steve Bloomer, người thường được xem là cầu thủ xuất sắc nhất lịch sử Derby County, gia nhập câu lạc bộ năm 1892. Năm 1895, câu lạc bộ chuyển đến một sân vận động mới là Baseball Ground (được gọi như vậy vì trước đó nơi này được dùng cho bóng chày), trở thành sân nhà của họ trong 102 năm tiếp theo. Cũng từ thời điểm đó, câu lạc bộ sử dụng màu áo sân nhà truyền thống là đen và trắng.
Dù Derby thi đấu thiếu ổn định tại giải vô địch, họ vẫn về nhì sau Aston Villa ở mùa giải 1896, và có thêm một số lần đứng thứ ba. Họ cũng là một thế lực đáng gờm tại Cúp FA, vào tới ba trận chung kết trong vòng sáu năm quanh bước chuyển sang thế kỉ 20, dù thua cả ba, vào các năm 1898 (1-3 trước Nottingham Forest),[2] 1899 (1-4 trước Sheffield United)[3] và 1903 (0-6 trước Bury).[4]
Những nhân vật đáng chú ý gồm có W. D. Clarke, người được cho là "một trong những gương mặt nổi tiếng nhất trong thế giới bóng đá hiệp hội ở thời kì trước chiến tranh".[5]
Thời Edward và giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến
Năm 1906, Steve Bloomer được bán cho Middlesbrough do những ràng buộc tài chính, và Derby sau đó phải nhận lần xuống hạng đầu tiên trong lịch sử ở mùa giải kế tiếp,[6] nhưng dưới sự dẫn dắt của Jimmy Methven, họ đưa Bloomer trở lại và giành lại vị trí ở First Division vào năm 1911.[6] Năm 1914, họ lại xuống hạng, nhưng ngay lập tức vô địch Second Division để thăng hạng,[6] dù Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến họ phải chờ đến năm 1919 mới lại được chơi bóng ở First Division. Sau hai mùa giải, họ lại xuống hạng vào năm 1921. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm George Jobey vào năm 1925 đã mở ra một giai đoạn thành công, và sau khi thăng hạng vào năm 1926,[6] câu lạc bộ trở thành một thế lực đáng gờm, với nhiều thứ hạng cao từ cuối thập niên 1920 và xuyên suốt thập niên 1930,[6] trong đó có hai lần về nhì.

Derby là một trong số nhiều câu lạc bộ ngừng hoạt động sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ nhưng bắt đầu trở lại từ đầu thập niên 1940, một phần nhờ sự kiên trì của Jack Nicholas và Jack Webb. Nhờ chiêu mộ được Raich Carter và Peter Doherty, hai người đều đóng quân tại Loughborough trong chiến tranh, Derby đã đi trước các đối thủ một bước khi bóng đá chính thức được nối lại với Cúp FA 1946 và giành danh hiệu lớn đầu tiên với chiến thắng 4-1 trước Charlton Athletic.[7]
Thành công sau chiến tranh và sự sa sút
Giải vô địch được nối lại vào mùa giải tiếp theo sau quãng gián đoạn vì Chiến tranh thế giới thứ hai và, dưới sự quản lí của Stuart McMillan, đồng thời hai lần phá kỉ lục chuyển nhượng của Anh để kí hợp đồng với Billy Steel và Johnny Morris nhằm thay thế Carter và Doherty, Derby kết thúc ở vị trí thứ tư và thứ ba lần lượt vào các mùa giải 1948 và 1949, trước khi bắt đầu một quá trình sa sút đều đặn và câu lạc bộ xuống hạng vào năm 1953, sau gần 30 năm ở hạng đấu cao nhất, rồi lại xuống hạng vào năm 1955 để rơi xuống hạng Ba của bóng đá Anh lần đầu tiên trong lịch sử.[6] Harry Storer đưa Derby trở lại hạng Hai ở lần thử sức thứ hai vào năm 1957, song câu lạc bộ không tiến xa hơn trong thập niên kế tiếp dưới thời Storer hoặc người kế nhiệm ông, cựu cầu thủ Derby Tim Ward.
Thời Brian Clough
Năm 1967, Brian Clough và Peter Taylor tiếp quản đội bóng và dẫn dắt Derby tới giai đoạn huy hoàng nhất. Khởi đầu từ vị trí thứ 18 ở Second Division năm 1968, Clough và Taylor chiêu mộ Alan Hinton, Roy McFarland và John O'Hare, rồi thực hiện bản hợp đồng có ảnh hưởng lớn là Dave Mackay để đưa câu lạc bộ lên vị trí số 1 vào năm 1969 và thăng hạng lên First Division.[8] Derby sau đó đứng thứ tư năm 1970,[6] bị cấm dự cúp châu Âu vì những sai phạm tài chính vào năm 1971, và giành chức vô địch Football League đầu tiên trong lịch sử vào năm 1972.[6] Dù Derby không bảo vệ được danh hiệu ở mùa giải sau, họ vẫn vào tới bán kết của European Cup, nơi họ thua Juventus. Những phát biểu thẳng thắn thường xuyên của Clough chống lại giới điều hành bóng đá cuối cùng dẫn tới mâu thuẫn với ban giám đốc câu lạc bộ, và Clough cùng Taylor rời đội vào tháng 10 năm 1973. Ảnh hưởng của họ đối với câu lạc bộ lớn đến mức, 37 năm sau, một bức tượng đồng cao 9 ft (2,75 mét) của cặp đôi này được dựng bên ngoài Pride Park để tưởng niệm di sản của họ.[9]
Thành công và sa sút sau thời Clough
Dù Clough và Taylor ra đi, thành công ở giải vô địch của Derby được lặp lại trong mùa giải 1974-75 khi họ giành chức vô địch dưới sự dẫn dắt của người kế nhiệm Dave Mackay, người từng là cầu thủ dưới thời Clough khi đội trở lại hạng đấu cao nhất năm 1969. Tuy nhiên, phong độ của Derby sa sút về cuối thập niên 1970 và họ rớt xuống Second Division vào năm 1980 sau một loạt đời huấn luyện viên, trong đó có cựu huấn luyện viên Manchester United là Tommy Docherty, làm câu lạc bộ mất ổn định. Dù khởi đầu khá tốt ở mùa đầu tiên tại Division Two, Derby sớm bị ảnh hưởng nặng nề bởi nợ nần gia tăng, lượng khán giả giảm sút và màn trình diễn đáng thất vọng.[cần dẫn nguồn]
Peter Taylor trở lại Baseball Ground trên cương vị huấn luyện viên đầu năm 1983 và giúp Derby trụ hạng mùa đó, nhưng ông giải nghệ một năm sau, ngay trước khi Derby rớt xuống Third Division chỉ lần thứ hai trong lịch sử. Tuy nhiên, Derby vẫn tránh được nguy cơ phá sản, và chẳng bao lâu sau họ thuộc quyền sở hữu của doanh nhân giàu có Robert Maxwell.
Sự hồi sinh trong thập niên 1980 và thăng hạng lên Premier League
Sau khi xuống hạng xuống Third Division vào tháng 5 năm 1984, câu lạc bộ bổ nhiệm Arthur Cox làm huấn luyện viên. Dù lỡ suất thăng hạng ở mùa giải đầu tiên của Cox, họ sau đó giành hai lần thăng hạng liên tiếp và trở lại First Division cho mùa giải 1987-88, trong bối cảnh lượng khán giả cũng tăng lên khi thành tích trên sân và tình hình tài chính của câu lạc bộ được cải thiện. Sự hậu thuẫn tài chính của tân chủ tịch Robert Maxwell giúp những ngôi sao như Peter Shilton, Mark Wright, Dean Saunders, Trevor Hebberd và Ted McMinn được đưa về câu lạc bộ, và họ kết thúc mùa giải 1988-89 ở vị trí thứ năm.
Việc Maxwell không tiếp tục đầu tư thêm nhanh chóng dẫn tới sa sút và làn sóng bất mãn trong giới người hâm mộ câu lạc bộ, đỉnh điểm là việc rớt lại xuống Second Division vào năm 1991 khi Derby đứng cuối First Division với chỉ năm chiến thắng trong cả mùa giải. Vào thời điểm này, doanh nhân báo chí địa phương Lionel Pickering trở thành cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ, nắm quyền kiểm soát ngay trước khi Maxwell qua đời vào tháng 11 năm 1991. Năm 1992, Derby County trả 2,5 triệu bảng cho trung vệ Craig Short của Notts County, vào thời điểm đó – và trong năm năm sau đó – là cầu thủ đắt giá nhất được một câu lạc bộ ngoài hạng đấu cao nhất kí hợp đồng, và thực tế cũng là một trong những mức phí cao nhất mà bất kì câu lạc bộ Anh nào từng trả cho một cầu thủ vào thời điểm ấy. Những bản hợp đồng đắt giá khác gồm các tiền đạo Tommy Johnson và Marco Gabbiadini. Việc Cox từ chức huấn luyện viên vào tháng 10 năm 1993 dẫn tới sự bổ nhiệm cựu cầu thủ Roy McFarland làm huấn luyện viên. Derby vào tới chung kết play-off Division One ở mùa giải đó, nhưng bị đối thủ địa phương Leicester City đánh bại. McFarland bị sa thải một năm sau khi Derby bỏ lỡ suất play-off, và người thay ông là Jim Smith – một huấn luyện viên mà thành tích tại các câu lạc bộ trước đó gồm bốn lần thăng hạng và một lần vào bán kết Cúp FA.
Dù mùa giải 1995-96 khởi đầu chậm chạp, việc kí hợp đồng với cầu thủ quét Igor Štimac vào đầu mùa thu đã chứng tỏ có ý nghĩa quyết định. Smith dẫn dắt The Rams tới vị trí thứ hai và giành quyền lên Premier League, lúc này là hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Trong mùa giải đó, thông báo được đưa ra rằng Derby sẽ rời Baseball Ground sau hơn 100 năm để chuyển tới một sân vận động toàn ghế ngồi mới, sau những kế hoạch trước đó nhằm phát triển Baseball Ground thành sân có sức chứa 26.000 chỗ.[10]
Sau khi đứng thứ 12 trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, câu lạc bộ rời Baseball Ground, sân nhà của họ suốt 102 năm, để chuyển đến Sân vận động Pride Park mới với sức chứa 33.597 chỗ cho mùa giải 1997-98. Baseball Ground bị phá dỡ sáu năm sau đó và cuối cùng một công trình tưởng niệm đã được dựng lên để ghi nhớ vai trò của sân trong lịch sử thành phố Derby.[11]
Xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất và khủng hoảng tài chính
Câu lạc bộ thích nghi tốt với sân nhà mới khi liên tiếp có hai mùa giải kết thúc trong top 10 lần đầu tiên kể từ đỉnh cao thập niên 1970, trước khi sự sa sút đột ngột ở bước ngoặt thiên niên kỉ khiến họ trải qua ba năm chật vật. Smith từ chức và được thay bằng các cựu cầu thủ Colin Todd, người chỉ trụ được ba tháng, và John Gregory, trước khi The Rams xuống hạng năm 2002 sau sáu năm ở hạng đấu cao nhất.
Việc Derby County xuống hạng khiến câu lạc bộ rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, buộc họ phải bán đi nhiều cầu thủ chủ chốt. Gregory sau đó bị đình chỉ công tác huấn luyện vì những cáo buộc liên quan đến hành vi sai trái, và cựu huấn luyện viên Ipswich Town là George Burley được đưa về. Câu lạc bộ rơi vào tình trạng bị đặt dưới sự quản lí tài sản rồi được bán vào tháng 10 năm 2003 với giá 3 bảng cho một nhóm do Jeremy Keith dẫn đầu. Sau khi kết thúc mùa giải 2003-04 ở vị trí thứ 20, một sự cải thiện ngoạn mục ở mùa giải 2004-05 giúp Derby đứng thứ tư tại Championship, giành suất dự play-off thăng hạng, dù họ thua Preston North End ở bán kết. Không lâu sau, Burley từ chức với lí do bất đồng giữa ông và ban lãnh đạo. Người thay ông là huấn luyện viên đội một của Bolton Wanderers Phil Brown. Vào tháng 1 năm 2006, Brown bị sa thải sau chuỗi kết quả nghèo nàn. Terry Westley, huấn luyện viên học viện khi đó, tiếp quản đội một đến cuối mùa giải và cứu Derby khỏi xuống hạng.
Trở lại Premier League rồi lập tức quay về Championship
Vào tháng 4 năm 2006, một liên danh doanh nhân địa phương do cựu phó chủ tịch Peter Gadsby dẫn đầu đã mua lại câu lạc bộ, qua đó giảm nợ và đồng thời đưa Sân vận động Pride Park trở lại quyền sở hữu của câu lạc bộ. Vào tháng 6 năm 2006, cựu huấn luyện viên Preston North End là Billy Davies được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức mới của Derby County. Trong mùa giải đầu tiên, Davies đưa Derby vào loạt play-off Championship, nơi họ đánh bại Southampton trong loạt sút luân lưu ở bán kết trước khi vượt qua West Bromwich Albion 1-0 bằng bàn thắng trong hiệp Hai của Stephen Pearson tại Sân vận động Wembley mới, qua đó giành quyền trở lại Premier League cùng khoản tiền thưởng đi kèm trị giá 60 triệu bảng.[12]
Sau khi không thắng ở năm trận mở màn mùa giải (một trận hòa và bốn thất bại liên tiếp), Derby có chiến thắng đầu tiên với tỉ số 1-0 trước Newcastle, trận đấu mà Kenny Miller ghi bàn duy nhất.[13] Vào tháng 10 năm 2007, Peter Gadsby rời cương vị chủ tịch để được thay bằng cựu chủ sở hữu Hull City là Adam Pearson, người ngay lập tức bắt đầu tìm kiếm nguồn đầu tư từ nước ngoài.[14] Sau khởi đầu tệ hại của mùa giải, huấn luyện viên Billy Davies rời đội theo thỏa thuận chung vào tháng 11.[15] Ông được thay bằng Paul Jewell,[16] nhưng ông không thể cứu câu lạc bộ khi Derby phải nhận suất xuống hạng sớm nhất trong lịch sử Premier League, vào tháng 3,[17] lập kỉ lục số điểm thấp nhất lịch sử Premier League,[18] và cân bằng kỉ lục 108 năm của Loughborough tại Football League về việc chỉ thắng một trận trong cả mùa, điều từng xảy ra ở mùa giải 1899-1900 khi Loughborough đứng cuối Second Division. Vào tháng 1 năm 2008, Derby được tiếp quản bởi một nhóm đầu tư quốc tế do General Sports and Entertainment dẫn đầu, trong đó Pearson tiếp tục là chủ tịch de facto.[19]
Trận sân nhà của Derby trước Sheffield United ngày 13 tháng 9 năm 2008 thu hút sự chú ý lớn từ truyền thông do nó diễn ra gần tròn một năm kể từ chiến thắng gần nhất của Derby ở giải vô địch, một chuỗi trận khiến câu lạc bộ phá kỉ lục bóng đá Anh về số trận liên tiếp không thắng. Chỉ còn bốn ngày nữa là tới đúng một năm từ chiến thắng 1-0 trước Newcastle United, Rob Hulse ghi bàn vào lưới câu lạc bộ cũ giúp Derby thắng 2-1, mang về cho Paul Jewell chiến thắng đầu tiên của ông ở giải vô địch trên cương vị huấn luyện viên Derby sau lần thử thứ 27. Dù đưa câu lạc bộ tới bán kết Cúp Liên đoàn, lần đầu tiên vào bán kết một giải cúp lớn kể từ năm 1976, nơi Derby thua Manchester United 3-4 sau hai lượt trận, Jewell từ chức huấn luyện viên vào tháng 12 năm 2008 sau chuỗi chỉ hai chiến thắng trong 11 trận.[20] Ông được thay bằng Nigel Clough,[21] con trai của cựu huấn luyện viên Brian Clough. Nigel Clough đưa câu lạc bộ về đích ở vị trí thứ 18 và trụ hạng thành công. Sau bốn năm mờ nhạt ở khu vực giữa bảng xếp hạng, Clough bị thay bởi Steve McClaren vào tháng 9 năm 2013; McClaren giúp câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ ba tại mùa giải 2013-14, nhưng thua Queens Park Rangers trong trận chung kết play-off.
Thất bại ở play-off, bị quản lí tài chính đặc biệt và xuống hạng
Trong mùa giải tiếp theo, doanh nhân địa phương Mel Morris nắm quyền sở hữu câu lạc bộ. Ban đầu, Morris giám sát một mức chi tiêu chưa từng có trong lịch sử Derby, khi phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ bốn lần chỉ trong ba năm đầu tiên, nhưng đồng thời cũng chứng kiến một sự thay đổi huấn luyện viên chưa từng có, với chín huấn luyện viên trong sáu năm kể từ tháng 6 năm 2015. Trong giai đoạn đó, câu lạc bộ trải qua ba chiến dịch play-off không thành công, thất bại hai lần ở bán kết và thua trận chung kết năm 2019 trước Aston Villa. Vào tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ, dưới sự dẫn dắt của Wayne Rooney, đã suýt tránh được việc xuống hạng xuống League One.[22] Cũng trong tháng 5 năm 2021, khả năng bị EFL trừng phạt xuất hiện giữa những cáo buộc vi phạm quy định công bằng tài chính.[23] Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, EFL áp đặt lệnh cấm chuyển nhượng đối với câu lạc bộ,[24] khiến Rooney chỉ còn trong tay đội hình gồm vỏn vẹn chín cầu thủ chuyên nghiệp cấp cao có hợp đồng.[25]
Vào ngày 17 tháng 9 năm 2021, ban giám đốc câu lạc bộ thông báo rằng câu lạc bộ sẽ rơi vào tình trạng quản lí tài chính đặc biệt, và EFL xác nhận Derby sẽ bị trừ 12 điểm.[26] Vào ngày 16 tháng 11, câu lạc bộ bị trừ thêm chín điểm vì vi phạm các quy tắc kế toán của EFL. Mức trừ thêm ba điểm nữa, vì vi phạm các quy tắc về lợi nhuận và tính bền vững của EFL, đã bị đình chỉ.[27] Derby và các công ti liên quan được cho là nợ HMRC 29,3 triệu bảng. Các khoản nợ khác gồm một khoản vay 20 triệu bảng từ tập đoàn đầu tư Mỹ MSD Holdings, cùng nhiều chủ nợ trong bóng đá và thương mại khác với tổng số tiền khoảng 15 triệu bảng.[28] Sau thất bại trước QPR, Derby County bị xuống hạng xuống League One.[29]
Vào ngày 26 tháng 6 năm 2022, sau khi nhà phát triển bất động sản có trụ sở tại Derbyshire là David Clowes mua lại Pride Park,[30] đề nghị mua câu lạc bộ của ông được chấp nhận, và Quantuma trao cho Clowes tư cách nhà thầu ưu tiên. Các quản tài viên cho biết đề nghị của Clowes phù hợp với chính sách mất khả năng thanh toán của EFL, đồng nghĩa Derby sẽ tránh được một án trừ điểm nữa. Thương vụ này, cùng việc câu lạc bộ thoát khỏi tình trạng quản lí tài chính đặc biệt, cuối cùng được xác nhận vào ngày 1 tháng 7 năm 2022,[31] dù EFL và các ông chủ mới của Derby đã thống nhất một số hạn chế liên quan tới chuyển nhượng.[32] (Clowes đã chi 33 triệu bảng để mua câu lạc bộ, trong đó có 19,7 triệu bảng trả cho các chủ nợ, đồng thời đồng ý một thỏa thuận trị giá 22 triệu bảng để mua Pride Park và thanh toán khoản vay còn tồn đọng cho MSD.)[33] Vào tháng 9 năm 2022, Derby bổ nhiệm huấn luyện viên của Rotherham United là Paul Warne.[34] Đội bóng cạnh tranh cho suất thăng hạng, nhưng lỡ vòng play-off của League One khi đứng thứ bảy.[35] Lệnh cấm chuyển nhượng của câu lạc bộ cuối cùng được gỡ bỏ vào tháng 5 năm 2023.[36]
Trở lại Championship
Vào cuối mùa giải 2023-24, Derby thăng hạng trở lại Championship với tư cách á quân cùng tổng số điểm cao nhất trong lịch sử đội bóng.[37] Vào tháng 9 năm 2024, có thông tin cho rằng ông chủ câu lạc bộ David Clowes đã có các cuộc đàm phán với những nhà đầu tư tiềm năng không nêu tên về việc bán cổ phần chi phối tại Derby County. Các nguồn tin xác nhận "một số bên quan tâm" đã cân nhắc đầu tư.[38]
Vào ngày 7 tháng 2 năm 2025, sau chuỗi kết quả nghèo nàn mà đỉnh điểm là bảy thất bại liên tiếp tại giải vô địch, Derby thông báo rằng họ đã miễn nhiệm huấn luyện viên Paul Warne và sẽ lập tức bắt đầu tìm kiếm huấn luyện viên mới.[39] Vào ngày 13 tháng 2, Derby thông báo rằng cựu cầu thủ John Eustace đã được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên trưởng mới.[40] Quyết định này khiến ông rời vị trí tại Blackburn Rovers, dù The Rams khi đó đứng thấp hơn đáng kể trên bảng xếp hạng.
Bản sắc câu lạc bộ
Huy hiệu
Giống như phần lớn các câu lạc bộ bóng đá lâu đời, Derby County ban đầu không sử dụng huy hiệu trên áo đấu. Huy hiệu đầu tiên của họ được giới thiệu vào năm 1924. Huy hiệu này gồm một tấm khiên tròn chia làm ba phần bằng nhau, tượng trưng cho câu lạc bộ, người hâm mộ và khu vực địa phương, mỗi phần đều chứa các biểu tượng gắn liền theo truyền thống với thành phố Derby: một hoa hồng Tudor và một vương miện ở một phần, một con nai đực trong công viên ở phần thứ hai, và đầu một con cừu đực ở phần cuối cùng. Huy hiệu này chỉ được in trên áo của các cầu thủ trong hai mùa giải trước khi họ trở lại dùng áo trơn.
Đến năm 1934, một huy hiệu khác được giới thiệu. Lần này, đó là một tấm khiên theo hình thức truyền thống, კვლავ chia thành ba phần. Hình con nai đực trong công viên bị loại bỏ, còn hoa hồng và vương miện được tách riêng, mỗi biểu tượng chiếm một phần. Đầu con cừu đực vẫn được giữ lại và nay chiếm phần lớn nhất trên tấm khiên. Huy hiệu này không bao giờ xuất hiện trên áo đấu của cầu thủ. Tấm khiên được chỉnh sửa vào năm 1946 khi hoa hồng và vương miện bị loại bỏ và được thay bằng các chữ cái "DC" (Derby County) và "FC" (Football Club). Huy hiệu, ở bên phải, được in trên áo đấu của cầu thủ kể từ khi ra mắt, dù chỉ phần đầu cừu đực riêng lẻ mới được dùng từ cuối thập niên 1960 (tuy vậy, toàn bộ tấm khiên vẫn là biểu trưng chính thức của câu lạc bộ).
Một huy hiệu câu lạc bộ mới được giới thiệu vào năm 1971, với thiết kế hiện đại hơn, và vẫn được sử dụng tới nay sau một số chỉnh sửa. Ban đầu, huy hiệu này gồm một con cừu đực màu trắng cách điệu quay mặt sang trái. Huy hiệu lần đầu được chỉnh sửa nhẹ vào năm 1979 để thêm dòng chữ "Derby County FC" dưới con cừu đực (dù hình con cừu vẫn được dùng riêng lẻ trên trang phục sân khách). Năm 1982, con cừu quay sang phải và dòng chữ phía dưới bị loại bỏ. Con cừu được bao quanh bởi một vòng nguyệt quế, và phía dưới in dòng chữ "Centenary 1984-1985" cho mùa giải kỉ niệm trăm năm của câu lạc bộ. Vòng nguyệt quế bị loại bỏ và dòng chữ "Derby County FC" quay trở lại từ mùa giải tiếp theo. Năm 1993, con cừu lại quay sang trái và dòng chữ một lần nữa bị loại bỏ. Từ năm 1995, con cừu quay sang phải và được đặt trong một hình thoi, phía dưới là dải băng màu vàng ghi "Derby County FC" và tiếp dưới nữa là dòng chữ "1884" (năm thành lập câu lạc bộ). Thiết kế lại được thay đổi vào năm 1997 (xem bên trái): con cừu nay quay sang trái và dải băng vàng chỉ còn ghi "Derby County"; hình thoi và năm thành lập bị loại bỏ.
Một thập niên sau, vào năm 2007, huy hiệu lại được chỉnh sửa với con cừu vẫn quay sang trái và dòng chữ "Est. 1884" nay nằm ở giữa một khung tròn có dòng "Derby County Football Club" bằng chữ vàng, trong khi màu sắc được đổi thành màu chính thức của câu lạc bộ là đen và trắng vào năm 2009 (xem đầu trang). Vào tháng 7 năm 2012, câu lạc bộ thông báo ý định chỉ sử dụng hình con cừu mang tính biểu tượng, lúc này chỉ còn là đường viền, trên các áo đấu tương lai thay vì toàn bộ biểu trưng câu lạc bộ. Vào tháng 7 năm 2013, hình con cừu truyền thống này một lần nữa trở thành biểu trưng đầy đủ của câu lạc bộ.
Màu sắc
Màu sắc ban đầu của Derby County (bên phải) là màu hổ phách, nâu sô-cô-la và xanh lam, dù đến thập niên 1890 câu lạc bộ đã chuyển sang màu truyền thống là đen và trắng, và những màu này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Trong các thập niên 1970 và 1980, màu áo sân nhà là áo trắng với một vài điểm nhấn nhỏ màu xanh lam hoặc đỏ (trên huy hiệu câu lạc bộ hoặc biểu tượng của nhà sản xuất áo), quần xanh lam và tất có thể là xanh lam, đỏ, trắng hoặc kết hợp cả ba màu.[41] Màu sắc của trang phục sân khách thay đổi rất đa dạng, và dù thường là vàng/vàng kim hoặc xanh lam, màu áo sân khách của mùa giải 2008-09 lại là xanh lục huỳnh quang.[42] Câu lạc bộ cũng giới thiệu một bộ trang phục thứ ba gây bất ngờ vào tháng 8 năm 2008. Có thiết kế tương tự bộ trang phục sân khách của câu lạc bộ trong thập niên 1970, với các sọc xanh lam và trắng, gợi nhớ tới trang phục của đội tuyển quốc gia Argentina, kiểu dáng này được tái sử dụng sau phản hồi từ người hâm mộ, những người nói rằng đây là một trong những bộ trang phục yêu thích nhất trong quá khứ của câu lạc bộ.[43]
| Giai đoạn | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu |
|---|---|---|
| 1973-1979 | Umbro | Không có |
| 1979-1980 | Le Coq Sportif | |
| 1980-1981 | British Midland | |
| 1981-1982 | Patrick | |
| 1982-1984 | Patrick | |
| 1984-1985 | Admiral | Bass Brewery |
| 1985-1986 | OSCA | |
| 1986-1987 | Sportsweek | |
| 1987-1992 | Umbro | Maxwell Communications |
| 1992-1993 | Auto Windscreens | |
| 1993-1994 | Bukta | |
| 1994-1995 | Rams Pro Wear | |
| 1995-1998 | Puma | Puma |
| 1998-2001 | EDS | |
| 2001-2005 | Erreà | Marston's Pedigree |
| 2005-2007 | Joma | Derbyshire Building Society |
| 2007-2008 | Adidas | |
| 2008-2010 | Bombardier | |
| 2010-2012 | buymobiles.net | |
| 2012-2014 | Kappa | |
| 2014-2017 | Umbro | Just Eat |
| 2017-2018 | Avon Tyres | |
| 2018-2022 | 32Red | |
| 2022-2023 | NSPCC | |
| 2023-2024 | Host and Stay | |
| 2024- | Puma | FanHub |
Linh vật câu lạc bộ

Linh vật của Derby là một con cừu đực tên Rammie, đồng thời cũng đảm nhiệm việc duy trì mối liên hệ của câu lạc bộ với người hâm mộ và khu vực East Midlands nói chung, chẳng hạn như các chuyến thăm trường học để khuyến khích việc đọc viết và các sự kiện từ thiện.[44][45] Ban đầu, Rammie xuất hiện như một lựa chọn thân thiện hơn so với mối liên hệ truyền thống của câu lạc bộ với British Army và đặc biệt là Mercian Regiment trong phần linh vật.
Rammie là linh vật toàn thời gian đầu tiên của bóng đá Anh.[46][47] Những hoạt động truyền thống của Rammie gồm các màn sút luân lưu với khán giả trong giờ nghỉ giữa hiệp, với Rammie làm thủ môn, làm nóng bầu không khí trước trận đấu và cổ vũ người hâm mộ Derby trong suốt trận đấu. Rammie là một nhân vật rất được yêu mến trong cộng đồng người hâm mộ The Rams[48][49] và vào năm 2005 đã phát hành đĩa DVD đầu tiên, trong đó nhân vật này đọc Aesop's Fables tại vùng quê Derbyshire.[46]
Không lâu sau đó, Rammie có thêm một phiên bản nữ tương đương và cũng là em gái của mình, mang tên Ewie. Tuy nhiên, Ewie không ở lại Pride Park lâu và được cho là đã "đi nghỉ" tại Hoa Kì. Cô trở lại sau 10 năm lưu vong vào ngày 3 tháng 10 năm 2015 trong trận sân nhà gặp Brentford.[50]
Sân đấu

Với tư cách là một nhánh tách ra từ câu lạc bộ cricket, sân nhà đầu tiên của Derby County là County Cricket Ground, còn được gọi là Racecourse Ground, nơi câu lạc bộ thi đấu từ năm 1884 đến năm 1895. Dù bản thân sân đấu đủ tiêu chuẩn để tổ chức trận chung kết Cúp FA đầu tiên ngoài London, khi Blackburn Rovers đánh bại West Bromwich Albion 2-0 trong trận đá lại chung kết Cúp FA 1886,[51] và cả một trận đấu quốc tế chính thức của đội tuyển Anh, những tranh chấp về lịch thi đấu chồng chéo giữa câu lạc bộ bóng đá và câu lạc bộ cricket khiến khi có cơ hội chuyển sang sân Sir Francis Ley là Baseball Ground, câu lạc bộ đã chấp nhận.[52]
Thường được người hâm mộ gọi là "the BBG", câu lạc bộ chuyển đến Baseball Ground vào năm 1895 và ở lại đó trong 102 năm tiếp theo, bất chấp những cơ hội chuyển đi trong các thập niên 1920 và 1940.[52][53] Derby thực ra đã từng thi đấu tại đây rồi, với chiến thắng 1-0 trước Sunderland trong mùa giải 1891-92, như một địa điểm thay thế do trùng lịch tại County Ground. Ở thời kì cực thịnh vào cuối thập niên 1960, sân có thể chứa khoảng 42.000 người – mức khán giả kỉ lục của câu lạc bộ được thiết lập sau khi khán đài Ley Stand mở cửa, khi 41.826 người chứng kiến chiến thắng 5-0 trước Tottenham Hotspur vào ngày 20 tháng 9 năm 1969.[52] Từ đỉnh cao này, việc liên tục bổ sung ghế ngồi khiến sức chứa giảm xuống còn 26.500 vào năm 1985.
Sau Taylor Report năm 1989, cùng yêu cầu pháp lí về các sân vận động toàn ghế ngồi, sức chứa của sân giảm xuống chỉ còn 18.500 vào giữa thập niên 1990, không đủ cho một đội bóng hạng Hai khi ấy đầy tham vọng. Dù ban đầu hi vọng tái thiết Baseball Ground để chứa 26.000 khán giả và đã từ chối đề nghị về hai địa điểm khác tại Derby, chủ tịch khi đó là Lionel Pickering vào tháng 2 năm 1996 đã thông báo ý định chuyển tới một sân vận động mới được xây dựng chuyên dụng tại khu Pride Park mới tái phát triển, với trận cuối cùng của đội một tại Baseball Ground diễn ra vào tháng 5 năm 1997, một thất bại 1-3 trên sân nhà trước Arsenal, dù sân này vẫn tiếp tục tổ chức các trận của đội dự bị cho đến năm 2003. Sân mới của Derby, mang tên Sân vận động Pride Park, được Nữ hoàng chính thức khánh thành vào ngày 18 tháng 7, trước khi trận giao hữu với câu lạc bộ Ý Sampdoria diễn ra vào ngày 4 tháng 8.
Derby giữ một vị thế đặc biệt là câu lạc bộ duy nhất từng có ba sân nhà đăng cai các trận quốc tế chính thức của đội tuyển Anh. Anh thắng Ireland 9-0 tại Racecourse Ground năm 1895, thắng Ireland lần nữa 2-1 tại Baseball Ground năm 1911 và gần đây nhất, Pride Park tổ chức chiến thắng 4-0 của Anh trước México vào tháng 5 năm 2001.[54]
Pride Park được đổi tên thành iPro Stadium vào ngày 7 tháng 12 năm 2013, như một phần của hợp đồng tài trợ kéo dài 10 năm trị giá 7 triệu bảng với công ti nước uống thể thao toàn cầu iPro. Vào đầu năm 2017, sân quay trở lại tên gốc là Sân vận động Pride Park.
Clowes Developments (UK) Ltd đã mua lại Pride Park từ Mel Morris vào ngày 17 tháng 6 năm 2022.[30]
Cổ động viên và kình địch
Cổ động viên
Derby thường được cả cổ động viên đối thủ[55] lẫn báo chí xem là một "thành phố bóng đá cuồng nhiệt". Tony Francis của The Daily Telegraph nhận xét: "Derby là một thành phố bóng đá cuồng nhiệt... Ngay cả ở Division 2013-14 Two, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng số khán giả tại Pride Park sẽ không giảm nhiều dưới mốc 30.000. Điều đó thuộc về lịch sử, địa lí, và nằm trong máu. Có nơi có điều đó, có nơi thì không."[56] Trong mùa giải Premier League 2007-08, người hâm mộ Derby County nhiều lần được nhắc đến như những người hâm mộ tuyệt vời nhất nước Anh nhờ lòng trung thành của mình bất chấp chiến dịch thảm họa của câu lạc bộ.[57] Gần như mọi trận sân nhà tại Sân vận động Pride Park đều bán hết vé cho người hâm mộ Derby và câu lạc bộ cũng có lượng cổ động viên đi sân khách rất đông. Sự ghi nhận này bao gồm việc họ được gọi là người hâm mộ của mùa giải trong nhiều bài tường thuật toàn quốc về mùa giải đó, giành một giải thưởng từ tạp chí Nuts,[58] và được một khảo sát năm 2008 của Sky Sports Magazine gọi là những người ủng hộ trung thành nhất cả nước.[59] Năm 2013, người hâm mộ Derby là Nick Webster được bầu là Người hâm mộ Championship của năm.[60]
Về mặt thống kê, câu lạc bộ có lượng khán giả trung bình cao thứ 12 cả nước ở các mùa giải 2007-08,[61] 2008-09,[62] và 2009-10,[63] dù chỉ sở hữu sân vận động của câu lạc bộ lớn thứ 15 và kết thúc ở vị trí thứ 18 trở xuống trong hạng đấu tương ứng. Ở mùa giải 2008-09, họ là câu lạc bộ được ủng hộ đông đảo nhất tại Championship, với lượng khán giả trung bình cao hơn chín câu lạc bộ Premier League. Kể từ khi chuyển tới Sân vận động Pride Park vào năm 1997, lượng khán giả trung bình của Derby chưa bao giờ giảm xuống dưới 23.000 và đội đã nằm trong top 20 câu lạc bộ có lượng khán giả trung bình cao nhất ở 20 trong số 25 mùa giải, dù phần lớn thời gian chơi ở hạng Hai.[64] Trong mùa giải 2023-24, Derby là đội được ủng hộ đông thứ 6 trong toàn bộ EFL, với lượng khán giả trung bình 27.278 dù thi đấu ở hạng Ba; họ cũng có lượng khán giả trung bình cao hơn sáu câu lạc bộ Premier League.[64]
Những người nổi tiếng ủng hộ Derby gồm các diễn viên George Clooney[65][66] và Robert Lindsay, cựu nghị sĩ Công đảng Dennis Skinner,[67] ca sĩ người Ireland Niall Horan,[68] nghệ sĩ guitar của Blur là Graham Coxon,[69] nghệ sĩ guitar của The Gaslight Anthem là Alex Rosamilia,[70] diễn viên phim người lớn Keiran Lee,[71] các võ sĩ Sandy Ryan và Zach Parker, cùng diễn viên Jack O'Connell[72] Có thông tin cho rằng O'Connell đã thuyết phục thêm những người nổi tiếng khác ủng hộ câu lạc bộ, bao gồm nữ diễn viên Angelina Jolie,[73] và người mẫu Cara Delevingne.[74][cần nguồn tốt hơn]
Kình địch
Những đối thủ chính của Derby là Nottingham Forest, Leicester City và Leeds United.[75]
Forest, có trụ sở tại Nottingham, cách Derby 14 dặm (23 km) về phía đông, là đối thủ dữ dội nhất; một khảo sát năm 2008 xếp mối kình địch này lớn thứ 11 trong bóng đá Anh, cho thấy chín trên mười người hâm mộ của cả hai câu lạc bộ đều xem đội còn lại là đối thủ lớn nhất của mình,[76] trong khi một khảo sát năm 2020 xếp nó đồng hạng 12.[77] Những cuộc đối đầu giữa hai đội được gọi là trận derby East Midlands và đội thắng sẽ nhận Brian Clough Trophy. Toàn bộ mối kình địch này phần lớn phát triển từ thập niên 1970, do cựu huấn luyện viên Derby là Brian Clough chuyển sang dẫn dắt Forest, điều khiến người hâm mộ Derby hết sức tức giận. Mối kình địch này được xem không chỉ là chuyện khoảng cách địa lí gần nhau giữa hai câu lạc bộ mà còn là chuyện câu lạc bộ nào thực sự giữ được trái tim của Clough.[78]
Mối kình địch với Leicester bắt nguồn từ vị trí địa lí, cũng như việc Leicester giành chiến thắng trong trận chung kết play-off năm 1994.[79]
Leeds United bị ghét vì sự ma sát kéo dài từ đầu thập niên 1970 khi Derby và Leeds là hai trong số những đội bóng mạnh nhất nước Anh, cùng với sự thù địch gần như không che giấu giữa các huấn luyện viên tương ứng của họ là Brian Clough và Don Revie[79] và điều này đã được ghi lại trong tiểu thuyết The Damned Utd và bộ phim The Damned United. Theo truyền thống, mối kình địch này mạnh hơn từ phía Derby: trong khi Derby xem Leeds là đối thủ lớn thứ Hai hoặc thứ Ba của mình, người hâm mộ Leeds lại tập trung nhiều hơn vào sự căm ghét dành cho Manchester United và Chelsea,[75] tuy nhiên mối kình địch một lần nữa trở nên gay gắt hơn trong mùa giải 2018-19 sau vụ bê bối 'Spygate', trận bán kết play-off và sự thù địch gia tăng giữa các huấn luyện viên, ban huấn luyện và người hâm mộ của hai câu lạc bộ.[80][81]
Một nghiên cứu năm 2019 mang tên 'The League of Love And Hate' cho biết năm đối thủ lớn nhất theo người hâm mộ Derby là Nottingham Forest (88%), Leicester City (64%), Leeds United (63%), Stoke City (43%) và Aston Villa (30%). Bản thân Derby cũng xuất hiện trong top năm đối thủ của Forest (hạng 1 – 77%), Leicester (hạng 2 – 60%), Burton Albion (hạng 3 – 56%), Leeds (hạng 5 – 30%) và Stoke (hạng 5 – 28%).[82]
Lịch sử thi đấu tại giải vô địch

Derby là một trong mười hai thành viên sáng lập của Football League và là một trong chỉ mười câu lạc bộ đã góp mặt trong mọi mùa giải của bóng đá vô địch Anh. Câu lạc bộ chủ yếu thi đấu ở hai hạng đấu cao nhất của hệ thống bóng đá, dù đã có ba giai đoạn riêng biệt kéo dài hai năm ở hạng Ba (1955-57, 1984-86 và 2022-24).
Quãng thời gian dài nhất của câu lạc bộ ở hạng đấu cao nhất là 27 năm, diễn ra trong giai đoạn 1926-1953. Tuy nhiên, vào thời điểm đó câu lạc bộ thực tế chỉ thi đấu 21 mùa giải liên tiếp ở Division One do bóng đá chính thức bị đình chỉ trong giai đoạn 1940 và 1946 vì Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Câu lạc bộ hiện đang trải qua quãng thời gian dài nhất ở ngoài hạng đấu cao nhất; họ sẽ thi đấu tại hạng Hai ở mùa giải 2024-25, là mùa giải thứ 17 liên tiếp không có bóng đá hạng đấu cao nhất kể từ khi rớt khỏi Premier League vào năm 2008. Điều này phá vỡ kỉ lục trước đó là 16 mùa giải liên tiếp trong giai đoạn 1953-1969.
|
|
|
|
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 1 của hệ thống giải bóng đá: 65
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá: 55
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 3 của hệ thống giải bóng đá: 6
(tính đến và bao gồm mùa giải 2024-25)
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
- Tính đến 5 tháng 2 năm 2026[83]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Under-21 và học viện
Những cầu thủ Under-21 sau đây từng được điền tên vào đội hình Derby County ở một trận đấu chính thức:[84]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội nữ
Những cựu cầu thủ đáng chú ý
Đại sảnh Danh vọng Premier League
Premier League Hall of Fame vinh danh những cầu thủ và huấn luyện viên hàng đầu từng thi đấu và dẫn dắt tại Premier League, giải đấu cao nhất của hệ thống bóng đá Anh. Được ra mắt vào năm 2020 nhưng bị lùi lại một năm do đại dịch COVID-19, Đại sảnh Danh vọng được thiết kế để ghi nhận và tôn vinh những cầu thủ và huấn luyện viên đã đạt thành công lớn và có đóng góp đáng kể cho giải đấu kể từ khi giải này ra đời vào năm 1992. Ba cựu cầu thủ/huấn luyện viên gắn liền với Derby County đã có mặt trong Đại sảnh Danh vọng Premier League.
- 2021 –
Frank Lampard - 2022 –
Wayne Rooney - 2024 –
Ashley Cole
Các thành viên của Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Anh
Một số cựu cầu thủ/huấn luyện viên gắn liền với Derby County có mặt trong English Football Hall of Fame, được thành lập vào năm 2002 để tôn vinh những người đã đạt tới đỉnh cao của bóng đá Anh. Để được xem xét đưa vào, cầu thủ/huấn luyện viên phải từ 30 tuổi trở lên và đã thi đấu/dẫn dắt ít nhất năm năm tại Anh.[85]
- 2002 –
Brian Clough
Peter Doherty
Peter Shilton
Dave Mackay - 2008 –
Steve Bloomer - 2010 –
Francis Lee - 2013 –
Raich Carter - 2014 –
Hughie Gallacher - 2015 -
Paul McGrath - 2016 –
John Robertson - 2017 –
Frank Lampard - 2025 –
Ashley Cole
100 huyền thoại của Football League
Football League 100 Legends là danh sách "100 cầu thủ bóng đá huyền thoại" do The Football League công bố vào năm 1998 để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá thuộc Football League.[86] Tám cựu cầu thủ Derby có mặt trong danh sách này.
Nguồn:[86]
John Goodall
Steve Bloomer
Hughie Gallacher
Raich Carter
Peter Doherty
Dave Mackay
Peter Shilton
Paul McGrath
Cúp Jack Stamps (Cầu thủ xuất sắc nhất năm)
Cầu thủ của thập kỉ (thập niên 1970-thập niên 2010)
Để đánh dấu kỉ niệm 50 năm chức vô địch First Division của Derby, BBC đã khảo sát người hâm mộ nhằm xác định những cầu thủ xuất sắc nhất của The Rams trong năm thập kỉ kể từ năm 1972. Ở thập niên 1970, Kevin Hector nhận được nhiều phiếu nhất; ở thập niên 1980 là Bobby Davison; ở thập niên 1990 là Dean Saunders; ở thập niên 2000 là Mart Poom; và ở thập niên 2010 là Craig Bryson.[87]
Quản lí câu lạc bộ
Các vị trí huấn luyện
- Tính đến 20 tháng 5 năm 2025[88]
- Huấn luyện viên trưởng: John Eustace
- Trợ lí huấn luyện viên trưởng: Matt Gardiner
- Huấn luyện viên đội một: Keith Downing
- Huấn luyện viên bán thời gian: Steve Round
- Trưởng bộ phận thủ môn: Paul Clements
- Giám đốc học viện: Matt Hale
- Trưởng bộ phận tuyển mộ: Leigh Bromby
Ban giám đốc và quyền sở hữu
- Chủ sở hữu và Chủ tịch: David Clowes
- Thư kí câu lạc bộ và Thành viên ban giám đốc: Richard Tavernor
- Thành viên ban giám đốc: Ian Dickinson
- Tổng giám đốc điều hành: Stephen Pearce
- Đại sứ câu lạc bộ: Roy McFarland; Roger Davies
Lịch sử huấn luyện viên
Dưới đây là danh sách tất cả các huấn luyện viên chính thức mà Derby County từng có kể từ khi Harry Newbould được bổ nhiệm vào năm 1900.[90] Trong 12 năm trước khi Newbould được bổ nhiệm, đội bóng do ủy ban của câu lạc bộ lựa chọn, một thông lệ phổ biến của các câu lạc bộ bóng đá vào thời điểm đó.
|
|
|
Học viện câu lạc bộ
Moor Farm
Học viện của Derby County, mang tên Moor Farm, là một khu phức hợp được xây dựng chuyên dụng nằm gần khu ngoại ô Oakwood của thành phố. Cơ sở này được xây dựng vào năm 2003, với chi phí 5 triệu bảng,[91] để thay thế học viện trước đó của câu lạc bộ là The Ram-Arena, đặt tại Raynesway. Cơ sở này trải rộng trên 50 mẫu Anh (200.000 m2) và có sáu sân tập kích thước tiêu chuẩn cùng một sân trong nhà, đồng thời bao gồm phòng tập thể hình, nhà hàng, phòng ProZone và khu giặt là.[91] Khi افتتاح học viện, chủ tịch khi đó là Lionel Pickering nói rằng mục tiêu là sẽ có "ít nhất tám cầu thủ từ học viện... trong đội một trong vòng ba năm."[91] Dù điều này không đạt được, học viện đã đào tạo ra nhiều cầu thủ đáng chú ý, trong đó có tiền vệ tuyển Anh Tom Huddlestone, hậu vệ tuyển Wales Lewin Nyatanga, thủ môn tuyển Bắc Ireland Lee Camp, các cầu thủ U-21 Anh Miles Addison và Lee Grant, cũng như cầu thủ U-19 Anh Giles Barnes.
Vào tháng 4 năm 2009, tân huấn luyện viên Nigel Clough thông báo ý định tái cấu trúc học viện, bổ nhiệm các cựu cầu thủ Derby là Darren Wassall và Michael Forsyth[92] và giám đốc học viện của Wolverhampton Wanderers là John Perkins vào ban hậu trường, thay thế Phil Cannon, David Lowe và Brian Burrows đã rời đi.[93] Sau đó, cùng với khoản đầu tư tăng thêm 1 triệu bảng mỗi năm từ câu lạc bộ,[94] một số cầu thủ đã được đôn lên đội một trước mùa giải 2010-11, và gần một phần ba đội hình Derby là sản phẩm của học viện, với Mason Bennett lập kỉ lục cầu thủ trẻ nhất ra sân cho đội một của câu lạc bộ khi có trận đá chính đầu tiên trong thất bại trước Middlesbrough ngày 22 tháng 10 năm 2011 ở tuổi 15 năm 99 ngày.[95] Điều này góp phần củng cố danh tiếng của học viện[96] và củng cố mong muốn mà giám đốc điều hành Tom Glick từng nêu ra là biến Moor Farm thành "học viện được lựa chọn tại Midlands".[96] Vào tháng 8 năm 2012, học viện của Derby trở thành học viện hạng 2 theo Elite Player Performance Plan mới gây nhiều tranh cãi.[97] Hai năm sau, vào tháng 7 năm 2014, học viện được nâng lên hạng 1.[98] Việc chú trọng học viện vẫn tiếp tục dưới quyền sở hữu của Mel Morris sau khi ông mua lại câu lạc bộ vào cuối năm đó và, vào cuối mùa giải 2019-20, Derby là đội đã trao nhiều số phút thi đấu cho các cầu thủ dưới 21 tuổi hơn bất kì câu lạc bộ nào khác tại Championship, với các sản phẩm học viện như Max Bird, Louie Sibley, Jason Knight, Jayden Bogle, Morgan Whittaker và Lee Buchanan có tổng cộng 7.946 phút thi đấu tại giải vô địch trong mùa giải đó.[99] Khi nói về các mục tiêu cho mùa giải 2020-21, Morris phát biểu: "Chúng ta sẽ không thấy một đội hình gồm 11 cầu thủ từ học viện ra sân ở mùa này (2019/20), nhưng mục tiêu cho mùa tới là 50% đội hình xuất phát của chúng ta phải là cầu thủ học viện. Đó là mục tiêu của chúng ta, và tôi nghĩ có khả năng chúng ta có thể đạt được điều đó."[100]
Derby County tại châu Âu
Derby lần đầu tiên thi đấu tại châu Âu khi tham dự European Cup 1972-73 sau khi giành chức vô địch First Division 1971-72,[101] vào tới bán kết, nơi họ thua Juventus với tổng tỉ số 1-3. Họ từng giành quyền dự Fairs Cup 1970-71 sau khi đứng thứ tư tại First Division 1969-70, nhưng bị cấm tham dự do những sai phạm tài chính. Thập niên 1970 là đỉnh cao của Derby County trong bóng đá Anh, và họ giành quyền dự cúp châu Âu trong ba trên bốn mùa giải tiếp theo, thi đấu tại UEFA Cup hoặc European Cup trong cả ba mùa giải từ 1974-75 đến 1976-77.
Sau đó câu lạc bộ sa sút nhanh chóng và không còn xuất hiện ở các giải đấu lớn của châu Âu kể từ đó, dù họ đứng thứ năm tại First Division 1989, vị trí vốn sẽ bảo đảm cho họ một suất dự Cúp UEFA 1989-90 nếu các câu lạc bộ Anh không bị cấm tham dự cúp châu Âu sau thảm họa Heysel.
Ngoài các giải đấu lớn, câu lạc bộ còn tham dự Anglo-Italian Cup từ 1992-93 đến 1994-95, vào tới trận chung kết năm 1993 nhưng thua 1-3 trước Cremonese tại Wembley.
Kỉ lục và thống kê
Kevin Hector giữ kỉ lục số lần ra sân cho Derby County trên mọi đấu trường, với 589 lần trong hai giai đoạn khoác áo câu lạc bộ từ năm 1966 đến năm 1982.[102] Ông đứng trên Ron Webster, người có 535 lần ra sân cho câu lạc bộ. Nếu chỉ tính các lần ra sân tại giải vô địch, Hector vẫn dẫn đầu với 486 trận, trên Jack Parry, người có 483 trận cho câu lạc bộ trong giai đoạn 1948-1967. Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử câu lạc bộ là Steve Bloomer, người ghi 332 bàn trong hai giai đoạn từ năm 1892 đến năm 1914.[102] Ông hơn người đứng thứ hai là Kevin Hector hơn 100 bàn, khi Hector ghi 201 bàn cho câu lạc bộ. Jack Bowers giữ kỉ lục câu lạc bộ về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải, khi ông ghi 43 bàn (35 bàn tại giải vô địch và thêm 8 bàn tại Cúp FA) trong mùa giải 1932-33. Kỉ lục ghi bàn tại giải vô địch trong một mùa giải thuộc về Jack Bowers và Ray Straw, với cùng 37 bàn ở các mùa giải 1930-31 và 1956-57.[102]
Kỉ lục khán giả của câu lạc bộ là 41.826 người, trong một trận First Division gặp Tottenham Hotspur tại Baseball Ground ngày 20 tháng 9 năm 1969, trận đấu mà Derby thắng 5-0.[102] Kỉ lục này khó có thể bị phá vỡ trong tương lai gần vì sân hiện tại của Derby, Sân vận động Pride Park, chỉ có sức chứa tối đa 33.597 khán giả. Kỉ lục khán giả tại Pride Park trong một trận chính thức của Derby County là 33.378 người, ở trận Premier League gặp Liverpool ngày 18 tháng 3 năm 2000.[102] Đám đông lớn nhất từng theo dõi một trận đấu của Derby County là 120.000 người khi Derby County gặp Real Madrid tại Santiago Bernabéu Stadium trong European Cup 1975-76.
Chiến dịch Premier League 2007-08 tệ hại nổi tiếng của Derby khiến câu lạc bộ lập kỉ lục giải đấu về tổng số điểm thấp nhất trong một mùa giải (tính theo hệ 3 điểm cho một trận thắng), khi họ chỉ giành được 11 điểm sau 38 trận (T38 Th1 H8 B29), đồng thời cân bằng kỉ lục của Loughborough ở mùa giải 1899-1900 là chỉ thắng 1 trận trong một mùa giải.[103][104] Tính đến hết mùa giải 2024-25, họ đồng giữ một số kỉ lục Premier League.
- Ít trận thắng sân nhà nhất trong một mùa giải (1, đồng giữ cùng Sunderland, 2005-2006, Ipswich Town, 2024-25 và Southampton, 2024-25.)
- Ít trận thắng sân khách nhất trong một mùa giải (0, đồng giữ cùng năm câu lạc bộ khác)
- Ít bàn thắng nhất trong một mùa giải (20, đồng giữ cùng Sheffield United, 2023-24.)
- Hiệu số bàn thắng bại tệ nhất (-69, đồng giữ cùng Sheffield United, 2023-24.)
Mùa giải đó cũng kéo dài sang chiến dịch tiếp theo, khi Derby mãi đến vòng đấu thứ 5 mới có chiến thắng đầu tiên tại giải vô địch – qua đó lập kỉ lục số trận liên tiếp không thắng nhiều nhất tại giải vô địch (36), kỉ lục hiện được họ đồng nắm giữ cùng Macclesfield Town.
Derby cũng đồng giữ (cùng Watford) kỉ lục thất bại chênh lệch nhất trong một trận chung kết Cúp FA, là trận thua 0-6 trước Bury năm 1903.[105]
Đội hình tiêu biểu mọi thời đại
Là một phần trong các hoạt động kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ,[106] đã có thông báo rằng trong năm 2009 sẽ tổ chức một cuộc bình chọn mỗi tháng để quyết định Đội hình tiêu biểu mọi thời đại chính thức của câu lạc bộ, bắt đầu từ tháng 2 năm 2009 với vị trí thủ môn, trong khi tám tháng tiếp theo là cơ hội để người ủng hộ Derby chọn ra một đội hình theo sơ đồ 4-4-2, với cuộc bình chọn tháng 12 được dành cho vị trí huấn luyện viên.[107] Việc bỏ phiếu kết thúc vào ngày 25 hằng tháng, và người chiến thắng được công bố trong vài ngày sau đó.[108]
| Cầu thủ | Vị trí | Những năm khoác áo câu lạc bộ | Ref |
|---|---|---|---|
| Colin Boulton | Goalkeeper | 1964-1978 | [109] |
| Ron Webster | Hậu vệ phải | 1960-1978 | [110] |
| Roy McFarland | Trung vệ | 1967-1981; 1983-84 | [111] |
| Igor Štimac | Trung vệ | 1995-1999 | [111] |
| David Nish | Hậu vệ trái | 1972-1979 | [112] |
| Stefano Eranio | Tiền vệ cánh phải | 1997-2001 | [113] |
| Archie Gemmill | Tiền vệ trung tâm | 1970-1977; 1982-1984 | [114] |
| Alan Durban | Tiền vệ trung tâm | 1963-1973 | [114] |
| Alan Hinton | Tiền đạo cánh trái | 1967-1975 | [115] |
| Steve Bloomer | Tiền đạo trung tâm | 1892-1906; 1910-1914 | [116] |
| Kevin Hector | Tiền đạo trung tâm | 1966-1978; 1980-1982 | [116] |
| Brian Clough | Huấn luyện viên | 1967-1973 | [117] |
Danh hiệu
Lưu ý: các giải đấu và hạng đấu của bóng đá Anh đã thay đổi đôi chút theo thời gian, vì vậy ở đây chúng được nhóm theo cấp độ tương ứng của chúng trong Hệ thống giải bóng đá Anh tại thời điểm giành được để dễ so sánh thành tích
Nguồn:[118]
Giải vô địch
- First Division (cấp độ 1)
- Vô địch: 1971-72, 1974-75
- Á quân: 1895-96, 1929-30, 1935-36
- Second Division / First Division / Championship (cấp độ 2)
- Vô địch: 1911-12, 1914-15, 1968-69, 1986-87
- Á quân: 1925-26, 1995-96
- Thắng play-off: 2007
- Third Division North / Third Division / League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 1956-57
- Á quân: 1955-56, 2023-24
- Thăng hạng: 1985-86
Cúp
- Cúp FA
- Vô địch: 1945-46
- Á quân: 1897-98, 1898-99, 1902-03
- FA Charity Shield
- Vô địch: 1975
- Texaco Cup
- Vô địch: 1971-72
- Anglo-Italian Cup
- Á quân: 1992-93
- Watney Cup
- Vô địch: 1970
Ghi chú
- ^ Vào đầu mùa giải 1892-93, Football League mở rộng để bao gồm thêm một hạng đấu thứ hai; hạng đấu hiện có (nơi Derby đang thi đấu) được đổi tên thành First Division.
- ^ Vào đầu mùa giải 1992-93, các câu lạc bộ tại Football League First Division tách ra để thành lập FA Premier League; vì vậy, ba hạng đấu còn lại của Football League được đổi tên: Second Division (nơi Derby đang thi đấu) trở thành First Division, Third Division trở thành Second Division và Fourth Division trở thành Third Division.
- ^ Vào đầu mùa giải 2004-05, Football League đổi tên các hạng đấu của mình: First Division (nơi Derby đang thi đấu) trở thành The Championship, Second Division trở thành League One và Third Division trở thành League Two.
Tham khảo
- ^ "The Derby Ram, 1867". Folkplay. ngày 28 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Nottingham Forest 3 – 1 Derby County". facupfinals.co.uk. ngày 16 tháng 4 năm 1898. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Sheffield United 4 – 1 Derby County". facupfinals.co.uk. ngày 15 tháng 4 năm 1899. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Bury 6 – 0 Derby County". facupfinals.co.uk. ngày 18 tháng 4 năm 1903. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ Piper, W. J. (ngày 1 tháng 2 năm 1939). "A DERBY MAN'S DIARY". Derby Evening Telegraph.
- ^ a b c d e f g h "The History of Derby County Football Club". Derby County F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ "FA Cup Winners 1946". Derby County F.C. ngày 26 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ Rostron, Phil (2011). We are the damned united: The real story of Brian Clough at Leeds United. Edinburgh: Mainstream Pub. ISBN 9781845969394.
- ^ "Rams Name The Date For Clough/Taylor Reveal". Derby County F.C. ngày 27 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ "The Baseball Ground – Derby County". www.dcfc.co.uk. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
- ^ "Baseball Ground sculpture has been unveiled". ThisIsDerbyshire. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby 1-0 West Brom". ngày 28 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019 – qua news.bbc.co.uk.
- ^ Park, Stuart James at Pride (ngày 17 tháng 9 năm 2007). "Premier League: Derby 1-0 Newcastle". The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019 – qua www.theguardian.com.
- ^ New Derby chairman backs Davies BBC Sport
- ^ Billy Davies leaves Derby by mutual consent Lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2008 tại Wayback Machine The Times
- ^ Giles Mole and agencies (ngày 28 tháng 11 năm 2007). "Paul Jewell appointed Derby manager". Telegraph.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018.
- ^ McNulty, Phil (ngày 29 tháng 3 năm 2008). "Derby 2-2 Fulham". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2008.
- ^ "Dismal Derby take Cats' sad place in the record books". Sunderland Echo. ngày 29 tháng 3 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "New owners reveal Derby ambition". BBC Sport. ngày 28 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Jewell resigns as Derby manager". BBC Sport.
- ^ "Clough takes over as Derby boss". BBC Sport. ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby County 3-3 Sheffield Wednesday". BBC Sport. ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Derby County set to lose FFP case after EFL appeal". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Derby County, Reading & Hull City among eight clubs under EFL transfer embargoes". BBC Sport. ngày 8 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
- ^ Stone, Simon (ngày 18 tháng 7 năm 2021). "Derby County face starting season without a centre-back, says Wayne Rooney". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Derby County: Championship club file notice to appoint administrators". BBC Sport. ngày 17 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
- ^ "Derby County: Championship bottom club docked nine more points for accounting rule breaches". BBC Sport. ngày 16 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Derby County and connected firms owe £29m to HM Revenue and Customs". BBC Sport. ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Queens Park Rangers 1-0 Derby County". BBC Sport. ngày 18 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2022.
- ^ a b "Clowes to make bid for Derby after buying stadium". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2022.
- ^ Fisher, Ben (ngày 1 tháng 7 năm 2022). "Derby out of administration as David Clowes seals 'exciting' takeover". Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Derby County: David Clowes completes takeover of League One club". BBC Sport. ngày 1 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
- ^ Aloia, Andrew; Dietrich, Dom (ngày 8 tháng 3 năm 2024). "Derby County: Owner David Clowes spent £55m to take Rams out of administration". BBC Sport. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Paul Warne Appointed as Derby County Head Coach". dcfc.co.uk. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Sheffield Wednesday 1-0 Derby County". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2023.
- ^ Aloia, Andrew (ngày 10 tháng 5 năm 2023). "Derby County: Transfer embargo lifted on League One club after more than two years". BBC Sport. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2023.
- ^ Aloia, Andrew (ngày 27 tháng 4 năm 2024). "Paul Warne: Derby County boss relieved after Rams seal promotion". BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Derby owner Clowes in talks with new investors". BBC Sport. ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Club Statement: Paul Warne". Derby County Football Club. ngày 7 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
- ^ "Club Statement: John Eustace Appointed Derby County Head Coach". Derby County Football Club. ngày 13 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Derby County". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "New green Rams away kit revealed". Soccerlens. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Stars in stripes". Derby County F.C. ngày 30 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Rammie". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Rammie sets example with pledge for 2007". therams.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Reading with Rammie". film-studios.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Rammie Read's Aesops Fables [DVD]". Amazon. ngày 23 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Rammie Fan Club". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Brave Mum realises Rammie dream". Derby County F.C. ngày 9 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby County: Rams supporters welcome home Ewie – can you spot yourself with Rammie?". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
- ^ "1886 – Blackburn Rovers". facupfinals.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c Culley, Jon (ngày 10 tháng 5 năm 1997). "Derby's muddy oasis of sulphur and spectacle". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Proposed new Derby County stadium 1945". Footysphere. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017.
- ^ [1] Lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine, England AFC. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013
- ^ "Sân vận động Pride Park". Football Ground Guide. ngày 10 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "The Coffee Horror Show". BBC. ngày 22 tháng 3 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2008.
- ^ Lacey, David (ngày 10 tháng 6 năm 2008). "Passion undimmed is sole solace for doomed Derby". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "RamsSpace Goes Nuts". ramspace. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "And our survey says..." Sky Sports. British Sky Broadcasting. ngày 25 tháng 7 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012.
- ^ "Derby County's Nick Webster is npower Championship Fan of the Year". The Football League. ngày 24 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013.
- ^ "Premier League Attendance 2007-08". Soccernet. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Coca-Cola Football League Championship Attendance 2008-09". itv.stats. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Coca-Cola Football League Championship Attendance 2009-10 inclusive". stats.football365.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "England historical attendance and performance". European-football-statistics.co.uk. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
- ^ Aubrey, Elizabeth (ngày 26 tháng 3 năm 2022). "George Clooney opens up about love for Derby County in new interview". NME. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
- ^ Westwood, James (ngày 27 tháng 3 năm 2022). "George Clooney admits to being Derby County fan as Championship club edge closer to new ownership". Goal. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Skinner undergoes by-pass surgery". BBC News. ngày 18 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Rams fan Niall scores X-Factor place as part of One Direction". Derby Telegraph. Northcliffe Media. ngày 13 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ Gourlay, Dom (ngày 12 tháng 5 năm 2011). ""There's no point in touring with a band if you're playing music that you hate": DiS meets Graham Co". DrownedInSound. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011.
- ^ "VIVA Interview: Garry Hayes (The Gaslight Anthem)". VIVA Lifestyle Magazine (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017. [liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ "{title}". Derbytelegraph. ngày 6 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Jack O'Connell Named As Derby County's 2014/15 Designated Charity Ambassador". DCFC Media. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Angelina Jolie: Hollywood actress now a Derby County fan after filming with Alvaston's Jack O'Connell". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
- ^ "Which club does model Cara Delevingne support?". Daily Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
- ^ a b "Club Rivalries Uncovered" (PDF). Football Fans Census. tháng 12 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Football Rivalries Report 2008". Football Fever – Rivalries. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009.
- ^ "The 30 Biggest Rivalries In English Football Based On Hatred Between The Teams". Sports Bible. ngày 12 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2021.
- ^ Hamilton, Duncan (ngày 11 tháng 1 năm 2009). "Nigel Clough: father's pride". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
- ^ a b "Derby County". You and Yesterday. ngày 8 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leeds United v Derby County: A look at the developing rivalry ahead of Sky Bet Championship clash". Sporting Life. ngày 21 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Leeds United v Derby County: How much do you know about their rivalry?". BBC Sport. ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2019.
- ^ "The top five rivals of English football's top 92 clubs revealed". Give Me Sport. ngày 27 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Men's First Team - Player Profiles". Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
- ^ "View Under-21s". Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ^ "Hall of Fame – National Football Museum". National Football Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Sport: Football Legends list in full". BBC Sport. ngày 5 tháng 8 năm 1998. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Derby County: Fans vote for their Rams player of each decade over the 50 years since the club's first Football League title". BBC Sport. ngày 15 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2022.
- ^ a b "Club directory". Derby County F.C. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Ownership and board". Derby County F.C. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Derby Manager History". Soccerbase. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- ^ a b c "Down on the farm". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008.
- ^ "Ex-Rams given academy roles". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Academy exit for cannon". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Rams confident their academy can compete with best under redrawn rules". thisisderbyshire. ngày 31 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Teams news: Bennett to make Rams history at Boro". thisisderbyshire. ngày 31 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Glick says Academy aims to be Midlands beacon". thisisderbyshire. ngày 7 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby To Compete in New U21 League". Derby County F.C. ngày 6 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012.
- ^ "Derby County awarded category one academy status". BBC Sport. ngày 26 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
- ^ "'His plan' – Derby County fans send Mel Morris message after revealing figures emerge". Derby Telegraph. ngày 30 tháng 7 năm 2020.
- ^ "'A possibility' – Mel Morris reveals ambitious Derby County vision". Derby Telegraph. ngày 8 tháng 1 năm 2020.
- ^ "The Rams in Europe". thisisderbyshire.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c d e "Derby County Club Honours, Records + Managers". Derby County FC. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ Chris Flanagan (ngày 13 tháng 11 năm 2017). "Derby County's shocking 2007/08 revisited: the Premier League's worst ever season, told by those who were there". FourFourTwo. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ "For the record: Premier League facts and figures". Premierleague.com.
- ^ Statistics taken from Rothmans Football Yearbook 2008.
- ^ "Legends unite to celebrate 125". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby County Football Club 125th Anniversary". therams.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Keeper voting is now closed". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Top keeper poll-winner Boulton thanks fans". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Webster the right choice". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Vote pairs Roy, Igor at heart of all-time top team's defence". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Nish is latest all-time XI inductee". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Eranio proves to be right choice as he is included in the all-time greats team". Derby Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Gemmill & Durban named in all-time XI". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Hinton makes all-time XI". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "Greatest XI Line-Up Complete". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby County's All-Time XI". Derby County F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Derby County Club Honours – Derby County". www.dcfc.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016.
Liên kết ngoài
- DCFC.CO.UK – trang web chính thức
- Official Derby County F.C Fan Engagement Site (lưu trữ)
- Derby County Fans Online. Lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2014 tại Wayback Machine.
- TheRams.co.uk – trang The Rams của Derby Evening Telegraph.
- BBC Sport Derby County – chuyên mục Derby County của BBC. [2].
Bản mẫu:Derby County F.C.Bản mẫu:Mùa giải Derby County F.C.Bản mẫu:Derby