Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Newcastle United F.C.”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Không có tóm lược sửa đổi
viết lại toàn bộ nội dung, dựa theo bản dịch enwiki của Newcastle United F.C.
Dòng 1: Dòng 1:
{{Short description|Câu lạc bộ bóng đá Anh}}
{{Infobox football club
{{Redirect|Newcastle United}}
{{About|đội bóng nam|đội bóng nữ|Newcastle United W.F.C.}}
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá
| clubname = Newcastle United
| clubname = Newcastle United
| image = Newcastle United FC.png
| image = Newcastle United FC.png
| image_size = 200px
| image_size = 215px
| alt = Crest of Newcastle United
| alt = Huy hiệu của Newcastle United
| fullname = Newcastle United Football Club
| fullname = Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United
| nickname = {{ubl|The Magpies|[[#Cổ động viên và kình địch|The Toon Army]]|[[Geordie]]s <br>(cổ động viên)}}
| nickname = ''The Magpies''
| founded = {{Start date and age|1881}}<br />{{small|(với tên gọi ''Stanley F.C.'')}}<br>{{Start date and age|1882}}<br />{{small|(với tên gọi ''East End F.C.'')}}<br>{{Start date and age|1892}}<br />{{small|(với tên gọi ''Newcastle United F.C.'')}}
| founded = {{start date and age|1892|12|9}}
| ground =
| ground = [[St James' Park]]
| capacity = 52.305<ref name="cap2023">{{chú thích web |url=https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2022/07/19/40085fed-1e9e-4c33-9f14-0bcf57857da2/PL_Handbook_2022-23_DIGITAL_18.07.pdf |title=Premier League Handbook 2022/23 |page=24 |date=ngày 19 tháng 7 năm 2022 |access-date =ngày 11 tháng 4 năm 2023 |archive-url=https://web.archive.org/web/20220805212133/https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2022/07/19/40085fed-1e9e-4c33-9f14-0bcf57857da2/PL_Handbook_2022-23_DIGITAL_18.07.pdf |archive-date=ngày 5 tháng 8 năm 2022 |url-status=live }}</ref>
| capacity = 52.305<ref>{{Chú thích báo |title=Premier League Handbook 2025/26 |url=https://resources.premierleague.pulselive.com/premierleague/document/2025/07/28/379e2f04-d81f-4768-ab68-e45de43b9d4d/PL_Handbook_25-26_Digital_28.07.pdf |access-date=24 tháng 7 năm 2025 |publisher=Premier League |date=24 tháng 7 năm 2025}}</ref>
| owntitle = Chủ sở hữu
| owntitle = Chủ sở hữu
| owner = {{ubl|[[Quỹ đầu tư công Ả Rập Xê Út]] (80%)|[[RB Sports & Media]] (10%)|[[PCP Capital Partners]] (10%)<ref name="owners2021">{{chú thích web |title=PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/pif-pcp-capital-partners-and-rb-sports-media-acquire-newcastle-united-football-club/ |publisher=Newcastle United F.C. |date=ngày 7 tháng 10 năm 2021|access-date =ngày 7 tháng 10 năm 2021}}</ref>}}
| owner = {{ubl|[[Public Investment Fund]] (85%)|[[RB Sports & Media]] <br>(15%)<ref name="owners2024">{{Chú thích web |title=Newcastle United announces agreement to change its ownership structure |url=https://www.newcastleunited.com/en/news/newcastle-united-announces-agreement-to-change-its-ownership-structure |publisher=Newcastle United F.C. |date=12 tháng 7 năm 2024|access-date=12 tháng 7 năm 2024}}</ref>}}
| chairman = [[Yasir Al-Rumayyan]]
| chairman = [[Yasir Al-Rumayyan]]
| mgrtitle = Huấn luyện viên
| mgrtitle = Huấn luyện viên trưởng
| manager = [[Eddie Howe]]
| manager = [[Eddie Howe]]
| league = {{English football updater|NewcastU}}
| league = [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Premier League]]
| season = {{English football updater|NewcastU2}}
| season = [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2024–25|2024–25]]
| position = {{English football updater|NewcastU3}}
| position = [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Premier League]], thứ 5 trên 20
| website = {{URL|https://newcastleunited.com}}
| current = Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2025–26
| website = https://www.nufc.co.uk/
| pattern_la1 = _newcastle2526h
| pattern_la1 = _newcastle2526h
| pattern_b1 = _newcastle2526h
| pattern_b1 = _newcastle2526h
Dòng 38: Dòng 40:
| rightarm2 = 097c49
| rightarm2 = 097c49
| shorts2 =
| shorts2 =
| socks2 = 097c49
| socks2 = 097c49
| pattern_la3 = _newcastle2526t
| pattern_la3 = _newcastle2526t
| pattern_b3 = _newcastle2526t
| pattern_b3 = _newcastle2526t
Dòng 49: Dòng 51:
| shorts3 = 00006c
| shorts3 = 00006c
| socks3 = 00006c
| socks3 = 00006c
| current = Newcastle United F.C. mùa giải 2025-26
| stadium = [[St James' Park]]
| coordinates = {{Coord|54.9756|-1.6215}}
}}
}}
'''Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United''' ({{Langx|en|Newcastle United Football Club}}) là một câu lạc bộ [[bóng đá]] chuyên nghiệp có trụ sở tại [[Newcastle upon Tyne]], Tyne and Wear, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại [[Premier League]], hạng đấu cao nhất của [[Hệ thống giải bóng đá Anh|bóng đá Anh]]. Được thành lập vào năm 1881 với tên gọi [[Newcastle East End F.C.|Stanley F.C.]], câu lạc bộ mang diện mạo hiện tại vào năm 1892 sau khi tiếp quản tài sản của đối thủ cùng địa phương đã giải thể là [[Newcastle West End F.C.|Newcastle West End]], bao gồm cả sân nhà [[St James' Park]], nơi United đã thi đấu từ đó đến nay. Nằm ở trung tâm Newcastle, St James' Park hiện có sức chứa 52.305 chỗ ngồi.<ref name="cap2023">{{Chú thích web |url=https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2022/07/19/40085fed-1e9e-4c33-9f14-0bcf57857da2/PL_Handbook_2022-23_DIGITAL_18.07.pdf |title=Premier League Handbook 2022/23 |page=24 |date=19 tháng 7 năm 2022 |access-date=11 tháng 4 năm 2023 |archive-url=https://web.archive.org/web/20220805212133/https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2022/07/19/40085fed-1e9e-4c33-9f14-0bcf57857da2/PL_Handbook_2022-23_DIGITAL_18.07.pdf |archive-date=5 tháng 8 năm 2022 |url-status=live }}</ref>
'''Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United''' là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp [[Anh]] đặt trụ sở tại [[Newcastle upon Tyne]] ở miền Đông Bắc nước [[Anh]]. Sân nhà của câu lạc bộ là [[St James' Park]] với sức chứa 52.387 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là The Magpies (''Chích Chòe''), còn cổ động viên được gọi là ''Toon Army''. Các đối thủ truyền thống của Newcastle United là 2 câu lạc bộ [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]], tạo nên trận derby Tyne-Wear và [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]], tạo nên trận derby Tyne-Tees.


Newcastle đã góp mặt tại Premier League trong tất cả trừ ba năm trong lịch sử của giải đấu này, trải qua 93 mùa giải ở hạng đấu cao nhất tính đến tháng 5 năm 2025, và chưa từng rơi xuống dưới hạng Hai của bóng đá Anh kể từ khi gia nhập [[Football League]] vào năm 1893. Newcastle đã giành 4 [[Danh sách nhà vô địch bóng đá Anh|chức vô địch quốc gia]], 6 [[Cúp FA]], 1 [[Chung kết Cúp EFL 2025|Cúp Liên đoàn]] và 1 [[FA Charity Shield]], cùng với [[Chung kết Inter-Cities Fairs Cup 1969|Inter-Cities Fairs Cup]], qua đó sở hữu tổng số danh hiệu cao thứ 9 trong số các câu lạc bộ Anh.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.caughtoffside.com/2015/03/02/englands-ten-most-successful-clubs-chelsea-still-way-behind-arsenal-liverpool-man-united-despite-capital-one-cup-win/ |title=England's Ten Most Successful Clubs: Chelsea Still Way Behind Arsenal, Liverpool & Man United Despite Capital One Cup Win |first=Mark |last=Brus |date=2 tháng 3 năm 2015|access-date=5 tháng 6 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160813180858/http://www.caughtoffside.com/2015/03/02/englands-ten-most-successful-clubs-chelsea-still-way-behind-arsenal-liverpool-man-united-despite-capital-one-cup-win/|archive-date=13 tháng 8 năm 2016|url-status=live}}</ref> Giai đoạn thành công nhất của câu lạc bộ là từ năm 1904 đến năm 1910, khi họ giành một Cúp FA và ba trong bốn chức vô địch quốc gia. Gần đây hơn, câu lạc bộ đã bốn lần về nhì ở giải vô địch quốc gia hoặc Cúp FA trong thập niên 1990.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.espn.co.uk/football/newcastle-united/story/4025514/newcastle-are-a-premier-league-club-with-huge-supportso-why-have-they-been-miserable-for-so-long |title=Newcastle are a Premier League club with huge support, so why have they been miserable for so long? |first=Mark |last=Ogden |work=ESPN |date=2 tháng 1 năm 2020 |access-date=21 tháng 10 năm 2021}}</ref> Newcastle xuống hạng vào năm 2009, và một lần nữa vào năm 2016. Câu lạc bộ đều giành quyền thăng hạng ngay trong lần đầu tiên nỗ lực trở lại, quay lại Premier League với tư cách nhà vô địch [[EFL Championship|Championship]] vào các năm 2010 và 2017. Vào tháng 10 năm 2021, một liên danh do [[Public Investment Fund]], quỹ tài sản có chủ quyền của [[Saudi Arabia]], dẫn đầu đã trở thành chủ sở hữu đa số của Newcastle United.<ref>{{Chú thích báo |date=2021-10-07 |title=Newcastle United: Saudi Arabian-backed takeover completed |url=https://www.bbc.com/sport/football/58826899 |access-date=2024-08-11 |work=BBC Sport}}</ref> Năm 2025, câu lạc bộ giành [[Cúp EFL 2024-25]], danh hiệu đầu tiên của câu lạc bộ sau gần 56 năm, đồng thời là danh hiệu quốc nội đầu tiên kể từ [[Cúp FA 1954-55|năm 1955]].
Câu lạc bộ chỉ vắng mặt ở [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|giải Ngoại hạng Anh]] trong vòng 3 mùa giải, và dành tới 88 mùa giải trong lịch sử của đội để thi đấu ở hạng đấu cao nhất. Họ cũng chưa từng phải xuống chơi ở giải đấu hạng thứ 3 của bóng đá Anh kể từ khi gia nhập Football League vào năm 1893. Đồng thời, Newcastle United cũng là câu lạc bộ thành công thứ 9 của nước Anh khi tính về tổng số lượng danh hiệu giành được, trong đó có 4 chức vô địch quốc gia và 6 chiếc [[Cúp FA]], cũng như chiếc cúp [[UEFA Intertoto Cup|Intertoto]] vào năm 2006.


Màu áo truyền thống của Newcastle là áo sọc đen-trắng, quần đùi đen và tất đen hoặc trắng. Huy hiệu của câu lạc bộ có các yếu tố từ [[huy hiệu thành phố]], trong đó xuất hiện hai [[Hippocampus (mythology)|hải mã thần thoại]] màu xám. Trước mỗi trận sân nhà, đội bóng bước ra sân trong giai điệu "[[Going Home: Theme of the Local Hero|Going Home]]".<ref name="Hero">Anthony Bateman (2008). "Sporting Sounds: Relationships Between Sport and Music". p. 186. Routledge</ref> Newcastle có mối kình địch lâu đời với [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]], đội bóng láng giềng mà họ đã tranh tài trong trận [[Tyne–Wear derby]] từ năm 1898.
== Lịch sử hình thành ==


==Lịch sử==
=== 1881–1903: Tiền thân và những năm đầu tiên ===
{{main|Lịch sử Newcastle United F.C.}}
Trận đấu bóng đá đầu tiên được ghi nhận tại vùng Tyneside được tổ chức tại Elswich Rugby Club vào ngày 3/3/1877. Sau đó chỉ một năm, câu lạc bộ bóng đá đầu tiên được thành lập, mang tên Tyneside Association. Tuy nhiên, sự thành lập của Newcastle United đến từ sự hợp nhất của hai đội bóng tiền thân là [[Newcastle West End F.C]] và [[Newcastle East End F.C]].
{{further|topic=thành tích tại giải vô địch quốc gia|Danh sách mùa giải Newcastle United F.C.}}


===1881-1903: Hình thành và lịch sử ban đầu===
Tiền thân đầu tiên của Newcastle United chính là câu lạc bộ cricket Stanley ở Byker, thành lập tháng 11 năm 1881. Đội bóng này sau đó được đổi tên thành Newcastle East End F.C vào tháng 10 năm 1882 để phân biệt với đội cricket ở Stanley, [[Durham (hạt)|hạt Durham]]. Một đội bóng địa phương khác ở Byker là Rosewood F.C cũng hợp nhất với Newcastle East End một thời gian ngắn sau đó, trước khi câu lạc bộ chuyển bản doanh từ Byker đến Heaton vào năm 1886.
[[File:Newcastle United FC League Performance.svg|thumb|Biểu đồ thể hiện thứ hạng của Newcastle United từ khi gia nhập giải đấu năm 1894 đến nay. Newcastle đã 4 lần vô địch giải quốc gia.]]


Ghi nhận đầu tiên về việc bóng đá được chơi tại [[Tyneside]] có niên đại từ ngày 3 tháng 3 năm 1877 tại [[Northern Football Club|Elswick Rugby Club]]. Cuối năm đó, câu lạc bộ bóng đá đầu tiên của Newcastle, Tyne Association, được thành lập. Nguồn gốc của chính Newcastle United Football Club có thể được truy về việc thành lập một câu lạc bộ bóng đá bởi Stanley Cricket Club ở [[Byker]] vào tháng 11 năm 1881. Đội bóng này được đổi tên thành [[Newcastle East End F.C.]] vào tháng 10 năm 1882, để tránh nhầm lẫn với câu lạc bộ cricket ở [[Stanley, County Durham]]. Rosewood F.C. của Byker sáp nhập với Newcastle East End không lâu sau đó. Năm 1886, Newcastle East End chuyển từ Byker đến Heaton. Vào tháng 8 năm 1882, [[Newcastle West End F.C.]] được thành lập từ West End Cricket Club, và đến tháng 5 năm 1886 chuyển vào [[St James' Park]].<ref name=formation>{{Chú thích web |last=Joannou |first=P. |title=The Formation of Newcastle United |url=http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0,.10278~2108980.00.html |publisher=Newcastle United F.C. |access-date=3 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110320211146/http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0%2C%2C10278~2108980%2C00.html |archive-date=20 tháng 3 năm 2011}}</ref> Hai câu lạc bộ trở thành đối thủ của nhau tại [[Northern Football League|Northern League]]. Năm 1889, Newcastle East End trở thành một đội bóng chuyên nghiệp, trước khi trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn vào tháng 3 năm sau.<ref name=history>{{Chú thích web |title=Newcastle Utd&nbsp;– The History |url=http://www.newcastleunited-mad.co.uk/feat/edz2/newcastle_utd__the_history_325295/index.shtml |website=Newcastle United Mad |date=18 tháng 2 năm 2007 |access-date=3 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110103000427/http://www.newcastleunited-mad.co.uk/feat/edz2/newcastle_utd__the_history_325295/index.shtml |archive-date=3 tháng 1 năm 2011}}</ref> Trong khi đó, Newcastle West End gặp khó khăn tài chính nghiêm trọng và đã tiếp cận East End với ý định được tiếp quản. Newcastle West End cuối cùng bị giải thể, và một số cầu thủ cùng nhân sự hậu trường của câu lạc bộ gia nhập Newcastle East End, trong khi Newcastle East End tiếp quản hợp đồng thuê St James' Park vào tháng 5 năm 1892.<ref name=formation />
Trong khi đó, Newcastle West End F.C được thành lập trên cơ sở của đội cricket West End, và đây chính là đội bóng đầu tiên chuyển đến St James' Park, sân nhà của Newcastle United hiện nay, vào tháng 5 năm 1886.


Với chỉ một câu lạc bộ cấp cao trong thành phố để người hâm mộ ủng hộ, sự phát triển của câu lạc bộ diễn ra nhanh hơn nhiều. Dù bị từ chối quyền gia nhập [[The Football League|Football League]] [[Football League First Division|First Division]] vào đầu [[Bóng đá Anh mùa giải 1892-93|mùa giải 1892-93]], câu lạc bộ được mời thi đấu ở [[Football League Second Division|Second Division]] mới thành lập. Tuy nhiên, do không có những tên tuổi lớn góp mặt ở Second Division, câu lạc bộ từ chối lời mời và tiếp tục ở lại Northern League, với lý do "tiền vé thu được sẽ không đủ bù đắp chi phí đi lại rất lớn".<ref name=formation /><ref name=history /> Trong nỗ lực thu hút thêm khán giả, Newcastle East End quyết định lấy một tên mới để ghi nhận sự hợp nhất.<ref name=formation /> Những tên được đề xuất bao gồm 1892 Newcastle, Newcastle Rangers, Newcastle City và City of Newcastle, nhưng Newcastle United đã được lựa chọn vào ngày 9 tháng 12 năm 1892, nhằm biểu trưng cho sự thống nhất của hai đội bóng.<ref name=formation /><ref>{{Chú thích báo |url=http://findarticles.com/p/articles/mi_qn4158/is_19990516/ai_n14232962 |title=Football: Only one United? Why we are united in our disgust |first=Simon |last=Turnbull |newspaper=The Independent |location=London |date=16 tháng 5 năm 1999 |archive-url=https://web.archive.org/web/20080118070423/http://findarticles.com/p/articles/mi_qn4158/is_19990516/ai_n14232962 |archive-date=18 tháng 1 năm 2008}}</ref> Việc đổi tên được Football Association chấp thuận vào ngày 22 tháng 12, nhưng câu lạc bộ chỉ chính thức được thành lập hợp pháp với tên Newcastle United Football Club Co. Ltd. vào ngày 6 tháng 9 năm 1895.<ref name=history /> Vào đầu [[Bóng đá Anh mùa giải 1893-94|mùa giải 1893-94]], Newcastle United một lần nữa bị từ chối quyền vào First Division và vì thế gia nhập Second Division, cùng với [[Liverpool F.C.|Liverpool]] và [[Woolwich Arsenal F.C.|Woolwich Arsenal]].<ref name=formation /> Trận đấu chính thức đầu tiên của đội tại hạng đấu này diễn ra vào tháng 9 năm đó trước Woolwich Arsenal, với tỉ số hòa 2-2.<ref name=history />
Vào thời điểm đó, cả hai câu lạc bộ mang tên Newcastle đều thi đấu tại [[Northern League]], và là những đối trọng của nhau. Năm 1889, đội East End tiến lên chuyên nghiệp và thành lập cho mình một công ty vào tháng 3 năm 1890. Ngược lại, về phía West End, đội bóng này gặp phải khó khăn tài chính lớn, và đã phải đề nghị với kình địch East End về một vụ sáp nhập. Kết quả là West End sau đó phải giải tán, và một số thành viên cũ của đội bóng, bao gồm cầu thủ và các thành viên ban huấn luyện, đã chuyển sang đầu quân cho East End, và đội bóng này cũng chính thức tiếp quản sân bóng St James' Park. Hai đội bóng mang tên Newcastle chính thức sáp nhập làm một vào tháng 5 năm 1892.


Lượng khán giả qua cổng xoay vẫn thấp, và câu lạc bộ đã ra tuyên bố rằng: "Công chúng Newcastle không xứng đáng được phục vụ nếu xét trên phương diện bóng đá chuyên nghiệp". Tuy nhiên, đến [[Bóng đá Anh mùa giải 1895-96|mùa giải 1895-96]], các con số cuối cùng đã tăng lên, khi 14.000 người hâm mộ đến xem đội bóng thi đấu với [[Bury F.C.|Bury]]. Mùa giải đó, [[Frank Watt ((huấn luyện viên bóng đá))|Frank Watt]] trở thành thư kí của câu lạc bộ, và ông đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đội thăng hạng lên First Division cho [[Bóng đá Anh mùa giải 1898-99|mùa giải 1898-99]]. Tuy nhiên, họ thua trận đầu tiên với tỉ số 2-4 trên sân nhà trước [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderers]] và kết thúc mùa giải đầu tiên ở vị trí thứ 13.<ref name=history />
Sau khi hai câu lạc bộ trong vùng hợp nhất, sự quan tâm dành cho bóng đá tại Newcastle gia tăng đáng kể. Đội bóng bị từ chối khi xin tham dự hạng đấu cao nhất của [[English Football League|The Football League]] vào mùa 1892-1893, nhưng sau đó, được mời tham dự giải đấu hạng hai. Tuy nhiên, vì không có nhiều tên tuổi lớn tham dự giải đấu này vào thời điểm đó, Newcastle United từ chối lời mời của Football League và ở lại tham dự giải Northern League. Để gia tăng mức độ ảnh hưởng và danh tiếng của đội, Newcastle East End đã nghĩ đến việc thay đổi tên gọi của đội bóng. Một số những đề xuất như Newcastle F.C, Newcastle Rangers, Newcastle City và City of Newcastle dã được đưa ra, nhưng cuối cùng, cái tên Newcastle United đã được chọn vào ngày 9/12/1892. Cái tên này sau đó được Football League chấp thuận vào ngày 22/12 cùng năm. Đây cũng là dấu mốc đánh dấu sự thành lập chính thức của câu lạc bộ Newcastle United. Đội bóng sau đó tiến lên chuyên nghiệp và thành lập công ty Newcastle United Football Club Co. Ltd. vào ngày 6/9/1895.


===1903-1937: Những năm tháng vinh quang đầu tiên và thời kì chiến tranh===
Sau khi bị từ chối ở mùa giải 1892-1893, Newcastle United tiếp tục nỗ lực xin tham dự giải đấu hạng nhất vào mùa sau. Lần này, nỗ lực vẫn tiếp tục thất bại, tuy nhiên, đội bóng đã đồng ý tham gia giải đấu hạng hai, cùng thời điểm với hai đội khác là [[Liverpool F.C.|Liverpool]] và [[Arsenal F.C.|Woolwick Arsenal]]. Trận đấu chính thức đầu tiên của Newcastle United tại giải hạng hai đã diễn ra vào tháng 9 năm 1893, khi họ có tỉ số hòa 2-2 trước Woolwick Arsenal. Vào những mùa giải đầu tiên, vẫn chưa có quá nhiều khán giả đến theo dõi Newcastle United thi đấu, tuy nhiên, tình hình đã được cải thiện vào mùa 1895-1896, khi đã có 14.000 khán giả dự khán trận đấu giữa họ với [[Bury F.C]]. Cũng trong mùa giải này, Frank Watt trở thành thư ký của đội bóng, và đã đóng vai trò then chốt đưa câu lạc bộ thăng hạng lên giải hạng nhất vào mùa 1898-1899. Tuy nhiên, Newcastle United đã nhận thất bại 2-4 trên sân nhà trước [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderer]] trong trận đầu tiên ở giải hạng nhất và kết thúc mùa giải năm đó ở vị trí thứ 13.
[[File:FACupFinal1905NewcastleVilla.jpg|thumb|right|Harry Hampton của Aston Villa ghi một trong hai bàn thắng của ông trong [[Chung kết Cúp FA 1905]].]]


Trong [[Bóng đá Anh mùa giải 1903-04|mùa giải 1903-04]], câu lạc bộ xây dựng được một đội hình đầy triển vọng, và sau đó thống trị bóng đá Anh trong gần một thập kỉ, với lối chơi nổi tiếng là "giàu tính nghệ thuật, kết hợp giữa tinh thần đồng đội và những đường chuyền ngắn, nhanh". Rất lâu sau khi giải nghệ, [[Peter McWilliam]], [[Hậu vệ (bóng đá)|hậu vệ]] của đội khi đó, đã nói: "Đội Newcastle của thập niên 1900 sẽ chấp bất kì đội hiện đại nào hai bàn rồi vẫn đánh bại họ, hơn nữa còn thắng một cách dễ dàng". Newcastle United sau đó giành chức vô địch quốc gia ba lần trong thập niên 1900; [[Football League 1904-05|1904-05]], [[Football League 1906-07|1906-07]] và [[Football League 1908-09|1908-09]].<ref name=history /><ref>{{Chú thích báo |title=Newcastle United, "Newcastle United Trophy cabinet which has been empty for many a year." |url=http://www.skysports.com/football/venue/0.19753.11065_59.00.html |website=Sky Sports |access-date=18 tháng 1 năm 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20071024143134/http://www.skysports.com/football/venue/0%2C19753%2C11065_59%2C00.html |archive-date=24 tháng 10 năm 2007}}</ref> Ở mùa giải 1904-05, họ suýt hoàn tất cú đúp, nhưng để thua [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] trong [[Chung kết Cúp FA 1905]]. Họ tiếp tục thất bại ở trận chung kết năm sau trước [[Everton F.C.|Everton]] trong [[Chung kết Cúp FA 1906]]. Đội lại vào chung kết năm 1908 nhưng thua Wolverhampton Wanderers. Cuối cùng, họ giành Cúp FA vào năm 1910 khi đánh bại [[Barnsley F.C.|Barnsley]] trong [[Chung kết Cúp FA 1910|trận chung kết]]. Họ lại thất bại vào năm sau ở [[Chung kết Cúp FA 1911|trận chung kết]] trước [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]].<ref name=history />
=== 1903–1937: Những thành công đầu tiên và thời chiến ===
Kể từ mùa giải 1903–04, Newcastle United đã xây dựng cho mình một đội hình gồm toàn những hảo thủ, mà sau đó đã thống trị giải hạng nhất Anh trong vòng khoảng một thập niên, một đội hình được miêu tả với những mĩ từ như "lối chơi đầy nghệ thuật, sự pha trộn giữa tính đồng đội và lối chơi nhanh, bóng ngắn". [[Peter McWilliams]], một hậu vệ trong đội hình thuở ấy của Newcastle United sau này kể lại: "Đội hình Newcastle thập niên 1900 đủ khả năng khiến bất cứ một đội bóng hiện đại nào nhận hai bàn thua chóng vánh và đánh bại họ, thậm chí nghiền nát đối phương". Đội hình đó đã đem về cho Newcastle ba chức vô địch quốc gia vào các mùa 1904-1905, 1906-1907 và 1908-1909. Thậm chí, họ còn suýt lập cú đúp quốc nội, nhưng đã bị đánh bại trong trận chung kết [[cúp FA]] bởi [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] năm 1905. Họ cũng đã thêm ba lần thất bại trong trận chung kết cúp FA vào các năm 1906 trước [[Everton F.C.|Everton]], năm 1908 trước [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderer]] và năm 1911 trước [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]]. Tuy vậy, họ đã thành công nâng cao chiếc cúp này vào năm 1910 bằng việc đánh bại [[Barnsley F.C.|Barnsley]].


Sau giai đoạn vàng son đó, mãi đến năm 1924, Newcastle mới một lần nữa vào đến chung kết cúp FA. Đây cũng năm đánh dấu chiếc cúp FA thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ, khi bại tướng của họ Aston Villa. [[Hughie Gallacher]], một trong những thủ quân chân sút huyền thoại của đội bóng, đã dẫn dắt toàn đội đến với danh hiệu địch quốc gia lần thứ , cũng lần gần nhất cho đến tận ngày nay, vào năm 1927. Thời điểm đó, đội còn sở hữu các ngôi sao như [[Neil Harris]], [[Stan Seymour]] và [[Frank Hudspeth]]. Đội bóng bắt đầu thoái trào vào cuối thập niên 1920, đầu 1930 khi vào cuối mùa 1929-1930, Newcastle đã ngấp nghé bờ vực xuống hạng và thủ quân Hughie Gallacher cũng rời câu lạc bộ để đầu quân cho [[Chelsea F.C.|Chelsea]]. Đó cũng là thời điểm [[Andy Cunningham]] trở thành huấn luyện viên trưởng của đội. Thành công cuối cùng trong giai đoạn này đến vào mùa 1931-1932, khi Newcastle United giành được chiếc [[cúp FA]] thứ ba trong lịch sử đội bóng. Cuối mùa 1933-1934, câu lạc bộ đã phải xuống chơi ở giải hạng hai, sau 35 năm chơi ở hạng đấu cao nhất, đồng thời [[Tom Mather]] thay thế Andy Cunningham trở thành thuyền trưởng mới của đội.
Đội bóng trở lại [[Chung kết Cúp FA 1924|chung kết Cúp FA năm 1924]], trận chung kết thứ hai được tổ chức tại [[Wembley Stadium (1923)|Sân vận động Wembley]] khi đó còn mới. Họ đánh bại Aston Villa, qua đó giành Cúp FA thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ.<ref name=history /> Ba năm sau, họ giành chức địch First Division lần thứ [[Football League 1926-27|mùa giải 1926-27]], với [[Hughie Gallacher]], một trong những chân sút hiệu quả nhất trong lịch sử câu lạc bộ, giữ băng đội trưởng. Những cầu thủ chủ chốt khác trong giai đoạn này gồm [[Neil Harris (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1894)|Neil Harris]], [[Stan Seymour]] và [[Frank Hudspeth]]. Năm 1930, Newcastle United tiến rất gần đến việc xuống hạng, vào cuối mùa giải, Gallacher rời câu lạc bộ để gia nhập [[Chelsea F.C.|Chelsea]], đồng thời [[Andy Cunningham (cầu thủ bóng đá)|Andy Cunningham]] trở thành huấn luyện viên đội một đầu tiên của câu lạc bộ. Trong [[Football League 1931-32|mùa giải 1931-32]], câu lạc bộ giành [[Chung kết Cúp FA 1932|Cúp FA]] lần thứ ba. Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, vào cuối [[Football League 1933-34|mùa giải 1933-34]], đội bóng bị xuống hạng Second Division sau 35 mùa giải ở hạng đấu cao nhất. Cunningham rời cương vị huấn luyện viên và [[Tom Mather]] tiếp quản.<ref name=history />


=== 1937–1969: Thành công thời hậu chiến ===
===1937-1969: Thành công thời hậu chiến===
[[File:Newcastle United F.C. 1960.jpg|thumb|265px|Newcastle United năm 1960. Từ trái sang phải, hàng đứng: [[Jimmy Scoular]], [[Dick Keith]], Bryan Harvey ([[Thủ môn (bóng đá)|thủ môn]]), [[Bob Stokoe]], [[Alf McMichael]] và [[George Eastham]]; hàng trước: Terry Marshall, [[Ivor Allchurch]], [[Len White]], [[John McGuigan]] và [[Liam Tuohy (cầu thủ bóng đá)|Liam Tuohy]].]]
Sau khi rớt hạng, Newcastle đã thi đấu rất chật vật, thậm chí suýt phải rơi xuống giải hạng ba, khi họ chỉ trụ hạng bằng hơn hiệu số bàn thắng vào cuối mùa 1937-1938. [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] bùng nổ năm 1939, và câu lạc bộ đã cải tổ lực lượng trong giai đoạn này, khi đem về những cái tên như [[Jakie Milburn]], [[Tommy Walker]] và [[Bobby Cowell]], giúp họ trở lại hạng đấu cao nhất vào cuối mùa 1947-1948. Trong thập niên 1950, Newcastle gặt hái khá nhiều thành công, khi chỉ trong 5 năm, họ giành tới 3 chiếc [[cúp FA]], vào các năm 1951 (trước [[Blackpool F.C.|Blackpool]]), 1952 (trước [[Arsenal F.C.|Arsenal]]) và 1955 (trước [[Manchester City F.C.|Manchester City]]). Giai đoạn thành công ngắn ngủi nhanh chóng kết thúc, khi họ tiếp tục xuống hạng cuối mùa 1960-1961 dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên [[Charlie Mitten]]. Mitten dẫn dắt Newcastle thêm một mùa ở giải hạng hai, trước khi đội được tiếp quản bởi một cựu cầu thủ, [[Joe Harvey]]. Harvey dẫn dắt đội bóng đến chức vô địch giải hạng hai cuối mùa 1964-1965 và giành quyền quay trở lại giải hạng nhất. Ông cũng đưa Newcastle lần đầu tiên bước ra đấu trường châu Âu vào cuối mùa 1967-1968 và thậm chí vô địch cúp [[Inter-Cities Fairs Cup|Inter-Cities Fairs]] năm 1969 khi đánh bại đại diện Hungary, [[Újpest F.C|Újpest]] với tỉ số đậm đà 6-2.


Câu lạc bộ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với Second Division và suýt phải xuống hạng thêm ở [[Football League 1937-38|mùa giải 1937-38]], khi chỉ được cứu nhờ hiệu số bàn thắng bại. Tuy nhiên, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939, Newcastle có cơ hội tái tổ chức, và trong thời chiến họ đã đưa về [[Jackie Milburn]], [[Tommy Walker (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1923)|Tommy Walker]] và [[Bobby Cowell]]. Cuối cùng, họ giành quyền trở lại First Division vào cuối [[Football League 1947-48|mùa giải 1947-48]].<ref name=history /> Trong thập niên 1950, Newcastle giành [[Cúp FA]] 3 lần trong vòng 5 năm, đánh bại [[Blackpool F.C.|Blackpool]] năm 1951, [[Arsenal F.C.|Arsenal]] năm 1952 và [[Manchester City F.C.|Manchester City]] năm 1955. Tuy nhiên, sau chiến thắng Cúp FA gần nhất đó, câu lạc bộ lại rơi vào thời kì sa sút và bị xuống Second Division một lần nữa vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1960-61|mùa giải 1960-61]] dưới sự dẫn dắt của [[Charlie Mitten]]. Mitten rời đi sau một mùa giải ở Second Division và được thay thế bởi cựu cầu thủ [[Joe Harvey (cầu thủ bóng đá)|Joe Harvey]]. Newcastle trở lại First Division vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1964-65|mùa giải 1964-65]] sau khi vô địch Second Division.<ref name=history /> Dưới thời Harvey, câu lạc bộ lần đầu tiên giành quyền tham dự cúp châu Âu sau một hành trình ấn tượng ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1967-68|mùa giải 1967-68]], và vào năm sau đã giành [[Chung kết Inter-Cities Fairs Cup 1969|Inter-Cities Fairs Cup]], thắng tổng tỉ số 6-2 sau hai lượt trận trước [[Újpest FC|Újpest]] của Hungary trong trận chung kết.<ref name=history />
=== 1969–1992: Lên và xuống hạng ===
Huấn luyện viên [[Joe Harvey]] thực hiện vụ chuyển nhượng tiền đạo [[Malcolm Macdonald]] vào mùa hè năm 1971, với mức giá kỷ lục của câu lạc bộ lúc bấy giờ là 180.000 bảng Anh. Macdonald là chân sút cự phách, đã dẫn dắt hàng công của Newcastle vào tới trận chung kết cúp FA năm 1974, nơi mà họ chịu thất bại trước [[Liverpool F.C.|Liverpool]]. Đồng thời, đội bóng cũng giành hai chức vô địch liên tiếp tại đấu trường [[Texaco Cup]] vào các năm 1974 và 1975. Harvey rời đội năm 1975, và [[Gordon Lee]] là người thay thế. Lee cùng Newcastle vào trận chung kết [[Cúp liên đoàn Anh]] vào năm 1976 đối đầu với [[Manchester City F.C.|Manchester City]], nhưng đã không thể đưa chiếc cúp này về Tyneside. Tuy nhiên, chân sút chủ lực Malcolm Macdonald đã bị Gordon Lee bán cho [[Arsenal F.C.|Arsenal]] vào cuối mùa giải đó. Sau này, tiền đạo người Anh đã chia sẻ: "Tôi từng yêu Newcastle, cho đến khi Gorden Lee đến". Sau cùng, Lee cũng rời Newcastle vào năm 1977 để đến Everton, và [[Richard Dinnis]] là huấn luyện viên mới của đội bóng.


===1969-1992: Liên tục lên xuống giữa các hạng đấu===
Nhiệm kỳ của Dinnis là một thảm họa, khi để Newcastle rơi xuống giải hạng hai vào cuối mùa 1977-1978. Hai đời huấn luyện viên liên tiếp tiếp quản câu lạc bộ: [[Bill McGarry]] và Arthur Cox, cho đến khi Cox đưa Newcastle trở lại giải hạng nhất cuối mùa giải 1983-1984. Lúc này, đội bóng sở hữu những ngôi sao, như [[Peter Beardsley]], [[Chris Waddle]] và cựu đội trưởng tuyển Anh [[Kevin Keegan]]. Thời gian tiếp theo cũng không quá suôn sẻ với Newcastle, khi Cox rời đội chuyển sang dẫn dắt [[Derby County F.C.|Derby County]], và Kevin Keegan giải nghệ. Đội bóng cũng có thể trụ lại giải hạng nhất trong hầu hết thập niên 80 với những huấn luyện viên [[Jack Charlton]] và sau đó là [[Willie McFaul]], cho đến khi những trụ cột như Waddle, Beardsley và [[Paul Gascoigne]] bị bán đi. Cuối cùng, Newcastle lại rớt hạng một lần nữa năm 1989. McFaul bị sa thải, rồi bị thay thế bởi [[Jim Smith]] cho đến đầu mùa 1991-1992, [[Osvaldo Ardiles]] trở thành tân thuyền trưởng.
Harvey chiêu mộ tiền đạo [[Malcolm Macdonald]] vào mùa hè năm 1971 với mức [[transfer fee]] kỉ lục của câu lạc bộ là 180.000 bảng Anh (tương đương 2.265.000 bảng vào năm 2021).<ref name=history /><ref>{{Chú thích web |url=http://www.supermac.co.uk/playing-style/malcolm-macdonald-his-playing-style/ |title=Malcolm Macdonald: His Playing Style |website=Super Mac |date=4 tháng 5 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100827095225/http://www.supermac.co.uk/playing-style/malcolm-macdonald-his-playing-style/ |archive-date=27 tháng 8 năm 2010}}</ref> Ông là một tay săn bàn ấn tượng, người đã dẫn dắt hàng công của United tới Wembley trong thất bại ở [[Chung kết Cúp FA 1974]] trước Liverpool.<ref name=history /> Câu lạc bộ cũng giành chiến thắng liên tiếp ở [[Texaco Cup]] vào các năm [[Football League 1973-74|1974]] và [[Football League 1974-75|1975]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.statto.com/football/stats/england/texaco-cup/honours |title=English Texaco Cup : Honours |publisher=Statto Organisation |access-date = 10 tháng 4 năm 2011 |archive-url = https://web.archive.org/web/20120519154138/http://www.statto.com/football/stats/england/texaco-cup/honours |archive-date = 19 tháng 5 năm 2012 |url-status=live |df=dmy-all}}</ref> Harvey rời câu lạc bộ năm 1975, và [[Gordon Lee (cầu thủ bóng đá)|Gordon Lee]] được đưa về thay thế. Lee dẫn dắt đội vào [[1976 Football League Cup Final]] gặp Manchester City, nhưng không thể mang chiếc cúp trở lại Tyneside. Tuy nhiên, ông đã bán Macdonald cho Arsenal vào cuối mùa giải, một quyết định mà sau này Macdonald nói rằng "Tôi yêu Newcastle, cho đến khi Gordon Lee tiếp quản". Lee rời đi để sang Everton vào năm 1977, và được thay thế bởi [[Richard Dinnis]].<ref name=history />


United một lần nữa rơi xuống Second Division vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1977-78|mùa giải 1977-78]]. Dinnis được thay bằng [[Bill McGarry]], rồi sau đó McGarry lại được thay bằng [[Arthur Cox (cầu thủ bóng đá)|Arthur Cox]]. Cox đưa Newcastle trở lại First Division vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1983-84|mùa giải 1983-84]], với những cầu thủ như [[Peter Beardsley]], [[Chris Waddle]] và cựu đội trưởng [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh|đội tuyển Anh]] [[Kevin Keegan]] là trụ cột của đội hình. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí, Cox rời sang [[Derby County F.C.|Derby County]] còn Keegan giải nghệ. Dưới thời các huấn luyện viên như [[Jack Charlton]] rồi [[Willie McFaul]], Newcastle vẫn trụ lại ở hạng đấu cao nhất, cho đến khi những cầu thủ chủ chốt như Waddle, Beardsley và [[Paul Gascoigne]] bị bán đi, và đội bóng lại xuống hạng ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1988-89|mùa giải 1988-89]]. McFaul rời ghế huấn luyện viên, và được thay thế bởi [[Jim Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1940)|Jim Smith]]. Smith rời đi ở đầu [[Bóng đá Anh mùa giải 1991-92|mùa giải 1991-92]] và ban lãnh đạo bổ nhiệm [[Osvaldo Ardiles]] làm người thay thế.<ref name=history />
[[Sir John Hall]] trở thành chủ tịch đội bóng vào năm 1992, bổ nhiệm Keegan vào sa bàn thay cho Ardiles, và Keegan đã giúp Newcastle trụ lại giải hạng hai. Ông cũng được cung cấp ngân quỹ để chiêu mộ những cầu thủ chất lượng, như Rob Lee, [[Paul Bracewell]] và [[Barry Venison]], những người đã giúp Newcastle vô địch giải hạng nhất cuối mùa 1992-1993 và thăng hạng lên giải đấu mới thành lập [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Premier League]].


[[John Hall (doanh nhân người Anh)|John Hall]] trở thành chủ tịch câu lạc bộ vào năm 1992, và thay Ardiles bằng Keegan, người đã giúp đội thoát khỏi nguy cơ xuống Third Division. Keegan được cấp thêm tiền để mua cầu thủ, chiêu mộ [[Rob Lee]], [[Paul Bracewell]] và [[Barry Venison]]. Câu lạc bộ giành chức vô địch [[Football League First Division|First Division]] vào cuối [[Newcastle United F.C. mùa giải 1992-93|mùa giải 1992-93]], qua đó thăng hạng [[Premier League]].<ref>{{Chú thích báo |last1=Morton |first1=David |title=When newly-promoted Newcastle United paraded in an open-top bus in 1993 |url=https://www.chroniclelive.co.uk/news/history/newly-promoted-newcastle-united-paraded-12951709 |access-date=25 tháng 7 năm 2023 |work=Evening Chronicle |date=27 tháng 4 năm 2017}}</ref>
=== 1993–2007: Premier League ===
Vào cuối năm đầu tiên của họ, mùa giải 1993–94, khi trở lại giải đấu hàng đầu, họ đã về đích ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của họ kể từ năm 1927.  Triết lý tấn công của Keegan đã khiến đội được gọi là "The Entertainers" bởi [[Sky Sports]].


===1993-2007: Bước vào Premier League===
Keegan đã đưa Newcastle đến hai lần liên tiếp về nhì trong giải đấu vào các năm 1995–96 và 1996–97, tiến rất gần đến chức vô địch ở mùa giải trước, bao gồm trận thua 4–3 trước Liverpool tại Anfield – thường được coi là trận đấu hay nhất trong lịch sử Premier League – đã kết thúc với một hình ảnh xác định của Premier League với việc Keegan sa sút vì tích trữ quảng cáo.  Thành công của đội một phần nhờ vào tài năng tấn công của những cầu thủ như David Ginola, Les Ferdinand và Alan Shearer, những người được ký hợp đồng vào ngày 30 tháng 7 năm 1996 với mức phí kỷ lục thế giới lúc bấy giờ là 15 triệu bảng.
[[File:Kevin Keegan 2.jpg|thumb|upright|[[Kevin Keegan]] (trong ảnh ở nhiệm kì thứ hai của ông vào năm 2008) đã đưa Newcastle thăng hạng và giành suất dự Champions League từ năm 1992 đến năm 1997, biến United thành một trong những câu lạc bộ lớn nhất nước Anh dù không giành được chức vô địch quốc gia.]]


Vào cuối năm đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, [[Newcastle United F.C. mùa giải 1993-94|mùa giải 1993-94]], họ kết thúc ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia kể từ năm 1927.<ref name=history /> Triết lí tấn công của Keegan khiến đội bóng được [[Sky Sports]] gắn cho biệt danh "The Entertainers".<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/sport/blog/2010/feb/05/joy-of-six-neutrals-sporting-favourites |title=The Joy of Six: Neutrals' favourites |author=Scott Murray, Barney Ronay and Andy Bull |date=5 tháng 2 năm 2010 |newspaper=The Guardian |location=London |access-date=11 tháng 4 năm 2011 |archive-url= https://web.archive.org/web/20140108083103/http://www.theguardian.com/sport/blog/2010/feb/05/joy-of-six-neutrals-sporting-favourites |archive-date=8 tháng 1 năm 2014 |url-status=live}}</ref>
Keegan rời Newcastle vào tháng 1 năm 1997 và được thay thế bởi [[Kenny Dalglish]], tuy nhiên câu lạc bộ đã trải qua một mùa giải không thành công với vị trí thứ 13 tại FA Premier League 1997–98, không thể vượt qua vòng bảng của Giải vô địch UEFA 1997–98 League mặc dù đã đánh bại Barcelona và đội đầu bảng Dynamo Kyiv tại St James' Park cũng như bị dẫn trước 2–0 để hòa 2–2 với đội của Valery Lobanovsky tại Ukraine và thất bại trong trận Chung kết Cúp FA 1998. Dalglish được thay thế vị trí huấn luyện viên vào đầu mùa giải tiếp theo bởi [[Ruud Gullit]]. Câu lạc bộ một lần nữa đứng thứ 13 trong giải đấu và thua trận Chung kết Cúp FA 1999. Gullit bất đồng với đội và chủ tịch Freddy Shepherd, và rời câu lạc bộ bốn trận trong mùa giải 1999–2000 với đội cuối bảng được thay thế bởi Bobby Robson.


Keegan đã đưa Newcastle đến hai lần liên tiếp về nhì tại giải vô địch quốc gia ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1995-96|mùa giải 1995-96]] và [[Bóng đá Anh mùa giải 1996-97|mùa giải 1996-97]], tiến rất gần đến chức vô địch ở mùa giải đầu tiên trong số đó, mùa giải có trận [[Liverpool F.C. 4-3 Newcastle United F.C. (1996)|Liverpool thắng Newcastle 4-3 tại Anfield]] – thường được xem là trận đấu vĩ đại nhất trong lịch sử Premier League – khép lại bằng hình ảnh mang tính biểu tượng của Premier League khi Keegan gục người lên tấm bảng quảng cáo.<ref>{{Chú thích báo |title=Premier League at 25: the best match – Liverpool 4-3 Newcastle, tháng 4 năm 1996 |url=https://www.theguardian.com/football/2017/jul/25/premier-league-best-match-liverpool-newcastle-april-1996 |newspaper=The Guardian |location=London |date=25 tháng 7 năm 2017 |access-date=26 tháng 12 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20191226023005/https://www.theguardian.com/football/2017/jul/25/premier-league-best-match-liverpool-newcastle-april-1996 |archive-date=26 tháng 12 năm 2019 |url-status=live}}</ref> Thành công của đội bóng một phần đến từ tài năng tấn công của những cầu thủ như [[David Ginola]], [[Les Ferdinand]] và [[Alan Shearer]], người được chiêu mộ vào ngày 30 tháng 7 năm 1996 với mức phí [[List of most expensive association football transfers|kỉ lục thế giới]] khi đó là 15 triệu bảng Anh.<ref>{{Chú thích báo |url=http://www.iht.com/articles/1996/07/30/soccer.t_3.php |title=Newcastle United Pays Record $23 Million for Shearer |first=Rob |last=Hughes |access-date=21 tháng 7 năm 2008 |newspaper=International Herald Tribune |date=30 tháng 7 năm 1996 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110927115014/http://www.iht.com/articles/1996/07/30/soccer.t_3.php |archive-date=27 tháng 9 năm 2011}}</ref><ref>{{Chú thích báo |url=https://www.telegraph.co.uk/htmlContent.jhtml?html=/archive/1996/07/30/nshear30.html |title=Shearer is going home for £15m |first=Colin |last=Randall |access-date=21 tháng 7 năm 2008 |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |date=30 tháng 7 năm 1996 |archive-url=https://web.archive.org/web/20050312181351/http://www.telegraph.co.uk/htmlContent.jhtml?html=%2Farchive%2F1996%2F07%2F30%2Fnshear30.html |archive-date=12 tháng 3 năm 2005}}</ref>
Một thách thức về danh hiệu đã xuất hiện trong mùa giải 2001–02, và vị trí thứ tư của Newcastle đã giúp họ đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League. Mùa giải tiếp theo, Robson hướng dẫn đội đến một thử thách danh hiệu khác và đứng thứ ba tại Liên đoàn, và thứ hai ở vòng bảng Champions League,  sau khi là đội đầu tiên vượt qua vòng bảng đầu tiên sau khi thua ba trận đầu tiên. Trò chơi.  Newcastle đứng thứ 5 trong giải đấu vào cuối mùa giải 2003–04 và bị loại khỏi Champions League ở vòng loại, nhưng bất chấp điều này, Robson đã bị sa thải vào tháng 8 năm 2004 sau một loạt bất đồng với câu lạc bộ.


Keegan rời Newcastle vào tháng 1 năm 1997 và được thay thế bởi [[Kenny Dalglish]], tuy nhiên câu lạc bộ trải qua một mùa giải phần lớn không thành công với vị trí thứ 13 tại [[FA Premier League 1997-98]], không thể vượt qua vòng bảng của [[1997-98 UEFA Champions League]] dù đánh bại [[FC Barcelona|Barcelona]] và đội đầu bảng [[FC Dynamo Kyiv|Dynamo Kyiv]] trên sân nhà, đồng thời gỡ hòa 2-2 sau khi bị dẫn 0-2 trước đội bóng của [[Valeriy Lobanovskyi]] tại Ukraina, và thất bại ở [[Chung kết Cúp FA 1998]]. Dalglish bị thay thế ở đầu mùa giải kế tiếp bởi [[Ruud Gullit]].<ref name=BBC285>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/2/hi/sport/football/159285.stm |title=Gullit named Newcastle boss |date=27 August 1998 |website=BBC Sport |access-date = 11 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223547/http://news.bbc.co.uk/1/hi/sport/football/159285.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref><ref name=modern_era>{{Chú thích web |url=http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0,.10278~2108993.00.html |title=The Modern Era at Newcastle United: 1980-2000 |first=P |last=Joannou |publisher=Newcastle United F.C. |access-date = 11 tháng 4 năm 2011 |archive-url = https://web.archive.org/web/20101205001850/http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0,.10278~2108993.00.html |archive-date = 5 tháng 12 năm 2010 |df=dmy-all}}</ref> Câu lạc bộ một lần nữa kết thúc ở vị trí thứ 13 tại giải vô địch quốc gia và để thua trong [[Chung kết Cúp FA 1999]]. Gullit xảy ra bất đồng với đội hình và chủ tịch [[Freddy Shepherd]], rồi rời câu lạc bộ sau năm trận của [[Newcastle United F.C. mùa giải 1999-2000|mùa giải 1999-2000]] khi đội đang đứng cuối bảng, để được thay bằng [[Bobby Robson]].<ref name=modern_era /><ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/2/hi/sport/football/436390.stm |title=Robson takes Newcastle hotseat |date=3 tháng 9 năm 1999 |website=BBC Sport |access-date = 11 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223549/http://news.bbc.co.uk/1/hi/sport/football/436390.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref> Năm 1999, Newcastle là [[Deloitte Football Money League|câu lạc bộ tạo ra doanh thu cao thứ năm thế giới]]; đứng thứ hai tại Anh sau [[Manchester United F.C.|Manchester United]].<ref name =Del1999>{{Chú thích báo | title = Man Utd 'Richest club in the world' | quote = The next British side on the list, at fifth, is Newcastle United... |website=BBC News | date = 1 tháng 12 năm 1999 | url = https://news.bbc.co.uk/1/hi/sport/football/543805.stm | access-date = 11 tháng 9 năm 2013 | archive-url = https://web.archive.org/web/20080213120653/http://news.bbc.co.uk/1/hi/sport/football/543805.stm | archive-date = 13 tháng 2 năm 2008 | url-status = live }}</ref>
Graeme Souness được đưa về quản lý vào đầu mùa giải 2004–05. Trong thời gian cầm quân, ông đã phá kỷ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ khi ký hợp đồng với [[Michael Owen]] với giá 16,8 triệu bảng. Souness cũng đưa Newcastle vào tứ kết UEFA Cup 2004–05 với Alan Shearer cũng giành được chiếc giày vàng của giải đấu.  Tuy nhiên, anh ấy đã bị sa thải vào tháng 2 năm 2006 sau một khởi đầu tồi tệ trong mùa giải 2005–06 của câu lạc bộ.  Glenn Roeder tiếp quản, ban đầu là tạm thời, trước khi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức vào cuối mùa giải. Shearer giải nghệ vào cuối mùa giải 2005–06 với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, với 206 bàn thắng.


[[File:Bobby Robson Cropped.jpg|thumb|left|upright|[[Bobby Robson]] dẫn dắt câu lạc bộ trong năm năm, trước khi rời đi vào năm 2004.]]
Mặc dù kết thúc mùa giải 2005–06 ở vị trí thứ bảy, nhưng vận may của Roeder đã thay đổi trong mùa giải 2006–07, với một chấn thương nặng xảy ra với đội cấp cao, và anh ấy rời câu lạc bộ theo sự đồng ý của cả hai vào ngày 6 tháng 5 năm 2007.  Sau mùa giải 2006–07, và trong kỷ nguyên Premier League, Newcastle United hiện là câu lạc bộ Premiership thành công thứ năm về số điểm kiếm được.


Một cuộc đua vô địch xuất hiện trong [[Newcastle United F.C. mùa giải 2001-02|mùa giải 2001-02]], và vị trí thứ tư của Newcastle giúp họ giành quyền dự [[UEFA Champions League]]. Ở mùa giải tiếp theo, Robson đưa đội bóng bước vào một cuộc đua vô địch khác và kết thúc ở vị trí thứ ba tại giải vô địch quốc gia, đồng thời lọt vào vòng bảng thứ hai của Champions League,<ref name=robson_home>{{Chú thích web |url=http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0,.10278~2109011.00.html |title=Robson Comes Home |first=P |last=Joannou |publisher=Newcastle United F.C. |access-date = 11 tháng 4 năm 2011 |archive-url = https://web.archive.org/web/20130219052615/http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubHistory/0%2C%2C10278~2109011%2C00.html |archive-date = 19 tháng 2 năm 2013 |df=dmy-all}}</ref> sau khi trở thành đội đầu tiên vượt qua vòng bảng đầu tiên dù đã thua cả ba trận mở màn.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.footiecentral.com/portrait-of-an-iconic-manager-sir-bobby-robson/ |title=Portrait of an iconic manager – Sir Bobby Robson |last=Manazir |first=Wasi |date=1 tháng 6 năm 2016 |website=Footie Central &#124; Football Blog |access-date=20 tháng 2 năm 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200128230242/https://www.footiecentral.com/portrait-of-an-iconic-manager-sir-bobby-robson/ |archive-date=28 tháng 1 năm 2020}}</ref> Newcastle kết thúc ở vị trí thứ năm tại giải vô địch quốc gia vào cuối [[Newcastle United F.C. mùa giải 2003-04|mùa giải 2003-04]], và bị loại ở vòng loại Champions League; tuy vậy, Robson vẫn bị sa thải vào tháng 8 năm 2004 sau hàng loạt bất đồng với câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.premierleague.com/page/2003/04Season |title=Premier League History&nbsp;– Season 2003/04 |publisher=Premier League |access-date=11 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110830172711/http://www.premierleague.com/page/2003/04Season |archive-date=30 tháng 8 năm 2011}}</ref><ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/3610042.stm |title=Newcastle force Robson out |date=30 tháng 8 năm 2004 |website=BBC Sport |access-date=11 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20080113042323/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/3610042.stm |archive-date = 13 tháng 1 năm 2008 |url-status=live}}</ref>
Sam Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên thay thế Roeder vào ngày 15 tháng 5 năm 2007.


[[File:Newcastle Utd v Celtic - Alan Shearer Testimonial (4).jpg|thumb|230px|Bức khảm [[Alan Shearer]] trong trận đấu tri ân ông vào tháng 5 năm 2006. Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử câu lạc bộ đã giải nghệ trong tháng đó.]]
=== 2007–2021: Kỷ nguyên Mike Ashley ===


[[Graeme Souness]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào đầu [[Newcastle United F.C. mùa giải 2004-05|mùa giải 2004-05]]. Trong thời gian cầm quân, ông đã phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ khi chiêu mộ [[Michael Owen]] với giá 16,8 triệu bảng Anh. Souness cũng đưa Newcastle vào tứ kết [[2004-05 UEFA Cup]], trong đó Alan Shearer giành danh hiệu Vua phá lưới của giải đấu.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.uefa.com/uefaeuropaleague/match/80610--newcastle-vs-sporting-cp/ |title=Shearer lifts determined Newcastle |publisher=UEFA|access-date=20 tháng 3 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170322161925/http://www.uefa.com/uefaeuropaleague/season=2004/matches/round=1979/match=80610/index.html|archive-date=22 tháng 3 năm 2017|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=https://www.uefa.com/uefaeuropaleague/match/80611--sporting-cp-vs-newcastle/ |title=Sporting stage dramatic comeback |publisher=UEFA|access-date=20 tháng 3 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170708012958/http://www.uefa.com/uefaeuropaleague/season=2004/matches/round=1979/match=80611/index.html|archive-date=8 tháng 7 năm 2017|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://www.uefa.com/uefaeuropaleague/season=2004/statistics/round=1975/players/type=topscorers/index.html |title=Statistics Goals scored Seasons 2004/05 |publisher=UEFA|access-date=20 tháng 3 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20160324101247/http://www.uefa.com/uefaeuropaleague/season=2004/statistics/round=1975/players/type=topscorers/index.html|archive-date=24 tháng 3 năm 2016|url-status=dead}}</ref> Tuy nhiên, ông bị sa thải vào tháng 2 năm 2006 sau khởi đầu tệ hại ở [[Newcastle United F.C. mùa giải 2005-06|mùa giải 2005-06]] của câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/4673804.stm |title=What went wrong for Souness? |first=Chris |last=Bevan |date=2 tháng 2 năm 2006 |website=BBC Sport| access-date = 12 tháng 4 năm 2011| archive-url = https://web.archive.org/web/20070614084237/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/4673804.stm| archive-date = 14 tháng 6 năm 2007| url-status = live}}</ref> [[Glenn Roeder]] tiếp quản, ban đầu trên cương vị tạm quyền, trước khi được bổ nhiệm chính thức vào cuối mùa giải.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/4770157.stm |title=Roeder named as Newcastle manager |date=16 tháng 5 năm 2006 |website=BBC Sport| access-date = 12 tháng 4 năm 2011| archive-url = https://web.archive.org/web/20061225034157/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/4770157.stm| archive-date = 25 tháng 12 năm 2006| url-status = live}}</ref> Shearer giải nghệ vào cuối mùa giải 2005-06 với tư cách chân sút ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, với 206 bàn thắng.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/4929358.stm |title=Injury forces Shearer retirement |access-date=14 tháng 8 năm 2008 |website=BBC Sport |date=22 tháng 4 năm 2006}}</ref>
=== 2021–nay: Kỷ nguyên PIF ===
Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, sau 14 năm làm chủ sở hữu, Ashley bán câu lạc bộ cho một loạt tập đoàn mới với giá được báo cáo là 305 triệu bảng.<ref>{{chú thích báo |last1=Morgan |first1=Tom |last2=Burt |first2=Jason |last3=Edwards |first3=Luke |last4=Amako |first4=Uche |date=7 October 2021 |title=Newcastle United takeover confirmed as £305m deal with Saudi-backed consortium finalised |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |url=https://www.telegraph.co.uk/football/2021/10/07/newcastle-united-takeover-live-saudi-buyers-announcement-latest/|access-date=17 October 2021}}</ref> Các tập đoàn này là [[Public Investment Fund|Quỹ đầu tư Công]], [[RB Sports & Media]] của [[Ả Rập Xê Út]] và [[PCP Capital Partners]].<ref name="Newcastle United F.C">{{chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/pif-pcp-capital-partners-and-rb-sports-media-acquire-newcastle-united-football-club/ |title=PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club |publisher=Newcastle United F.C. |access-date=7 October 2020}}</ref> Vào ngày 20 tháng 10, Bruce từ chức theo sự đồng ý của cả hai sau khi nhận được khoản thanh toán trị giá 8 triệu bảng Anh.<ref>{{chú thích báo |last=Bird |first=Simon |title=Steve Bruce's huge pay-off details as he's sacked by Newcastle |url=https://www.mirror.co.uk/sport/football/news/steve-bruces-huge-pay-details-25256900 |newspaper=Daily Mirror |location=London |date=20 October 2021 |access-date=21 February 2022}}</ref><ref>{{chú thích web |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/58775879 |title=Steve Bruce leaves Newcastle by mutual consent after Saudi takeover |website=BBC Sport |date=20 October 2021 |access-date=21 October 2021}}</ref> [[Eddie Howe]] được bổ nhiệm làm tân huấn luyện viên thay thế Bruce vào ngày 8 tháng 11.<ref>{{chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/newcastle-united-appoint-eddie-howe-as-head-coach/ |title=Newcastle United appoint Eddie Howe as head coach |publisher=Newcastle United F.C. |date=8 November 2021 |access-date=8 November 2021}}</ref> Ông giúp câu lạc bộ cán đích ở vị trí thứ 11 sau chuỗi 12 trận thắng trong 18 trận, qua đó trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Premier League trụ hạng sau khi không thắng nổi một trận nào trong 14 trận đầu tiên.<ref>{{chú thích báo |title=Burnley 1–2 Newcastle United |website=BBC Sport |url=https://www.bbc.com/sport/football/61453542 |access-date=22 May 2022}}</ref>


Năm 2006, Newcastle giành [[UEFA Intertoto Cup|Intertoto Cup]] lần đầu tiên trong lịch sử, và là danh hiệu châu Âu đầu tiên của họ kể từ năm 1973.<ref>{{Chú thích web |date=2023-02-28 |title=Newcastle's Bizarre 2006 Intertoto Cup Win, Explained {{!}} Football Stories |url=http://footballstories.co.uk/newcastle-united-intertoto-cup/ |access-date=2023-04-25 |language=en-US |archive-date=25 tháng 4 năm 2023 |archive-url=https://web.archive.org/web/20230425224853/http://footballstories.co.uk/newcastle-united-intertoto-cup/ |url-status=dead }}</ref>
Vào ngày 21 tháng 8 năm 2022, đội nữ [[Newcastle United W.F.C.|Newcastle United]] chuyển sang quyền sở hữu của câu lạc bộ lần đầu tiên sau khi tái cơ cấu chính thức.<ref name=nufcWomen2022>{{chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/newcastle-uniteds-womens-team-completes-historic-move-to-club-ownership/ |title=Newcastle United's women's team completes historic move to club ownership |last=NUFC Staff |date=21 August 2022 |publisher=Newcastle United F.C.| access-date = 21 August 2022}}</ref> Cuối mùa giải [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2022–23|2022–23]], câu lạc bộ lần đầu tiên giành quyền tham dự Champions League sau 20 năm.<ref>{{chú thích báo |title=Newcastle secure top-four finish with Leicester draw|work=BBC Sport |url=https://www.bbc.com/sport/football/65593412 |access-date=22 May 2023}}</ref> Mùa giải đó cũng là chủ đề của bộ phim tài liệu ''We Are Newcastle United'' ra mắt bởi [[Amazon Prime Video]].<ref>{{chú thích báo |last1=Saqib |first1=Faiza |title=We Are Newcastle United: When will it be released, how to watch and what do we know about it? |url=https://www.independent.co.uk/sport/we-are-newcastle-united-amazon-b2391633.html |access-date=18 August 2023 |work=The Independent |date=11 August 2023}}</ref><ref>{{chú thích web |date=3 August 2023 |title=Newcastle United Amazon Prime documentary: Release date, trailer, how to watch and which stars will feature |url=https://www.sportingnews.com/us/soccer/news/newcastle-united-amazon-prime-documentary-release-date-how-watch/rwk4ixdsq832ofgszsef2q3x |access-date=3 August 2023 |website=www.sportingnews.com}}</ref><ref>{{chú thích web |date=26 July 2023 |title='We Are Newcastle United' launches weekly on Prime Video next month |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/we-are-newcastle-united-launches-weekly-on-prime-video-next-month/ |access-date=3 August 2023 |website=Newcastle United Football Club}}</ref> Tuy vậy, ngay trong lần đầu tiên tham dự sau 20 năm, Newcastle bị loại ở vòng bảng của giải đấu.<ref>{{chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/67697329 |title=Newcastle United 1–2 AC Milan |first=Phil |last=McNulty |website=BBC Sport |date=13 December 2023 |access-date=22 March 2024}}</ref>


Dù kết thúc [[Newcastle United F.C. mùa giải 2005-06|mùa giải 2005-06]] ở vị trí thứ bảy, vận may của Roeder thay đổi ở [[Newcastle United F.C. mùa giải 2006-07|mùa giải 2006-07]], khi đội hình chính liên tiếp gặp chấn thương nghiêm trọng, và ông rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào ngày 6 tháng 5 năm 2007.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/6630751.stm |title=Roeder resigns as Newcastle boss |date=6 tháng 5 năm 2007 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223559/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/6630751.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref> Sau [[Newcastle United F.C. mùa giải 2006-07|mùa giải 2006-07]], trong kỉ nguyên Premier League, Newcastle United là câu lạc bộ thành công thứ năm của Premiership xét về số điểm giành được.<ref>*{{Chú thích sách |last=Bolam |first=Mike |title=The Newcastle Miscellany |publisher=Vision Sports Publishing |year=2007 |location=United Kingdom |isbn=978-1-905326-18-1 |page=7}}</ref>
== Thành tích ==
*[[Tập tin:Premier league trophy icon.png|30px]] [[Football League First Division|First Division]] / [[Premier League]]
**'''Vô địch (4)''': [[1904–05 Football League First Division|1904–05]], [[1906–07 Football League First Division|1906–07]], [[1908–09 Football League First Division|1908–09]], [[1926–27 Football League First Division|1926–27]]
**Á quân (2): [[1995–96 FA Premier League|1995–96]], [[1996–97 FA Premier League|1996–97]]
*[[Tập tin:Football_league_championship_cup.svg|50x50px]] [[Football League Second Division|Second Division]] / [[Football League First Division|First Division]] / [[EFL Championship|Championship]]
**'''Vô địch (4)''': [[1964–65 Football League Second Division|1964–65]], [[1992–93 Football League First Division|1992–93]], [[2009–10 Football League Championship|2009–10]], [[2016–17 EFL Championship|2016–17]]
**Á quân (2): [[1897–98 Football League Second Division|1897–98]], [[1947–48 Football League Second Division|1947–48]]
*[[Tập tin:FA Cup.png|22px]] [[Cúp FA]]
**'''Vô địch (6)''': [[1909–10 FA Cup|1909–10]], [[1923–24 FA Cup|1923–24]], [[1931–32 FA Cup|1931–32]], [[1950–51 FA Cup|1950–51]], [[1951–52 FA Cup|1951–52]], [[1954–55 FA Cup|1954–55]]
**Á quân (7): [[1904–05 FA Cup|1904–05]], [[1905–06 FA Cup|1905–06]], [[1907–08 FA Cup|1907–08]], [[1910–11 FA Cup|1910–11]], [[1973–74 FA Cup|1973–74]], [[1997–98 FA Cup|1997–98]], [[Cúp FA 1998-99|1998–99]]
*[[Tập tin:Carling.png|24px]] [[Cúp EFL|Cúp Liên đoàn Anh / Cúp EFL]]
**'''Vô địch (1)''': [[Cúp EFL 2024–25|2024–25]]
**Á quân (2): [[League Cup 1975–76|1975–76]], [[Cúp EFL 2022–23|2022–23]]
*[[Tập tin:CommunityShield.png|24px]] [[Siêu cúp Anh]]
**'''Vô địch (1)''': [[1909 FA Charity Shield|1909]]
**Á quân (5): [[1932 FA Charity Shield|1932]], [[1951 FA Charity Shield|1951]], [[1952 FA Charity Shield|1952]], [[1955 FA Charity Shield|1955]], [[1996 FA Charity Shield|1996]]
*[[Inter-Cities Fairs Cup]]
**'''Vô địch''': [[1968–69 Inter-Cities Fairs Cup|1968–69]]


[[Sam Allardyce]] được bổ nhiệm làm người thay thế Roeder trên cương vị huấn luyện viên vào ngày 15 tháng 5 năm 2007.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/6654121.stm |title=Newcastle name Allardyce as boss |date=15 tháng 5 năm 2007 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223559/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/6654121.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref>
== Các kỷ lục ==
* Trận thắng đậm nhất: 13-0 (thắng [[Newport County A.F.C.|Newport County]], giải hạng 2, [[5 tháng 10]] năm [[1946]])
* Trận thắng đậm nhất ở giải Ngoại hạng: 8-0 (thắng [[Sheffield Wednesday F.C.|Sheffield Wednesday]] (tháng 9 năm 1999)
* Trận thua đậm nhất: 0-9 v [[Burton Wanderers F.C.|Burton Wanderers]], Division 2, [[15 tháng 4]], 1895)
* Trận thua đậm nhất giải Ngoại hạng: 0-5 v [[Chelsea F.C.|Chelsea]], (2004)
* Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất: [[Jimmy Lawrence]] - 496 trận
* Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất ở giải vô địch quốc gia: Jimmy Lawrence - 432 trận
* Cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất ở các cúp châu Âu: [[Shay Given]] - 54 trận
* Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất: [[Alan Shearer]] - 203 bàn
* Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất ở giải vô địch quốc gia: [[Jackie Milburn]] - 177 bàn
* Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất ở các cúp châu Âu: Alan Shearer - 30 bàn
* Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong 1 mùa bóng: [[Andy Cole]] - 41 bàn (1993/1994)
* Tổng số khán giả đông nhất: 68.386 (với [[Chelsea F.C.|Chelsea]], hạng nhất, [[3 tháng 9]] năm [[1930]])
* Tổng số khán giả đông nhất ở giải Ngoại hạng: 52.327 (với Manchester United, [[28 tháng 8]] năm [[2005]])
* Cầu thủ trẻ nhất: [[Steve Watson]] - 16 tuổi 223 ngày ([[10 tháng 11]] năm [[1990]])
* Cầu thủ già nhất: [[Billy Hampson]] - 42 tuổi 225 ngày ([[9 tháng 4|09 tháng 4]] năm [[1927]])
* Cầu thủ thi đấu lâu nhất: [[Frank Hudspeth]] - 19 năm (1910 - 1929)
* Bán cầu thủ: [[Andy Carroll]] - 35 triệu [[bảng Anh|bảng]] (cho [[Liverpool]])
* Mua cầu thủ: [[Michael Owen]] - 17 triệu bảng (từ [[Real Madrid CF|Real Madrid]])


===2007-2021: Kỉ nguyên Mike Ashley===
==Cầu thủ==
Vào ngày 7 tháng 6, những cổ phần cuối cùng của Freddy Shepherd tại câu lạc bộ đã được bán cho [[Mike Ashley (doanh nhân)|Mike Ashley]] và Shepherd được thay ở cương vị chủ tịch bởi [[Chris Mort]] vào ngày 25 tháng 7.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/2/hi/business/6729215.stm |title=Ashley to take over Newcastle Utd |date=7 tháng 6 năm 2007 |website=BBC News |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20080920090929/http://news.bbc.co.uk/1/hi/business/6729215.stm |archive-date = 20 tháng 9 năm 2008|url-status = live}}</ref><ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/6914303.stm |title=Mort in for Shepherd at Newcastle |date=25 tháng 7 năm 2007 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223600/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/6914303.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref> Ashley sau đó thông báo rằng ông sẽ rút niêm yết của câu lạc bộ khỏi [[London Stock Exchange]] sau khi hoàn tất thương vụ tiếp quản.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/2/hi/business/6758283.stm |title=Ashley boosts stake in Newcastle: July 15, 2007 |website=BBC News |date=15 tháng 7 năm 2007 |access-date=24 tháng 5 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20071008222747/http://news.bbc.co.uk/1/hi/business/6758283.stm |archive-date=8 tháng 10 năm 2007 |url-status=live}}</ref> Câu lạc bộ chính thức ngừng giao dịch trên sàn chứng khoán từ 8 giờ sáng ngày 18 tháng 7 năm 2007 với giá 5 xu một cổ phiếu.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/2317256/Newcastle-delisted-from-Stock-Exchange.html |title=Newcastle delisted from Stock Exchange |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |date=18 tháng 7 năm 2007 |access-date=24 tháng 5 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110505205739/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/2317256/Newcastle-delisted-from-Stock-Exchange.html |archive-date=5 tháng 5 năm 2011 |url-status=live}}</ref>


Allardyce rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2008 theo thỏa thuận chung sau khởi đầu tệ hại ở [[Newcastle United F.C. mùa giải 2007-08|mùa giải 2007-08]],<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7179847.stm |title=Allardyce reign ends at Newcastle |date=9 tháng 1 năm 2008 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20080111013354/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7179847.stm |archive-date = 11 tháng 1 năm 2008|url-status = live}}</ref> và Kevin Keegan được bổ nhiệm trở lại làm huấn luyện viên Newcastle.<ref>{{Chú thích báo |title=Keegan returns as Newcastle boss |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/7192457.stm |website=BBC Sport |date=16 tháng 1 năm 2008|access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20080118191248/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7192457.stm |archive-date = 18 tháng 1 năm 2008|url-status = live}}</ref> Mort từ chức chủ tịch vào tháng 6 và được thay thế bởi [[Derek Llambias]], một cộng sự lâu năm của Ashley.<ref>{{Chú thích báo |title=Chris Mort quits as Newcastle chairman, Derek Llambias named managing director |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/leagues/premierleague/newcastle/2303463/Chris-Mort-quits-as-Newcastle-chairman,-Derek-Llambias-named-managing-director.html| archive-url = https://archive.today/20121224003127/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/leagues/premierleague/newcastle/2303463/Chris-Mort-quits-as-Newcastle-chairman,-Derek-Llambias-named-managing-director.html | archive-date = 24 tháng 12 năm 2012 |newspaper=The Daily Telegraph |location=London | access-date =30 tháng 7 năm 2008 |date=17 tháng 6 năm 2008}}</ref> Newcastle kết thúc [[Newcastle United F.C. mùa giải 2007-08|mùa giải 2007-08]] ở vị trí thứ 12, nhưng khi mùa giải dần khép lại, Keegan công khai chỉ trích ban lãnh đạo, cho rằng họ không cung cấp đủ hỗ trợ tài chính cho đội bóng.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/2698827/War-of-words-continue-at-Newcastle-as-Kevin-Keegan-sticks-to-his-guns.html |title=War of words continue at Newcastle as Kevin Keegan sticks to his guns |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |url-access=registration |date=7 tháng 9 năm 2008 |access-date=26 tháng 12 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20191227023025/https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/2698827/War-of-words-continue-at-Newcastle-as-Kevin-Keegan-sticks-to-his-guns.html |archive-date=27 tháng 12 năm 2019 |url-status=live}}</ref>
===Đội hình hiện tại===

{{updated|1 tháng 9 năm 2025}}<ref>{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/teams/first-team/ |title=First Team |publisher=Newcastle United F.C. |access-date=ngày 26 tháng 8 năm 2022 |archive-date=2023-02-28 |archive-url=https://web.archive.org/web/20230228062226/https://www.nufc.co.uk/teams/first-team/ |url-status=dead }}<br />{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/teams/on-loan/ |title=Out on Loan |publisher=Newcastle United F.C. |access-date=ngày 26 tháng 8 năm 2022 }}</ref><ref>{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/magpies-202223-squad-numbers-confirmed/ |title=Magpies' 2022/23 squad numbers confirmed |first=Tom |last=Easterby |publisher=Newcastle United F.C. |date=ngày 6 tháng 8 năm 2022 |access-date =ngày 6 tháng 8 năm 2022}}</ref>
Vào tháng 9 năm 2008, Keegan từ chức huấn luyện viên và nói rằng: "Theo quan điểm của tôi, một huấn luyện viên phải có quyền được huấn luyện, và các câu lạc bộ không nên áp đặt lên bất kì huấn luyện viên nào những cầu thủ mà ông ấy không muốn".<ref name="Keegan resigns as Newcastle boss">{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/7593683.stm |title=Keegan resigns as Newcastle boss |date=4 tháng 9 năm 2008 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20090211133357/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7593683.stm |archive-date = 11 tháng 2 năm 2009|url-status = live}}</ref> Cựu huấn luyện viên [[Wimbledon F.C.|Wimbledon]] [[Joe Kinnear]] được bổ nhiệm làm người thay thế ông,<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/football/2008/sep/26/newcastleunited.premierleague |title=Newcastle appoint Kinnear as interim manager |first=Les |last=Roopanarine |date=26 tháng 9 năm 2008 |newspaper=The Guardian |location=London |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20131104182759/http://www.theguardian.com/football/2008/sep/26/newcastleunited.premierleague |archive-date = 4 tháng 11 năm 2013|url-status = live}}</ref> nhưng vào tháng 2 năm 2009, do ông phải phẫu thuật tim, Alan Shearer được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trong thời gian ông vắng mặt.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/7979500.stm |title=Kinnear 'will resume Magpies job' |date=2 tháng 4 năm 2009 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20090405125825/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7979500.stm |archive-date = 5 tháng 4 năm 2009|url-status = live}}</ref> Dưới thời Shearer, câu lạc bộ bị xuống [[EFL Championship|Championship]] vào cuối [[Newcastle United F.C. mùa giải 2008-09|mùa giải 2008-09]], lần đầu tiên câu lạc bộ rời Premier League kể từ khi gia nhập giải đấu này vào năm 1993.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/football/2009/may/24/newcastle-relegation-alan-shearer |title=Alan Shearer demands Newcastle overhaul following relegation |first=Stuart |last=James |date=24 tháng 5 năm 2009 |newspaper=The Guardian |location=London |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20140714232939/http://www.theguardian.com/football/2009/may/24/newcastle-relegation-alan-shearer |archive-date = 14 tháng 7 năm 2014|url-status = live}}</ref>

Sau khi xuống hạng, câu lạc bộ được rao bán vào tháng 6 năm 2009 với giá chào bán 100 triệu bảng Anh.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/5483775/Newcastle-up-for-sale-email-your-offers-now.html |title=Newcastle up for sale: email your offers now |first=Emily |last=Benammar |date=9 tháng 6 năm 2009 |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |access-date = 12 tháng 4 năm 2011 |archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223602/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/5483775/Newcastle-up-for-sale-email-your-offers-now.html |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref> [[Chris Hughton]] được trao công việc huấn luyện viên trên cương vị tạm quyền trước khi chính thức nắm chức vụ này vào ngày 27 tháng 10 năm 2009.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/8315175.stm |title=Newcastle confirm Hughton as boss |date=27 tháng 10 năm 2009 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223604/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/8315175.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref> Cùng ngày hôm đó, Ashley thông báo rằng câu lạc bộ không còn được rao bán nữa.<ref name=off_market>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/8329055.stm |title=Ashley takes Newcastle off market |date=27 tháng 10 năm 2011 |website=BBC Sport |access-date = 12 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223604/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/8329055.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref>

[[File:Newcastle United - Championship winners.jpg|thumb|Newcastle trở lại hạng đấu cao nhất ngay lập tức vào năm 2010 sau khi xuống hạng ở năm trước.]]

Hughton đưa Newcastle vô địch [[Football League Championship|Championship 2009-10]], giành quyền thăng hạng trực tiếp vào ngày 5 tháng 4 năm 2010 khi mùa giải còn năm trận, và chính thức đăng quang vào ngày 19 tháng 4; Newcastle trở lại Premier League chỉ sau một mùa giải vắng bóng.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/8603960.stm |website=BBC Sport |title=Newcastle United secure promotion to Premier League |access-date = 7 tháng 4 năm 2010 |date=6 tháng 4 năm 2010|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223605/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/8603960.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://goal.com/en-us/news/85/england/2010/04/05/1865392/newcastle-united-promoted-back-to-the-premier-league |title=Newcastle United Promoted Back to the Premier League |website=Goal |date=5 tháng 4 năm 2010 |first=Steve |last=Alexander| access-date = 6 tháng 4 năm 2010| archive-url = https://web.archive.org/web/20100409143627/http://goal.com/en-us/news/85/england/2010/04/05/1865392/newcastle-united-promoted-back-to-the-premier-league| archive-date = 9 tháng 4 năm 2010| url-status = live}}</ref><ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_div_1/8628261.stm |title=Plymouth 0-2 Newcastle |website=BBC Sport |date=19 tháng 4 năm 2010|access-date = 20 tháng 5 năm 2010|archive-url = https://web.archive.org/web/20160112223608/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/eng_div_1/8628261.stm |archive-date = 12 tháng 1 năm 2016|url-status = live}}</ref>

Dưới thời Hughton, Newcastle có khởi đầu mạnh mẽ ở [[Newcastle United F.C. mùa giải 2010-11|mùa giải 2010-11]], nhưng ông bị sa thải vào ngày 6 tháng 12 năm 2010. Ban lãnh đạo câu lạc bộ cho biết họ cảm thấy rằng "cần một cá nhân có nhiều kinh nghiệm huấn luyện hơn để đưa câu lạc bộ tiến lên".<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/8184265/Chris-Hughton-sacked-as-manager-of-Newcastle-United.html |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |title=Chris Hughton sacked as manager of Newcastle United |access-date = 6 tháng 12 năm 2010 |date=6 tháng 12 năm 2010 |first=Thom |last=Gibbs |archive-url = https://web.archive.org/web/20101208063202/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/8184265/Chris-Hughton-sacked-as-manager-of-Newcastle-United.html |archive-date = 8 tháng 12 năm 2010|url-status = live}}</ref> Ba ngày sau, [[Alan Pardew]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên với hợp đồng kéo dài năm năm rưỡi.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/football/2010/dec/06/peter-beardsley-newcastle-chris-hughton |title=Peter Beardsley named as Newcastle United caretaker manager |last=Pengelly |first=Martin |date=6 tháng 12 năm 2010 |newspaper=The Guardian |access-date = 25 tháng 1 năm 2011 |location=London |archive-url = https://web.archive.org/web/20140714232552/http://www.theguardian.com/football/2010/dec/06/peter-beardsley-newcastle-chris-hughton |archive-date=14 tháng 7 năm 2014 |url-status=live}}</ref> Dù có một số biến động, Newcastle vẫn có thể kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12, với một trong những điểm nhấn đặc biệt là trận hòa 4-4 trên sân nhà trước Arsenal, nơi Newcastle ngược dòng sau khi bị dẫn bốn bàn để giành lại một điểm.<ref>{{Chú thích báo |url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_prem/9384154.stm |title=Newcastle 4-4 Arsenal |date=5 tháng 2 năm 2011 |website=BBC Sport |access-date=31 tháng 7 năm 2012 |archive-url= https://web.archive.org/web/20120429181506/http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_prem/9384154.stm |archive-date=29 tháng 4 năm 2012 |url-status=live}}</ref>

Khởi đầu của [[Newcastle United F.C. mùa giải 2011-12|mùa giải 2011-12]] rất thành công khi họ có một trong những màn xuất phát mạnh mẽ nhất của mình, trải qua 11 trận liên tiếp bất bại.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/15504063 |title=Newcastle 2-1 Everton |website=BBC Sport|access-date=1 tháng 10 năm 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140810203501/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/15504063|archive-date=10 tháng 8 năm 2014|url-status=live}}</ref> Newcastle cuối cùng giành suất dự [[UEFA Europa League 2012-13|Europa League 2012-13]] với vị trí thứ năm, thứ hạng cao nhất của họ tại giải vô địch quốc gia kể từ thời Bobby Robson. Những vinh dự khác cũng đến khi Pardew giành cả giải [[Premier League Manager of the Season]]<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/18042404 |title=Alan Pardew and Vincent Kompany's Premier League award |date=11 tháng 5 năm 2012 |website=BBC Sport|access-date=12 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180923013546/https://www.bbc.co.uk/sport/football/18042404|archive-date=23 tháng 9 năm 2018|url-status=live}}</ref> lẫn giải [[LMA Manager of the Year]].<ref>{{Chú thích báo|date=14 tháng 5 năm 2012|url=https://www.bbc.com/sport/football/18067904|title=Newcastle boss Alan Pardew is named LMA Manager of the Year|website=BBC Sport|access-date=25 tháng 2 năm 2023}}</ref>

Ở mùa giải tiếp theo, Newcastle có ít sự bổ sung trong mùa hè và phải chịu nhiều ca chấn thương trong suốt mùa giải. Kết quả là nửa đầu mùa giải bị phủ bóng bởi chuỗi 10 thất bại trong 13 trận, khiến câu lạc bộ rơi xuống gần khu vực xuống hạng. Chiến dịch Europa League phần lớn diễn ra thành công khi đội lọt vào tứ kết trước khi dừng bước trước [[Chung kết UEFA Europa League 2013|đội sau đó vào chung kết]] là Benfica.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/22023554 |title=Newcastle 1-1 Benfica (agg 2-4) |author=Chris McKenna |website=BBC Sport|access-date=1 tháng 10 năm 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20131031084501/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/22023554|archive-date=31 tháng 10 năm 2013|url-status=live}}</ref> Ở đấu trường quốc nội, Newcastle chật vật và chỉ trụ hạng sau chiến thắng 2-1 trước [[Queens Park Rangers F.C.|Queens Park Rangers]], đội đã xuống hạng, ở trận áp chót của mùa giải.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/22417786 |title=QPR 1-2 Newcastle |date=12 tháng 5 năm 2013 |website=BBC Sport|access-date=12 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180804203754/https://www.bbc.co.uk/sport/football/22417786|archive-date=4 tháng 8 năm 2018|url-status=live}}</ref>

[[File:Rafael Benítez.jpg|thumb|left|upright|[[Rafael Benítez]] dẫn dắt câu lạc bộ từ năm 2016 đến năm 2019.]]

[[Newcastle United F.C. mùa giải 2014-15|Mùa giải 2014-15]] chứng kiến Newcastle không thắng trong bảy trận đầu tiên, khiến người hâm mộ phát động chiến dịch yêu cầu sa thải Pardew khỏi cương vị huấn luyện viên, trước khi phong độ khởi sắc giúp họ leo lên vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng. Pardew rời sang [[Crystal Palace F.C.|Crystal Palace]] vào tháng 12.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/30637258 |title=Alan Pardew: Crystal Palace confirm manager's appointment |website=BBC Sport|access-date=13 tháng 8 năm 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20151016095124/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/30637258|archive-date=16 tháng 10 năm 2015|url-status=live}}</ref> Vào ngày 26 tháng 1 năm 2015, trợ lí của ông là [[John Carver (cầu thủ bóng đá)|John Carver]] được giao phụ trách phần còn lại của mùa giải nhưng đã tiến rất gần đến việc xuống hạng, chỉ trụ lại ở vòng cuối cùng nhờ chiến thắng 2-0 trên sân nhà trước [[West Ham United F.C.|West Ham]], trong đó [[Jonás Gutiérrez]], người đã chiến thắng [[testicular cancer]] trước đó trong mùa giải, ghi bàn thắng thứ hai cho đội bóng.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/32770782 |title=Newcastle United 2-0 West Ham United |website=BBC Sport|access-date=13 tháng 8 năm 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150812134743/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/32770782|archive-date=12 tháng 8 năm 2015|url-status=live}}</ref>

Ngày 9 tháng 6 năm 2015, Carver bị sa thải và được thay thế bởi [[Steve McClaren]] vào ngày hôm sau.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/32994477 |title=Steve McClaren: Newcastle appoint ex-England manager |website=BBC Sport|access-date=13 tháng 8 năm 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150729104130/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/32994477|archive-date=29 tháng 7 năm 2015|url-status=live}}</ref> Vào ngày 11 tháng 3 năm 2016, McClaren bị sa thải sau chín tháng làm huấn luyện viên, khi Newcastle đứng thứ 19 tại Premier League và chỉ thắng sáu trong số 28 trận Premier League dưới thời ông.<ref name="bbcmarch11">{{Chú thích báo |title=Rafael Benitez: Newcastle United appoint Spaniard as Steve McClaren's successor |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/35784544|access-date=11 tháng 3 năm 2016 |website=BBC Sport |date=11 tháng 3 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160311162959/http://www.bbc.co.uk/sport/football/35784544|archive-date=11 tháng 3 năm 2016|url-status=live}}</ref> Ông được thay thế ngay trong ngày bởi người Tây Ban Nha [[Rafael Benítez]], người kí hợp đồng ba năm,<ref name="bbcmarch11" /> nhưng không thể ngăn câu lạc bộ xuống hạng lần thứ hai dưới thời sở hữu của Ashley.<ref>{{Chú thích báo |last=Taylor |first=Daniel |title=Sunderland safe after Lamine Koné double sinks crumbling Everton |url=https://www.theguardian.com/football/2016/may/11/sunderland-everton-premier-league-match-report|access-date=12 tháng 5 năm 2016 |newspaper=The Guardian |date=11 tháng 5 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160511215756/https://www.theguardian.com/football/2016/may/11/sunderland-everton-premier-league-match-report|archive-date=11 tháng 5 năm 2016|url-status=live}}</ref>

Newcastle trở lại Premier League ngay trong lần đầu tiên nỗ lực thăng hạng, khi vô địch Championship vào tháng 5 năm 2017.<ref>{{Chú thích báo |title=Newcastle United clinched the Championship title with victory over Barnsley, after Brighton conceded a late equaliser at Aston Villa |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/39760419|access-date=7 tháng 5 năm 2017 |website=BBC Sport |date=7 tháng 5 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20190508054204/https://www.bbc.co.uk/sport/football/39760419|archive-date=8 tháng 5 năm 2019|url-status=live}}</ref> Vào tháng 10, Mike Ashley rao bán Newcastle United lần thứ hai.<ref>{{Chú thích báo |title=Newcastle United: Mike Ashley puts Premier League club up for sale |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/41643718 |website=BBC Sport |date=16 tháng 10 năm 2017|access-date=12 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180219201030/https://www.bbc.co.uk/sport/football/41643718|archive-date=19 tháng 2 năm 2018|url-status=live}}</ref> Đội bóng kết thúc mùa giải với chiến thắng 3-0 trước Chelsea, [[Premier League 2016-17|nhà đương kim vô địch mùa trước]], qua đó đứng thứ 10 tại giải vô địch quốc gia, thành tích tốt nhất của họ trong bốn năm.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.com/sport/football/44020154 |title=Newcastle United 3-0 Chelsea |date=13 tháng 5 năm 2018 |website=BBC Sport |access-date=6 tháng 7 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180714061549/https://www.bbc.com/sport/football/44020154|archive-date=14 tháng 7 năm 2018|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://www.skysports.com/premier-league-table/2017 |title=Premier League (Sky Sports) |website=Sky Sports |access-date=6 tháng 7 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180706092356/http://www.skysports.com/premier-league-table/2017|archive-date=6 tháng 7 năm 2018|url-status=live}}</ref> [[Newcastle United F.C. mùa giải 2018-19|Mùa giải kế tiếp]] chứng kiến đội kết thúc ở vị trí thứ 13, dù từng nằm trong khu vực xuống hạng vào tháng 1. Ashley chịu nhiều chỉ trích hơn vì thiếu đầu tư vào đội hình và dường như tập trung vào các hoạt động kinh doanh khác.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.chroniclelive.co.uk/whats-on/shopping/ashley-fraser-house-cancels-direct-15040683 |title=Sports Direct-owned House of Fraser apologises after cancelling all online orders from customers |newspaper=Evening Chronicle |location=Newcastle upon Tyne |date=17 tháng 8 năm 2018 |access-date=24 tháng 8 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190527173833/https://www.chroniclelive.co.uk/whats-on/shopping/ashley-fraser-house-cancels-direct-15040683 |archive-date=27 tháng 5 năm 2019 |url-status=live}}</ref> Benítez rời vị trí của mình vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 sau khi từ chối một hợp đồng mới.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.mirror.co.uk/sport/football/news/breaking-rafa-benitez-leaves-newcastle-17129000 |title=Rafa Benitez leaves Newcastle United after failing to agree new contract |newspaper=Daily Mirror |location=London |date=24 tháng 6 năm 2019 |access-date=24 tháng 6 năm 2019 |archive-url = https://web.archive.org/web/20190624115349/https://www.mirror.co.uk/sport/football/news/breaking-rafa-benitez-leaves-newcastle-17129000 |archive-date=24 tháng 6 năm 2019 |url-status=live}}</ref>

Vào ngày 17 tháng 7 năm 2019, cựu huấn luyện viên Sunderland [[Steve Bruce]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên với hợp đồng 3 năm.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/2019/jul/17/newcastle-appoint-steve-bruce-manager-rafael-benitez |title=Newcastle appoint Steve Bruce as manager to succeed Rafael Benítez |newspaper=The Guardian |date=17 tháng 7 năm 2019|access-date=17 tháng 7 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190717083920/https://www.theguardian.com/football/2019/jul/17/newcastle-appoint-steve-bruce-manager-rafael-benitez|archive-date=17 tháng 7 năm 2019|url-status=live}}</ref> Bruce đưa đội kết thúc ở các vị trí thứ 13 và thứ 12 trong hai mùa giải trọn vẹn ông nắm quyền.<ref>{{Chú thích báo |last1=Taylor |first1=Louise |title='Human shield' Steve Bruce was out of his depth in dream job at Newcastle |url=https://www.theguardian.com/football/2021/oct/20/steve-bruce-was-out-of-his-depth-in-dream-job-at-newcastle |access-date=2 tháng 11 năm 2023 |work=The Guardian |date=20 tháng 10 năm 2021}}</ref>

===2021-nay: Kỉ nguyên PIF===
Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, sau 14 năm làm chủ sở hữu, Ashley bán câu lạc bộ cho một liên danh mới với giá được cho là 305 triệu bảng Anh.<ref>{{Chú thích báo |last1=Morgan |first1=Tom |last2=Burt |first2=Jason |last3=Edwards |first3=Luke |last4=Amako |first4=Uche |date=7 tháng 10 năm 2021 |title=Newcastle United takeover confirmed as £305m deal with Saudi-backed consortium finalised |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |url=https://www.telegraph.co.uk/football/2021/10/07/newcastle-united-takeover-live-saudi-buyers-announcement-latest/|access-date=17 tháng 10 năm 2021}}</ref> Liên danh này bao gồm [[Public Investment Fund]] của Saudi Arabia, [[RB Sports & Media]] và [[PCP Capital Partners]].<ref name="Newcastle United F.C">{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/pif-pcp-capital-partners-and-rb-sports-media-acquire-newcastle-united-football-club/ |title=PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club |publisher=Newcastle United F.C. |access-date=7 tháng 10 năm 2020}}</ref> Ngày 20 tháng 10, Bruce rời vị trí của mình theo thỏa thuận chung sau khi nhận khoản đền bù được cho là 8 triệu bảng Anh.<ref>{{Chú thích báo |last=Bird |first=Simon |title=Steve Bruce's huge pay-off details as he's sacked by Newcastle |url=https://www.mirror.co.uk/sport/football/news/steve-bruces-huge-pay-details-25256900 |newspaper=Daily Mirror |location=London |date=20 tháng 10 năm 2021 |access-date=21 tháng 2 năm 2022}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/58775879 |title=Steve Bruce leaves Newcastle by mutual consent after Saudi takeover |website=BBC Sport |date=20 tháng 10 năm 2021 |access-date=21 tháng 10 năm 2021}}</ref> [[Eddie Howe]] được bổ nhiệm làm người thay thế Bruce vào ngày 8 tháng 11 năm 2021.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/newcastle-united-appoint-eddie-howe-as-head-coach/ |title=Newcastle United appoint Eddie Howe as head coach |publisher=Newcastle United F.C. |date=8 tháng 11 năm 2021 |access-date=8 tháng 11 năm 2021}}</ref> Howe đưa câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 11 sau chuỗi 12 chiến thắng trong 18 trận cuối cùng, và Newcastle trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Premier League tránh xuống hạng sau khi không thắng bất kì trận nào trong 14 trận đầu tiên.<ref>{{Chú thích báo |title=Burnley 1-2 Newcastle United |website=BBC Sport |url=https://www.bbc.com/sport/football/61453542 |access-date=22 tháng 5 năm 2022}}</ref>

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2022, [[Newcastle United W.F.C.|Newcastle United Women]] lần đầu tiên thuộc quyền sở hữu của câu lạc bộ, sau một cuộc tái cơ cấu chính thức.<ref name=nufcWomen2022>{{Chú thích web |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/newcastle-uniteds-womens-team-completes-historic-move-to-club-ownership/ |title=Newcastle United's women's team completes historic move to club ownership |date=21 tháng 8 năm 2022 |publisher=Newcastle United F.C.| access-date = 21 tháng 8 năm 2022}}</ref> Vào cuối [[Newcastle United F.C. mùa giải 2022-23|mùa giải 2022-23]], câu lạc bộ giành suất dự Champions League lần đầu tiên sau 20 năm.<ref>{{Chú thích báo |title=Newcastle secure top-four finish with Leicester draw|work=BBC Sport |url=https://www.bbc.com/sport/football/65593412 |access-date=22 tháng 5 năm 2023}}</ref> Mùa giải này là chủ đề của bộ phim tài liệu ''We Are Newcastle United'' trên [[Amazon Prime Video]].<ref>{{Chú thích báo |last1=Saqib |first1=Faiza |title=We Are Newcastle United: When will it be released, how to watch and what do we know about it? |url=https://www.independent.co.uk/sport/we-are-newcastle-united-amazon-b2391633.html |access-date=18 tháng 8 năm 2023 |work=The Independent |date=11 tháng 8 năm 2023}}</ref><ref>{{Chú thích web |date=3 tháng 8 năm 2023 |title=Newcastle United Amazon Prime documentary: Release date, trailer, how to watch and which stars will feature |url=https://www.sportingnews.com/us/soccer/news/newcastle-united-amazon-prime-documentary-release-date-how-watch/rwk4ixdsq832ofgszsef2q3x |access-date=3 tháng 8 năm 2023 |website=www.sportingnews.com}}</ref><ref>{{Chú thích web |date=26 tháng 7 năm 2023 |title='We Are Newcastle United' launches weekly on Prime Video next month |url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/we-are-newcastle-united-launches-weekly-on-prime-video-next-month/ |access-date=3 tháng 8 năm 2023 |website=Newcastle United Football Club}}</ref> Trong [[Newcastle United F.C. mùa giải 2023-24|mùa giải 2023-24]], Newcastle bị loại ở vòng bảng Champions League.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/67697329 |title=Newcastle United 1-2 AC Milan |first=Phil |last=McNulty |website=BBC Sport |date=13 tháng 12 năm 2023 |access-date=22 tháng 3 năm 2024}}</ref>

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2025, Newcastle United giành danh hiệu quốc nội lớn đầu tiên kể từ năm 1955 sau khi đánh bại [[Liverpool F.C.|Liverpool]] với tỉ số 2-1 trong [[2025 EFL Cup final]] nhờ các bàn thắng của [[Dan Burn]] và [[Alexander Isak]].<ref>{{Chú thích báo |last=McNulty |first=Phil |date=16 tháng 3 năm 2025 |title=Howe's history men to go down in Newcastle folklore |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/c5y0wkzg4wxo |access-date=16 tháng 3 năm 2025 |work=[[BBC Sport]] |publisher=[[BBC]]}}</ref>

Vào ngày 5 tháng 9 năm 2025, Newcastle United thông báo bổ nhiệm [[David Hopkinson]] làm Giám đốc điều hành.<ref>{{Chú thích web |date=2025-09-04 |title=Newcastle news: David Hopkinson appointed as chief executive |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/c179g8yvq4ro |access-date=2025-09-10 |website=BBC Sport |language=en-GB}}</ref> Hopkinson, người trước đó từng giữ các chức vụ cấp cao tại [[Real Madrid]], [[Madison Square Garden Sports]] và [[Maple Leaf Sports & Entertainment]], kế nhiệm [[Darren Eales]]. Nhiệm vụ của ông bao gồm củng cố chiến lược thương mại của câu lạc bộ, mở rộng vị thế toàn cầu của câu lạc bộ và giám sát các dự án cơ sở hạ tầng dài hạn.<ref>{{Chú thích web |date=2025-09-04 |title=Former MSG chief Hopkinson named Newcastle CEO |url=https://www.espn.com/soccer/story/_/id/46154704/former-msg-chief-david-hopkinson-named-newcastle-ceo |access-date=2025-09-10 |website=ESPN.com |language=en}}</ref>

==Bản sắc câu lạc bộ==
{{Football kit box
| align = right
| pattern_la =
| pattern_b =
| pattern_ra =
| leftarm = FF0000
| body = FF0000
| rightarm = FF0000
| shorts = FFFFFF
| socks = FF0000
| title = Màu áo nguyên thủy của Newcastle United, được sử dụng cho đến năm 1894
}}
{{Commons|Trang phục thi đấu Newcastle United F.C.}}

Màu áo sân nhà của câu lạc bộ là áo sọc đen và trắng. Quần đùi và tất thường có màu đen với viền trắng, dù đôi khi tất trắng cũng được sử dụng. Màu áo của Newcastle trong buổi đầu nhìn chung là bộ trang phục sân nhà của Newcastle East End, gồm áo đỏ trơn, quần đùi trắng và tất đỏ. Năm 1894, câu lạc bộ sử dụng áo sọc đen-trắng, vốn trước đó là màu của đội dự bị. Những màu sắc này được chọn cho đội một vì chúng không gắn với bất kì đội nào trong hai đội đã hợp nhất để tạo nên United. Họ mặc quần đùi màu xám cho đến năm 1897, và từ năm 1897 đến năm 1921, họ mặc quần đùi màu xanh lam trước khi sử dụng quần đùi màu đen như hiện nay.<ref name=formation /><ref name=kits>{{Chú thích báo|url=http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United.htm|title=Newcastle United|website=Historical Football Kits|access-date=8 tháng 1 năm 2007|archive-url=https://web.archive.org/web/20120621235223/http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United.htm|archive-date=21 tháng 6 năm 2012}}</ref>

Màu áo sân khách của United đã thay đổi nhiều lần qua các năm. Họ mặc áo trắng và quần đùi đen từ năm 1914 đến năm 1961, rồi chuyển sang quần đùi trắng cho đến năm 1966. Sau đó, họ mặc áo vàng và quần đùi xanh lam ở mùa giải 1967-68, nhưng từ năm 1969 đến năm 1974 lại thi đấu trong trang phục đỏ toàn bộ, cùng một bộ áo thứ ba màu xanh lam toàn bộ. Năm 1974, họ quay lại dùng áo vàng, phối với nhiều màu quần đùi khác nhau cho đến năm 1983. Họ mặc trang phục xám toàn bộ từ năm 1983 đến năm 1988, trước khi một lần nữa trở lại với bộ áo vàng cho đến năm 1993. Kể từ năm 1995, [[away kit|trang phục sân khách]] thay đổi thường xuyên và chưa từng được giữ nguyên quá một mùa giải.<ref name=kits2>{{Chú thích báo|url=http://www.kitclassics.co.uk/kits/newcas~1.gif|title=Newcastle United|website=Classic Kits| access-date=8 tháng 1 năm 2007|archive-url=https://web.archive.org/web/20070106111637/http://www.kitclassics.co.uk/kits/newcas~1.gif| archive-date = 6 tháng 1 năm 2007}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United-change-kits.html|title=Change Kits|website=Historical Football Kits|access-date=11 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20120622234950/http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United-change-kits.html|archive-date=22 tháng 6 năm 2012}}</ref>

[[File:NUFC - Old Crest - Magpie.png|right|thumb|130px|Huy hiệu Newcastle United: 1983-1988]]

Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ lần đầu tiên được sử dụng ở [[Newcastle United F.C. mùa giải 1988-89|mùa giải 1988-89]]. Huy hiệu này bao gồm các yếu tố từ [[coat of arms|huy hiệu thành phố]] của [[Newcastle upon Tyne]]{{snd}}hai con cá ngựa biển tượng trưng cho mối liên hệ bền chặt của Tyneside với biển cả, còn tòa thành tượng trưng cho [[keep|thành trì]] của thành phố.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubCrest|title=Club Crest|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=12 tháng 4 năm 2011| archive-url=https://web.archive.org/web/20101204165344/http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/ClubCrest| archive-date=4 tháng 12 năm 2010|url-status=live}}</ref> Huy hiệu thành phố lần đầu tiên được thêu lên áo đấu của đội bóng vào năm 1969 và được sử dụng như huy hiệu chính thức cho đến năm 1976.<ref name=kits /> Một dải băng ở phía dưới mang khẩu hiệu của thành phố bằng tiếng Latin; ''fortiter defendit triumphans'', được dịch sang tiếng Anh là "chiến thắng nhờ phòng ngự dũng cảm".<ref>{{Chú thích web|title=The Coat of Arms of the City of Newcastle upon Tyne|url=http://www.newcastle.gov.uk/your-council/lord-mayor/coat-arms-city-newcastle-upon-tyne|publisher=Newcastle City Council|access-date=12 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20130528213731/http://www.newcastle.gov.uk/your-council/lord-mayor/coat-arms-city-newcastle-upon-tyne|archive-date=28 tháng 5 năm 2013|url-status=live}}</ref> Từ năm 1976 đến năm 1983, câu lạc bộ sử dụng một huy hiệu riêng được phát triển để thay thế huy hiệu thành phố. Thiết kế này có dạng hình tròn, với tên đầy đủ của câu lạc bộ, bên trong là một con [[Eurasian magpie|chim ác là]] đứng trước [[River Tyne]], với tòa thành cổ của Newcastle ở phía sau.<ref name=welt>{{Chú thích web|title=Newcastle United|url=http://www.weltfussballarchiv.com/Vereinsprofilnew.php?ID=4179|publisher=WeltFussballArchiv.com|access-date=10 tháng 1 năm 2008| archive-url= https://web.archive.org/web/20110919032747/http://www.weltfussballarchiv.com/Vereinsprofilnew.php?ID=4179|archive-date=19 tháng 9 năm 2011|url-status=live}}</ref> Một thiết kế đơn giản hơn được sử dụng sau đó vào năm 1983, với các chữ cái viết tắt tên câu lạc bộ là NUFC cùng con chim ác là nhỏ từng xuất hiện trong huy hiệu trước đó nằm trong chữ "C" đặt ngang; biểu trưng này tồn tại tương đối ngắn và bị ngừng sử dụng sau năm 1988.<ref name=welt/>

===Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu===

Vào tháng 5 năm 2013, Newcastle công bố một hợp đồng tài trợ với logo [[Wonga.com]] xuất hiện trên trang phục thi đấu. Điều này vấp phải sự chỉ trích từ nhiều cổ động viên Newcastle. Vào tháng 7 năm 2013, có thông tin cho rằng tiền đạo Newcastle và người Hồi giáo sùng đạo [[Papiss Cissé]] đã từ chối mặc bất kì trang phục thi đấu chính thức hoặc đồ tập luyện nào có liên quan đến Wonga.com vì điều đó không phù hợp với niềm tin tôn giáo của anh. Vấn đề sau đó đã được giải quyết.<ref>{{Chú thích báo|last=Smith|first=Ben|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/23455637|title=Papiss Cisse and Newcastle resolve shirt sponsor dispute|website=BBC Sport|date=25 tháng 7 năm 2013|access-date=4 tháng 2 năm 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20131017020739/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/23455637|archive-date=17 tháng 10 năm 2013|url-status=live}}</ref>

Vào ngày 15 tháng 5 năm 2017, áo sân nhà cho mùa giải 2017-18 đã được công bố, với logo của nhà tài trợ mới [[FUN88|Fun88]]. Áo đấu này có huy hiệu kỉ niệm màu vàng và bạc nhằm đánh dấu mùa giải bóng đá thứ 125 của câu lạc bộ, dựa trên huy hiệu thành phố. Cũng có thông báo rằng bộ trang phục này sẽ có số áo màu đỏ lần đầu tiên kể từ mùa giải 1992-93.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/new-kit-a-closer-look|title=Newcastle United New kit: A closer look|publisher=Newcastle United F.C.|date=14 tháng 6 năm 2017|access-date=21 tháng 10 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180817024609/https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/new-kit-a-closer-look|archive-date=17 tháng 8 năm 2018|url-status=live}}</ref>

Nhà tài trợ hiện tại trên áo đấu của Newcastle United là [[Sela (company)|Sela]], trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2023.<ref>{{Chú thích web|title=Newcastle United & Sela agree multi-year front of shirt partnership|url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/newcastle-united-sela-agree-multi-year-front-of-shirt-partnership/|publisher=Newcastle United F.C.|date=9 tháng 6 năm 2023|access-date=9 tháng 6 năm 2023}}</ref> Các nhà tài trợ áo đấu trước đây gồm [[Scottish & Newcastle|Newcastle Breweries]] (1980-1986), [[De Vere Group|Greenall's Beers]] (1986-1990), [[McEwan's|McEwan's Lager]] và [[Newcastle Brown Ale]] (1990-2000), [[NTL Incorporated|NTL]] (2000-2003), [[Northern Rock]] (2003-2012), [[Virgin Money UK|Virgin Money]] (2012-2013), Wonga.com (2013-2017), và [[FUN88|Fun88]] (2017-2023).<ref>{{Chú thích web|title=Newcastle shirt sponsors|url=https://www.oldfootballshirts.com/en/teams/n/newcastle/sponsors-t14.html|access-date=18 tháng 3 năm 2022|website=oldfootballshirts.com|language=en}}</ref>

Nhà sản xuất trang phục hiện tại của Newcastle United là [[Adidas]], trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2024.<ref>{{Chú thích web|title=Newcastle United announces Adidas partnership|url= https://www.newcastleunited.com/en/news/newcastle-united-and-adidas-unveil-home-kit-for-2024-25-season|publisher=Newcastle United F.C.|date=7 tháng 6 năm 2024|access-date=7 tháng 6 năm 2024}}</ref> Các nhà sản xuất trang phục trước đây bao gồm [[Bukta]] (1974-1975, 1976-1980), [[Umbro]] (1975-1976, 1980-1993), [[Asics]] (1993-1995), Adidas (1995-2010, 2024-nay), [[Puma (brand)|Puma]] (2010-2021), và [[Castore]] (2021-2024).{{citation needed|date=tháng 10 năm 2023}}

Nhà tài trợ tay áo hiện tại của Newcastle United là Noon, trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2022.<ref>{{Chú thích web|title=noon.com becomes Newcastle United's official sleeve partner|url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/nooncom-becomes-official-sleeve-partner/|publisher=Newcastle United F.C.|date=27 tháng 6 năm 2022|access-date=27 tháng 6 năm 2022}}</ref> Các nhà tài trợ tay áo trước đây bao gồm [[MRF Tyres]] (2017-2018), StormGain (2019-2020), ICM.com (2020-2021), và [[Kayak (company)|Kayak]] (2021-2022).<ref>{{Chú thích web|title=KAYAK named Newcastle United's official shirt sleeve sponsor - Newcastle United|url=https://www.newcastleunited.com/en/news/kayak-named-newcastle-uniteds-official-shirt-sleeve-sponsor|access-date=2024-08-10|website=www.newcastleunited.com|language=en}}</ref>

Các đối tác hiện tại khác của đội bóng bao gồm [[FUN88|Fun88]], [[BetMGM]], [[Carling]], [[Monster Energy]], [[TGP Europe|Sportsbet.io]], [[InPost]], [[Fenwick (department store)|Fenwick]] và [[Saudia]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.nufc.co.uk/club/partners/current-partners/|title=Club partners|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=28 tháng 3 năm 2022}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.footballshirtculture.com/History/a-christmas-football-shirt-storie.html|title=A shirty Christmas with Bukta|website=Football Shirt Culture.com|access-date=20 tháng 3 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170320235136/http://www.footballshirtculture.com/History/a-christmas-football-shirt-storie.html|archive-date=20 tháng 3 năm 2017|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United.htm|title=Kit History|website=Historical Football Kits|access-date=9 tháng 1 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20120621235223/http://www.historicalkits.co.uk/Newcastle_United/Newcastle_United.htm|archive-date=21 tháng 6 năm 2012}}</ref>

{| class="wikitable" style="text-align:center;margin-left:1em"
|-
! Giai đoạn !!Nhà sản xuất trang phục!!Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước)!!Nhà tài trợ áo đấu (tay áo)
!Nhà tài trợ áo đấu (mặt sau)
|-
|1974-1975|| [[Bukta]]|| rowspan=3| ''Không có tài trợ''|| rowspan=14| ''Không có tài trợ''
| rowspan="21"|''Không có tài trợ''
|-
|1975-1976|| [[Umbro]]
|-
|1976-1980|| [[Bukta]]
|-
|1980-1986|| rowspan=3|[[Umbro]]|| [[Scottish & Newcastle|Newcastle Breweries]]
|-
|1986-1990|| [[De Vere Group|Greenall's Beers]]
|-
|1990-1993|| rowspan=3| [[Newcastle Brown Ale]] / [[McEwan's|McEwan's Lager]]
|-
|1993-1995|| [[Asics]]
|-
|1995-1996|| rowspan=4|[[Adidas]]
|-
|1996-2000|| [[Newcastle Brown Ale]]
|-
|2000-2003|| [[NTL Incorporated|NTL]]
|-
|2003-2010|| rowspan=2| [[Northern Rock]]
|-
|2010-2012|| rowspan=7| [[Puma (brand)|Puma]]
|-
|2012-2013|| [[Virgin Money UK|Virgin Money]]
|-
|2013-2017|| [[Wonga.com]]
|-
|2017-2018|| rowspan=6| [[FUN88|Fun88]]|| [[MRF Tyres]]
|-
|2018-2019|| ''Không có tài trợ''
|-
|2019-2020|| StormGain
|-
|2020-2021|| ICM.com
|-
|2021-2022|| rowspan=3|[[Castore]]|| [[Kayak (company)|Kayak]]
|-
|2022-2023|| rowspan=4|Noon
|-
|2023-2024|| rowspan=3|[[Sela (company)|Sela]]
|-
|2024-2025|| rowspan=2|[[Adidas]]|| [[Sam Fender]] (''[[People Watching (album)|People Watching]]'')
|-
|2025–|| ''Không có tài trợ''
|}

==Sân vận động==
{{Main|St James' Park}}

[[File:NUFC av attendances.jpg|thumb|Newcastle đã 10 lần là câu lạc bộ có lượng khán giả cao nhất Football League. Câu lạc bộ là đội đầu tiên trên thế giới thu hút hơn một triệu khán giả cho các trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia (1946-47) và đạt trung bình hơn 50.000 khán giả cho các trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia (1947-48; 56.283).]]

Trong suốt lịch sử của Newcastle United, sân nhà của họ là St James' Park, sân vận động bóng đá lâu đời nhất và lớn nhất vùng Đông Bắc nước Anh, đồng thời là sân vận động bóng đá lớn thứ bảy tại Premier League. Sân đã tổ chức 11 trận bóng đá quốc tế cấp đội tuyển quốc gia, trận đầu tiên vào năm 1901 và trận gần nhất vào năm 2024.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.englandfootballonline.com/MatchRsl/MatchRsl1900.html|title=England's Matches 1900-1914|website=England Football Online| access-date= 13 tháng 4 năm 2011| archive-url= https://web.archive.org/web/20111108121358/http://englandfootballonline.com/MatchRsl/MatchRsl1900.html| archive-date= 8 tháng 11 năm 2011| url-status= live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.englandfootballonline.com/seas2000-10/2004-05/M0826Aze2005.html|title=England 2 Azerbaijan 0|website=England Football Online| access-date= 13 tháng 4 năm 2011| archive-url= https://web.archive.org/web/20110317041314/http://www.englandfootballonline.com/Seas2000-10/2004-05/M0826Aze2005.html| archive-date= 17 tháng 3 năm 2011| url-status= live}}</ref> Sân được sử dụng làm địa điểm thi đấu cho cả [[2012 Summer Olympics]] lẫn [[2015 Rugby World Cup]],<ref name=olympic>{{Chú thích web|url=http://www.london2012.com/games/venues/st-james-park.php|title=sports direct arena|format=PHP|access-date = 13 tháng 4 năm 2011|archive-url =https://web.archive.org/web/20110713232040/http://www.london2012.com/games/venues/st-james-park.php|archive-date = 13 tháng 7 năm 2011|df=dmy-all}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.thenorthernecho.co.uk/news/4516330.Newcastle_s_St_James__Park_to_be_Rugby_World_Cup_venue/|title=Newcastle's St James' Park to be Rugby World Cup venue|first=Andrew|last=White|date=28 tháng 7 năm 2009|newspaper=The Northern Echo|access-date= 13 tháng 4 năm 2011|archive-url =https://web.archive.org/web/20090731053617/http://www.thenorthernecho.co.uk/news/4516330.Newcastle_s_St_James__Park_to_be_Rugby_World_Cup_venue/|archive-date = 31 tháng 7 năm 2009|url-status= live}}</ref> và cũng thường xuyên là nơi tổ chức [[Magic Weekend]] của Rugby League, thu hút lượng khán giả kỉ lục.{{citation needed|date=tháng 10 năm 2023}}

Bóng đá đã được chơi tại St James' Park từ sớm nhất là năm 1880, khi khu sân này do Newcastle Rangers sử dụng, trước khi trở thành sân nhà của Newcastle West End vào năm 1886. Hợp đồng thuê sân sau đó được Newcastle East End mua lại vào năm 1892, trước khi đội bóng đổi tên thành Newcastle United. Vào đầu thế kỉ 20, sức chứa của sân được ghi nhận là 30.000 chỗ trước khi được tái phát triển từ năm 1900 đến năm 1905, nâng sức chứa lên 60.000 và trong một thời gian trở thành sân vận động lớn nhất nước Anh. Trong phần lớn thế kỉ 20, sân vận động thay đổi rất ít, dù đã có nhiều kế hoạch phát triển. Khán đài Tây cũ được thay bằng Khán đài Milburn vào năm 1987, Khán đài Sir John Hall thay thế Leazes End vào năm 1993, và phần còn lại của sân được cải tạo để biến nơi đây thành một [[all-seater stadium|sân vận động toàn ghế ngồi]] có sức chứa 37.000 chỗ. Trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2000, các tầng khán đài kép được bổ sung cho Khán đài Milburn và Khán đài Sir John Hall để nâng sức chứa của địa điểm này lên mức hiện tại là 52.305 chỗ.<ref name="officialsitehistory3">{{Chú thích web|title=Newcastle United official site] St James' Park Story, Part 2|url=http://www.nufc.premiumtv.co.uk/page/StJamesParkDetail/0,.10278~226535.00.html|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20080307201620/http://www.nufc.premiumtv.co.uk/page/StJamesParkDetail/0,.10278~226535.00.html|archive-date=7 tháng 3 năm 2008|access-date=3 tháng 3 năm 2008}}</ref>

{{wide image|StJamesParkPanorama.jpg|1000px|Toàn cảnh St James' Park nhìn từ Khán đài Milburn, cho thấy từ trái sang phải là Khán đài Sir John Hall, Khán đài Đông và Gallowgate End}}

Vào tháng 10 năm 2009, Ashley thông báo rằng ông có kế hoạch cho thuê tên sân để tăng doanh thu, và đến tháng 11 sân vận động tạm thời được đổi tên thành sportsdirect.com @ St James' Park Stadium.<ref name=off_market /><ref name=direct>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/8342406.stm|title=Newcastle reveal new stadium name|website=BBC Sport|date=4 tháng 11 năm 2009|access-date=4 tháng 11 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20091105044920/http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/8342406.stm|archive-date=5 tháng 11 năm 2009|url-status=live}}</ref> Tên gọi này lẽ ra chỉ được sử dụng đến hết [[Newcastle United F.C. mùa giải 2009-10|mùa giải 2009-10]], nhưng đã kéo dài đến tháng 11 năm 2011.<ref name=direct /><ref>{{Chú thích web|url=http://www.mirrorfootball.co.uk/news/Newcastle-owner-Mike-Ashley-has-spent-a-staggering-285-8million-on-the-club-so-far-it-can-be-revealed-today-article718115.html|title=Newcastle 'have cost Ashley £285.8m so far'|first=Simon|last=Bird|date=29 tháng 3 năm 2011|newspaper=Daily Mirror|location=London|access-date=13 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20110402150324/http://www.mirrorfootball.co.uk/news/Newcastle-owner-Mike-Ashley-has-spent-a-staggering-285-8million-on-the-club-so-far-it-can-be-revealed-today-article718115.html|archive-date=2 tháng 4 năm 2011}}</ref> Vào ngày 10 tháng 11 năm 2011, câu lạc bộ chính thức đổi tên sân thành Sports Direct Arena, dù đây chỉ là một tên gọi tạm thời nhằm thể hiện khả năng tài trợ của sân vận động. Công ty thuộc sở hữu của Ashley không trả bất kì khoản nào cho thỏa thuận này.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/8882563/Newcastle-United-insist-Sports-Direct-Arena-name-change-is-essential-to-help-pay-for-new-striker.html|title=Newcastle United insist Sports Direct Arena name change is essential to help pay for new striker|newspaper=The Daily Telegraph|location=London|date=10 tháng 11 năm 2011|access-date=16 tháng 11 năm 2011|first=Luke|last=Edwards|archive-url=https://web.archive.org/web/20111113185206/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/8882563/Newcastle-United-insist-Sports-Direct-Arena-name-change-is-essential-to-help-pay-for-new-striker.html|archive-date=13 tháng 11 năm 2011|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=http://www.skysports.com/skysportsnews/story/0.28679.19494_7301431.00.html|title=Magpies&nbsp;– We need the money|website=Sky Sports|date=10 tháng 11 năm 2011|access-date=16 tháng 11 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20111112015328/http://www.skysports.com/skysportsnews/story/0.28679.19494_7301431.00.html|archive-date=12 tháng 11 năm 2011|url-status=live}}</ref> Vào tháng 10 năm 2012, công ty [[payday loan]] Wonga.com trở thành nhà tài trợ thương mại chính của Newcastle United và mua quyền đặt tên sân, nhưng khôi phục lại tên St James' Park.<ref>{{Chú thích báo|title=Newcastle United sponsorship deal with Wonga sees stadium becoming St James' Park again|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/9596399/Newcastle-United-sponsorship-deal-with-Wonga-sees-stadium-becoming-St-James-Park-again.html|archive-url=https://wayback.archive-it.org/all/20121010035657/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/newcastle-united/9596399/Newcastle-United-sponsorship-deal-with-Wonga-will-see-St-James-Park-reinstated-as-stadium-name.html|archive-date=10 tháng 10 năm 2012|newspaper=The Daily Telegraph|location=London|access-date=9 tháng 10 năm 2012}}</ref>

Sau khi khép lại mùa giải 22/23, một phần nhỏ ghế ngồi giữa Khán đài Đông và Gallowgate End đã được chuyển thành các khu vực [[Safe standing|khán đài đứng an toàn]], đồng nghĩa lần đầu tiên kể từ năm 1993 St James' Park không còn là sân vận động toàn ghế ngồi, tương tự như nhiều sân bóng khác tại Premier League.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.shieldsgazette.com/sport/football/newcastle-united/work-underway-at-st-james-park-as-newcastle-united-fans-get-new-safe-standing-section-4197932|first=Miles|last=Starforth|title=Work underway at St James' Park as Newcastle United fans get new section|date=2023-06-27|website=shieldsgazette.com}}</ref>

Vào tháng 7 năm 2023, có xác nhận rằng sau khi mua lại Strawberry Place, kế hoạch xây dựng một khu vực dành cho người hâm mộ mới bên ngoài Gallowgate End đã được đệ trình. Công trình này sẽ được xây dựng với sự hợp tác của Stack và Sela (nhà tài trợ mặt trước áo đấu của câu lạc bộ).<ref>{{Chú thích web|date=2023-07-26|title=Planning under way for Strawberry Place fan zone|url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/planning-under-way-for-strawberry-place-fan-zone/|access-date=2023-07-26|website=Newcastle United Football Club|language=en}}</ref>

Từ năm 1982, sân vận động được phục vụ bởi [[St James Metro station]] trên hệ thống [[Tyne and Wear Metro]]. Nhà ga được trang trí theo tông màu đen và trắng, cùng những bức ảnh lưu trữ về các cầu thủ của câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.thetrams.co.uk/tyneandwear/stations/St._James|title=St. James|website=TheTrams.co.uk|publisher=Peter Courtenay|access-date=10 tháng 5 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20110526080045/http://www.thetrams.co.uk/tyneandwear/stations/St._James|archive-date=26 tháng 5 năm 2011|url-status=live }}</ref>

Sân tập hiện tại của câu lạc bộ là Newcastle United Training Centre, nằm tại [[Darsley Park]], ở phía bắc thành phố thuộc khu vực [[Benton, Newcastle upon Tyne|Benton]]. Cơ sở này được mở cửa vào tháng 7 năm 2003.{{citation needed|date=tháng 10 năm 2023}}

Sau khi câu lạc bộ được tiếp quản quyền sở hữu vào năm 2021, Training Centre đã được cải tạo đáng kể, với khu lễ tân mới, nhà hàng, phòng sinh hoạt của cầu thủ, phòng thuyết trình, văn phòng, cơ sở y tế, phòng thay đồ và khu thủy trị liệu đều được xây dựng mới.<ref>{{Chú thích web|title=A Tour of Newcastle United's New Look Training Ground!| date=30 tháng 5 năm 2023|url=https://www.youtube.com/watch?v=1QPp-UAJXD4|publisher=Newcastle United|access-date=12 tháng 6 năm 2023}}</ref>

==Quyền sở hữu==
Newcastle United được thành lập như một [[private company limited by shares|công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân theo cổ phần]] vào ngày 6 tháng 9 năm 1895.<ref name=history /> Câu lạc bộ hoạt động theo mô hình này trong phần lớn thế kỉ 20, với quyền sở hữu chủ yếu nằm trong tay các gia đình McKeag, Westwood và Seymour.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=80OIAwAAQBAJ&q=McKeag+seymour+and+westwood+families&pg=PT23|title=Newcastle United: The Day the Promises Had to Stop|first=Denis|last=Cassidy|publisher=Amberley Publishing|year=2012|isbn=978-1445609034}}</ref>

John Hall, người đã mua 79,2% cổ phần của câu lạc bộ với giá 3 triệu bảng Anh vào năm 1991, đã đưa câu lạc bộ niêm yết trên sàn chứng khoán với tư cách một [[public limited company|công ty đại chúng trách nhiệm hữu hạn]] vào tháng 4 năm 1997. Sau đợt niêm yết, 57% cổ phần được nắm giữ bởi John Hall và gia đình ông, trong khi một phần thiểu số thuộc về đối tác kinh doanh của ông là Freddy Shepherd.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2006/feb/08/newsstory.sport8|title=How the Geordie Nation turned into a cash cow|first=David|last=Conn|date=8 tháng 2 năm 2006|newspaper=The Guardian|location=London|access-date=13 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20140921044606/http://www.theguardian.com/football/2006/feb/08/newsstory.sport8|archive-date=21 tháng 9 năm 2014|url-status=live}}</ref>

Vào tháng 12 năm 1998, sau khi mua 6,3% cổ phần của câu lạc bộ với giá 10 triệu bảng Anh, tập đoàn truyền thông [[Virgin Media|NTL]] đã cân nhắc một thương vụ tiếp quản toàn bộ câu lạc bộ. Tuy nhiên, kế hoạch này sau đó bị hủy bỏ sau khi [[Competition Commission]], được thành lập vào tháng 4 năm 1999, bày tỏ lo ngại về việc các câu lạc bộ bóng đá thuộc sở hữu của các công ty truyền thông.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.ukbusinesspark.co.uk/ned66412.htm|title=Newcastle United|work=ukbusinesspark.co.uk|access-date=5 tháng 8 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080222023947/http://www.ukbusinesspark.co.uk/ned66412.htm|archive-date=22 tháng 2 năm 2008}}</ref>

[[File:AshleyOut2015.JPG|thumb|upright|Cổ động viên Newcastle giương các tấm bảng ''Mike Ashley Out'' trong trận sân khách gặp QPR, tháng 5 năm 2015.]]

Năm 2007, doanh nhân Mike Ashley mua lại tổng số cổ phần của cả Douglas Hall và John Hall, tương đương 41% cổ phần của câu lạc bộ, thông qua công ty nắm giữ [[St James Holdings]], với mục tiêu mua nốt phần còn lại.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a7JILUkOGnFc&refer=uk|title=Ashley, Retail Billionaire, Offers to Buy Newcastle|first=Ravi|last=Ubha|date=23 tháng 5 năm 2007|publisher=Bloomberg L.P.|access-date=13 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20121105040821/http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a7JILUkOGnFc&refer=uk|archive-date=5 tháng 11 năm 2012}}</ref> Sau khi mua số cổ phần này, ông bổ nhiệm Chris Mort làm chủ tịch, đồng thời tiếp tục gia tăng số cổ phần nắm giữ, đạt 93,19% cổ phần câu lạc bộ vào ngày 29 tháng 6 năm 2007.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2007/jun/29/newsstory.sport8|title=Ashley tightens grip on Magpies|date=29 tháng 6 năm 2007|newspaper=The Guardian|location=London|access-date=13 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20141005021342/http://www.theguardian.com/football/2007/jun/29/newsstory.sport8|archive-date=5 tháng 10 năm 2014|url-status=live}}</ref> Con số này tăng lên 95% vào ngày 11 tháng 7 năm 2007, buộc các cổ đông còn lại phải bán cổ phần của họ.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.thetimes.com/article/ashley-poised-to-complete-newcastle-buy-out-2fxh2fjcq88|title=Ashley poised to complete Newcastle buy-out|date=11 tháng 7 năm 2007|newspaper=[[The Times]]|location=London|access-date=15 tháng 1 năm 2025}}</ref>

Sau khi hoàn tất việc mua lại câu lạc bộ, Ashley đã ba lần tuyên bố ý định bán Newcastle. Lần đầu tiên diễn ra sau các cuộc biểu tình của người hâm mộ phản đối việc Kevin Keegan từ chức vào tháng 9 năm 2008, khi Ashley nói: "Tôi đã lắng nghe các bạn. Các bạn muốn tôi rời đi. Đó là điều tôi đang cố gắng làm lúc này".<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/7615618.stm|title=Ashley puts Newcastle up for sale|date=14 tháng 9 năm 2008|website=BBC Sport|access-date = 13 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20090607104014/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7615618.stm|archive-date = 7 tháng 6 năm 2009|url-status = live}}</ref> Tuy nhiên, ông rút câu lạc bộ khỏi thị trường vào ngày 28 tháng 12 năm 2008 vì không tìm được người mua.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7801792.stm|title=Ashley calls off Newcastle sale|date=28 tháng 12 năm 2008|website=BBC Sport|access-date = 28 tháng 12 năm 2008|archive-url = https://web.archive.org/web/20081231023434/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/7801792.stm|archive-date = 31 tháng 12 năm 2008|url-status = live}}</ref> Vào ngày 31 tháng 5 năm 2009, có thông tin cho rằng Ashley đang cố gắng bán câu lạc bộ một lần nữa.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/n/newcastle_united/8075713.stm|title=Ashley wants quick Newcastle sale|website=BBC Sport|date=31 tháng 5 năm 2009|access-date = 1 tháng 6 năm 2009|archive-url = https://web.archive.org/web/20090602191426/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/n/newcastle_united/8075713.stm|archive-date = 2 tháng 6 năm 2009|url-status = live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/todays-evening-chronicle/2009/06/01/mike-ashley-puts-newcastle-united-up-for-sale-again-72703-23760895/|title=Mike Ashley puts Newcastle United up for sale again|newspaper=Evening Chronicle|location=Newcastle upon Tyne|date=1 tháng 6 năm 2009|access-date=1 tháng 6 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20090605162423/http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/todays-evening-chronicle/2009/06/01/mike-ashley-puts-newcastle-united-up-for-sale-again-72703-23760895/|archive-date=5 tháng 6 năm 2009}}</ref> Vào ngày 8 tháng 6 năm 2009, Ashley xác nhận rằng câu lạc bộ được rao bán với mức giá 100 triệu bảng Anh.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.thetimes.com/article/mike-ashley-brings-more-embarrassment-on-newcastle-says-george-caulkin-2wjlfbpv778|title=Mike Ashley brings more embarrassment on Newcastle|first=George|last=Caulkin|date=8 tháng 6 năm 2009|newspaper=[[The Times]]|location=London| access-date=15 tháng 1 năm 2025}}</ref> Đến cuối tháng 8 năm 2009, câu lạc bộ lại được rút khỏi thị trường.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.thenorthernecho.co.uk/sport/4561352.Is_Ashley_ready_to_make_a_definitive_decision_/|title=Is Ashley ready to make a definitive decision?|first=Andy|last=Richardson|date=24 tháng 8 năm 2009|newspaper=The Northern Echo|access-date = 14 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20121005121846/http://www.thenorthernecho.co.uk/sport/4561352.Is_Ashley_ready_to_make_a_definitive_decision_/|archive-date = 5 tháng 10 năm 2012}}</ref> Vào ngày 16 tháng 10 năm 2017, Newcastle United thông báo rằng Ashley một lần nữa đưa câu lạc bộ ra bán, đồng thời cho biết ông hi vọng một thỏa thuận có thể được hoàn tất trước dịp Giáng sinh năm 2017.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/41643718|title=Newcastle United: Mike Ashley puts Premier League club up for sale|date=16 tháng 10 năm 2017|website=BBC Sport|access-date=16 tháng 10 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20171016165334/http://www.bbc.co.uk/sport/football/41643718|archive-date=16 tháng 10 năm 2017|url-status=live}}</ref>

===Thương vụ tiếp quản do Saudi Arabia dẫn đầu===
{{Main|Vụ tiếp quản Newcastle United F.C. năm 2021}}

Vào tháng 4 năm 2020, truyền thông rộng rãi đưa tin rằng một liên danh gồm Public Investment Fund, PCP Capital Partners và RB Sports & Media đang hoàn tất lời đề nghị mua lại Newcastle United. Đề xuất bán này đã gây ra lo ngại và chỉ trích, chẳng hạn như những lập luận xem đây là hành vi [[sportwashing]] cho thành tích [[nhân quyền của Saudi Arabia]], cũng như vấn nạn phát sóng thể thao lậu đang tiếp diễn trong khu vực.<ref>{{Chú thích báo|last=Panja|first=Tariq|date=30 tháng 4 năm 2020|title=As Premier League Weighs Saudi Bid for Newcastle, It Criticized Kingdom|newspaper=The New York Times|url=https://www.nytimes.com/2020/04/30/sports/premier-league-saudi-arabia.html|access-date=4 tháng 5 năm 2020|issn=0362-4331|archive-url=https://web.archive.org/web/20200504054203/https://www.nytimes.com/2020/04/30/sports/premier-league-saudi-arabia.html|archive-date=4 tháng 5 năm 2020|url-status=live}}</ref>

Vào tháng 5 năm 2020, hai nghị sĩ [[Đảng Bảo thủ (Vương quốc Liên hiệp Anh)|Bảo thủ]] đã kêu gọi chính phủ xem xét chặt chẽ một số khía cạnh của thương vụ, trong đó [[Karl McCartney]] kêu gọi chặn thương vụ, còn [[Giles Watling]] kêu gọi [[Department for Digital, Culture, Media and Sport]] (DCMS) tổ chức một phiên điều trần bằng chứng miệng بشأن nạn vi phạm bản quyền thể thao ở Saudi Arabia.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.thetimes.com/sport/football/article/newcastle-uniteds-potential-saudi-takeover-hits-another-serious-stumbling-block-mgjbwv8gw|title=Opposition grows to Newcastle United's potential Saudi takeover|first=Martyn|last=Ziegler|newspaper=[[The Times]]|location=London|date=15 tháng 5 năm 2020|access-date=9 tháng 1 năm 2023|url-access=subscription}}</ref> Vào tháng 5 năm 2020, ''[[The Guardian]]'' đưa tin rằng Premier League đã tiếp cận được một báo cáo từ [[World Trade Organization]] (được công bố công khai vào tháng sau), trong đó có bằng chứng cho thấy các công dân Saudi đã hậu thuẫn cho [[beoutQ]] – một đài phát sóng lậu mang các kênh của [[beIN Sports]] trong khu vực kể từ [[Qatar diplomatic crisis]].<ref>{{Chú thích web|last=Vivarelli|first=Nick|date=16 tháng 6 năm 2020|title=World Trade Organization Rules There is Evidence Saudi Arabia Supported Pirate Broadcaster beoutQ|url=https://variety.com/2020/tv/global/world-trade-organization-rules-evidence-saudi-arabia-supported-pirate-broadcaster-beoutq-1234636962/|access-date=17 tháng 6 năm 2020|website=Variety}}</ref><ref>{{Chú thích web|date=16 tháng 6 năm 2020|title=WTO piracy ruling casts fresh doubt over Newcastle's Saudi takeover|url=https://www.sportspromedia.com/news/newcastle-takeover-wto-ruling-saudi-arabia-piracy-beoutq-bein-sports|access-date=17 tháng 6 năm 2020|website=SportsPro Media}}</ref><ref>{{Chú thích báo|last=Ingle|first=Sean|date=26 tháng 5 năm 2020|title=Newcastle takeover in serious doubt as WTO rules pirate TV channel is Saudi|newspaper=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2020/may/26/newcastle-takeover-in-serious-doubt-as-wto-rules-pirate-tv-channel-is-saudi|access-date=10 tháng 7 năm 2020}}</ref> Vào tháng 6 năm 2020, ''The Guardian'' đưa tin rằng [[Richard Masters (cầu thủ bóng đá)|Richard Masters]], khi xuất hiện trước DCMS, đã ngụ ý rằng thương vụ tiếp quản Newcastle United có thể sắp hoàn tất. Các nghị sĩ cảnh báo rằng việc để một liên danh Saudi Arabia nắm quyền sẽ là điều đáng xấu hổ, xét đến hồ sơ của quốc gia này về vi phạm bản quyền và nhân quyền.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2020/jun/30/newcastle-takeover-saga-close-to-resolution-richard-masters-tells-mps?CMP=share_btn_tw|title=Newcastle takeover saga close to resolution, Richard Masters tells Mps|newspaper=The Guardian|date=30 tháng 6 năm 2020|access-date=30 tháng 6 năm 2020}}</ref>

[[File:Newcastle United fans gather celebrating new ownership.jpg|thumb|280px|Hình ảnh từ 100% MAGS, cho thấy hàng nghìn cổ động viên NUFC ăn mừng thương vụ tiếp quản hoàn tất bên ngoài St James' Park vào ngày 7 tháng 10 năm 2021<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/newcastle-united-takeover-saudi-mike-ashley-b1934406.html|archive-url=https://ghostarchive.org/archive/20220618/https://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/newcastle-united-takeover-saudi-mike-ashley-b1934406.html|archive-date=18 tháng 6 năm 2022|url-access=subscription|url-status=live|title=Newcastle United fans celebrate wildly outside St James's Park after Saudi-led takeover confirmed|newspaper=The Independent|date=7 tháng 10 năm 2021|access-date=20 tháng 10 năm 2021}}</ref>]]

Vào tháng 7 năm 2020, ''The Guardian'' đưa tin rằng quyết định của Saudi Arabia cấm beIN Sports phát sóng trong nước đã càng làm phức tạp thêm thương vụ tiếp quản Newcastle United.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2020/jul/14/saudi-arabia-bans-bein-sport-to-further-complicate-300m-newcastle-takeover|title=Saudi Arabia bans beIN Sports to further complicate £300m Newcastle takeover|access-date=14 tháng 7 năm 2020|newspaper=The Guardian|date=14 tháng 7 năm 2020}}</ref> Vào ngày 30 tháng 7 năm 2020, Saudi Arabia thông báo rút khỏi thương vụ Newcastle, cho biết rằng "với sự trân trọng sâu sắc dành cho cộng đồng Newcastle và tầm quan trọng của câu lạc bộ bóng đá này, chúng tôi đã đi đến quyết định rút lại sự quan tâm trong việc mua lại Newcastle United Football Club". Nhóm này cũng nói thêm rằng "quá trình kéo dài" là một yếu tố quan trọng dẫn đến quyết định rút lui.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.aljazeera.com/ajimpact/saudi-bid-buy-newcastle-ends-piracy-human-rights-issues-200730151208845.html|title=Saudi bid to buy Newcastle ends after piracy, human rights issues|access-date=30 tháng 7 năm 2020|publisher=Al Jazeera}}</ref> Việc thương vụ đổ vỡ đã vấp phải sự chỉ trích rộng rãi từ người hâm mộ Newcastle, trong đó nghị sĩ Newcastle [[Chi Onwurah]] cáo buộc Premier League đối xử với người hâm mộ câu lạc bộ bằng "sự khinh miệt", và sau đó đã viết thư cho Masters để yêu cầu giải thích.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.chroniclelive.co.uk/news/north-east-news/newcastle-mp-slams-premier-league-18691855|title=Newcastle MP slams Premier League for treatment of fans during takeover process|access-date=30 tháng 7 năm 2020|newspaper=Evening Chronicle|location=Newcastle upon Tyne|date=30 tháng 7 năm 2020}}</ref>

Bất chấp việc liên danh đã rút lui, các tranh chấp liên quan đến thương vụ tiếp quản vẫn tiếp tục. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2020, Newcastle United ra tuyên bố cho rằng Premier League đã chính thức bác bỏ thương vụ tiếp quản của liên danh này và cáo buộc Masters cùng ban lãnh đạo Premier League "[không] hành xử phù hợp liên quan đến [thương vụ tiếp quản]", đồng thời tuyên bố rằng câu lạc bộ sẽ cân nhắc mọi hành động pháp lí liên quan.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/club-statement-1/|title=Club statement|date=9 tháng 9 năm 2020|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=9 tháng 9 năm 2020}}</ref> Premier League đã mạnh mẽ phủ nhận điều này trong một tuyên bố đưa ra vào ngày hôm sau, bày tỏ "sự ngạc nhiên" và "thất vọng" trước tuyên bố của Newcastle.<ref>{{Chú thích web|url=https://talksport.com/football/757634/premier-league-newcastle-club-statement/|title=Premier League adamant they have not rejected Newcastle's takeover bid and say they are 'disappointed' and 'surprised' by club's statement|first=Oliver|last=Dawnay|website=talkSPORT|date=10 tháng 9 năm 2020|access-date=9 tháng 1 năm 2023}}</ref>

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, Public Investment Fund, PCP Capital Partners và RB Sports & Media xác nhận rằng họ đã chính thức hoàn tất việc mua lại Newcastle United.<ref name="Newcastle United F.C"/> Một cuộc điều tra vào tháng 5 năm 2022 của ''The Guardian'' cho rằng chính phủ Anh của [[Boris Johnson]] đã có liên quan đến thương vụ tiếp quản Newcastle United của Saudi Arabia.<ref name="Guardian-24-05-2022">{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/football/2022/may/24/government-did-encourage-premier-league-to-approve-saudi-newcastle-takeover|title=Revealed: government did encourage Premier League to approve Newcastle takeover|access-date=24 tháng 5 năm 2022|newspaper=The Guardian|date=24 tháng 5 năm 2022}}</ref> Vào tháng 4 năm 2021, có tiết lộ rằng Thái tử Saudi [[Mohammed bin Salman]] đã cảnh báo Johnson qua một tin nhắn văn bản, nói rằng quyết định của Premier League sẽ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao Anh-Saudi. Sau lời cảnh báo đó, Johnson đã cử đặc phái viên phụ trách vùng Vịnh của mình là [[Edward Lister, Baron Udny-Lister|Edward Lister]] vào cuộc.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/world/2021/apr/15/saudis-asked-boris-johnson-to-intervene-in-newcastle-united-bid|title=Saudi crown prince asked Boris Johnson to intervene in Newcastle United bid|access-date=15 tháng 4 năm 2021|newspaper=The Guardian|date=15 tháng 4 năm 2021}}</ref> Sau đó có thông tin cho rằng những nỗ lực sâu rộng của Johnson còn liên quan đến Bộ trưởng Đầu tư [[Gerry Grimstone, Baron Grimstone of Boscobel|Gerry Grimstone]], người đã thảo luận với chủ tịch Premier League [[Gary Hoffman (doanh nhân)|Gary Hoffman]] và các đại diện Saudi có quan hệ chặt chẽ với văn phòng của MBS. Chính phủ Anh và Johnson nói rằng họ không liên quan đến thương vụ tiếp quản của Saudi Arabia. Sau khi được Premier League chấp thuận, Hoffman đã thông báo với 20 câu lạc bộ bóng đá Anh rằng chính phủ đã gây áp lực rất lớn; ông nói rằng quyết định không bị ảnh hưởng bởi điều đó.<ref name="Guardian-24-05-2022" /> Một báo cáo riêng cho thấy rằng bất chấp kết luận của Hoa Kỳ rằng [[Assassination of Jamal Khashoggi|vụ ám sát Jamal Khashoggi]] do Thái tử Mohammed của Saudi ra lệnh, ông vẫn có thể vượt qua bài kiểm tra chủ sở hữu và giám đốc của Premier League.<ref>{{Chú thích web|url=https://journals.library.columbia.edu/index.php/lawandarts/announcement/view/459|title=The Premier League's Owners' and Directors' Test Just Failed!|access-date=29 tháng 11 năm 2021|website=The Columbia Journal of Law and the Arts}}</ref> [[Human Rights Watch]] (HRW), một tổ chức vận động, đã cáo buộc chính phủ Saudi sử dụng bóng đá, đua xe thể thao và golf để [[sportswashing]]. Theo Josh Noble, biên tập viên thể thao của ''[[Financial Times]]'', HRW định nghĩa sportswashing là "một nỗ lực nhằm đánh lạc hướng khỏi các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng của mình bằng cách tiếp quản những sự kiện tôn vinh thành tựu của con người".<ref>{{Chú thích báo|last=Noble|first=Josh|date=10 tháng 10 năm 2022|title=Saudi Arabia wealth fund commits $2.3bn to football sponsorships|newspaper=Financial Times|url=https://www.ft.com/content/ce556bac-30cc-49c6-b883-5cab67ce5379|access-date=10 tháng 10 năm 2022}}</ref>

{| class="wikitable" border="1" style="text-align:center; margin-left:1em; float:right;"
|+Tăng trưởng doanh thu (không bao gồm chuyển nhượng)
! width="110"|Mùa giải
! width="110"|Doanh thu
! width="80"|[[Deloitte Football Money League|Xếp hạng thế giới]]
|-
| align="center"|[[Newcastle United F.C. mùa giải 2020-21|2020-21]]<ref>{{Chú thích web|title=Deloitte Football Money League 2022 (rankings for the 2020-21 season)|url=https://www2.deloitte.com/content/dam/Deloitte/uk/Documents/sports-business-group/deloitte-uk-dfml22.pdf|website=www2.deloitte.com}}</ref>
|170.1 triệu euro
|29{{increase}}
|-
| align="center"|[[Newcastle United F.C. mùa giải 2021-22|2021-22]]<ref>{{Chú thích web|title=Deloitte Football Money League 2023 (rankings for the 2021-22 season)|url=https://www2.deloitte.com/uk/en/pages/sports-business-group/articles/deloitte-football-money-league-2023.html|website=www2.deloitte.com }}{{Dead link|date=tháng 10 năm 2025|bot=InternetArchiveBot }}</ref>
|212.3 triệu euro
|20{{increase}}
|-
| align="center"|[[Newcastle United F.C. mùa giải 2022-23|2022-23]]<ref>{{Chú thích web|last1=Weber|first1=Tom|date=25 tháng 1 năm 2024|title=The 30 richest football clubs in the world|url=https://www.footballtransfers.com/en/transfer-news/uk-premier-league/2024/01/richest-football-clubs-world-deloitte-money-league|url-status=deviated|archive-url=https://web.archive.org/web/20240405063527/https://www.footballtransfers.com/en/transfer-news/uk-premier-league/2024/01/richest-football-clubs-world-deloitte-money-league|archive-date=5 tháng 4 năm 2024|publisher=Football Transfers}}</ref>
|287.8 triệu euro
|17{{increase}}
|-
| align="center"|[[Newcastle United F.C. mùa giải 2023-24|2023-24]]'''<ref>{{Chú thích web|title=Deloitte Football Money League 2025 (rankings for the 2023-24 season)|url=https://www2.deloitte.com/uk/en/pages/sports-business-group/articles/deloitte-football-money-league.html|website=www2.deloitte.com}}</ref>'''
|371.8 triệu euro
|15{{increase}}
|}
Premier League đã chấp thuận thương vụ tiếp quản Newcastle của PIF Saudi Arabia, sau những "cam kết ràng buộc pháp lí" rằng nhà nước Saudi sẽ không kiểm soát câu lạc bộ. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 2023, các tài liệu tòa án được công bố tại Hoa Kỳ cho rằng PIF là "một cơ quan mang tính chủ quyền của Vương quốc Saudi Arabia", và rằng thống đốc PIF đồng thời là chủ tịch Newcastle, Yasir Al-Rumayyan, là "một bộ trưởng đương nhiệm của chính phủ Saudi". Sau đó, Amnesty International, vốn từ trước đã chỉ trích Saudi Arabia về sportswashing, đã thúc giục Premier League xem xét lại thương vụ PIF Saudi Arabia tiếp quản câu lạc bộ. Vào tháng 3 năm 2023, Richard Masters bày tỏ nghi ngờ của mình trước một ủy ban các nhà lập pháp, cho biết ông không chắc liệu Premier League đã mở cuộc điều tra hay chưa.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.france24.com/en/live-news/20230328-premier-league-can-t-say-if-newcastle-ownership-probe-exists|title=Premier League can't say if Newcastle ownership probe exists|access-date=28 tháng 3 năm 2023|website=France24|date=28 tháng 3 năm 2023 }}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.barrons.com/news/premier-league-can-t-say-if-newcastle-ownership-probe-exists-8e0687d1|title=Premier League Can't Say If Newcastle Ownership Probe Exists|access-date=28 tháng 3 năm 2023|website=Barron’s}}</ref> Vào tháng 10 năm 2024, Premier League cho biết họ sẽ không xem xét lại thương vụ với Saudi Arabia.<ref>{{Chú thích báo|last=Taylor|first=Louise|date=2024-10-21|title=Premier League will not review Saudi Newcastle deal after Bin Salman claims|url=https://www.theguardian.com/football/2024/oct/21/premier-league-saudi-arabia-newcastle-deal-mohammed-bin-salman|access-date=2024-10-22|work=The Guardian|language=en-GB|issn=0261-3077}}</ref>

==Trách nhiệm xã hội==
Newcastle United Foundation là một tổ chức từ thiện độc lập được câu lạc bộ thành lập vào mùa hè năm 2008. Tổ chức này hướng tới việc khuyến khích học tập và thúc đẩy lối sống lành mạnh trong nhóm trẻ em, thanh thiếu niên và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại vùng Đông Bắc, đồng thời thúc đẩy bình đẳng và đa dạng.<ref name=hails_success>{{Chú thích web|url=http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/evening-chronicle-news/2011/02/18/newcastle-united-foundation-hails-success-72703-28193550/|title=Newcastle United Foundation hails success|first=James|last=Moore|date=18 tháng 2 năm 2011|newspaper=Evening Chronicle|location=Newcastle upon Tyne|access-date = 14 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20110224032037/http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/evening-chronicle-news/2011/02/18/newcastle-united-foundation-hails-success-72703-28193550/|archive-date = 24 tháng 2 năm 2011|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.nufc.co.uk/page/Foundation/Home|title=Foundation|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=14 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20110408073910/http://www.nufc.co.uk/page/Foundation/Home|archive-date=8 tháng 4 năm 2011}}</ref>

Vào tháng 12 năm 2012, câu lạc bộ thông báo rằng họ đã trở thành câu lạc bộ bóng đá carbon dương đầu tiên trên thế giới.<ref>{{Chú thích web|title=fcbusiness Magazine – Newcastle United Becomes World's First 'Carbon Positive' Football Club|url=http://fcbusiness.co.uk/news/article/newsitem=2166/title=newcastle+united+becomes+world%92s+first+%91carbon+positive%92+football+club|archive-url=https://archive.today/20130420204215/http://fcbusiness.co.uk/news/article/newsitem=2166/title=newcastle+united+becomes+world%92s+first+%91carbon+positive%92+football+club|archive-date=20 tháng 4 năm 2013|access-date=5 tháng 12 năm 2012|date=5 tháng 12 năm 2012}}</ref>

==Cổ động viên và kình địch==
{{See also|derby Tyne-Wear|derby Tyne-Tees}}

[[File:Newcastle United v Zulte Waragem, 2007 (2).JPG|thumb|230px|Cổ động viên tại St James' Park]]

Cổ động viên của Newcastle United được biết đến là một trong những nhóm người hâm mộ bóng đá cuồng nhiệt nhất trên thế giới. Năm 2016, các cổ động viên thành lập nhóm Wor Flags, nhóm này tiếp tục tạo ra những màn trình diễn cờ, biểu ngữ và tifo lớn, độc đáo tại St James' Park. Nhóm này hoàn toàn được tài trợ bởi người hâm mộ.<ref>{{Chú thích báo|last1=Buck|first1=Joe|title=34 stunning Newcastle United fan photos of Wor Flags displays this season - gallery|url=https://www.shieldsgazette.com/sport/football/newcastle-united/34-iconic-newcastle-united-fan-photos-of-wor-flags-displays-this-season-gallery-4158284|access-date=12 tháng 6 năm 2023|date=3 tháng 6 năm 2023}}</ref>

Lực lượng cổ động viên mạnh nhất của câu lạc bộ nằm ở [[Đông Bắc Anh]], nhưng các hội cổ động viên có thể được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới. Biệt danh của câu lạc bộ là The Magpies, trong khi các cổ động viên của câu lạc bộ cũng được biết đến với tên gọi ''[[Geordies]]'' hoặc ''Toon Army''. Tên gọi ''Toon'' bắt nguồn từ cách phát âm từ ''town'' theo giọng Geordie.<ref>{{Chú thích web|title=Geordie Dictionary|work=englandsnortheast.co.uk|url=http://www.englandsnortheast.co.uk/GeordieDictionary.html|access-date=14 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20110410113133/http://www.englandsnortheast.co.uk/GeordieDictionary.html|archive-date=10 tháng 4 năm 2011}}</ref><ref>{{Chú thích báo|title=Newcastle top of the league when it comes to dedication of fans|newspaper=[[The Times]]|location=London|first=Nick|last=Szczepanik|url=https://www.thetimes.com/article/newcastle-top-of-the-league-when-it-comes-to-dedication-of-fans-zmwpfd28ccd|date=26 tháng 9 năm 2007| access-date =15 tháng 1 năm 2025}}</ref> Trong một khảo sát năm 2004 của [[Co-operative Financial Services]], Newcastle United được xác định là đội đứng đầu bảng về chi phí phát sinh và quãng đường di chuyển của các cổ động viên sống tại Newcastle nếu muốn theo chân đội bóng trong mọi trận sân khách tại Premier League. Tổng quãng đường mà một cổ động viên phải đi để dự mọi trận sân khách từ Newcastle được cho là tương đương với một chuyến đi vòng quanh thế giới.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.prnewswire.co.uk/cgi/news/release?id=134995|title=Football Fans Pay the Price of Away Support|date=23 tháng 11 năm 2004|agency=PR Newswire|access-date = 14 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20120527095028/http://www2.prnewswire.co.uk/cgi/news/release?id=134995|archive-date = 27 tháng 5 năm 2012|url-status = live}}</ref> Trong mùa giải 2016-17, khi thi đấu ở hạng Hai, Newcastle ghi nhận lượng khán giả trung bình là 51.106 người.<ref>{{Chú thích web|title=Championship 2016/2017 » Attendance » Home matches|url=https://www.worldfootball.net/competition/co20/se20828/attendance/|website=World Football|date=28 tháng 10 năm 2023 }}</ref>

Cổ động viên của câu lạc bộ xuất bản một số [[fanzine]] như ''True Faith'' và ''The Mag'', cùng với NUFC.com, được thành lập vào năm 1996. Họ thành lập [[Newcastle United Supporters Trust]] vào tháng 9 năm 2008, với mục tiêu "đại diện cho cộng đồng rộng lớn người ủng hộ Newcastle United".<ref>{{Chú thích web|url=http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/evening-chronicle-news/tm_headline=new-supporters-club-to-give-fans-a-voice&method=full&objectid=21820259&siteid=72703-name_page.html|title=New supporters club to give fans a voice|first=Lee|last=Ryder|date=15 tháng 9 năm 2008|newspaper=Evening Chronicle|location=Newcastle upon Tyne|access-date=14 tháng 4 năm 2011|archive-url = https://web.archive.org/web/20120729144040/http://www.chroniclelive.co.uk/north-east-news/evening-chronicle-news/tm_headline%3Dnew-supporters-club-to-give-fans-a-voice%26method%3Dfull%26objectid%3D21820259%26siteid%3D72703-name_page.html|archive-date = 29 tháng 7 năm 2012|url-status = live}}</ref> Ngoài những [[football chant|bài hát cổ động]] quen thuộc của bóng đá Anh, cổ động viên Newcastle còn hát bài hát truyền thống của Tyneside là "[[Blaydon Races]]".<ref>{{Chú thích web|title=Blaydon Races|work=terracechants.me.uk|url=http://terracechants.me.uk/tune/chants/Blaydon+Races| access-date=14 tháng 4 năm 2011| archive-url = https://web.archive.org/web/20101126230257/http://terracechants.me.uk/tune/chants/Blaydon+Races/| archive-date=26 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.fanchants.com/football-songs/newcastle_united-chants/comin-home-newcastle/|title=Listen to Comin' Home Newcastle football chant|work=fanchants.com| access-date = 14 tháng 4 năm 2011| archive-url = https://web.archive.org/web/20110221024133/http://fanchants.com/football-songs/newcastle_united-chants/comin-home-newcastle/| archive-date = 21 tháng 2 năm 2011}}</ref> Trước mỗi trận sân nhà, đội bóng bước ra sân trong giai điệu "[[Going Home: Theme of the Local Hero|Going Home]]", ca khúc kết thúc bộ phim ''[[Local Hero (film)|Local Hero]]'' năm 1983, do cổ động viên Newcastle và người sáng lập [[Dire Straits]] là [[Mark Knopfler]] sáng tác.<ref name="Hero"/>

Năm 1998, người sáng lập [[The Police]] và là cổ động viên Newcastle, [[Sting (musician)|Sting]], đã viết một ca khúc ủng hộ Newcastle mang tên "Black and White Army (Bringing The Pride Back Home)" (do [[Ryan Molloy]] trình bày).<ref name="metro.co.uk"/> Năm 2015, một số cổ động viên Newcastle đã tẩy chay các trận đấu để phản đối cách điều hành câu lạc bộ của Mike Ashley, và họ nhận được sự ủng hộ từ những cổ động viên nổi tiếng của câu lạc bộ như Sting và [[Jimmy Nail]].<ref name="metro.co.uk">{{Chú thích web|url=https://metro.co.uk/2015/04/25/sting-and-jimmy-nail-join-newcastle-united-fans-in-showing-their-support-to-protesting-toon-army-about-mike-ashley-5166213/|title=Celeb Toon fans join protest against Ashley|date=25 tháng 4 năm 2015|access-date = 1 tháng 9 năm 2019|archive-url = https://web.archive.org/web/20190901221926/https://metro.co.uk/2015/04/25/sting-and-jimmy-nail-join-newcastle-united-fans-in-showing-their-support-to-protesting-toon-army-about-mike-ashley-5166213/|archive-date = 1 tháng 9 năm 2019|url-status = live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.itv.com/news/tyne-tees/2015-04-24/sting-and-jimmy-nail-support-newcastle-united-boycott/|title=Sting and Jimmy Nail support Newcastle United boycott|date=24 tháng 4 năm 2015| access-date=11 tháng 9 năm 2019| archive-url=https://web.archive.org/web/20190901221942/https://www.itv.com/news/tyne-tees/2015-04-24/sting-and-jimmy-nail-support-newcastle-united-boycott/| archive-date=1 tháng 9 năm 2019| url-status=live}}</ref>

Theo truyền thống, kình địch chính của Newcastle là [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]], đối thủ của họ trong trận [[Tyne–Wear derby]], cùng với [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]], đối thủ của họ trong trận [[Tyne-Tees derby]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.thejournal.co.uk/news/north-east-news/knopfler-wants-return-local-hero-4516517|title=Knopfler wants the return of Local Hero – the Journal| access-date=11 tháng 9 năm 2019| archive-url=https://web.archive.org/web/20140910085052/http://www.thejournal.co.uk/news/north-east-news/knopfler-wants-return-local-hero-4516517| archive-date=10 tháng 9 năm 2014| url-status=live}}</ref>

==Kỉ lục==
{{Main|Danh sách kỉ lục và thống kê Newcastle United F.C.}}

[[File:Statue Shearer Newcastle Tyne 4.jpg|thumb|upright|Tượng [[Alan Shearer]] bên ngoài [[St James' Park]]]]

Newcastle United đã trải qua 94 mùa giải ở hạng đấu cao nhất, đứng thứ tám trong [[Kỷ lục và số liệu thống kê Giải bóng đá Ngoại hạng Anh#Bảng xếp hạng tổng Premier League |bảng xếp hạng mọi thời đại của Premier League]] và có tổng số danh hiệu lớn cao thứ chín trong số các câu lạc bộ Anh với mười một lần vô địch.{{citation needed|date=tháng 1 năm 2023}} [[Jimmy Lawrence]] giữ kỉ lục ra sân nhiều nhất cho câu lạc bộ, với 496 lần ra sân cho đội một trong giai đoạn từ năm 1904 đến năm 1921.<ref name=clubrecords>{{Chú thích web|url=http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/Records|title=Club Records|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=15 tháng 4 năm 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20101226170510/http://www.nufc.co.uk/page/Club/History/Records|archive-date=26 tháng 12 năm 2010|url-status=live}}</ref> Alan Shearer là chân sút ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử câu lạc bộ, với 206 bàn trên mọi đấu trường từ năm 1996 đến năm 2006.<ref name="shearer">{{Chú thích web|url=https://www.fastscore.com/people/alan-shearer-2|title=Alan Shearer Profile and Career|work=FastScore.com|access-date= 16 tháng 10 năm 2020}}</ref> [[Andy Cole]] giữ kỉ lục ghi nhiều bàn nhất trong một mùa giải: 41 bàn ở mùa giải 1993-94 tại Premier League.<ref name=clubrecords /> [[Shay Given]] là cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn thuộc câu lạc bộ, với 134 lần ra sân cho [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Ireland|đội tuyển Cộng hòa Ireland]].<ref name=clubrecords />

Chiến thắng với cách biệt lớn nhất của Newcastle United tại giải vô địch quốc gia là trận thắng 13-0 trước [[Newport County A.F.C.|Newport County]] tại Second Division 2009-10 năm 1946. Thất bại nặng nề nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là trận thua 0-9 trước [[Burton Wanderers F.C.|Burton Wanderers]] tại Second Division năm 1895.<ref name=clubrecords />

Lượng khán giả sân nhà cao nhất của Newcastle là 68.386 người trong một trận First Division gặp Chelsea vào ngày 3 tháng 9 năm 1930.<ref name=clubrecords /> Lượng khán giả cao nhất của câu lạc bộ tại Premier League là 52.389 người, trong trận gặp Manchester City vào ngày 6 tháng 5 năm 2012.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/17885333|title=Newcastle 0-2 Man City|author=Ben Smith|date=6 tháng 5 năm 2012|website=BBC Sport|access-date=12 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20160112224138/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/17885333|archive-date=12 tháng 1 năm 2016|url-status=live}}</ref> Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà Newcastle thu về từ việc bán một cầu thủ là 125 triệu bảng Anh, từ [[Liverpool F.C.|Liverpool]] để chiêu mộ [[Alexander Isak]] vào tháng 9 năm 2025,<ref>{{Chú thích web|date=1 tháng 9 năm 2025|title=Newcastle United sell Alexander Isak for a British record fee|url=https://www.newcastleunited.com/en/news/newcastle-united-sell-alexander-isak|access-date=2025-09-01|website=www.newcastleunited.com|language=en}}</ref> trong khi số tiền nhiều nhất mà câu lạc bộ chi ra cho một cầu thủ là 69 triệu bảng Anh để mua tiền đạo [[Nick Woltemade]] từ đội bóng [[Bundesliga]] là [[VfB Stuttgart]] vào tháng 8 năm 2025.<ref>{{Chú thích báo|title=Newcastle United complete club record deal for Nick Woltemade|url=https://www.newcastleunited.com/en/news/nick-woltemade-signing|access-date=30 tháng 8 năm 2025|publisher=Newcastle United FC|date=30 tháng 8 năm 2025}}</ref>

==Cầu thủ==
===Đội hình đội một===
{{updated|26 tháng 2 năm 2026}}<ref>{{Chú thích web|url=https://www.newcastleunited.com/en/teams/mens-team|title=Men's Team|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=30 tháng 8 năm 2025}}</ref><ref name="2024/25 Updated Premier League squad lists">{{Chú thích web| url=https://www.premierleague.com/news/4243590| title=2024/25 Updated Premier League squad lists| publisher=Premier League| date=7 tháng 2 năm 2025| access-date=8 tháng 2 năm 2025}}</ref>


{{Fs start}}
{{Fs start}}
{{Fs player|no=1|nat=ENG|pos=GK|name=[[Nick Pope (cầu thủ bóng đá)|Nick Pope]]}}
{{Fs player|no=1|nat=ENG|pos=GK|name=[[Nick Pope (cầu thủ bóng đá)|Nick Pope]]}}
{{Fs player|no=2|nat=ENG|pos=DF|name=[[Kieran Trippier]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)#Đội phó|đội phó]]}}
{{Fs player|no=2|nat=ENG|pos=DF|name=[[Kieran Trippier]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội phó]]}}
{{Fs player|no=3|nat=ENG|pos=DF|name=[[Lewis Hall]]{{efn|name=U21|Cầu thủ đội U-21.}}}}
{{Fs player|no=3|nat=ENG|pos=DF|name=[[Lewis Hall (cầu thủ bóng đá)|Lewis Hall]]{{efn|name=U21|Cầu thủ dưới 21 tuổi.}}}}
{{Fs player|no=4|nat=NLD|pos=DF|name=[[Sven Botman]]}}
{{Fs player|no=4|nat=NED|pos=DF|name=[[Sven Botman]]}}
{{Fs player|no=5|nat=SUI|pos=DF|name=[[Fabian Schär]]}}
{{Fs player|no=5|nat=SUI|pos=DF|name=[[Fabian Schär]]}}
{{Fs player|no=6|nat=ENG|pos=DF|name=[[Jamaal Lascelles]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng thứ 3]]{{efn|name=CL-ineligible|Không được đăng ký vào đội hình tham dự [[UEFA Champions League]].}}}}
{{Fs player|no=7|nat=BRA|pos=MF|name=[[Joelinton]]}}
{{Fs player|no=7|nat=BRA|pos=MF|name=[[Joelinton]]}}
{{Fs player|no=8|nat=ITA|pos=MF|name=[[Sandro Tonali]]}}
{{Fs player|no=8|nat=ITA|pos=MF|name=[[Sandro Tonali]]}}
{{Fs player|no=9|nat=COD|pos=FW|name=[[Yoane Wissa]]}}
{{Fs player|no=9|nat=COD|pos=FW|name=[[Yoane Wissa]]}}
{{Fs player|no=10|nat=ENG|pos=FW|name=[[Anthony Gordon]]}}
{{Fs player|no=10|nat=ENG|pos=FW|name=[[Anthony Gordon (cầu thủ bóng đá)|Anthony Gordon]]}}
{{Fs player|no=11|nat=ENG|pos=FW|name=[[Harvey Barnes]]}}
{{Fs player|no=11|nat=ENG|pos=FW|name=[[Harvey Barnes]]}}
{{Fs player|no=12|nat=GER|pos=DF|name=[[Malick Thiaw]]}}
{{Fs player|no=12|nat=GER|pos=DF|name=[[Malick Thiaw]]}}
Dòng 174: Dòng 373:
{{Fs player|no=27|nat=GER|pos=FW|name=[[Nick Woltemade]]}}
{{Fs player|no=27|nat=GER|pos=FW|name=[[Nick Woltemade]]}}
{{Fs player|no=28|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe Willock]]}}
{{Fs player|no=28|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe Willock]]}}
{{Fs player|no=29|nat=ENG|pos=GK|name=[[Mark Gillespie]]{{efn|name=CL-ineligible}}}}
{{Fs player|no=29|nat=ENG|pos=GK|name=[[Mark Gillespie (cầu thủ bóng đá)|Mark Gillespie]]{{efn|name=CL-ineligible|Không được đăng kí trong danh sách Champions League.}}}}
{{Fs player|no=30|nat=SCO|pos=DF|name=[[Harrison Ashby]]{{efn|name=CL-ineligible}}}}
{{Fs player|no=32|nat=ENG|pos=GK|name=[[Aaron Ramsdale]]|other=mượn từ [[Southampton F.C.|Southampton]]}}
{{Fs player|no=32|nat=ENG|pos=GK|name=[[Aaron Ramsdale]]|other=cho mượn từ [[Southampton F.C.|Southampton]]}}
{{Fs player|no=33|nat=ENG|pos=DF|name=[[Dan Burn]]}}
{{Fs player|no=33|nat=ENG|pos=DF|name=[[Dan Burn]]}}
{{Fs player|no=37|nat=IRL|pos=DF|name=[[Alex Murphy]]{{efn|name=U21}}}}
{{Fs player|no=37|nat=IRL|pos=DF|name=[[Alex Murphy (cầu thủ bóng đá)|Alex Murphy]]{{efn|name=U-21}}}}
{{Fs player|no=39|nat=BRA|pos=MF|name=[[Bruno Guimarães]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}}
{{Fs player|no=39|nat=BRA|pos=MF|name=[[Bruno Guimarães]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}}
{{Fs player|no=41|nat=ENG|pos=MF|name=[[Jacob Ramsey]]}}
{{Fs player|no=41|nat=ENG|pos=MF|name=[[Jacob Ramsey]]}}
Dòng 186: Dòng 384:
===Cho mượn===
===Cho mượn===
{{Fs start}}
{{Fs start}}
{{Fs player|no=|nat=GRE|pos=GK|name=[[Odysseas Vlachodimos]]|other=tại [[Sevilla FC|Sevilla]] đến 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=SCO|pos=DF|name=[[Harrison Ashby]]|other=cho [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=[[Matt Targett]]|other=tại [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]] đến 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=ESP|pos=MF|name=[[Antonio Cordero]]|other=cho [[Cádiz CF|Cádiz]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=[[Matt Targett]]|other=cho [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}}
{{fs mid}}
{{fs mid}}
{{Fs player|no=|nat=ESP|pos=MF|name=[[Antonio Cordero]]|other=tại [[K.V.C. Westerlo|Westerlo]] đến 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=GRE|pos=GK|name=[[Odysseas Vlachodimos]]|other=cho [[Sevilla FC|Sevilla]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe White]]|other=tại [[Leyton Orient F.C.|Leyton Orient]] đến 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe White (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2002)|Joe White]]|other=cho [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}}
{{Fs end}}
{{Fs end}}


===Đội trẻ và Học viện===
===U-21 và Học viện===
{{main|Đội trẻ và Học viện Newcastle United F.C.}}
{{main|Đội U-21 và Học viện Newcastle United F.C.}}
Các cầu thủ ở đội U-21 sau đây đã từng tên trong đội hình thi đấu của Newcastle United cho một trận đấu chính thức:
Những cầu thủ U-21 sau đây trước đó từng được điền tên vào danh sách thi đấu của Newcastle United trong một trận đấu chính thức:


{{fs start}}
{{fs start}}
{{fs player|no=40|nat=ENG|pos=FW|name=[[Ben Parkinson]]}}
{{fs player|no=31|nat=ENG|pos=GK|name=[[Max Thompson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2004)|Max Thompson]]|other=cho mượn tại [[Ayr United F.C.|Ayr United]]}}
{{Fs player|no=45|nat=NOR|pos=MF|name=[[Travis Hernes]]|other=cho mượn từ [[FC Groningen|Groningen]]}}
{{Fs player|no=45|nat=NOR|pos=MF|name=[[Travis Hernes]]|other=cho mượn tại [[FC Groningen|Groningen]]}}
{{fs player|no=58|nat=ENG|pos=GK|name=Aidan Harris|other=cho mượn từ [[Coleraine F.C.|Coleraine]]}}
{{fs player|no=58|nat=ENG|pos=GK|name=Aidan Harris}}
{{fs player|no=59|nat=ENG|pos=GK|name=Adam Harrison}}
{{fs player|no=59|nat=ENG|pos=GK|name=Adam Harrison}}
{{fs player|no=60|nat=ENG|pos=MF|name=[[Trevan Sanusi]]|other=cho mượn tại [[FC Lorient|Lorient]]}}
{{fs mid}}
{{fs mid}}
{{Fs player|no=60|nat=ENG|pos=MF|name=[[Trevan Sanusi]]|other=cho mượn từ [[FC Lorient|Lorient]]}}
{{fs player|no=61|nat=ENG|pos=DF|name=[[Leo Shahar]]}}
{{Fs player|no=61|nat=ENG|pos=DF|name=Leo Shahar}}
{{fs player|no=62|nat=ENG|pos=FW|name=[[Sean Neave]]}}
{{fs player|no=62|nat=ENG|pos=FW|name=[[Sean Neave]]}}
{{Fs player|no=64|nat=KOR|pos=MF|name=[[Park Seung-soo]]}}
{{fs player|no=64|nat=KOR|pos=MF|name=[[Park Seung-soo]]}}
{{fs player|no=85|nat=ENG|pos=MF|name=[[Sam Alabi]]}}
{{fs end}}
{{fs end}}


{{Danh sách ghi chú}}
{{Notelist}}

===Cầu thủ nổi bật===
{{main|Danh sách cầu thủ bóng đá Newcastle United F.C.}}
{{further|:Thể loại:Cầu thủ bóng đá Newcastle United F.C.}}

===Cầu thủ xuất sắc nhất năm===
:Nguồn: [https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/joelinton-scoops-newcastle-united-player-of-the-year-award/ Newcastle United F.C.]


==Cầu thủ của năm==
{|
{|
|-
|-
Dòng 217: Dòng 423:
{| class="wikitable"
{| class="wikitable"
|-
|-
!Mùa giải
!Năm
!Người chiến thắng
! Cầu thủ giành giải
|-
|-
|1976||{{flagicon|England}} [[Alan Gowling]]
|1975-76||[[Alan Gowling]]
|-
|-
|1977||{{flagicon|England}} [[Micky Burns]]
|1976-77||[[Micky Burns]]
|-
|-
|1978||{{flagicon|England}} [[Irving Nattrass]]
|1977-78||[[Irving Nattrass]]
|-
|-
|1979||{{flagicon|England}} [[Peter Withe]]
|1978-79||[[Peter Withe]]
|-
|-
|1980||{{flagicon|England}} [[Alan Shoulder]]
|1979-80||[[Alan Shoulder]]
|-
|-
|1981||{{flagicon|England}} [[Kevin Carr]]
|1980-81||[[Kevin Carr]]
|-
|-
|1982||{{flagicon|Ireland}} [[Mick Martin]]
|1981-82||[[Mick Martin]]
|-
|-
|1983||{{flagicon|England}} [[Kevin Keegan]]
|1982-83||[[Kevin Keegan]]
|-
|-
|1984||{{flagicon|England}} [[Kevin Keegan]]
|1983-84||[[Kevin Keegan]]
|-
|-
|1985||{{flagicon|England}} [[Peter Beardsley]]
|1984-85||[[Peter Beardsley]]
|-
|-
|1986||{{flagicon|England}} [[Peter Beardsley]]
|1985-86||[[Peter Beardsley]]
|-
|-
|1987||{{flagicon|England}} [[Paul Goddard]]
|1986-87||[[Paul Goddard (cầu thủ bóng đá)|Paul Goddard]]
|-
|1987-88||[[Paul Gascoigne]]
|}
|}
|width="1"|&nbsp;
|width="1"|&nbsp;
Dòng 248: Dòng 456:
{| class="wikitable"
{| class="wikitable"
|-
|-
! Mùa giải
!Năm
! Người chiến thắng
! Cầu thủ giành giải
|-
|-
|1988-89||[[John Hendrie (Scottish footballer)|John Hendrie]]
|1988||{{flagicon|England}} [[Paul Gascoigne]]
|-
|-
|1989-90||[[Micky Quinn]]
|1989||{{flagicon|Scotland}} [[John Hendrie (Scottish footballer)|John Hendrie]]
|-
|-
|1990||{{flagicon|England}} [[Micky Quinn]]
|1990-91||[[John Burridge]]
|-
|-
|1991||{{flagicon|England}} [[John Burridge]]
|1991-92||[[Gavin Peacock]]
|-
|-
|1992-93||[[Lee Clark (cầu thủ bóng đá)|Lee Clark]]
|1992||{{flagicon|England}} [[Gavin Peacock]]
|-
|-
|1993-94||[[Andy Cole]]
|1993||{{flagicon|England}} [[Lee Clark (footballer)|Lee Clark]]
|-
|-
|1994||{{flagicon|England}} [[Andy Cole]]
|1994-95||[[Barry Venison]]
|-
|-
|1995||{{flagicon|England}} [[Barry Venison]]
|1995-96||[[Darren Peacock]]
|-
|-
|1996||{{flagicon|England}} [[Darren Peacock]]
|1996-97||[[Steve Watson]]
|-
|-
|1997||{{flagicon|England}} [[Steve Watson]]
|1997-98||[[David Batty]]
|-
|-
|1998||{{flagicon|England}} [[David Batty]]
|1998-99||[[Alan Shearer]]
|-
|-
|1999||{{flagicon|England}} [[Alan Shearer]]
|1999-2000||[[Alan Shearer]]
|-
|2000-01||[[Shay Given]]
|}
|}
|width="1"|&nbsp;
|width="1"|&nbsp;
Dòng 279: Dòng 489:
{| class="wikitable"
{| class="wikitable"
|-
|-
! Mùa giải
!Năm
! Người chiến thắng
! Cầu thủ giành giải
|-
|-
|2001-02||[[Nolberto Solano]]
|2000||{{flagicon|England}} [[Alan Shearer]]
|-
|-
|2002-03||[[Alan Shearer]]
|2001||{{flagicon|Ireland}} [[Shay Given]]
|-
|-
|2003-04||[[Olivier Bernard]]
|2002||{{flagicon|Peru}} [[Nolberto Solano]]
|-
|-
|2004-05||[[Shay Given]]
|2003||{{flagicon|England}} [[Alan Shearer]]
|-
|-
|2005-06||[[Shay Given]]
|2004||{{flagicon|France}} [[Olivier Bernard]]
|-
|-
|2006-07||[[Nicky Butt]]
|2005||{{flagicon|Ireland}} [[Shay Given]]
|-
|-
|2007-08||[[Habib Beye]]
|2006||{{flagicon|Ireland}} [[Shay Given]]
|-
|-
|2008-09||[[Sébastien Bassong]]
|2007||{{flagicon|England}} [[Nicky Butt]]
|-
|-
|2009-10||[[José Enrique (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1986)|José Enrique]]
|2008||{{flagicon|Senegal}} [[Habib Beye]]
|-
|-
|2010-11||[[Fabricio Coloccini]]
|2009||{{flagicon|Cameroon}} [[Sébastien Bassong]]
|-
|-
|2011-12||[[Tim Krul]]
|2010||{{flagicon|Spain}} [[José Enrique (footballer)|José Enrique]]
|-
|-
|2012-13||[[Davide Santon]]
|2011||{{flagicon|Argentina}} [[Fabricio Coloccini]]
|-
|2013-14||[[Mike Williamson (cầu thủ bóng đá)|Mike Williamson]]
|}
|}
|width="1"|&nbsp;
|width="1"|&nbsp;
Dòng 310: Dòng 522:
{| class="wikitable"
{| class="wikitable"
|-
|-
! Mùa giải
! Năm
! Người chiến thắng
! Cầu thủ giành giải
|-
|-
|2014-15||[[Daryl Janmaat]]
|2012||{{flagicon|Netherlands}} [[Tim Krul]]
|-
|-
|2015-16||[[Rob Elliot]]
|2013||{{flagicon|Italy}} [[Davide Santon]]
|-
|-
|2016-17||[[Ciaran Clark]]
|2014||{{flagicon|England}} [[Mike Williamson (footballer)|Mike Williamson]]
|-
|-
|2017-18||[[Jamaal Lascelles]]
|2015||{{flagicon|Netherlands}} [[Daryl Janmaat]]
|-
|-
|2018-19||[[Salomón Rondón]]
|2016||{{flagicon|Ireland}} [[Rob Elliot]]
|-
|-
|2019-20||[[Martin Dúbravka]]
|2017||{{flagicon|Ireland}} [[Ciaran Clark]]
|-
|-
|2020-21||[[Callum Wilson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1992)|Callum Wilson]]
|2018||{{flagicon|England}} [[Jamaal Lascelles]]
|-
|-
|2021-22||[[Joelinton]]
|2019||{{flagicon|Venezuela}} [[Salomón Rondón]]
|-
|-
|2022-23||[[Kieran Trippier]]
|2020
|{{Flagicon|SVK}} [[Martin Dubravka]]
|-
|-
|2023-24||[[Anthony Gordon (cầu thủ bóng đá)|Anthony Gordon]]
|2021
|{{Flagicon|ENG}} [[Callum Wilson|Callum Wilson]]
|-
|-
|2024-25||[[Dan Burn]]
|2022
|{{Flagicon|BRA}} [[Joelinton]]
|-
|-
|2023
|{{Flagicon|ENG}} [[Kieran Trippier]]
|}
|}
|width="1"|&nbsp;
|valign="top"|
{| class="wikitable"
|-
! Năm
! Cầu thủ giành giải
|-
|2024
|{{Flagicon|ENG}} [[Anthony Gordon]]
|-
|2025
|{{Flagicon|ENG}} [[Dan Burn]]
|}
|}


==Ban quản lí==
Nguồn: [https://www.nufc.co.uk/news/latest-news/skipper-scoops-annual-gong Newcastle United F.C.]


=== Ban huấn luyện ===
==Chủ sở hữu==
{{Fb cs header}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc thể thao |s=[[Ross Wilson (giám đốc thể thao)|Ross Wilson]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc kĩ thuật |s=Sudarshan Gopaladesikan}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Huấn luyện viên trưởng |s=[[Eddie Howe]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Trợ lí huấn luyện viên |s=[[Jason Tindall]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Huấn luyện viên đội một |s=[[Stephen Purches]]<br/>[[Simon Weatherstone]]<br/>[[Graeme Jones]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Trưởng bộ phận thủ môn |s=[[Adam Bartlett]]}}
{{Fb cs footer|date=tháng 1 năm 2024}}
<Ref>https://www.newcastleunited.com/en/news/uniteds-backroom-boys</ref>


=== Hội đồng quản trị ===
{{Fb cs header}}
{{Fb cs header}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Chủ sở hữu|s={{flagicon|Saudi Arabia}} [[Public Investment Fund]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Chủ tịch|s=[[Yasir Al-Rumayyan]]}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Giám đốc điều hành |s={{flagicon|England}} [[Lee Charnley]]}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc điều hành|s=David Hopkinson}}
{{Fb cs footer|date=July 2017}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc tài chính|s=Simon Capper}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc thương mại|s=Vacant}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Giám đốc vận hành|s=Brad Miller}}
{{Fb cs footer|date=tháng 11 năm 2025}}


==Ban lãnh đạo==
==Danh hiệu==
:Nguồn:<ref name=Newcastle>{{Chú thích web|url=https://www.nufc.co.uk/club/history/honours-and-records/|title=Honours and Records|publisher=Newcastle United F.C.|access-date=20 tháng 3 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170321081713/https://www.nufc.co.uk/club/history/honours-and-records/|archive-date=21 tháng 3 năm 2017|url-status=live}}</ref>


'''Giải vô địch quốc gia'''
=== Đội một ===
*[[Football League First Division|First Division]] / [[Premier League]] (cấp 1)
{{Fb cs header}}
**Vô địch: [[Football League First Division 1904-05|1904-05]], [[Football League First Division 1906-07|1906-07]], [[Football League First Division 1908-09|1908-09]], [[Football League First Division 1926-27|1926-27]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng |s={{flagicon|England}} [[Eddie Howe]]}}
**Á quân: [[FA Premier League 1995-96|1995-96]], [[FA Premier League 1996-97|1996-97]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Trợ lý huấn luyện |s={{flagicon|England}} Jason Tindall}}
*[[Football League Second Division|Second Division]] / [[Football League First Division|First Division]] / [[EFL Championship|Championship]] (cấp 2)
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện đội một |s={{flagicon|England}} Steve Agnew}}
**Vô địch: [[Football League Second Division 1964-65|1964-65]], [[Football League First Division 1992-93|1992-93]], [[Football League Championship |2009-10]], [[EFL Championship 2016-17|2016-17]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện đội một |s={{flagicon|England}} [[Stephen Clemence]]}}
**Á quân: [[Football League Second Division 1897-98|1897-98]], [[Football League Second Division 1947-48|1947-48]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện đội một|s={{flagicon|England}} [[Steve Harper]]}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên thủ môn|s={{flagicon|England}} [[Simon Smith]]}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng bộ phận y tế |s={{flagicon|England}} Paul Catterson}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Thể hình, phục hồi chức năng |s={{flagicon|Spain}} Cristian Fernández Martínez}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Thể lực |s={{flagicon|England}} Simon Tweddle}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng khoa Vật lý trị liệu |s={{flagicon|England}} Derek Wright}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Vật lý trị liệu |s={{flagicon|Spain}} Daniel Martí}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Vật lý trị liệu |s={{flagicon|England}} Sean Beach}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng bộ phận tuyển trạch |s={{Flagicon|England}} Steve Nickson}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng bộ phận phân tích |s={{Flagicon|England}} Kerry Morrow}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng bộ phận Khoa học thể thao |s={{Flagicon|England}} Jamie Harley}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Khoa học Thể thao|s={{Flagicon|England}} John Fitzpatrick}}
{{Fb cs staff|bg=|p=Khoa học Thể thao|s={{Flagicon|England}} Jake Kemp}}
{{Fb cs footer|date=July 2017}}


'''Cúp'''
=== Đội dự bị và học viện ===
*[[Cúp FA]]
{{Fb cs header}}
**Vô địch: [[Cúp FA 1909-10|1909-10]], [[Cúp FA 1923-24|1923-24]], [[Cúp FA 1931-32|1931-32]], [[Cúp FA 1950-51|1950-51]], [[Cúp FA 1951-52|1951-52]], [[Cúp FA 1954-55|1954-55]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Giám đốc học viện |s={{flagicon|England}} [[Joe Joyce (footballer)|Joe Joyce]]}}
**Á quân: [[Cúp FA 1904-05|1904-05]], [[Cúp FA 1905-06|1905-06]], [[Cúp FA 1907-08|1907-08]], [[Cúp FA 1910-11|1910-11]], [[Cúp FA 1973-74|1973-74]], [[Cúp FA 1997-98|1997-98]], [[Cúp FA 1998-99|1998-99]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng U-23 |s={{flagicon|England}} Ben Dawson}}
*[[EFL Cup|Football League Cup / EFL Cup]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên thể hình U-23 |s={{flagicon|England}} Simon Tweddle}}
**Vô địch: [[Cúp 2024-25|2024-25]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng U-18 |s={{flagicon|England}} [[Dave Watson]]}}
**Á quân: [[Football League 1975-76 Cup|1975-76]], [[Cúp EFL 2022-23|2022-23]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng U-17 |s={{flagicon|England}} [[Kevin Richardson (footballer)|Kevin Richardson]]}}
*[[FA Charity Shield]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng U-16 |s={{flagicon|England}} Liam Bramley}}
**Vô địch: [[FA Charity Shield 1909|1909]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên trưởng U-15 |s={{flagicon|England}} Neil Winskill}}
**Á quân: [[FA Charity Shield 1932|1932]], [[FA Charity Shield 1951|1951]], [[FA Charity Shield 1952|1952]], [[FA Charity Shield 1955|1955]], [[FA Charity Shield 1996|1996]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên thủ môn |s={{flagicon|England}} Steve Harper}}
*[[Inter-Cities Fairs Cup]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Trợ lý huấn luyện viên thủ môn |s={{flagicon|Spain}} Daniel García}}
**Vô địch: [[Inter-Cities Fairs Cup 1968-69|1968-69]]
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên thể hình U-18 |s={{flagicon|England}} Craig Musham}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Huấn luyện viên thể hình U-16 |s={{flagicon|England}} Adam Rowan}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Trưởng khoa Vật lý trị liệu |s={{flagicon|England}} Stephen Weir}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Vật lý trị liệu |s={{flagicon|England}} Sean Beech}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Vật lý trị liệu |s={{flagicon|England}} Fraser Bell}}
{{Fb cs staff |bg= |p=Bác sĩ |s={{flagicon|England}} Tom Holland}}
{{Fb cs footer|date=July 2017}}


'''Danh hiệu nhỏ'''
== Ghi chú ==
*[[Sheriff of London Charity Shield]]
{{Tham khảo|30em}}
**Vô địch: [[Sheriff of London Charity Shield 1907|1907]]
*[[Texaco Cup]]
**Vô địch: [[Texaco Cup 1973-74|1973-74]], [[Texaco Cup 1974-75|1974-75]]
*[[UEFA Intertoto Cup]]
**Vô địch: [[UEFA Intertoto Cup 2006|2006]]
*[[Anglo-Italian Cup]]
**Vô địch: [[Anglo-Italian Cup 1973|1973]]


==Tham khảo==
== Liên kết ngoài ==
{{Tham khảo}}
* [http://www.nufc.co.uk/ Trang chủ câu lạc bộ Newcastle United]
* [http://www.newcastle-online.com Newcastle-Online]
* [http://www.nufcpics.com/ Hình ảnh về câu lạc bộ Newcastle United]
* [http://www.nufc.vn/ Website chính thức của Hội Cổ động viên Newcastle United Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150627051314/http://nufc.vn/ |date=2015-06-27 }}
* [http://nufc.vn/forum Diễn đàn chính thức của Hội Cổ động viên Newcastle United Việt Nam]{{Liên kết hỏng|date = ngày 14 tháng 5 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}
* [http://www.facebook.com/nufcvn Fanpage chính thức của Hội Cổ động viên Newcastle United Việt Nam]
* [https://www.facebook.com/groups/nufcvn Group Hội cổ động viên Newcastle United Việt Nam]


==Liên kết ngoài==
{{Bóng đá Anh}}
{{Commons category}}
{{Giải bóng đá ngoại hạng Anh}}
* {{Website chính thức|https://www.newcastleunited.com/}}
{{thể loại Commons|Newcastle United FC}}
* {{BBC football info|newcastle-united}}
{{Các trận đấu của Newcastle United F.C.}}
* [https://www.skysports.com/newcastle-united Newcastle United] trên Sky Sports
* [https://www.premierleague.com/clubs/23/Newcastle-United/overview Newcastle United FC] trên Premier League
* [https://www.uefa.com/nationalassociations/teams/59324--newcastle/ Newcastle United FC] trên [[UEFA]]


{{Newcastle United F.C.}}
{{Mùa giải Newcastle United F.C.}}
{{Đội vô địch Cúp Inter-Cities Fairs}}
{{Nhà vô địch UEFA Intertoto Cup}}
{{Premier League}}
{{EFL Championship}}
{{Authority control}}

[[Thể loại:Newcastle United F.C.| ]]
[[Thể loại:Thể thao Newcastle upon Tyne]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1892]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]]
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]]
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]]
[[Thể loại:Newcastle United F.C.]]
[[Thể loại: địch Cúp EFL]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Tyne and Wear]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1892 ở Anh]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1892 ở Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1892]]
[[Thể loại: địch Inter-Cities Fairs Cup]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]]
[[Thể loại: địch UEFA Intertoto Cup]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh]]

Phiên bản lúc 17:43, ngày 7 tháng 4 năm 2026

Newcastle United
Huy hiệu của Newcastle United
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Newcastle United
Biệt danh
Thành lập1881; 145 năm trước (1881)
(với tên gọi Stanley F.C.)
1882; 144 năm trước (1882)
(với tên gọi East End F.C.)
1892; 134 năm trước (1892)
(với tên gọi Newcastle United F.C.)
SânSt James' Park
Sức chứa52.305[1]
Chủ sở hữu
Chủ tịch điều hànhYasir Al-Rumayyan
Huấn luyện viên trưởngEddie Howe
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 5 trên 20
Websitenewcastleunited.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United (tiếng Anh: Newcastle United Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Newcastle upon Tyne, Tyne and Wear, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Được thành lập vào năm 1881 với tên gọi Stanley F.C., câu lạc bộ mang diện mạo hiện tại vào năm 1892 sau khi tiếp quản tài sản của đối thủ cùng địa phương đã giải thể là Newcastle West End, bao gồm cả sân nhà St James' Park, nơi United đã thi đấu từ đó đến nay. Nằm ở trung tâm Newcastle, St James' Park hiện có sức chứa 52.305 chỗ ngồi.[3]

Newcastle đã góp mặt tại Premier League trong tất cả trừ ba năm trong lịch sử của giải đấu này, trải qua 93 mùa giải ở hạng đấu cao nhất tính đến tháng 5 năm 2025, và chưa từng rơi xuống dưới hạng Hai của bóng đá Anh kể từ khi gia nhập Football League vào năm 1893. Newcastle đã giành 4 chức vô địch quốc gia, 6 Cúp FA, 1 Cúp Liên đoàn và 1 FA Charity Shield, cùng với Inter-Cities Fairs Cup, qua đó sở hữu tổng số danh hiệu cao thứ 9 trong số các câu lạc bộ Anh.[4] Giai đoạn thành công nhất của câu lạc bộ là từ năm 1904 đến năm 1910, khi họ giành một Cúp FA và ba trong bốn chức vô địch quốc gia. Gần đây hơn, câu lạc bộ đã bốn lần về nhì ở giải vô địch quốc gia hoặc Cúp FA trong thập niên 1990.[5] Newcastle xuống hạng vào năm 2009, và một lần nữa vào năm 2016. Câu lạc bộ đều giành quyền thăng hạng ngay trong lần đầu tiên nỗ lực trở lại, quay lại Premier League với tư cách nhà vô địch Championship vào các năm 2010 và 2017. Vào tháng 10 năm 2021, một liên danh do Public Investment Fund, quỹ tài sản có chủ quyền của Saudi Arabia, dẫn đầu đã trở thành chủ sở hữu đa số của Newcastle United.[6] Năm 2025, câu lạc bộ giành Cúp EFL 2024-25, danh hiệu đầu tiên của câu lạc bộ sau gần 56 năm, đồng thời là danh hiệu quốc nội đầu tiên kể từ năm 1955.

Màu áo truyền thống của Newcastle là áo sọc đen-trắng, quần đùi đen và tất đen hoặc trắng. Huy hiệu của câu lạc bộ có các yếu tố từ huy hiệu thành phố, trong đó xuất hiện hai hải mã thần thoại màu xám. Trước mỗi trận sân nhà, đội bóng bước ra sân trong giai điệu "Going Home".[7] Newcastle có mối kình địch lâu đời với Sunderland, đội bóng láng giềng mà họ đã tranh tài trong trận Tyne–Wear derby từ năm 1898.

Lịch sử

1881-1903: Hình thành và lịch sử ban đầu

Biểu đồ thể hiện thứ hạng của Newcastle United từ khi gia nhập giải đấu năm 1894 đến nay. Newcastle đã 4 lần vô địch giải quốc gia.

Ghi nhận đầu tiên về việc bóng đá được chơi tại Tyneside có niên đại từ ngày 3 tháng 3 năm 1877 tại Elswick Rugby Club. Cuối năm đó, câu lạc bộ bóng đá đầu tiên của Newcastle, Tyne Association, được thành lập. Nguồn gốc của chính Newcastle United Football Club có thể được truy về việc thành lập một câu lạc bộ bóng đá bởi Stanley Cricket Club ở Byker vào tháng 11 năm 1881. Đội bóng này được đổi tên thành Newcastle East End F.C. vào tháng 10 năm 1882, để tránh nhầm lẫn với câu lạc bộ cricket ở Stanley, County Durham. Rosewood F.C. của Byker sáp nhập với Newcastle East End không lâu sau đó. Năm 1886, Newcastle East End chuyển từ Byker đến Heaton. Vào tháng 8 năm 1882, Newcastle West End F.C. được thành lập từ West End Cricket Club, và đến tháng 5 năm 1886 chuyển vào St James' Park.[8] Hai câu lạc bộ trở thành đối thủ của nhau tại Northern League. Năm 1889, Newcastle East End trở thành một đội bóng chuyên nghiệp, trước khi trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn vào tháng 3 năm sau.[9] Trong khi đó, Newcastle West End gặp khó khăn tài chính nghiêm trọng và đã tiếp cận East End với ý định được tiếp quản. Newcastle West End cuối cùng bị giải thể, và một số cầu thủ cùng nhân sự hậu trường của câu lạc bộ gia nhập Newcastle East End, trong khi Newcastle East End tiếp quản hợp đồng thuê St James' Park vào tháng 5 năm 1892.[8]

Với chỉ một câu lạc bộ cấp cao trong thành phố để người hâm mộ ủng hộ, sự phát triển của câu lạc bộ diễn ra nhanh hơn nhiều. Dù bị từ chối quyền gia nhập Football League First Division vào đầu mùa giải 1892-93, câu lạc bộ được mời thi đấu ở Second Division mới thành lập. Tuy nhiên, do không có những tên tuổi lớn góp mặt ở Second Division, câu lạc bộ từ chối lời mời và tiếp tục ở lại Northern League, với lý do "tiền vé thu được sẽ không đủ bù đắp chi phí đi lại rất lớn".[8][9] Trong nỗ lực thu hút thêm khán giả, Newcastle East End quyết định lấy một tên mới để ghi nhận sự hợp nhất.[8] Những tên được đề xuất bao gồm 1892 Newcastle, Newcastle Rangers, Newcastle City và City of Newcastle, nhưng Newcastle United đã được lựa chọn vào ngày 9 tháng 12 năm 1892, nhằm biểu trưng cho sự thống nhất của hai đội bóng.[8][10] Việc đổi tên được Football Association chấp thuận vào ngày 22 tháng 12, nhưng câu lạc bộ chỉ chính thức được thành lập hợp pháp với tên Newcastle United Football Club Co. Ltd. vào ngày 6 tháng 9 năm 1895.[9] Vào đầu mùa giải 1893-94, Newcastle United một lần nữa bị từ chối quyền vào First Division và vì thế gia nhập Second Division, cùng với LiverpoolWoolwich Arsenal.[8] Trận đấu chính thức đầu tiên của đội tại hạng đấu này diễn ra vào tháng 9 năm đó trước Woolwich Arsenal, với tỉ số hòa 2-2.[9]

Lượng khán giả qua cổng xoay vẫn thấp, và câu lạc bộ đã ra tuyên bố rằng: "Công chúng Newcastle không xứng đáng được phục vụ nếu xét trên phương diện bóng đá chuyên nghiệp". Tuy nhiên, đến mùa giải 1895-96, các con số cuối cùng đã tăng lên, khi 14.000 người hâm mộ đến xem đội bóng thi đấu với Bury. Mùa giải đó, Frank Watt trở thành thư kí của câu lạc bộ, và ông đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đội thăng hạng lên First Division cho mùa giải 1898-99. Tuy nhiên, họ thua trận đầu tiên với tỉ số 2-4 trên sân nhà trước Wolverhampton Wanderers và kết thúc mùa giải đầu tiên ở vị trí thứ 13.[9]

1903-1937: Những năm tháng vinh quang đầu tiên và thời kì chiến tranh

Harry Hampton của Aston Villa ghi một trong hai bàn thắng của ông trong Chung kết Cúp FA 1905.

Trong mùa giải 1903-04, câu lạc bộ xây dựng được một đội hình đầy triển vọng, và sau đó thống trị bóng đá Anh trong gần một thập kỉ, với lối chơi nổi tiếng là "giàu tính nghệ thuật, kết hợp giữa tinh thần đồng đội và những đường chuyền ngắn, nhanh". Rất lâu sau khi giải nghệ, Peter McWilliam, hậu vệ của đội khi đó, đã nói: "Đội Newcastle của thập niên 1900 sẽ chấp bất kì đội hiện đại nào hai bàn rồi vẫn đánh bại họ, hơn nữa còn thắng một cách dễ dàng". Newcastle United sau đó giành chức vô địch quốc gia ba lần trong thập niên 1900; 1904-05, 1906-07 và 1908-09.[9][11] Ở mùa giải 1904-05, họ suýt hoàn tất cú đúp, nhưng để thua Aston Villa trong Chung kết Cúp FA 1905. Họ tiếp tục thất bại ở trận chung kết năm sau trước Everton trong Chung kết Cúp FA 1906. Đội lại vào chung kết năm 1908 nhưng thua Wolverhampton Wanderers. Cuối cùng, họ giành Cúp FA vào năm 1910 khi đánh bại Barnsley trong trận chung kết. Họ lại thất bại vào năm sau ở trận chung kết trước Bradford City.[9]

Đội bóng trở lại chung kết Cúp FA năm 1924, trận chung kết thứ hai được tổ chức tại Sân vận động Wembley khi đó còn mới. Họ đánh bại Aston Villa, qua đó giành Cúp FA thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ.[9] Ba năm sau, họ giành chức vô địch First Division lần thứ tư ở mùa giải 1926-27, với Hughie Gallacher, một trong những chân sút hiệu quả nhất trong lịch sử câu lạc bộ, giữ băng đội trưởng. Những cầu thủ chủ chốt khác trong giai đoạn này gồm Neil Harris, Stan Seymour và Frank Hudspeth. Năm 1930, Newcastle United tiến rất gần đến việc xuống hạng, và vào cuối mùa giải, Gallacher rời câu lạc bộ để gia nhập Chelsea, đồng thời Andy Cunningham trở thành huấn luyện viên đội một đầu tiên của câu lạc bộ. Trong mùa giải 1931-32, câu lạc bộ giành Cúp FA lần thứ ba. Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, vào cuối mùa giải 1933-34, đội bóng bị xuống hạng Second Division sau 35 mùa giải ở hạng đấu cao nhất. Cunningham rời cương vị huấn luyện viên và Tom Mather tiếp quản.[9]

1937-1969: Thành công thời hậu chiến

Newcastle United năm 1960. Từ trái sang phải, hàng đứng: Jimmy Scoular, Dick Keith, Bryan Harvey (thủ môn), Bob Stokoe, Alf McMichael và George Eastham; hàng trước: Terry Marshall, Ivor Allchurch, Len White, John McGuigan và Liam Tuohy.

Câu lạc bộ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với Second Division và suýt phải xuống hạng thêm ở mùa giải 1937-38, khi chỉ được cứu nhờ hiệu số bàn thắng bại. Tuy nhiên, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939, Newcastle có cơ hội tái tổ chức, và trong thời chiến họ đã đưa về Jackie Milburn, Tommy Walker và Bobby Cowell. Cuối cùng, họ giành quyền trở lại First Division vào cuối mùa giải 1947-48.[9] Trong thập niên 1950, Newcastle giành Cúp FA 3 lần trong vòng 5 năm, đánh bại Blackpool năm 1951, Arsenal năm 1952 và Manchester City năm 1955. Tuy nhiên, sau chiến thắng Cúp FA gần nhất đó, câu lạc bộ lại rơi vào thời kì sa sút và bị xuống Second Division một lần nữa vào cuối mùa giải 1960-61 dưới sự dẫn dắt của Charlie Mitten. Mitten rời đi sau một mùa giải ở Second Division và được thay thế bởi cựu cầu thủ Joe Harvey. Newcastle trở lại First Division vào cuối mùa giải 1964-65 sau khi vô địch Second Division.[9] Dưới thời Harvey, câu lạc bộ lần đầu tiên giành quyền tham dự cúp châu Âu sau một hành trình ấn tượng ở mùa giải 1967-68, và vào năm sau đã giành Inter-Cities Fairs Cup, thắng tổng tỉ số 6-2 sau hai lượt trận trước Újpest của Hungary trong trận chung kết.[9]

1969-1992: Liên tục lên xuống giữa các hạng đấu

Harvey chiêu mộ tiền đạo Malcolm Macdonald vào mùa hè năm 1971 với mức transfer fee kỉ lục của câu lạc bộ là 180.000 bảng Anh (tương đương 2.265.000 bảng vào năm 2021).[9][12] Ông là một tay săn bàn ấn tượng, người đã dẫn dắt hàng công của United tới Wembley trong thất bại ở Chung kết Cúp FA 1974 trước Liverpool.[9] Câu lạc bộ cũng giành chiến thắng liên tiếp ở Texaco Cup vào các năm 1974 và 1975.[13] Harvey rời câu lạc bộ năm 1975, và Gordon Lee được đưa về thay thế. Lee dẫn dắt đội vào 1976 Football League Cup Final gặp Manchester City, nhưng không thể mang chiếc cúp trở lại Tyneside. Tuy nhiên, ông đã bán Macdonald cho Arsenal vào cuối mùa giải, một quyết định mà sau này Macdonald nói rằng "Tôi yêu Newcastle, cho đến khi Gordon Lee tiếp quản". Lee rời đi để sang Everton vào năm 1977, và được thay thế bởi Richard Dinnis.[9]

United một lần nữa rơi xuống Second Division vào cuối mùa giải 1977-78. Dinnis được thay bằng Bill McGarry, rồi sau đó McGarry lại được thay bằng Arthur Cox. Cox đưa Newcastle trở lại First Division vào cuối mùa giải 1983-84, với những cầu thủ như Peter Beardsley, Chris Waddle và cựu đội trưởng đội tuyển Anh Kevin Keegan là trụ cột của đội hình. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí, Cox rời sang Derby County còn Keegan giải nghệ. Dưới thời các huấn luyện viên như Jack Charlton rồi Willie McFaul, Newcastle vẫn trụ lại ở hạng đấu cao nhất, cho đến khi những cầu thủ chủ chốt như Waddle, Beardsley và Paul Gascoigne bị bán đi, và đội bóng lại xuống hạng ở mùa giải 1988-89. McFaul rời ghế huấn luyện viên, và được thay thế bởi Jim Smith. Smith rời đi ở đầu mùa giải 1991-92 và ban lãnh đạo bổ nhiệm Osvaldo Ardiles làm người thay thế.[9]

John Hall trở thành chủ tịch câu lạc bộ vào năm 1992, và thay Ardiles bằng Keegan, người đã giúp đội thoát khỏi nguy cơ xuống Third Division. Keegan được cấp thêm tiền để mua cầu thủ, chiêu mộ Rob Lee, Paul Bracewell và Barry Venison. Câu lạc bộ giành chức vô địch First Division vào cuối mùa giải 1992-93, qua đó thăng hạng Premier League.[14]

1993-2007: Bước vào Premier League

Kevin Keegan (trong ảnh ở nhiệm kì thứ hai của ông vào năm 2008) đã đưa Newcastle thăng hạng và giành suất dự Champions League từ năm 1992 đến năm 1997, biến United thành một trong những câu lạc bộ lớn nhất nước Anh dù không giành được chức vô địch quốc gia.

Vào cuối năm đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất, mùa giải 1993-94, họ kết thúc ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia kể từ năm 1927.[9] Triết lí tấn công của Keegan khiến đội bóng được Sky Sports gắn cho biệt danh "The Entertainers".[15]

Keegan đã đưa Newcastle đến hai lần liên tiếp về nhì tại giải vô địch quốc gia ở mùa giải 1995-96 và mùa giải 1996-97, tiến rất gần đến chức vô địch ở mùa giải đầu tiên trong số đó, mùa giải có trận Liverpool thắng Newcastle 4-3 tại Anfield – thường được xem là trận đấu vĩ đại nhất trong lịch sử Premier League – khép lại bằng hình ảnh mang tính biểu tượng của Premier League khi Keegan gục người lên tấm bảng quảng cáo.[16] Thành công của đội bóng một phần đến từ tài năng tấn công của những cầu thủ như David Ginola, Les FerdinandAlan Shearer, người được chiêu mộ vào ngày 30 tháng 7 năm 1996 với mức phí kỉ lục thế giới khi đó là 15 triệu bảng Anh.[17][18]

Keegan rời Newcastle vào tháng 1 năm 1997 và được thay thế bởi Kenny Dalglish, tuy nhiên câu lạc bộ trải qua một mùa giải phần lớn không thành công với vị trí thứ 13 tại FA Premier League 1997-98, không thể vượt qua vòng bảng của 1997-98 UEFA Champions League dù đánh bại Barcelona và đội đầu bảng Dynamo Kyiv trên sân nhà, đồng thời gỡ hòa 2-2 sau khi bị dẫn 0-2 trước đội bóng của Valeriy Lobanovskyi tại Ukraina, và thất bại ở Chung kết Cúp FA 1998. Dalglish bị thay thế ở đầu mùa giải kế tiếp bởi Ruud Gullit.[19][20] Câu lạc bộ một lần nữa kết thúc ở vị trí thứ 13 tại giải vô địch quốc gia và để thua trong Chung kết Cúp FA 1999. Gullit xảy ra bất đồng với đội hình và chủ tịch Freddy Shepherd, rồi rời câu lạc bộ sau năm trận của mùa giải 1999-2000 khi đội đang đứng cuối bảng, để được thay bằng Bobby Robson.[20][21] Năm 1999, Newcastle là câu lạc bộ tạo ra doanh thu cao thứ năm thế giới; đứng thứ hai tại Anh sau Manchester United.[22]

Bobby Robson dẫn dắt câu lạc bộ trong năm năm, trước khi rời đi vào năm 2004.

Một cuộc đua vô địch xuất hiện trong mùa giải 2001-02, và vị trí thứ tư của Newcastle giúp họ giành quyền dự UEFA Champions League. Ở mùa giải tiếp theo, Robson đưa đội bóng bước vào một cuộc đua vô địch khác và kết thúc ở vị trí thứ ba tại giải vô địch quốc gia, đồng thời lọt vào vòng bảng thứ hai của Champions League,[23] sau khi trở thành đội đầu tiên vượt qua vòng bảng đầu tiên dù đã thua cả ba trận mở màn.[24] Newcastle kết thúc ở vị trí thứ năm tại giải vô địch quốc gia vào cuối mùa giải 2003-04, và bị loại ở vòng loại Champions League; tuy vậy, Robson vẫn bị sa thải vào tháng 8 năm 2004 sau hàng loạt bất đồng với câu lạc bộ.[25][26]

Bức khảm Alan Shearer trong trận đấu tri ân ông vào tháng 5 năm 2006. Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử câu lạc bộ đã giải nghệ trong tháng đó.

Graeme Souness được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào đầu mùa giải 2004-05. Trong thời gian cầm quân, ông đã phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ khi chiêu mộ Michael Owen với giá 16,8 triệu bảng Anh. Souness cũng đưa Newcastle vào tứ kết 2004-05 UEFA Cup, trong đó Alan Shearer giành danh hiệu Vua phá lưới của giải đấu.[27][28][29] Tuy nhiên, ông bị sa thải vào tháng 2 năm 2006 sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2005-06 của câu lạc bộ.[30] Glenn Roeder tiếp quản, ban đầu trên cương vị tạm quyền, trước khi được bổ nhiệm chính thức vào cuối mùa giải.[31] Shearer giải nghệ vào cuối mùa giải 2005-06 với tư cách chân sút ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, với 206 bàn thắng.[32]

Năm 2006, Newcastle giành Intertoto Cup lần đầu tiên trong lịch sử, và là danh hiệu châu Âu đầu tiên của họ kể từ năm 1973.[33]

Dù kết thúc mùa giải 2005-06 ở vị trí thứ bảy, vận may của Roeder thay đổi ở mùa giải 2006-07, khi đội hình chính liên tiếp gặp chấn thương nghiêm trọng, và ông rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào ngày 6 tháng 5 năm 2007.[34] Sau mùa giải 2006-07, trong kỉ nguyên Premier League, Newcastle United là câu lạc bộ thành công thứ năm của Premiership xét về số điểm giành được.[35]

Sam Allardyce được bổ nhiệm làm người thay thế Roeder trên cương vị huấn luyện viên vào ngày 15 tháng 5 năm 2007.[36]

2007-2021: Kỉ nguyên Mike Ashley

Vào ngày 7 tháng 6, những cổ phần cuối cùng của Freddy Shepherd tại câu lạc bộ đã được bán cho Mike Ashley và Shepherd được thay ở cương vị chủ tịch bởi Chris Mort vào ngày 25 tháng 7.[37][38] Ashley sau đó thông báo rằng ông sẽ rút niêm yết của câu lạc bộ khỏi London Stock Exchange sau khi hoàn tất thương vụ tiếp quản.[39] Câu lạc bộ chính thức ngừng giao dịch trên sàn chứng khoán từ 8 giờ sáng ngày 18 tháng 7 năm 2007 với giá 5 xu một cổ phiếu.[40]

Allardyce rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2008 theo thỏa thuận chung sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2007-08,[41] và Kevin Keegan được bổ nhiệm trở lại làm huấn luyện viên Newcastle.[42] Mort từ chức chủ tịch vào tháng 6 và được thay thế bởi Derek Llambias, một cộng sự lâu năm của Ashley.[43] Newcastle kết thúc mùa giải 2007-08 ở vị trí thứ 12, nhưng khi mùa giải dần khép lại, Keegan công khai chỉ trích ban lãnh đạo, cho rằng họ không cung cấp đủ hỗ trợ tài chính cho đội bóng.[44]

Vào tháng 9 năm 2008, Keegan từ chức huấn luyện viên và nói rằng: "Theo quan điểm của tôi, một huấn luyện viên phải có quyền được huấn luyện, và các câu lạc bộ không nên áp đặt lên bất kì huấn luyện viên nào những cầu thủ mà ông ấy không muốn".[45] Cựu huấn luyện viên Wimbledon Joe Kinnear được bổ nhiệm làm người thay thế ông,[46] nhưng vào tháng 2 năm 2009, do ông phải phẫu thuật tim, Alan Shearer được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trong thời gian ông vắng mặt.[47] Dưới thời Shearer, câu lạc bộ bị xuống Championship vào cuối mùa giải 2008-09, lần đầu tiên câu lạc bộ rời Premier League kể từ khi gia nhập giải đấu này vào năm 1993.[48]

Sau khi xuống hạng, câu lạc bộ được rao bán vào tháng 6 năm 2009 với giá chào bán 100 triệu bảng Anh.[49] Chris Hughton được trao công việc huấn luyện viên trên cương vị tạm quyền trước khi chính thức nắm chức vụ này vào ngày 27 tháng 10 năm 2009.[50] Cùng ngày hôm đó, Ashley thông báo rằng câu lạc bộ không còn được rao bán nữa.[51]

Newcastle trở lại hạng đấu cao nhất ngay lập tức vào năm 2010 sau khi xuống hạng ở năm trước.

Hughton đưa Newcastle vô địch Championship 2009-10, giành quyền thăng hạng trực tiếp vào ngày 5 tháng 4 năm 2010 khi mùa giải còn năm trận, và chính thức đăng quang vào ngày 19 tháng 4; Newcastle trở lại Premier League chỉ sau một mùa giải vắng bóng.[52][53][54]

Dưới thời Hughton, Newcastle có khởi đầu mạnh mẽ ở mùa giải 2010-11, nhưng ông bị sa thải vào ngày 6 tháng 12 năm 2010. Ban lãnh đạo câu lạc bộ cho biết họ cảm thấy rằng "cần một cá nhân có nhiều kinh nghiệm huấn luyện hơn để đưa câu lạc bộ tiến lên".[55] Ba ngày sau, Alan Pardew được bổ nhiệm làm huấn luyện viên với hợp đồng kéo dài năm năm rưỡi.[56] Dù có một số biến động, Newcastle vẫn có thể kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12, với một trong những điểm nhấn đặc biệt là trận hòa 4-4 trên sân nhà trước Arsenal, nơi Newcastle ngược dòng sau khi bị dẫn bốn bàn để giành lại một điểm.[57]

Khởi đầu của mùa giải 2011-12 rất thành công khi họ có một trong những màn xuất phát mạnh mẽ nhất của mình, trải qua 11 trận liên tiếp bất bại.[58] Newcastle cuối cùng giành suất dự Europa League 2012-13 với vị trí thứ năm, thứ hạng cao nhất của họ tại giải vô địch quốc gia kể từ thời Bobby Robson. Những vinh dự khác cũng đến khi Pardew giành cả giải Premier League Manager of the Season[59] lẫn giải LMA Manager of the Year.[60]

Ở mùa giải tiếp theo, Newcastle có ít sự bổ sung trong mùa hè và phải chịu nhiều ca chấn thương trong suốt mùa giải. Kết quả là nửa đầu mùa giải bị phủ bóng bởi chuỗi 10 thất bại trong 13 trận, khiến câu lạc bộ rơi xuống gần khu vực xuống hạng. Chiến dịch Europa League phần lớn diễn ra thành công khi đội lọt vào tứ kết trước khi dừng bước trước đội sau đó vào chung kết là Benfica.[61] Ở đấu trường quốc nội, Newcastle chật vật và chỉ trụ hạng sau chiến thắng 2-1 trước Queens Park Rangers, đội đã xuống hạng, ở trận áp chót của mùa giải.[62]

Rafael Benítez dẫn dắt câu lạc bộ từ năm 2016 đến năm 2019.

Mùa giải 2014-15 chứng kiến Newcastle không thắng trong bảy trận đầu tiên, khiến người hâm mộ phát động chiến dịch yêu cầu sa thải Pardew khỏi cương vị huấn luyện viên, trước khi phong độ khởi sắc giúp họ leo lên vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng. Pardew rời sang Crystal Palace vào tháng 12.[63] Vào ngày 26 tháng 1 năm 2015, trợ lí của ông là John Carver được giao phụ trách phần còn lại của mùa giải nhưng đã tiến rất gần đến việc xuống hạng, chỉ trụ lại ở vòng cuối cùng nhờ chiến thắng 2-0 trên sân nhà trước West Ham, trong đó Jonás Gutiérrez, người đã chiến thắng testicular cancer trước đó trong mùa giải, ghi bàn thắng thứ hai cho đội bóng.[64]

Ngày 9 tháng 6 năm 2015, Carver bị sa thải và được thay thế bởi Steve McClaren vào ngày hôm sau.[65] Vào ngày 11 tháng 3 năm 2016, McClaren bị sa thải sau chín tháng làm huấn luyện viên, khi Newcastle đứng thứ 19 tại Premier League và chỉ thắng sáu trong số 28 trận Premier League dưới thời ông.[66] Ông được thay thế ngay trong ngày bởi người Tây Ban Nha Rafael Benítez, người kí hợp đồng ba năm,[66] nhưng không thể ngăn câu lạc bộ xuống hạng lần thứ hai dưới thời sở hữu của Ashley.[67]

Newcastle trở lại Premier League ngay trong lần đầu tiên nỗ lực thăng hạng, khi vô địch Championship vào tháng 5 năm 2017.[68] Vào tháng 10, Mike Ashley rao bán Newcastle United lần thứ hai.[69] Đội bóng kết thúc mùa giải với chiến thắng 3-0 trước Chelsea, nhà đương kim vô địch mùa trước, qua đó đứng thứ 10 tại giải vô địch quốc gia, thành tích tốt nhất của họ trong bốn năm.[70][71] Mùa giải kế tiếp chứng kiến đội kết thúc ở vị trí thứ 13, dù từng nằm trong khu vực xuống hạng vào tháng 1. Ashley chịu nhiều chỉ trích hơn vì thiếu đầu tư vào đội hình và dường như tập trung vào các hoạt động kinh doanh khác.[72] Benítez rời vị trí của mình vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 sau khi từ chối một hợp đồng mới.[73]

Vào ngày 17 tháng 7 năm 2019, cựu huấn luyện viên Sunderland Steve Bruce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên với hợp đồng 3 năm.[74] Bruce đưa đội kết thúc ở các vị trí thứ 13 và thứ 12 trong hai mùa giải trọn vẹn ông nắm quyền.[75]

2021-nay: Kỉ nguyên PIF

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, sau 14 năm làm chủ sở hữu, Ashley bán câu lạc bộ cho một liên danh mới với giá được cho là 305 triệu bảng Anh.[76] Liên danh này bao gồm Public Investment Fund của Saudi Arabia, RB Sports & Media và PCP Capital Partners.[77] Ngày 20 tháng 10, Bruce rời vị trí của mình theo thỏa thuận chung sau khi nhận khoản đền bù được cho là 8 triệu bảng Anh.[78][79] Eddie Howe được bổ nhiệm làm người thay thế Bruce vào ngày 8 tháng 11 năm 2021.[80] Howe đưa câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 11 sau chuỗi 12 chiến thắng trong 18 trận cuối cùng, và Newcastle trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Premier League tránh xuống hạng sau khi không thắng bất kì trận nào trong 14 trận đầu tiên.[81]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2022, Newcastle United Women lần đầu tiên thuộc quyền sở hữu của câu lạc bộ, sau một cuộc tái cơ cấu chính thức.[82] Vào cuối mùa giải 2022-23, câu lạc bộ giành suất dự Champions League lần đầu tiên sau 20 năm.[83] Mùa giải này là chủ đề của bộ phim tài liệu We Are Newcastle United trên Amazon Prime Video.[84][85][86] Trong mùa giải 2023-24, Newcastle bị loại ở vòng bảng Champions League.[87]

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2025, Newcastle United giành danh hiệu quốc nội lớn đầu tiên kể từ năm 1955 sau khi đánh bại Liverpool với tỉ số 2-1 trong 2025 EFL Cup final nhờ các bàn thắng của Dan BurnAlexander Isak.[88]

Vào ngày 5 tháng 9 năm 2025, Newcastle United thông báo bổ nhiệm David Hopkinson làm Giám đốc điều hành.[89] Hopkinson, người trước đó từng giữ các chức vụ cấp cao tại Real Madrid, Madison Square Garden Sports và Maple Leaf Sports & Entertainment, kế nhiệm Darren Eales. Nhiệm vụ của ông bao gồm củng cố chiến lược thương mại của câu lạc bộ, mở rộng vị thế toàn cầu của câu lạc bộ và giám sát các dự án cơ sở hạ tầng dài hạn.[90]

Bản sắc câu lạc bộ

Màu áo nguyên thủy của Newcastle United, được sử dụng cho đến năm 1894

Màu áo sân nhà của câu lạc bộ là áo sọc đen và trắng. Quần đùi và tất thường có màu đen với viền trắng, dù đôi khi tất trắng cũng được sử dụng. Màu áo của Newcastle trong buổi đầu nhìn chung là bộ trang phục sân nhà của Newcastle East End, gồm áo đỏ trơn, quần đùi trắng và tất đỏ. Năm 1894, câu lạc bộ sử dụng áo sọc đen-trắng, vốn trước đó là màu của đội dự bị. Những màu sắc này được chọn cho đội một vì chúng không gắn với bất kì đội nào trong hai đội đã hợp nhất để tạo nên United. Họ mặc quần đùi màu xám cho đến năm 1897, và từ năm 1897 đến năm 1921, họ mặc quần đùi màu xanh lam trước khi sử dụng quần đùi màu đen như hiện nay.[8][91]

Màu áo sân khách của United đã thay đổi nhiều lần qua các năm. Họ mặc áo trắng và quần đùi đen từ năm 1914 đến năm 1961, rồi chuyển sang quần đùi trắng cho đến năm 1966. Sau đó, họ mặc áo vàng và quần đùi xanh lam ở mùa giải 1967-68, nhưng từ năm 1969 đến năm 1974 lại thi đấu trong trang phục đỏ toàn bộ, cùng một bộ áo thứ ba màu xanh lam toàn bộ. Năm 1974, họ quay lại dùng áo vàng, phối với nhiều màu quần đùi khác nhau cho đến năm 1983. Họ mặc trang phục xám toàn bộ từ năm 1983 đến năm 1988, trước khi một lần nữa trở lại với bộ áo vàng cho đến năm 1993. Kể từ năm 1995, trang phục sân khách thay đổi thường xuyên và chưa từng được giữ nguyên quá một mùa giải.[92][93]

Tập tin:NUFC - Old Crest - Magpie.png
Huy hiệu Newcastle United: 1983-1988

Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ lần đầu tiên được sử dụng ở mùa giải 1988-89. Huy hiệu này bao gồm các yếu tố từ huy hiệu thành phố của Newcastle upon Tyne – hai con cá ngựa biển tượng trưng cho mối liên hệ bền chặt của Tyneside với biển cả, còn tòa thành tượng trưng cho thành trì của thành phố.[94] Huy hiệu thành phố lần đầu tiên được thêu lên áo đấu của đội bóng vào năm 1969 và được sử dụng như huy hiệu chính thức cho đến năm 1976.[91] Một dải băng ở phía dưới mang khẩu hiệu của thành phố bằng tiếng Latin; fortiter defendit triumphans, được dịch sang tiếng Anh là "chiến thắng nhờ phòng ngự dũng cảm".[95] Từ năm 1976 đến năm 1983, câu lạc bộ sử dụng một huy hiệu riêng được phát triển để thay thế huy hiệu thành phố. Thiết kế này có dạng hình tròn, với tên đầy đủ của câu lạc bộ, bên trong là một con chim ác là đứng trước River Tyne, với tòa thành cổ của Newcastle ở phía sau.[96] Một thiết kế đơn giản hơn được sử dụng sau đó vào năm 1983, với các chữ cái viết tắt tên câu lạc bộ là NUFC cùng con chim ác là nhỏ từng xuất hiện trong huy hiệu trước đó nằm trong chữ "C" đặt ngang; biểu trưng này tồn tại tương đối ngắn và bị ngừng sử dụng sau năm 1988.[96]

Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu

Vào tháng 5 năm 2013, Newcastle công bố một hợp đồng tài trợ với logo Wonga.com xuất hiện trên trang phục thi đấu. Điều này vấp phải sự chỉ trích từ nhiều cổ động viên Newcastle. Vào tháng 7 năm 2013, có thông tin cho rằng tiền đạo Newcastle và người Hồi giáo sùng đạo Papiss Cissé đã từ chối mặc bất kì trang phục thi đấu chính thức hoặc đồ tập luyện nào có liên quan đến Wonga.com vì điều đó không phù hợp với niềm tin tôn giáo của anh. Vấn đề sau đó đã được giải quyết.[97]

Vào ngày 15 tháng 5 năm 2017, áo sân nhà cho mùa giải 2017-18 đã được công bố, với logo của nhà tài trợ mới Fun88. Áo đấu này có huy hiệu kỉ niệm màu vàng và bạc nhằm đánh dấu mùa giải bóng đá thứ 125 của câu lạc bộ, dựa trên huy hiệu thành phố. Cũng có thông báo rằng bộ trang phục này sẽ có số áo màu đỏ lần đầu tiên kể từ mùa giải 1992-93.[98]

Nhà tài trợ hiện tại trên áo đấu của Newcastle United là Sela, trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2023.[99] Các nhà tài trợ áo đấu trước đây gồm Newcastle Breweries (1980-1986), Greenall's Beers (1986-1990), McEwan's Lager và Newcastle Brown Ale (1990-2000), NTL (2000-2003), Northern Rock (2003-2012), Virgin Money (2012-2013), Wonga.com (2013-2017), và Fun88 (2017-2023).[100]

Nhà sản xuất trang phục hiện tại của Newcastle United là Adidas, trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2024.[101] Các nhà sản xuất trang phục trước đây bao gồm Bukta (1974-1975, 1976-1980), Umbro (1975-1976, 1980-1993), Asics (1993-1995), Adidas (1995-2010, 2024-nay), Puma (2010-2021), và Castore (2021-2024).[cần dẫn nguồn]

Nhà tài trợ tay áo hiện tại của Newcastle United là Noon, trong một thỏa thuận bắt đầu từ năm 2022.[102] Các nhà tài trợ tay áo trước đây bao gồm MRF Tyres (2017-2018), StormGain (2019-2020), ICM.com (2020-2021), và Kayak (2021-2022).[103]

Các đối tác hiện tại khác của đội bóng bao gồm Fun88, BetMGM, Carling, Monster Energy, Sportsbet.io, InPost, Fenwick và Saudia.[104][105][106]

Giai đoạnNhà sản xuất trang phụcNhà tài trợ áo đấu (mặt trước)Nhà tài trợ áo đấu (tay áo)Nhà tài trợ áo đấu (mặt sau)
1974-1975BuktaKhông có tài trợKhông có tài trợKhông có tài trợ
1975-1976Umbro
1976-1980Bukta
1980-1986UmbroNewcastle Breweries
1986-1990Greenall's Beers
1990-1993Newcastle Brown Ale / McEwan's Lager
1993-1995Asics
1995-1996Adidas
1996-2000Newcastle Brown Ale
2000-2003NTL
2003-2010Northern Rock
2010-2012Puma
2012-2013Virgin Money
2013-2017Wonga.com
2017-2018Fun88MRF Tyres
2018-2019Không có tài trợ
2019-2020StormGain
2020-2021ICM.com
2021-2022CastoreKayak
2022-2023Noon
2023-2024Sela
2024-2025AdidasSam Fender (People Watching)
2025–Không có tài trợ

Sân vận động

Newcastle đã 10 lần là câu lạc bộ có lượng khán giả cao nhất Football League. Câu lạc bộ là đội đầu tiên trên thế giới thu hút hơn một triệu khán giả cho các trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia (1946-47) và đạt trung bình hơn 50.000 khán giả cho các trận đấu thuộc giải vô địch quốc gia (1947-48; 56.283).

Trong suốt lịch sử của Newcastle United, sân nhà của họ là St James' Park, sân vận động bóng đá lâu đời nhất và lớn nhất vùng Đông Bắc nước Anh, đồng thời là sân vận động bóng đá lớn thứ bảy tại Premier League. Sân đã tổ chức 11 trận bóng đá quốc tế cấp đội tuyển quốc gia, trận đầu tiên vào năm 1901 và trận gần nhất vào năm 2024.[107][108] Sân được sử dụng làm địa điểm thi đấu cho cả 2012 Summer Olympics lẫn 2015 Rugby World Cup,[109][110] và cũng thường xuyên là nơi tổ chức Magic Weekend của Rugby League, thu hút lượng khán giả kỉ lục.[cần dẫn nguồn]

Bóng đá đã được chơi tại St James' Park từ sớm nhất là năm 1880, khi khu sân này do Newcastle Rangers sử dụng, trước khi trở thành sân nhà của Newcastle West End vào năm 1886. Hợp đồng thuê sân sau đó được Newcastle East End mua lại vào năm 1892, trước khi đội bóng đổi tên thành Newcastle United. Vào đầu thế kỉ 20, sức chứa của sân được ghi nhận là 30.000 chỗ trước khi được tái phát triển từ năm 1900 đến năm 1905, nâng sức chứa lên 60.000 và trong một thời gian trở thành sân vận động lớn nhất nước Anh. Trong phần lớn thế kỉ 20, sân vận động thay đổi rất ít, dù đã có nhiều kế hoạch phát triển. Khán đài Tây cũ được thay bằng Khán đài Milburn vào năm 1987, Khán đài Sir John Hall thay thế Leazes End vào năm 1993, và phần còn lại của sân được cải tạo để biến nơi đây thành một sân vận động toàn ghế ngồi có sức chứa 37.000 chỗ. Trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2000, các tầng khán đài kép được bổ sung cho Khán đài Milburn và Khán đài Sir John Hall để nâng sức chứa của địa điểm này lên mức hiện tại là 52.305 chỗ.[111]

Toàn cảnh St James' Park nhìn từ Khán đài Milburn, cho thấy từ trái sang phải là Khán đài Sir John Hall, Khán đài Đông và Gallowgate End

Vào tháng 10 năm 2009, Ashley thông báo rằng ông có kế hoạch cho thuê tên sân để tăng doanh thu, và đến tháng 11 sân vận động tạm thời được đổi tên thành sportsdirect.com @ St James' Park Stadium.[51][112] Tên gọi này lẽ ra chỉ được sử dụng đến hết mùa giải 2009-10, nhưng đã kéo dài đến tháng 11 năm 2011.[112][113] Vào ngày 10 tháng 11 năm 2011, câu lạc bộ chính thức đổi tên sân thành Sports Direct Arena, dù đây chỉ là một tên gọi tạm thời nhằm thể hiện khả năng tài trợ của sân vận động. Công ty thuộc sở hữu của Ashley không trả bất kì khoản nào cho thỏa thuận này.[114][115] Vào tháng 10 năm 2012, công ty payday loan Wonga.com trở thành nhà tài trợ thương mại chính của Newcastle United và mua quyền đặt tên sân, nhưng khôi phục lại tên St James' Park.[116]

Sau khi khép lại mùa giải 22/23, một phần nhỏ ghế ngồi giữa Khán đài Đông và Gallowgate End đã được chuyển thành các khu vực khán đài đứng an toàn, đồng nghĩa lần đầu tiên kể từ năm 1993 St James' Park không còn là sân vận động toàn ghế ngồi, tương tự như nhiều sân bóng khác tại Premier League.[117]

Vào tháng 7 năm 2023, có xác nhận rằng sau khi mua lại Strawberry Place, kế hoạch xây dựng một khu vực dành cho người hâm mộ mới bên ngoài Gallowgate End đã được đệ trình. Công trình này sẽ được xây dựng với sự hợp tác của Stack và Sela (nhà tài trợ mặt trước áo đấu của câu lạc bộ).[118]

Từ năm 1982, sân vận động được phục vụ bởi St James Metro station trên hệ thống Tyne and Wear Metro. Nhà ga được trang trí theo tông màu đen và trắng, cùng những bức ảnh lưu trữ về các cầu thủ của câu lạc bộ.[119]

Sân tập hiện tại của câu lạc bộ là Newcastle United Training Centre, nằm tại Darsley Park, ở phía bắc thành phố thuộc khu vực Benton. Cơ sở này được mở cửa vào tháng 7 năm 2003.[cần dẫn nguồn]

Sau khi câu lạc bộ được tiếp quản quyền sở hữu vào năm 2021, Training Centre đã được cải tạo đáng kể, với khu lễ tân mới, nhà hàng, phòng sinh hoạt của cầu thủ, phòng thuyết trình, văn phòng, cơ sở y tế, phòng thay đồ và khu thủy trị liệu đều được xây dựng mới.[120]

Quyền sở hữu

Newcastle United được thành lập như một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân theo cổ phần vào ngày 6 tháng 9 năm 1895.[9] Câu lạc bộ hoạt động theo mô hình này trong phần lớn thế kỉ 20, với quyền sở hữu chủ yếu nằm trong tay các gia đình McKeag, Westwood và Seymour.[121]

John Hall, người đã mua 79,2% cổ phần của câu lạc bộ với giá 3 triệu bảng Anh vào năm 1991, đã đưa câu lạc bộ niêm yết trên sàn chứng khoán với tư cách một công ty đại chúng trách nhiệm hữu hạn vào tháng 4 năm 1997. Sau đợt niêm yết, 57% cổ phần được nắm giữ bởi John Hall và gia đình ông, trong khi một phần thiểu số thuộc về đối tác kinh doanh của ông là Freddy Shepherd.[122]

Vào tháng 12 năm 1998, sau khi mua 6,3% cổ phần của câu lạc bộ với giá 10 triệu bảng Anh, tập đoàn truyền thông NTL đã cân nhắc một thương vụ tiếp quản toàn bộ câu lạc bộ. Tuy nhiên, kế hoạch này sau đó bị hủy bỏ sau khi Competition Commission, được thành lập vào tháng 4 năm 1999, bày tỏ lo ngại về việc các câu lạc bộ bóng đá thuộc sở hữu của các công ty truyền thông.[123]

Cổ động viên Newcastle giương các tấm bảng Mike Ashley Out trong trận sân khách gặp QPR, tháng 5 năm 2015.

Năm 2007, doanh nhân Mike Ashley mua lại tổng số cổ phần của cả Douglas Hall và John Hall, tương đương 41% cổ phần của câu lạc bộ, thông qua công ty nắm giữ St James Holdings, với mục tiêu mua nốt phần còn lại.[124] Sau khi mua số cổ phần này, ông bổ nhiệm Chris Mort làm chủ tịch, đồng thời tiếp tục gia tăng số cổ phần nắm giữ, đạt 93,19% cổ phần câu lạc bộ vào ngày 29 tháng 6 năm 2007.[125] Con số này tăng lên 95% vào ngày 11 tháng 7 năm 2007, buộc các cổ đông còn lại phải bán cổ phần của họ.[126]

Sau khi hoàn tất việc mua lại câu lạc bộ, Ashley đã ba lần tuyên bố ý định bán Newcastle. Lần đầu tiên diễn ra sau các cuộc biểu tình của người hâm mộ phản đối việc Kevin Keegan từ chức vào tháng 9 năm 2008, khi Ashley nói: "Tôi đã lắng nghe các bạn. Các bạn muốn tôi rời đi. Đó là điều tôi đang cố gắng làm lúc này".[127] Tuy nhiên, ông rút câu lạc bộ khỏi thị trường vào ngày 28 tháng 12 năm 2008 vì không tìm được người mua.[128] Vào ngày 31 tháng 5 năm 2009, có thông tin cho rằng Ashley đang cố gắng bán câu lạc bộ một lần nữa.[129][130] Vào ngày 8 tháng 6 năm 2009, Ashley xác nhận rằng câu lạc bộ được rao bán với mức giá 100 triệu bảng Anh.[131] Đến cuối tháng 8 năm 2009, câu lạc bộ lại được rút khỏi thị trường.[132] Vào ngày 16 tháng 10 năm 2017, Newcastle United thông báo rằng Ashley một lần nữa đưa câu lạc bộ ra bán, đồng thời cho biết ông hi vọng một thỏa thuận có thể được hoàn tất trước dịp Giáng sinh năm 2017.[133]

Thương vụ tiếp quản do Saudi Arabia dẫn đầu

Vào tháng 4 năm 2020, truyền thông rộng rãi đưa tin rằng một liên danh gồm Public Investment Fund, PCP Capital Partners và RB Sports & Media đang hoàn tất lời đề nghị mua lại Newcastle United. Đề xuất bán này đã gây ra lo ngại và chỉ trích, chẳng hạn như những lập luận xem đây là hành vi sportwashing cho thành tích nhân quyền của Saudi Arabia, cũng như vấn nạn phát sóng thể thao lậu đang tiếp diễn trong khu vực.[134]

Vào tháng 5 năm 2020, hai nghị sĩ Bảo thủ đã kêu gọi chính phủ xem xét chặt chẽ một số khía cạnh của thương vụ, trong đó Karl McCartney kêu gọi chặn thương vụ, còn Giles Watling kêu gọi Department for Digital, Culture, Media and Sport (DCMS) tổ chức một phiên điều trần bằng chứng miệng بشأن nạn vi phạm bản quyền thể thao ở Saudi Arabia.[135] Vào tháng 5 năm 2020, The Guardian đưa tin rằng Premier League đã tiếp cận được một báo cáo từ World Trade Organization (được công bố công khai vào tháng sau), trong đó có bằng chứng cho thấy các công dân Saudi đã hậu thuẫn cho beoutQ – một đài phát sóng lậu mang các kênh của beIN Sports trong khu vực kể từ Qatar diplomatic crisis.[136][137][138] Vào tháng 6 năm 2020, The Guardian đưa tin rằng Richard Masters, khi xuất hiện trước DCMS, đã ngụ ý rằng thương vụ tiếp quản Newcastle United có thể sắp hoàn tất. Các nghị sĩ cảnh báo rằng việc để một liên danh Saudi Arabia nắm quyền sẽ là điều đáng xấu hổ, xét đến hồ sơ của quốc gia này về vi phạm bản quyền và nhân quyền.[139]

Hình ảnh từ 100% MAGS, cho thấy hàng nghìn cổ động viên NUFC ăn mừng thương vụ tiếp quản hoàn tất bên ngoài St James' Park vào ngày 7 tháng 10 năm 2021[140]

Vào tháng 7 năm 2020, The Guardian đưa tin rằng quyết định của Saudi Arabia cấm beIN Sports phát sóng trong nước đã càng làm phức tạp thêm thương vụ tiếp quản Newcastle United.[141] Vào ngày 30 tháng 7 năm 2020, Saudi Arabia thông báo rút khỏi thương vụ Newcastle, cho biết rằng "với sự trân trọng sâu sắc dành cho cộng đồng Newcastle và tầm quan trọng của câu lạc bộ bóng đá này, chúng tôi đã đi đến quyết định rút lại sự quan tâm trong việc mua lại Newcastle United Football Club". Nhóm này cũng nói thêm rằng "quá trình kéo dài" là một yếu tố quan trọng dẫn đến quyết định rút lui.[142] Việc thương vụ đổ vỡ đã vấp phải sự chỉ trích rộng rãi từ người hâm mộ Newcastle, trong đó nghị sĩ Newcastle Chi Onwurah cáo buộc Premier League đối xử với người hâm mộ câu lạc bộ bằng "sự khinh miệt", và sau đó đã viết thư cho Masters để yêu cầu giải thích.[143]

Bất chấp việc liên danh đã rút lui, các tranh chấp liên quan đến thương vụ tiếp quản vẫn tiếp tục. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2020, Newcastle United ra tuyên bố cho rằng Premier League đã chính thức bác bỏ thương vụ tiếp quản của liên danh này và cáo buộc Masters cùng ban lãnh đạo Premier League "[không] hành xử phù hợp liên quan đến [thương vụ tiếp quản]", đồng thời tuyên bố rằng câu lạc bộ sẽ cân nhắc mọi hành động pháp lí liên quan.[144] Premier League đã mạnh mẽ phủ nhận điều này trong một tuyên bố đưa ra vào ngày hôm sau, bày tỏ "sự ngạc nhiên" và "thất vọng" trước tuyên bố của Newcastle.[145]

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2021, Public Investment Fund, PCP Capital Partners và RB Sports & Media xác nhận rằng họ đã chính thức hoàn tất việc mua lại Newcastle United.[77] Một cuộc điều tra vào tháng 5 năm 2022 của The Guardian cho rằng chính phủ Anh của Boris Johnson đã có liên quan đến thương vụ tiếp quản Newcastle United của Saudi Arabia.[146] Vào tháng 4 năm 2021, có tiết lộ rằng Thái tử Saudi Mohammed bin Salman đã cảnh báo Johnson qua một tin nhắn văn bản, nói rằng quyết định của Premier League sẽ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao Anh-Saudi. Sau lời cảnh báo đó, Johnson đã cử đặc phái viên phụ trách vùng Vịnh của mình là Edward Lister vào cuộc.[147] Sau đó có thông tin cho rằng những nỗ lực sâu rộng của Johnson còn liên quan đến Bộ trưởng Đầu tư Gerry Grimstone, người đã thảo luận với chủ tịch Premier League Gary Hoffman và các đại diện Saudi có quan hệ chặt chẽ với văn phòng của MBS. Chính phủ Anh và Johnson nói rằng họ không liên quan đến thương vụ tiếp quản của Saudi Arabia. Sau khi được Premier League chấp thuận, Hoffman đã thông báo với 20 câu lạc bộ bóng đá Anh rằng chính phủ đã gây áp lực rất lớn; ông nói rằng quyết định không bị ảnh hưởng bởi điều đó.[146] Một báo cáo riêng cho thấy rằng bất chấp kết luận của Hoa Kỳ rằng vụ ám sát Jamal Khashoggi do Thái tử Mohammed của Saudi ra lệnh, ông vẫn có thể vượt qua bài kiểm tra chủ sở hữu và giám đốc của Premier League.[148] Human Rights Watch (HRW), một tổ chức vận động, đã cáo buộc chính phủ Saudi sử dụng bóng đá, đua xe thể thao và golf để sportswashing. Theo Josh Noble, biên tập viên thể thao của Financial Times, HRW định nghĩa sportswashing là "một nỗ lực nhằm đánh lạc hướng khỏi các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng của mình bằng cách tiếp quản những sự kiện tôn vinh thành tựu của con người".[149]

Tăng trưởng doanh thu (không bao gồm chuyển nhượng)
Mùa giảiDoanh thuXếp hạng thế giới
2020-21[150]170.1 triệu euro29Tăng
2021-22[151]212.3 triệu euro20Tăng
2022-23[152]287.8 triệu euro17Tăng
2023-24[153]371.8 triệu euro15Tăng

Premier League đã chấp thuận thương vụ tiếp quản Newcastle của PIF Saudi Arabia, sau những "cam kết ràng buộc pháp lí" rằng nhà nước Saudi sẽ không kiểm soát câu lạc bộ. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 2023, các tài liệu tòa án được công bố tại Hoa Kỳ cho rằng PIF là "một cơ quan mang tính chủ quyền của Vương quốc Saudi Arabia", và rằng thống đốc PIF đồng thời là chủ tịch Newcastle, Yasir Al-Rumayyan, là "một bộ trưởng đương nhiệm của chính phủ Saudi". Sau đó, Amnesty International, vốn từ trước đã chỉ trích Saudi Arabia về sportswashing, đã thúc giục Premier League xem xét lại thương vụ PIF Saudi Arabia tiếp quản câu lạc bộ. Vào tháng 3 năm 2023, Richard Masters bày tỏ nghi ngờ của mình trước một ủy ban các nhà lập pháp, cho biết ông không chắc liệu Premier League đã mở cuộc điều tra hay chưa.[154][155] Vào tháng 10 năm 2024, Premier League cho biết họ sẽ không xem xét lại thương vụ với Saudi Arabia.[156]

Trách nhiệm xã hội

Newcastle United Foundation là một tổ chức từ thiện độc lập được câu lạc bộ thành lập vào mùa hè năm 2008. Tổ chức này hướng tới việc khuyến khích học tập và thúc đẩy lối sống lành mạnh trong nhóm trẻ em, thanh thiếu niên và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại vùng Đông Bắc, đồng thời thúc đẩy bình đẳng và đa dạng.[157][158]

Vào tháng 12 năm 2012, câu lạc bộ thông báo rằng họ đã trở thành câu lạc bộ bóng đá carbon dương đầu tiên trên thế giới.[159]

Cổ động viên và kình địch

Cổ động viên tại St James' Park

Cổ động viên của Newcastle United được biết đến là một trong những nhóm người hâm mộ bóng đá cuồng nhiệt nhất trên thế giới. Năm 2016, các cổ động viên thành lập nhóm Wor Flags, nhóm này tiếp tục tạo ra những màn trình diễn cờ, biểu ngữ và tifo lớn, độc đáo tại St James' Park. Nhóm này hoàn toàn được tài trợ bởi người hâm mộ.[160]

Lực lượng cổ động viên mạnh nhất của câu lạc bộ nằm ở Đông Bắc Anh, nhưng các hội cổ động viên có thể được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới. Biệt danh của câu lạc bộ là The Magpies, trong khi các cổ động viên của câu lạc bộ cũng được biết đến với tên gọi Geordies hoặc Toon Army. Tên gọi Toon bắt nguồn từ cách phát âm từ town theo giọng Geordie.[161][162] Trong một khảo sát năm 2004 của Co-operative Financial Services, Newcastle United được xác định là đội đứng đầu bảng về chi phí phát sinh và quãng đường di chuyển của các cổ động viên sống tại Newcastle nếu muốn theo chân đội bóng trong mọi trận sân khách tại Premier League. Tổng quãng đường mà một cổ động viên phải đi để dự mọi trận sân khách từ Newcastle được cho là tương đương với một chuyến đi vòng quanh thế giới.[163] Trong mùa giải 2016-17, khi thi đấu ở hạng Hai, Newcastle ghi nhận lượng khán giả trung bình là 51.106 người.[164]

Cổ động viên của câu lạc bộ xuất bản một số fanzine như True FaithThe Mag, cùng với NUFC.com, được thành lập vào năm 1996. Họ thành lập Newcastle United Supporters Trust vào tháng 9 năm 2008, với mục tiêu "đại diện cho cộng đồng rộng lớn người ủng hộ Newcastle United".[165] Ngoài những bài hát cổ động quen thuộc của bóng đá Anh, cổ động viên Newcastle còn hát bài hát truyền thống của Tyneside là "Blaydon Races".[166][167] Trước mỗi trận sân nhà, đội bóng bước ra sân trong giai điệu "Going Home", ca khúc kết thúc bộ phim Local Hero năm 1983, do cổ động viên Newcastle và người sáng lập Dire Straits là Mark Knopfler sáng tác.[7]

Năm 1998, người sáng lập The Police và là cổ động viên Newcastle, Sting, đã viết một ca khúc ủng hộ Newcastle mang tên "Black and White Army (Bringing The Pride Back Home)" (do Ryan Molloy trình bày).[168] Năm 2015, một số cổ động viên Newcastle đã tẩy chay các trận đấu để phản đối cách điều hành câu lạc bộ của Mike Ashley, và họ nhận được sự ủng hộ từ những cổ động viên nổi tiếng của câu lạc bộ như Sting và Jimmy Nail.[168][169]

Theo truyền thống, kình địch chính của Newcastle là Sunderland, đối thủ của họ trong trận Tyne–Wear derby, cùng với Middlesbrough, đối thủ của họ trong trận Tyne-Tees derby.[170]

Kỉ lục

Tượng Alan Shearer bên ngoài St James' Park

Newcastle United đã trải qua 94 mùa giải ở hạng đấu cao nhất, đứng thứ tám trong bảng xếp hạng mọi thời đại của Premier League và có tổng số danh hiệu lớn cao thứ chín trong số các câu lạc bộ Anh với mười một lần vô địch.[cần dẫn nguồn] Jimmy Lawrence giữ kỉ lục ra sân nhiều nhất cho câu lạc bộ, với 496 lần ra sân cho đội một trong giai đoạn từ năm 1904 đến năm 1921.[171] Alan Shearer là chân sút ghi nhiều bàn nhất trong lịch sử câu lạc bộ, với 206 bàn trên mọi đấu trường từ năm 1996 đến năm 2006.[172] Andy Cole giữ kỉ lục ghi nhiều bàn nhất trong một mùa giải: 41 bàn ở mùa giải 1993-94 tại Premier League.[171] Shay Given là cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn thuộc câu lạc bộ, với 134 lần ra sân cho đội tuyển Cộng hòa Ireland.[171]

Chiến thắng với cách biệt lớn nhất của Newcastle United tại giải vô địch quốc gia là trận thắng 13-0 trước Newport County tại Second Division 2009-10 năm 1946. Thất bại nặng nề nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là trận thua 0-9 trước Burton Wanderers tại Second Division năm 1895.[171]

Lượng khán giả sân nhà cao nhất của Newcastle là 68.386 người trong một trận First Division gặp Chelsea vào ngày 3 tháng 9 năm 1930.[171] Lượng khán giả cao nhất của câu lạc bộ tại Premier League là 52.389 người, trong trận gặp Manchester City vào ngày 6 tháng 5 năm 2012.[173] Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà Newcastle thu về từ việc bán một cầu thủ là 125 triệu bảng Anh, từ Liverpool để chiêu mộ Alexander Isak vào tháng 9 năm 2025,[174] trong khi số tiền nhiều nhất mà câu lạc bộ chi ra cho một cầu thủ là 69 triệu bảng Anh để mua tiền đạo Nick Woltemade từ đội bóng BundesligaVfB Stuttgart vào tháng 8 năm 2025.[175]

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 26 tháng 2 năm 2026[176][177]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMAnhNick Pope
2HVAnhKieran Trippier (đội phó)
3HVAnhLewis Hall[a]
4HVHà LanSven Botman
5HVThụy SĩFabian Schär
7TVBrasilJoelinton
8TVÝSandro Tonali
9CHDC CongoYoane Wissa
10AnhAnthony Gordon
11AnhHarvey Barnes
12HVĐứcMalick Thiaw
17HVThụy ĐiểnEmil Krafth
18Đan MạchWilliam Osula
SốVT Quốc giaCầu thủ
20Thụy ĐiểnAnthony Elanga
21HVAnhTino Livramento
23TVAnhJacob Murphy
26TMAnhJohn Ruddy[b]
27ĐứcNick Woltemade
28TVAnhJoe Willock
29TMAnhMark Gillespie[b]
32TMAnhAaron Ramsdale (mượn từ Southampton)
33HVAnhDan Burn
37HVCộng hòa IrelandAlex Murphy[c]
39TVBrasilBruno Guimarães (đội trưởng)
41TVAnhJacob Ramsey
67TVAnhLewis Miley[a]

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
HVScotlandHarrison Ashby (cho Bradford City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVTây Ban NhaAntonio Cordero (cho Cádiz mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
HVAnhMatt Targett (cho Middlesbrough mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
SốVT Quốc giaCầu thủ
TMHy LạpOdysseas Vlachodimos (cho Sevilla mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TVAnhJoe White (cho Bradford City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

U-21 và Học viện

Những cầu thủ U-21 sau đây trước đó từng được điền tên vào danh sách thi đấu của Newcastle United trong một trận đấu chính thức:

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
31TMAnhMax Thompson (cho mượn tại Ayr United)
45TVNa UyTravis Hernes (cho mượn tại Groningen)
58TMAnhAidan Harris
59TMAnhAdam Harrison
60TVAnhTrevan Sanusi (cho mượn tại Lorient)
SốVT Quốc giaCầu thủ
61HVAnhLeo Shahar
62AnhSean Neave
64TVHàn QuốcPark Seung-soo
85TVAnhSam Alabi
  1. ^ a b Cầu thủ dưới 21 tuổi.
  2. ^ a b Không được đăng kí trong danh sách Champions League.
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên U-21

Cầu thủ nổi bật

Cầu thủ xuất sắc nhất năm

Nguồn: Newcastle United F.C.
Mùa giảiNgười chiến thắng
1975-76Alan Gowling
1976-77Micky Burns
1977-78Irving Nattrass
1978-79Peter Withe
1979-80Alan Shoulder
1980-81Kevin Carr
1981-82Mick Martin
1982-83Kevin Keegan
1983-84Kevin Keegan
1984-85Peter Beardsley
1985-86Peter Beardsley
1986-87Paul Goddard
1987-88Paul Gascoigne
 
Mùa giảiNgười chiến thắng
1988-89John Hendrie
1989-90Micky Quinn
1990-91John Burridge
1991-92Gavin Peacock
1992-93Lee Clark
1993-94Andy Cole
1994-95Barry Venison
1995-96Darren Peacock
1996-97Steve Watson
1997-98David Batty
1998-99Alan Shearer
1999-2000Alan Shearer
2000-01Shay Given
 
Mùa giảiNgười chiến thắng
2001-02Nolberto Solano
2002-03Alan Shearer
2003-04Olivier Bernard
2004-05Shay Given
2005-06Shay Given
2006-07Nicky Butt
2007-08Habib Beye
2008-09Sébastien Bassong
2009-10José Enrique
2010-11Fabricio Coloccini
2011-12Tim Krul
2012-13Davide Santon
2013-14Mike Williamson
 
Mùa giảiNgười chiến thắng
2014-15Daryl Janmaat
2015-16Rob Elliot
2016-17Ciaran Clark
2017-18Jamaal Lascelles
2018-19Salomón Rondón
2019-20Martin Dúbravka
2020-21Callum Wilson
2021-22Joelinton
2022-23Kieran Trippier
2023-24Anthony Gordon
2024-25Dan Burn

Ban quản lí

Ban huấn luyện

Chức vụTên
Giám đốc thể thaoRoss Wilson
Giám đốc kĩ thuậtSudarshan Gopaladesikan
Huấn luyện viên trưởngEddie Howe
Trợ lí huấn luyện viênJason Tindall
Huấn luyện viên đội mộtStephen Purches
Simon Weatherstone
Graeme Jones
Trưởng bộ phận thủ mônAdam Bartlett

[178]

Hội đồng quản trị

Chức vụTên
Chủ tịchYasir Al-Rumayyan
Giám đốc điều hànhDavid Hopkinson
Giám đốc tài chínhSimon Capper
Giám đốc thương mạiVacant
Giám đốc vận hànhBrad Miller

Danh hiệu

Nguồn:[179]

Giải vô địch quốc gia

Cúp

Danh hiệu nhỏ

  • Sheriff of London Charity Shield
    • Vô địch: 1907
  • Texaco Cup
    • Vô địch: 1973-74, 1974-75
  • UEFA Intertoto Cup
    • Vô địch: 2006
  • Anglo-Italian Cup
    • Vô địch: 1973

Tham khảo

  1. ^ "Premier League Handbook 2025/26" (PDF). Premier League. ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  2. ^ "Newcastle United announces agreement to change its ownership structure". Newcastle United F.C. ngày 12 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  3. ^ "Premier League Handbook 2022/23" (PDF). ngày 19 tháng 7 năm 2022. tr. 24. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
  4. ^ Brus, Mark (ngày 2 tháng 3 năm 2015). "England's Ten Most Successful Clubs: Chelsea Still Way Behind Arsenal, Liverpool & Man United Despite Capital One Cup Win". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  5. ^ Ogden, Mark (ngày 2 tháng 1 năm 2020). "Newcastle are a Premier League club with huge support, so why have they been miserable for so long?". ESPN. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  6. ^ "Newcastle United: Saudi Arabian-backed takeover completed". BBC Sport. ngày 7 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  7. ^ a b Anthony Bateman (2008). "Sporting Sounds: Relationships Between Sport and Music". p. 186. Routledge
  8. ^ a b c d e f g Joannou, P. "The Formation of Newcastle United". Newcastle United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  9. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r "Newcastle Utd – The History". Newcastle United Mad. ngày 18 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  10. ^ Turnbull, Simon (ngày 16 tháng 5 năm 1999). "Football: Only one United? Why we are united in our disgust". The Independent. London. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008.
  11. ^ "Newcastle United, "Newcastle United Trophy cabinet which has been empty for many a year."". Sky Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2007.
  12. ^ "Malcolm Macdonald: His Playing Style". Super Mac. ngày 4 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2010.
  13. ^ "English Texaco Cup : Honours". Statto Organisation. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ Morton, David (ngày 27 tháng 4 năm 2017). "When newly-promoted Newcastle United paraded in an open-top bus in 1993". Evening Chronicle. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2023.
  15. ^ Scott Murray, Barney Ronay and Andy Bull (ngày 5 tháng 2 năm 2010). "The Joy of Six: Neutrals' favourites". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  16. ^ "Premier League at 25: the best match – Liverpool 4-3 Newcastle, tháng 4 năm 1996". The Guardian. London. ngày 25 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019.
  17. ^ Hughes, Rob (ngày 30 tháng 7 năm 1996). "Newcastle United Pays Record $23 Million for Shearer". International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2008.
  18. ^ Randall, Colin (ngày 30 tháng 7 năm 1996). "Shearer is going home for £15m". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2008.
  19. ^ "Gullit named Newcastle boss". BBC Sport. ngày 27 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  20. ^ a b Joannou, P. "The Modern Era at Newcastle United: 1980-2000". Newcastle United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  21. ^ "Robson takes Newcastle hotseat". BBC Sport. ngày 3 tháng 9 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  22. ^ "Man Utd 'Richest club in the world'". BBC News. ngày 1 tháng 12 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2013. The next British side on the list, at fifth, is Newcastle United...
  23. ^ Joannou, P. "Robson Comes Home". Newcastle United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  24. ^ Manazir, Wasi (ngày 1 tháng 6 năm 2016). "Portrait of an iconic manager – Sir Bobby Robson". Footie Central | Football Blog. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2020.
  25. ^ "Premier League History – Season 2003/04". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  26. ^ "Newcastle force Robson out". BBC Sport. ngày 30 tháng 8 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  27. ^ "Shearer lifts determined Newcastle". UEFA. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  28. ^ "Sporting stage dramatic comeback". UEFA. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  29. ^ "Statistics Goals scored Seasons 2004/05". UEFA. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  30. ^ Bevan, Chris (ngày 2 tháng 2 năm 2006). "What went wrong for Souness?". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  31. ^ "Roeder named as Newcastle manager". BBC Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  32. ^ "Injury forces Shearer retirement". BBC Sport. ngày 22 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008.
  33. ^ "Newcastle's Bizarre 2006 Intertoto Cup Win, Explained | Football Stories" (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 2 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2023.
  34. ^ "Roeder resigns as Newcastle boss". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  35. ^ *Bolam, Mike (2007). The Newcastle Miscellany. United Kingdom: Vision Sports Publishing. tr. 7. ISBN 978-1-905326-18-1.
  36. ^ "Newcastle name Allardyce as boss". BBC Sport. ngày 15 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  37. ^ "Ashley to take over Newcastle Utd". BBC News. ngày 7 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  38. ^ "Mort in for Shepherd at Newcastle". BBC Sport. ngày 25 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  39. ^ "Ashley boosts stake in Newcastle: July 15, 2007". BBC News. ngày 15 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  40. ^ "Newcastle delisted from Stock Exchange". The Daily Telegraph. London. ngày 18 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  41. ^ "Allardyce reign ends at Newcastle". BBC Sport. ngày 9 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  42. ^ "Keegan returns as Newcastle boss". BBC Sport. ngày 16 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  43. ^ "Chris Mort quits as Newcastle chairman, Derek Llambias named managing director". The Daily Telegraph. London. ngày 17 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2008.
  44. ^ "War of words continue at Newcastle as Kevin Keegan sticks to his guns". The Daily Telegraph. London. ngày 7 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019.
  45. ^ "Keegan resigns as Newcastle boss". BBC Sport. ngày 4 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  46. ^ Roopanarine, Les (ngày 26 tháng 9 năm 2008). "Newcastle appoint Kinnear as interim manager". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  47. ^ "Kinnear 'will resume Magpies job'". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  48. ^ James, Stuart (ngày 24 tháng 5 năm 2009). "Alan Shearer demands Newcastle overhaul following relegation". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  49. ^ Benammar, Emily (ngày 9 tháng 6 năm 2009). "Newcastle up for sale: email your offers now". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  50. ^ "Newcastle confirm Hughton as boss". BBC Sport. ngày 27 tháng 10 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  51. ^ a b "Ashley takes Newcastle off market". BBC Sport. ngày 27 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  52. ^ "Newcastle United secure promotion to Premier League". BBC Sport. ngày 6 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2010.
  53. ^ Alexander, Steve (ngày 5 tháng 4 năm 2010). "Newcastle United Promoted Back to the Premier League". Goal. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010.
  54. ^ "Plymouth 0-2 Newcastle". BBC Sport. ngày 19 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010.
  55. ^ Gibbs, Thom (ngày 6 tháng 12 năm 2010). "Chris Hughton sacked as manager of Newcastle United". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2010.
  56. ^ Pengelly, Martin (ngày 6 tháng 12 năm 2010). "Peter Beardsley named as Newcastle United caretaker manager". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011.
  57. ^ "Newcastle 4-4 Arsenal". BBC Sport. ngày 5 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  58. ^ "Newcastle 2-1 Everton". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014.
  59. ^ "Alan Pardew and Vincent Kompany's Premier League award". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  60. ^ "Newcastle boss Alan Pardew is named LMA Manager of the Year". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
  61. ^ Chris McKenna. "Newcastle 1-1 Benfica (agg 2-4)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014.
  62. ^ "QPR 1-2 Newcastle". BBC Sport. ngày 12 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  63. ^ "Alan Pardew: Crystal Palace confirm manager's appointment". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  64. ^ "Newcastle United 2-0 West Ham United". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  65. ^ "Steve McClaren: Newcastle appoint ex-England manager". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  66. ^ a b "Rafael Benitez: Newcastle United appoint Spaniard as Steve McClaren's successor". BBC Sport. ngày 11 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016.
  67. ^ Taylor, Daniel (ngày 11 tháng 5 năm 2016). "Sunderland safe after Lamine Koné double sinks crumbling Everton". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
  68. ^ "Newcastle United clinched the Championship title with victory over Barnsley, after Brighton conceded a late equaliser at Aston Villa". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017.
  69. ^ "Newcastle United: Mike Ashley puts Premier League club up for sale". BBC Sport. ngày 16 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  70. ^ "Newcastle United 3-0 Chelsea". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  71. ^ "Premier League (Sky Sports)". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  72. ^ "Sports Direct-owned House of Fraser apologises after cancelling all online orders from customers". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. ngày 17 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2018.
  73. ^ "Rafa Benitez leaves Newcastle United after failing to agree new contract". Daily Mirror. London. ngày 24 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019.
  74. ^ "Newcastle appoint Steve Bruce as manager to succeed Rafael Benítez". The Guardian. ngày 17 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2019.
  75. ^ Taylor, Louise (ngày 20 tháng 10 năm 2021). "'Human shield' Steve Bruce was out of his depth in dream job at Newcastle". The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
  76. ^ Morgan, Tom; Burt, Jason; Edwards, Luke; Amako, Uche (ngày 7 tháng 10 năm 2021). "Newcastle United takeover confirmed as £305m deal with Saudi-backed consortium finalised". The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  77. ^ a b "PIF, PCP Capital Partners and RB Sports & Media acquire Newcastle United Football Club". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  78. ^ Bird, Simon (ngày 20 tháng 10 năm 2021). "Steve Bruce's huge pay-off details as he's sacked by Newcastle". Daily Mirror. London. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  79. ^ "Steve Bruce leaves Newcastle by mutual consent after Saudi takeover". BBC Sport. ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  80. ^ "Newcastle United appoint Eddie Howe as head coach". Newcastle United F.C. ngày 8 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  81. ^ "Burnley 1-2 Newcastle United". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
  82. ^ "Newcastle United's women's team completes historic move to club ownership". Newcastle United F.C. ngày 21 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2022.
  83. ^ "Newcastle secure top-four finish with Leicester draw". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
  84. ^ Saqib, Faiza (ngày 11 tháng 8 năm 2023). "We Are Newcastle United: When will it be released, how to watch and what do we know about it?". The Independent. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2023.
  85. ^ "Newcastle United Amazon Prime documentary: Release date, trailer, how to watch and which stars will feature". www.sportingnews.com. ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
  86. ^ "'We Are Newcastle United' launches weekly on Prime Video next month". Newcastle United Football Club. ngày 26 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
  87. ^ McNulty, Phil (ngày 13 tháng 12 năm 2023). "Newcastle United 1-2 AC Milan". BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2024.
  88. ^ McNulty, Phil (ngày 16 tháng 3 năm 2025). "Howe's history men to go down in Newcastle folklore". BBC Sport. BBC. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2025.
  89. ^ "Newcastle news: David Hopkinson appointed as chief executive". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  90. ^ "Former MSG chief Hopkinson named Newcastle CEO". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  91. ^ a b "Newcastle United". Historical Football Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  92. ^ "Newcastle United". Classic Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  93. ^ "Change Kits". Historical Football Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  94. ^ "Club Crest". Newcastle United F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  95. ^ "The Coat of Arms of the City of Newcastle upon Tyne". Newcastle City Council. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  96. ^ a b "Newcastle United". WeltFussballArchiv.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008.
  97. ^ Smith, Ben (ngày 25 tháng 7 năm 2013). "Papiss Cisse and Newcastle resolve shirt sponsor dispute". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014.
  98. ^ "Newcastle United New kit: A closer look". Newcastle United F.C. ngày 14 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  99. ^ "Newcastle United & Sela agree multi-year front of shirt partnership". Newcastle United F.C. ngày 9 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2023.
  100. ^ "Newcastle shirt sponsors". oldfootballshirts.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2022.
  101. ^ "Newcastle United announces Adidas partnership". Newcastle United F.C. ngày 7 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2024.
  102. ^ "noon.com becomes Newcastle United's official sleeve partner". Newcastle United F.C. ngày 27 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
  103. ^ "KAYAK named Newcastle United's official shirt sleeve sponsor - Newcastle United". www.newcastleunited.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2024.
  104. ^ "Club partners". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2022.
  105. ^ "A shirty Christmas with Bukta". Football Shirt Culture.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  106. ^ "Kit History". Historical Football Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2008.
  107. ^ "England's Matches 1900-1914". England Football Online. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  108. ^ "England 2 Azerbaijan 0". England Football Online. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  109. ^ "sports direct arena". Bản gốc (PHP) lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  110. ^ White, Andrew (ngày 28 tháng 7 năm 2009). "Newcastle's St James' Park to be Rugby World Cup venue". The Northern Echo. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  111. ^ "Newcastle United official site] St James' Park Story, Part 2". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008.
  112. ^ a b "Newcastle reveal new stadium name". BBC Sport. ngày 4 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009.
  113. ^ Bird, Simon (ngày 29 tháng 3 năm 2011). "Newcastle 'have cost Ashley £285.8m so far'". Daily Mirror. London. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  114. ^ Edwards, Luke (ngày 10 tháng 11 năm 2011). "Newcastle United insist Sports Direct Arena name change is essential to help pay for new striker". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011.
  115. ^ "Magpies – We need the money". Sky Sports. ngày 10 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011.
  116. ^ "Newcastle United sponsorship deal with Wonga sees stadium becoming St James' Park again". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012.
  117. ^ Starforth, Miles (ngày 27 tháng 6 năm 2023). "Work underway at St James' Park as Newcastle United fans get new section". shieldsgazette.com.
  118. ^ "Planning under way for Strawberry Place fan zone". Newcastle United Football Club (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2023.
  119. ^ "St. James". TheTrams.co.uk. Peter Courtenay. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011.
  120. ^ "A Tour of Newcastle United's New Look Training Ground!". Newcastle United. ngày 30 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2023.
  121. ^ Cassidy, Denis (2012). Newcastle United: The Day the Promises Had to Stop. Amberley Publishing. ISBN 978-1445609034.
  122. ^ Conn, David (ngày 8 tháng 2 năm 2006). "How the Geordie Nation turned into a cash cow". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  123. ^ "Newcastle United". ukbusinesspark.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2008.
  124. ^ Ubha, Ravi (ngày 23 tháng 5 năm 2007). "Ashley, Retail Billionaire, Offers to Buy Newcastle". Bloomberg L.P. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  125. ^ "Ashley tightens grip on Magpies". The Guardian. London. ngày 29 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  126. ^ "Ashley poised to complete Newcastle buy-out". The Times. London. ngày 11 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2025.
  127. ^ "Ashley puts Newcastle up for sale". BBC Sport. ngày 14 tháng 9 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  128. ^ "Ashley calls off Newcastle sale". BBC Sport. ngày 28 tháng 12 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2008.
  129. ^ "Ashley wants quick Newcastle sale". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009.
  130. ^ "Mike Ashley puts Newcastle United up for sale again". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. ngày 1 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009.
  131. ^ Caulkin, George (ngày 8 tháng 6 năm 2009). "Mike Ashley brings more embarrassment on Newcastle". The Times. London. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2025.
  132. ^ Richardson, Andy (ngày 24 tháng 8 năm 2009). "Is Ashley ready to make a definitive decision?". The Northern Echo. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  133. ^ "Newcastle United: Mike Ashley puts Premier League club up for sale". BBC Sport. ngày 16 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017.
  134. ^ Panja, Tariq (ngày 30 tháng 4 năm 2020). "As Premier League Weighs Saudi Bid for Newcastle, It Criticized Kingdom". The New York Times. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  135. ^ Ziegler, Martyn (ngày 15 tháng 5 năm 2020). "Opposition grows to Newcastle United's potential Saudi takeover". The Times. London. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023.
  136. ^ Vivarelli, Nick (ngày 16 tháng 6 năm 2020). "World Trade Organization Rules There is Evidence Saudi Arabia Supported Pirate Broadcaster beoutQ". Variety. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  137. ^ "WTO piracy ruling casts fresh doubt over Newcastle's Saudi takeover". SportsPro Media. ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  138. ^ Ingle, Sean (ngày 26 tháng 5 năm 2020). "Newcastle takeover in serious doubt as WTO rules pirate TV channel is Saudi". The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2020.
  139. ^ "Newcastle takeover saga close to resolution, Richard Masters tells Mps". The Guardian. ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020.
  140. ^ "Newcastle United fans celebrate wildly outside St James's Park after Saudi-led takeover confirmed". The Independent. ngày 7 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2021.
  141. ^ "Saudi Arabia bans beIN Sports to further complicate £300m Newcastle takeover". The Guardian. ngày 14 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2020.
  142. ^ "Saudi bid to buy Newcastle ends after piracy, human rights issues". Al Jazeera. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  143. ^ "Newcastle MP slams Premier League for treatment of fans during takeover process". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  144. ^ "Club statement". Newcastle United F.C. ngày 9 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  145. ^ Dawnay, Oliver (ngày 10 tháng 9 năm 2020). "Premier League adamant they have not rejected Newcastle's takeover bid and say they are 'disappointed' and 'surprised' by club's statement". talkSPORT. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023.
  146. ^ a b "Revealed: government did encourage Premier League to approve Newcastle takeover". The Guardian. ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2022.
  147. ^ "Saudi crown prince asked Boris Johnson to intervene in Newcastle United bid". The Guardian. ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2021.
  148. ^ "The Premier League's Owners' and Directors' Test Just Failed!". The Columbia Journal of Law and the Arts. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2021.
  149. ^ Noble, Josh (ngày 10 tháng 10 năm 2022). "Saudi Arabia wealth fund commits $2.3bn to football sponsorships". Financial Times. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2022.
  150. ^ "Deloitte Football Money League 2022 (rankings for the 2020-21 season)" (PDF). www2.deloitte.com.
  151. ^ "Deloitte Football Money League 2023 (rankings for the 2021-22 season)". www2.deloitte.com.[liên kết hỏng]
  152. ^ Weber, Tom (ngày 25 tháng 1 năm 2024). "The 30 richest football clubs in the world". Football Transfers. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2024.
  153. ^ "Deloitte Football Money League 2025 (rankings for the 2023-24 season)". www2.deloitte.com.
  154. ^ "Premier League can't say if Newcastle ownership probe exists". France24. ngày 28 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
  155. ^ "Premier League Can't Say If Newcastle Ownership Probe Exists". Barron’s. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
  156. ^ Taylor, Louise (ngày 21 tháng 10 năm 2024). "Premier League will not review Saudi Newcastle deal after Bin Salman claims". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2024.
  157. ^ Moore, James (ngày 18 tháng 2 năm 2011). "Newcastle United Foundation hails success". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  158. ^ "Foundation". Newcastle United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  159. ^ "fcbusiness Magazine – Newcastle United Becomes World's First 'Carbon Positive' Football Club". ngày 5 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  160. ^ Buck, Joe (ngày 3 tháng 6 năm 2023). "34 stunning Newcastle United fan photos of Wor Flags displays this season - gallery". Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2023.
  161. ^ "Geordie Dictionary". englandsnortheast.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  162. ^ Szczepanik, Nick (ngày 26 tháng 9 năm 2007). "Newcastle top of the league when it comes to dedication of fans". The Times. London. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2025.
  163. ^ "Football Fans Pay the Price of Away Support". PR Newswire. ngày 23 tháng 11 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  164. ^ "Championship 2016/2017 » Attendance » Home matches". World Football. ngày 28 tháng 10 năm 2023.
  165. ^ Ryder, Lee (ngày 15 tháng 9 năm 2008). "New supporters club to give fans a voice". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  166. ^ "Blaydon Races". terracechants.me.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  167. ^ "Listen to Comin' Home Newcastle football chant". fanchants.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  168. ^ a b "Celeb Toon fans join protest against Ashley". ngày 25 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  169. ^ "Sting and Jimmy Nail support Newcastle United boycott". ngày 24 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
  170. ^ "Knopfler wants the return of Local Hero – the Journal". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2019.
  171. ^ a b c d e "Club Records". Newcastle United F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011.
  172. ^ "Alan Shearer Profile and Career". FastScore.com. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  173. ^ Ben Smith (ngày 6 tháng 5 năm 2012). "Newcastle 0-2 Man City". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  174. ^ "Newcastle United sell Alexander Isak for a British record fee". www.newcastleunited.com (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  175. ^ "Newcastle United complete club record deal for Nick Woltemade". Newcastle United FC. ngày 30 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  176. ^ "Men's Team". Newcastle United F.C. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
  177. ^ "2024/25 Updated Premier League squad lists". Premier League. ngày 7 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2025.
  178. ^ https://www.newcastleunited.com/en/news/uniteds-backroom-boys
  179. ^ "Honours and Records". Newcastle United F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Newcastle United F.C.Bản mẫu:Mùa giải Newcastle United F.C.