Southampton F.C.
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Southampton | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Saints | |||
| Thành lập | 21 tháng 11 năm 1885 (với tên gọi St. Mary's Y.M.A.) | |||
| Sân | Sân vận động St Mary | |||
| Sức chứa | 32.384[1] | |||
| Chủ sở hữu | Sport Republic[2] | |||
| Chủ tịch điều hành | Dragan Šolak[3] | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Tonda Eckert | |||
| Giải đấu | Championship | |||
| 2024-25 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 20 trên 20 (xuống hạng) | |||
| Website | southamptonfc | |||
Câu lạc bộ bóng đá Southampton (tiếng Anh: Southampton Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Southampton, Hampshire, Anh. Câu lạc bộ hiện tại thi đấu tại Championship, hạng đấu thứ hai của bóng đá Anh. Sân nhà của đội từ năm 2001 là Sân vận động St Mary, trước đó đội đóng tại The Dell. Đội bóng thi đấu trong trang phục áo đỏ trắng. Biệt danh của họ là "The Saints" vì nguồn gốc của câu lạc bộ là một đội bóng của nhà thờ tại Nhà thờ St Mary's. Southampton có mối kình địch lâu đời ở trận derby South Coast với Portsmouth, một phần do vị trí địa lí gần nhau và lịch sử hàng hải riêng của hai thành phố.
Được thành lập vào năm 1885, câu lạc bộ gia nhập Southern League với tên gọi Southampton St. Mary's vào năm 1894, rồi bỏ phần "St. Mary's" khỏi tên gọi sau đó ba năm. Southampton vô địch Southern League sáu lần và là đội thua trong các trận chung kết Cúp FA các năm 1900 và 1902, trước khi được mời trở thành thành viên sáng lập của Third Division vào năm 1920. Họ giành quyền thăng hạng với tư cách nhà vô địch Third Division South mùa giải 1921-22, và ở lại Second Division trong 31 năm cho tới khi xuống hạng vào năm 1953. Được đăng quang là nhà vô địch Third Division dưới sự dẫn dắt của Ted Bates ở mùa giải 1959-60, họ thăng hạng lên First Division vào cuối mùa giải 1965-66. Đội bóng chơi ở hạng đấu cao nhất trong tám mùa giải, nhưng đã vô địch Cúp FA với tư cách một đội hạng Hai vào năm 1976 sau chiến thắng 1-0 trước Manchester United. Huấn luyện viên Lawrie McMenemy sau đó đưa câu lạc bộ trở lại hạng đấu cao nhất bằng suất thăng hạng ở mùa giải 1977-78.
Southampton là đội thua trong trận chung kết League Cup năm 1979 và kết thúc First Division ở vị trí á quân mùa giải 1983-84, kém Liverpool ba điểm. Câu lạc bộ là thành viên sáng lập của Premier League vào năm 1992 và lọt vào thêm một trận chung kết Cúp FA nữa tại năm 2003. Việc xuống hạng đã chấm dứt 27 năm liên tiếp của họ ở hạng đấu cao nhất vào năm 2005, và họ rơi xuống hạng Ba vào năm 2009. Southampton giành Football League Trophy vào năm 2010 và giành hai suất thăng hạng liên tiếp từ League One và EFL Championship ở các mùa giải 2010-11 và 2011-12. Sau 11 năm ở hạng đấu cao nhất, giai đoạn mà họ là á quân EFL Cup vào năm 2017, đội xuống hạng vào năm 2023. Câu lạc bộ thắng trận chung kết play-off Championship năm 2024 và trở lại Premier League ngay trong lần đầu tiên, nhưng lại xuống hạng trở lại Championship vào tháng 4 năm 2025 khi mùa giải còn bảy trận.
Lịch sử

Thành lập và Southern League (1885-1920)
Southampton ban đầu được thành lập tại Nhà thờ St. Mary, vào ngày 21 tháng 11 năm 1885 bởi các thành viên của Hiệp hội Thanh niên nam Anh giáo Nhà thờ St. Mary.
St. Mary's Y.M.A., như cách báo chí địa phương thường gọi, chơi phần lớn các trận đầu tiên của mình trên The Common, nơi các trận đấu thường xuyên bị gián đoạn bởi người đi bộ khăng khăng thực hiện quyền đi lại tự do của mình. Các trận quan trọng hơn, như các trận cúp, được tổ chức tại Sân cricket hạt ở Northlands Road hoặc Sân cricket Antelope ở St Mary's Road.
Ban đầu câu lạc bộ được biết đến với tên St. Mary's Young Men's Association F.C. (thường được viết tắt là "St. Mary's Y.M.A.") và sau đó trở thành đơn giản là St. Mary's F.C. ở mùa giải 1887-88, trước khi lấy tên Southampton St. Mary's khi câu lạc bộ gia nhập Southern League vào năm 1894.
Khi bắt đầu sự nghiệp ở giải đấu, The Saints kí hợp đồng chuyên nghiệp với một số cầu thủ mới, bao gồm Charles Baker, Alf Littlehales và Lachie Thomson từ Stoke, cùng Fred Hollands từ Millwall.[4] Sau khi giành chức vô địch Southern League ở mùa giải 1896-97, câu lạc bộ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn và được đổi tên thành Southampton F.C.
Southampton vô địch Southern League ba năm liên tiếp từ năm 1897 đến năm 1899, rồi lại đăng quang vào các năm 1901, 1903 và 1904. Trong giai đoạn này, họ chuyển tới một sân vận động mới xây trị giá 10.000 bảng mang tên The Dell, ở phía tây bắc trung tâm thành phố, vào năm 1898. Dù sẽ gắn bó với nơi đây trong 103 năm tiếp theo, tương lai của câu lạc bộ trong những năm đầu không hề chắc chắn và ban đầu đội phải thuê sân trước khi đủ khả năng mua lại sân vận động vào đầu thế kỉ 20. Câu lạc bộ lần đầu lọt vào một trong bốn trận Chung kết Cúp FA của mình vào năm 1900. Trong ngày hôm đó, họ thua Bury 0-4, và hai năm sau lại chịu số phận tương tự trước Sheffield United khi bị đánh bại 1-2 trong trận đá lại của chung kết năm 1902. Việc vào tới các trận chung kết này giúp Southampton được công nhận rộng rãi, kể cả ở tầm quốc tế: năm 1909, một đại diện của Athletic Bilbao chơi cho đội liên kết Atlético Madrid đã mua 50 áo đấu của Saints trong một chuyến đi tới Anh, và số áo này được chia cho cả hai đội. Mối liên hệ đầu tiên với Southampton này là lí do màu sắc của hai câu lạc bộ Tây Ban Nha ấy trở thành đỏ và trắng như ngày nay.[5][6][7]
Gia nhập Football League (1920-1966)

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Southampton gia nhập Football League Third Division mới được thành lập, giải đấu sau đó tách thành khu vực Nam và Bắc một năm sau đó.[8] Southampton kết thúc mùa giải đó ở vị trí á quân.[9] Mùa giải 1921-22 khép lại trong vinh quang[10] với suất thăng hạng, mở đầu cho 31 năm liên tiếp ở Second Division.[11]
Mùa giải 1922-23 là một mùa giải "cân bằng" độc đáo — 14 trận thắng, 14 trận hòa và 14 trận thua để giành 42 điểm, tức đúng một điểm mỗi trận. Số bàn thắng ghi được và bàn thua cũng ngang bằng nhau và đội bóng kết thúc ở khu vực giữa bảng xếp hạng.[12][13]
Vào các năm 1925 và 1927, họ lọt vào bán kết Cúp FA, lần lượt thua 0-2 và 1-2 trước Sheffield United[14] và Arsenal.
Southampton từng buộc phải chuyển các trận sân nhà sang sân của đối thủ địa phương Portsmouth tại Fratton Park trong Chiến tranh thế giới thứ hai sau khi một quả bom rơi xuống mặt sân The Dell vào tháng 11 năm 1940, tạo ra một hố sâu 18 foot làm hư hại một cống ngầm và khiến mặt sân bị ngập nước.[15][16]
Suất thăng hạng đã bị bỏ lỡ sít sao ở mùa giải 1947-48 khi đội kết thúc ở vị trí thứ ba,[17] điều tương tự lặp lại ở mùa giải tiếp theo (dù có thời điểm dẫn trước tám điểm khi còn tám trận), trong khi ở mùa giải 1949-50 họ chỉ lỡ suất thăng hạng vào tay đội xếp thứ hai là Sheffield Wednesday. Trong hai mùa giải 1948-49 và 1949-50, Charlie Wayman ghi 56 bàn, nhưng việc xuống hạng vào năm 1953 đã đẩy Southampton trở lại Division 3 (South).
Phải đến năm 1960 Southampton mới giành lại vị thế tại Second Division, với Derek Reeves ghi 39 trong tổng số 106 bàn thắng tại giải của đội vô địch. Ngày 27 tháng 4 năm 1963, đám đông 68.000 người tại Villa Park chứng kiến đội thua Manchester United 0-1 ở bán kết Cúp FA.[18]
Vươn tới First Division và chức vô địch cúp (1966-1977)
Phần này không có nguồn tham khảo nào. (tháng 1 năm 2026) |
Ở mùa giải 1965-66, đội bóng của Ted Bates thăng hạng lên First Division với tư cách á quân, trong đó Martin Chivers ghi 30 trong số 85 bàn thắng của Saints tại giải vô địch.
Trong chiến dịch tiếp theo, Ron Davies gia nhập và ghi 43 bàn ngay trong mùa giải đầu tiên của mình. Saints trụ lại trong hàng ngũ tinh hoa suốt tám năm, với thành tích cao nhất là đứng thứ bảy ở các mùa giải 1968-69 và 1970-71. Những vị trí này đủ để giúp họ giành quyền tham dự Inter-Cities Fairs Cup mùa giải 1969-70 (bị loại ở vòng Ba trước Newcastle United) và giải kế nhiệm của nó là Cúp UEFA mùa giải 1971-72, nơi họ bị loại ở vòng Một trước Athletic Bilbao.
Tháng 12 năm 1973, Bates từ chức và được thay bằng trợ lí của ông là Lawrie McMenemy. The Saints trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên của hệ thống xuống hạng ba đội mới ở mùa giải 1973-74.
Dưới sự dẫn dắt của McMenemy, The Saints bắt đầu tái thiết ở Second Division, chiêu mộ những cầu thủ như Peter Osgood, Jim McCalliog, Jim Steele và Peter Rodrigues (đội trưởng), và vào năm 1976, Southampton lọt vào trận chung kết Cúp FA, đối đầu với Manchester United tại Wembley, và đánh bại đội được đánh giá cao hơn này 1-0 nhờ bàn thắng của Bobby Stokes. Mùa giải tiếp theo, họ lại thi đấu ở châu Âu trong khuôn khổ Cúp C2 châu Âu, đi tới vòng Ba trước khi thua Anderlecht với tổng tỉ số 2-3.
Trở lại First Division (1977-1992)
Ở mùa giải 1977-78, dưới băng đội trưởng của Alan Ball, The Saints kết thúc ở vị trí á quân Second Division (sau Bolton Wanderers) và trở lại First Division. Họ kết thúc khá thoải mái ở vị trí thứ 14 trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất. Mùa giải tiếp theo, họ trở lại Wembley trong trận chung kết League Cup, nơi đội thể hiện tốt nhưng thua Nottingham Forest 2-3.
Năm 1980, McMenemy thực hiện bản hợp đồng lớn nhất của mình khi chiêu mộ Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu Kevin Keegan. Dù sự nghiệp của Keegan tại Southampton chỉ kéo dài hai năm, The Saints đã sở hữu một đội hình hấp dẫn với những cái tên như Alan Ball, chân sút sung mãn Ted MacDougall (người vẫn giữ kỉ lục ghi nhiều bàn nhất trong một trận Cúp FA — chín bàn — cho Bournemouth trước Margate trong chiến thắng 11-0), đồng đội trên hàng công của MacDougall tại Bournemouth và Norwich City là Phil Boyer, công thần của câu lạc bộ Mick Channon và cầu thủ chạy cánh tốc độ Danny Wallace. Ở mùa giải 1980-81, họ ghi 76 bàn và kết thúc ở vị trí thứ sáu, khi đó là thứ hạng cao nhất của họ tại giải vô địch. Mùa giải tiếp theo, Kevin Keegan giúp đưa câu lạc bộ lên ngôi đầu First Division. Southampton dẫn đầu giải đấu trong hơn hai tháng, chiếm ngôi đầu vào ngày 30 tháng 1 năm 1982 và giữ vị trí này (trừ một tuần) cho tới ngày 3 tháng 4 năm 1982. Nhưng ở đoạn cuối đầy thất vọng của mùa giải, khi Keegan bị ảnh hưởng bởi chấn thương lưng, Southampton chỉ thắng hai trong chín trận cuối và kết thúc ở vị trí thứ bảy. Đội vô địch trong cuộc đua rất rộng mở ấy là câu lạc bộ cũ của Keegan, Liverpool, đội đăng quang ở vòng cuối cùng. Keegan ghi 26 trong tổng số 72 bàn của Southampton mùa đó, nhưng sau đó bị bán cho Newcastle.
Southampton tiếp tục tiến bộ dưới sự lèo lái của McMenemy, và với một đội hình có Peter Shilton (thủ môn của Anh), Nick Holmes, David Armstrong, tiền đạo Steve Moran và cầu thủ chạy cánh nhanh nhẹn Danny Wallace, họ đạt thành tích cao nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi về nhì ở mùa giải 1983-84[19] (kém Liverpool, đội vô địch, ba điểm), đồng thời lọt vào bán kết Cúp FA trước khi thua Everton 0-1 tại Highbury. McMenemy sau đó bổ sung tiền vệ dày dạn kinh nghiệm Jimmy Case vào đội hình.
Họ kết thúc ở vị trí thứ năm mùa giải sau đó, nhưng do thảm họa Heysel, tất cả các câu lạc bộ Anh đều bị cấm dự cúp châu Âu: nếu không vì điều này, Southampton đã một lần nữa giành quyền tham dự Cúp UEFA.
McMenemy rời đi vào cuối mùa giải 1984-85 và được thay bởi Chris Nicholl, người bị sa thải sau sáu năm cầm quân dù vẫn giữ được vị thế ở hạng đấu cao nhất cho câu lạc bộ. Ông được thay thế bởi Ian Branfoot, người cho tới cuối mùa giải 1990-91 là trợ lí huấn luyện viên của Steve Coppell tại Crystal Palace. Vào thời điểm này, một nhân tố chủ chốt trong đội hình Southampton là tiền vệ tấn công/tiền đạo sinh tại Guernsey là Matthew Le Tissier, người đã chen chân vào đội một ở mùa giải 1986-87. Ông được bầu là PFA Young Player of the Year năm 1990 và sau đó có tám lần ra sân cho đội tuyển Anh — cuối cùng giải nghệ vào năm 2002 ở tuổi 33. Một cầu thủ trẻ đầy hứa hẹn khác đột phá vào đội hình Southampton ngay sau Le Tissier là Alan Shearer, người khi mới 17 tuổi đã ghi một hat-trick vào lưới Arsenal trong một trận đấu tại giải vô địch vào tháng 4 năm 1988. Shearer trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một vào năm 1990, và ở lại Southampton cho tới tháng 7 năm 1992, khi được bán cho Blackburn Rovers với mức phí kỉ lục quốc gia hơn 3 triệu bảng. Sau đó, ông trở thành cầu thủ đắt giá nhất thế giới khi Blackburn bán ông cho Newcastle với giá 15 triệu bảng vào năm 1996. Ông cũng ghi 30 bàn cho đội tuyển Anh ở cấp độ quốc tế.
Southampton tại Premier League (1992-2005)
Southampton là thành viên sáng lập của Premier League trong mùa giải 1992-93, nhưng phần lớn mười mùa giải tiếp theo đội bóng phải vật lộn với cuộc chiến trụ hạng. Ở mùa giải 1995-96, Southampton kết thúc ở vị trí thứ 17 với 38 điểm tại giải vô địch, tránh xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại. Hai chiến thắng quan trọng trong những tuần cuối mùa đã góp phần lớn bảo đảm rằng The Saints chứ không phải Manchester City giành quyền trụ lại Premiership. Đầu tiên là chiến thắng 3-1 trên sân nhà trước đội sau đó giành cú đúp danh hiệu là Manchester United, rồi tiếp theo là chiến thắng 1-0 trên sân khách trước Bolton Wanderers, đội đã xuống hạng. Cựu huấn luyện viên của Liverpool và Rangers là Graeme Souness được bổ nhiệm, và ông chiêu mộ các cầu thủ nước ngoài như Egil Østenstad và Eyal Berkovic. Điểm nhấn của mùa giải là chiến thắng 6-3 trước Manchester United tại The Dell vào tháng 10, khi cả hai tân binh của ông đều ghi cú đúp. Souness từ chức chỉ sau một mùa giải cầm quân và được thay bằng Dave Jones, người đã giúp Stockport County thăng hạng lên Division One và đồng thời vào tới bán kết League Cup.
Ở mùa giải 1998-99, đội bóng đứng chôn chân ở đáy bảng trong phần lớn nửa đầu mùa giải nhưng một lần nữa thoát xuống hạng ở vòng đấu cuối sau chuỗi kết quả tốt muộn màng, được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của cầu thủ người Latvia Marian Pahars và người hùng cũ Le Tissier (cuộc "Great Escape" nổi tiếng). Năm 1999, Southampton được bật đèn xanh để xây dựng một sân vận động mới với sức chứa 32.000 chỗ ở khu St Mary's của thành phố, sau khi đã chơi tại The Dell từ năm 1898. Sân vận động cũ đã được cải tạo thành sân toàn ghế ngồi vào đầu thập niên đó, nhưng sức chứa chưa đến 16.000 chỗ và không phù hợp để tiếp tục mở rộng.
Trong mùa giải 1999-2000, Dave Jones rời cương vị huấn luyện viên Southampton để tập trung vào một vụ kiện sau khi ông bị cáo buộc lạm dụng trẻ em tại nhà trẻ nơi ông từng làm việc trong thập niên 1980. Các cáo buộc sau đó được chứng minh là vô căn cứ, nhưng đã quá muộn để cứu vãn sự nghiệp của Jones trên cương vị huấn luyện viên Southampton và ông được thay thế bởi cựu huấn luyện viên đội tuyển Anh Glenn Hoddle. Hoddle giúp đội bóng giữ khoảng cách an toàn với khu vực xuống hạng của Premier League, nhưng sau khi nhận được lời mời, ông chuyển sang Tottenham Hotspur ngay trước khi mùa giải 2000-01 khép lại. Ông được thay thế bởi huấn luyện viên đội một Stuart Gray, người giám sát việc chuyển đến St Mary's Stadium cho mùa giải 2001-02. Vào cuối mùa giải 2000-01, trong trận đấu chính thức cuối cùng tại The Dell, Matthew Le Tissier vào sân ở cuối trận và ghi bàn thắng cuối cùng tại giải vô địch trên sân vận động cũ bằng một cú vô lê nửa nảy sau động tác xoay người trong chiến thắng 3-2 trước Arsenal. Gray bị sa thải sau khởi đầu kém cỏi ở mùa giải tiếp theo và được thay bằng cựu huấn luyện viên Coventry City là Gordon Strachan, người đã đưa Southampton tới chỗ an toàn và vị trí thứ 11 chắc chắn.
Ở mùa giải 2002-03, Southampton kết thúc ở vị trí thứ tám tại giải vô địch và là á quân Cúp FA trước Arsenal (sau thất bại 0-1 tại Sân vận động Thiên niên kỷ), phần lớn nhờ sự lột xác của James Beattie, người ghi 24 bàn, trong đó có 23 bàn tại giải vô địch. Strachan từ chức vào tháng 3 năm 2004 và trong vòng tám tháng, hai huấn luyện viên là Paul Sturrock và Steve Wigley lần lượt đến rồi đi. Chủ tịch Rupert Lowe đã chấp nhận nguy cơ làm phật ý người hâm mộ Southampton khi bổ nhiệm Harry Redknapp làm huấn luyện viên vào ngày 8 tháng 12 năm 2004, ngay sau khi ông từ chức tại đối thủ vùng duyên hải phía Nam là Portsmouth.[20] Redknapp mang về một số tân binh, trong đó có con trai ông là Jamie, trong nỗ lực tránh xuống hạng. Southampton xuống hạng khỏi Premier League vào ngày cuối cùng của mùa giải, khép lại 27 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất của câu lạc bộ. Việc xuống hạng của họ được xác nhận sau thất bại 1-2 trên sân nhà trước Manchester United.[21]
Lowe và Southampton tiếp tục thu hút sự chú ý khi cựu huấn luyện viên đội tuyển rugby Anh vô địch World Cup là Sir Clive Woodward gia nhập câu lạc bộ — cuối cùng được bổ nhiệm làm giám đốc kĩ thuật vào tháng 6 năm 2005.[22]
Ngoài hạng đấu cao nhất (2005-2012)
Vào tháng 11 năm 2005, huấn luyện viên Harry Redknapp từ chức để trở lại Portsmouth, và được thay bởi George Burley. Rupert Lowe từ chức chủ tịch vào tháng 6 năm 2006, và doanh nhân có trụ sở tại Jersey là Michael Wilde, người đã trở thành cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ, tiếp quản vị trí này. Sau khi câu lạc bộ chi ra mức kỉ lục 6 triệu bảng cho chuyển nhượng, hai tiền đạo người Ba Lan là Grzegorz Rasiak và Marek Saganowski thi đấu hiệu quả, và mùa giải đó cũng chứng kiến sự xuất hiện của hậu vệ cánh trái 17 tuổi left-back Gareth Bale. Southampton kết thúc ở vị trí thứ sáu và thua Derby County trong trận bán kết play-off sau loạt sút luân lưu.
Ban lãnh đạo tìm kiếm nguồn đầu tư mới cho câu lạc bộ, và vào tháng 2 năm 2007, Wilde rời chức chủ tịch để được thay bởi doanh nhân địa phương Leon Crouch trong vai trò "chủ tịch tạm quyền", chức vụ mà Crouch giữ cho đến ngày 21 tháng 7 năm 2007. Trong mùa giải 2007-08, George Burley cho biết các cầu thủ như Bale và Kenwyne Jones buộc phải bị bán đi כדי ngăn câu lạc bộ rơi vào tình trạng quản lí tài sản, và việc không thể thăng hạng đã đẩy đội vào hoàn cảnh tài chính nghiêm trọng.[23] Burley rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2008 để tiếp quản đội tuyển quốc gia Scotland và được thay bằng Nigel Pearson, người đã cứu câu lạc bộ khỏi xuống hạng ở vòng đấu cuối cùng.
Vào tháng 7 năm 2008, toàn bộ thành viên ban quản trị trừ một người từ chức, mở đường cho Lowe và Wilde quay lại: Wilde giữ vai trò chủ tịch Southampton FC còn Rupert Lowe trở thành chủ tịch Southampton Leisure Holdings plc. Dù Pearson đã giúp đội trụ hạng, ban lãnh đạo không gia hạn hợp đồng với ông vì những hạn chế tài chính, và huấn luyện viên người Hà Lan tương đối ít tên tuổi Jan Poortvliet được bổ nhiệm. Các vấn đề tài chính tiếp tục chồng chất, kéo theo việc thêm nhiều cầu thủ bị bán hoặc đem cho mượn, còn một số khu vực của St Mary's bị đóng כדי cắt giảm chi phí. Vào tháng 1 năm 2009, Poortvliet từ chức khi câu lạc bộ đứng áp chót Championship, và Mark Wotte tiếp quản công việc huấn luyện.[24][25][26]
Vào tháng 4 năm 2009, công ty mẹ của Southampton bị đặt vào diện quản lí tài sản. Một án phạt trừ 10 điểm được áp dụng, nhưng vì đội đã xuống hạng do đứng áp chót Football League Championship nên án phạt này phải được áp vào mùa giải 2009-10. Đến cuối tháng 5, câu lạc bộ không thể thanh toán lương cho nhân viên và đã đề nghị mọi người làm việc không lương như một cử chỉ thiện chí. Người quản trị cảnh báo rằng câu lạc bộ đang đối mặt nguy cơ phá sản cận kề nếu không tìm được người mua.[27] Trong tháng 6, quản trị viên Mark Fry xác nhận đang đàm phán với hai nhóm đầu tư, trước khi xác nhận rằng câu lạc bộ đã được bán cho một người mua ở nước ngoài "thuộc sở hữu và do Markus Liebherr kiểm soát".[28] Doanh nhân người Ý Nicola Cortese được Liebherr đưa vào để trông coi các lợi ích kinh doanh của câu lạc bộ thay mặt ông. Vào tháng 7 năm 2009, khi câu lạc bộ nằm dưới quyền kiểm soát của ông chủ mới, Wotte bị sa thải khỏi vị trí huấn luyện viên trưởng và Alan Pardew được bổ nhiệm làm huấn luyện viên đội một mới.[29] The Saints thực hiện bản hợp đồng lớn đầu tiên dưới thời Liebherr khi chiêu mộ tiền đạo Rickie Lambert vào ngày 10 tháng 8 từ đội bóng League One là Bristol Rovers.[30]
Southampton bắt đầu mùa giải 2009-10 ở League One, tức hạng đấu thứ ba của bóng đá Anh lần đầu tiên sau 50 năm, và với -10 điểm. Vào tháng 3 năm 2010, Southampton giành danh hiệu đầu tiên kể từ năm 1976 khi đánh bại Carlisle United 4-1 tại Wembley để đoạt Football League Trophy.[31] Southampton kết thúc mùa giải ở vị trí thứ bảy, kém vị trí play-off cuối cùng bảy điểm.
Bộ áo sân nhà mới được ra mắt vào ngày 10 tháng 6 năm 2010 để kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ. Thiết kế dựa trên bộ trang phục gốc của St. Mary's Y.M.A. được sử dụng năm 1885; nó có huy hiệu kỉ niệm mới và không có logo nhà tài trợ.[32] Ngày 11 tháng 8, có thông báo rằng Liebherr đã qua đời; tuy nhiên, tương lai của câu lạc bộ đã được bảo đảm và lên kế hoạch từ trước khi ông mất.[33][34] Pardew bị sa thải vào tháng 8 và Nigel Adkins gia nhập từ Scunthorpe United כדי thay thế ông.[35] Câu lạc bộ giành quyền thăng hạng lên Championship vào tháng 5 năm 2011 với tư cách á quân sau Brighton & Hove Albion.
Trở lại Championship cho mùa giải 2011-12, Southampton có khởi đầu mùa giải tốt nhất trong 75 năm với chuỗi 13 trận thắng liên tiếp trên sân nhà ở giải vô địch, lập kỉ lục mới của câu lạc bộ và vươn lên đầu bảng. Vào tháng 4 năm 2012, Southampton giành quyền thăng hạng lên Premier League với tư cách á quân sau Reading. Trận đấu cuối cùng của mùa giải đã lập kỉ lục khán giả tại St Mary's Stadium với 32.363 người. Lambert kết thúc mùa giải với tư cách vua phá lưới Championship với 27 bàn tại giải, là "Golden Boot" thứ ba của ông trong bốn mùa giải. Ông cũng giành giải Championship Player of the Year. Nhờ vậy, Southampton trở thành đội thứ hai trong vòng một năm giành hai suất thăng hạng liên tiếp, thành tích mà Norwich City đã làm được trước đó một năm.[36][37][38][39]
Trở lại Premier League và xuống hạng (2012-2023)
Southampton trở lại Premier League ở mùa giải 2012-13 ban đầu dưới sự dẫn dắt của Nigel Adkins. Những khoản tiền đáng kể được chi ra để tăng cường đội hình, nhưng ở giai đoạn đầu mùa giải, Adkins bị thay bằng huấn luyện viên người Argentina Mauricio Pochettino.[40][41] Southampton kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 14, và mùa giải tiếp theo ở vị trí thứ tám.
Cuối mùa giải 2013-14, Pochettino rời câu lạc bộ để sang Tottenham. Sau đó, câu lạc bộ bổ nhiệm Ronald Koeman làm người thay thế theo bản hợp đồng ba năm, đồng thời thực hiện một số vụ bán cầu thủ đình đám trong mùa hè.[42][43][44][45][46] Trong trận cuối cùng của mùa giải 2014-15, chiến thắng 6-1 trước Aston Villa, Sadio Mané ghi ba bàn chỉ trong 176 giây, qua đó lập hat-trick nhanh nhất trong lịch sử Premier League.[47] Câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ bảy, khi đó là thứ hạng cao nhất trong lịch sử của họ tại Premier League,[48][49] và nhờ đó giành quyền tham dự UEFA Europa League 2015-16.[50] Sau khi đánh bại Vitesse, The Saints bị Midtjylland loại ở vòng play-off.[51] Ở mùa giải tiếp theo, Southampton một lần nữa lập kỉ lục mới cho câu lạc bộ khi khép lại mùa giải ở vị trí thứ sáu. Họ lại giành quyền dự Europa League, nhưng lần này vào thẳng vòng bảng thay vì phải đá play-off.
Vào tháng 6 năm 2016, Koeman rời Southampton để gia nhập Everton và Claude Puel thay thế ông bằng bản hợp đồng ba năm. Câu lạc bộ bị loại ở vòng bảng Europa League do luật bàn thắng sân khách trước Hapoel Be'er Sheva F.C., dù có hiệu số bàn thắng bại tốt hơn. Tuy nhiên, đội bóng thành công hơn tại Cúp EFL, nơi họ thua 2-3 trước Manchester United trong trận chung kết, một trận đấu mà Manolo Gabbiadini bị từ chối một hat-trick vì một quyết định việt vị sai.[52] Câu lạc bộ khép lại mùa giải 2016-17 ở vị trí thứ tám. Trong mùa hè năm đó, Puel bị thay thế trên cương vị huấn luyện viên bởi người Argentina Mauricio Pellegrino, trước đó dẫn dắt Alavés.
Southampton bị cuốn vào vụ bê bối lạm dụng tình dục trong bóng đá tại Vương quốc Liên hiệp Anh vào tháng 12 năm 2016 khi một số cựu cầu thủ tập sự tuổi thiếu niên của Southampton kể với BBC về những sự việc không phù hợp trong thập niên 1980 liên quan tới một huấn luyện viên bóng đá cũ, người sau đó được xác định là Bob Higgins.[53][54][55][56][57][58] Higgins bị Southampton sa thải vào năm 1989 sau khi các cáo buộc xuất hiện,[56] và vào năm 1991 ông bị truy tố với sáu tội danh hành hung khiếm nhã đối với các thiếu niên mà ông từng huấn luyện; tại phiên tòa ở Southampton Crown Court, ông được tuyên trắng án theo chỉ đạo của thẩm phán[57] sau khi bên công tố không đưa ra chứng cứ nào.[56][58] Higgins sau đó làm huấn luyện viên trẻ tại Peterborough United vào giữa thập niên 1990,[59][60] và bị điều tra במסגרת một phóng sự Dispatches của Channel 4 בשנת 1997.[60] Sau thêm hai vụ xét xử, Higgins bị kết tội vào năm 2019 về hành hung khiếm nhã tại Bournemouth Crown Court,[61][62][63][64][65] và bị tuyên án 24 năm tù.[66]
Giữa mùa giải, câu lạc bộ bán trung vệ người Hà Lan Virgil van Dijk cho Liverpool với mức phí ước tính 75 triệu bảng, một thương vụ bán kỉ lục của Southampton và là mức giá kỉ lục thế giới cho vị trí của anh vào thời điểm đó.[67] Pellegrino bị sa thải vào tháng 3 năm 2018 khi đội chỉ hơn nhóm xuống hạng một điểm,[68][69] và người thay ông, cựu cầu thủ Mark Hughes, đã đưa câu lạc bộ tới vị trí thứ 17, trụ hạng ở ngày cuối cùng của mùa giải.[70][71][72] Hughes kí hợp đồng mới vào cuối mùa giải nhưng khởi đầu tệ hại của mùa kế tiếp khiến ông bị sa thải vào tháng 12 khi đội đứng thứ 18.[73] Ông được thay bằng cựu huấn luyện viên của RB Leipzig là Ralph Hasenhüttl, người đã đưa đội tránh xa khu vực xuống hạng để cán đích ở vị trí thứ 16.[74]
Vào tháng 8 năm 2017, Southampton Football Club xác nhận rằng doanh nhân Trung Quốc Gao Jisheng đã hoàn tất thương vụ tiếp quản trị giá nhiều triệu bảng đối với câu lạc bộ, khi mua 80% cổ phần với giá khoảng 210 triệu bảng sau khi vượt qua các cuộc kiểm tra liên quan, bao gồm bài kiểm tra chủ sở hữu và giám đốc của Premier League. Thương vụ này diễn ra sau hơn 12 tháng đàm phán giữa gia đình Gao và câu lạc bộ vùng duyên hải phía Nam. Khoản đầu tư được Gao và con gái ông Nelly thực hiện dưới danh nghĩa cá nhân thay vì thông qua Lander Sports như dự kiến ban đầu. Công ti có trụ sở tại Hàng Châu này là nhánh kinh doanh của gia đình, hoạt động trong lĩnh vực phát triển, xây dựng và quản lí các công trình thể thao.[75]
Southampton phải nhận thất bại nặng nề nhất trong lịch sử vào ngày 25 tháng 10 năm 2019, khi thua 0-9 trước Leicester City trên sân nhà; kết quả này sau đó được lặp lại vào ngày 2 tháng 2 năm 2021 trước Manchester United tại Old Trafford ở mùa giải kế tiếp, dù trong những hoàn cảnh khác nhau. Đây là thất bại nặng nề ngang bằng với trận thua của Ipswich Town trước Manchester United năm 1995, trở thành thất bại đậm nhất kể từ khi Premier League ra đời.[76] Sau làn sóng phản ứng dữ dội đối với màn trình diễn của đội, các cầu thủ và ban huấn luyện đã từ chối nhận lương từ trận đấu đó và thay vào đó quyên góp số tiền ấy cho Saints Foundation.[77] Vào ngày 9 tháng 4 năm 2020, Southampton trở thành câu lạc bộ Premier League đầu tiên hoãn lương cầu thủ,[78] trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Dù có khởi đầu nghèo nàn khiến họ còn nằm trong nhóm xuống hạng tận tháng 11, Southampton đã cải thiện đáng kể theo thời gian và kết thúc năm với chuỗi bảy trận bất bại để về đích ở vị trí thứ 11 tại giải vô địch. Tổng cộng 52 điểm của họ là thành tích cao nhất kể từ mùa giải 2015-16.
Chuỗi phong độ tốt của câu lạc bộ còn tiếp diễn ở mùa giải 2020-21 với việc The Saints đứng thứ ba sau 13 trận.[79] Đội bóng cũng có hành trình thành công tại Cúp FA khi vào tới bán kết, trước khi thua nhà vô địch sau đó là Leicester City.[80] Trong tháng 11, Southampton từng có thời điểm dẫn đầu bảng xếp hạng Premier League. Tuy nhiên, bất chấp khởi đầu xuất sắc ấy, đội bóng sa sút ở giai đoạn giữa mùa và chịu hàng loạt chấn thương làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng cầu thủ đội một, một phần do việc phần lớn cơ sở tập luyện của câu lạc bộ không thể sử dụng vì các hạn chế được áp đặt trong đợt phong tỏa thứ hai tại Anh. Vì vậy, Hasenhüttl buộc phải tung nhiều cầu thủ trẻ của câu lạc bộ vào sân כדי lấp các khoảng trống trong đội hình chính. Sau một nửa đầu mùa giải đầy ấn tượng, Southampton cuối cùng kết thúc ở vị trí thứ 15.[81] Vào tháng 1 năm 2022, Gao bán 80% cổ phần của mình cho Sport Republic, một tập đoàn do người Serbia Dragan Šolak tài trợ, với giá 100 triệu bảng.[82] Dù phần lớn giới bình luận dự đoán đội sẽ xuống hạng từ đầu mùa, Southampton kết thúc mùa giải 2021-22 ở vị trí thứ 15 mùa thứ hai liên tiếp.[83]
Vào tháng 11 năm 2022, có thông báo rằng Southampton đã chia tay huấn luyện viên Ralph Hasenhüttl sau bốn năm,[84] và được thay bởi Nathan Jones.[85] Ngày 12 tháng 2 năm 2023, Jones bị sa thải sau chuỗi kết quả thất vọng với bảy thất bại trong tám trận tại giải vô địch, khiến The Saints rơi xuống đáy bảng Premier League.[86][87] Sau khi làm huấn luyện viên tạm quyền trong chiến thắng 1-0 trước Chelsea, Rubén Sellés, người đã gia nhập Southampton với vai trò huấn luyện viên trưởng đội một vào tháng 6 năm 2022, được công bố là người thay Jones vào ngày 24 tháng 2 theo hợp đồng kéo dài đến hết mùa giải 2022-23.[88][89][90] Sellés không thể cứu vãn mùa giải của The Saints, và đội bóng למעשה xuống hạng vào ngày 13 tháng 5 sau thất bại 0-2 trên sân nhà trước Fulham.[91] Ngày 24 tháng 5 năm 2023, Southampton xác nhận rằng họ sẽ không gia hạn hợp đồng với Sellés khi thỏa thuận hiện tại hết hạn vào cuối mùa giải.[92]
Thăng hạng và xuống hạng tiếp theo (2023-nay)
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, câu lạc bộ bổ nhiệm Russell Martin làm huấn luyện viên theo hợp đồng ba năm.[93] Sau khi thua bốn trong tám trận đầu tiên khi trở lại Championship, The Saints lập chuỗi 25 trận bất bại trên mọi đấu trường, một kỉ lục của câu lạc bộ.[94] Sau khi cuối cùng kết thúc ở vị trí thứ tư, Southampton trở lại Premier League ngay trong lần thử đầu tiên thông qua play-off, đánh bại Leeds United 1-0 trong trận chung kết tại Wembley.[95]
Ngày 15 tháng 12 năm 2024, Martin bị sa thải sau thất bại 0-5 trên sân nhà trước Tottenham Hotspur, khi Southampton đứng thứ 20 trên bảng xếp hạng Premier League với chỉ năm điểm sau 16 trận.[96][97] Sáu ngày sau, Ivan Jurić được bổ nhiệm làm huấn luyện viên theo hợp đồng 18 tháng.[98][99] Câu lạc bộ xuống hạng khỏi Premier League vào ngày 6 tháng 4 năm 2025 khi mùa giải còn bảy trận,[100] trở thành đội xuống hạng sớm nhất trong lịch sử Premier League.[101] Jurić rời Southampton theo thỏa thuận chung vào ngày hôm sau, còn huấn luyện viên đội dưới 21 tuổi Simon Rusk được chỉ định làm người thay thế tạm quyền cho phần còn lại của mùa giải.[102]
Vào tháng 5 năm 2025, Will Still được công bố là huấn luyện viên mới cho mùa giải sắp tới theo hợp đồng ba năm.[103] Still bị sa thải vào ngày 2 tháng 11 năm 2025, khi Southampton đứng thứ 21 tại Championship và chỉ thắng hai trong 13 trận đầu tiên tại giải.[104]
Bản sắc câu lạc bộ
Huy hiệu
Ban đầu, câu lạc bộ sử dụng cùng huy hiệu với huy hiệu của chính thành phố.[105] Tuy nhiên, vào năm 1974, một cuộc thi được tổ chức để người hâm mộ thiết kế huy hiệu mới.[105]
Thiết kế chiến thắng, do Rolland Parris thực hiện, được sử dụng trong khoảng 20 năm trước khi được chỉnh sửa nhẹ vào thập niên 1990.[106]
Từ trên xuống dưới, vầng hào quang gợi nhắc đến biệt danh "Saints", quả bóng tượng trưng cho bản chất của câu lạc bộ, khăn quàng tượng trưng cho người hâm mộ và màu áo của đội bóng.[105] Cái cây đại diện cho New Forest gần đó và Southampton Common, còn mặt nước tượng trưng cho mối liên hệ của Southampton với các con sông, biển và đại dương.[105] Bên dưới là một bông hồng trắng – biểu tượng của thành phố, cũng xuất hiện trên huy hiệu thành phố.[107] Vào giữa thập niên 1990, quả bóng được thay từ kiểu bóng cổ điển (như loại được dùng trong thập niên 1960) sang quả bóng hiện nay với các mảng đen trắng vì lí do bản quyền.[106]
Ngày 13 tháng 5 năm 2010, huy hiệu chính thức cho lễ kỉ niệm 125 năm được công bố: "Đường viền đen và phần hào quang giờ sẽ có màu vàng, trong khi hai năm quan trọng 1885 và 2010 được đặt ở hai bên tấm khiên, còn số 125 thay thế cho quả bóng". Huy hiệu này được sử dụng trên áo đấu của Southampton trong mùa giải 2010-11.[108]
Bài hát truyền thống
Bài hát truyền thống của The Saints là giai điệu thể thao quen thuộc "When the Saints Go Marching In", và vì biệt danh chính thức của câu lạc bộ là "the Saints", họ là một trong số ít đội bóng không thay đổi phần lời gốc.[109][110]
Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ
Kể từ năm 2024, trang phục của Southampton do Puma sản xuất.[111] Các nhà sản xuất trước đó gồm Umbro (1974-76, 2008-13),[112] Admiral (1976-80, 1991-93),[113] Patrick (1980-87),[113] Hummel (1987-91, 2021-24),[114] Pony (1993-99),[113] Adidas (2013-14, 2015-16)[112][115] và Under Armour (2016-21).[116] Từ năm 1999 đến năm 2008, và trong mùa giải 2014-15, câu lạc bộ sử dụng thương hiệu riêng Saints.[117]
Nhiều công ti khác nhau đã tài trợ cho áo đấu của cầu thủ kể từ khi quảng cáo trên áo được cho phép trong bóng đá Anh. Công ti đầu tiên làm điều đó là nhà sản xuất máy photocopy Rank Xerox, tài trợ cho câu lạc bộ trong ba năm kể từ năm 1980.[118] Các nhà tài trợ khác gồm Air Florida (1983),[113] Draper Tools (1984-93),[119] Dimplex (1993-95),[113] Sanderson (1995-99),[120] Friends Provident (1999-2006),[121] Flybe (2006-10),[122] aap3 (2011-14),[123] Veho (2014-16),[124] Virgin Media (2016-19),[125] LD Sports (2019-20),[126] Sportsbet.io (2020-24)[127] và Rollbit (2024-25).[128] Kể từ năm 2025, nhà tài trợ chính ở mặt trước áo là P&O Cruises.[129] Kể từ năm 2025, nhà tài trợ trên tay áo là Garmin.[130] Các nhà tài trợ tay áo trước đó gồm Virgin Media (2017-2022),[131] JD Sports (2022-23),[132] Mairon Freight UK (2023-24)[133] và P&O Cruises (2024-25).[134]
| Giai đoạn | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) | Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) | Nhà tài trợ áo đấu (mặt sau) |
|---|---|---|---|---|
| 1974-1976 | Umbro | Không có | Không có | Không có |
| 1976-1980 | Admiral | |||
| 1980-1983 | Patrick | Rank Xerox | ||
| 1983 | Air Florida | |||
| 1984-1987 | Draper Tools | |||
| 1987-1991 | Hummel | |||
| 1991-1993 | Admiral | |||
| 1993-1995 | Pony | Dimplex | ||
| 1995-1999 | Sanderson | |||
| 1999-2006 | Saints | Friends Provident | ||
| 2006-2008 | Flybe | |||
| 2008-2010 | Umbro | |||
| 2010-2011 | Không có | |||
| 2011-2013 | aap3 | |||
| 2013-2014 | Adidas | Veho | ||
| 2014-2015 | Saints | |||
| 2015-2016 | Adidas | |||
| 2016-2017 | Under Armour | Virgin Media | ||
| 2017-2019 | Virgin Media | |||
| 2019-2020 | LD Sports | |||
| 2020-2021 | Sportsbet.io | |||
| 2021-2022 | Hummel | |||
| 2022-2023 | JD Sports | |||
| 2023-2024 | Mairon Freight UK | Draper Tools | ||
| 2024-2025 | Puma | Rollbit | P&O Cruises | Rollbit (trong các trận Cúp FA) / Garmin (trong các trận EFL Cup) |
| 2025-nay | P&O Cruises | Garmin |
Sân vận động và cơ sở tập luyện

Sân nhà đầu tiên của câu lạc bộ là Antelope Ground từ năm 1887 đến năm 1896. Sau đó là Sân cricket hạt từ năm 1896 đến năm 1898.[135]
Từ năm 1898 đến năm 2001, Southampton chơi các trận sân nhà tại The Dell.[16] Sân vận động được xây dựng chuyên biệt này đã được cải tạo nhiều lần trong 103 năm lịch sử của nó, trong đó hai khán đài được xây lại hoàn toàn sau các vụ hỏa hoạn và vào năm 1950, nó trở thành sân đầu tiên ở Anh có hệ thống đèn chiếu sáng cố định.[16] Sau báo cáo Taylor, The Dell được chuyển thành sân toàn ghế ngồi và, với sức chứa khoảng 15.000 chỗ, trở thành sân nhỏ nhất ở hạng đấu cao nhất nước Anh, điều này thúc đẩy việc chuyển tới sân nhà mới.[16]
St Mary's Stadium là sân nhà của The Saints kể từ tháng 8 năm 2001. Sân có sức chứa 32.689 chỗ[136] và là một trong số ít sân vận động ở châu Âu đáp ứng tiêu chuẩn Bốn sao của UEFA.[137] Sân vận động này cũng từng tổ chức một số trận đấu quốc tế. Kỉ lục khán giả của sân là 32.363 người, được thiết lập trong trận đấu giữa Southampton và Coventry City vào tháng 4 năm 2012.[138]
Cơ sở tập luyện của câu lạc bộ, Staplewood Campus, nằm tại Marchwood ở rìa New Forest. Các cơ sở hiện tại được khai trương vào tháng 11 năm 2014, với chi phí khoảng 40 triệu bảng.[139] Tòa nhà chính được đặt theo tên ông chủ quá cố của câu lạc bộ, Markus Liebherr.[140]
Trong mùa giải 2012-13, cho đến hết mùa giải 2013-14, câu lạc bộ đạt thỏa thuận với Eastleigh, khi đó thi đấu ở Conference South, để sử dụng sân vận động Ten Acres của họ cho các trận của đội dưới 21 tuổi The Saints. Điều này tiếp nối mối quan hệ hợp tác với Eastleigh đã kéo dài gần một thập niên.[141] Tuy nhiên, quan hệ đối tác này sau đó chấm dứt và các đội trẻ của Southampton tiếp tục thi đấu tại Staplewood và St. Mary's cho tới mùa giải 2019-20, khi một số trận cúp của đội U23 được lên kế hoạch tổ chức tại Testwood Stadium của Totton, nơi đội nữ Southampton từng đá các trận sân nhà tại giải vô địch.[142]

Kình địch
Derby South Coast là tên gọi dành cho các trận đấu giữa The Saints và đối thủ lớn gần đó là Portsmouth, đến từ thành phố cùng tên, cách Southampton 19 dặm (31 km). Các trận derby duyên hải phía Nam cũng được gọi là derby Hampshire. Tính cả các trận tại Southern League, đã có 71 trận đấu giữa hai câu lạc bộ, trong đó Southampton thắng 35 và Portsmouth thắng 21.[143]
Kỉ lục và thống kê
Chuỗi trận thắng dài nhất
- 10 trận, 16 tháng 4 năm 2011 – 20 tháng 8 năm 2011 (giải vô địch)
- 11 trận, 16 tháng 4 năm 2011 – 20 tháng 8 năm 2011 (mọi đấu trường)
Chuỗi trận bất bại dài nhất
- 22 trận, 30 tháng 9 năm 2023 – 10 tháng 2 năm 2024 (giải vô địch)
- 25 trận, 30 tháng 9 năm 2023 – 10 tháng 2 năm 2024 (mọi đấu trường)
Chuỗi thắng sân nhà dài nhất
- 19 trận, 12 tháng 2 năm 2011 – 29 tháng 11 năm 2011 (giải vô địch)
- 21 trận, 12 tháng 2 năm 2011 – 29 tháng 11 năm 2011 (mọi đấu trường)
Những chiến thắng đậm nhất
- Sân nhà
- 11-0 trước Northampton Town, 28 tháng 12 năm 1901 (Southern League)
- 11-0 trước Watford, 13 tháng 12 năm 1902 (Southern League)
- 8-0 trước Northampton Town, 24 tháng 12 năm 1921 (Football League Third Division South)
- 8-0 trước Sunderland, 18 tháng 10 năm 2014 (Premier League)[146]
- Sân khách
- 8-0 trước Newport County, 25 tháng 8 năm 2021 (Cúp EFL)
- 6-0 trước Carlisle United, 22 tháng 1 năm 1977 (Football League Second Division)
- 6-0 trước Wolverhampton Wanderers, 31 tháng 3 năm 2007 (Football League Championship)
- 6-0 trước Oldham Athletic, 11 tháng 1 năm 2011 (Football League One)
Những thất bại đậm nhất
- Sân nhà
- 0-9 trước Leicester City, 25 tháng 10 năm 2019 (Premier League)[76]
- 0-6 trước Plymouth Argyle, 5 tháng 12 năm 1931 (Football League Second Division)
- 0-6 trước Brentford, 9 tháng 3 năm 1959 (Football League Third Division)
- Sân khách
- 0-9 trước Manchester United, 2 tháng 2 năm 2021 (Premier League)
- 0-8 trước Crystal Palace, 16 tháng 11 năm 1913 (Southern League)
- 0-8 trước Tottenham Hotspur, 28 tháng 3 năm 1936 (Football League Second Division)[144]
- 0-8 trước Everton, 20 tháng 11 năm 1971 (Football League First Division)
Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất tại Football League
- 9-3 (sân nhà) trước Wolverhampton Wanderers, 18 tháng 9 năm 1965 (Football League Second Division)
Lượng khán giả sân nhà cao nhất32.363 người trong trận gặp Coventry City, ngày 28 tháng 4 năm 2012
Kỉ lục cầu thủ
Ra sân nhiều nhấtTerry Paine – 815 trận: 1956-1974[144]
Ghi nhiều bàn nhấtMick Channon – 228 bàn: 1966-1977, 1979-1982[144]
Nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giảiDerek Reeves – 44 bàn: 1959-60[144]
Nhiều bàn thắng nhất trong một trậnAlbert Brown – 7 bàn: trong trận gặp Northampton Town, ngày 28 tháng 12 năm 1901[147]
Cầu thủ trẻ nhấtTheo Walcott – 16 tuổi 143 ngày. Trong trận gặp Wolverhampton Wanderers, ngày 6 tháng 8 năm 2005[144]
Cầu thủ lớn tuổi nhấtWilly Caballero – 41 tuổi 122 ngày. Trong trận gặp Blackpool, ngày 28 tháng 1 năm 2023
Mức phí chuyển nhượng cao nhất
- Chi ra: Kamaldeen Sulemana – phí 22 triệu bảng trả cho Rennes.[148]
- Thu về: Virgil van Dijk – phí 75 triệu bảng nhận từ Liverpool.[149]
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội U21 và Học viện The Saints
Southampton vận hành một học viện trẻ rất thành công,[152][153] với một số đội từ lứa tuổi tám đến 21. Những cầu thủ trưởng thành gần đây từ hệ thống đào tạo trẻ của câu lạc bộ gồm các tuyển thủ Anh như Adam Lallana, Alex Oxlade-Chamberlain, James Ward-Prowse, Calum Chambers, Luke Shaw và Theo Walcott; cầu thủ chạy cánh tuyển thủ Wales Gareth Bale; cùng tiền đạo tuyển thủ Ireland Michael Obafemi.
Cầu thủ cũ
Ban điều hành câu lạc bộ
|
|
Lịch sử huấn luyện viên
Danh hiệu

Giải vô địch
- First Division (cấp độ 1)
- Á quân: 1983-84
- Second Division / Championship (cấp độ 2)
- Á quân: 1965-66, 1977-78, 2011-12
- Thắng play-off: 2024
- Third Division South / Third Division / League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 1921-22, 1959-60
- Á quân: 2010-11
- Southern League
- Vô địch (6): 1896-97, 1897-98, 1898-99, 1900-01, 1902-03, 1903-04
Cúp
- Cúp FA
- Vô địch: 1975-76
- Á quân: 1899-1900, 1901-02, 2002-03
- Football League Cup / EFL Cup
- Á quân: 1978-79, 2016-17
- Football League Trophy
- Vô địch: 2009-10
- Full Members' Cup
- Á quân: 1991-92
- Hampshire Senior Cup
- Vô địch: 1891, 1892, 1895, 1899, 1901, 1902, 1905, 1907, 1908, 1910, 1914, 1920, 1921, 1935, 1940, 1950, 1976
Tham khảo
- ↑ "Premier League Handbook 2020/21" (PDF). Premier League. tr. 34. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Serb mogul completes Saints takeover". BBC Sport.
- ↑ Ornstein, David (ngày 14 tháng 1 năm 2025). "Southampton chairman Henrik Kraft steps down, Dragan Solak to take on role". The Athletic. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2025.
- ↑ Chalk, Gary; Holley, Duncan (1987). Saints – A complete record. Breedon Books. tr. 16–17. ISBN 0-907969-22-4.
- ↑ "CONNECTIONS: Southampton and Athletic Club". Southampton FC. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "The football kit family tree: the stories behind clubs' famous colours". These Football Times. ngày 16 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "El Southampton sirvió de modelo cuando se imitaba al Blackburn". AS (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 9 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "The Dell – Historic Southampton" (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Season 1920-21". royalsrecord.co.uk. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Season 1921-22". royalsrecord.co.uk. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Southampton TV schedule for US viewers". World Soccer Talk (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Football Club History Database - Southampton". www.fchd.info. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "VIPA Southampton F.C." vipauk.org. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "England - FA Challenge Cup 1924-1925". www.rsssf.org. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Southampton Blitz 70th anniversary remembered". BBC News. ngày 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2023.
- 1 2 3 4 Race, Michael; Coombes, Lewis (ngày 26 tháng 5 năm 2021). "Southampton FC: Twenty years since the last game at The Dell". BBC News. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "footballsite - Football League Division 2 table 1947/48". www.footballsite.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Murray, Scott (ngày 31 tháng 8 năm 2012). "The Joy of Six: memorable Manchester United v Southampton matches". The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Struthers, Greg. "Caught in Time: Southampton finish runners-up in the First Division, 1984". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2009.
- ↑ "Saints name Redknapp as boss". BBC Sport. ngày 8 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Southampton 1 – 2 Man Utd". BBC Sport. ngày 15 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Southampton confirm Woodward move". BBC Sport. BBC. ngày 22 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Burley in Saints sales admission" (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "Poortvliet resigns as Saints boss". BBC Sport. ngày 23 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Chairman's statement". Saintsfc.co.uk. ngày 24 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Chairman speaks about Jan's departure". Daily Echo. ngày 24 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Southampton fails to pay wages". Zee News. ngày 28 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "Swiss Saints deal completed". Southern Daily Echo. ngày 8 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010.
- ↑ "Southampton appoint Alan Pardew as new manager". The Daily Telegraph. ngày 17 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Bristol Rovers striker Rickie Lambert seals £1m move to Southampton". Bristol Post. ngày 10 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Shemilt, Stephan (ngày 28 tháng 3 năm 2010). "Carlisle 1 – 4 Southampton". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Dan Kerins (tháng 6 năm 2010). "Southampton return to roots with new home kit". Southern Daily Echo. Newsquest Media Group. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010.
- ↑ "Markus Liebherr of Southampton Football Club". Southampton FC. ngày 13 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Club Statement: Club owner back's Chairman's ambitious plans". Southampton F.C. ngày 18 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "New First Team Manager Appointed". Southampton FC. ngày 12 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Ronay, Barney (ngày 2 tháng 5 năm 2011). "Paul Lambert hails 'absolute miracle' of Norwich City's promotion". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Southampton 4-0 Coventry". BBC. ngày 28 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "The Greatest Season: Relive Saints' 2011/12 promotion with the players and coaches who made it possible". Daily Echo (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Nakrani, Sachin (ngày 28 tháng 4 năm 2012). "Southampton promoted after Sharp and Fonte lead thumping of Coventry". The Observer (bằng tiếng Anh). ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "New First Team Manager Appointed". Southampton F.C. ngày 18 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "Adkins sacked as Southampton boss". BBC Sport. ngày 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013.
- ↑ Smith, Ben (ngày 2 tháng 6 năm 2014). "Rickie Lambert completes transfer to Liverpool from Southampton". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "Adam Lallana: Liverpool sign Southampton captain for £25m". BBC Sport. ngày 1 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Liverpool sign Dejan Lovren from Southampton for £20m". BBC Sport. ngày 27 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Luke Shaw: Man Utd sign Southampton defender for £27m". BBC Sport. ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "Calum Chambers: Arsenal complete £16m signing of Southampton defender". BBC Sport. ngày 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "Sadio Mane: Southampton winger's hat-trick is 'best moment'". BBC Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2015.
- ↑ Reddy, Luke. "Southampton 8-0 Sunderland". BBC Sport.
- ↑ "Barclays Premier League table, current & previous standings". premierleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Southampton vs. Vitesse – Football Match Report – July 30, 2015 – ESPN". ESPN.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "UEFA Europa League – Southampton". UEFA.
- ↑ Hackett, Keith (ngày 26 tháng 2 năm 2017). "League Cup final offside error will haunt Stuart Burt – and possibly Southampton – for eternity". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Vardy, Emma (ngày 1 tháng 12 năm 2016). "Ex-Southampton footballers describe abuse at club". BBC News. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Ex-QPR employee Chris Gieler named in abuse inquiry". BBC News. BBC. ngày 6 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Southampton 'abuser' still working in football". BBC News. BBC. ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016.
- 1 2 3 Morris, Steven (ngày 4 tháng 12 năm 2016). "Southampton FC trainer named in connection with abuse allegations". The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2016.
- 1 2 "Ex-Southampton football coach accused of abuse 'not vetted'". BBC News. BBC. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
- 1 2 Evans, Martin (ngày 4 tháng 12 năm 2016). "Southampton coach sacked over child abuse allegations is still working in football". Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
- ↑ Fisher, Paul (ngày 5 tháng 12 năm 2016). "Ex-Peterborough United youth manager Bob Higgins named by police in football abuse investigation". Peterborough Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
- 1 2 James, Stuart; Morris, Steven (ngày 5 tháng 12 năm 2016). "Football League warned all its clubs about Bob Higgins in 1989". The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Man charged in connection with non-recent child abuse offences". Hampshire Constabulary. ngày 5 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Taylor, Daniel (ngày 5 tháng 7 năm 2017). "Bob Higgins, former Southampton coach, charged with 65 counts of child sexual abuse". The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017.
- ↑ "Bob Higgins trial: Ex-football coach guilty of sex assault charge". BBC. ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Football coach Bob Higgins 'abused trainees'". BBC News. ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Morris, Steven (ngày 23 tháng 5 năm 2019). "Football coach Bob Higgins guilty of 45 counts of indecent assault". Guardian. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Football coach Bob Higgins jailed for24 years for abusing trainees". BBC News. BBC. ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2019.
- ↑ Brown, Luke (ngày 27 tháng 12 năm 2017). "Liverpool to sign Virgil van Dijk from Southampton in world-record £75m January transfer". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018.
- ↑ "Southampton sack manager Mauricio Pellegrino". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Mauricio Pellegrino: Southampton sack manager with eight games left of season". BBC Sport. ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Southampton 0-1 Manchester City". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Swansea City 1-2 Stoke City". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Swansea City 0-1 Southampton". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Mark Hughes: Southampton sack manager after eight months in charge". BBC Sport. ngày 3 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Ralph Hasenhuttl: Southampton name former RB Leipzig boss as new manager". BBC Sport. ngày 5 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Southampton sell 80% stake to Chinese businessman Gao Jisheng". The Guardian. ngày 14 tháng 8 năm 2017.
- 1 2 Sutcliffe, Steve (ngày 25 tháng 10 năm 2019). "Southampton 0 Leicester City 9". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "Southampton players donate wages to charity after 9-0 mauling by Leicester". The Guardian. ngày 28 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "Coronavirus: Southampton first Premier League club to announce players to defer salaries". BBC Sport. ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2020.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 24 tháng 5 năm 2021). "Premier League 2020-21: Who impressed and who fell short?". BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
- ↑ McNulty, Phil (ngày 18 tháng 4 năm 2021). "Leicester City 1-0 Southampton". BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Standings Premier League 2020-2021 – Football". Eurosport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2022.
- ↑ "Southampton takeover: Serbian-born businessman Dragan Solak buys club in £100m deal". Sky Sports.
- ↑ "Premier League Table, Form Guide & Season Archives". Premier League. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2022.
- ↑ "Club statement: Ralph Hasenhüttl". Southampton FC (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Nathan Jones appointed manager of Southampton". Southampton FC. ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Club statement: Nathan Jones". Southampton FC (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Southampton sack Jones reaction before Leeds v Man Utd". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Southampton win heaps misery on Potter's Chelsea". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Sellés joins as First Team Lead Coach". Southampton FC (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Sellés appointed to end of season". Southampton FC (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Southampton relegated from the Premier League". Sky Sports. ngày 13 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2023.
- ↑ House, Alfie (ngày 24 tháng 5 năm 2023). "Southampton confirm they will not renew Ruben Selles manager contract". Southern Daily Echo. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Russell Martin: Southampton name Swansea City boss as new manager". BBC Sport. ngày 21 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Bristol City 3-1 Southampton: Hosts end Saints' 25-game unbeaten streak". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Woodcock, Ian (ngày 26 tháng 5 năm 2024). "Leeds United 0-1 Southampton". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Brewin, John (ngày 15 tháng 12 năm 2024). "Russell Martin sacked by Southampton after humbling Tottenham defeat". The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Premier League Table". Premier League. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Saints appoint Ivan Jurić as Men's First Team Manager". Southampton F.C. ngày 21 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Southampton appoint Juric as new manager". BBC News. ngày 21 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Southampton endure historic Premier League relegation after defeat at Spurs". The Guardian. ngày 6 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Tottenham Hotspur 3-1 Southampton: Saints relegated in record time". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "A statement from the board of Southampton FC". Southampton F.C. ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Ramsdale, Ben (ngày 25 tháng 5 năm 2025). "Southampton appoint Still on three-year deal". BBC Sport. BBC. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Southampton sack Still after five months in charge". BBC Sport. ngày 2 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 Tanswell, Jacob (ngày 15 tháng 9 năm 2022). "Southampton's badge: Religion, shipping and a competition winner". The Athletic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- 1 2 "Tributes paid to the man who designed Saints emblem". Southern Daily Echo. ngày 11 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "The arms of the city of Southampton". Southampton City Council. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009.
- ↑ "125 Anniversary Crest Unveiled". Southampton FC. ngày 18 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Prince-Wright, Joe (ngày 4 tháng 9 năm 2022). "Ever wonder why Southampton are called The Saints?". NBC Sports. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "The anthem, the academy, Minamino… all you need to know about Southampton FC". AS Monaco. ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Puma officially becomes a Saint". Southampton FC. ngày 10 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2024.
- 1 2 "Adidas become official kit supplier for Southampton FC". Southern Daily Echo. ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 Sheldon, Dan (ngày 22 tháng 7 năm 2021). "From modern-day retro nods to classics that survived defunct sponsors – what is Southampton's best kit?". The Athletic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Leach, Tom (ngày 18 tháng 1 năm 2021). "Southampton confirm new five-year kit deal in big boost for retro-loving Saints fans". Hampshire Live. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Southampton launch their adidas manufactured home shirt for the 2015/16 season". Southern Daily Echo. ngày 16 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Southampton end Under Armour kit deal two years early and sign with Hummel". The Athletic. ngày 18 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Which football clubs have manufactured their own kits?". The Guardian. ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Simpson, Gordon (ngày 7 tháng 2 năm 2010). "The rise of the football shirt sponsor". Southern Daily Echo. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Rees-Julian, George (ngày 23 tháng 6 năm 2023). "Saints sponsor Draper Tools returns ahead of 2023-24 season". Southern Daily Echo. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Sanderson turns in a set of Premier League interims". Tech Monitor. ngày 24 tháng 5 năm 1995. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Givens, John (ngày 30 tháng 3 năm 2006). "Friends Provident pulls plug on Saints sponsorship deal". Citywire. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Lewis, Gareth (ngày 2 tháng 2 năm 2010). "Flybe ends Southampton FC shirt sponsorship deal". Southern Daily Echo. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Southampton company aap3 to take over as Saints sponsors". Southern Daily Echo. ngày 17 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Veho announced as new main sponsor for Southampton FC". Southern Daily Echo. ngày 9 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Virgin Media become Southampton's main club sponsor". Southampton FC. ngày 8 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "LD Sports becomes new Main Club Sponsor". Southampton FC. ngày 13 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Saints welcome Sportsbet.io as Main Club Partner". Southampton FC. ngày 25 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Rollbit announced as Front of Shirt Partner". Southampton FC. ngày 15 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "P&O Cruises becomes Official Front-of-Shirt Partner". Southampton FC. ngày 1 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Garmin become Official Men's Sleeve Sponsor". Southampton Football Club. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Virgin Media agree new three-year deal". Southampton FC. ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019.
- ↑ Tanner, Jack (ngày 3 tháng 8 năm 2022). "Saints confirm JD Sports as official sleeve partner". Southern Daily Echo. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Mairon Freight UK: New sleeve sponsor agreed". Southampton FC (Thông cáo báo chí). ngày 24 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "P&O Cruises announced as our Official Sleeve Partner". Southampton FC. ngày 6 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Chalk, Gary; Holley, Duncan (1987). Saints – A complete record. Breedon Books. tr. 216–220. ISBN 0-907969-22-4.
- ↑ "St Mary's Stadium". Club profile: Southampton. The Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013.
- ↑ "Around the grounds: St Mary's Stadium". Premier League. ngày 15 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Club Records". www.saintsfc.com. Southampton F.C. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Staplewood to stick at £40m". Daily Echo (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Saints honour Markus Liebherr's memory at new training centre". saintsfc.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015.
- ↑ "Saints & Spitfires Link Up". Southampton FC. ngày 27 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "AFC Totton to host Premier League Cup fixtures". Southampton FC. ngày 1 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "Southampton v Portsmouth: the strange story of the south coast derby". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 11 năm 2019. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 3 4 5 6 "Club Records". Southampton FC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Chalk, Gary; Holley, Duncan (1987). Saints – A complete record. Breedon Books. tr. 312. ISBN 0-907969-22-4.
- ↑ "Southampton 8 – 0 Sunderland". BBC Sport. ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Bull, David; Brunskell, Bob (2000). Match of the Millennium. Hagiology Publishing. tr. 26–27. ISBN 0-9534474-1-3.
- ↑ "Kamaldeen Sulemana: Southampton pay club-record £22m for Rennes winger". BBC News. ngày 1 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Virgil van Dijk: Liverpool to sign Southampton defender for world record £75m". BBC News. ngày 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
- ↑ "Our Men's First Team squad numbers have been updated ahead of the start of the 2025/26 Sky Bet Championship season". Southampton FC. ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Summer signings' numbers confirmed". Southampton FC. ngày 10 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Big-5 Weekly Post (Most profitable youth academies)" (PDF). www.football-observatory.com. CIES Football Observatory. ngày 10 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Southampton have Europe's most profitable youth academy - where do Barcelona, Madrid and Chelsea rank? - Goal.com". ngày 13 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016 – qua Goal.com.
- ↑ "Men". Southampton FC. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Southampton Club Records". Steve's Footie Stats. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Southampton football club honours". 11 v 11. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
Liên kết ngoài
Các trang web độc lập
- Southampton F.C. trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Southampton FC tại Sky Sports
- Southampton FC tại Premier League
- Southampton FC tại UEFA
Bản mẫu:Southampton F.C.Bản mẫu:Mùa giải Southampton F.C.
- Southampton F.C.
- Khởi đầu năm 1885 ở Anh
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1885
- Câu lạc bộ bóng đá Hampshire
- Câu lạc bộ bóng đá Anh
- Câu lạc bộ Premier League
- Câu lạc bộ English Football League
- Vô địch Cúp FA
- Vô địch EFL Trophy
- Câu lạc bộ Southern Football League
- United League (bóng đá)
- Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh