Bước tới nội dung

Luton Town F.C.

câu lạc bộ bóng đá tại Luton, Anh
Nghe bài viết này
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Luton Town)
Luton Town
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Luton Town
Biệt danhThe Hatters, Town
Thành lập11 tháng 4 năm 1885; 141 năm trước (1885-04-11)
SânKenilworth Road
Sức chứa12.056[1]
Chủ sở hữuLuton Town Football Club 2020 Ltd[2]
Chủ tịch điều hànhDavid Wilkinson
Người quản lýJack Wilshere
Giải đấuLeague One
2024-25Championship, thứ 22 trên 24 (xuống hạng)
Websitelutontown.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Luton Town (tiếng Anh: Luton Town Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp đến từ Luton, Bedfordshire, Anh. Hiện câu lạc bộ đang thi đấu tại EFL League One, hạng đấu cao thứ ba của Hệ thống giải bóng đá Anh. Với biệt danh "The Hatters", Luton đã chơi các trận sân nhà tại Kenilworth Road từ năm 1905.

Luton Town gia nhập Football League trước mùa giải 1897-98 nhưng rời giải không lâu sau đó, vào năm 1900, vì khó khăn tài chính. Câu lạc bộ chỉ trở lại Football League vào năm 1920. Luton lần đầu tiên thi đấu tại First Division ở mùa giải 1955-56 và lần đầu góp mặt trong một trận chung kết lớn khi gặp Nottingham Forest tại Chung kết Cúp FA 1959. Sau đó, câu lạc bộ bị rớt hạng khỏi First Division vào cuối mùa giải 1959-60, rồi tiếp tục xuống hạng thêm hai lần nữa trong vòng năm năm, và thi đấu tại Fourth Division từ mùa giải 1965-66, trước khi trở lại First Division ở mùa giải 1974-75 trong đúng một mùa giải.

Vào cuối mùa giải 1981-82, câu lạc bộ vô địch Second Division và giành quyền thăng hạng lên First Division. Vài năm sau, Luton đánh bại Arsenal 3-2 trong Chung kết Football League Cup 1988 và trụ lại First Division cho tới khi xuống hạng vào cuối mùa giải 1991-92.

Trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009, khó khăn tài chính khiến câu lạc bộ rơi từ hạng hai của bóng đá Anh xuống hạng năm qua các mùa giải liên tiếp. Lần xuống hạng cuối cùng trong số này, ở mùa giải 2008-09, diễn ra sau khi đội bị trừ 30 điểm vì các sai phạm tài chính. Luton đã trải qua năm mùa giải ở bóng đá ngoài hệ thống Football League trước khi vô địch Conference Premier ở mùa giải 2013-14, qua đó giành quyền trở lại Football League. Luton tiếp tục thăng hạng từ League Two và League One trong hai mùa giải liên tiếp là 2017-18 và 2018-19, trước khi thăng hạng lên Premier League sau khi kết thúc play-off Championship 2023. Sau một mùa giải ở Premier League, Luton phải nhận hai lần xuống hạng liên tiếp, khiến đội thi đấu tại mùa giải League One 2025-26 hiện tại.

Lịch sử Luton Town F.C.

Thành lập và gia nhập Southern League (1885-1890)

Câu lạc bộ bóng đá Luton Town được thành lập vào ngày 11 tháng 4 năm 1885.[3][4] Trước khi câu lạc bộ ra đời, trong thị trấn đã có nhiều đội bóng khác, nổi bật nhất là Luton Wanderers và Luton Excelsior. George Deacon, một cầu thủ của Wanderers, đã nảy ra ý tưởng thành lập một đội bóng "Town" quy tụ những cầu thủ giỏi nhất ở Luton. Thư kí của Wanderers là Herbert Spratley tiếp nhận ý tưởng của Deacon và sắp xếp một cuộc họp bí mật vào ngày 13 tháng 1 năm 1885 tại trường St Matthew ở High Town, gần ga đường sắt. Ban lãnh đạo Wanderers quyết định đổi tên câu lạc bộ thành Luton Town, nhưng quyết định này không được cộng đồng rộng lớn hơn đón nhận. Báo chí địa phương gọi đội bóng là "Luton Town (trước đây là Wanderers)". Khi George Deacon và John Charles Lomax sau đó tổ chức một cuộc họp công khai nhằm thành lập "Luton Town Football Club", Spratley phản đối với lí do đã có một câu lạc bộ Luton Town rồi; bầu không khí trở nên căng thẳng khi cuộc họp diễn ra tại tòa thị chính vào ngày 11 tháng 4 năm 1885. Cuộc họp, có sự tham dự của phần lớn những người yêu bóng đá trong thị trấn, đã được nghe về cuộc họp bí mật hồi tháng 1 của Spratley và bác bỏ các phản đối của ông. Kiến nghị thành lập "Luton Town Football Club", do G. H. Small đề xuất và E. H. Lomax tán thành, đã được thông qua. Một ban điều hành câu lạc bộ được bầu bằng bỏ phiếu, và màu áo của đội được thống nhất là áo và mũ màu hồng và xanh đậm.[5]

Một bức ảnh đội bóng từ thời kì đầu của bóng đá
Đội hình Luton Town mùa giải 1897-98, đội đã giành chức vô địch United League

Ban đầu đóng tại sân của Excelsior là Dallow Lane,[4] Luton Town bắt đầu trả tiền cho một số cầu thủ cá nhân vào năm 1890. Năm sau đó, Luton trở thành câu lạc bộ đầu tiên ở miền nam nước Anh hoạt động hoàn toàn chuyên nghiệp.[6] Câu lạc bộ là thành viên sáng lập của Southern Football League ở mùa giải 1894-95 và đứng á quân trong hai mùa giải đầu tiên. Sau đó, đội rời giải để tham gia thành lập United League và cũng kết thúc ở vị trí á quân trong mùa giải đầu tiên của giải này, trước khi gia nhập Football League — khi đó chủ yếu đặt tại miền bắc và miền trung nước Anh —[A] cho mùa giải 1897-98,[7] đồng thời chuyển tới sân mới là Dunstable Road.[8] Câu lạc bộ vẫn tiếp tục cử đội thi đấu tại United League thêm hai mùa giải nữa, và giành chức vô địch ở mùa giải 1897-98.[7][9] Lượng khán giả thấp, mức lương cao, cùng với chi phí đi lại và lưu trú lớn phát sinh do khoảng cách từ Luton tới vùng trung tâm phía bắc của Football League đã khiến câu lạc bộ kiệt quệ về tài chính;[9] việc thi đấu tại giải này trở nên quá tốn kém.[9] Vì vậy, đội đã thu xếp để trở lại Southern League từ mùa giải 1900-01.[7][9]

Đầu thế kỉ 20 (1900-1950)

Luton chuyển tới sân nhà hiện tại là Kenilworth Road vào năm 1905 sau khi đã trải qua tám năm tại Dunstable Road.[6] Đội trưởng kiêm tiền vệ cánh trái Bob Hawkes trở thành tuyển thủ quốc gia đầu tiên của Luton khi được chọn thi đấu cho Anh trong trận gặp Ireland vào ngày 16 tháng 2 năm 1907.[10] Một mùa giải 1911-12 nghèo nàn khiến Luton rớt xuống Second Division của Southern League; câu lạc bộ giành quyền thăng hạng trở lại hai năm sau đó.[7][11] Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Luton tham dự London Combination trong mùa giải 1915-16, và sau đó lấp đầy từng mùa giải bằng các trận giao hữu.[12][13] Một cầu thủ chủ chốt của giai đoạn này là Ernie Simms, một tiền đạo. Simms được đưa về Anh sau khi bị thương ở mặt trận Ý,[11][13] nhưng hồi phục đủ để giành lại vị trí trong đội hình Luton và ghi 40 bàn ở mùa giải 1916-17.[11]

Một bức ảnh báo đen trắng: chụp từ phía sau cột dọc bên trái của khung thành, quả bóng nằm ở phía bên phải tiền cảnh; một cầu thủ bóng đá mặc áo trắng và quần đen xuất hiện ở phía bên trái.
1936: Joe Payne (áo trắng, bên trái) ghi một trong 10 bàn thắng kỉ lục của anh trong một trận đấu

Đội hình Luton lần đầu thi đấu trong màu áo trắng và đen — màu áo mà họ duy trì trong phần lớn lịch sử của mình — ở mùa giải 1920-21, khi câu lạc bộ tái gia nhập Football League;[14] trước đó, các cầu thủ từng mặc nhiều kiểu phối màu khác nhau, bền vững nhất là áo màu xanh da trời với quần trắng và tất xanh hải quân.[15] Chất lượng đội hình Luton khi đó cao đến mức dù chơi ở hạng ba, một trận đấu giữa Ireland và Anh tại Windsor Park ngày 22 tháng 10 năm 1921 vẫn có ba cầu thủ của Luton hiện diện trên sân — Louis Bookman và Allan Mathieson cho Ireland, còn chân sút hàng đầu của câu lạc bộ là Simms khoác áo Anh.[16][17] Tuy nhiên, sau khi Luton đứng thứ tư tại hạng đấu đó, đội hình bị chia tách khi Simms, Bookman và Mathieson lần lượt gia nhập South Shields, Port Vale và Exeter City.[17][18] Luton thi đấu ở Third Division South cho tới mùa giải 1936-37, khi đội kết thúc ở vị trí dẫn đầu và giành quyền thăng hạng lên Second Division.[19] Trong mùa giải thăng hạng đó, tiền đạo Joe Payne ghi 55 bàn sau 39 trận; ở mùa giải trước, anh đã ghi 10 bàn trong một trận gặp Bristol Rovers, thành tích đến nay vẫn là kỉ lục của Football League.[20] Về cuối mùa giải 1936-37, Eddie Parris trở thành cầu thủ da đen đầu tiên khoác áo Luton khi ra mắt vào ngày 13 tháng 3 năm 1937 trong trận sân nhà gặp Northampton Town.[21]

Thành công dưới thời Duncan và xuống hạng (1950-1965)

Trong đầu thập niên 1950, một trong những đội hình vĩ đại nhất của Luton[22] đã xuất hiện dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Dally Duncan.[23] Đội hình này có Gordon Turner, người sau đó trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử Luton,[24] Bob Morton, người giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho câu lạc bộ,[25] và Syd Owen, một tuyển thủ Anh.[26] Trong giai đoạn này, đội hình Luton cũng có hai thủ môn tuyển Anh là Ron Baynham và Bernard Streten,[27][28] cùng các tuyển thủ Cộng hòa Ireland như Seamus Dunne,[29] Tom Aherne và George Cummins.[30][31] Đội bóng này lần đầu tiên lên tới First Division vào cuối mùa giải 1955-56, khi kết thúc ở vị trí thứ hai sau Birmingham City theo hiệu số bàn thắng bại.[32] Sau đó là vài năm thành công, bao gồm việc góp mặt ở trận chung kết Cúp FA 1959 gặp Nottingham Forest trong mùa giải 1958-59,[33] nơi Owen được bầu là FWA Footballer of the Year.[34] Tuy nhiên, câu lạc bộ xuống hạng ngay ở mùa giải kế tiếp, và đến mùa giải 1964-65, đội đã phải thi đấu tại Fourth Division.[35]

Một trận bóng đá chuyên nghiệp đang diễn ra, nhìn từ phía sau một trong hai khung thành. Một đội mặc áo trắng và đội kia mặc áo vàng.
Một trận sân nhà tại Kenilworth Road năm 1980

Trở lại hạng đấu cao nhất và thành công cuối thế kỉ (1965-1992)

Theo kiểu một đội bóng yo-yo, Luton lại trở về. Một đội hình có Bruce Rioch, John Moore và Graham French đã vô địch Fourth Division ở mùa giải 1967-68 dưới sự dẫn dắt của cựu cầu thủ Allan Brown;[7] hai năm sau, các bàn thắng của Malcolm Macdonald giúp đội giành thêm một lần thăng hạng nữa,[36] trong khi nghệ sĩ hài Eric Morecambe trở thành giám đốc câu lạc bộ.[36] Luton Town giành quyền trở lại First Division vào cuối mùa giải 1973-74, nhưng bị xuống hạng ngay mùa giải sau đó chỉ vì kém đúng một điểm.[7][37] Cựu cầu thủ Luton là David Pleat được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào năm 1978, và tới mùa giải 1982-83 thì đội đã trở lại hạng đấu cao nhất.[7] Đội bóng do Pleat xây dựng tại Kenilworth Road khi ấy rất đáng chú ý vì số lượng cầu thủ da đen mà họ sở hữu; trong thời kì mà nhiều đội bóng Anh gần như toàn là cầu thủ da trắng, Luton thường xuyên ra sân với một đội hình đa số là cầu thủ da đen. Những cầu thủ tài năng như Ricky Hill, Brian Stein và Emeka Nwajiobi đã có đóng góp quan trọng vào thành công của câu lạc bộ trong giai đoạn này,[38] khiến đội bóng có được "một lịch sử phong phú về các ngôi sao da đen hơn bất cứ nơi nào trong cả nước", theo lời nhà báo Gavin Willacy.[39]

Ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 1982-83, mùa đầu tiên của câu lạc bộ sau khi trở lại hạng đấu cao nhất, đội chỉ vừa đủ thoát xuống hạng: thi đấu với Manchester City tại Maine Road, Luton buộc phải thắng để trụ hạng, trong khi City chỉ cần hòa là đủ.[40] Bàn thắng muộn của cầu thủ dự bị người Nam Tư Raddy Antić đã cứu đội và khiến Pleat chạy múa trên sân trong một "điệu nhảy vui mừng",[40] một hình ảnh đã trở thành biểu tượng.[41] Câu lạc bộ đạt vị trí cao nhất trong lịch sử tại giải vô địch quốc gia, là hạng bảy, dưới thời John Moore ở mùa giải 1986-87,[42] và, dưới sự dẫn dắt của Ray Harford, đã vô địch Football League Cup một năm sau đó nhờ chiến thắng 3-2 trước Arsenal. Khi trận đấu còn mười phút và Arsenal đang dẫn 2-1, quả phạt đền bị cản phá bởi thủ môn dự bị Andy Dibble đã châm ngòi cho màn ngược dòng muộn của Luton: Danny Wilson gỡ hòa, trước khi Brian Stein ghi bàn quyết định bằng cú chạm bóng cuối cùng của trận đấu.[7][43][44] Câu lạc bộ một lần nữa vào tới chung kết League Cup ở mùa giải 1988-89, nhưng thua 1-3 trước Nottingham Forest.[7]

Một đám đông đàn ông, một số mặc com lê xám và một số mặc áo trắng, quần xanh hải quân và tất trắng, đang ăn mừng náo nhiệt trên bục. Một chai champagne mở nắp bay xoáy trong không trung phía trước họ.
Các cầu thủ và ban huấn luyện Luton Town ăn mừng chức vô địch Conference Premier năm 2014

Hồi sinh rồi rơi xuống bóng đá ngoài hệ thống Football League (1992-2009)

Câu lạc bộ bị rớt khỏi hạng đấu cao nhất vào cuối mùa giải 1991-92,[7] và rơi xuống hạng ba bốn năm sau đó.[7][45] Luton ở lại hạng ba Second Division cho tới khi xuống hạng vào cuối mùa giải 2000-01.[46] Dưới sự dẫn dắt của Joe Kinnear, người đến giữa mùa giải trước đó,[47] đội bóng giành quyền thăng hạng từ hạng tư ngay trong lần đầu tiên thử sức.[7] Ông chủ bị xem là "gây tranh cãi"[48] John Gurney đã làm câu lạc bộ rối ren vào năm 2003,[48] chấm dứt hợp đồng của Kinnear ngay khi ông mới tới vào tháng 5;[48][49] Gurney thay Kinnear bằng Mike Newell trước khi rời Luton khi câu lạc bộ bước vào diện quản trị.[48][50] Đội bóng của Newell kết thúc với tư cách vô địch ở hạng ba đã đổi tên là Football League One trong mùa giải 2004-05.[7][51]

Sau khi Newell ra đi, vị trí của ông lần lượt được thay bởi Kevin Blackwell rồi cựu cầu thủ Mick Harford,[52][53] đội bóng sau đó lại phải xuống hạng hai mùa giải liên tiếp, bắt đầu từ 2006-07, và trải qua phần cuối của mùa giải 2007-08 trong diện quản trị, từ đó bị trừ mười điểm khỏi tổng điểm của mùa giải đó.[7][54] Sau đó, câu lạc bộ còn bị the Football Association và Football League trừ tổng cộng 30 điểm trong thành tích của mùa giải 2008-09 vì các sai phạm tài chính kéo dài nhiều năm.[55] Những án trừ điểm này trở thành trở ngại quá lớn để vượt qua,[56] nhưng Luton đã lội ngược dòng ở trận chung kết Football League Trophy để lần đầu tiên vô địch giải đấu này.[57]

Từ bóng đá ngoài hệ thống Football League đến Premier League (2009-2024)

Việc xuống hạng đồng nghĩa với việc mùa giải 2009-10 chứng kiến Luton thi đấu tại Conference Premier, một giải đấu mà câu lạc bộ chưa từng tham dự trước đó. Câu lạc bộ đã ba lần thất bại ở play-off thăng hạng trong bốn mùa giải khi còn ở ngoài hệ thống Football League, đồng thời sử dụng năm huấn luyện viên khác nhau. Ở vòng Bốn 2012-13 FA Cup, Luton thắng trận sân khách trước câu lạc bộ Premier League là Norwich City với tỉ số 1-0, và qua đó trở thành đội bóng ngoài hệ thống Football League đầu tiên đánh bại một đại diện của hạng đấu cao nhất nước Anh kể từ năm 1989.[58]

Ở mùa giải 2013-14, dưới sự dẫn dắt của John Still, Luton vô địch Conference Premier khi mùa giải còn ba vòng đấu, qua đó giành quyền trở lại Football League cho mùa giải 2014-15.[59] Sau khi vào tới play-off League Two ở mùa giải 2016-17,[60] khi họ bị Blackpool đánh bại với tổng tỉ số 6-5 ở bán kết,[61] Luton đã thăng hạng trở lại League One ở mùa giải sau đó với tư cách á quân.[62][63] Luton đạt lần thăng hạng liên tiếp thứ hai vào cuối mùa giải 2018-19, sau khi vô địch League One, đánh dấu sự trở lại của câu lạc bộ tại Championship sau 12 năm vắng bóng.[64][65] Luton vào tới play-off Championship ở mùa giải 2021-22, nơi họ thua Huddersfield Town với tổng tỉ số 2-1 ở bán kết.[66]

Vào cuối mùa giải 2022-23, Luton Town giành vé dự play-off Championship mùa thứ hai liên tiếp sau khi kết thúc ở vị trí thứ ba.[67] Luton Town đánh bại Sunderland với tổng tỉ số 3-2 ở bán kết play-off để vào trận chung kết gặp Coventry City.[68] Sau đó họ đánh bại Coventry City 6-5 trên chấm luân lưu sau trận hòa căng thẳng 1-1 để lần đầu tiên giành quyền thăng hạng lên Premier League.[69] Sau khi chỉ giành được một điểm trong năm trận đầu tiên của mùa giải, Luton có chiến thắng đầu tiên tại Premier League vào ngày 30 tháng 9 năm 2023, khi đánh bại Everton 2-1 trên sân khách tại Goodison Park.[70] Sau nửa đầu mùa giải tương đối ổn định, phong độ của câu lạc bộ sa sút rõ rệt sau tháng 1, chỉ thắng một trong 17 trận trước khi xuống hạng vào tháng 5 năm 2024.[71]

Hai mùa giải liên tiếp xuống hạng, trở lại League One (2024-nay)

Ngày 3 tháng 5 năm 2025, lần xuống hạng thứ hai liên tiếp đưa Luton trở lại League One sau thất bại 3-5 trước West Bromwich Albion ở vòng đấu cuối cùng.[72] Dù giành được 49 điểm và bằng điểm với Hull City, hiệu số bàn thắng bại kém hơn khiến họ kết thúc ở vị trí thứ 22.

Luton chia tay huấn luyện viên trưởng Matt Bloomfield vào ngày 6 tháng 10 năm 2025. Bloomfield bị sa thải sau một chuỗi trận nghèo nàn, khiến câu lạc bộ chỉ đứng thứ 11 trên bảng xếp hạng. Cựu cầu thủ Hatters là Alex Lawless được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền vào ngày hôm sau. Jack Wilshere vốn là một ứng viên sáng giá để thay Bloomfield, và được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào ngày 13 tháng 10.[cần dẫn nguồn]

Bản sắc câu lạc bộ Luton Town F.C.

Luton lần đầu mặc trang phục trắng và đen trong giai đoạn 1920-1973.
Xem phần văn bản đi kèm
Biểu trưng Luton Town, 1973-87

Biệt danh của câu lạc bộ, "the Hatters", phản ánh mối liên hệ lịch sử của Luton với nghề làm mũ, một ngành nghề nổi bật tại đây từ thế kỉ 17.[73][74] Cổ động viên của câu lạc bộ cũng được gọi là Hatters.[75]

Câu lạc bộ gắn liền với hai hệ màu rất khác nhau — trắng và đen (được sử dụng ổn định lần đầu từ năm 1920), và cam, xanh hải quân cùng trắng (được sử dụng lần đầu từ năm 1973 và là màu áo đội bóng mặc ở mùa giải 2015-16). Trước năm 1920, Luton chủ yếu sử dụng các biến thể của xanh nhạt và trắng, trước khi lần đầu mặc áo trắng và quần đen. Những màu này được duy trì suốt hơn nửa thế kỉ, với màu tất thay đổi giữa trắng và đen, cho tới khi Luton chuyển sang màu cam, xanh hải quân và trắng vào đầu mùa giải 1973-74. Luton bắt đầu mặc áo, quần và tất trắng từ năm 1979, còn yếu tố cam và xanh hải quân chỉ còn xuất hiện ở phần viền; quần xanh hải quân được đưa vào sử dụng từ năm 1984. Bảng màu này được duy trì cho tới mùa giải 1999-2000, khi đội mặc áo cam và quần xanh. Từ năm 2000 đến năm 2008, Luton quay lại với áo trắng và quần đen; màu cam được sử dụng ở phần viền cho tới năm 2007. Bảng màu trắng, xanh hải quân và cam được ưa chuộng trong thập niên 1980 đã được đưa trở lại vào năm 2008, sau kết quả của một cuộc thăm dò do câu lạc bộ tổ chức,[76] nhưng chỉ một năm sau màu áo lại được thay đổi lần nữa, lần này là áo màu cam chủ đạo đi cùng quần trắng.[77] Quần xanh hải quân được dùng trở lại từ năm 2011. Luton mặc áo cam, quần xanh hải quân và tất trắng ở mùa giải 2015-16.[15]

Luton Town theo truyền thống thường sử dụng huy hiệu của thị trấn làm biểu trưng của mình, theo cách tương tự nhiều đội bóng khác. Biểu trưng đầu tiên của câu lạc bộ là một ngôi sao trắng tám cánh, được in trên áo đấu của đội (khi đó có màu đỏ son thẫm) vào năm 1892. Bốn năm sau, một biểu trưng gồm những chữ cái viết tắt của câu lạc bộ lồng vào nhau đã được sử dụng trong thời gian ngắn. Sau đó, áo đấu trở lại dạng trơn cho tới năm 1933, khi Luton lần đầu sử dụng biểu trưng hình một chiếc mũ rơm boater, xuất hiện trên áo đấu của đội. Các chữ cái "LTFC" được thêm vào năm 1935, và thiết kế cơ bản này được giữ tới năm 1947. Từ đó, câu lạc bộ thi đấu mà không có biểu trưng cho tới năm 1970, khi đội bắt đầu thường xuyên sử dụng huy hiệu thị trấn, sau lần đầu làm vậy ở Chung kết Cúp FA 1959.[78]

Năm 1973, cùng lúc với việc chuyển sang bộ áo màu cam, một biểu trưng mới được giới thiệu với các màu sắc mới này. Biểu trưng mới mô tả một quả bóng đá màu cam cách điệu, mang chữ "Lt", bao quanh bởi tên câu lạc bộ bằng chữ màu xanh hải quân.[78] Năm 1987, câu lạc bộ quay lại với một biến thể dựa trên huy hiệu của thị trấn, trong đó phần khiên của huy hiệu trở thành biểu trưng của đội; điểm giống duy nhất với thiết kế trước đó là việc tên câu lạc bộ vẫn được đặt quanh tấm khiên bằng chữ màu xanh hải quân. Biểu trưng "cầu vồng", ra mắt năm 1994, gồm huy hiệu thị trấn phía dưới một dải cong màu cam và xanh, uốn quanh để chạm tới hai quả bóng đá đặt ở hai bên tấm khiên, với tên câu lạc bộ ở bên dưới.[78] Biểu trưng này được dùng cho tới năm 2005, khi một biểu trưng thay thế rất giống phiên bản năm 1987 được đưa vào sử dụng, với chữ màu đen thay vì xanh và một chiếc mũ rơm boater thay cho cánh tay dang ra trong thiết kế cũ. Năm thành lập câu lạc bộ, 1885, được thêm vào năm 2008.[15] Biểu trưng lại tiếp tục được điều chỉnh trong giai đoạn trước mùa giải 2009-10, khi màu đỏ trong huy hiệu thị trấn được thay bằng màu cam để phản ánh tốt hơn màu sắc của câu lạc bộ.[79]

Câu lạc bộ phát hành bài hát "Hatters, Hatters", một sản phẩm hợp tác giữa đội bóng Luton và nhóm hài âm nhạc ở Bedfordshire là the Barron Knights, vào năm 1974.[80] Tám năm sau, một bài hát khác có phần hát của các cầu thủ Luton mang tên "We're Luton Town" được phát hành để kỉ niệm việc câu lạc bộ thăng hạng lên First Division.[81]

Nhà tài trợ áo đấu Luton Town F.C.

Nhà tài trợ đầu tiên xuất hiện trên áo đấu của Luton Town là Tricentrol, một công ty xe hơi địa phương có trụ sở tại Dunstable, tài trợ cho câu lạc bộ từ tháng 3 năm 1980 đến năm 1982; thỏa thuận này trị giá 50.000 bảng.[82]

Danh sách các nhà tài trợ áo đấu tiếp theo của Luton Town như sau:

  • 1981-1982: Tricentrol
  • 1982-1990: Bedford Trucks[83]
  • 1990-1991: Vauxhall[84]
  • 1991-1999: Universal Salvage Auctions[85]
  • 1999-2003: SKF[86]
  • 2003-2005: Travel Extras[87]
  • 2005-2008: Electrolux[88]
  • 2008-2009: Carbrini Sportswear[15]
  • 2009-2015: EasyJet và NICEIC[89][90]
  • 2015-2016: Barnfield College và NICEIC[91][92]
  • 2016-2018: NICEIC và SsangYong Motor UK[93]
  • 2018-2019: Indigo Residential (sân nhà), Star Platforms (sân khách), Northern Gas & Power (áo thứ ba)[94]
  • 2019-2020: Indigo Residential (sân nhà), Star Platforms (sân khách), Ryebridge Construction (áo thứ ba)[95]
  • 2020-2022: JB Developments (sân nhà), Star Platforms (sân khách), Ryebridge Construction (áo thứ ba)[96]
  • 2022-2023: Utilita (sân nhà), Star Platforms (sân khách), Ryebridge Construction (áo thứ ba), The Wood Veneer Hub (trang phục tập luyện)[97]
  • 2023-2024: Utilita (chính), FREE NOW (tay áo), TUI (trang phục tập luyện)[98][99][100]

Sân vận động Luton Town F.C.

Một sân vận động bóng đá kiểu cũ. Bên trái là một khán đài gỗ lớn với ghế màu xanh; phía trước là một khán đài nhỏ hơn, cũng có ghế màu xanh. Trên khán đài này, từ "LUTON" được xếp bằng ghế trắng giữa nền ghế xanh.
Khung cảnh nhìn từ khán đài Kenilworth End năm 2007. Bên trái là Main Stand, còn bên phải là Oak Road End.
Xem phần văn bản đi kèm
Lượng khán giả trung bình trong các trận sân nhà ở giải vô địch quốc gia của Luton Town tại Kenilworth Road từ 1946-47 đến 2016-17. Lượng khán giả tăng sau khi Luton thăng hạng năm 1955 nhưng giảm mạnh vào đầu thập niên 1960 khi câu lạc bộ trải qua ba lần xuống hạng. Khán giả trở lại với các lần thăng hạng cuối thập niên 1960 và giữa thập niên 1970, trước khi giảm đi sau khi sân chuyển thành sân toàn ghế ngồi vào năm 1986.

Sân đầu tiên của Luton Town là tại Dallow Lane, sân cũ của Excelsior.[4] Sân nằm cạnh tuyến đường sắt từ Dunstable tới Luton, và các cầu thủ thường nói rằng họ gặp khó khăn trong việc quan sát bóng do khói từ tàu hỏa.[8] Khoản thua lỗ tài chính nghiêm trọng trong mùa giải 1896-97 buộc Luton phải bán sân để duy trì hoạt động, và vì vậy câu lạc bộ chuyển sang một sân vận động ở phía bên kia đường ray, nằm giữa tuyến đường sắt và Dunstable Road.[8] Sân Dunstable Road được khánh thành bởi Herbrand Russell, 11th Duke of Bedford, người cũng quyên góp 50 bảng trong tổng chi phí xây dựng 800 bảng.[8]</ref> Khi khu đất này được bán để xây nhà ở vào năm 1905, câu lạc bộ lại buộc phải chuyển địa điểm trong thời gian ngắn,[8] tới sân hiện tại là Kenilworth Road, kịp trước khi mùa giải 1905-06 khởi tranh.[6][8]

Sân vận động hiện có sức chứa toàn ghế ngồi là 11.600 chỗ[101] và nằm trong khu vực Bury Park của Luton. Sân được đặt theo tên con đường chạy dọc một đầu sân, dù địa chỉ chính thức của câu lạc bộ là số 1 Maple Road. Đối diện khán đài Kenilworth Stand cùng tên là Oak Road End, khán đài đã phát triển từ chỗ ban đầu chỉ dành riêng cho cổ động viên Luton, sau đó dành cho cổ động viên đội khách, và hiện nay được cả hai bên sử dụng, trừ khi nhu cầu vé từ đội khách quá cao. Main Stand nằm bên cạnh David Preece Stand, còn đối diện hai khán đài này là một dãy các phòng điều hành. Các phòng này thay thế Bobbers Stand vào năm 1986, khi câu lạc bộ tìm cách tối đa hóa nguồn thu.[102]

Main Stand nguyên bản bị cháy vào năm 1921, và được thay bằng khán đài hiện tại trước mùa giải 1922-23. Sân được cải tạo quy mô lớn trong thập niên 1930, và sức chứa vào thời điểm bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ hai là 30.000 người. Hệ thống đèn chiếu sáng được lắp đặt trước mùa giải 1953-54, nhưng phải 20 năm sau mới có thêm một đợt hiện đại hóa nữa. Năm 1973, Bobbers Stand trở thành khán đài toàn ghế ngồi, và năm 1985 mặt cỏ được thay bằng một mặt sân nhân tạo; nó nhanh chóng trở nên không được ưa chuộng và bị chế giễu là "sân nhựa".[17][102][103][104]

Một sự cố nghiêm trọng liên quan đến hooligan trước, trong và sau trận gặp Millwall năm 1985 đã khiến chủ tịch khi đó của câu lạc bộ, nghị sĩ Đảng Bảo thủ David Evans, áp dụng một kế hoạch có hiệu lực từ đầu mùa giải 1986-87, theo đó được cho là cấm toàn bộ cổ động viên đội khách vào sân, đồng thời yêu cầu cổ động viên chủ nhà phải mang thẻ thành viên khi vào xem các trận đấu.[105] Việc chuyển đổi sang sân toàn ghế ngồi cũng bắt đầu từ năm 1986.[102] Cổ động viên đội khách quay trở lại từ mùa giải 1990-91,[106] và mặt sân cỏ tự nhiên được khôi phục một năm sau đó.[107] David Preece Stand được dựng lên vào năm 1991, còn việc chuyển Kenilworth Stand thành khán đài toàn ghế ngồi hoàn tất vào năm 2005.[102]

Sân vận động mới

Câu lạc bộ lần đầu bày tỏ sự quan tâm đến việc xây một sân mới ngoài Kenilworth Road vào năm 1955, năm mà đội lần đầu tiên giành quyền thăng hạng lên First Division. Ngay cả khi đó, sân đã nhỏ hơn so với sân của phần lớn các câu lạc bộ ở First Division và Second Division, còn vị trí của nó cũng khiến việc cải tạo quy mô lớn trở nên khó khăn. Từ đó đến nay, đội đã nhiều lần cố gắng chuyển sân.[32] Việc rời Luton để chuyển tới thị trấn mới gần đó là Milton Keynes đã được đề xuất nhiều lần nhưng không thành công, đáng chú ý nhất là vào thập niên 1980.[108] Câu lạc bộ bán Kenilworth Road cho Hội đồng Luton vào năm 1989, và từ đó chỉ thuê lại sân để sử dụng.[109] Đơn xin quy hoạch cho một sân vận động trong nhà mới 20.000 chỗ, "Kohlerdome", do chủ tịch David Kohler đề xuất năm 1995, đã bị Bộ trưởng bác bỏ vào năm 1998, và Kohler rời câu lạc bộ không lâu sau đó.[110]

Năm 2007, những người sở hữu câu lạc bộ khi đó đề xuất một kế hoạch gây tranh cãi nhằm chuyển sân tới khu vực gần nút giao 12 của đường cao tốc M1, gần Harlington và Toddington.[111] Đơn xin quy hoạch được cựu chủ tịch Cliff Bassett nộp thay mặt câu lạc bộ, nhưng đã bị rút lại gần như ngay lập tức sau khi câu lạc bộ được tiếp quản vào năm 2008.[112][113] Năm 2009, câu lạc bộ bắt đầu một nghiên cứu khả thi độc lập để xác định một địa điểm chuyển sân khả thi.[114][115] Câu lạc bộ không loại trừ khả năng cải tạo lại Kenilworth Road, và vào tháng 10 năm 2012, đã bước vào đàm phán để mua lại sân từ Hội đồng quận Luton.[109] Tới năm 2015, các kế hoạch này bị hủy bỏ để chuyển sang một địa điểm mới, với giám đốc điều hành Gary Sweet xác nhận rằng câu lạc bộ đã ở vị thế có thể "mua đất, bảo đảm những tư vấn chuyên môn tốt nhất có thể ... và đưa quy trình xin quy hoạch đi đến khi được chấp thuận".[116]

Vào tháng 4 năm 2016, câu lạc bộ công bố ý định xây dựng và chuyển tới một sân vận động sức chứa 17.500 chỗ tại địa điểm Power Court ở trung tâm Luton.[117] Quyền quy hoạch sơ bộ cho sân này, với khả năng mở rộng lên 23.000 chỗ, được Hội đồng quận Luton chấp thuận vào ngày 16 tháng 1 năm 2019.[118] Vào tháng 3 năm 2021, câu lạc bộ thông báo họ dự định thực hiện một số thay đổi đối với phương án ban đầu để phản ánh những thay đổi do đại dịch COVID-19 gây ra, nhưng sức chứa của sân mới vẫn là 23.000 và mục tiêu khai trương vẫn là năm 2024.[119] Kế hoạch này được điều chỉnh vào năm 2023, theo đó giai đoạn một là sân 19.500 chỗ sẽ hoàn thành vào năm 2026, sau đó là giai đoạn hai với thêm 4.000 chỗ đứng an toàn vào thời điểm muộn hơn.[120][121] Vào tháng 9 năm 2024, câu lạc bộ nộp phương án điều chỉnh lên Hội đồng quận Luton cho một sân vận động 25.000 chỗ với kế hoạch khai trương vào năm 2027.[122][123] Hội đồng đã phê duyệt kế hoạch này vào tháng 1 năm 2025.[124] Đến tháng 4 năm 2025, nhà thầu Thổ Nhĩ Kì Limak International được bổ nhiệm để xây sân mới, với công trình khởi công vào mùa hè năm 2025 và sân dự kiến tổ chức trận đấu chính thức đầu tiên vào đầu mùa giải 2028-29.[125][126]

Cổ động viên và kình địch Luton Town F.C.

Một khán đài sân vận động bóng đá ba tầng, trong đó hai tầng dưới chật kín người mặc chủ yếu màu trắng và cam. Có thể nhìn thấy một số lá cờ trắng và cam.
Cổ động viên Luton tại Sân vận động Wembley, tháng 5 năm 2012

Trong mùa giải 2014-15, Luton Town có lượng khán giả trung bình ở các trận sân nhà thuộc giải vô địch quốc gia là 8.702 người — cao thứ hai tại League Two, chỉ sau Portsmouth.[B] Ở mùa giải 2013-14, khi câu lạc bộ còn chơi tại Conference Premier, đội có lượng cổ động viên vượt trội so với các đội khác trong giải, với mức trung bình 7.387 người mỗi trận sân nhà; cao hơn gấp đôi so với đội đứng thứ hai chỉ có 3.568 người.[C] Lượng khán giả trung bình tại Kenilworth Road giảm dần sau khi sân lắp ghế ngồi và khi vị thế của câu lạc bộ đi xuống, từ 13.452 ở mùa giải 1982-83 xuống mức của mùa giải 2014-15 — giảm 35% trong 32 năm.[127] Một quĩ tín thác cổ động viên, Trust in Luton, sở hữu cổ phần trong câu lạc bộ và bầu ra một đại diện vào ban lãnh đạo câu lạc bộ.[128][129] Hội cổ động viên chính thức của câu lạc bộ, Luton Town Supporters' Club, đã sáp nhập với Trust in Luton vào năm 2014.[130] Câu lạc bộ cũng gắn với một nhóm cổ động viên khác là Loyal Luton Supporters Club.[131] Từ tháng 3 năm 2014, Trust in Luton nắm quyền pháp lí để phủ quyết bất cứ thay đổi nào đối với bản sắc của câu lạc bộ, bao gồm tên gọi, biệt danh, màu sắc, biểu trưng và linh vật.[132]

Cổ động viên Luton Town duy trì một mối kình địch gay gắt với Hertfordshire-based Watford.[133][134][135] Watford là đội có thứ hạng cao hơn vào cuối mỗi mùa giải từ năm 1997 đến năm 2022. Tuy nhiên, xét tổng thể thì Luton vẫn có thành tích đối đầu tốt hơn trong cặp đấu giữa hai câu lạc bộ; trong 120 trận đấu chính thức đã diễn ra, Luton thắng 55 trận, Watford thắng 38 trận và có 29 trận hòa. Cuộc điều tra Football Fans Census năm 2003 cũng cho thấy có sự ác cảm giữa cổ động viên Luton Town và cổ động viên của câu lạc bộ tây London là Queens Park Rangers.[133] Cổ động viên đội bóng cũng duy trì quan hệ thân thiện với câu lạc bộ Hà Lan Go Ahead Eagles.

Câu lạc bộ xuất bản chương trình thi đấu chính thức cho các trận sân nhà với tên gọi Our Town.[136] Một nhân vật mang tên Happy Harry, một người đàn ông tươi cười đội mũ rơm boater, đóng vai trò linh vật của đội và xuất hiện trên mặt sân Kenilworth Road trước các trận đấu.[137] Vào tháng 12 năm 2014, sau khi bức tượng ven biển của Eric Morecambe tại quê hương ông là Morecambe được phục dựng, Luton và Morecambe F.C. cùng công bố rằng đội thắng trong các trận đối đầu giữa Luton và Morecambe về sau sẽ được trao "Eric Morecambe Trophy".[138]

Hooligan

Luton Town F.C. và bộ phận cổ động viên của họ có một lịch sử kéo dài gắn với Hooligan trong bóng đá. Các vụ bạo lực đã xuất hiện ít nhất từ thập niên 1980, với ví dụ khét tiếng đầu tiên là Bao loạn Luton 1985, xảy ra ngày 13 tháng 3 năm 1985 trong trận tứ kết Cúp FA gặp Millwall.[139] Cổ động viên Millwall tràn khỏi khu khán đài được phân cho họ tại Kenilworth Road, ném chai lọ, bi-da và nhiều vật khác vào cổ động viên Luton cũng như cảnh sát, trong khi cầu thủ và quan chức buộc phải tìm chỗ tránh. Trận đấu bị gián đoạn 25 phút do khán giả tràn xuống sân, còn tình trạng hỗn loạn cũng lan vào trung tâm thị trấn Luton, khiến khoảng 47 người phải nhập viện và 31 người bị bắt. Mức độ bạo lực của vụ việc đã góp phần dẫn tới các biện pháp quốc gia sau đó về an toàn sân vận động, bao gồm lắp CCTV, áp dụng các trận đấu bán vé theo danh sách và hạn chế rượu bia.[139] Trong giai đoạn này, Luton Town MIGs (Men In Gear) hoạt động mạnh và đóng vai trò nổi bật trong việc tổ chức các cuộc đụng độ hooligan, tiếp tục dính líu tới các vụ bạo lực trong suốt thập niên 1980 và 1990.

Vào tháng 9 năm 2003, cổ động viên Luton dính líu đến một vụ bạo lực được sắp đặt từ trước trước trận ở Worthington Cup gặp Watford tại Vicarage Road. Sáu cổ động viên Luton bị tuyên án tù vì tội gây rối có tổ chức, với mức án từ tám đến 14 tháng cùng lệnh cấm liên quan đến bóng đá kéo dài từ sáu đến bảy năm, trong khi tổng cộng 20 người bị bỏ tù vì các vụ gây rối trong và ngoài sân.[140] Ngày 6 tháng 10 năm 2012, bạo lực tiếp diễn tại Lincoln trước trận gặp Lincoln City, khi cổ động viên Luton đụng độ trong quán Ritz, dẫn đến 21 vụ bắt giữ và các lời nhận tội về hành vi bạo lực có tổ chức.[141]

Trong trận bán kết play-off Blue Square Premier vào tháng 5 năm 2010, York City đánh bại Luton 1-0 tại Kenilworth Road. Sau trận, các cầu thủ York bị ném vật thể sau một vụ tràn xuống sân, còn cảnh sát bị tấn công bởi cổ động viên mang theo các vật dụng tự chế làm vũ khí. Nhiều người bị bắt, khiến chủ tịch câu lạc bộ phải đưa ra lời xin lỗi và nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp an ninh tăng cường.[142] Ngày 24 tháng 8 năm 2010, Tommy Robinson, người sau này sáng lập English Defence League, đã dẫn đầu một vụ ẩu đả trên phố giữa cổ động viên Luton và Newport County. Robinson bị kết tội vào tháng 7 năm 2011 vì hành vi đe dọa, lăng mạ hoặc xúc phạm, và nhận án quản chế phục hồi cộng đồng 12 tháng, 150 giờ lao động công ích, lệnh cấm liên quan đến bóng đá trong ba năm cùng tiền phạt.[143]

Ngày 16 tháng 2 năm 2013, trước trận vòng Năm Cúp FA gặp Millwall, những vụ gây rối nhỏ đã xảy ra ở trung tâm thị trấn Luton, rồi tiếp tục có thêm các sự cố sau trận, khiến 12 người đàn ông bị buộc tội về hành vi vi phạm trật tự công cộng và ẩu đả. Vào tháng 10 năm 2019, sau trận giữa Luton Town và Bristol City, một vụ ẩu đả tập thể xảy ra trên phố Guildford với sự tham gia của nhiều nhóm cổ động viên, khiến cảnh sát phải kêu gọi cung cấp thông tin để nhận diện những người liên quan.[144] Cổ động viên Luton cũng dính líu tới các vụ việc trong các trận play-off Championship, bao gồm một vụ tấn công bên đường biên nhằm vào cầu thủ đối phương vào tháng 5 năm 2023, dẫn tới việc Hiệp hội bóng đá Anh buộc tội câu lạc bộ vì không kiểm soát được khán giả dù trước đó câu lạc bộ đã ban hành lệnh cấm.[145]

Kỉ lục và thống kê Luton Town F.C.

Thành tích hằng năm của Luton Town kể từ khi câu lạc bộ được bầu vào Football League cho đến hiện tại.

Kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho Luton thuộc về Bob Morton, người đã thi đấu 562 trận cho Luton trên mọi đấu trường.[146] Morton cũng giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho câu lạc bộ tại Football League, với 495 trận.[146] Fred Hawkes giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia cho Luton, với 509 trận.[147] Sáu cầu thủ — Gordon Turner, Andy Rennie, Brian Stein, Ernie Simms, Herbert Moody và Steve Howard — đã ghi hơn 100 bàn cho Luton.[148][149][150][151]

Cầu thủ đầu tiên được khoác áo đội tuyển quốc gia trong khi đang chơi cho Luton là cầu thủ chạy cánh trái Robert Hawkes, người ra sân cho Anh gặp Ireland tại Goodison Park ngày 16 tháng 2 năm 1907.[10] Cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển nhiều nhất là Mal Donaghy, người giành 58 lần ra sân cho Bắc Ireland khi còn chơi cho câu lạc bộ.[152] Cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong một trận đấu quốc tế là Joe Payne, người ghi hai bàn trong trận duy nhất khoác áo Anh gặp Phần Lan ngày 20 tháng 5 năm 1937.[153] Payne cũng giữ kỉ lục Football League về số bàn thắng nhiều nhất trong một trận đấu — anh ghi 10 bàn vào lưới Bristol Rovers ngày 13 tháng 4 năm 1936.[20]

Những chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ là trận thắng 15-0 trước Great Yarmouth Town ngày 21 tháng 11 năm 1914 tại Cúp FA[154] và trận thắng 12-0 trước Bristol Rovers tại Third Division South ngày 13 tháng 4 năm 1936.[152] Thất bại nặng nề nhất của Luton là trận thua 0-9 trước Small Heath tại Second Division ngày 12 tháng 11 năm 1898.[152]

Lượng khán giả sân nhà cao nhất của Luton là 30.069 người trong trận gặp Blackpool tại Cúp FA ngày 4 tháng 3 năm 1959[152][155] và 27.911 người trong trận gặp Wolverhampton Wanderers tại First Division ngày 5 tháng 11 năm 1955.[156]

Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà Luton Town từng thu được là khoản tiền Leicester City trả để chiêu mộ hậu vệ cánh sinh ra tại Luton là James Justin vào ngày 28 tháng 6 năm 2019.[157] Cầu thủ đắt giá nhất mà Luton Town từng mua là hậu vệ cánh Ryan Giles, với mức phí được cho là 5 triệu bảng từ Wolverhampton Wanderers vào ngày 27 tháng 7 năm 2023.[158]

Cầu thủ trẻ nhất ra sân cho đội một của Luton Town là Connor Tomlinson, khi mới 15 tuổi 199 ngày, trong trận EFL Trophy, thay Zane Banton vào sân ở phút 92 trong chiến thắng 2-1 trước Gillingham ngày 30 tháng 8 năm 2016, sau khi câu lạc bộ được hiệu trưởng trường cậu cho phép ra sân thi đấu.[159]

Cầu thủ Luton Town F.C.

Đội hình hiện tại

Tính đến 6 tháng 2 năm 2026[160]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMAnhJames Shea
3HVScotlandKal Naismith (đội trưởng)
4TVNa UySverre Sandal
5HVĐan MạchMads Andersen
6TVHà LanDavy van den Berg (mượn từ Utrecht)
8TVAnhLiam Walsh
11AnhElijah Adebayo
12IraqAli Al-Hamadi (mượn từ Ipswich Town)
14AnhShayden Morris
15HVAnhTeden Mengi
16TVAnhHakeem Odoffin
17HVHà LanNigel Lonwijk (mượn từ Wolverhampton Wanderers)
18TVAnhJordan Clark
SốVT Quốc giaCầu thủ
21BermudaNahki Wells
22JamaicaDevante Cole
23TVBắc IrelandGeorge Saville
24TMCộng hòa IrelandJosh Keeley
25GuyanaIsaiah Jones
26TVGrenadaShandon Baptiste
27TVAnhJake Richards
29HVAnhTom Holmes
30AnhGideon Kodua
32TVScotlandEmilio Lawrence (mượn từ Manchester City)
33HVAnhCohen Bramall
38HVAnhJoe Johnson
54TVJamaicaKasey Palmer (mượn từ Hull City)

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
2HVAnhReuell Walters (cho Blackpool mượn)
7Cộng hòa IrelandMillenic Alli (cho Portsmouth mượn)
9AnhJerry Yates (cho Sheffield Wednesday mượn)
10AnhCauley Woodrow (cho Wycombe Wanderers mượn)
19ScotlandJacob Brown (cho Portsmouth mượn)
SốVT Quốc giaCầu thủ
20Na UyLasse Nordås (cho SC Heerenveen mượn)
28HVCộng hòa CongoChrist Makosso (cho Oxford United mượn)
31AnhJoe Gbodé (cho Woking mượn)
35TVAnhEthon Archer (cho Port Vale mượn)
37TVAnhZack Nelson (cho AFC Wimbledon mượn)

Đội hình U-21

Tính đến 26 tháng 3 năm 2026[161]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
34TVAnhJayden Luker (cho Notts County mượn)
36TVSípZacharias Ioannides (cho Basingstoke Town mượn)
39AnhJosh Phillips (cho Bedford Town mượn)
41TMAnhLucas Thomas (cho Gosport Borough mượn)
42HVTây Ban NhaChristian Chigozie
45HVÝVladimir Paternoster (cho Welling United mượn)
48TVAnhJack Lorentzen-Jones (cho Hemel Hempstead Town mượn)
TMÚcHenry Blackledge
TMAnhLiam Coyne (cho AFC Sudbury mượn)
HVAnhBenedict Benagr
SốVT Quốc giaCầu thủ
HVRwandaClaude Kayibanda
HVAnhKai Source (cho St Ives Town mượn)
TVAlbaniaAlvin Isufi
TVBắc IrelandDylan Stitt
TVAnhCharlie Trustram (cho Bromsgrove Sporting mượn)
AnhTaylan Harris (cho Braintree Town mượn)
NigeriaJordan Iwhiwhu
AnhOliver Lynch (cho Tamworth mượn)
AnhJamie Odegah
AnhTate Xavier-Jones (cho Merthyr Town mượn)

Đội hình U-18

Tính đến 27 tháng 3 năm 2026[162]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
44TVAnhHarry Fox
46TMAnhCharlie Booth (cho Marine mượn)
47HVAnhFinley Evans
49Ba LanDawid Gawel
HVAnhLloyd Asamoah Junior
HVAnhRufus Barnes
HVAnhEnoch Kwame Anson
HVAnhKyrese Richards
HVAnhKyron Roberts-Edema
SốVT Quốc giaCầu thủ
HVAnhLuke Takawira
TVMarocNassim El-Gourja
TVAnhLuca Knote-Reed
TVAnhTy Lesser
TVAnhJerome Passley-James
TVAnhArchie Shepherd
AnhExcel Ed-Okungbowa
ColombiaSamuel Hincapie-Alfonso

Cựu cầu thủ đáng chú ý

Ban hậu trường Luton Town F.C.

Mick Harford
Mick Harford, giám đốc tuyển trạch của Luton, trong ảnh chụp năm 2009.
Một người đàn ông trung niên tóc hoa râm mặc com lê sẫm màu đang mỉm cười và nói chuyện với những người ngoài khung hình
Nick Owen, cựu chủ tịch Luton và hiện là phó chủ tịch, trò chuyện với cổ động viên trước một trận sân nhà năm 2014.
Tính đến ngày 24 tháng 10 năm 2021[163]

Cổ đông

  • Kailesh Karavadra
  • Luton Town Supporters' Trust

Ban giám đốc

  • Chủ tịch: David Wilkinson
  • Giám đốc điều hành: Gary Sweet
  • Giám đốc: Paul Ballantyne, Stephen Browne, Bob Curson, Mike Herrick, Rob Stringer

Ban chuyên môn

  • Huấn luyện viên: Jack Wilshere
  • Trợ lí huấn luyện viên: Chris Powell
  • Huấn luyện viên đội một: David Bridges, Tim Corcoran, Kevin Foley
  • Trưởng bộ phận huấn luyện thủ môn: Kevin Pilkington
  • Quản lí vận hành đội bóng: Kevin Dearden
  • Giám đốc tuyển trạch: Mick Harford
  • Trưởng bộ phận khoa học thể thao: Josh Hornby
  • Trưởng bộ phận huấn luyện và phát triển cầu thủ/Huấn luyện viên trưởng U21: Alex Lawless
  • Trưởng bộ phận phân tích tuyển trạch: Jay Socik
  • Quản lí tuyển mộ cầu thủ: Yousuf Sajjad
  • Tuyển trạch viên trưởng: Marc Tracy
  • Huấn luyện viên sức mạnh và thể lực: Archie Johnson
  • Chuyên viên phân tích hiệu suất: Peter Booker
  • Trưởng bộ phận y tế: Danny Murphy
  • Điều phối viên y tế: Simon Parsell
  • Bác sĩ câu lạc bộ - Dr Monjour Ahmed, Dr Mo Al-Azzawi
  • Chuyên viên vật lí trị liệu: Chris Phillips
  • Chuyên viên trị liệu và quản lí trang phục: Darren Cook
  • Quản lí học viện và phát triển: Paul Benson và Wayne Turner
  • Trợ lí huấn luyện viên giai đoạn phát triển chuyên nghiệp: Ronnie Henry
  • Huấn luyện viên trưởng U18: Joe Deeney
  • Trưởng bộ phận huấn luyện học viện: Ben Strevens

Huấn luyện viên Luton Town F.C.

Một người đàn ông tóc bạc mặc com lê đen bước ra khỏi một tòa nhà.
Joe Kinnear, trong ảnh chụp năm 2009, là huấn luyện viên Luton từ năm 2001 đến năm 2003.
Một người đàn ông trung niên hói đầu mặc com lê sẫm màu nhìn vào máy ảnh với vẻ mặt trung tính.
Richard Money (ảnh chụp năm 2007), một cầu thủ của Luton ở mùa giải 1982-83, là huấn luyện viên của câu lạc bộ từ năm 2009 đến năm 2011.
Tính đến ngày 9 tháng 1 năm 2025. Chỉ tính các huấn luyện viên phụ trách ít nhất 50 trận đấu chính thức.[164][165][166]
Chú giải: M = số trận; W = số trận thắng; D = số trận hòa; L = số trận thua
TênQuốc giaTừĐếnMWDL% thắng
John McCartney Scotland14 tháng 9 năm 192721 tháng 12 năm 1929&0000000000000151000000151&000000000000005700000057&000000000000003800000038&0000000000000056000000560&000000000000003770000037,7
George Kay England23 tháng 12 năm 192913 tháng 5 năm 1931&000000000000007100000071&000000000000002900000029&000000000000001600000016&0000000000000026000000260&000000000000004079999940,8
Harold Wightman England1 tháng 6 năm 19319 tháng 10 năm 1935&0000000000000198000000198&000000000000008500000085&000000000000004900000049&0000000000000064000000640&000000000000004289999942,9
Ned Liddell England13 tháng 8 năm 193626 tháng 2 năm 1938&000000000000007900000079&000000000000004200000042&000000000000001100000011&0000000000000026000000260&000000000000005320000053,2
Dally Duncan Scotland13 tháng 6 năm 194716 tháng 10 năm 1958&0000000000000503000000503&0000000000000192000000192&0000000000000133000000133&00000000000001780000001780&000000000000003820000038,2
Sam Bartram England18 tháng 7 năm 196014 tháng 6 năm 1962&000000000000009500000095&000000000000003500000035&000000000000001800000018&0000000000000042000000420&000000000000003679999936,8
Bill Harvey England24 tháng 7 năm 196221 tháng 11 năm 1964&0000000000000121000000121&000000000000003700000037&000000000000002600000026&0000000000000058000000580&000000000000003060000030,6
George Martin Scotland16 tháng 2 năm 19653 tháng 11 năm 1966&000000000000008200000082&000000000000003400000034&000000000000001600000016&0000000000000032000000320&000000000000004150000041,5
Allan Brown Scotland4 tháng 11 năm 196617 tháng 12 năm 1968&0000000000000111000000111&000000000000005600000056&000000000000002400000024&0000000000000031000000310&000000000000005050000050,5
Alec Stock England20 tháng 12 năm 196827 tháng 4 năm 1972&0000000000000172000000172&000000000000007100000071&000000000000005600000056&0000000000000045000000450&000000000000004129999941,3
Harry Haslam England4 tháng 5 năm 197223 tháng 1 năm 1978&0000000000000275000000275&0000000000000110000000110&000000000000006900000069&0000000000000096000000960&000000000000004000000040,0
David Pleat England24 tháng 1 năm 197816 tháng 5 năm 1986&0000000000000393000000393&0000000000000158000000158&0000000000000108000000108&00000000000001270000001270&000000000000004020000040,2
Ray Harford England16 tháng 6 năm 19873 tháng 1 năm 1990&0000000000000133000000133&000000000000005100000051&000000000000003400000034&0000000000000048000000480&000000000000003829999938,3
Jim Ryan Scotland11 tháng 1 năm 199013 tháng 5 năm 1991&000000000000006300000063&000000000000001800000018&000000000000001600000016&0000000000000029000000290&000000000000002860000028,6
David Pleat England7 tháng 6 năm 199111 tháng 6 năm 1995&0000000000000207000000207&000000000000005500000055&000000000000007000000070&0000000000000082000000820&000000000000002660000026,6
Lennie Lawrence England21 tháng 12 năm 19954 tháng 7 năm 2000&0000000000000250000000250&000000000000009000000090&000000000000006600000066&0000000000000094000000940&000000000000003600000036,0
Joe Kinnear Ireland8 tháng 2 năm 200123 tháng 5 năm 2003&0000000000000122000000122&000000000000005600000056&000000000000002800000028&0000000000000038000000380&000000000000004589999945,9
Mike Newell England23 tháng 6 năm 200315 tháng 3 năm 2007&0000000000000200000000200&000000000000008300000083&000000000000004900000049&0000000000000068000000680&000000000000004150000041,5
Mick Harford England16 tháng 1 năm 20081 tháng 10 năm 2009&000000000000009100000091&000000000000002500000025&000000000000002900000029&0000000000000037000000370&000000000000002750000027,5
Richard Money England30 tháng 10 năm 200928 tháng 3 năm 2011&000000000000008300000083&000000000000004500000045&000000000000002100000021&0000000000000017000000170&000000000000005420000054,2
Gary Brabin England28 tháng 3 năm 201131 tháng 3 năm 2012&000000000000006200000062&000000000000002900000029&000000000000002200000022&0000000000000011000000110&000000000000004679999946,8
John Still England26 tháng 2 năm 201317 tháng 12 năm 2015&0000000000000148000000148&000000000000006900000069&000000000000003800000038&0000000000000041000000410&000000000000004660000046,6
Nathan Jones Wales6 tháng 1 năm 20169 tháng 1 năm 2019&0000000000000170000000170&000000000000008700000087&000000000000004600000046&0000000000000037000000370&000000000000005120000051,2
Nathan Jones Wales28 tháng 5 năm 202010 tháng 11 năm 2022&0000000000000133000000133&000000000000005400000054&000000000000003700000037&0000000000000042000000420&000000000000004060000040,6
Rob Edwards Wales17 tháng 11 năm 20229 tháng 1 năm 2025&0000000000000103000000103&000000000000003200000032&000000000000002500000025&0000000000000046000000460&000000000000003110000031,1

Danh hiệu Luton Town F.C.

Các danh hiệu lớn của Luton Town được liệt kê dưới đây. Để xem danh sách đầy đủ các danh hiệu của câu lạc bộ, xem Danh sách kỉ lục và thống kê Luton Town F.C.: Danh hiệu và thành tựu.[7]

Giải vô địch

Cúp

Chú thích Luton Town F.C.

A. ^ Câu lạc bộ duy nhất khác đến từ miền nam nước Anh khi đó góp mặt ở Football League là Woolwich Arsenal.
B. ^ Được tính bằng cách cộng tất cả lượng khán giả sân nhà tại giải vô địch quốc gia ở mùa giải 2014-15 để có tổng số 200.157, rồi chia cho số trận sân nhà tại giải là 23 để ra mức trung bình 8.702. Số liệu khán giả được lấy từ bản tin BBC trong ngày thi đấu và thống kê của Soccerbase.[167]
C. ^ Được tính bằng cách cộng tất cả lượng khán giả sân nhà tại giải vô địch quốc gia ở mùa giải 2013-14 để có tổng số 169.906, rồi chia cho số trận sân nhà tại giải là 23 để ra mức trung bình 7.387. Số liệu khán giả được lấy từ bản tin BBC trong ngày thi đấu và thống kê của Soccerbase.[168]
D. ^ Trước khi mùa giải 2004-05 bắt đầu, việc đổi thương hiệu của Football League khiến First Division trở thành Football League Championship. Second DivisionThird Division lần lượt trở thành League OneLeague Two.
E. ^ Khi ra đời ở mùa giải 1992-93, FA Premier League trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; từ đó First Division, Second DivisionThird Division lần lượt trở thành các cấp độ thứ hai, thứ ba và thứ tư.

Tham khảo Luton Town F.C.

  1. "Getting to Kenilworth Road". Luton Town F.C. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2024.
  2. "Luton Town F.C. Club Contacts". Luton Town F.C. ngày 15 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  3. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 1–2. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  4. 1 2 3 Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 55. ISBN 978-1-903747-27-8.
  5. "Chapter Six – 11th April 1885". Straw Plaiters: Luton Town Football Club in the Victorian era. Brian Webb. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018.
  6. 1 2 3 Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 3–4. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  7. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 "Luton Town". Football Club History Database. Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  8. 1 2 3 4 5 6 Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 43. ISBN 978-1-903747-27-8.
  9. 1 2 3 4 Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 11–13. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  10. 1 2 "England 1-0 Ireland". England Stats. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  11. 1 2 3 Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 156. ISBN 978-1-903747-27-8.
  12. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 22–26. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  13. 1 2 Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 8. ISBN 978-1-899468-10-2.
  14. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 26–27. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  15. 1 2 3 4 "Luton Town". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2024.
  16. "Ireland 1-1 England". England Stats. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  17. 1 2 3 Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town.F.C. tr. 27. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  18. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 92–97. ISBN 978-1-899468-10-2.
  19. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 46–50. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  20. 1 2 Burnton, Simon (ngày 18 tháng 10 năm 2011). "The forgotten story of ... the Football League's record scoring trio". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015.
  21. Hern, Bill; Gleave, David (2020). Football's Black Pioneers. Leicester: Conker Editions. tr. 168–169. ISBN 9781999900854.
  22. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 74–75. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  23. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 41. ISBN 978-1-903747-27-8.
  24. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 176–177. ISBN 978-1-903747-27-8.
  25. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 114–115. ISBN 978-1-903747-27-8.
  26. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 130. ISBN 978-1-903747-27-8.
  27. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 10–11. ISBN 978-1-903747-27-8.
  28. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 168. ISBN 978-1-903747-27-8.
  29. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 41–42. ISBN 978-1-903747-27-8.
  30. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 1–2. ISBN 978-1-903747-27-8.
  31. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 31. ISBN 978-1-903747-27-8.
  32. 1 2 Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 70–74. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  33. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 78–82. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  34. "England Player Honours – Football Writers' Association Footballers of the Year". England Football Online. ngày 19 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
  35. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 95–98. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  36. 1 2 Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 108–111. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  37. "Luton Town 1974-1975". Statto Organisation. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2009.
  38. "Volume 114". The Listener. London: BBC Magazines: 9. 1985. ... Luton has an attractive team led by some of the finest black players in the country, such as Brian Stein, Ricky Hill and the exciting Nigerian Nwajobi. Sometimes half the Luton team has been black.
  39. Willacy, Gavin (ngày 23 tháng 10 năm 2008). "Opportunity knocked". When Saturday Comes. London. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016. It is perhaps most alarming that Ramsey's bitterest experience of what he considered racism came at Luton Town, a club who have had probably more black players and a richer history of black stars than any in the country, but who maintain an almost exclusively white fan base.
  40. 1 2 Bevan, Chris (ngày 3 tháng 5 năm 2003). "Classic matches at Maine Road". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
  41. "1974-1985". Luton Town F.C. ngày 2 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016. Visions of David Pleat skipping across the ... turf ... remain some of television's enduring images.
  42. "Luton Town 1986-1987". Statto Organisation. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2009.
  43. "1985-1988". Luton Town F.C. ngày 2 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016. A last-minute strike from Brian Stein saw [Luton] Town finally overcome Arsenal 3-2 at Wembley in a see-saw thriller in which Arsenal, leading 2-1, were awarded a penalty, which was brilliantly saved by Andy Dibble, before [Luton] Town came storming back, leading to skipper Steve Foster lifting the Littlewoods Cup.
  44. Lamont, Tom (ngày 6 tháng 4 năm 2008). "Frozen in time". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. Arsenal led 2-1 with 10 minutes left when Andy Dibble, Luton's reserve keeper, saved a Nigel Winterburn penalty ... This equaliser was scrambled in [when] Brian [Stein] hit the ball across the face of the box. Danny Wilson nodded it in. In the final minute, Brian Stein's close-range volley snatched victory.
  45. "Winners and losers". The Independent. London. ngày 6 tháng 5 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
  46. Haylett, Trevor (ngày 25 tháng 4 năm 2001). "Rotherham on the rise as Luton fall" (reprint). The Independent. London. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016 qua NewsBank. (cần đăng ký tài khoản)
  47. "Kinnear: I'm the boss". BBC Sport. ngày 8 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012.
  48. 1 2 3 4 "Trouble at the Top: Luton Kicks Off". BBC Three Counties. ngày 29 tháng 10 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009.
  49. "Luton ponder Dons merger". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012.
  50. "Luton pick Newell". The Daily Telegraph. London. ngày 23 tháng 6 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
  51. Brown, Geoff (ngày 1 tháng 5 năm 2005). "Round-up : Coventry end with demolition Derby". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
  52. "Luton Town appoint new manager". BBC Three Counties. ngày 2 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
  53. Hodges, Vicki; Caroe, Charlie (ngày 16 tháng 1 năm 2008). "Mick Harford replaces Kevin Blackwell at Luton". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2009.
  54. "Luton Town 2006-2007". Statto Organisation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2009.
  55. "Luton lose appeal against points deduction". The Guardian. London. ngày 15 tháng 7 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012.
  56. "Luton 0-0 Chesterfield". BBC Sport. ngày 13 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009.
  57. Fletcher, Paul (ngày 5 tháng 4 năm 2009). "Luton 3-2 Scunthorpe (aet)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
  58. Osborne, Chris (ngày 26 tháng 1 năm 2013). "Norwich 0-1 Luton". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  59. "Luton Town win Conference Premier and Football League spot". BBC Sport. ngày 15 tháng 4 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  60. Simmonds, Mike (ngày 29 tháng 4 năm 2017). "Hatters hit four as they hammer Accrington". Luton Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  61. Mitchell, Brendon (ngày 18 tháng 5 năm 2017). "Luton Town 3-3 Blackpool (agg: 5-6)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  62. Simmonds, Mike (ngày 21 tháng 4 năm 2018). "Luton seal promotion to League One with Carlisle draw". Luton Today. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  63. "Luton Town 3-1 Forest Green Rovers". BBC Sport. ngày 28 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  64. "League One promotion: Luton Town and Barnsley return to Championship for 2019-20". BBC Sport. ngày 30 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  65. "League One roundup: Luton seal title as Plymouth go down on goal difference". The Guardian. London. ngày 4 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  66. "Huddersfield Town 1-0 Luton Town (agg 2-1): Jordan Rhodes goal sends Terriers into Championship play-off final". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2025.
  67. "Report: Reading 1-1 Luton Town". Sky Sports. ngày 19 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2023.
  68. Paul Grunill (ngày 16 tháng 5 năm 2023). "Luton Town 2-0 Sunderland (Agg 3-2): Luton overpower Sunderland to reach play-off final". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2023.
  69. Ged Scott (ngày 27 tháng 5 năm 2023). "Coventry City 1-1 Luton Town (5-6 pens)". BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2023.
  70. Hafez, Shamoon (ngày 30 tháng 9 năm 2023). "Luton beat Everton to claim first Premier League win". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
  71. "Luton relegated after defeat to Fulham". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
  72. "Town relegated after 5-3 defeat - Luton Town FC". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
  73. "A history hat making in Luton". Plaiting and Straw Hat Making. Luton Libraries. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2013.
  74. "The Origins of Luton's Hat Industry". Plaiting and Straw Hat Making. Luton Libraries. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2012.
  75. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 123. ISBN 978-1-903747-27-8.
  76. "One Day to Go!!". Luton Town F.C. ngày 22 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  77. "Luton Town F.C. Home/Away" (PDF). Luton Town F.C. ngày 27 tháng 7 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  78. 1 2 3 "The Badge". The Hatters: Passion and Pride since 1885. Luton: Luton Town F.C. 2011. tr. 112.
  79. "Revealed: The New Crest". Luton Town F.C. ngày 28 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  80. "Miranda Hart after Eric Impersonators". Luton Town F.C. ngày 7 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.
  81. Bản mẫu:Chú thích video notes
  82. "Luton sign £50.000 deal". Luton Town. Luton Town F.C. ngày 1 tháng 3 năm 1980.
  83. "Luton Town: the Umbro years part 1, 1989-92". Museum of Jerseys. ngày 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  84. "Luton Town: the Umbro years part 1, 1989-92". Museum of Jerseys. ngày 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  85. "Luton Town: the Umbro years part 1, 1989-92". Museum of Jerseys. ngày 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  86. "SKF UK history". SKF. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  87. "Football teams sponsored by Travel Extras". Old Football Shirts. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  88. "Electrolux pull out of Luton Town shirt sponsorship deal". Football Shirt Culture. ngày 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
  89. "EasyJet sponsorship + new kit for next season". Luton Town F.C. ngày 25 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  90. "Hatters continue NICEIC partnership". Luton Town F.C. ngày 28 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  91. "Barnfield College named as new Luton shirt sponsor". Luton Town F.C. ngày 1 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2015.
  92. "Back of shirt and short sponsors meet the team!". Luton Town F.C. ngày 9 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  93. "New sponsors are SsangYong Motor UK Ltd". Luton Town F.C. ngày 24 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  94. "2018-19 KITS AND SPONSORS UNVEILED". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  95. "MAKE YOUR MARK ON THE CHAMPIONSHIP IN OUR 2019-20 KIT". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  96. "THREE NEW KITS FOR 2020-21. MADE FOR HEROES". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  97. "Luton Town extend partnership with Utilita!". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2023.
  98. "Local charities set to benefit as Utilita confirmed as shirt sponsors". Luton Town.
  99. "Hatters flag down FREENOW as new sleeve and mobility partner". Luton Town.
  100. "Town announce TUI as new training wear sponsor". Luton Town.
  101. "Safe standing installation complete in the Oak". lutontown.co.uk. Luton Town Football Club. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2024.
  102. 1 2 3 4 "Kenilworth Stadium". Luton Town F.C. ngày 21 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  103. McGuire, Sean (ngày 17 tháng 4 năm 2009). "Unlucky Luton, a reminder of football's forgotten days". Liverpool Daily Post. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2012.
  104. Lawton, Graham (ngày 1 tháng 6 năm 2005). "Pitch battle over artificial grass". New Scientist (2502): 35. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  105. Davies, Christopher (ngày 21 tháng 5 năm 2004). "Millwall hopes to leave dark history behind in F.A. Cup final". The Japan Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2008.
  106. "Luton may end its ban on supporters". The Times. Times Newspapers. ngày 24 tháng 5 năm 1990.
  107. "Uefa approves artificial pitches". BBC Sport. ngày 10 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2008.
  108. Rose, Neil (ngày 20 tháng 6 năm 2005). "Luton Town 1 MK Dons 0". When Saturday Comes. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009.
  109. 1 2 "Luton Town FC in talks to buy back Kenilworth Road". BBC News. ngày 1 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012.
  110. Bose, Mihir (ngày 23 tháng 10 năm 1994). "Luton chairman ready for a stretch inside". The Sunday Times. Times Newspapers: 22.; "Lawrence counts cost of progress". The Sunday Times. Times Newspapers: 5 (Sport). ngày 29 tháng 11 năm 1998.; "Luton's proposed stadium blocked". The Times. Times Newspapers: 49. ngày 23 tháng 2 năm 1999.
  111. "Luton stadium dream moves closer". BBC Sport. ngày 15 tháng 2 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016.
  112. Knowles, Keeley (ngày 30 tháng 3 năm 2008). "J12 stadium plans run into problems". Bedfordshire on Sunday. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  113. "Junction 12 application withdrawn". Luton Town F.C. ngày 1 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2009.
  114. "Luton stadium plan 'unaffordable'". BBC Sport. ngày 23 tháng 2 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  115. "Chapter 9 – Action Areas". Luton Borough Council. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  116. "Hatters' new stadium location to be revealed soon". Luton Today. ngày 19 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  117. "Nathan Jones: Luton Town's new stadium at Power Court 'not just generic'". BBC Sport. ngày 22 tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016.
  118. "Power Court: Luton Town football stadium gains planning permission". BBC Sport. ngày 16 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
  119. "Power Court and Newlands Park update". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  120. "Luton Town unveil images of proposed 19.500-capacity stadium ahead of Championship play-off final". ITV News. ngày 26 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2023.
  121. "Luton Town: Club reveals new stadium pictures and plans". BBC News. ngày 26 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2023.
  122. "Detailed planning application for Power Court submitted". www.lutontown.co.uk. ngày 13 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2024.
  123. "Plans go in for new Luton Town stadium". The Construction Index. ngày 18 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2024.
  124. Flatman, Ben (ngày 3 tháng 1 năm 2025). "Green light for new Luton Town football stadium". Building. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2025.
  125. Prior, Grant (ngày 30 tháng 4 năm 2025). "Turkish contractor Limak to build new Luton Town stadium". Construction Enquirer. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  126. Fullbrook, Danny (ngày 30 tháng 4 năm 2025). "Luton Town partner with FC Barcelona stadium team". BBC News. Bedfordshire: BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025.
  127. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 70. ISBN 978-1-899468-10-2.
  128. "Trust in Luton – Working with others". Loyal Luton Supporters Club. ngày 28 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2012.
  129. "Trust in Luton". Trust in Luton. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008.
  130. "Town fans get united!". Trust in Luton. ngày 17 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015.
  131. "Loyal Luton Supporters Club". Loyal Luton Supporters Club. ngày 10 tháng 10 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012.
  132. "Exclusive: Trusting in Luton". Luton Town F.C. ngày 13 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014.
  133. 1 2 "Rivalry uncovered!" (PDF). Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013.
  134. "Motorway madness". When Saturday Comes. tháng 11 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  135. "Herts rule Beds". When Saturday Comes. tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  136. "Get your copy of 'Our Town' this afternoon!". Luton Town F.C. ngày 19 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2020.
  137. "Harry Hatter is kidnapped". Luton Town F.C. ngày 1 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  138. "The Eric Morecambe Trophy". Morecambe F.C. ngày 27 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  139. 1 2 Ingle, Sean (ngày 15 tháng 2 năm 2013). "Luton Town v Millwall 1985 – the night football died a slow death". The Guardian. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  140. "Luton fans jailed for pre-match fight". BBC News. ngày 11 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  141. "Lincoln City V Luton Town violence: Hooligan still wanted by police". BBC News. ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  142. "York City's play-off win over Luton marred by violence". BBC News. ngày 4 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  143. "English Defence League founder convicted of leading street brawl". The Guardian. ngày 25 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  144. "Luton football hooligans jailed for brawl with Southend fans". BBC News. ngày 11 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  145. "FA charge Luton with incidents in Sunderland play-off semi-final". The Lutonian. ngày 17 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
  146. 1 2 Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 6, 97. ISBN 978-1-899468-10-2.
  147. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 196–197. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  148. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 6, 90–91, 97, 99–100. ISBN 978-1-899468-10-2.
  149. Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. tr. 111. ISBN 978-1-903747-27-8.
  150. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 205, 312–313, 315–317. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  151. "Steve Howard". Soccerbase. Centurycomm. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  152. 1 2 3 4 "Luton Town all time records". Soccerbase. Centurycomm. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  153. "Finland 0-8 England". England Stats. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  154. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 91. ISBN 978-1-899468-10-2.
  155. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 46. ISBN 978-1-899468-10-2.
  156. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 43. ISBN 978-1-899468-10-2.
  157. "James Justin - Leicester's Brendan Rodgers makes Luton full-back his first signing". BBC Sport. ngày 28 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
  158. "Luton beat Boro to Giles transfer for reported club record fee". The Lutonian. ngày 28 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2025.
  159. May, Jamie (ngày 30 tháng 8 năm 2016). "Hatters youngsters take their chance as Gillingham are beaten in Checkatrade Trophy". Luton Today. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  160. "First Team - Luton Town FC". Luton Town F.C. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2024.
  161. "Under-21s - Luton Town FC". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
  162. "Under-18s - Luton Town FC". www.lutontown.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
  163. "Who's who at Luton Town FC". Luton Town F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2021.
  164. "Luton Manager history". Soccerbase. Centurycomm. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2016.
  165. Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. tr. 19–101. ISBN 978-1-899468-10-2.
  166. Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. tr. 244–245. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  167. "Luton Town Results/Matches 2014-15". Soccerbase. Centurycomm. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.
  168. "Luton Town Results/Matches 2013-14". Soccerbase. Centurycomm. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016.

Thư mục

  • Ellis, Brian; Shury, Alan; Bailey, Steve (1997). The Definitive Luton Town F.C. Nottingham: Soccerdata. ISBN 978-1-899468-10-2.
  • Collings, Timothy (1985). The Luton Town Story 1885-1985. Luton: Luton Town F.C. ISBN 978-0-9510679-0-1.
  • Hayes, Dean P. (2002). Completely Top Hatters!. Dunstable: Book Castle Publishing. ISBN 978-1-903747-27-8.

Liên kết ngoài Luton Town F.C.

Nghe bài viết này (36 phút)
Icon Wikipedia được đọc ra
Tệp âm thanh này được tạo từ phiên bản sửa đổi bài viết ngày 7 tháng 11 năm 2009 (2009-11-07) và không phản ánh các phiên bản tiếp theo.

Bản mẫu:Trận đấu Luton Town F.C.Bản mẫu:Mùa giải Luton Town F.C.

Bản mẫu:Luton