Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Bristol City F.C.”
Task 3: Sửa lỗi chung (GeneralFixes2) (#TASK3QUEUE) | viết lại toàn bộ nội dung, dựa theo bản dịch enwiki của Bristol City F.C. | ||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
{{ | {{Short description|Câu lạc bộ bóng đá Anh}} | ||
{{For|đội bóng đá nữ|Bristol City W.F.C.}} | |||
| | {{redirect|Bristol City|chính thành phố|Bristol}} | ||
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá | |||
| nickname = The Robins | |||
| nickname = The Robins và the Reds, Cider Army, Red Army | |||
| ground = [[Ashton Gate (sân vận động)|Ashton Gate]] | |||
| capacity = 27.000 | |||
| current = Bristol City F.C. mùa giải 2025-26 | |||
| clubname = Bristol City | |||
| image = Bristol_City_crest.svg | |||
| upright = 0.8 | |||
| fullname = Câu lạc bộ bóng đá Bristol City | |||
| short name = BCFC | |||
| founded = 1894 | | founded = 1894 | ||
| owner = [[Steve Lansdown]] | |||
| ground = [[Sân vận động Ashton Gate|Ashton Gate]] | |||
| chairman = Jon Lansdown | |||
| capacity = 27000 | |||
| manager = [[Roy Hodgson]] | |||
| chairman = {{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Steve Landsdown]] | |||
| Huấn luyện viên | | mgrtitle = Huấn luyện viên trưởng tạm quyền | ||
| league = {{English football updater|BristolC}} | |||
| league = [[League One|League One (hạng nhì Anh)]] | |||
| season = | | season = {{English football updater|BristolC2}} | ||
| position = {{English football updater|BristolC3}} | |||
| position = [[League One|League One (hạng nhì Anh)]], thứ 11 | |||
|pattern_la1 = | | pattern_la1 = _bristolc2425h | ||
|pattern_b1= | | pattern_b1 = _bristolc2425h | ||
|pattern_ra1= | | pattern_ra1 = _bristolc2425h | ||
|pattern_sh1= | | pattern_sh1 = _bristolc2425h | ||
|pattern_so1= | | pattern_so1 = | ||
|leftarm1= | | leftarm1 = | ||
|body1= | | body1 = | ||
|rightarm1= | | rightarm1 = | ||
|shorts1= | | shorts1 = | ||
|socks1=FF0000 | | socks1 = FF0000 | ||
|pattern_la2 = | | pattern_la2 = _bristolc2425a | ||
|pattern_b2= | | pattern_b2 = _bristolc2425a | ||
|pattern_ra2= | | pattern_ra2 = _bristolc2425a | ||
|pattern_sh2= | | pattern_sh2 = _bristolc2425a | ||
|pattern_so2= | | pattern_so2 = | ||
|leftarm2= | | leftarm2 = | ||
|body2= | | body2 = | ||
|rightarm2= | | rightarm2 = | ||
|shorts2= | | shorts2 = | ||
|socks2= | | socks2 = fff1c0 | ||
|pattern_la3 = | | pattern_la3 = _bristolc2425t | ||
|pattern_b3= | | pattern_b3 = _bristolc2425t | ||
|pattern_ra3= | | pattern_ra3 = _bristolc2425t | ||
|pattern_sh3= | | pattern_sh3 = _bristolc2425t | ||
|pattern_so3= | | pattern_so3 = | ||
|leftarm3= | | leftarm3 = | ||
|body3= | | body3 = | ||
|rightarm3= | | rightarm3 = | ||
|shorts3= | | shorts3 = | ||
|socks3= | | socks3 = 000000 | ||
| website = {{URL|https://www.bcfc.co.uk/|bcfc.co.uk}} | |||
}} | }} | ||
Câu lạc bộ bóng đá Bristol City là câu lạc bộ bóng đá | '''Câu lạc bộ bóng đá Bristol City''' ({{Langx|en|Bristol City Football Club}}) là một câu lạc bộ bóng đá nam chuyên nghiệp có trụ sở tại [[Bristol]], Anh. Đội bóng hiện thi đấu tại {{English football updater|BristolC}}, cấp độ thứ hai của [[Hệ thống giải bóng đá Anh]]. | ||
Được thành lập vào năm 1894, câu lạc bộ từng thi đấu tại [[Southern Football League|Southern League]] và [[Western Football League|Western League]], đồng thời giành chức vô địch Western League mùa giải 1897-98. Câu lạc bộ được kết nạp vào [[English Football League|Football League]] năm 1901 và vô địch [[Football League Second Division 2001-02|Second Division]] mùa giải 1905-06. Đội bóng đứng thứ hai tại [[Football League First Division|First Division]] ở mùa giải kế tiếp, kém nhà vô địch [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]] ba điểm, rồi sau đó thua [[Manchester United F.C.|Manchester United]] trong [[Chung kết Cúp FA 1909]]. Sau khi xuống hạng vào năm 1911, Bristol City rơi xuống cấp độ thứ ba vào năm 1922, nhưng đã giành chức vô địch [[Football League Third Division South|Third Division South]] các mùa giải 1922-23 và 1926-27. Câu lạc bộ trở lại cấp độ ba vào năm 1932 và ở đó cho đến khi lại vô địch Third Division South mùa giải 1954-55. Sau khi xuống hạng vào năm 1960, Bristol City giành quyền thăng hạng từ cấp độ ba ở mùa giải 1964-65 rồi từ cấp độ hai ở mùa giải 1975-76. Đội bóng thi đấu bốn mùa giải tại hạng đấu cao nhất trước khi trải qua ba mùa giải xuống hạng liên tiếp và rơi xuống hạng dưới vào năm 1982. | |||
Bristol City chỉ ở lại [[Football League Fourth Division|Fourth Division]] trong hai mùa giải, rồi giành [[EFL Trophy|Associate Members' Cup]] (Football League Trophy) trong [[1986 Associate Members' Cup final|năm 1986]]. Sau khi thăng hạng khỏi Third Division mùa giải 1989-90, câu lạc bộ lại xuống hạng vào năm 1995 và một lần nữa vào năm 1999, sau lần thăng hạng khác ở mùa giải 1997-98. Bristol City giành Football League Trophy lần thứ hai vào [[Chung kết Football League Trophy 2003|năm 2003]], rồi thăng hạng khỏi [[EFL League One|League One]] mùa giải 2006-07. Sau khi xuống hạng sau sáu mùa giải ở [[EFL Championship|Championship]], câu lạc bộ giành Football League Trophy lần thứ ba vào [[Chung kết Football League Trophy 2015|năm 2015]] trên đường vô địch League One mùa giải 2014-15, và kể từ lần thăng hạng đó vẫn ở lại Championship. | |||
Câu lạc bộ đã thi đấu các trận sân nhà tại [[Ashton Gate Stadium|Ashton Gate]] kể từ khi chuyển từ [[St John's Lane]] vào năm 1904. Màu áo sân nhà của đội bóng là đỏ và trắng, còn biệt danh là The Robins — một con [[European robin|chim cổ đỏ]] từng xuất hiện trên huy hiệu câu lạc bộ từ năm 1976 đến năm 1994 và từ năm 2019 trở đi. Đối thủ chính của Bristol City là [[Bristol Rovers F.C.|Bristol Rovers]], đội bóng mà câu lạc bộ chạm trán trong trận [[derby Bristol]], và [[Cardiff City F.C.|Cardiff City]], đội bóng mà câu lạc bộ gặp trong trận derby liên biên giới [[derby Severnside]]. | |||
Biệt danh của CLB là "The Robins", với hình một chiến binh robin nằm trên huy hiệu của CLB giai đoạn 1976-1994. | |||
==Lịch sử== | ==Lịch sử== | ||
===Những năm đầu và những thành công đầu tiên (1897–1911)=== | |||
[[Tập tin:BristolCityFC League Performance.svg|thumb|right|Chart of yearly table positions of Bristol City in the Football League.]] | |||
===Những năm đầu và các thành công đầu tiên (1894-1922)=== | |||
CLB được thành lập năm 1894 với tên gọi Bristol South End và đổi tên thành Bristol City theo phong cách chuyên nghiệp 3 năm sau đó khi họ được thi đấu ở [[Southern Football League|Southern League]]. Kết thúc ở vị trí thứ 2 ở 3 trong 4 mùa giải đầu tiên, năm 1900 CLB hợp với kình địch ở Southern League là Bedminster, đội bóng thành lập với tên gọi Southville năm 1887. City tham gia vào Football League năm 1901 khi họ chỉ là CLB thứ 3 ở miền nam Birmimgham (theo chân của Woolwich Arsenal và [[Luton Town F.C.|Luton Town]]) tham gia giải đấu này. Trận đấu đầu tiên của họ ở Football League diễn ra ngày 7 tháng 9 năm 1901 ở [[Bloomfield Road]], nơi [[Blackpool F.C.|Blackpool]] bị đánh bại với tỉ số 2–0.<ref>Calley, Roy (1992). ''Blackpool: A Complete Record 1887–1992'', Breedon Books Sport</ref> | |||
Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1894 với tên gọi Bristol South End và đổi tên thành Bristol City ba năm sau đó, khi chuyển sang bóng đá chuyên nghiệp và được kết nạp vào Southern League. Sau khi giành ngôi á quân ở ba trong bốn mùa giải đầu tiên, vào năm 1900 câu lạc bộ sáp nhập với đối thủ địa phương tại Southern League là [[Bedminster F.C.]], đội bóng vốn được thành lập với tên Southville vào năm 1887. Bristol City gia nhập [[English Football League|Football League]] vào năm 1901 khi trở thành câu lạc bộ thứ ba ở phía nam Birmingham (sau [[Arsenal F.C.|Woolwich Arsenal]] và [[Luton Town F.C.|Luton Town]]) thi đấu tại giải này. Trận đầu tiên của câu lạc bộ tại Football League diễn ra ngày 7 tháng 9 năm 1901 tại [[Bloomfield Road]], nơi [[Blackpool F.C.|Blackpool]] bị đánh bại với tỉ số 2-0.<ref>Calley, Roy (1992). ''Blackpool: A Complete Record 1887-1992'', Breedon Books Sport</ref> | |||
{{Quote box | |||
Vô địch Second Division Championship với số điểm kỉ lục khi họ trở thành CLB đầu tiên trong lịch sử Football League thắng 30 trận, ngang bằng với Manchester United mùa giải trước với 14 trận thắng liên tiếp (cho đến ngày nay vẫn là một kỉ lục, và cũng được thiết lập bởi Preston mùa giải 1950–51). Khi đó họ có biệt danh Bristol Babe, họ kết thúc với vị trí thứ 2 trong mùa giải đầu tiên ở First Division (đội bóng phía nam duy nhât kết thúc ở top 2 trước Thế chiến thứ 1). Ba năm sau họ vào đến chung kết FA Cup lần duy nhất, mặc dù họ rất may mắn khi vượt qua [[Derby County F.C.|Derby County]] ở Stamford Bridge. Không may, điều tương tự đã không xảy ra trong trận chung kết ở Crystal Palace (bây giờ là National Sports Centre) khi Manchester United giành chiến thắng 1–0. Sau 5 mùa giải thành công, cho dù với chiến thắng 1–0 với Newcastle đầu mùa giải 1910–11, thất bại khi đánh bại Everton trong trận cuối cùng của mùa giải đã khiến cho City nếm trải lần đầu xuống hạng và 65 sau đó họ mới trở lại với giải đấu cao nhất.<ref>Bristol City The Early Years 1894–1915 by David Woods published by Desert Island Books 2004; The Bristol Babe by David Woods published by Yore Publications 1994; Bristol City The Complete Record 1894–1987 by David Woods with Andrew Crabtree published by Breedon Books 1987; David Woods the Official Bristol City Club Historian.</ref> | |||
|quote=Một kế hoạch đã được các bên liên quan chấp thuận về mặt không chính thức cho việc sáp nhập các câu lạc bộ bóng đá Association là Bristol City và Bedminster. Các điều kiện chính là tên gọi và màu sắc của Bristol City sẽ được giữ lại, các trận đấu sẽ được luân phiên tổ chức trên sân của mỗi câu lạc bộ trong một mùa giải, và mỗi câu lạc bộ sẽ đề cử năm giám đốc. Điều này sẽ giúp Bristol sở hữu một trong những đội bóng mạnh nhất ở miền nam. | |||
|source=''Gloucestershire Echo'', 12 tháng 4 năm 1900.<ref>{{Chú thích báo|title=Sporting Gossip|work=[[Gloucestershire Echo]]|date=12 tháng 4 năm 1900|access-date=15 tháng 12 năm 2015|url=http://www.britishnewspaperarchive.co.uk/viewer/bl/0000320/19000412/057/0003|via=[[British Newspaper Archive]]|url-access=subscription }}</ref> Thông báo về vụ sáp nhập giữa Bristol City và Bedminster. | |||
|align=right | |||
|width=40% | |||
}} | |||
Bristol City vô địch Second Division với số điểm cao kỉ lục khi trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử Football League thắng 30 trận trong một mùa giải (trong tổng số 38 trận), đồng thời san bằng thành tích thắng 14 trận liên tiếp của [[Manchester United F.C.|Manchester United]] ở mùa giải trước đó (một kỉ lục tồn tại đến năm 2018, và cũng từng được [[Preston North End F.C.|Preston North End]] đạt tới ở mùa giải 1950-51). Được đặt biệt danh là Bristol Babe vào thời điểm đó, đội bóng cán đích ở vị trí á quân ngay trong mùa giải đầu tiên tại First Division (1906-07), trở thành câu lạc bộ miền nam duy nhất kết thúc trong tốp Hai trước Chiến tranh thế giới thứ nhất. | |||
Năm 1909, Bristol City vào tới trận [[Chung kết Cúp FA 1909|chung kết Cúp FA]] duy nhất trong lịch sử, dù phần nào may mắn khi một quả phạt đền ở phút cuối đã cứu đội bóng khỏi thất bại trong trận bán kết với [[Derby County F.C.|Derby County]] tại [[Stamford Bridge (sân vận động)|Stamford Bridge]]. Trong trận chung kết tại [[Crystal Palace National Sports Centre#Chung kết Cúp FA (1895-1914)|Crystal Palace]] (nay là National Sports Centre), Bristol City thua Manchester United 0-1. Sau quãng thời gian năm mùa giải ở hạng đấu cao nhất, dù khởi đầu mùa giải 1910-11 bằng chiến thắng 1-0 trên sân của [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]], việc không thể đánh bại [[Everton F.C.|Everton]] ở trận cuối mùa đã khiến Bristol City lần đầu tiên phải nếm trải cảm giác xuống hạng, và phải mất 65 năm sau đội bóng mới giành lại được vị thế tại hạng đấu cao nhất.<ref>Bristol City The Early Years 1894-1915 by David Woods published by Desert Island Books 2004; The Bristol Babe by David Woods published by Yore Publications 1994; Bristol City The Complete Record 1894-1987 by David Woods with Andrew Crabtree published by Breedon Books 1987; David Woods the Official Bristol City Club Historian.</ref> | |||
==Lịch sử cấp độ mùa giải== | |||
* 1901–06: Football League Second Division | |||
* 1906–11: Football League First Division | |||
* 1911–22: Football League Second Division | |||
* 1922–23: Football League Third Division | |||
* 1923–24: Football League Second Division | |||
* 1924–27: Football League Third Division | |||
* 1927–32: Football League Second Division | |||
* 1932–55: Football League Third Division | |||
* 1955–60: Football League Second Division | |||
* 1960–65: Football League Third Division | |||
* 1965–76: Football League Second Division | |||
* 1976–80: Football League First Division | |||
* 1980–84: Football League Second Division | |||
* 1984–90: Football League Third Division | |||
* 1990–94: Football League Second Division | |||
* 1994–95: Football League First Division | |||
* 1995–98: Football League Second Division | |||
* 1998–99: Football League First Division | |||
* 1999–07: Football League Second Division | |||
* 2007–13: Football League First Division | |||
* 2013–nay: Football League Second Division | |||
Sau đó, Bristol City tiếp tục ở lại Division 2 cho đến ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Trong khoảng thời gian đó, câu lạc bộ vào tới bán kết [[1919-20 FA Cup]] trước khi bị [[Huddersfield Town A.F.C.|Huddersfield Town]] đánh bại 2-1, đồng thời kết thúc mùa giải [[Football League 1920-21|1920-21]] ở vị trí thứ ba tại Second Division.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.worldfootball.net/competition/ro12372/md0/results-and-standings/|title=FA Cup 1919/1920 – Semi-finals|website=worldfootball.net|date=12 tháng 6 năm 2023 }}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://melaman2.com/premierleague/championship/1920-21_english-football-league.html|title=Millennium 1920-21 English Football League Season & Lower Division Tables|first=Michael|last=Appert|website=melaman2.com}}</ref> Tuy nhiên, ở mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ bị xuống hạng xuống Third Division South.<ref>{{Chú thích web|url=http://melaman2.com/premierleague/championship/1921-22_english-football-league.html|title=Millennium 1921-22 English Football League Season & Lower Division Tables|first=Michael|last=Appert|website=melaman2.com}}</ref> | |||
==Các danh hiệu== | |||
*Á quân '''[[The Football League]] ([[Premier League]])''': 1906–07 | |||
*Vô địch '''[[Football League Second Division|Second Division]] ([[Football League Championship]])''': 1905–06 | |||
*Á quân '''[[Football League Second Division|Second Division]] ([[Football League Championship]])''': 1975–76 | |||
*Vô địch '''[[Football League Third Division|Third Division]]''' '''([[Football League One]])''': 1922–23, 1926–27, 1954–55 | |||
*Á quân '''[[Football League Third Division|Third Division]] ([[Football League One]])''': 1964–65, 1989–90, 1997–98, 2006–07 | |||
*Á quân '''[[FA Cup]]''': 1908–09 | |||
*Vô địch '''[[Football League Trophy]]''': 1985–86, 2002–03 | |||
*Á quân '''[[Football League Trophy]]''': 1986–87, 1999–00 | |||
*Vô địch '''[[Welsh Cup]]''': 1933–34 | |||
*Vô địch '''[[Anglo-Scottish Cup]]''': 1977–78 | |||
===Thời kì lên xuống giữa các hạng đấu (1922-65)=== | |||
==Các giải thưởng== | |||
[[File:BristolCityFC League Performance.svg|thumb|right|Biểu đồ thứ hạng của Bristol City theo từng năm tại Football League]] | |||
Thập niên 1920 là giai đoạn đầy biến động khi Bristol City liên tục lên xuống giữa Second Division và khu vực phía nam của Third Division. Ngay mùa giải sau khi xuống hạng, câu lạc bộ giành quyền thăng hạng trở lại Second Division, trước khi lại rơi về khu vực phía nam của Third Division ở mùa giải kế tiếp. Sau nhiều mùa giải liên tiếp cán đích ở nhóm đầu, Bristol City một lần nữa thăng hạng ở mùa giải 1926-27. Tuy nhiên, sang thập niên 1930, đội bóng sa sút xuống hạng thấp hơn và ở đó cho đến hơn 10 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong quãng thời gian chơi tại Third Division South, Bristol City giành [[Cúp bóng đá Wales]] năm 1934 sau khi đánh bại Tranmere Rovers trong trận chung kết. Tuy vậy, cũng trong năm đó, câu lạc bộ chịu trận thua đậm nhất lịch sử tại giải vô địch quốc gia, thất bại 0-9 trước [[Coventry City F.C.|Coventry City]]. Mùa giải 1937-38 là mùa giải thành công nhất của Bristol City kể từ khi rơi xuống Third Division, khi đội bóng đứng thứ hai tại giải vô địch quốc gia và vào tới chung kết [[Football League Third Division South Cup|Third Division South Cup]], trước khi thua Reading với tổng tỉ số 2-6 sau hai lượt trận.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/potted-history/|title=Club Legends|website=Bristol City|access-date=6 tháng 2 năm 2018|archive-date=7 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180207010658/https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/potted-history/|url-status=dead}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://fchd.info/cups/div3scupsummary.htm|title=Football Club History Database – Football League Division Three South Cup Summary|website=fchd.info}}</ref> Sau đó, đội bóng đứng thứ tám tại Third Division South ở mùa giải trọn vẹn cuối cùng trước chiến tranh, mùa giải mà khán đài chính của Ashton Gate bị phá hủy trong một cuộc không kích của Đức.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.theguardian.com/sport/blog/2010/nov/10/blitz-football-grounds-bomb-damage|title=Memories of the Blitz bombers and a damaging time for sport|first=Frank|last=Keating|date=10 tháng 11 năm 2010|website=The Guardian}}</ref> | |||
===Cầu thủ của mùa giải=== | |||
Ở mùa giải 1946-47, Bristol City lập kỉ lục chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia khi đánh bại [[Aldershot F.C.|Aldershot]] với tỉ số 9-0, nhưng dù [[Don Clark (cầu thủ bóng đá)|Don Clark]] ghi 36 bàn tại giải vô địch quốc gia, đội bóng vẫn không thể giành quyền thăng hạng trong mùa giải đó. [[Harry Dolman]] trở thành chủ tịch vào năm 1949, cương vị mà ông nắm giữ hơn 30 năm. Là một kĩ sư từng mua lại công ty mà mình làm việc, ông đã thiết kế hệ thống đèn pha đầu tiên được lắp đặt tại Ashton Gate vào đầu thập niên 1950. Cuối thập niên 1950 là quãng thời gian tích cực hơn của Bristol City, với năm mùa giải ở Second Division, một giải đấu mà câu lạc bộ trở lại thêm một lần nữa vào năm 1965. | |||
{| class="wikitable" | |||
===Trở lại với giới tinh hoa (1966-80)=== | |||
Năm 1967, [[Alan Dicks]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, và tình hình dần cải thiện, đỉnh điểm là việc thăng hạng lên First Division vào năm 1976, chấm dứt 65 năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất. | |||
Từ năm 1975 đến năm 1981, Bristol City thường xuyên tham dự [[Anglo-Scottish Cup]], vô địch giải này ở mùa giải 1977-78 sau khi đánh bại Hibernian ở bán kết và thắng St Mirren với tổng tỉ số 3-2 trong trận chung kết (khi đó St Mirren được dẫn dắt bởi một huấn luyện viên còn khá mới mẻ là Alex Ferguson). St Mirren đã phục hận hai mùa giải sau đó bằng chiến thắng chung cuộc 5-1 trước Bristol City để trở thành đội bóng Scotland duy nhất từng vô địch giải đấu này. | |||
Giai đoạn thứ hai của Bristol City ở hạng đấu cao nhất kém thành công hơn giai đoạn đầu tiên, với vị trí thứ 13 năm 1979 là thành tích tốt nhất của câu lạc bộ trong thời kì này. Những ngôi sao của giai đoạn đó gồm [[Peter Cormack]], [[Geoff Merrick]], [[Tom Ritchie]], [[Clive Whitehead]], [[Gerry Gow]], [[Trevor Tainton]] và [[Jimmy Mann (cầu thủ bóng đá)|Jimmy Mann]]. | |||
===Khó khăn tài chính và phục hưng (1980-2000)=== | |||
Năm 1980, đội bóng rơi xuống Second Division trong lần đầu của chuỗi ba mùa giải xuống hạng liên tiếp; các khoản nợ chồng chất và thua lỗ tài chính gia tăng. Đến năm 1982, Bristol City rơi xuống [[Football League Fourth Division|Fourth Division]] và bị tuyên bố phá sản. Một câu lạc bộ mới được thành lập<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/potted-history/|title=Club Legends|website=Bristol City|access-date=10 tháng 5 năm 2018|archive-date=7 tháng 5 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180507100228/https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/potted-history/|url-status=dead}}</ref> và BCFC (1982) Ltd tiếp quản các hợp đồng cầu thủ của câu lạc bộ. Những cầu thủ đàn anh có mức lương cao gồm Julian Marshall, [[Chris Garland]], [[Jimmy Mann (cầu thủ bóng đá)|Jimmy Mann]], [[Peter Aitken]], [[Geoff Merrick]], [[David Rodgers]], [[Gerry Sweeney]] và [[Trevor Tainton]], về sau được gọi là 'Ashton Gate Eight', mỗi người đều chấp nhận chấm dứt hợp đồng để chỉ nhận một nửa số tiền còn được thanh toán. Những ông chủ trước đó của câu lạc bộ đã không trả các khoản nợ cho nhiều doanh nghiệp địa phương. Hệ quả là sự bất bình của địa phương đối với câu lạc bộ khiến ban lãnh đạo mới rất khó vay tín dụng. | |||
Bristol City ở lại Fourth Division trong hai mùa giải trước khi giành quyền thăng hạng dưới sự dẫn dắt của [[Terry Cooper (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1944)|Terry Cooper]] vào năm 1984. Câu lạc bộ sau đó củng cố vị trí tại Third Division trong nửa cuối thập niên 1980, và đến năm 1990, người kế nhiệm Cooper là [[Joe Jordan (cầu thủ bóng đá)|Joe Jordan]] giúp đội bóng thăng hạng với tư cách á quân Third Division, xếp trên đối thủ địa phương Bristol Rovers. | |||
Tuy nhiên, chiến dịch thăng hạng ấy cũng chứng kiến một bi kịch đối với câu lạc bộ. Vào tháng 3 năm 1990, hai tháng trước khi Bristol City chính thức giành quyền thăng hạng, tiền đạo [[Dean Horrix]] thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi chỉ hai tuần sau khi gia nhập câu lạc bộ và sau khi mới chơi ba trận tại giải vô địch quốc gia cho đội bóng.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.royals.org/deano.html|title=Hob Nob Anyone? – Reading FC – The Royals – Articles}}</ref> | |||
Jordan chuyển đến [[Heart of Midlothian F.C.|Heart of Midlothian]] vào tháng 9 năm 1990, còn người kế nhiệm ông là [[Jimmy Lumsden]] chỉ cầm quân được 18 tháng trước khi nhường chỗ cho [[Denis Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1947)|Denis Smith]]. Bản hợp đồng đầu tiên của Smith là tiền đạo 20 tuổi của [[Arsenal F.C.|Arsenal]] là [[Andy Cole]]. Cole được bán cho Newcastle United vào tháng 2 năm 1993 và sau đó thi đấu cho Manchester United, nơi anh giành năm chức vô địch [[Premier League]], hai [[Cúp FA]] và [[UEFA Champions League|European Cup]]. | |||
Trong lúc đó, Bristol City tiếp tục thi đấu ở [[Football League First Division|Division One]] mới (không còn là Second Division sau khi Premier League ra đời בשנת 1992), và Smith chuyển sang [[Oxford United F.C.|Oxford United]] vào tháng 11 năm 1993. Người kế nhiệm ông là [[Russell Osman]]. Vào tháng 1 năm 1994, Osman giúp Bristol City tạo nên cú sốc với chiến thắng 1-0 trước [[Liverpool F.C.|Liverpool]] tại [[Anfield]] trong trận đá lại vòng Ba Cúp FA, một kết quả khiến huấn luyện viên Liverpool khi đó là [[Graeme Souness]] phải từ chức. Osman bị sa thải chưa đầy một năm sau khi nhậm chức. | |||
Joe Jordan trở lại [[Sân vận động Ashton Gate|Ashton Gate]] vào tháng 9 năm 1994, nhưng không thể ngăn cản việc Bristol City xuống hạng xuống Division Two. | |||
Jordan vẫn tại vị trong hai mùa giải sau khi đội bóng xuống hạng, nhưng rời đi vào tháng 3 năm 1997 sau khi không thể đưa Bristol City trở lại Division One. Cựu huấn luyện viên [[Bristol Rovers F.C.|Bristol Rovers]] là [[John Ward (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1951)|John Ward]] lên thay và giúp đội bóng thăng hạng vào năm 1998 với tư cách á quân Division Two. Tuy nhiên, Bristol City chật vật khi trở lại Division One, và Ward từ chức vào tháng 10 năm 1998 để nhường chỗ cho [[Benny Lennartsson]], huấn luyện viên đầu tiên không phải người Anh của câu lạc bộ. Bristol City xuống hạng ở vị trí cuối bảng và Lennartsson bị sa thải, nhường chỗ cho [[Gillingham F.C.|Gillingham]]'s [[Tony Pulis]], người chỉ trụ lại sáu tháng trước khi rời đi để dẫn dắt Portsmouth. Trong thời gian ở Ashton Gate, ông là huấn luyện viên của một trong những đội Bristol City tệ nhất kể từ đội bóng từng hoàn tất chuỗi ba mùa giải xuống hạng liên tiếp gần 20 năm trước. | |||
Huấn luyện viên Tony Fawthrop tạm quyền đến hết mùa giải, trước khi [[Danny Wilson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1960)|Danny Wilson]] được bổ nhiệm. Wilson được cho là huấn luyện viên tên tuổi nhất dẫn dắt Bristol City kể từ [[Denis Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1947)|Denis Smith]], bởi ông từng giúp [[Barnsley F.C.|Barnsley]] thăng hạng lên Premier League năm 1997 và đưa [[Sheffield Wednesday F.C.|Sheffield Wednesday]] cán đích ở vị trí thứ 12 năm 1999. | |||
===Thế kỉ 21=== | |||
Đầu những năm 2000, Bristol City thường xuyên là ứng viên tranh suất play-off Division Two dưới thời Wilson. Câu lạc bộ chỉ lỡ suất play-off năm 2002 sau khi đứng thứ bảy. Mùa giải sau đó, Wilson suýt giúp đội bóng giành quyền thăng hạng trực tiếp khi Bristol City kết thúc ở vị trí thứ ba và vô địch [[Football League Trophy]] tại Cardiff năm 2003. Tuy nhiên, trải nghiệm ở play-off lại đầy cay đắng, khi Bristol City thua đối thủ [[Cardiff City F.C.|Cardiff City]] với tổng tỉ số 0-1 ở bán kết. Năm 2004, đội bóng tiếp tục đứng thứ ba và lần này vào tới chung kết play-off, nhưng lại để thua [[Brighton & Hove Albion F.C.|Brighton & Hove Albion]]. Wilson bị sa thải chỉ vài ngày sau đó và được thay thế bởi cầu thủ kì cựu [[Brian Tinnion]]. | |||
Bristol City một lần nữa chỉ vừa lỡ suất play-off ở mùa giải đầu tiên Tinnion làm huấn luyện viên, khi cán đích thứ bảy, và ông từ chức vào tháng 9 năm 2005 sau khởi đầu tệ hại của mùa giải mới. Huấn luyện viên [[Yeovil Town F.C.|Yeovil Town]] là [[Gary Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1955)|Gary Johnson]] được chọn làm người kế nhiệm vào tháng 9 năm 2005. Johnson dẫn dắt Bristol City kết thúc mùa giải ở vị trí thứ chín. | |||
[[File:Ashton Gate invasion.jpg|thumb|Cổ động viên tràn vào sân [[Sân vận động Ashton Gate|Ashton Gate]] sau khi giành quyền thăng hạng năm 2007]] | |||
Ở [[Football League 2006-07|mùa giải 2006-07]], Bristol City cuối cùng cũng giành được suất thăng hạng vốn lẩn tránh câu lạc bộ suốt 8 năm tại cấp độ ba. Suất thăng hạng lên Championship được xác nhận ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải sau chiến thắng 3-1 trước [[Rotherham United F.C.|Rotherham United]], đội đã xuống hạng, giúp Bristol City giữ vị trí á quân và giành vé thăng hạng trực tiếp. | |||
Sau khởi đầu tốt ở Championship, Bristol City nhanh chóng trở thành ứng viên thực sự khi đứng thứ ba vào dịp Giáng sinh. Đến đầu tháng 3, đội bóng đã dẫn đầu Championship, khiến khả năng thăng hạng liên tiếp hai mùa giải tưởng chừng khó tin trở nên có thể xảy ra. Tuy nhiên, một chuỗi trận nghèo nàn đã chấm dứt hi vọng giành suất thăng hạng trực tiếp, dù Bristol City vẫn đủ điều kiện dự play-off với vị trí thứ tư, thành tích tốt nhất kể từ năm 1980. Bristol City vượt qua [[Crystal Palace F.C.|Crystal Palace]] với tổng tỉ số 4-2 để vào trận chung kết play-off tại Wembley Stadium, nhưng thua [[Hull City A.F.C.|Hull City]] 0-1. | |||
Sau khởi đầu không tốt trong nửa đầu mùa giải 2008-09, Bristol City hồi phục sau Giáng sinh và vươn lên vị trí thứ tư vào cuối tháng 2. Tuy nhiên, sau rất nhiều trận hòa, mùa giải dần trôi đi và đội bóng kết thúc ở vị trí thứ mười. [[Bóng đá Anh mùa giải 2009-10|Mùa giải 2009-10]] chứng kiến vài kết quả tích cực vào mùa thu, nhưng những thất bại nặng nề trước đối thủ địa phương Cardiff City (0-6) và [[Doncaster Rovers F.C.|Doncaster Rovers]] (2-5) vào đầu năm 2010 đã gây ra sự bất mãn lớn trong người hâm mộ,<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.thisisbristol.co.uk/bristolcity/news/Race-Bristol-City-Gary-Johnson-s-successor/article-1923578-detail/article.html|title=Race is on to find Bristol City Gary Johnson's successor|work=Bristol Evening Post|location=Bristol|publisher=Bristol News and Media|date=18 tháng 3 năm 2010|access-date=18 tháng 3 năm 2010|url-status=dead|archive-url=https://archive.today/20130505092648/http://www.thisisbristol.co.uk/bristolcity/news/Race-Bristol-City-Gary-Johnson-s-successor/article-1923578-detail/article.html|archive-date=5 tháng 5 năm 2013}}</ref> và Johnson rời câu lạc bộ ngày 18 tháng 3 năm 2010.<ref>{{Chú thích web|url= http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~1997573.00.html|title= Gary Johnson Leaves City|work= Bristol City F.C.|date= 18 tháng 3 năm 2010|access-date= 18 tháng 3 năm 2010|url-status= dead|archive-url= https://archive.today/20100322190221/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~1997573.00.html|archive-date= 22 tháng 3 năm 2010|df= dmy-all}}</ref> Trợ lí huấn luyện viên [[Keith Millen]] tiếp quản với tư cách tạm quyền và dẫn dắt đội bóng giành một chuỗi kết quả tốt, qua đó kết thúc mùa giải ở vị trí thứ mười mùa thứ hai liên tiếp. | |||
[[Steve Coppell]] trở thành huấn luyện viên בשנת 2010<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~2031194.00.html|title=Coppell New City Boss|publisher=Bristol City FC|access-date=22 tháng 4 năm 2010|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20100426010334/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10327~2031194%2C00.html|archive-date=26 tháng 4 năm 2010}}</ref> nhưng từ chức chỉ sau hai trận đấu.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/b/bristol_city/8908308.stm|title= Steve Coppell quits as Bristol City manager|work=BBC Sport|publisher=BBC|date=12 tháng 8 năm 2010|access-date=14 tháng 1 năm 2013}}</ref><ref name="BBC-Coppel-Resign">{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/b/bristol_city/8908308.stm|title= Steve Coppell quits as Bristol City manager | |||
|work=BBC Sport|publisher=BBC|last=Staff|date=12 tháng 8 năm 2010|access-date=12 tháng 8 năm 2010}}</ref> Trợ lí lâu năm [[Keith Millen]] được công bố là người kế nhiệm Coppell<ref name="BBC-Coppel-Resign"/><ref>{{Chú thích báo|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~2119553.00.html|title=Keith Millen Appointed City Boss|work=Bristol City Football Club|access-date=12 tháng 8 năm 2010|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20120324015413/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10327~2119553%2C00.html|archive-date=24 tháng 3 năm 2012 }}</ref> và Bristol City kết thúc [[Football League Championship|mùa giải 2010-11]] ở vị trí thứ 15. Sau khởi đầu yếu kém ở [[Football League 2011-12 Championship|mùa giải 2011-12]], Millen rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 2011.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/15149287|title=Keith Millen axed as Bristol City manager|work=BBC Football|access-date=3 tháng 10 năm 2011|date=3 tháng 10 năm 2011}}</ref> | |||
[[Derek McInnes]] được bổ nhiệm tiếp quản, nhưng sau khởi đầu đầy hứa hẹn, Bristol City rơi vào khu vực xuống hạng và cuối cùng chỉ trụ hạng với vị trí thứ 20, thành tích tệ nhất kể từ khi thăng hạng vào năm 2007. Đà sa sút này tiếp tục kéo dài, và sau khởi đầu yếu kém ở mùa giải 2012-13, McInnes bị sa thải vào tháng 1 năm 2013 khi Bristol City đứng cuối Championship. Người thay thế ông là [[Sean O'Driscoll]], huấn luyện viên trưởng thứ năm của câu lạc bộ trong vòng ba năm,<ref>{{Chú thích báo|last=Staff|title=Sean O'Driscoll: Bristol City appoint ex-Nottingham Forest boss|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/21010274|access-date=14 tháng 1 năm 2013|newspaper=BBC News|date=14 tháng 1 năm 2013}}</ref> nhưng Bristol City đã xuống hạng xuống League One sau sáu mùa giải ở Championship. O'Driscoll rời câu lạc bộ khi đội bóng đứng thứ 22 ở League One. | |||
[[Steve Cotterill]] gia nhập câu lạc bộ khi Bristol City đứng áp chót tại League One.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/25189059|title=Steve Cotterill: Bristol City appoint ex-Forest boss as manager|publisher=BBC Sport|date=3 tháng 12 năm 2013|access-date=9 tháng 9 năm 2023}}</ref> Cotterill giúp đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12.<ref name="FCHD"/> Bristol City giành quyền trở lại Championship sau khi vô địch [[Football League 2014-15 One|League One]] mùa giải 2014-15, danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên kể từ [[Football League 1954-55|mùa giải 1954-55]]. Ở trận sân nhà cuối cùng, gặp [[Walsall F.C.|Walsall]], đội bóng khép lại mùa giải bằng chiến thắng 8-2.<ref name="Walsall">{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/32471191|title=Bristol City 8-2 Walsall|author=Brendon Mitchell|publisher=BBC Sport|date=3 tháng 5 năm 2015|access-date=9 tháng 9 năm 2023}}</ref> Bristol City kết thúc mùa giải với 99 điểm,<ref name="Walsall"/> số điểm cao nhất trong một mùa giải trong lịch sử câu lạc bộ, cùng chỉ 5 thất bại. Trong cùng mùa giải đó, đội bóng cũng giành [[Football League 2014-15 Trophy|Football League Trophy]] sau chiến thắng 2-0 trước Walsall, qua đó sở hữu chiếc cúp giải đấu này lần thứ ba, một kỉ lục của chính câu lạc bộ về số lần vô địch giải đấu này. | |||
Bất chấp thành công vang dội ở mùa giải trước, Bristol City gặp khó khăn khi trở lại cấp độ hai. Steve Cotterill bị miễn nhiệm vào tháng 1 năm 2016 sau chuỗi phong độ nghèo nàn khiến Bristol City tụt xuống vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng Championship. [[Lee Johnson (cầu thủ bóng đá)|Lee Johnson]], cựu cầu thủ và là con trai của cựu huấn luyện viên [[Gary Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1955)|Gary Johnson]], được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City vào ngày 6 tháng 2 năm 2016.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/news/article/lee-johnson-appointed-new-head-coach-2941479.aspx|title=BCFC.co.uk: Lee Johnson Appointed New Head Coach|access-date=29 tháng 7 năm 2016|archive-date=15 tháng 6 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160615181057/http://www.bcfc.co.uk/news/article/lee-johnson-appointed-new-head-coach-2941479.aspx|url-status=dead}}</ref> Cuối cùng Bristol City khép lại mùa giải ở vị trí thứ 18.<ref name="FCHD"/> | |||
Ở [[EFL Championship 2016-17|mùa giải 2016-17]], Bristol City chỉ vừa đủ tích lũy số điểm cần thiết để trụ hạng vào cuối mùa. Lee Johnson tiếp tục tại vị ở mùa giải kế tiếp và một lần nữa tạo ra khởi đầu tích cực. Ở thời điểm giữa mùa giải, sau 24 trận tại giải vô địch quốc gia,<ref>{{Chú thích web|title=Bristol City - Transfer League|url=https://www.transferleague.co.uk/bristol-city/english-football-teams/bristol-city-transfers|access-date=2024-01-28|website=www.transferleague.co.uk|archive-date=28 tháng 1 năm 2024|archive-url=https://web.archive.org/web/20240128210239/https://www.transferleague.co.uk/bristol-city/english-football-teams/bristol-city-transfers|url-status=dead }}</ref> Bristol City đứng thứ hai tại [[EFL Championship|Championship]], đồng thời loại các đội bóng [[Premier League]] như [[Watford F.C.|Watford]], [[Stoke City F.C.|Stoke City]], [[Crystal Palace F.C.|Crystal Palace]] và [[Manchester United F.C.|Manchester United]] để vào tới bán kết [[Cúp EFL 2017-18|League Cup]].<ref name="FCHD"/><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/42334221|title=Bristol City 2-1 Manchester United|author=Brendon Mitchell|publisher=BBC Sport|date=20 tháng 12 năm 2017|access-date=9 tháng 9 năm 2023}}</ref> Tuy nhiên, cuối cùng Bristol City chỉ kết thúc ở vị trí thứ 11.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/43938863|title=Bristol City 2-3 Sheffield United|work=BBC Sport|date=6 tháng 5 năm 2018|access-date=11 tháng 2 năm 2019}}</ref> | |||
Bristol City kết thúc mùa giải 2018-19 ở vị trí thứ tám.<ref name="FCHD">{{Chú thích web|url=https://www.fchd.info/BRISTOLC.HTM|title=Bristol City|publisher=Football Club History Database|access-date=9 tháng 9 năm 2023}}</ref> Cuộc đua giành suất play-off cuối cùng chỉ được quyết định ở vòng đấu cuối, trước khi [[Derby County F.C.|Derby County]] thắng trận cuối và chiếm lấy vị trí đó.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/48081772|title=Hull City 1-1 Bristol City|work=BBC Sport|date=6 tháng 5 năm 2018|access-date=11 tháng 2 năm 2019}}</ref> Từ tháng 3 đến tháng 6, mùa giải 2019-20 bị tạm hoãn vì [[COVID-19 pandemic|đại dịch COVID-19]]. Dù một lần nữa cạnh tranh suất play-off trong mùa giải, Johnson bị sa thải ngày 4 tháng 7 năm 2020 sau chuỗi chỉ thắng một trong 10 trận tại giải vô địch quốc gia.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bcfc.co.uk/news/lee-johnson-relieved-of-head-coach-role/|title=Lee Johnson relieved of head coach role|date=4 tháng 7 năm 2020 }}</ref> Trợ lí lâu năm của ông là [[Dean Holden]] được bổ nhiệm làm người thay thế vào ngày 10 tháng 8 năm 2020.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/53722079|title=Dean Holden: Bristol City confirm head coach appointment|publisher=BBC Sport|date=10 tháng 8 năm 2020|access-date=9 tháng 9 năm 2023}}</ref> Sau khi phải nhận sáu thất bại liên tiếp trên mọi đấu trường, Holden bị miễn nhiệm ngày 16 tháng 2 năm 2021 chỉ sau sáu tháng cầm quân.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/56092622|title=Bristol City sack head coach Holden|date=17 tháng 2 năm 2021|work=BBC Sport}}</ref> Người thay thế ông là [[Nigel Pearson]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/56154183|title=Bristol City appoint Pearson as manager|date=22 tháng 2 năm 2021|work=BBC Sport}}</ref> | |||
Ngày 29 tháng 10 năm 2023, Pearson bị sa thải khi Bristol City đứng thứ 15 tại Championship sau chuỗi 5 thất bại trong 7 trận.<ref>{{Chú thích web|title=Nigel Pearson sacked by Bristol City: Results far from only issue behind veteran manager's departure|url=https://www.skysports.com/football/news/11095/12996039/nigel-pearson-sacked-by-bristol-city-results-far-from-only-issue-behind-veteran-bosses-departure|website=Sky Sports|access-date=14 tháng 2 năm 2024}}</ref> Dù phong độ khi đó không tốt, Pearson đã giúp Bristol City tăng điểm số qua từng năm trong thời gian dẫn dắt câu lạc bộ, và nhiều người hâm mộ cho rằng ông đã bị làm suy yếu bởi việc mất các cầu thủ chủ chốt như Alex Scott cùng sự thiếu tái đầu tư vào đội hình thi đấu.{{citation needed|date=tháng 7 năm 2024}} Ngày 7 tháng 11 năm 2023, [[Liam Manning]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City, chuyển đến từ [[Oxford United F.C.|Oxford United]].<ref>{{Chú thích web|title=Liam Manning appointed Head Coach|url=https://www.bcfc.co.uk/city-men-news/liam-manning-appointed-bristol-city-head-coach|website=Bristol City|date=7 tháng 11 năm 2023|access-date=14 tháng 2 năm 2024}}</ref> | |||
Bristol City khép lại mùa giải 2023-24 ở vị trí thứ 11 với 62 điểm, đồng thời cũng có một hành trình tích cực tại Cúp FA khi loại West Ham vào tháng 1<ref>{{Chú thích báo|date=2024-01-16|title=Bristol City 1-0 West Ham: Tommy Conway scores winner as Said Benrahma sent off|url=https://www.bbc.com/sport/football/67984498|access-date=2025-06-26|work=BBC Sport|language=en-GB}}</ref> sau khi buộc đối thủ phải đá lại. Ở mùa giải 2024-25, câu lạc bộ vào tới vòng play-off lần đầu tiên sau 17 năm.<ref name="FCHD" /> Thành tích này phần lớn đến từ phong độ sân nhà rất tốt, khi Bristol City chỉ thua ba trận sân nhà trong cả mùa giải.<ref>{{Chú thích web|date=2025-05-04|title=How Bristol City ended their 17-year wait for a shot at Championship promotion|url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/cevdzvj0ljdo|access-date=2025-06-26|website=BBC Sport|language=en-GB}}</ref> Sau đó Bristol City để thua Sheffield United với tổng tỉ số 0-6 ở bán kết play-off.<ref>{{Chú thích web|title=Sheffield United 3-0 Bristol City (6-0 agg): Blades reach Championship play-off final|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/live/cwy6y0xnlelt|access-date=2025-06-26|website=BBC Sport|language=en-GB}}</ref> | |||
Ngày 3 tháng 6 năm 2025, Liam Manning được thông báo sẽ rời câu lạc bộ để dẫn dắt [[Norwich City F.C.|Norwich City]].<ref>{{Chú thích web|date=2025-06-03|title=Liam Manning: Norwich appoint Bristol City boss as new head coach|url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/c1jxejre6kyo|access-date=2025-06-26|website=BBC Sport|language=en-GB}}</ref> Ngày 19 tháng 6 năm 2025, [[Gerhard Struber]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City.<ref>{{Chú thích web|date=2025-06-19|title=Gerhard Struber: Bristol City name Austrian as Liam Manning's successor|url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/c4gd957r939o|access-date=2025-06-26|website=BBC Sport|language=en-GB}}</ref> | |||
==Bản sắc câu lạc bộ== | |||
{{Commons|Trang phục thi đấu Bristol City F.C.}} | |||
Bristol City đã mặc trang phục màu đỏ và trắng kể từ thập niên 1890, đôi khi có thêm màu đen.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.historicalkits.co.uk/Bristol_City/Bristol_City.htm|title=Bristol City|publisher=historicalkits.co.uk|access-date=20 tháng 5 năm 2008}}</ref> Trang phục sân khách thay đổi đa dạng hơn. Theo truyền thống, màu áo sân khách là màu trắng, nhưng cũng từng có màu đen hoặc vàng. Những màu khác từng được sử dụng còn bao gồm xanh lá cây và sự kết hợp giữa tím với xanh lá non, trong đó kiểu phối màu sau đã trở thành một mẫu được người hâm mộ đặc biệt yêu thích. | |||
* Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ là một phiên bản hiện đại hóa của hình chim cổ đỏ, biểu tượng từ lâu đã gắn bó với người hâm mộ và câu lạc bộ. | |||
* Huy hiệu trước đây của câu lạc bộ là phiên bản giản lược của [[coat of arms|huy hiệu]] thành phố Bristol. | |||
* Linh vật của câu lạc bộ hiện nay là Red và Robyn, thay thế Scrumpy the [[European robin|chim cổ đỏ]], linh vật từng gắn bó với câu lạc bộ từ năm 2005 đến năm 2022.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.flickr.com/photos/34517490@N00/2952027137/|title=Bristol City mascot|date=18 tháng 9 năm 2008|publisher=flickr|access-date=22 tháng 12 năm 2008}}</ref> | |||
* Câu lạc bộ có mối liên hệ lâu dài với ban nhạc miền Tây nước Anh [[The Wurzels]]: ca khúc "One for the Bristol City", được viết cho câu lạc bộ năm 1976, là bài hát phát khi đội bước ra sân tại Ashton Gate, còn bản hit thập niên 1960 của họ là "Drink Up Thy Zider" được phát sau những chiến thắng trên sân nhà. | |||
Khoảng giữa mùa giải 2007-08, huấn luyện viên Bristol City là [[Gary Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1955)|Gary Johnson]] đã nói trong một cuộc phỏng vấn rằng ông hi vọng đội bóng có thể khiến toàn bộ sân vận động cùng nhún nhảy.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/leagues/championship/4743236/Bristol-City-bounce-up-to-fourth.html|archive-url=https://archive.today/20120912161940/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/leagues/championship/4743236/Bristol-City-bounce-up-to-fourth.html|url-status=dead|archive-date=12 tháng 9 năm 2012|title=Bristol City bounce up to fourth|work=[[The Daily Telegraph]]|date=21 tháng 2 năm 2009|last=Haylett|first=Trevor|access-date=20 tháng 1 năm 2010}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=http://www.thisisbristol.co.uk/bristolcity/news/want-Bristol-City-fans-shake-foundations-Madejski-says-Johnson/article-710231-detail/article.html|archive-url=https://archive.today/20120913082445/http://www.thisisbristol.co.uk/bristolcity/news/want-Bristol-City-fans-shake-foundations-Madejski-says-Johnson/article-710231-detail/article.html|url-status=dead|archive-date=13 tháng 9 năm 2012|title=I want Bristol City fans to shakefoundations of Madejski says Johnson|work=[[Bristol Evening Post]]|publisher=Bristol News and Media|date=18 tháng 2 năm 2009|access-date=20 tháng 1 năm 2010}}</ref> Người hâm mộ City đã tiếp nhận lời kêu gọi này và bắt đầu hát câu "Johnson says bounce around the ground" theo giai điệu của [[Yellow Submarine (song)|Yellow Submarine]], đồng thời liên tục nhún lên xuống. Trận đầu tiên mà bài hát này được cất lên là trận sân khách gặp [[Southampton F.C.|Southampton]] tại [[St Mary's Stadium]], và nó cũng được hát trong trận sân khách gặp [[Queen's Park Rangers F.C.|Queen's Park Rangers]] vào tháng 2. Khi cổ động viên Bristol City tới London để xem đội bóng gặp [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]] ngày 4 tháng 3 năm 2008, các cổ động viên đội khách, trong lúc đi tàu hỏa trở về nhà, đã biến đổi câu hát thành "Bounce Around the Train". Kể từ đó, đây đã trở thành một khẩu hiệu thường được người hâm mộ hát tại [[Sân vận động Ashton Gate|Ashton Gate]].{{citation needed|date=tháng 1 năm 2020}} Bài hát này đôi khi cũng được cổ động viên của đội bóng cũ của Gary Johnson là [[Northampton Town F.C.|Northampton Town]] sử dụng, chủ yếu trong các trận sân khách. Khi con trai Gary Johnson là [[Lee Johnson (cầu thủ bóng đá)|Lee Johnson]] trở lại câu lạc bộ cũ vào năm 2016 trên cương vị huấn luyện viên mới, ông tuyên bố mong muốn tiếp nhận luôn khẩu hiệu này và giữ cho người hâm mộ tiếp tục hát nó.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/news/article/lets-get-the-gate-bouncing-johnson-2945705.aspx|title=Let's get the Gate bouncing – Johnson|first=Adam|last=Baker|access-date=9 tháng 2 năm 2016|archive-date=11 tháng 9 năm 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160911083407/http://www.bcfc.co.uk/news/article/lets-get-the-gate-bouncing-johnson-2945705.aspx|url-status=dead}}</ref> | |||
===Nhà tài trợ áo đấu=== | |||
{| class="wikitable" style="text-align: center" | |||
|- | |- | ||
!Giai đoạn | |||
!Năm | |||
!Nhà cung cấp trang phục | |||
!Cầu thủ | |||
!Nhà tài trợ áo đấu | |||
!Vị trí | |||
|- | |- | ||
|1976-1981 | |||
|1970–71||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Gerry Sharpe]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|[[Umbro]] | |||
|''Không có'' | |||
|- | |- | ||
|1981-1982 | |||
|1971–72||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Geoff Merrick]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|rowspan=2|Coffer Sports | |||
|Park Furnishers | |||
|- | |- | ||
|Feb 1982 | |||
|1972–73||{{Biểu tượng lá cờ|Wales}} [[John Emanuel]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|rowspan=4|Hire-Rite | |||
|- | |- | ||
|1982-1983 | |||
|1973–74||{{Biểu tượng lá cờ|Scotland}} [[Gerry Gow]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|Lynx | |||
|- | |- | ||
|Aug–Dec 1983 | |||
|1974–75||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Gary Collier (footballer)|Gary Collier]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|[[Umbro]] | |||
|- | |- | ||
|Dec 1983-1990 | |||
|1975–76||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Gary Collier (footballer)|Gary Collier]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|rowspan=2|[[Bukta]] | |||
|- | |- | ||
|1990-1992 | |||
|1976–77||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Norman Hunter (footballer)|Norman Hunter]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|rowspan=2|Thorn Security | |||
|- | |- | ||
|1992-1993 | |||
|1977–78||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Norman Hunter (footballer)|Norman Hunter]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|rowspan=3|{{not a typo|Nibor}} | |||
|- | |- | ||
|1993-1994 | |||
|1978–79||{{Biểu tượng lá cờ|Scotland}} [[Gerry Gow]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|Dry Blackthorn Cider | |||
|- | |- | ||
|1994-1996 | |||
|1979–80||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Geoff Merrick]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
||Auto Windscreens | |||
|- | |- | ||
|1996-1998 | |||
|1980–82||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Kevin Mabbutt]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|[[Lotto Sport Italia|Lotto]] | |||
|rowspan=2|Sanderson | |||
|- | |- | ||
|1998-1999 | |||
|1982–83||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Glyn Riley]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|rowspan=2|[[Uhlsport]] | |||
|- | |- | ||
|1999-2000 | |||
|1983–84||{{Biểu tượng lá cờ|Wales}} [[Howard Pritchard]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|rowspan=3|DAS | |||
|- | |- | ||
|2000-2002 | |||
|1984–85||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Alan Walsh (footballer)|Alan Walsh]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|[[Admiral Sportswear|Admiral]] | |||
|- | |- | ||
|2002-2005 | |||
|1985–86||{{Biểu tượng lá cờ|Scotland}} [[Bobby Hutchinson]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|rowspan=2|TFG Sports | |||
|- | |- | ||
|2005-2006 | |||
|1986–87||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Rob Newman (footballer)|Rob Newman]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|rowspan=2|Bristol Trade Centre | |||
|- | |- | ||
|2006-2008 | |||
|1987–88||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Alan Walsh (footballer)|Alan Walsh]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|rowspan=2|[[Puma (thương hiệu)|Puma]] | |||
|- | |- | ||
|2008-2010 | |||
|1988–89||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Keith Waugh]]||[[Thủ môn (bóng đá)|Thủ môn]] | |||
|rowspan=2|DAS | |||
|- | |- | ||
|2010-2011 | |||
|1989–90||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Bob Taylor (footballer)|Bob Taylor]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|rowspan=3|[[Adidas]] | |||
|- | |- | ||
|2011-2012 | |||
|1990–91||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Andy Llewellyn]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|RSG (sân nhà)<br />Bristol City Community Trust (sân khách) | |||
|- | |- | ||
|2012-2014 | |||
|1991–92||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Martin Scott (English footballer)|Martin Scott]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|[[Blackthorn Cider|Blackthorn]] | |||
|- | |- | ||
|2014-2016 | |||
|1992–93||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Keith Welch]]||[[Thủ môn (bóng đá)|Thủ môn]] | |||
|rowspan=3|Bristol Sport | |||
|RSG | |||
|- | |- | ||
|2016-2018 | |||
|1993–94||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Wayne Allison]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|Lancer Scott | |||
|- | |- | ||
|2018-2020 | |||
|1994–95||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Matt Bryant (footballer)|Matt Bryant]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|Dunder | |||
|- | |- | ||
|2020-2022 | |||
|1995–96||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Martin Kuhl]]||[[Midfielder (association football)|Midfielder]] | |||
|rowspan=2|[[Hummel International|Hummel]] | |||
|MansionBet | |||
|- | |- | ||
|2022-2023 | |||
|1996–97||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Shaun Taylor]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|rowspan=3|Huboo | |||
|Digital NRG<ref>{{Chú thích web| url=https://www.bcfc.co.uk/news/city-partner-with-dnrg/| title=🤝 City partner with DNRG| date=4 tháng 7 năm 2022 }}</ref><ref>{{Chú thích web| url=https://www.digitalnrg.co.uk/bristol-city/| title=DNRG X Bristol City FC | Partnership }}</ref> | |||
|- | |- | ||
|2023–nay | |||
|2004–05||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Leroy Lita]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|[[O'Neills]] | |||
|} | |||
==Sân vận động== | |||
Bristol City đã thi đấu tại [[Sân vận động Ashton Gate]] ở phía tây nam Bristol, ngay phía nam [[River Avon, Bristol|sông Avon]], kể từ khi chuyển đến từ [[St John's Lane]] vào năm 1904. Hiện nay sân có sức chứa toàn ghế ngồi là 27.000 chỗ.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.ashtongatestadium.co.uk/|title=Conference venue and events hire|website=Ashton Gate}}</ref> Đây từng là sân nhà của [[Bedminster F.C.|Bedminster]] cho đến vụ sáp nhập năm 1900, và đội bóng hợp nhất vẫn chơi một số trận tại đây ở mùa giải sau đó, nhưng Ashton Gate chỉ trở thành sân nhà thường trực của Bristol City từ năm 1904. | |||
Trước đây, đã từng có những kế hoạch mở rộng Ashton Gate. Ngoài ra còn có đề xuất xây một sân vận động mới với 36.000 chỗ tại [[Hengrove]] Park. Kế hoạch này đã bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý địa phương vào tháng 12 năm 2000.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bristol.gov.uk/committee/2001/ua/ua000/0126_4.pdf|archive-url=https://ghostarchive.org/archive/20221009/http://www.bristol.gov.uk/committee/2001/ua/ua000/0126_4.pdf|archive-date=2022-10-09|url-status=live|title=Hengrove Park- Football Stadium Referendum tháng 12 năm 2000|work=Bristol City Council|access-date=18 tháng 12 năm 2008 }}{{dead link|date=tháng 3 năm 2018|bot=InternetArchiveBot|fix-attempted=yes }}</ref> Năm 2002, hội đồng địa phương từng xem xét các địa điểm khả dĩ cho một sân vận động mới có sức chứa 40.000 chỗ để làm sân nhà chung cho City, [[Bristol Rovers F.C.|Rovers]] và [[Bristol Bears|Bristol Rugby]], nhưng các kế hoạch này đã bị hủy bỏ, và nhìn chung người ta cho rằng đa số người hâm mộ của cả ba đội sẽ không hoan nghênh ý tưởng đó.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/2519157.stm|date=27 tháng 11 năm 2002|title=Bristol super-stadium plan collapses|work=BBC|access-date=18 tháng 12 năm 2008 }}</ref> Sức chứa hiện tại của Ashton Gate ở mức trung bình so với các sân tại [[Football League Championship|Championship]]; tuy nhiên, vào tháng 11 năm 2007, câu lạc bộ công bố kế hoạch chuyển tới một sân vận động mới có sức chứa 30.000 chỗ tại [[Bristol City Stadium|Ashton Vale]]. Đồng thời cũng có kế hoạch nâng sức chứa lên 42.000 chỗ nếu hồ sơ đăng cai World Cup 2018 của Anh thành công.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~1178896.00.html|title=Bristol City Announce New Stadium|publisher=Birmingham City F.C.|date=29 tháng 11 năm 2007|access-date=19 tháng 5 năm 2008|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20120208062010/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10327~1178896%2C00.html|archive-date=8 tháng 2 năm 2012 }}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/AshtonValeIndex/0,.10327.00.html|title=New Stadium at Ashton Vale|publisher=Bristol City F.C.|date=29 tháng 11 năm 2008|access-date=22 tháng 12 năm 2008|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20081217110548/http://www.bcfc.co.uk/page/AshtonValeIndex/0,.10327.00.html|archive-date=17 tháng 12 năm 2008}}</ref>{{update inline|date=tháng 8 năm 2022}} | |||
Khán đài phía Nam được mở cửa cho mùa giải 2015-16, trong khi khán đài Williams cũ bị phá dỡ và được thay bằng khán đài Lansdown vào năm 2016. Một mặt sân Desso mới, kết hợp cỏ tự nhiên và nhân tạo, được lắp đặt, còn khán đài Dolman hiện tại cũng được tân trang. Một khán đài an toàn đã được bổ sung ở góc đông nam của sân vào năm 2021 (gần tương ứng với vị trí khán đài East End cũ). | |||
Một trung tâm huấn luyện hiện đại đi vào hoạt động בשנת 2020. Robins High Performance Centre nằm tại Failand, cách [[Ashton Gate Stadium]] một quãng ngắn. | |||
===Thư viện ảnh=== | |||
<gallery> | |||
File:Ashtongateatyeo.JPG|Khán đài Atyeo | |||
File:Ashtongatecardiff.JPG|Bristol City gặp Cardiff City – 15 tháng 3 năm 2009 | |||
File:Ashton Gate & Bridge.jpg|Ashton Gate với [[Clifton Suspension Bridge]] ở phía sau | |||
File:Ashtongateflags.JPG|Một ví dụ về những lá cờ được nhóm "Ultras" sử dụng tại khán đài Wedlock (The Eastend) | |||
File:Ashtongatecharlton.JPG|Góc nhìn từ khu vực khán giả sân nhà tại khán đài Wedlock | |||
File:Ashtongateeastend.JPG|Bên trong khán đài Wedlock trong trận gặp đại kình địch [[Cardiff City]] | |||
File:Ashton Gate Stadium (daytime).jpg|Sân vận động khi trống khán giả trước một buổi hòa nhạc. | |||
</gallery> | |||
==Các mối kình địch== | |||
{{Further|Derby Bristol|Derby Severnside}} | |||
Đối thủ truyền thống của Bristol City là [[Bristol Rovers F.C.|Bristol Rovers]]. Hai đội đã gặp nhau 105 lần, với lần chạm trán đầu tiên vào năm 1897. Bristol City là đội có nhiều chiến thắng hơn với 43 trận thắng. Tuy nhiên, hai câu lạc bộ đã không còn thi đấu cùng hạng trong nhiều năm; lần cuối cùng họ ở cùng một giải đấu là mùa giải [[Football League 2000-01|2000-01]]. Kể từ đó, hai đội chỉ gặp nhau ba lần: tại trận chung kết khu vực phía Nam hai lượt đi và về của [[EFL Trophy|Football League Trophy]] mùa giải 2006-07, nơi Rovers thắng 1-0 chung cuộc, và ở vòng Một của Johnstone's Paint Trophy mùa giải 2013-14, nơi City thắng 2-1 tại Ashton Gate. | |||
Đối thủ lớn khác của City là [[Cardiff City F.C.|Cardiff City]], đội bóng thi đấu ở thành phố lân cận [[Cardiff]]. Dù là một trận derby địa phương, cặp đấu này lại băng qua [[England–Wales border|biên giới Anh–Xứ Wales]], vì thế trở thành một trong số ít các trận derby cấp câu lạc bộ mang tính quốc tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Hai câu lạc bộ có vị thế tương đồng trong những năm gần đây, cùng ở chung một giải đấu trong 15 trên 18 mùa giải gần nhất. Điều này dẫn tới nhiều lần chạm trán thường xuyên tại giải vô địch quốc gia, bao gồm cả ở bán kết [[Play-off Football League One#2003|play-off Second Division 2010-11]]. Thất bại nặng nề nhất trong trận derby này diễn ra năm 2010 khi Cardiff đánh bại Bristol City với tỉ số 6-0. | |||
Những câu lạc bộ khác đôi khi cũng được người hâm mộ và truyền thông xem là "đối thủ thứ ba". [[Swindon Town F.C.|Swindon Town]] được nhiều người coi là đối thủ, và thường bị cổ động viên City gọi là 'Swindle'. Mối kình địch này gần đây nhất trở nên đáng chú ý ở [[Football League One|mùa giải 2014-15]], khi hai đội cạnh tranh suất thăng hạng lên Championship. [[Plymouth Argyle F.C.|Plymouth Argyle]] trước đây cũng từng được coi là đối thủ, dù hai thành phố cách nhau hơn 100 dặm. Sự kình địch này đặc biệt đáng chú ý trong thập niên 2000, khi hai câu lạc bộ là những đội bóng có thứ hạng cao nhất ở vùng [[West Country]] trong nhiều năm, và các cuộc đối đầu giữa họ được xem như trận chiến xác định "đội mạnh nhất miền Tây". [[Swansea City A.F.C.|Swansea City]], [[Newport County F.C.|Newport County]], [[Cheltenham Town F.C.|Cheltenham Town]] và thậm chí cả [[Yeovil Town F.C.|Yeovil Town]] cũng từng được nhắc đến như đối thủ, nhưng rất hiếm. Tuy nhiên, trong trận đấu giữa Bristol City và Swansea City ngày 2 tháng 2 năm 2019 tại Ashton Gate, đã xảy ra ẩu đả giữa cổ động viên hai bên, khiến mối căng thẳng giữa hai nhóm cổ động viên này bùng phát mạnh hơn.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.walesonline.co.uk/sport/football/football-news/shocking-bristol-city-vs-swansea-15774450|title=Shocking footage emerges of fans brawling at Bristol vs Swansea City|first=Katie|last=Sands|date=4 tháng 2 năm 2019|website=walesonline}}</ref> | |||
==Thống kê và kỉ lục== | |||
* '''Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 9-0 trước [[Aldershot F.C.|Aldershot]] (28 tháng 12 năm 1946)<ref name="FY1920">{{Chú thích sách|first1=John|last1=Anderson|title=Football Yearbook 2019-20|year=2019|publisher=Headline Publishing Group|location=London|isbn=978-1-4722-6111-3|pages=78-79}}</ref> | |||
* '''Chiến thắng đậm nhất tại Cúp FA''' – 11-0 trước [[Chichester City United F.C.|Chichester City]] (5 tháng 11 năm 1960)<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Thất bại đậm nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 0-9 trước [[Coventry City F.C.|Coventry City]] (28 tháng 4 năm 1934)<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Lượng khán giả cao nhất''' – 43.335 người trong trận gặp [[Preston North End F.C.|Preston North End]] (16 tháng 2 năm 1935)<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bcfc.co.uk/club-history/|title=Men's History|website=Bristol City FC|access-date=27 tháng 6 năm 2025}}</ref> | |||
* '''Lượng khán giả cao nhất (ở bất kì sân nào)''' – 86.703 người trong trận chung kết play-off Championship gặp [[Hull City A.F.C.|Hull City]] tại Wembley Stadium – (24 tháng 5 năm 2008) | |||
* '''Số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 596, [[John Atyeo]] (1951-66)<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Số bàn thắng nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 314, John Atyeo (1951-66)<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Tổng số bàn thắng nhiều nhất''' – 351, John Atyeo (1951-66)<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/Records/0,.10327~484747.00.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20090215055735/http://www.bcfc.co.uk/page/Records/0%2C%2C10327~484747%2C00.html|url-status=dead|title=All-time leading goalscorers – official site|archive-date=15 tháng 2 năm 2009}}</ref> | |||
* '''Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất''' – [[Billy Wedlock]], 26 lần, [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh|Anh]]<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải''' – 36, Don Clark (1946-47)<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Phí chuyển nhượng cao nhất đã chi''' – 8 triệu bảng cho [[Chelsea F.C.|Chelsea]] để chiêu mộ [[Tomáš Kalas]] (tháng 7 năm 2019)<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.skysports.com/football/news/11726/11752892/tomas-kalas-joins-bristol-city-in-record-transfer-from-chelsea|title=Tomas Kalas joins Bristol City in record transfer from Chelsea|website=Sky Sports|date=1 tháng 7 năm 2019|access-date=27 tháng 6 năm 2025}}</ref> | |||
* '''Phí chuyển nhượng cao nhất thu về''' – 25 triệu bảng từ [[AFC Bournemouth|Bournemouth]] trong thương vụ [[Alex Scott (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2003)|Alex Scott]] (tháng 8 năm 2023)<ref>{{Chú thích báo|last=Fisher|first=Ben|date=10 tháng 8 năm 2023|title=Bournemouth seal £25m deal to sign Alex Scott from Bristol City|work=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2023/aug/10/bournemouth-alex-scott-bristol-city-sign-25m|access-date=31 tháng 10 năm 2023|issn=0261-3077}}</ref> | |||
* '''Chuỗi trận thắng liên tiếp dài nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 14 trận; từ 9 tháng 9 năm 1905 đến 2 tháng 12 năm 1905<ref name="FY1920"/> – đây từng là kỉ lục đồng sở hữu của giải đấu cho đến năm 2017. | |||
* '''Chuỗi trận thua liên tiếp dài nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 8 trận; từ 10 tháng 12 năm 2016 đến 21 tháng 1 năm 2017<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Chuỗi trận bất bại dài nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 24 trận; từ 9 tháng 9 năm 1905 đến 10 tháng 2 năm 1906<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Chuỗi trận không thắng dài nhất tại giải vô địch quốc gia''' – 21 trận; từ 16 tháng 3 năm 2013 đến 22 tháng 10 năm 2013<ref name="FY1920"/> | |||
* '''Tổng số điểm cao nhất trong một mùa giải''' – 99 điểm; [[Football League 2014-15 One]]<ref name="FY1920"/> | |||
===Lịch sử thi đấu tại giải vô địch quốc gia=== | |||
Nguồn:<ref name="FCHD"/> | |||
Lưu ý: Các con số trong ngoặc là cấp độ bóng đá ở mùa giải đó. | |||
* 1897-1901: [[Southern Football League|Southern League]] Division 2014-15 One (3) | |||
* 1901-1906: [[Football League Second Division]] (2) | |||
* 1906-1911: [[Football League First Division]] (1) | |||
* 1911-1922: Football League Second Division (2) | |||
* 1922-1923: [[Football League Third Division]] (3) | |||
* 1923-1924: Football League Second Division (2) | |||
* 1924-1927: Football League Third Division (3) | |||
* 1927-1932: Football League Second Division (2) | |||
* 1932-1955: Football League Third Division (3) | |||
* 1955-1960: Football League Second Division (2) | |||
* 1960-1965: Football League Third Division (3) | |||
* 1965-1976: Football League Second Division (2) | |||
* 1976-1980: Football League First Division (1) | |||
* 1980-1981: Football League Second Division (2) | |||
* 1981-1982: Football League Third Division (3) | |||
* 1982-1984: [[Football League Fourth Division]] (4) | |||
* 1984-1990: Football League Third Division (3) | |||
* 1990-1995: Football League Second Division / Football League First Division (đổi tên sau khi [[Premier League]] ra đời) (2) | |||
* 1995-1998: Football League Second Division (3) | |||
* 1998-1999: Football League First Division (2) | |||
* 1999-2007: Football League Second Division / [[EFL League One|Football League One]] (được đổi tên) (3) | |||
* 2007-2013: [[EFL Championship|Football League Championship]] (2) | |||
* 2013-2015: Football League One (3) | |||
* 2015–nay: Football League/EFL Championship (2) | |||
===Nhiều lần ra sân nhất=== | |||
{| class="wikitable" style="text-align:center;" | |||
|- | |- | ||
!# | |||
|2005–06||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Steve Brooker]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
!Tên | |||
!Sự nghiệp | |||
!Số lần ra sân | |||
|- | |- | ||
|1 | |||
|2006–07||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Jamie McCombe|Jamie Mcombe]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|Hậu vệ]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Louis Carey]] | |||
|1995-2004; 2005-2014 | |||
|646 | |||
|- | |- | ||
|2 | |||
|2007–08||{{Biểu tượng lá cờ|Brazil}} [[Adriano Basso]]||[[Thủ môn (bóng đá)|Thủ môn]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[John Atyeo]] | |||
|1951-1966 | |||
|645 | |||
|- | |- | ||
|3 | |||
|2008–09||{{Biểu tượng lá cờ|Nigeria}} [[Dele Adebola]]||Striker | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Trevor Tainton]] | |||
|1967-1982 | |||
|581 | |||
|- | |- | ||
|4 | |||
|2009–10||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Cole Skuse]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|Tiền vệ]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Brian Tinnion]] | |||
|1993-2005 | |||
|551 | |||
|- | |- | ||
|5 | |||
|2010–11||{{Biểu tượng lá cờ|Ghana}} [[Albert Adomah]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|Tiền vệ]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Tom Ritchie]] | |||
|1972-1981; 1983-1985 | |||
|504 | |||
|- | |- | ||
|6 | |||
|2011–12||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Jon Stead]]||[[Striker (association football)|Striker]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Gerry Sweeney]] | |||
|1971-1981 | |||
|490 | |||
|- | |- | ||
|7 | |||
|2012–13||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Tom Heaton]]||[[Goalkeeper]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Rob Newman (cầu thủ bóng đá)|Rob Newman]] | |||
|1981-1991 | |||
|483 | |||
|- | |- | ||
|8 | |||
|2013–14||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Sam Baldock]]||[[Striker]] | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Gerry Gow]] | |||
|1969-1981 | |||
|445 | |||
|- | |||
|9 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Geoff Merrick]] | |||
|1967-1982 | |||
|433 | |||
|- | |||
|10 | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Scott Murray (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1974)|Scott Murray]] | |||
|1997-2003; 2004-2009 | |||
|427 | |||
|} | |} | ||
Nhiều lần ra sân nhất cho câu lạc bộ, bao gồm cả vào sân thay người, trên mọi đấu trường (không tính Gloucestershire Cup). Cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2013. | |||
Nguồn của các nhà vô địch những năm 1970:<ref>{{chú thích sách|last=Woods, David M. |first=|title=The Bristol Babe: The First 100 Years of Bristol City F.C|url=https://archive.org/details/bristolbabefirst0000wood |year=1994|publisher=Yore Publications|location=Harefield, Middlesex|isbn=1-874427-95-X}}</ref> | |||
Lưu ý: Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Louis Carey đã phá kỉ lục số lần ra sân cho Bristol City khi vào sân thay người trong chiến thắng 4-1 trước Stevenage. Anh vượt qua [[John Atyeo]] sau 47 năm và hiện là cầu thủ ra sân nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ. | |||
===Vua phá lưới cấp độ mùa giải=== | |||
===Nhiều bàn thắng nhất=== | |||
{| class="wikitable" | {| class="wikitable" style="text-align:center;" | ||
|- | |- | ||
!# | |||
!Năm | |||
!Tên | |||
!Vô địch | |||
!Sự nghiệp | |||
!Số lần ra sân | |||
!Bàn thắng | |||
!Số lần dự bị | |||
!Số bàn thắng | |||
|- | |- | ||
|1 | |||
|2004–05||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Leroy Lita]]||42||2||24 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[John Atyeo]] | |||
|1951-1966 | |||
|351 | |||
|- | |- | ||
|2 | |||
|2005–06||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Steve Brooker]]||34||3||16 | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Tom Ritchie]] | |||
|1969-1981, 1982-1984 | |||
|132 | |||
|- | |- | ||
|3 | |||
|2006–07||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Phil Jevons]]||31||10||11 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Arnold Rodgers]] | |||
|1949-1956 | |||
|111 | |||
|- | |- | ||
|4 | |||
|2007–08||{{Biểu tượng lá cờ|Jamaica}} [[Darren Byfield]]||17||16||8 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Jimmy Rogers (cầu thủ bóng đá)|Jimmy Rogers]] | |||
|1950-1956, 1958-1962 | |||
|108 | |||
|- | |- | ||
|5 | |||
|2008–09||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Nicky Maynard]]||34||9||11 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Alan Walsh (cầu thủ bóng đá)|Alan Walsh]] | |||
|1984-1989 | |||
|99 | |||
|- | |- | ||
|6 | |||
|2009–10||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Nicky Maynard]]||40||2||20 | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Scott Murray (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1974)|Scott Murray]] | |||
|1997-2003, 2004-2009 | |||
|91 | |||
|- | |- | ||
|7 | |||
|2010–11||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Brett Pitman]]||21||18||13 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Tot Walsh]] | |||
|1924-1928 | |||
|91 | |||
|- | |- | ||
|8 | |||
|2011–12||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Nicky Maynard]]||26||1||8 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[John Galley]] | |||
|1967-1972 | |||
|90 | |||
|- | |- | ||
|9 | |||
|2012–13||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Steve Davies (footballer born 1987)|Steve Davies]]||29||8||13 | |||
|align="left"|{{Flagicon|ENG}} [[Brian Clark (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1943)|Brian Clark]] | |||
|1960-1966 | |||
|89 | |||
|- | |- | ||
|10 | |||
|2013–14||{{Biểu tượng lá cờ|England}} [[Sam Baldock]]||44||1||24 | |||
|align="left"|{{Flagicon|SCO}} [[Sam Gilligan]] | |||
|1904-1910 | |||
|87 | |||
|} | |} | ||
Chính xác tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2018.<ref name="Bristol City All Time Topscorers">{{Chú thích web| title = All Time Top scorers| url = https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/all-time-goalscorers/| publisher = Bristol City F.C.| access-date = 29 tháng 7 năm 2018| archive-date = 29 tháng 7 năm 2018| archive-url = https://web.archive.org/web/20180729200625/https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/all-time-goalscorers/| url-status = dead}}</ref> | |||
==Màu sắc, huy hiệu, linh vật và bài hát truyền thống== | |||
[[Tập tin:Scrumpy.jpg|thumb|Scrumpy, linh vật của Bristol City FC]] | |||
==Cầu thủ== | |||
Bristol City thi đấu trong trang phục đỏ và trắng kể từ những năm 1890, thỉnh thoảng cũng có màu đen.<ref>{{chú thích web|url=http://www.historicalkits.co.uk/Bristol_City/Bristol_City.htm|title=Bristol City|publisher=historicalkits.co.uk|access-date =ngày 20 tháng 5 năm 2008}}</ref> | |||
* Huy hiệu của CLB là phiên bản đơn giản của phù hiệu của thành phố Bristol. | |||
* Linh vật của CLB là Scrumpy the Robin từ năm 2005.<ref>{{chú thích web|url=http://www.flickr.com/photos/34517490@N00/2952027137/|title=Bristol City mascot|publisher=flikr|access-date =ngày 22 tháng 12 năm 2008}}</ref> | |||
* Bài hát truyền thống của CLB là One for the Bristol City sáng tác bởi [[The Wurzels]]. Phát hành lần đầu năm 1976, nó là giai điệu luôn được phát ra mỗi khi đội nhà ra sân. Bản thu âm mới của bài hát đạt con số 66 trên bản đồ UK vào tháng 9 năm 2007.<ref>{{chú thích web|url=http://www.last.fm/music/The+Wurzels/_/One+for+the+Bristol+City|title=One for the Bristol City – The Wurzels|publisher=last.fm|access-date =ngày 22 tháng 12 năm 2008}}</ref> | |||
===Đội hình đội một=== | |||
==Các nhà tài trợ áo đấu== | |||
{{updated|3 tháng 4 năm 2026}} | |||
{| class="wikitable" style="text-align: center" | |||
{{fs start}} | |||
{{fs player|no=2|nat=SCO|pos=DF|name=[[Ross McCrorie]]}} | |||
{{fs player|no=3|nat=ENG|pos=DF|name=[[Cameron Pring]]}} | |||
{{fs player|no=4|nat=ENG|pos=MF|name=[[Adam Randell]]}} | |||
{{fs player|no=5|nat=ENG|pos=DF|name=[[Robert Atkinson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1998)|Robert Atkinson]]}} | |||
{{fs player|no=6|nat=ENG|pos=MF|name=[[Max Bird]]}} | |||
{{fs player|no=8|nat=ENG|pos=MF|name=[[Joe Williams (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1996)|Joe Williams]]}} | |||
{{Fs player|no=10|nat=ENG|pos=MF|name=[[Scott Twine]]}} | |||
{{fs player|no=11|nat=SUR|pos=FW|name=[[Delano Burgzorg]]|other=mượn từ [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]]}} | |||
{{fs player|no=12|nat=IRL|pos=MF|name=[[Jason Knight (cầu thủ bóng đá)|Jason Knight]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}}<ref>{{Chú thích web|last=Morgan|first=Ryan|url= https://www.bcfc.co.uk/news/knight-named-city-captain/|title=Knight named City captain|website=Bristol City F.C.|date=2 tháng 8 năm 2024|access-date=2 tháng 8 năm 2024|archive-url=https://web.archive.org/web/20240803061244/https://www.bcfc.co.uk/news/knight-named-city-captain/|archive-date=3 tháng 8 năm 2024|url-status=live}}</ref> | |||
{{fs player|no=13|nat=ENG|pos=GK|name=[[Joe Lumley]]}} | |||
{{fs player|no=14|nat=SVN|pos=MF|name=[[Tomi Horvat]]}} | |||
{{fs player|no=15|nat=IRL|pos=DF|name=[[Luke McNally]]}} | |||
{{fs player|no=16|nat=ENG|pos=DF|name=[[Robert Dickie (cầu thủ bóng đá)|Rob Dickie]]}} | |||
{{fs player|no=17|nat=IRL|pos=MF|name=[[Mark Sykes (cầu thủ bóng đá)|Mark Sykes]]}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=18|nat=DEN|pos=FW|name=[[Emil Riis Jakobsen]]}} | |||
{{fs player|no=19|nat=ENG|pos=DF|name=[[George Tanner (cầu thủ bóng đá người Anh)|George Tanner]]}} | |||
{{fs player|no=20|nat=ENG|pos=FW|name=[[Sam Bell (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2002)|Sam Bell]]}} | |||
{{fs player|no=21|nat=BRA|pos=DF|name=[[Neto Borges]]|other=mượn từ [[Middlesbrough F.C.|Middlesbrough]]}} | |||
{{fs player|no=23|nat=CZE|pos=GK|name=[[Radek Vítek]]|other=mượn từ [[Manchester United F.C.|Manchester United]]}} | |||
{{fs player|no=24|nat=ENG|pos=DF|name=Seb Naylor}} | |||
{{fs player|no=25|nat=ITA|pos=FW|name=[[Ephraim Yeboah]]}} | |||
{{fs player|no=28|nat=IRL|pos=MF|name=[[Adam Murphy]]}} | |||
{{Fs player|no=30|nat=IRL|pos=FW|name=[[Sinclair Armstrong]]}} | |||
{{fs player|no=32|nat=WAL|pos=GK|name=[[Lewis Thomas (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1997)|Lewis Thomas]]}} | |||
{{fs player|no=38|nat=SWE|pos=DF|name=[[Noah Eile]]}} | |||
{{fs player|no=40|nat=EGY|pos=MF|name=[[Sam Morsy]]}} | |||
{{fs player|no=44|nat=ENG|pos=MF|name=[[George Earthy]]|other=mượn từ [[West Ham United F.C.|West Ham United]]}} | |||
{{fs end}} | |||
===Đội hình U-21=== | |||
{{updated|6 tháng 4 năm 2026}} | |||
{{fs start}} | |||
{{fs player|no=29|nat=ENG|pos=FW|name=[[Leo Pecover]]}} | |||
{{fs player|no=33|nat=ENG|pos=DF|name=Josh Campbell-Slowey}} | |||
{{fs player|no=35|nat=ENG|pos=MF|name=Louie Derrick}} | |||
{{fs player|no=39|nat=ENG|pos=MF|name=Billy Phillips}} | |||
{{fs player|no=42|nat=ITA|pos=MF|name=Daniel Ezendu}} | |||
{{fs player|no=43|nat=ENG|pos=FW|name=Luke Skinner}} | |||
{{fs player|no=46|nat=ENG|pos=DF|name=Marley Thelwell}} | |||
{{fs player|no=48|nat=ENG|pos=FW|name=[[Ranel Young]]}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=Joe Duncan}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=Isaac Finch}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=Jack Witchard}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=|nat=NZL|pos=GK|name=Josey Casa-Grande}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=[[Taine Anderson]]}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=Max Davies}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=Jack Hooper}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=Archie Taylor}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=Tom Chaplin}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=Charlie Filer}} | |||
{{fs player|no=|nat=WAL|pos=MF|name=Zac King-Phillips}} | |||
{{fs player|no=|nat=IRL|pos=MF|name=Rhys Knight}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=Raekwan Nelson}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=FW|name=Jack Griffin}} | |||
{{fs end}} | |||
===Cho mượn=== | |||
{{updated|13 tháng 2 năm 2026}} | |||
{{Fs start}} | |||
{{fs player|no=7|nat=JPN|pos=FW|name=[[Hirakawa Yū]]|other=đang được cho [[Hull City F.C.|Hull City]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}}<ref>{{Chú thích báo|author=Bristol City FC|date=19 tháng 1 năm 2026|title=Hirakawa joins Hull City on loan|url=https://www.bcfc.co.uk/news/hirakawa-joins-hull-city-on-loan/|website=Bristol City FC|access-date=19 tháng 1 năm 2026|archive-url=https://web.archive.org/web/20260119160708/https://www.bcfc.co.uk/news/hirakawa-joins-hull-city-on-loan/|archive-date=19 tháng 1 năm 2026|url-status=live}}</ref> | |||
{{fs player|no=22|nat=CAN|pos=DF|name=[[Jamie Knight-Lebel]]|other=đang được cho [[Swindon Town F.C.|Swindon Town]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}} | |||
{{Fs player|no=26|nat=ENG|pos=FW|name=[[Josh Stokes]]|other=đang được cho [[Stockport County F.C.|Stockport County]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}}<ref>{{Chú thích báo|author=Bristol City|date=6 tháng 8 năm 2025|title=Stokes joins Stockport on loan|url=https://www.bcfc.co.uk/news/stokes-joins-stockport-on-loan/|website=Bristol City FC|access-date=6 tháng 1 năm 2026|archive-url=https://web.archive.org/web/20260106201602/https://www.bcfc.co.uk/news/stokes-joins-stockport-on-loan/|archive-date=6 tháng 1 năm 2026|url-status=live}}</ref> | |||
{{Fs player|no=27|nat=ENG|pos=FW|name=[[Harry Cornick]]|other=đang được cho [[Stevenage F.C.|Stevenage]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}}<ref>{{Chú thích báo|author=Bristol City FC|date=17 tháng 1 năm 2026|title=Cornick joins Stevenage on loan|url=https://www.bcfc.co.uk/news/cornick-joins-stevenage-on-loan/|website=Bristol City FC|access-date=17 tháng 1 năm 2026|archive-url=https://web.archive.org/web/20260117183654/https://www.bcfc.co.uk/news/cornick-joins-stevenage-on-loan/|archive-date=17 tháng 1 năm 2026|url-status=live}}</ref> | |||
{{fs player|no=31|nat=ENG|pos=MF|name=[[Elijah Morrison]]|other=đang được cho [[Forest Green Rovers F.C.|Forest Green Rovers]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}}<ref>{{Chú thích báo|author=Bristol City|date=13 tháng 1 năm 2026|title=Morrison joins Forest Green on loan|url=https://www.bcfc.co.uk/news/morrison-joins-forest-green-on-loan/|website=Bristol City FC|access-date=13 tháng 1 năm 2026|archive-url=https://web.archive.org/web/20260113170542/https://www.bcfc.co.uk/news/morrison-joins-forest-green-on-loan/|archive-date=13 tháng 1 năm 2026|url-status=live}}</ref> | |||
{{fs player|no=36|nat=ENG|pos=FW|name=[[Olly Thomas]]|other=đang được cho [[Dunfermline Athletic F.C.|Dunfermline Athletic]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}} | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=Ben Clark|other=đang được cho [[Weymouth F.C.|Weymouth]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}}<ref>{{Cite x|author=Bristol City FC|user=BristolCity|number=1941113707196715118|date=4 tháng 7 năm 2025|title=Young 'keeper Ben Clark has joined Weymouth on loan!|url=https://x.com/BristolCity/status/1941113707196715118|access-date=6 tháng 7 năm 2025}}</ref> | |||
{{fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name= Zack Ali|other=đang được cho [[Gloucester City F.C.|Gloucester City]] mượn đến ngày 31 tháng 5 năm 2026}} | |||
{{fs player|no=|nat=WAL|pos=MF|name=Ruebin Sheppard|other=đang được cho [[Bath City F.C.|Bath City]] mượn đến tháng 2 năm 2026}} | |||
{{fs end}} | |||
===Cầu thủ nổi bật=== | |||
'''Cầu thủ cũ''' | |||
Để xem danh sách toàn bộ cầu thủ Bristol City có bài viết trên Wikipedia, xem [[:Thể loại:Cầu thủ bóng đá Bristol City F.C.]]. | |||
Bedminster sáp nhập với Bristol City vào năm 1900; để xem thêm danh sách toàn bộ cầu thủ [[Bedminster F.C.|Bedminster]] có bài viết, xem [[:Thể loại:Cầu thủ bóng đá Bedminster F.C.]]. | |||
====Cầu thủ xuất sắc nhất năm==== | |||
{| class="wikitable" | |||
|- | |- | ||
!Năm | |||
!Giai đoạn | |||
!Người chiến thắng | |||
!Nhà cung cấp áo đấu | |||
!Vị trí | |||
!Nhà tài trợ áo đấu | |||
!Nguồn | |||
|- | |- | ||
|1970-71||{{flagicon|England}} [[Gerry Sharpe (cầu thủ bóng đá)|Gerry Sharpe]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer">{{Chú thích web|title=Club Records – Bristol City|url=https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/club-records/|website=Bristol City F.C.|access-date=28 tháng 4 năm 2024|archive-date=25 tháng 7 năm 2022|archive-url=https://web.archive.org/web/20220725204026/https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/club-records/|url-status=dead}}</ref> | |||
|1976–1981 | |||
||Umbro | |||
| rowspan="3"|Hire | |||
|- | |- | ||
|1971-72||{{flagicon|England}} [[Geoff Merrick]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1981–1982 | |||
|Coffer Sports | |||
|- | |- | ||
|1972-73||{{flagicon|Wales}} [[John Emanuel]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1982–1983 | |||
||Lynx | |||
|- | |- | ||
|1973-74||{{flagicon|Scotland}} [[Gerry Gow]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1983–1990 | |||
| rowspan="5" |Bukta | |||
| rowspan="3" |Thorn Security | |||
|- | |- | ||
|1974-75||{{flagicon|England}} [[Gary Collier (cầu thủ bóng đá)|Gary Collier]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1990–1992 | |||
|- | |- | ||
|1975-76||colspan="2"|{{flagicon|United Kingdom}} Toàn bộ đội hình||<ref name="scorer"/> | |||
|1992–1993 | |||
|- | |- | ||
|1976-77||{{flagicon|England}} [[Norman Hunter (cầu thủ bóng đá)|Norman Hunter]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1993–1994 | |||
||Dry Blackthorn Cider | |||
|- | |- | ||
|1977-78||{{flagicon|England}} [[Norman Hunter (cầu thủ bóng đá)|Norman Hunter]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1994–1996 | |||
||Auto Windscreens | |||
|- | |- | ||
|1978-79||{{flagicon|Scotland}} [[Gerry Gow]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1996–1997 | |||
|rowspan=2|Lotto | |||
|rowspan=3|Sanderson | |||
|- | |- | ||
|1979-80||{{flagicon|England}} [[Geoff Merrick]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1997–1998 | |||
|- | |- | ||
|1980-81||{{flagicon|England}} [[Kevin Mabbutt]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|1998–1999 | |||
|rowspan=2|Uhlsport | |||
|- | |- | ||
|1981-82|| colspan="2"|Không trao giải||<ref name="scorer"/> | |||
|1999–2000 | |||
|rowspan=6|DAS | |||
|- | |- | ||
|1982-83||{{flagicon|England}} [[Glyn Riley]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2000–2001 | |||
|rowspan=2|Admiral | |||
|- | |- | ||
|1983-84||{{flagicon|Wales}} [[Howard Pritchard]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2001–2002 | |||
|- | |- | ||
|1984-85||{{flagicon|England}} [[Alan Walsh (cầu thủ bóng đá)|Alan Walsh]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2002–2003 | |||
|rowspan=4|TFG Sports | |||
|- | |- | ||
|1985-86||{{flagicon|Scotland}} [[Bobby Hutchinson]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2003–2004 | |||
|- | |- | ||
|1986-87||{{flagicon|England}} [[Rob Newman (cầu thủ bóng đá)|Rob Newman]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2004–2005 | |||
|- | |- | ||
|1987-88||{{flagicon|England}} [[Alan Walsh (cầu thủ bóng đá)|Alan Walsh]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2005–2006 | |||
|rowspan=3|Bristol Trade Centre | |||
|- | |- | ||
|1988-89||{{flagicon|England}} [[Keith Waugh]]||[[Thủ môn (bóng đá)|TM]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2006–2007 | |||
|rowspan=4|Puma | |||
|- | |- | ||
|1989-90||{{flagicon|England}} [[Bob Taylor (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1967)|Bob Taylor]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2007–2008 | |||
|- | |- | ||
|1990-91||{{flagicon|England}} [[Andy Llewellyn]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2008–2009 | |||
|rowspan=3|DAS | |||
|- | |- | ||
|1991-92||{{flagicon|England}} [[Martin Scott (cầu thủ bóng đá người Anh)|Martin Scott]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2009–2010 | |||
|- | |- | ||
|1992-93||{{flagicon|England}} [[Andy Cole]]||[[Striker (association football)|FW]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2010–2011 | |||
|rowspan=3|Adidas | |||
|- | |- | ||
|1993-94||{{flagicon|England}} [[Wayne Allison]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2011–2012 | |||
|| RSG (sân nhà) | |||
Bristol City Community Trust (sân khách) | |||
|- | |- | ||
|1994-95||{{flagicon|England}} [[Matt Bryant (cầu thủ bóng đá)|Matt Bryant]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2012–2014 | |||
|Blackthorn | |||
|- | |- | ||
|1995-96||{{flagicon|England}} [[Martin Kuhl]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|2014–nay | |||
|rowspan=1|Bristol Sport | |||
||RSG | |||
|- | |- | ||
|1996-97||{{flagicon|England}} [[Shaun Taylor]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|} | |||
==Ban điều hành== | |||
{| class="toccolours" | |||
|- | |- | ||
|1997-98||{{flagicon|England}} [[Shaun Taylor]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
! style="background:silver;"|Vị trí | |||
! style="background:silver;"|Tên | |||
! style="background:silver;"|Quốc tịch | |||
|- style="background:#eee;" | |||
|Chủ tịch: ||Keith Burt||{{Biểu tượng lá cờ|England}} Anh | |||
|- | |- | ||
|1998-99||{{flagicon|Nigeria}} [[Ade Akinbiyi]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|Huấn luyện viên: ||[[Steve Cotterill]]||{{Biểu tượng lá cờ|England}} Anh | |||
|- | |- | ||
|1999-2000||{{flagicon|England}} [[Billy Mercer (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1969)|Billy Mercer]]||[[Thủ môn (bóng đá)|TM]]||<ref name="scorer"/> | |||
|Trợ lý HLV: ||[[John Pemberton (footballer)|John Pemberton]]||{{Biểu tượng lá cờ|England}} Anh | |||
|- | |- | ||
|2000-01||{{flagicon|England}} [[Brian Tinnion]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|HLV thủ môn: ||David Coles||{{Biểu tượng lá cờ|England}} Anh | |||
|- | |- | ||
|2001-02||{{flagicon|England}} [[Matt Hill (cầu thủ bóng đá)|Matt Hill]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|Trưởng Vật lý trị liệu: ||Steve Allen||{{Biểu tượng lá cờ|England}} Anh | |||
|} | |||
== Đội hình hiện tại == | |||
''Số liệu tính đến ngày 22 tháng 8 năm 2014'' | |||
{{fs start}} | |||
{{fs player | no=1 | nat=SCO | pos=GK | name=Green Roberts Pierson}} | |||
{{fs player | no=2 | nat=South Korea | pos=DF | name=Park Ku Seong}} | |||
{{fs player | no=3 | nat=Gambia | pos=DF | name=Pusa Jamein}} | |||
{{fs player | no=4 | nat=Jamaica | pos=DF | name=Belizer Bolton}} | |||
{{fs player | no=5 | nat=France | pos=DF | name=Jack Roland}} | |||
{{fs player | no=6 | nat=Somalia | pos=DF | name=Muhammad Adama Kinto}} | |||
{{fs player | no=7 | nat=CAN | pos=MF | name=Ferroy Lane}} | |||
{{fs player | no=8 | nat=Colombia | pos=MF | name=Gilles Morelia}} | |||
{{fs player | no=10 | nat=USA | pos=FW | name=Christian Hoang}} | |||
{{fs player | no=11 | nat=RUS | pos=MF | name=Roman Arsamonikov}} | |||
{{fs player | no=13 | nat=Gambia | pos=GK | name=Chris Basa Boke}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{fs player | no=14 | nat=USA | pos=MF | name=Joe Rahman}} | |||
{{fs player | no=15 | nat=SCO | pos=MF | name=Ben Roward}} | |||
{{fs player | no=16 | nat=Ivory Coast | pos=MF | name=Peter Komane}} | |||
{{fs player | no=17 | nat=Liban | pos=DF | name=Fabine Borucca}} | |||
{{fs player | no=18 | nat=USA | pos=FW | name=Glenn Johnson}} | |||
{{fs player | no=19 | nat=FRA | pos=FW | name=Billant Canrer}} | |||
{{fs player | no=20 | nat=Iceland | pos=FW | name=Relars Bokolarson}} | |||
{{fs player | no=21 | nat=USA | pos=MF | name=Glenn Murray}} | |||
{{fs player | no=22 | nat=Somalia | pos=DF | name=Adama Mulumbu}} | |||
{{fs player | no=23 | nat=USA | pos=MF | name=Erik Bonbacar}} | |||
{{fs end}} | |||
==Lịch sử cầm quân== | |||
{| class="wikitable" | |||
|- | |- | ||
|2002-03||{{flagicon|Scotland}} [[Scott Murray (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1974)|Scott Murray]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
!Tên | |||
!Giai đoạn | |||
|- | |- | ||
|2003-04||{{flagicon|Northern Ireland}} [[Tommy Doherty]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|1897–1899 | |||
|- | |- | ||
|2004-05||{{flagicon|England}} [[Leroy Lita]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Robert Campbell (football manager)|Robert Campbell]] | |||
|1899–1901 | |||
|- | |- | ||
|2005-06||{{flagicon|England}} [[Steve Brooker]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|1901–1905 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2006-07|2006-07]]||{{flagicon|England}} [[Jamie McCombe]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Harry Thickett]] | |||
|1905–1910 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2007-08|2007-08]]||{{flagicon|Brazil}} [[Adriano Basso]]||[[Thủ môn (bóng đá)|TM]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Frank Bacon (football manager)|Frank Bacon]] | |||
|1910–1911 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2008-09|2008-09]]||{{flagicon|Nigeria}} [[Dele Adebola]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|1911–1913 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2009-10|2009-10]]||{{flagicon|England}} [[Cole Skuse]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[George Hedley]] | |||
|1913–1917 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2010-11|2010-11]]||{{flagicon|Ghana}} [[Albert Adomah]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Jock Hamilton]] | |||
|1917–1919 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2011-12|2011-12]]||{{flagicon|England}} [[Jon Stead]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Joe Palmer]] | |||
|1919–1921 | |||
|- | |- | ||
|[[2012-13 Bristol City F.C. season|2012-13]]||{{flagicon|England}} [[Tom Heaton]]||[[Thủ môn (bóng đá)|TM]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Alex Raisbeck]] | |||
|1921–1929 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2013-14|2013-14]]||{{flagicon|England}} [[Sam Baldock]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Joe Bradshaw (football manager)|Joe Bradshaw]] | |||
|1929–1932 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2014-15|2014-15]]||{{flagicon|England}} [[Aden Flint]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Bob Hewison]] | |||
|1932–1949 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2015-16|2015-16]]||{{flagicon|England}} [[Aden Flint]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Bob Wright (footballer born 1915)|Bob Wright]] | |||
|1949–1950 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2016-17|2016-17]]||{{flagicon|England}} [[Tammy Abraham]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Pat Beasley]] | |||
|1950–1958 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2017-18|2017-18]]||{{flagicon|England}} [[Bobby Reid (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1993)|Bobby Reid]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Peter Doherty (footballer)|Peter Doherty]] | |||
|1958–1960 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2018-19|2018-19]]||{{flagicon|England}} [[Adam Webster (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995)|Adam Webster]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Fred Ford (football manager)|Fred Ford]] | |||
|1960–1967 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2019-20|2019-20]]||{{flagicon|Senegal}} [[Famara Diédhiou]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Alan Dicks]] | |||
|1967–1980 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2020-21|2020-21]]||{{flagicon|England}} [[Dan Bentley (cầu thủ bóng đá)|Dan Bentley]]||[[Thủ môn (bóng đá)|TM]]||<ref name="scorer"/> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Bobby Houghton]] | |||
|1980–1982 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2021-22|2021-22]]||{{flagicon|Austria}} [[Andreas Weimann]]||[[Tiền đạo (bóng đá)|TĐ]]||<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bcfc.co.uk/news/weimann-scoops-four-awards/|title=Weimann scoops four awards|website=Bristol City F.C.|date=28 tháng 4 năm 2022|access-date=9 tháng 11 năm 2023|archive-url=https://web.archive.org/web/20220428220649/https://www.bcfc.co.uk/news/weimann-scoops-four-awards/|archive-date=28 tháng 4 năm 2022|url-status=live}}</ref> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Roy Hodgson]] | |||
|1982–1983 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2022-23|2022-23]]||{{flagicon|England}} [[Alex Scott (cầu thủ bóng đá, sinh năm 2003)|Alex Scott]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bcfc.co.uk/news/all-the-winners-from-the-city-awards-dinner/|title=All the winners from the City awards dinner|website=Bristol City F.C.|date=5 tháng 5 năm 2023|access-date=9 tháng 11 năm 2023|archive-url=https://web.archive.org/web/20230506171521/https://www.bcfc.co.uk/news/all-the-winners-from-the-city-awards-dinner/|archive-date=6 tháng 5 năm 2023|url-status=live}}</ref> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Terry Cooper (footballer born 1944)|Terry Cooper]] | |||
|1983–1988 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2023-24|2023-24]]||{{flagicon|England}} [[Robert Dickie (cầu thủ bóng đá)|Rob Dickie]]||[[Hậu vệ (bóng đá)|HV]]||<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bcfc.co.uk/video/interviews/award-winner-dickie-on-rotherham-win/|title=Award-winner Dickie on Rotherham win|website=Bristol City F.C.|date=27 tháng 4 năm 2024|access-date=28 tháng 4 năm 2024|archive-date=28 tháng 4 năm 2024|archive-url=https://web.archive.org/web/20240428161003/https://www.bcfc.co.uk/video/interviews/award-winner-dickie-on-rotherham-win/|url-status=live}}</ref> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Joe Jordan (footballer)|Joe Jordan]] | |||
|1988–1990 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2024-25|2024-25]]||{{flagicon|IRL}} [[Jason Knight (cầu thủ bóng đá)|Jason Knight]]||[[Tiền vệ (bóng đá)|TV]]||<ref>{{Chú thích báo|author=Bristol City|url=https://www.bcfc.co.uk/news/2024-25-award-winners-announced/|title=2024/25 Award winners announced|date=4 tháng 5 năm 2025|access-date=7 tháng 6 năm 2025|archive-date=4 tháng 5 năm 2025|archive-url=https://web.archive.org/web/20250504215318/https://www.bcfc.co.uk/news/2024-25-award-winners-announced/|url-status=live}}</ref> | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Jimmy Lumsden]] | |||
|} | |||
|1990–1992 | |||
====Vua phá lưới tại giải vô địch quốc gia==== | |||
{| class="wikitable" | |||
|- | |- | ||
!Năm | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Denis Smith (footballer)|Denis Smith]] | |||
!Người chiến thắng | |||
|1992–1993 | |||
!Bàn thắng | |||
|- | |- | ||
|1996-97||{{flagicon|Bermuda}} [[Shaun Goater]]||23 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Russell Osman]] | |||
|1993–1994 | |||
|- | |- | ||
|1997-98||{{flagicon|Bermuda}} [[Shaun Goater]]||17 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Joe Jordan (footballer)|Joe Jordan]] | |||
|1994–1997 | |||
|- | |- | ||
|1998-99||{{flagicon|Nigeria}} [[Ade Akinbiyi]]||19 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[John Ward (football manager)|John Ward]] | |||
|1997–1998 | |||
|- | |- | ||
|1999-2000||{{flagicon|England}} [[Tony Thorpe]]||13 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SWE}} [[Benny Lennartsson]] | |||
|1998–1999 | |||
|- | |- | ||
|{{ | |2000-01||{{flagicon|England}} [[Tony Thorpe]]||19 | ||
|1999–2000 | |||
|- | |- | ||
|{{ | |2001-02||{{flagicon|England}} [[Tony Thorpe]]||16 | ||
|2000–2001 | |||
|- | |- | ||
|2002-03||{{flagicon|Scotland}} [[Scott Murray (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1974)|Scott Murray]]||19 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Danny Wilson (footballer, born 1960)|Danny Wilson]] | |||
|2001–2004 | |||
|- | |- | ||
|2003-04||{{flagicon|England}} [[Lee Peacock]]||14 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Brian Tinnion]] | |||
|2004–2005 | |||
|- | |- | ||
|2004-05||{{flagicon|England}} [[Leroy Lita]]||24 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Gary Johnson (footballer)|Gary Johnson]] | |||
|2005–2010 | |||
|- | |- | ||
|{{ | |2005-06||{{flagicon|England}} [[Steve Brooker]]||16 | ||
|2010–2011 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2006-07|2006-07]]||{{flagicon|England}} [[Phil Jevons]]||11 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Keith Millen]] | |||
|2011–2012 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2007-08|2007-08]]||{{flagicon|Jamaica}} [[Darren Byfield]]||8 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Derek McInnes]] | |||
|2012–2013 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2008-09|2008-09]]||{{flagicon|England}} [[Nicky Maynard]]||11 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|IRE}} [[Sean O'Driscoll]] | |||
|2013–2014 | |||
|- | |- | ||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2009-10|2009-10]]||{{flagicon|England}} [[Nicky Maynard]]||20 | |||
|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Steve Cotterill]] | |||
|- | |||
|2014– | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2010-11|2010-11]]||{{flagicon|Jersey}} [[Brett Pitman]]||13 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2011-12|2011-12]]||{{flagicon|England}} [[Nicky Maynard]]||8 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2012-13|2012-13]]||{{flagicon|England}} [[Steve Davies (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1987)|Steve Davies]]||13 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2013-14|2013-14]]||{{flagicon|England}} [[Sam Baldock]]||24 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2014-15|2014-15]]||{{flagicon|England}} [[Aaron Wilbraham]]||18 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2015-16|2015-16]]||{{flagicon|Ivory Coast}} [[Jonathan Kodjia]]||19 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2016-17|2016-17]]||{{flagicon|England}} [[Tammy Abraham]]||23 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2017-18|2017-18]]||{{flagicon|England}} [[Bobby Decordova-Reid|Bobby Reid]]||19 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2018-19|2018-19]]||{{flagicon|Senegal}} [[Famara Diédhiou]]||12 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2019-20|2019-20]]||{{flagicon|Senegal}} [[Famara Diédhiou]]||11 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2020-21|2020-21]]||{{flagicon|Bermuda}} [[Nahki Wells]]||9 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2021-22|2021-22]]||{{flagicon|Austria}} [[Andreas Weimann]]||22 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2022-23|2022-23]]||{{flagicon|Bermuda}} [[Nahki Wells]]||11 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2023-24|2023-24]]||{{flagicon|Scotland}} [[Tommy Conway]]||9 | |||
|- | |||
|[[Bristol City F.C. mùa giải 2024-25|2024-25]]||{{flagicon|Albania}} [[Anis Mehmeti]]||12 | |||
|} | |} | ||
==Quan chức câu lạc bộ== | |||
==Sân vận động== | |||
'''Ban huấn luyện''' | |||
{{chính|Sân vận động Ashton Gate}} | |||
{{updated|27 tháng 6 năm 2025}} | |||
Bristol City thi đấu ở sân vận động [[Sân vận động Ashton Gate|Ashton Gate]] phía tây nam của Bristol, nằm ở phía nam của sông [[River Avon, Bristol|Avon]], kể từ khi chuyển từ [[St John's Lane]] năm 1904. Sân có sức chứa khoảng 27000, với sức chứa hiệu quả (phụ thuộc vào số vé sân khách được phân phát và cách họ tách riêng như thế nào) là khoảng 19,100. Đó từng là sân nhà của [[Bedminster F.C.|Bedminster]] cho đến năm 1900, và đội bóng hợp nhất chơi một vài trận ở đó vào mùa giải tiếp theo, nhưng nó không phải là sân nhà vĩnh viễn của Bristol City cho đến năm 1904. | |||
*Huấn luyện viên trưởng: [[Roy Hodgson]] | |||
*Trợ lí huấn luyện viên trưởng: [[Ray Lewington]], [[Craig Fleming]] | |||
Trong quá khứ có nhiều kế hoạch đã được tiến hành để mở rộng cho sân Ashton Gate. Cũng có những đề nghị xây dựng một sân vận động 36,000 chỗ ngồi ở [[Hengrove|Hengrove Park]]. Nhưng nó đã bị bác bỏ trong cuộc trưng cầu dân ý tháng 12 năm 2000.<ref>{{chú thích web |url=http://www.bristol.gov.uk/committee/2001/ua/ua000/0126_4.pdf |title=Hengrove Park- Football Stadium Referendum December 2000 |work=Bristol City Council |format=PDF |access-date=ngày 18 tháng 12 năm 2008 |archive-date=2022-10-09 |archive-url=https://ghostarchive.org/archive/20221009/http://www.bristol.gov.uk/committee/2001/ua/ua000/0126_4.pdf |url-status=dead }}</ref> Năm 2002, chính quyền địa phương tìm kiếm địa điểm thích hợp cho sân vận động mới 40,000 chỗ ngồi mà sẽ là sân nhà của cả City, [[Bristol Rovers F.C.|Rovers]] và [[Bristol Rugby]], nhưng kế hoạch đó đã bị loại bỏ và được công nhận một cách rộng rãi là đa số cổ động viên của các CLB trên không đồng ý với việc này.<ref>{{chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/2519157.stm |date=ngày 27 tháng 11 năm 2002 |title=Bristol super-stadium plan collapses |work=BBC |access-date =ngày 18 tháng 12 năm 2008 }}</ref> Sức chứa hiện tại của Ashton Gate thuộc mức trung bình cho các sân của [[Football League Championship|Championship]], tuy nhiên tháng 11 năm 2007 CLB thông báo về kế hoạch xây một sân vận động 30,000 chỗ ngồi cho [[Sân vận động Bristol City|sân vận động]] ở [[Ashton Vale]], ngoài ra kế hoạch tăng sức chứa lên 42,000 để thầu cho sự kiện World Cup ở Anh năm 2018 cũng thành công.<ref>{{chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,,10327~1178896,00.html|title=Bristol City Announce New Stadium|publisher=bcfc.co.uk|date=ngày 29 tháng 11 năm 2007|access-date =ngày 19 tháng 5 năm 2008|archive-date = ngày 8 tháng 2 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120208062010/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0%2C%2C10327~1178896%2C00.html|url-status=dead}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/AshtonValeIndex/0,,10327,00.html|title=New Stadium at Ashton Vale|publisher=bcfc.co.uk|date=ngày 29 tháng 11 năm 2008|access-date =ngày 22 tháng 12 năm 2008|archive-date = ngày 17 tháng 12 năm 2008 |archive-url=https://web.archive.org/web/20081217110548/http://www.bcfc.co.uk/page/AshtonValeIndex/0,,10327,00.html|url-status=dead}}</ref> | |||
*Huấn luyện viên thủ môn: [[Pat Mountain (cầu thủ bóng đá)|Pat Mountain]] | |||
===Thư viện ảnh=== | |||
*Trưởng bộ phận y tế: Paul Tanner<ref>{{Chú thích web|author=Bristol City FC|url=https://www.bcfc.co.uk/city-men-news/head-of-medical-appointed/|title=Head of Medical appointed|website=Bristol City FC|date=19 tháng 6 năm 2024|access-date=21 tháng 6 năm 2024|archive-url=https://web.archive.org/web/20240620054113/https://www.bcfc.co.uk/city-men-news/head-of-medical-appointed/|archive-date=20 tháng 6 năm 2024|url-status=live}}</ref> | |||
<gallery> | |||
*Trưởng bộ phận hiệu năng: Andy Kavanagh<ref name="Bristol City FC">{{Chú thích web|author=Bristol City FC|url=https://www.bcfc.co.uk/teams/men-staff/|title=Men’s STAFF|website=bcfc.co.uk|access-date=2026-02-08}}</ref> | |||
Tập tin:Ashtongateatyeo.JPG|Trạm Atyeo | |||
*Trưởng bộ phận truyền thông: Sheridan Robins<ref>{{Chú thích web|author=Bristol City FC|url=https://www.bcfc.co.uk/news/head-of-communications-appointed/|title=Meet our Head of Sports Science|website=Bristol City FC|date=21 tháng 6 năm 2024|access-date=21 tháng 6 năm 2024|archive-url=https://web.archive.org/web/20240621185118/https://www.bcfc.co.uk/news/head-of-communications-appointed/|archive-date=21 tháng 6 năm 2024|url-status=live}}</ref> | |||
Tập tin:Ashtongatecardiff.JPG|Bristol City v. Cardiff City – ngày 15 tháng 3 năm 2009 | |||
*Giám đốc kĩ thuật: Khuyết | |||
Tập tin:Ashton Gate & Bridge.jpg|Cổng Ashton với cầu treo Clifton ở phía sau | |||
Tập tin:Ashtongateflags.JPG|Một ví dụ về các lá cờ được sử dụng bởi "Ultras" trong Chân đế Đứng (The East End) | |||
Tập tin:Ashtongatecharlton.JPG|Xem từ phần chủ của Chân đế Đứng | |||
Tập tin:Ashtongateeastend.JPG|Bên trong Chân đế chống lại các đối thủ khốc liệt như Cardiff City | |||
Tập tin:Ashton Gate Stadium (daytime).jpg|Mặt đất trống rỗng trước khi tổ chức một buổi hòa nhạc. | |||
</gallery> | |||
===Lịch sử huấn luyện viên=== | |||
==Đội Nữ Bristol City== | |||
{| class="wikitable" | |||
Đội bóng nữ được thành lập năm 1990 nhờ sự ủng hộ của nhân viên cộng đồng của CLB, Shaun Parker. Thành công nhất của đội là lọt vào bán kết [[FA Women's Cup]] năm 1994 và giành quyền thăng hạng lên [[FA Women's Premier League National Division|Premier League]] năm 2004. Theo quyết định của FA chỉ trợ cấp cho một trung tâm tốt nhất ở Bristol, hai đội bóng lớn tuổi hơn bị giải thể vào tháng 6 năm 2008 và đội trẻ được sáp nhập với [[South Gloucestershire and Stroud College|Bristol Academy W.F.C.]]<ref>{{chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,,10327~1035029,00.html|title=WOMEN'S TEAM TO FOLD|publisher=BCFC|date=ngày 19 tháng 6 năm 2008|access-date =ngày 22 tháng 12 năm 2008|archive-date = ngày 24 tháng 1 năm 2009 |archive-url=https://web.archive.org/web/20090124015412/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,,10327~1035029,00.html|url-status=dead}}</ref> Phần lớn các cầu thủ cao cấp, với HLV Will Roberts, đã chuyển đến trường đại học Bath vào mùa hè 2008 và hiện đang chơi với tư cách là đội bóng của AFC Team Bath Ladies tại Liên đoàn Bóng đá Nữ Kết hợp Tây Nam.<ref>{{chú thích web|url=http://www.teambath.com/?p=3523|title=Bristol City Ladies to get new lease of life at TeamBath|publisher=Team Bath|access-date=ngày 22 tháng 12 năm 2008|archive-date=2007-11-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20071107043154/http://www.teambath.com/?p=3523|url-status=dead}}</ref> | |||
=== Các danh hiệu === | |||
* '''[[FA Women's Premier League Southern Division]]:''' | |||
** '''Vô địch:''' [[2003–04 FA Women's Premier League#Southern Division|2003–04]] | |||
==Fan hâm mộ đáng chú ý== | |||
[[Tập tin:John Cleese 2008 bigger crop.jpg|thumb|150px|Diễn viên hài John Cleese của Monty Python là một fan của thành phố Bristol]] | |||
Những fan hâm mộ đáng chú ý của Bristol City bao gồm: | |||
* [[John Cleese]] – nghệ sĩ, diễn viên hài, [[Monty Python]]<ref>{{chú thích báo|last1=Raphael|first1=Amy|title='Ross and Brand were astoundingly tasteless'|url=http://www.theguardian.com/culture/2008/nov/29/john-cleese-interview|access-date =ngày 23 tháng 11 năm 2014|work=The Guardian|date=ngày 29 tháng 11 năm 2008}}</ref> | |||
* [[Glyn Stone]] – giáo sư Lịch sử Quốc tế, [[University of the West of England]]<ref>{{chú thích web | |||
|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,,10327~1576996,00.html | |||
|title=Lucky Foundation Jackpot Winner | |||
|publisher=Bristol City FC | |||
|date=ngày 4 tháng 3 năm 2009 | |||
|access-date =ngày 30 tháng 5 năm 2009 | |||
|archive-date = ngày 25 tháng 5 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130525185418/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,,10327~1576996,00.html | |||
|url-status=dead | |||
}}</ref> | |||
* [[Russell Crowe]] – diễn viên<ref>{{chú thích báo | |||
|url=http://www.thesun.co.uk/sol/homepage/features/2957071/Hardman-actor-Russell-Crowe-on-Robin-Hood-role.html | |||
|title=Why would Robin Hood wear tights? | |||
|work=The Sun | |||
|date=ngày 3 tháng 5 năm 2010 | |||
|access-date =ngày 4 tháng 5 năm 2010 | |||
|location=London | |||
|first=Grant | |||
|last=Rollings}} | |||
</ref> | |||
* [[Tony Robinson]] – nghệ sĩ, diễn viên hài<ref>{{chú thích báo|title=Baldrick backs Bristol City bid|url=http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/b/bristol_city/7330618.stm|access-date =ngày 23 tháng 11 năm 2014|work=BBC News|date=ngày 4 tháng 4 năm 2008}}</ref> | |||
* [[Pete Budd]] – nhạc sĩ, [[The Wurzels]] | |||
* [[Mark Watson]] – diễn viên hài | |||
* [[Justin Lee Collins]] – diễn viên hài | |||
* [[Jenson Button]] – tay đua công thức 1 | |||
* [[Marcus Trescothick]] – cầu thủ Cricket | |||
==Các kỉ lục== | |||
*'''Kỉ lục thua đậm nhất ở mùa giải''' – 9–0 ''v.'' [[Aldershot F.C.]] (28 tháng 12 năm 1946) | |||
*'''Kỉ lục thắng đậm nhất ở FA Cup''' – 11–0 ''v.'' [[Chichester City United F.C.|Chichester City]] (5 tháng 11 năm 1960) | |||
*'''Kỉ lục thua đậm nhất ở mùa giải''' – 0–9 ''v.'' [[Coventry City F.C.]] (28 tháng 4 năm 1934) | |||
*'''Kỉ lục thua đậm nhất ở FA Cup''' – 0–6 ''v.'' [[Preston North End F.C.|Preston North End]] (5 tháng 1 năm 1897) | |||
*'''Số khán giả đến xem đông nhất''' – 43,335 ''v.'' [[Preston North End F.C.|Preston North End]] (16 tháng 2 năm 1935) | |||
*'''Số khán giả đến xem đông nhất (ở bất kì sân vận động nào)''' – 86,703 ''v.'' [[Hull City A.F.C.|Hull City]] trong trận chung kết Play-off Championship tại sân vận động Wembley vào ngày 24 tháng 5 năm 2008 | |||
*'''Cầu thủ ra sân trong mùa giải nhiều nhất''' – 597, [[John Atyeo]] (1951–66) | |||
*'''Cầu thủ ghi nhiều bàn trong mùa giải nhất''' – 314, [[John Atyeo]] (1951–66) | |||
*'''Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất''' – 351, [[John Atyeo]] (1951–66)<ref>{{Chú thích web |url=http://www.bcfc.co.uk/page/Records/0,,10327~484747,00.html |ngày truy cập=2014-12-05 |tựa đề=All-time leading goalscorers – official site |archive-date = ngày 15 tháng 2 năm 2009 |archive-url=https://web.archive.org/web/20090215055735/http://www.bcfc.co.uk/page/Records/0%2C%2C10327~484747%2C00.html |url-status=dead }}</ref> | |||
*'''Cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất''' – [[Billy Wedlock]], 26 lần | |||
*'''Cầu thủ ghi nhiều bàn trong một mùa giải nhất''' – 36, Don Clark (1946–47) | |||
*'''Kỉ lục phí chuyển nhượng phải trả''' – 2.25 triệu bảng Anh đến [[Crewe Alexandra]] cho cầu thủ [[Nicky Maynard]] (tháng 7 năm 2008) | |||
*'''Kỉ lục phí chuyển nhượng nhận được''' – 3.5 triệu bảng Anh từ [[Wolverhampton Wanderers]] cho cầu thủ [[Ade Akinbiyi]] (tháng 7 năm 1999) | |||
*'''Kỉ lục chuỗi trận thắng trong mùa giải''' – 14; 9 tháng 9 năm 1905 – 2 tháng 12 năm 1905 | |||
*'''Kỉ lục chuỗi trận thua trong mùa giải''' – 7; 6 tháng 10 năm 2012 – 11 tháng 11 năm 2012 | |||
*'''Kỉ lục chuỗi trận bất bại trong các trận mùa giải''' – 24; 9 tháng 9 năm 1905 – 10 tháng 2 năm 1906 | |||
*'''Kỉ lục chuỗi trận mùa giải chưa thắng liên tiếp''' – 21; 16 tháng 3 năm 2013 – 22 tháng 10 năm 2013 | |||
===Số lần ra sân nhiều nhất=== | |||
{| class="wikitable" style="text-align:center;" | |||
|- | |- | ||
!# | |||
!Tên | !Tên | ||
!Giai đoạn<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/all-time-managers/|title=All-Time Managers|publisher=Bristol City|access-date=24 tháng 2 năm 2019|archive-date=24 tháng 2 năm 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190224231318/https://www.bcfc.co.uk/fanzone/club-history/all-time-managers/|url-status=dead}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.soccerbase.com/teams/team.sd?team_id=376&comp_id=2&teamTabs=managers|title=Bristol City Manager History|website=Soccerbase|access-date=7 tháng 1 năm 2024}}</ref> | |||
!Sự nghiệp | |||
!Số lần ra sân | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|1 | |||
|1897-1899 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Louis Carey]] | |||
|1995–2004; 2005–2014 | |||
|646 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Robert Campbell ((huấn luyện viên bóng đá))|Robert Campbell]] | |||
|2 | |||
|1899-1901 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[John Atyeo]] | |||
|1951–1966 | |||
|645 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|3 | |||
|1901-1905 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Trevor Tainton]] | |||
|1967–1982 | |||
|581 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Harry Thickitt]] | |||
|4 | |||
|1905-1910 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Brian Tinnion]] | |||
|1993–2005 | |||
|551 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Frank Bacon ((huấn luyện viên bóng đá))|Frank Bacon]] | |||
|5 | |||
|1910-1911 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Tom Ritchie]] | |||
|1972–1981; 1983–1985 | |||
|504 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Sam Hollis]] | |||
|6 | |||
|1911-1913 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Gerry Sweeney]] | |||
|1971–1981 | |||
|490 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[George Hedley (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1876)|George Hedley]] | |||
|7 | |||
|1913-1917 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Rob Newman (footballer)|Rob Newman]] | |||
|1981–1991 | |||
|483 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|SCO}} [[Jock Hamilton]] | |||
|8 | |||
|1917-1919 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Gerry Gow]] | |||
|1969–1981 | |||
|445 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|ENG}} [[Joe Palmer ((huấn luyện viên bóng đá))|Joe Palmer]] | |||
|9 | |||
|1919-1921 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|ENG}} [[Geoff Merrick]] | |||
|1967–1982 | |||
|433 | |||
|- | |- | ||
|{{Flagicon|SCO}} [[Alex Raisbeck]] | |||
|10 | |||
|1921-1929 | |||
|align="left"|{{Biểu tượng lá cờ|SCO}} [[Scott Murray (footballer born 1974)|Scott Murray]] | |||
|- | |||
|1997–2003; 2004–2009 | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Joe Bradshaw ((huấn luyện viên bóng đá))|Joe Bradshaw]] | |||
|427 | |||
|1929-1932 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Bob Hewison]] | |||
|1932-1949 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Bob Wright (Scottish footballer)|Bob Wright]] | |||
|1949-1950 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Pat Beasley]] | |||
|1950-1958 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|NIR}} [[Peter Doherty (cầu thủ bóng đá)|Peter Doherty]] | |||
|1958-1960 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Fred Ford ((huấn luyện viên bóng đá))|Fred Ford]] | |||
|1960-1967 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Alan Dicks]] | |||
|1967-1980 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Bobby Houghton]] | |||
|1980-1982 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Roy Hodgson]] | |||
|1982 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Terry Cooper (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1944)|Terry Cooper]] | |||
|1982-1988 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|SCO}} [[Joe Jordan (cầu thủ bóng đá)|Joe Jordan]] | |||
|1988-1990 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|SCO}} [[Jimmy Lumsden]] | |||
|1990-1992 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Denis Smith (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1947)|Denis Smith]] | |||
|1992-1993 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Russell Osman]] | |||
|1993-1994 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|SCO}} [[Joe Jordan (cầu thủ bóng đá)|Joe Jordan]] | |||
|1994-1997 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[John Ward (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1951)|John Ward]] | |||
|1997-1998 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|SWE}} [[Benny Lennartsson]] | |||
|1998-1999 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|WAL}} [[Tony Pulis]] | |||
|1999 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} Tony Fawthrop | |||
|2000 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|NIR}} [[Danny Wilson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1960)|Danny Wilson]] | |||
|2000-2004 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Brian Tinnion]] | |||
|2004-2005 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Gary Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1955)|Gary Johnson]] | |||
|2005-2010 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Steve Coppell]] | |||
|2010 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Keith Millen]] | |||
|2010-2011 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|SCO}} [[Derek McInnes]] | |||
|2011-2013 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|IRE}} [[Sean O'Driscoll]] | |||
|2013 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Steve Cotterill]] | |||
|2013-2016 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Lee Johnson (cầu thủ bóng đá)|Lee Johnson]] | |||
|2016-2020 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Dean Holden]] | |||
|2020-2021 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Nigel Pearson]] | |||
|2021-2023 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} [[Liam Manning]] | |||
|2023-2025 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|AUT}} [[Gerhard Struber]] | |||
|2025-2026 | |||
|- | |||
|{{Flagicon|ENG}} Roy Hodgson | |||
|2026- | |||
|} | |} | ||
==Bristol City Women== | |||
Hầu hết các sự xuất hiện của câu lạc bộ bao gồm cả sự xuất hiện thay thế trong tất cả các cuộc thi (ngoại trừ Gloucestershire Cup). Cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2013. Ghi chú: Vào ngày 29 tháng 12 năm 2013, Louis Carey đã phá vỡ kỷ lục về thành tích của Bristol City khi anh ấy thay vào chiến thắng 4–1 trước Stevenage. Anh đã vượt qua John Atyeo sau 47 năm và bây giờ là câu lạc bộ tất cả thời gian xuất hiện hàng đầu xuất hiện. | |||
{{Main|Bristol City W.F.C. (1990s)}} | |||
Đội bóng nữ được thành lập vào năm 1990 với sự hỗ trợ của cán bộ phụ trách cộng đồng của câu lạc bộ là Shaun Parker. Thành tích lớn nhất của đội là vào tới bán kết [[FA Women's Cup]] năm 1994 và giành quyền thăng hạng lên [[FA Women's Premier League National Division|Premier League]] dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Jack Edgar vào năm 2004. Sau khi Liên đoàn bóng đá Anh quyết định chỉ tài trợ cho một trung tâm xuất sắc tại Bristol, hai đội cấp cao của câu lạc bộ đã bị giải thể vào tháng 6 năm 2008 và đội trẻ nữ sáp nhập với [[South Gloucestershire and Stroud College|Bristol Academy W.F.C.]]<ref>{{Chú thích web|url=http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~1035029.00.html|title=WOMEN'S TEAM TO FOLD|publisher=Birmingham City F.C.|date=19 tháng 6 năm 2008|access-date=22 tháng 12 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20090124015412/http://www.bcfc.co.uk/page/NewsDetail/0,.10327~1035029.00.html|archive-date=24 tháng 1 năm 2009|url-status=dead}}</ref> Phần lớn các cầu thủ đội một, cùng huấn luyện viên Will Roberts, đã chuyển đến [[University of Bath]] vào mùa hè năm 2008 và hiện thi đấu dưới tên AFC TeamBath Ladies tại [[South West Combination Women's Football League]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.teambath.com/?p=3523|title=Bristol City Ladies to get new lease of life at TeamBath|publisher=Team Bath|access-date=22 tháng 12 năm 2008|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20071107043154/http://www.teambath.com/?p=3523|archive-date=7 tháng 11 năm 2007}}</ref> | |||
== | ==Danh hiệu== | ||
Nguồn:<ref name="FCHD"/><ref>{{Chú thích web|url=https://www.11v11.com/teams/bristol-city/tab/honours/|title=Bristol City football club honours|website=11v11|access-date=7 tháng 1 năm 2024}}</ref> | |||
{{thể loại Commons|Bristol City F.C.}} | |||
* {{official website|http://www.bcfc.co.uk/}} | |||
'''Giải vô địch quốc gia''' | |||
* [http://www.bristolcityst.org.uk/ Bristol City Supporters Trust] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070505063545/http://www.bristolcityst.org.uk/ |date = ngày 5 tháng 5 năm 2007}} | |||
*[[Football League First Division|First Division]] (cấp độ 1) | |||
**Á quân: [[Football League 1906-07|1906-07]] | |||
*[[Football League Second Division|Second Division]] (cấp độ 2) | |||
**Vô địch: [[Football League 1905-06|1905-06]] | |||
**Thăng hạng với vị trí thứ hai: [[Football League 1975-76|1975-76]] | |||
*[[Football League Third Division|Third Division South]] / [[Football League Third Division|Third Division]] / [[Football League Second Division|Second Division]] / [[EFL League One|League One]] (cấp độ 3) | |||
**Vô địch: [[Football League 1922-23|1922-23]], [[Football League 1926-27|1926-27]], [[Football League 1954-55|1954-55]], [[Football League One|2014-15]] | |||
**Thăng hạng với vị trí thứ hai: [[Football League 1964-65|1964-65]], [[Football League 1989-90|1989-90]], [[Football League 1997-98|1997-98]], [[Football League 2006-07|2006-07]] | |||
*[[Football League Fourth Division 2014-15|Fourth Division]] (cấp độ 4) | |||
**Thăng hạng với vị trí thứ tư: [[Football League 1983-84|1983-84]] | |||
*[[Western Football League|Western League]] | |||
**Vô địch: [[Western Football League 1897-98|1897-98]] | |||
'''Cúp''' | |||
*[[Cúp FA]] | |||
**Á quân: [[Cúp FA 1908-09|1908-09]] | |||
*[[EFL Trophy|Associate Members' Cup / Football League Trophy]] | |||
**Vô địch: [[Football League Trophy|1985-86]], [[Football League 2002-03 Trophy|2002-03]], [[Football League 2014-15 Trophy|2014-15]] | |||
**Á quân: [[Football League 1986-87 Trophy|1986-87]], [[1999-2000 Football League Trophy|1999-2000]] | |||
*[[Cúp bóng đá Wales]] | |||
**Vô địch: [[Cúp bóng đá Wales 1933-34|1933-34]] | |||
*[[Anglo-Scottish Cup]] | |||
**Vô địch: [[Anglo-Scottish Cup 1977-78|1977-78]] | |||
==Xem thêm== | |||
* [[Ruch Radzionków]] — một câu lạc bộ bóng đá Ba Lan có bản sắc tương tự, mang biệt danh {{lang|pl|Cidry}}. | |||
==Tham khảo== | ==Tham khảo== | ||
{{ | {{Tham khảo}} | ||
{{League One}} | |||
==Liên kết ngoài== | |||
{{Commons category}} | |||
* {{Website chính thức}}{{BBC football info|BBClinkname=bristol-city}} | |||
{{Bristol City F.C.}} | |||
{{Mùa giải Bristol City F.C.}} | |||
{{EFL Championship}} | |||
{{Thể thao Bristol}} | |||
{{Authority control}} | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | |||
[[Thể loại:Bristol City F.C.| ]] | [[Thể loại:Bristol City F.C.| ]] | ||
[[Thể loại:Khởi đầu năm | [[Thể loại:Khởi đầu năm 1894 ở Anh]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1894]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Bristol]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ Southern Football League]] | [[Thể loại:Câu lạc bộ Southern Football League]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]] | [[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]] | ||
[[Thể loại: | [[Thể loại:Vô địch EFL Trophy]] | ||
[[Thể loại: | [[Thể loại:United League (bóng đá)]] | ||
[[Thể loại: | [[Thể loại:Vô địch Cúp bóng đá Wales]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh]] | |||
Phiên bản lúc 10:54, ngày 8 tháng 4 năm 2026
| Tập tin:Bristol City crest.svg | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Bristol City | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Robins và the Reds, Cider Army, Red Army | |||
| Tên ngắn gọn | BCFC | |||
| Thành lập | 1894 | |||
| Sân | Ashton Gate | |||
| Sức chứa | 27.000 | |||
| Chủ sở hữu | Steve Lansdown | |||
| Chủ tịch điều hành | Jon Lansdown | |||
| Huấn luyện viên trưởng tạm quyền | Roy Hodgson | |||
| Giải đấu | Championship | |||
| 2024-25 | Championship, thứ 6 trên 24 | |||
| Website | bcfc | |||
Câu lạc bộ bóng đá Bristol City (tiếng Anh: Bristol City Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá nam chuyên nghiệp có trụ sở tại Bristol, Anh. Đội bóng hiện thi đấu tại Championship, cấp độ thứ hai của Hệ thống giải bóng đá Anh.
Được thành lập vào năm 1894, câu lạc bộ từng thi đấu tại Southern League và Western League, đồng thời giành chức vô địch Western League mùa giải 1897-98. Câu lạc bộ được kết nạp vào Football League năm 1901 và vô địch Second Division mùa giải 1905-06. Đội bóng đứng thứ hai tại First Division ở mùa giải kế tiếp, kém nhà vô địch Newcastle United ba điểm, rồi sau đó thua Manchester United trong Chung kết Cúp FA 1909. Sau khi xuống hạng vào năm 1911, Bristol City rơi xuống cấp độ thứ ba vào năm 1922, nhưng đã giành chức vô địch Third Division South các mùa giải 1922-23 và 1926-27. Câu lạc bộ trở lại cấp độ ba vào năm 1932 và ở đó cho đến khi lại vô địch Third Division South mùa giải 1954-55. Sau khi xuống hạng vào năm 1960, Bristol City giành quyền thăng hạng từ cấp độ ba ở mùa giải 1964-65 rồi từ cấp độ hai ở mùa giải 1975-76. Đội bóng thi đấu bốn mùa giải tại hạng đấu cao nhất trước khi trải qua ba mùa giải xuống hạng liên tiếp và rơi xuống hạng dưới vào năm 1982.
Bristol City chỉ ở lại Fourth Division trong hai mùa giải, rồi giành Associate Members' Cup (Football League Trophy) trong năm 1986. Sau khi thăng hạng khỏi Third Division mùa giải 1989-90, câu lạc bộ lại xuống hạng vào năm 1995 và một lần nữa vào năm 1999, sau lần thăng hạng khác ở mùa giải 1997-98. Bristol City giành Football League Trophy lần thứ hai vào năm 2003, rồi thăng hạng khỏi League One mùa giải 2006-07. Sau khi xuống hạng sau sáu mùa giải ở Championship, câu lạc bộ giành Football League Trophy lần thứ ba vào năm 2015 trên đường vô địch League One mùa giải 2014-15, và kể từ lần thăng hạng đó vẫn ở lại Championship.
Câu lạc bộ đã thi đấu các trận sân nhà tại Ashton Gate kể từ khi chuyển từ St John's Lane vào năm 1904. Màu áo sân nhà của đội bóng là đỏ và trắng, còn biệt danh là The Robins — một con chim cổ đỏ từng xuất hiện trên huy hiệu câu lạc bộ từ năm 1976 đến năm 1994 và từ năm 2019 trở đi. Đối thủ chính của Bristol City là Bristol Rovers, đội bóng mà câu lạc bộ chạm trán trong trận derby Bristol, và Cardiff City, đội bóng mà câu lạc bộ gặp trong trận derby liên biên giới derby Severnside.
Lịch sử
Những năm đầu và các thành công đầu tiên (1894-1922)
Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1894 với tên gọi Bristol South End và đổi tên thành Bristol City ba năm sau đó, khi chuyển sang bóng đá chuyên nghiệp và được kết nạp vào Southern League. Sau khi giành ngôi á quân ở ba trong bốn mùa giải đầu tiên, vào năm 1900 câu lạc bộ sáp nhập với đối thủ địa phương tại Southern League là Bedminster F.C., đội bóng vốn được thành lập với tên Southville vào năm 1887. Bristol City gia nhập Football League vào năm 1901 khi trở thành câu lạc bộ thứ ba ở phía nam Birmingham (sau Woolwich Arsenal và Luton Town) thi đấu tại giải này. Trận đầu tiên của câu lạc bộ tại Football League diễn ra ngày 7 tháng 9 năm 1901 tại Bloomfield Road, nơi Blackpool bị đánh bại với tỉ số 2-0.[1]
Gloucestershire Echo, 12 tháng 4 năm 1900.[2] Thông báo về vụ sáp nhập giữa Bristol City và Bedminster.
Bristol City vô địch Second Division với số điểm cao kỉ lục khi trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử Football League thắng 30 trận trong một mùa giải (trong tổng số 38 trận), đồng thời san bằng thành tích thắng 14 trận liên tiếp của Manchester United ở mùa giải trước đó (một kỉ lục tồn tại đến năm 2018, và cũng từng được Preston North End đạt tới ở mùa giải 1950-51). Được đặt biệt danh là Bristol Babe vào thời điểm đó, đội bóng cán đích ở vị trí á quân ngay trong mùa giải đầu tiên tại First Division (1906-07), trở thành câu lạc bộ miền nam duy nhất kết thúc trong tốp Hai trước Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Năm 1909, Bristol City vào tới trận chung kết Cúp FA duy nhất trong lịch sử, dù phần nào may mắn khi một quả phạt đền ở phút cuối đã cứu đội bóng khỏi thất bại trong trận bán kết với Derby County tại Stamford Bridge. Trong trận chung kết tại Crystal Palace (nay là National Sports Centre), Bristol City thua Manchester United 0-1. Sau quãng thời gian năm mùa giải ở hạng đấu cao nhất, dù khởi đầu mùa giải 1910-11 bằng chiến thắng 1-0 trên sân của Newcastle United, việc không thể đánh bại Everton ở trận cuối mùa đã khiến Bristol City lần đầu tiên phải nếm trải cảm giác xuống hạng, và phải mất 65 năm sau đội bóng mới giành lại được vị thế tại hạng đấu cao nhất.[3]
Sau đó, Bristol City tiếp tục ở lại Division 2 cho đến ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Trong khoảng thời gian đó, câu lạc bộ vào tới bán kết 1919-20 FA Cup trước khi bị Huddersfield Town đánh bại 2-1, đồng thời kết thúc mùa giải 1920-21 ở vị trí thứ ba tại Second Division.[4][5] Tuy nhiên, ở mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ bị xuống hạng xuống Third Division South.[6]
Thời kì lên xuống giữa các hạng đấu (1922-65)

Thập niên 1920 là giai đoạn đầy biến động khi Bristol City liên tục lên xuống giữa Second Division và khu vực phía nam của Third Division. Ngay mùa giải sau khi xuống hạng, câu lạc bộ giành quyền thăng hạng trở lại Second Division, trước khi lại rơi về khu vực phía nam của Third Division ở mùa giải kế tiếp. Sau nhiều mùa giải liên tiếp cán đích ở nhóm đầu, Bristol City một lần nữa thăng hạng ở mùa giải 1926-27. Tuy nhiên, sang thập niên 1930, đội bóng sa sút xuống hạng thấp hơn và ở đó cho đến hơn 10 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong quãng thời gian chơi tại Third Division South, Bristol City giành Cúp bóng đá Wales năm 1934 sau khi đánh bại Tranmere Rovers trong trận chung kết. Tuy vậy, cũng trong năm đó, câu lạc bộ chịu trận thua đậm nhất lịch sử tại giải vô địch quốc gia, thất bại 0-9 trước Coventry City. Mùa giải 1937-38 là mùa giải thành công nhất của Bristol City kể từ khi rơi xuống Third Division, khi đội bóng đứng thứ hai tại giải vô địch quốc gia và vào tới chung kết Third Division South Cup, trước khi thua Reading với tổng tỉ số 2-6 sau hai lượt trận.[7][8] Sau đó, đội bóng đứng thứ tám tại Third Division South ở mùa giải trọn vẹn cuối cùng trước chiến tranh, mùa giải mà khán đài chính của Ashton Gate bị phá hủy trong một cuộc không kích của Đức.[9]
Ở mùa giải 1946-47, Bristol City lập kỉ lục chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia khi đánh bại Aldershot với tỉ số 9-0, nhưng dù Don Clark ghi 36 bàn tại giải vô địch quốc gia, đội bóng vẫn không thể giành quyền thăng hạng trong mùa giải đó. Harry Dolman trở thành chủ tịch vào năm 1949, cương vị mà ông nắm giữ hơn 30 năm. Là một kĩ sư từng mua lại công ty mà mình làm việc, ông đã thiết kế hệ thống đèn pha đầu tiên được lắp đặt tại Ashton Gate vào đầu thập niên 1950. Cuối thập niên 1950 là quãng thời gian tích cực hơn của Bristol City, với năm mùa giải ở Second Division, một giải đấu mà câu lạc bộ trở lại thêm một lần nữa vào năm 1965.
Trở lại với giới tinh hoa (1966-80)
Năm 1967, Alan Dicks được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, và tình hình dần cải thiện, đỉnh điểm là việc thăng hạng lên First Division vào năm 1976, chấm dứt 65 năm vắng bóng ở hạng đấu cao nhất.
Từ năm 1975 đến năm 1981, Bristol City thường xuyên tham dự Anglo-Scottish Cup, vô địch giải này ở mùa giải 1977-78 sau khi đánh bại Hibernian ở bán kết và thắng St Mirren với tổng tỉ số 3-2 trong trận chung kết (khi đó St Mirren được dẫn dắt bởi một huấn luyện viên còn khá mới mẻ là Alex Ferguson). St Mirren đã phục hận hai mùa giải sau đó bằng chiến thắng chung cuộc 5-1 trước Bristol City để trở thành đội bóng Scotland duy nhất từng vô địch giải đấu này.
Giai đoạn thứ hai của Bristol City ở hạng đấu cao nhất kém thành công hơn giai đoạn đầu tiên, với vị trí thứ 13 năm 1979 là thành tích tốt nhất của câu lạc bộ trong thời kì này. Những ngôi sao của giai đoạn đó gồm Peter Cormack, Geoff Merrick, Tom Ritchie, Clive Whitehead, Gerry Gow, Trevor Tainton và Jimmy Mann.
Khó khăn tài chính và phục hưng (1980-2000)
Năm 1980, đội bóng rơi xuống Second Division trong lần đầu của chuỗi ba mùa giải xuống hạng liên tiếp; các khoản nợ chồng chất và thua lỗ tài chính gia tăng. Đến năm 1982, Bristol City rơi xuống Fourth Division và bị tuyên bố phá sản. Một câu lạc bộ mới được thành lập[10] và BCFC (1982) Ltd tiếp quản các hợp đồng cầu thủ của câu lạc bộ. Những cầu thủ đàn anh có mức lương cao gồm Julian Marshall, Chris Garland, Jimmy Mann, Peter Aitken, Geoff Merrick, David Rodgers, Gerry Sweeney và Trevor Tainton, về sau được gọi là 'Ashton Gate Eight', mỗi người đều chấp nhận chấm dứt hợp đồng để chỉ nhận một nửa số tiền còn được thanh toán. Những ông chủ trước đó của câu lạc bộ đã không trả các khoản nợ cho nhiều doanh nghiệp địa phương. Hệ quả là sự bất bình của địa phương đối với câu lạc bộ khiến ban lãnh đạo mới rất khó vay tín dụng.
Bristol City ở lại Fourth Division trong hai mùa giải trước khi giành quyền thăng hạng dưới sự dẫn dắt của Terry Cooper vào năm 1984. Câu lạc bộ sau đó củng cố vị trí tại Third Division trong nửa cuối thập niên 1980, và đến năm 1990, người kế nhiệm Cooper là Joe Jordan giúp đội bóng thăng hạng với tư cách á quân Third Division, xếp trên đối thủ địa phương Bristol Rovers.
Tuy nhiên, chiến dịch thăng hạng ấy cũng chứng kiến một bi kịch đối với câu lạc bộ. Vào tháng 3 năm 1990, hai tháng trước khi Bristol City chính thức giành quyền thăng hạng, tiền đạo Dean Horrix thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi chỉ hai tuần sau khi gia nhập câu lạc bộ và sau khi mới chơi ba trận tại giải vô địch quốc gia cho đội bóng.[11]
Jordan chuyển đến Heart of Midlothian vào tháng 9 năm 1990, còn người kế nhiệm ông là Jimmy Lumsden chỉ cầm quân được 18 tháng trước khi nhường chỗ cho Denis Smith. Bản hợp đồng đầu tiên của Smith là tiền đạo 20 tuổi của Arsenal là Andy Cole. Cole được bán cho Newcastle United vào tháng 2 năm 1993 và sau đó thi đấu cho Manchester United, nơi anh giành năm chức vô địch Premier League, hai Cúp FA và European Cup.
Trong lúc đó, Bristol City tiếp tục thi đấu ở Division One mới (không còn là Second Division sau khi Premier League ra đời בשנת 1992), và Smith chuyển sang Oxford United vào tháng 11 năm 1993. Người kế nhiệm ông là Russell Osman. Vào tháng 1 năm 1994, Osman giúp Bristol City tạo nên cú sốc với chiến thắng 1-0 trước Liverpool tại Anfield trong trận đá lại vòng Ba Cúp FA, một kết quả khiến huấn luyện viên Liverpool khi đó là Graeme Souness phải từ chức. Osman bị sa thải chưa đầy một năm sau khi nhậm chức.
Joe Jordan trở lại Ashton Gate vào tháng 9 năm 1994, nhưng không thể ngăn cản việc Bristol City xuống hạng xuống Division Two.
Jordan vẫn tại vị trong hai mùa giải sau khi đội bóng xuống hạng, nhưng rời đi vào tháng 3 năm 1997 sau khi không thể đưa Bristol City trở lại Division One. Cựu huấn luyện viên Bristol Rovers là John Ward lên thay và giúp đội bóng thăng hạng vào năm 1998 với tư cách á quân Division Two. Tuy nhiên, Bristol City chật vật khi trở lại Division One, và Ward từ chức vào tháng 10 năm 1998 để nhường chỗ cho Benny Lennartsson, huấn luyện viên đầu tiên không phải người Anh của câu lạc bộ. Bristol City xuống hạng ở vị trí cuối bảng và Lennartsson bị sa thải, nhường chỗ cho Gillingham's Tony Pulis, người chỉ trụ lại sáu tháng trước khi rời đi để dẫn dắt Portsmouth. Trong thời gian ở Ashton Gate, ông là huấn luyện viên của một trong những đội Bristol City tệ nhất kể từ đội bóng từng hoàn tất chuỗi ba mùa giải xuống hạng liên tiếp gần 20 năm trước.
Huấn luyện viên Tony Fawthrop tạm quyền đến hết mùa giải, trước khi Danny Wilson được bổ nhiệm. Wilson được cho là huấn luyện viên tên tuổi nhất dẫn dắt Bristol City kể từ Denis Smith, bởi ông từng giúp Barnsley thăng hạng lên Premier League năm 1997 và đưa Sheffield Wednesday cán đích ở vị trí thứ 12 năm 1999.
Thế kỉ 21
Đầu những năm 2000, Bristol City thường xuyên là ứng viên tranh suất play-off Division Two dưới thời Wilson. Câu lạc bộ chỉ lỡ suất play-off năm 2002 sau khi đứng thứ bảy. Mùa giải sau đó, Wilson suýt giúp đội bóng giành quyền thăng hạng trực tiếp khi Bristol City kết thúc ở vị trí thứ ba và vô địch Football League Trophy tại Cardiff năm 2003. Tuy nhiên, trải nghiệm ở play-off lại đầy cay đắng, khi Bristol City thua đối thủ Cardiff City với tổng tỉ số 0-1 ở bán kết. Năm 2004, đội bóng tiếp tục đứng thứ ba và lần này vào tới chung kết play-off, nhưng lại để thua Brighton & Hove Albion. Wilson bị sa thải chỉ vài ngày sau đó và được thay thế bởi cầu thủ kì cựu Brian Tinnion.
Bristol City một lần nữa chỉ vừa lỡ suất play-off ở mùa giải đầu tiên Tinnion làm huấn luyện viên, khi cán đích thứ bảy, và ông từ chức vào tháng 9 năm 2005 sau khởi đầu tệ hại của mùa giải mới. Huấn luyện viên Yeovil Town là Gary Johnson được chọn làm người kế nhiệm vào tháng 9 năm 2005. Johnson dẫn dắt Bristol City kết thúc mùa giải ở vị trí thứ chín.

Ở mùa giải 2006-07, Bristol City cuối cùng cũng giành được suất thăng hạng vốn lẩn tránh câu lạc bộ suốt 8 năm tại cấp độ ba. Suất thăng hạng lên Championship được xác nhận ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải sau chiến thắng 3-1 trước Rotherham United, đội đã xuống hạng, giúp Bristol City giữ vị trí á quân và giành vé thăng hạng trực tiếp.
Sau khởi đầu tốt ở Championship, Bristol City nhanh chóng trở thành ứng viên thực sự khi đứng thứ ba vào dịp Giáng sinh. Đến đầu tháng 3, đội bóng đã dẫn đầu Championship, khiến khả năng thăng hạng liên tiếp hai mùa giải tưởng chừng khó tin trở nên có thể xảy ra. Tuy nhiên, một chuỗi trận nghèo nàn đã chấm dứt hi vọng giành suất thăng hạng trực tiếp, dù Bristol City vẫn đủ điều kiện dự play-off với vị trí thứ tư, thành tích tốt nhất kể từ năm 1980. Bristol City vượt qua Crystal Palace với tổng tỉ số 4-2 để vào trận chung kết play-off tại Wembley Stadium, nhưng thua Hull City 0-1.
Sau khởi đầu không tốt trong nửa đầu mùa giải 2008-09, Bristol City hồi phục sau Giáng sinh và vươn lên vị trí thứ tư vào cuối tháng 2. Tuy nhiên, sau rất nhiều trận hòa, mùa giải dần trôi đi và đội bóng kết thúc ở vị trí thứ mười. Mùa giải 2009-10 chứng kiến vài kết quả tích cực vào mùa thu, nhưng những thất bại nặng nề trước đối thủ địa phương Cardiff City (0-6) và Doncaster Rovers (2-5) vào đầu năm 2010 đã gây ra sự bất mãn lớn trong người hâm mộ,[12] và Johnson rời câu lạc bộ ngày 18 tháng 3 năm 2010.[13] Trợ lí huấn luyện viên Keith Millen tiếp quản với tư cách tạm quyền và dẫn dắt đội bóng giành một chuỗi kết quả tốt, qua đó kết thúc mùa giải ở vị trí thứ mười mùa thứ hai liên tiếp.
Steve Coppell trở thành huấn luyện viên בשנת 2010[14] nhưng từ chức chỉ sau hai trận đấu.[15][16] Trợ lí lâu năm Keith Millen được công bố là người kế nhiệm Coppell[16][17] và Bristol City kết thúc mùa giải 2010-11 ở vị trí thứ 15. Sau khởi đầu yếu kém ở mùa giải 2011-12, Millen rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 2011.[18]
Derek McInnes được bổ nhiệm tiếp quản, nhưng sau khởi đầu đầy hứa hẹn, Bristol City rơi vào khu vực xuống hạng và cuối cùng chỉ trụ hạng với vị trí thứ 20, thành tích tệ nhất kể từ khi thăng hạng vào năm 2007. Đà sa sút này tiếp tục kéo dài, và sau khởi đầu yếu kém ở mùa giải 2012-13, McInnes bị sa thải vào tháng 1 năm 2013 khi Bristol City đứng cuối Championship. Người thay thế ông là Sean O'Driscoll, huấn luyện viên trưởng thứ năm của câu lạc bộ trong vòng ba năm,[19] nhưng Bristol City đã xuống hạng xuống League One sau sáu mùa giải ở Championship. O'Driscoll rời câu lạc bộ khi đội bóng đứng thứ 22 ở League One.
Steve Cotterill gia nhập câu lạc bộ khi Bristol City đứng áp chót tại League One.[20] Cotterill giúp đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12.[21] Bristol City giành quyền trở lại Championship sau khi vô địch League One mùa giải 2014-15, danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên kể từ mùa giải 1954-55. Ở trận sân nhà cuối cùng, gặp Walsall, đội bóng khép lại mùa giải bằng chiến thắng 8-2.[22] Bristol City kết thúc mùa giải với 99 điểm,[22] số điểm cao nhất trong một mùa giải trong lịch sử câu lạc bộ, cùng chỉ 5 thất bại. Trong cùng mùa giải đó, đội bóng cũng giành Football League Trophy sau chiến thắng 2-0 trước Walsall, qua đó sở hữu chiếc cúp giải đấu này lần thứ ba, một kỉ lục của chính câu lạc bộ về số lần vô địch giải đấu này.
Bất chấp thành công vang dội ở mùa giải trước, Bristol City gặp khó khăn khi trở lại cấp độ hai. Steve Cotterill bị miễn nhiệm vào tháng 1 năm 2016 sau chuỗi phong độ nghèo nàn khiến Bristol City tụt xuống vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng Championship. Lee Johnson, cựu cầu thủ và là con trai của cựu huấn luyện viên Gary Johnson, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City vào ngày 6 tháng 2 năm 2016.[23] Cuối cùng Bristol City khép lại mùa giải ở vị trí thứ 18.[21]
Ở mùa giải 2016-17, Bristol City chỉ vừa đủ tích lũy số điểm cần thiết để trụ hạng vào cuối mùa. Lee Johnson tiếp tục tại vị ở mùa giải kế tiếp và một lần nữa tạo ra khởi đầu tích cực. Ở thời điểm giữa mùa giải, sau 24 trận tại giải vô địch quốc gia,[24] Bristol City đứng thứ hai tại Championship, đồng thời loại các đội bóng Premier League như Watford, Stoke City, Crystal Palace và Manchester United để vào tới bán kết League Cup.[21][25] Tuy nhiên, cuối cùng Bristol City chỉ kết thúc ở vị trí thứ 11.[26]
Bristol City kết thúc mùa giải 2018-19 ở vị trí thứ tám.[21] Cuộc đua giành suất play-off cuối cùng chỉ được quyết định ở vòng đấu cuối, trước khi Derby County thắng trận cuối và chiếm lấy vị trí đó.[27] Từ tháng 3 đến tháng 6, mùa giải 2019-20 bị tạm hoãn vì đại dịch COVID-19. Dù một lần nữa cạnh tranh suất play-off trong mùa giải, Johnson bị sa thải ngày 4 tháng 7 năm 2020 sau chuỗi chỉ thắng một trong 10 trận tại giải vô địch quốc gia.[28] Trợ lí lâu năm của ông là Dean Holden được bổ nhiệm làm người thay thế vào ngày 10 tháng 8 năm 2020.[29] Sau khi phải nhận sáu thất bại liên tiếp trên mọi đấu trường, Holden bị miễn nhiệm ngày 16 tháng 2 năm 2021 chỉ sau sáu tháng cầm quân.[30] Người thay thế ông là Nigel Pearson.[31]
Ngày 29 tháng 10 năm 2023, Pearson bị sa thải khi Bristol City đứng thứ 15 tại Championship sau chuỗi 5 thất bại trong 7 trận.[32] Dù phong độ khi đó không tốt, Pearson đã giúp Bristol City tăng điểm số qua từng năm trong thời gian dẫn dắt câu lạc bộ, và nhiều người hâm mộ cho rằng ông đã bị làm suy yếu bởi việc mất các cầu thủ chủ chốt như Alex Scott cùng sự thiếu tái đầu tư vào đội hình thi đấu.[cần dẫn nguồn] Ngày 7 tháng 11 năm 2023, Liam Manning được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City, chuyển đến từ Oxford United.[33]
Bristol City khép lại mùa giải 2023-24 ở vị trí thứ 11 với 62 điểm, đồng thời cũng có một hành trình tích cực tại Cúp FA khi loại West Ham vào tháng 1[34] sau khi buộc đối thủ phải đá lại. Ở mùa giải 2024-25, câu lạc bộ vào tới vòng play-off lần đầu tiên sau 17 năm.[21] Thành tích này phần lớn đến từ phong độ sân nhà rất tốt, khi Bristol City chỉ thua ba trận sân nhà trong cả mùa giải.[35] Sau đó Bristol City để thua Sheffield United với tổng tỉ số 0-6 ở bán kết play-off.[36]
Ngày 3 tháng 6 năm 2025, Liam Manning được thông báo sẽ rời câu lạc bộ để dẫn dắt Norwich City.[37] Ngày 19 tháng 6 năm 2025, Gerhard Struber được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Bristol City.[38]
Bản sắc câu lạc bộ
Bristol City đã mặc trang phục màu đỏ và trắng kể từ thập niên 1890, đôi khi có thêm màu đen.[39] Trang phục sân khách thay đổi đa dạng hơn. Theo truyền thống, màu áo sân khách là màu trắng, nhưng cũng từng có màu đen hoặc vàng. Những màu khác từng được sử dụng còn bao gồm xanh lá cây và sự kết hợp giữa tím với xanh lá non, trong đó kiểu phối màu sau đã trở thành một mẫu được người hâm mộ đặc biệt yêu thích.
- Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ là một phiên bản hiện đại hóa của hình chim cổ đỏ, biểu tượng từ lâu đã gắn bó với người hâm mộ và câu lạc bộ.
- Huy hiệu trước đây của câu lạc bộ là phiên bản giản lược của huy hiệu thành phố Bristol.
- Linh vật của câu lạc bộ hiện nay là Red và Robyn, thay thế Scrumpy the chim cổ đỏ, linh vật từng gắn bó với câu lạc bộ từ năm 2005 đến năm 2022.[40]
- Câu lạc bộ có mối liên hệ lâu dài với ban nhạc miền Tây nước Anh The Wurzels: ca khúc "One for the Bristol City", được viết cho câu lạc bộ năm 1976, là bài hát phát khi đội bước ra sân tại Ashton Gate, còn bản hit thập niên 1960 của họ là "Drink Up Thy Zider" được phát sau những chiến thắng trên sân nhà.
Khoảng giữa mùa giải 2007-08, huấn luyện viên Bristol City là Gary Johnson đã nói trong một cuộc phỏng vấn rằng ông hi vọng đội bóng có thể khiến toàn bộ sân vận động cùng nhún nhảy.[41][42] Người hâm mộ City đã tiếp nhận lời kêu gọi này và bắt đầu hát câu "Johnson says bounce around the ground" theo giai điệu của Yellow Submarine, đồng thời liên tục nhún lên xuống. Trận đầu tiên mà bài hát này được cất lên là trận sân khách gặp Southampton tại St Mary's Stadium, và nó cũng được hát trong trận sân khách gặp Queen's Park Rangers vào tháng 2. Khi cổ động viên Bristol City tới London để xem đội bóng gặp Charlton Athletic ngày 4 tháng 3 năm 2008, các cổ động viên đội khách, trong lúc đi tàu hỏa trở về nhà, đã biến đổi câu hát thành "Bounce Around the Train". Kể từ đó, đây đã trở thành một khẩu hiệu thường được người hâm mộ hát tại Ashton Gate.[cần dẫn nguồn] Bài hát này đôi khi cũng được cổ động viên của đội bóng cũ của Gary Johnson là Northampton Town sử dụng, chủ yếu trong các trận sân khách. Khi con trai Gary Johnson là Lee Johnson trở lại câu lạc bộ cũ vào năm 2016 trên cương vị huấn luyện viên mới, ông tuyên bố mong muốn tiếp nhận luôn khẩu hiệu này và giữ cho người hâm mộ tiếp tục hát nó.[43]
Nhà tài trợ áo đấu
| Giai đoạn | Nhà cung cấp trang phục | Nhà tài trợ áo đấu |
|---|---|---|
| 1976-1981 | Umbro | Không có |
| 1981-1982 | Coffer Sports | Park Furnishers |
| Feb 1982 | Hire-Rite | |
| 1982-1983 | Lynx | |
| Aug–Dec 1983 | Umbro | |
| Dec 1983-1990 | Bukta | |
| 1990-1992 | Thorn Security | |
| 1992-1993 | Nibor | |
| 1993-1994 | Dry Blackthorn Cider | |
| 1994-1996 | Auto Windscreens | |
| 1996-1998 | Lotto | Sanderson |
| 1998-1999 | Uhlsport | |
| 1999-2000 | DAS | |
| 2000-2002 | Admiral | |
| 2002-2005 | TFG Sports | |
| 2005-2006 | Bristol Trade Centre | |
| 2006-2008 | Puma | |
| 2008-2010 | DAS | |
| 2010-2011 | Adidas | |
| 2011-2012 | RSG (sân nhà) Bristol City Community Trust (sân khách) | |
| 2012-2014 | Blackthorn | |
| 2014-2016 | Bristol Sport | RSG |
| 2016-2018 | Lancer Scott | |
| 2018-2020 | Dunder | |
| 2020-2022 | Hummel | MansionBet |
| 2022-2023 | Huboo | Digital NRG[44][45] |
| 2023–nay | O'Neills |
Sân vận động
Bristol City đã thi đấu tại Sân vận động Ashton Gate ở phía tây nam Bristol, ngay phía nam sông Avon, kể từ khi chuyển đến từ St John's Lane vào năm 1904. Hiện nay sân có sức chứa toàn ghế ngồi là 27.000 chỗ.[46] Đây từng là sân nhà của Bedminster cho đến vụ sáp nhập năm 1900, và đội bóng hợp nhất vẫn chơi một số trận tại đây ở mùa giải sau đó, nhưng Ashton Gate chỉ trở thành sân nhà thường trực của Bristol City từ năm 1904.
Trước đây, đã từng có những kế hoạch mở rộng Ashton Gate. Ngoài ra còn có đề xuất xây một sân vận động mới với 36.000 chỗ tại Hengrove Park. Kế hoạch này đã bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý địa phương vào tháng 12 năm 2000.[47] Năm 2002, hội đồng địa phương từng xem xét các địa điểm khả dĩ cho một sân vận động mới có sức chứa 40.000 chỗ để làm sân nhà chung cho City, Rovers và Bristol Rugby, nhưng các kế hoạch này đã bị hủy bỏ, và nhìn chung người ta cho rằng đa số người hâm mộ của cả ba đội sẽ không hoan nghênh ý tưởng đó.[48] Sức chứa hiện tại của Ashton Gate ở mức trung bình so với các sân tại Championship; tuy nhiên, vào tháng 11 năm 2007, câu lạc bộ công bố kế hoạch chuyển tới một sân vận động mới có sức chứa 30.000 chỗ tại Ashton Vale. Đồng thời cũng có kế hoạch nâng sức chứa lên 42.000 chỗ nếu hồ sơ đăng cai World Cup 2018 của Anh thành công.[49][50][Cần cập nhật]
Khán đài phía Nam được mở cửa cho mùa giải 2015-16, trong khi khán đài Williams cũ bị phá dỡ và được thay bằng khán đài Lansdown vào năm 2016. Một mặt sân Desso mới, kết hợp cỏ tự nhiên và nhân tạo, được lắp đặt, còn khán đài Dolman hiện tại cũng được tân trang. Một khán đài an toàn đã được bổ sung ở góc đông nam của sân vào năm 2021 (gần tương ứng với vị trí khán đài East End cũ).
Một trung tâm huấn luyện hiện đại đi vào hoạt động בשנת 2020. Robins High Performance Centre nằm tại Failand, cách Ashton Gate Stadium một quãng ngắn.
Thư viện ảnh
- Khán đài Atyeo
- Bristol City gặp Cardiff City – 15 tháng 3 năm 2009
- Ashton Gate với Clifton Suspension Bridge ở phía sau
- Một ví dụ về những lá cờ được nhóm "Ultras" sử dụng tại khán đài Wedlock (The Eastend)
- Góc nhìn từ khu vực khán giả sân nhà tại khán đài Wedlock
- Bên trong khán đài Wedlock trong trận gặp đại kình địch Cardiff City
- Sân vận động khi trống khán giả trước một buổi hòa nhạc.
Các mối kình địch
Đối thủ truyền thống của Bristol City là Bristol Rovers. Hai đội đã gặp nhau 105 lần, với lần chạm trán đầu tiên vào năm 1897. Bristol City là đội có nhiều chiến thắng hơn với 43 trận thắng. Tuy nhiên, hai câu lạc bộ đã không còn thi đấu cùng hạng trong nhiều năm; lần cuối cùng họ ở cùng một giải đấu là mùa giải 2000-01. Kể từ đó, hai đội chỉ gặp nhau ba lần: tại trận chung kết khu vực phía Nam hai lượt đi và về của Football League Trophy mùa giải 2006-07, nơi Rovers thắng 1-0 chung cuộc, và ở vòng Một của Johnstone's Paint Trophy mùa giải 2013-14, nơi City thắng 2-1 tại Ashton Gate.
Đối thủ lớn khác của City là Cardiff City, đội bóng thi đấu ở thành phố lân cận Cardiff. Dù là một trận derby địa phương, cặp đấu này lại băng qua biên giới Anh–Xứ Wales, vì thế trở thành một trong số ít các trận derby cấp câu lạc bộ mang tính quốc tế tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Hai câu lạc bộ có vị thế tương đồng trong những năm gần đây, cùng ở chung một giải đấu trong 15 trên 18 mùa giải gần nhất. Điều này dẫn tới nhiều lần chạm trán thường xuyên tại giải vô địch quốc gia, bao gồm cả ở bán kết play-off Second Division 2010-11. Thất bại nặng nề nhất trong trận derby này diễn ra năm 2010 khi Cardiff đánh bại Bristol City với tỉ số 6-0.
Những câu lạc bộ khác đôi khi cũng được người hâm mộ và truyền thông xem là "đối thủ thứ ba". Swindon Town được nhiều người coi là đối thủ, và thường bị cổ động viên City gọi là 'Swindle'. Mối kình địch này gần đây nhất trở nên đáng chú ý ở mùa giải 2014-15, khi hai đội cạnh tranh suất thăng hạng lên Championship. Plymouth Argyle trước đây cũng từng được coi là đối thủ, dù hai thành phố cách nhau hơn 100 dặm. Sự kình địch này đặc biệt đáng chú ý trong thập niên 2000, khi hai câu lạc bộ là những đội bóng có thứ hạng cao nhất ở vùng West Country trong nhiều năm, và các cuộc đối đầu giữa họ được xem như trận chiến xác định "đội mạnh nhất miền Tây". Swansea City, Newport County, Cheltenham Town và thậm chí cả Yeovil Town cũng từng được nhắc đến như đối thủ, nhưng rất hiếm. Tuy nhiên, trong trận đấu giữa Bristol City và Swansea City ngày 2 tháng 2 năm 2019 tại Ashton Gate, đã xảy ra ẩu đả giữa cổ động viên hai bên, khiến mối căng thẳng giữa hai nhóm cổ động viên này bùng phát mạnh hơn.[51]
Thống kê và kỉ lục
- Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia – 9-0 trước Aldershot (28 tháng 12 năm 1946)[52]
- Chiến thắng đậm nhất tại Cúp FA – 11-0 trước Chichester City (5 tháng 11 năm 1960)[52]
- Thất bại đậm nhất tại giải vô địch quốc gia – 0-9 trước Coventry City (28 tháng 4 năm 1934)[52]
- Lượng khán giả cao nhất – 43.335 người trong trận gặp Preston North End (16 tháng 2 năm 1935)[53]
- Lượng khán giả cao nhất (ở bất kì sân nào) – 86.703 người trong trận chung kết play-off Championship gặp Hull City tại Wembley Stadium – (24 tháng 5 năm 2008)
- Số lần ra sân nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia – 596, John Atyeo (1951-66)[52]
- Số bàn thắng nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia – 314, John Atyeo (1951-66)[52]
- Tổng số bàn thắng nhiều nhất – 351, John Atyeo (1951-66)[54]
- Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất – Billy Wedlock, 26 lần, Anh[52]
- Số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải – 36, Don Clark (1946-47)[52]
- Phí chuyển nhượng cao nhất đã chi – 8 triệu bảng cho Chelsea để chiêu mộ Tomáš Kalas (tháng 7 năm 2019)[55]
- Phí chuyển nhượng cao nhất thu về – 25 triệu bảng từ Bournemouth trong thương vụ Alex Scott (tháng 8 năm 2023)[56]
- Chuỗi trận thắng liên tiếp dài nhất tại giải vô địch quốc gia – 14 trận; từ 9 tháng 9 năm 1905 đến 2 tháng 12 năm 1905[52] – đây từng là kỉ lục đồng sở hữu của giải đấu cho đến năm 2017.
- Chuỗi trận thua liên tiếp dài nhất tại giải vô địch quốc gia – 8 trận; từ 10 tháng 12 năm 2016 đến 21 tháng 1 năm 2017[52]
- Chuỗi trận bất bại dài nhất tại giải vô địch quốc gia – 24 trận; từ 9 tháng 9 năm 1905 đến 10 tháng 2 năm 1906[52]
- Chuỗi trận không thắng dài nhất tại giải vô địch quốc gia – 21 trận; từ 16 tháng 3 năm 2013 đến 22 tháng 10 năm 2013[52]
- Tổng số điểm cao nhất trong một mùa giải – 99 điểm; Football League 2014-15 One[52]
Lịch sử thi đấu tại giải vô địch quốc gia
Nguồn:[21]
Lưu ý: Các con số trong ngoặc là cấp độ bóng đá ở mùa giải đó.
- 1897-1901: Southern League Division 2014-15 One (3)
- 1901-1906: Football League Second Division (2)
- 1906-1911: Football League First Division (1)
- 1911-1922: Football League Second Division (2)
- 1922-1923: Football League Third Division (3)
- 1923-1924: Football League Second Division (2)
- 1924-1927: Football League Third Division (3)
- 1927-1932: Football League Second Division (2)
- 1932-1955: Football League Third Division (3)
- 1955-1960: Football League Second Division (2)
- 1960-1965: Football League Third Division (3)
- 1965-1976: Football League Second Division (2)
- 1976-1980: Football League First Division (1)
- 1980-1981: Football League Second Division (2)
- 1981-1982: Football League Third Division (3)
- 1982-1984: Football League Fourth Division (4)
- 1984-1990: Football League Third Division (3)
- 1990-1995: Football League Second Division / Football League First Division (đổi tên sau khi Premier League ra đời) (2)
- 1995-1998: Football League Second Division (3)
- 1998-1999: Football League First Division (2)
- 1999-2007: Football League Second Division / Football League One (được đổi tên) (3)
- 2007-2013: Football League Championship (2)
- 2013-2015: Football League One (3)
- 2015–nay: Football League/EFL Championship (2)
Nhiều lần ra sân nhất
Nhiều lần ra sân nhất cho câu lạc bộ, bao gồm cả vào sân thay người, trên mọi đấu trường (không tính Gloucestershire Cup). Cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2013.Lưu ý: Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Louis Carey đã phá kỉ lục số lần ra sân cho Bristol City khi vào sân thay người trong chiến thắng 4-1 trước Stevenage. Anh vượt qua John Atyeo sau 47 năm và hiện là cầu thủ ra sân nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ.
Nhiều bàn thắng nhất
| # | Tên | Sự nghiệp | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| 1 | 1951-1966 | 351 | |
| 2 | 1969-1981, 1982-1984 | 132 | |
| 3 | 1949-1956 | 111 | |
| 4 | 1950-1956, 1958-1962 | 108 | |
| 5 | 1984-1989 | 99 | |
| 6 | 1997-2003, 2004-2009 | 91 | |
| 7 | 1924-1928 | 91 | |
| 8 | 1967-1972 | 90 | |
| 9 | 1960-1966 | 89 | |
| 10 | 1904-1910 | 87 |
Chính xác tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2018.[57]
Cầu thủ
Đội hình đội một
- Tính đến 3 tháng 4 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội hình U-21
- Tính đến 6 tháng 4 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
- Tính đến 13 tháng 2 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
Cầu thủ nổi bật
Cầu thủ cũ
Để xem danh sách toàn bộ cầu thủ Bristol City có bài viết trên Wikipedia, xem Thể loại:Cầu thủ bóng đá Bristol City F.C..Bedminster sáp nhập với Bristol City vào năm 1900; để xem thêm danh sách toàn bộ cầu thủ Bedminster có bài viết, xem Thể loại:Cầu thủ bóng đá Bedminster F.C..
Cầu thủ xuất sắc nhất năm
| Năm | Người chiến thắng | Vị trí | Nguồn |
|---|---|---|---|
| 1970-71 | TĐ | [64] | |
| 1971-72 | HV | [64] | |
| 1972-73 | TV | [64] | |
| 1973-74 | TV | [64] | |
| 1974-75 | HV | [64] | |
| 1975-76 | [64] | ||
| 1976-77 | HV | [64] | |
| 1977-78 | HV | [64] | |
| 1978-79 | TV | [64] | |
| 1979-80 | HV | [64] | |
| 1980-81 | TĐ | [64] | |
| 1981-82 | Không trao giải | [64] | |
| 1982-83 | TĐ | [64] | |
| 1983-84 | TV | [64] | |
| 1984-85 | TĐ | [64] | |
| 1985-86 | TV | [64] | |
| 1986-87 | HV | [64] | |
| 1987-88 | TĐ | [64] | |
| 1988-89 | TM | [64] | |
| 1989-90 | TĐ | [64] | |
| 1990-91 | HV | [64] | |
| 1991-92 | HV | [64] | |
| 1992-93 | FW | [64] | |
| 1993-94 | TĐ | [64] | |
| 1994-95 | HV | [64] | |
| 1995-96 | TV | [64] | |
| 1996-97 | HV | [64] | |
| 1997-98 | HV | [64] | |
| 1998-99 | TĐ | [64] | |
| 1999-2000 | TM | [64] | |
| 2000-01 | TV | [64] | |
| 2001-02 | HV | [64] | |
| 2002-03 | TV | [64] | |
| 2003-04 | TV | [64] | |
| 2004-05 | TĐ | [64] | |
| 2005-06 | TĐ | [64] | |
| 2006-07 | HV | [64] | |
| 2007-08 | TM | [64] | |
| 2008-09 | TĐ | [64] | |
| 2009-10 | TV | [64] | |
| 2010-11 | TV | [64] | |
| 2011-12 | TĐ | [64] | |
| 2012-13 | TM | [64] | |
| 2013-14 | TĐ | [64] | |
| 2014-15 | HV | [64] | |
| 2015-16 | HV | [64] | |
| 2016-17 | TĐ | [64] | |
| 2017-18 | TĐ | [64] | |
| 2018-19 | HV | [64] | |
| 2019-20 | TĐ | [64] | |
| 2020-21 | TM | [64] | |
| 2021-22 | TĐ | [65] | |
| 2022-23 | TV | [66] | |
| 2023-24 | HV | [67] | |
| 2024-25 | TV | [68] | |
Vua phá lưới tại giải vô địch quốc gia
| Năm | Người chiến thắng | Bàn thắng |
|---|---|---|
| 1996-97 | 23 | |
| 1997-98 | 17 | |
| 1998-99 | 19 | |
| 1999-2000 | 13 | |
| 2000-01 | 19 | |
| 2001-02 | 16 | |
| 2002-03 | 19 | |
| 2003-04 | 14 | |
| 2004-05 | 24 | |
| 2005-06 | 16 | |
| 2006-07 | 11 | |
| 2007-08 | 8 | |
| 2008-09 | 11 | |
| 2009-10 | 20 | |
| 2010-11 | 13 | |
| 2011-12 | 8 | |
| 2012-13 | 13 | |
| 2013-14 | 24 | |
| 2014-15 | 18 | |
| 2015-16 | 19 | |
| 2016-17 | 23 | |
| 2017-18 | 19 | |
| 2018-19 | 12 | |
| 2019-20 | 11 | |
| 2020-21 | 9 | |
| 2021-22 | 22 | |
| 2022-23 | 11 | |
| 2023-24 | 9 | |
| 2024-25 | 12 |
Quan chức câu lạc bộ
Ban huấn luyện
- Tính đến 27 tháng 6 năm 2025
- Huấn luyện viên trưởng: Roy Hodgson
- Trợ lí huấn luyện viên trưởng: Ray Lewington, Craig Fleming
- Huấn luyện viên thủ môn: Pat Mountain
- Trưởng bộ phận y tế: Paul Tanner[69]
- Trưởng bộ phận hiệu năng: Andy Kavanagh[70]
- Trưởng bộ phận truyền thông: Sheridan Robins[71]
- Giám đốc kĩ thuật: Khuyết
Lịch sử huấn luyện viên
| Tên | Giai đoạn[72][73] |
|---|---|
| 1897-1899 | |
| 1899-1901 | |
| 1901-1905 | |
| 1905-1910 | |
| 1910-1911 | |
| 1911-1913 | |
| 1913-1917 | |
| 1917-1919 | |
| 1919-1921 | |
| 1921-1929 | |
| 1929-1932 | |
| 1932-1949 | |
| 1949-1950 | |
| 1950-1958 | |
| 1958-1960 | |
| 1960-1967 | |
| 1967-1980 | |
| 1980-1982 | |
| 1982 | |
| 1982-1988 | |
| 1988-1990 | |
| 1990-1992 | |
| 1992-1993 | |
| 1993-1994 | |
| 1994-1997 | |
| 1997-1998 | |
| 1998-1999 | |
| 1999 | |
| 2000 | |
| 2000-2004 | |
| 2004-2005 | |
| 2005-2010 | |
| 2010 | |
| 2010-2011 | |
| 2011-2013 | |
| 2013 | |
| 2013-2016 | |
| 2016-2020 | |
| 2020-2021 | |
| 2021-2023 | |
| 2023-2025 | |
| 2025-2026 | |
| 2026- |
Bristol City Women
Đội bóng nữ được thành lập vào năm 1990 với sự hỗ trợ của cán bộ phụ trách cộng đồng của câu lạc bộ là Shaun Parker. Thành tích lớn nhất của đội là vào tới bán kết FA Women's Cup năm 1994 và giành quyền thăng hạng lên Premier League dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Jack Edgar vào năm 2004. Sau khi Liên đoàn bóng đá Anh quyết định chỉ tài trợ cho một trung tâm xuất sắc tại Bristol, hai đội cấp cao của câu lạc bộ đã bị giải thể vào tháng 6 năm 2008 và đội trẻ nữ sáp nhập với Bristol Academy W.F.C.[74] Phần lớn các cầu thủ đội một, cùng huấn luyện viên Will Roberts, đã chuyển đến University of Bath vào mùa hè năm 2008 và hiện thi đấu dưới tên AFC TeamBath Ladies tại South West Combination Women's Football League.[75]
Danh hiệu
Giải vô địch quốc gia
- First Division (cấp độ 1)
- Á quân: 1906-07
- Second Division (cấp độ 2)
- Vô địch: 1905-06
- Thăng hạng với vị trí thứ hai: 1975-76
- Third Division South / Third Division / Second Division / League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 1922-23, 1926-27, 1954-55, 2014-15
- Thăng hạng với vị trí thứ hai: 1964-65, 1989-90, 1997-98, 2006-07
- Fourth Division (cấp độ 4)
- Thăng hạng với vị trí thứ tư: 1983-84
- Western League
- Vô địch: 1897-98
Cúp
- Cúp FA
- Á quân: 1908-09
- Associate Members' Cup / Football League Trophy
- Vô địch: 1985-86, 2002-03, 2014-15
- Á quân: 1986-87, 1999-2000
- Cúp bóng đá Wales
- Vô địch: 1933-34
- Anglo-Scottish Cup
- Vô địch: 1977-78
Xem thêm
- Ruch Radzionków — một câu lạc bộ bóng đá Ba Lan có bản sắc tương tự, mang biệt danh Cidry.
Tham khảo
- ^ Calley, Roy (1992). Blackpool: A Complete Record 1887-1992, Breedon Books Sport
- ^ "Sporting Gossip". Gloucestershire Echo. ngày 12 tháng 4 năm 1900. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2015 – qua British Newspaper Archive.
- ^ Bristol City The Early Years 1894-1915 by David Woods published by Desert Island Books 2004; The Bristol Babe by David Woods published by Yore Publications 1994; Bristol City The Complete Record 1894-1987 by David Woods with Andrew Crabtree published by Breedon Books 1987; David Woods the Official Bristol City Club Historian.
- ^ "FA Cup 1919/1920 – Semi-finals". worldfootball.net. ngày 12 tháng 6 năm 2023.
- ^ Appert, Michael. "Millennium 1920-21 English Football League Season & Lower Division Tables". melaman2.com.
- ^ Appert, Michael. "Millennium 1921-22 English Football League Season & Lower Division Tables". melaman2.com.
- ^ "Club Legends". Bristol City. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Football Club History Database – Football League Division Three South Cup Summary". fchd.info.
- ^ Keating, Frank (ngày 10 tháng 11 năm 2010). "Memories of the Blitz bombers and a damaging time for sport". The Guardian.
- ^ "Club Legends". Bristol City. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Hob Nob Anyone? – Reading FC – The Royals – Articles".
- ^ "Race is on to find Bristol City Gary Johnson's successor". Bristol Evening Post. Bristol: Bristol News and Media. ngày 18 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2010.
- ^ "Gary Johnson Leaves City". Bristol City F.C. ngày 18 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2010.
- ^ "Coppell New City Boss". Bristol City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
- ^ "Steve Coppell quits as Bristol City manager". BBC Sport. BBC. ngày 12 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013.
- ^ a b Staff (ngày 12 tháng 8 năm 2010). "Steve Coppell quits as Bristol City manager". BBC Sport. BBC. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Keith Millen Appointed City Boss". Bristol City Football Club. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Keith Millen axed as Bristol City manager". BBC Football. ngày 3 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
- ^ Staff (ngày 14 tháng 1 năm 2013). "Sean O'Driscoll: Bristol City appoint ex-Nottingham Forest boss". BBC News. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013.
- ^ "Steve Cotterill: Bristol City appoint ex-Forest boss as manager". BBC Sport. ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ a b c d e f g "Bristol City". Football Club History Database. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ a b Brendon Mitchell (ngày 3 tháng 5 năm 2015). "Bristol City 8-2 Walsall". BBC Sport. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ "BCFC.co.uk: Lee Johnson Appointed New Head Coach". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Bristol City - Transfer League". www.transferleague.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2024.
- ^ Brendon Mitchell (ngày 20 tháng 12 năm 2017). "Bristol City 2-1 Manchester United". BBC Sport. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Bristol City 2-3 Sheffield United". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Hull City 1-1 Bristol City". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Lee Johnson relieved of head coach role". ngày 4 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Dean Holden: Bristol City confirm head coach appointment". BBC Sport. ngày 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Bristol City sack head coach Holden". BBC Sport. ngày 17 tháng 2 năm 2021.
- ^ "Bristol City appoint Pearson as manager". BBC Sport. ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ^ "Nigel Pearson sacked by Bristol City: Results far from only issue behind veteran manager's departure". Sky Sports. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Liam Manning appointed Head Coach". Bristol City. ngày 7 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Bristol City 1-0 West Ham: Tommy Conway scores winner as Said Benrahma sent off". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ^ "How Bristol City ended their 17-year wait for a shot at Championship promotion". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Sheffield United 3-0 Bristol City (6-0 agg): Blades reach Championship play-off final". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Liam Manning: Norwich appoint Bristol City boss as new head coach". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Gerhard Struber: Bristol City name Austrian as Liam Manning's successor". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Bristol City". historicalkits.co.uk. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.
- ^ "Bristol City mascot". flickr. ngày 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008.
- ^ Haylett, Trevor (ngày 21 tháng 2 năm 2009). "Bristol City bounce up to fourth". The Daily Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2010.
- ^ "I want Bristol City fans to shakefoundations of Madejski says Johnson". Bristol Evening Post. Bristol News and Media. ngày 18 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2010.
- ^ Baker, Adam. "Let's get the Gate bouncing – Johnson". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016.
- ^ "🤝 City partner with DNRG". ngày 4 tháng 7 năm 2022.
- ^ "DNRG X Bristol City FC | Partnership".
- ^ "Conference venue and events hire". Ashton Gate.
- ^ "Hengrove Park- Football Stadium Referendum tháng 12 năm 2000" (PDF). Bristol City Council. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ "Bristol super-stadium plan collapses". BBC. ngày 27 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008.
- ^ "Bristol City Announce New Stadium". Birmingham City F.C. ngày 29 tháng 11 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008.
- ^ "New Stadium at Ashton Vale". Bristol City F.C. ngày 29 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008.
- ^ Sands, Katie (ngày 4 tháng 2 năm 2019). "Shocking footage emerges of fans brawling at Bristol vs Swansea City". walesonline.
- ^ a b c d e f g h i j k l Anderson, John (2019). Football Yearbook 2019-20. London: Headline Publishing Group. tr. 78–79. ISBN 978-1-4722-6111-3.
- ^ "Men's History". Bristol City FC. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- ^ "All-time leading goalscorers – official site". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2009.
- ^ "Tomas Kalas joins Bristol City in record transfer from Chelsea". Sky Sports. ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- ^ Fisher, Ben (ngày 10 tháng 8 năm 2023). "Bournemouth seal £25m deal to sign Alex Scott from Bristol City". The Guardian. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
- ^ "All Time Top scorers". Bristol City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018.
- ^ Morgan, Ryan (ngày 2 tháng 8 năm 2024). "Knight named City captain". Bristol City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2024.
- ^ Bristol City FC (ngày 19 tháng 1 năm 2026). "Hirakawa joins Hull City on loan". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ^ Bristol City (ngày 6 tháng 8 năm 2025). "Stokes joins Stockport on loan". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
- ^ Bristol City FC (ngày 17 tháng 1 năm 2026). "Cornick joins Stevenage on loan". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.
- ^ Bristol City (ngày 13 tháng 1 năm 2026). "Morrison joins Forest Green on loan". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2026.
- ^ Bản mẫu:Cite x
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af ag ah ai aj ak al am an ao ap aq ar as at au av aw ax ay "Club Records – Bristol City". Bristol City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Weimann scoops four awards". Bristol City F.C. ngày 28 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
- ^ "All the winners from the City awards dinner". Bristol City F.C. ngày 5 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
- ^ "Award-winner Dickie on Rotherham win". Bristol City F.C. ngày 27 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
- ^ Bristol City (ngày 4 tháng 5 năm 2025). "2024/25 Award winners announced". Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2025.
- ^ Bristol City FC (ngày 19 tháng 6 năm 2024). "Head of Medical appointed". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2024.
- ^ Bristol City FC. "Men's STAFF". bcfc.co.uk. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2026.
- ^ Bristol City FC (ngày 21 tháng 6 năm 2024). "Meet our Head of Sports Science". Bristol City FC. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2024.
- ^ "All-Time Managers". Bristol City. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Bristol City Manager History". Soccerbase. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
- ^ "WOMEN'S TEAM TO FOLD". Birmingham City F.C. ngày 19 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008.
- ^ "Bristol City Ladies to get new lease of life at TeamBath". Team Bath. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008.
- ^ "Bristol City football club honours". 11v11. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
Liên kết ngoài
- Website chính thức

- Bristol City F.C. trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
Bản mẫu:Bristol City F.C.Bản mẫu:Mùa giải Bristol City F.C.
Bản mẫu:Thể thao Bristol