Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Crystal Palace F.C.”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Thẻ: Sửa ngày tháng năm
Không có tóm lược sửa đổi
Dòng 1: Dòng 1:
{{Short description|Câu lạc bộ bóng đá ở Luân Đôn, Anh}}
{{About|câu lạc bộ bóng đá nam|câu lạc bộ bóng đá nữ|Crystal Palace F.C. Women|đội bóng nghiệp dư Crystal Palace nguyên thủy|Crystal Palace F.C. (1861)}}
{{Redirect|CPFC}}
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá
| clubname = Crystal Palace
| clubname = Crystal Palace
| image = Crystal Palace FC logo (2022).svg.png
| image = Crystal Palace FC logo (2022).svg.png
| image_size = 175px
| image_size = 185px
| fullname = Câu lạc bộ Bóng đá Crystal Palace
| fullname = Câu lạc bộ bóng đá Crystal Palace
| nickname = ''Những chú đại bàng, Glaziers, Palace''
| nickname = {{Plainlist|
* The Eagles
| founded = {{Start date and age|df=yes|1905|09|10}}
* The Glaziers{{efn-ua|Có tính lịch sử. Hiện vẫn còn được dùng, dù không phổ biến.}}
| ground = [[Selhurst Park]]
}}
| capacity = 26.309
| short name = {{Plainlist|
| chairman = Jason Wong
* Palace
| chrtitle = Các đồng chủ tịch
* CPFC
}}
| founded = {{Start date and age|df=yes|1905|09|10}}{{efn-ua|Dù Crystal Palace F.C. chuyên nghiệp chỉ chính thức được thành lập vào năm 1905, câu lạc bộ khẳng định mình là sự tiếp nối của [[Crystal Palace F.C. (1861)|đội bóng nghiệp dư nguyên thủy]] được thành lập vào năm 1861.<ref name="guardian1861" />}}
| stadium = [[Selhurst Park]]
| capacity = 25.486<ref name="cap2021" />
| owntitle = Chủ sở hữu
| owner = {{ubl|[[Woody Johnson]] (43%)|[[Josh Harris (doanh nhân)|Josh Harris]] (10%)|[[David Blitzer]] (10%)|[[Steve Parish (doanh nhân)|Steve Parish]] (10%)}}
| chairman = Steve Parish
| manager = [[Oliver Glasner]]
| manager = [[Oliver Glasner]]
| league = {{English football updater|CrystalP}}
| league = {{English football updater|CrystalP}}
| season = [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2024–25|2024–25]]
| season = [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2024-25|2024-25]]
| position = {{English football updater|CrystalP3}}
| position = [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Ngoại hạng Anh]], thứ 12 trên 20
| current = Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2025–26
| current = Crystal Palace F.C. mùa giải 2025-26
| website = {{URL|https://cpfc.co.uk}}
| pattern_la1 = _crystalpalace2526h
| pattern_la1 = _crystalpalace2526h
| pattern_b1 = _crystalpalace2526h
| pattern_b1 = _crystalpalace2526h
Dòng 45: Dòng 57:
| shorts3 = ffffff
| shorts3 = ffffff
| socks3 = ffffff
| socks3 = ffffff
| website = http://www.cpfc.co.uk/
}}
}}
'''Câu lạc bộ bóng đá Crystal Palace''' ({{Langx|en|Crystal Palace Football Club}}), thường được gọi đơn giản là '''Palace''', là một câu lạc bộ [[bóng đá]] chuyên nghiệp có trụ sở tại [[Selhurst]], [[Nam Luân Đôn]], Anh, hiện thi đấu tại [[Premier League]], hạng đấu cao nhất của [[Hệ thống giải bóng đá Anh|bóng đá Anh]]. Câu lạc bộ chính thức được thành lập với tư cách một đội bóng chuyên nghiệp vào năm 1905 tại khu triển lãm [[The Crystal Palace|Crystal Palace]], nhưng có nguồn gốc xa hơn, từ tận năm 1861.<ref>Palace at the Palace. Peter Manning 2018.</ref><ref>The Origin of Crystal Palace FC, Volume I. Steve Martyniuk 2016.</ref> Từ năm 1905 tới năm 1915, đội sử dụng sân [[Crystal Palace National Sports Centre#Chung kết Cúp FA (1895-1914)|chung kết Cúp FA]] nằm trong khuôn viên triển lãm làm sân nhà, trước khi buộc phải rời đi do [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] bùng nổ. Năm 1924, câu lạc bộ chuyển tới sân nhà hiện tại là [[Selhurst Park]].
'''Crystal Palace F.C.''' là 1 câu lạc bộ bóng đá [[Anh]] ở phía nam [[Luân Đôn]], [[Anh]]. [[Giải bóng đá Hạng nhất Anh|Mùa giải 2012-2013]], Palace vô địch giải [[Giải bóng đá Hạng nhất Anh|Hạng nhất Anh]], thăng hạng và lên chơi ở [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh]] sau khi đánh bại [[Watford F.C.]] ở trận play-off.<ref>[http://vov.vn/The-thao/Crystal-Palace-tro-lai-giai-Ngoai-hang-Anh-sau-7-nam/263748.vov Palace lên hạng] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130623093419/http://vov.vn/The-thao/Crystal-Palace-tro-lai-giai-Ngoai-hang-Anh-sau-7-nam/263748.vov |date=2013-06-23 }}, Đài tiếng nói Việt Nam</ref> Màu sắc của đội là đỏ và xanh mặc dù có một chút màu rượu nho, xanh nhạt của [[Aston Villa F.C.]] ở những năm đầu,những năm sau đó Palace có áo màu trắng lấy cảm hứng từ [[Real Madrid CF|Real Madrid F.C.]]. Câu lạc bộ được các công nhân thành lập vào năm [[1905]] tại [[Cung điện Thủy tinh]] ở [[Luân Đôn]].


Trong những năm đầu tồn tại với tư cách một câu lạc bộ chuyên nghiệp, Palace thi đấu tại [[Southern Football League|Southern League]], trước khi được bầu vào [[English Football League|Football League]] vào năm 1920. Từ thập niên 1960 trở đi, phần lớn lịch sử thi đấu ở giải vô địch của đội gắn với hai hạng đấu cao nhất bóng đá Anh. Kể từ năm 1964, câu lạc bộ chỉ có đúng một lần rơi xuống dưới hạng Hai, và quãng thời gian đó cũng chỉ kéo dài ba mùa giải, từ năm 1974 tới năm 1977. Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, Palace trải qua một giai đoạn thành công ở hạng đấu cao nhất. Sau khi vào tới [[Chung kết Cúp FA 1990|chung kết Cúp FA 1990]], Palace từng cạnh tranh với [[Arsenal F.C.|Arsenal]] và [[Liverpool F.C.|Liverpool]] cho [[Danh sách nhà vô địch bóng đá Anh|chức vô địch Anh]] ở [[Football League 1990-91|mùa giải 1990-91]], trước khi khép lại mùa giải ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của đội tại giải vô địch cho tới nay. Palace lỡ cơ hội giành vé dự [[Cúp UEFA 1991-92|Cúp UEFA]] vì số suất dành cho các đội bóng Anh ở hạng đấu cao nhất khi đó còn hạn chế sau [[Heysel Stadium disaster|thảm họa Heysel]]. Câu lạc bộ cũng là một trong những thành viên sáng lập của Premier League đầu tiên ở [[FA Premier League 1992-93|mùa giải 1992-93]].
Giai đoạn thành công gần đây nhất của câu lạc bộ là giai đoạn 1988-1989 khi họ giành vị trí thứ ba ở Giải hạng hai và sau đó được thăng lên Giải hạng nhất. Đội tiến sâu vào chung kết [[Cúp FA]] năm 1990 và chỉ chịu thua trong trận ''replay'' gặp [[Manchester United F.C.|Manchester United]]. Họ xếp thứ ba ở Giải hạng nhất mùa bóng 1990-1991. Crystal Palace là thành viên sáng lập [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh]] (1992-1993) nhưng lại bị xuống hạng cuối giải đấu đó. Tính đến nay, đội đã xen kẽ bị giáng hạng và thăng hạng lên [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Giải Ngoại hạng]] đến 4 lần. Lần xuống hạng gần đây nhất là mùa bóng 2004-2005.


Tuy nhiên, sau đó vận may của câu lạc bộ lao dốc nghiêm trọng sau khi đội xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất vào năm 1998. Nguyên nhân là những vấn đề tài chính khiến Palace phải rơi vào tình trạng quản lý tài sản hai lần, vào các năm 1999 và 2010. Sau đó, đội dần phục hồi, và kể từ khi thăng hạng trở lại Premier League vào năm 2013, Palace đã có chuỗi 13 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất tính tới mùa giải 2025-26, dài nhất trong lịch sử câu lạc bộ, đồng thời vào thêm hai trận [[Danh sách trận chung kết Cúp FA|chung kết Cúp FA]] nữa vào các năm [[Chung kết Cúp FA 2016|2016]] và [[Chung kết Cúp FA 2025|2025]], với chiến thắng ở trận chung kết sau đã mang về danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử đội bóng. Sau thành công đó, câu lạc bộ tiếp tục giành luôn [[FA Community Shield 2025|FA Community Shield]] đầu tiên ngay trong cùng năm.
Ban đầu sân nhà của Crystal Palace là ở The Crystal Palace, nhưng do [[Chiến tranh thế giới thứ nhất|Chiến tranh thế giới lần thứ nhất]] buộc họ phải dời đi nơi khác, và họ đã có một mùa giải chơi ở hai sân nhà là [[Herne Hill Velodrome]] và [[The Nest]]. Từ năm 1925, sân nhà của Palace là ở [[Selhurst Park]].


Màu trang phục của câu lạc bộ là claret và xanh cho tới năm 1973, trước khi được thay bằng mẫu sọc dọc đỏ và xanh đang được sử dụng cho tới ngày nay. Palace có [[Brighton & Hove Albion F.C.–Crystal Palace F.C. rivalry|mối kình địch dữ dội và lâu đời]] với [[Brighton & Hove Albion F.C.|Brighton & Hove Albion]], hình thành từ thập niên 1970 vì những lí do cạnh tranh. Ngoài ra, đội cũng có các mối kình địch mạnh với những câu lạc bộ lân cận [[Millwall F.C.|Millwall]] và [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]], các đối thủ trong những [[Derby Nam Luân Đôn|trận derby Nam Luân Đôn]].
== Lịch sử ==
Crystal Palace vốn là một đội bóng nghiệp dư được thành lập vào năm [[1861]] và là một trong những CLB đầu tiên thi đấu ở [[Cúp FA]],vào được tới bán kết, và bị đánh bại bởi CLB [[Royal Engineers A.F.C.]]. Đội biến mất khỏi [[Cúp FA]] (không được thi đấu) khi để thua [[Wanderers F.C.|Wanderers]] 3-0 ở vòng hai [[Cúp FA]] 1875-1876, nhưng đây không phải là lần cuối Palace chơi ở FA Cup. Năm [[1985]], sân nhà của trận chung kết [[Cúp FA]] là ở The Crystal Palace, các ông chủ đã có ý tưởng để cho đội bóng được chơi ở [[Cúp FA]] một lần nữa.


==Lịch sử==
Ban đầu, biệt danh của CLB là "The Glazier", được đặt vào ngày [[10 tháng 9]] năm [[1905]] theo sự chỉ dẫn của trợ lý thư ký [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] Edmun Goodman. CLB được chơi cho [[Giải bóng đá Hạng nhất Anh|Giải bóng đá hạng nhất Anh]] cùng với [[Chelsea F.C.|Chelsea]] và [[Southampton F.C.|Southampton]]. Đội rớt hạng xuống [[Giải bóng đá Hạng nhì Anh|Giải hạng nhì Anh]] ở mùa 1905-1906, nhưng đã giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên và được thăng hạng trở lại.
{{Main|Lịch sử Crystal Palace F.C.}}
[[File:Crystal Palace General view from Water Temple.jpg|thumb|alt=Ảnh đơn sắc mặt trước của tòa Palace và một phần khuôn viên xung quanh.|Tòa nhà triển lãm [[The Crystal Palace|Crystal Palace]] (1854)]]


===Cung Triển lãm và sân chung kết Cúp FA (1854-1905)===
== Đội hình ==
Năm 1854, tòa nhà triển lãm [[The Crystal Palace|Crystal Palace]] được di dời khỏi [[Hyde Park, Luân Đôn]], rồi được dựng lại tại một khu vực ở Nam Luân Đôn bên cạnh [[Sydenham Hill]]. Khu vực xung quanh sau đó được đổi tên thành [[Crystal Palace, London|Crystal Palace]] và bao gồm [[Crystal Palace Park]], nơi nhiều cơ sở thể thao được xây dựng. Năm 1857, [[Crystal Palace Cricket Club]] được thành lập tại đây và sử dụng [[Crystal Palace Park Cricket Ground|sân cricket]] bên trong công viên. Các thành viên của đội cricket sau đó vận động để duy trì hoạt động thể thao trong mùa đông và lập ra một đội bóng nghiệp dư mang tên [[Crystal Palace F.C. (1861)|Crystal Palace]],<ref>{{Chú thích sách |last1=Sherman |first1=Montagu |title=Athletics and Football |date=1889 |publisher=Longman's Green |page=301}}</ref> đội bóng này trở thành một trong những thành viên sáng lập của [[Football Association]] vào năm 1863.<ref>Bell's Life in London and Sporting Chronicle, 12 December 1863, p. 3</ref> Đội góp mặt ở giải [[Cúp FA]] đầu tiên trong [[Cúp FA 1871-72|mùa giải 1871-72]], vào tới vòng bán kết<ref>Bell's Life in London and Sporting Chronicle, 24 February 1872, p. 5</ref> và tiếp tục thi đấu ở Cúp FA trong bốn mùa giải tiếp theo, nhưng sau đó biến mất khỏi các ghi chép lịch sử vào khoảng tháng 12 năm 1875.<ref>Palace at the Palace. Peter Manning 2018</ref>
=== Đội hình hiện tại ===

<!----------------------------- READ THIS NOTICE FIRST BEFORE EDITING ----------------------------------
Năm 1895, Football Association tìm được một địa điểm cố định mới để tổ chức [[Cúp FA final]] tại [[Crystal Palace National Sports Centre#FA Cup Finals (1895-1914)|sân vận động thể thao]] nằm trong khuôn viên khu triển lãm. Vài năm sau, Crystal Palace Company, đơn vị sở hữu tòa Palace và phần đất xung quanh, vốn phụ thuộc vào hoạt động du lịch để có doanh thu, bắt đầu tìm kiếm những sức hút mới cho địa điểm này và quyết định thành lập một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp mới để thi đấu tại sân vận động đó.<ref>Matthews, p.&nbsp;11-13</ref> Các ông chủ muốn có một đội bóng chơi tại đây để khai thác tiềm năng khán giả rất lớn của khu vực.
– Do NOT add new players before their signing is officially announced by the club through the Crystal Palace F.C. website, including medical and signing the contract.
[[File:CrystalPalace1905.jpg|thumb|right|[[Chung kết Cúp FA 1905|Trận chung kết Cúp FA 1905]] tại Sân vận động Crystal Palace.]]
------------------------------------------------------------------------------------------------------>

{{updated|ngày 2 tháng 2 năm 2026|<ref>{{chú thích web|url=https://www.cpfc.co.uk/teams/first-team/|title=First-Team Squad|publisher=Crystal Palace Football Club}}</ref><ref>{{chú thích web |title=Palace confirm 22/23 squad numbers - with Doucouré, Richards, Ebiowei and Johnstone - News |url=https://www.cpfc.co.uk/news/club/crystal-palace-release-2022-23-premier-league-squad-and-shirt-numbers/2022-08-02/ |access-date=2 August 2022 |website=Crystal Palace F.C. |language=en-GB}}</ref>}}
===Sự ra đời của câu lạc bộ chuyên nghiệp và Southern League (1905-1920)===
Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Crystal Palace được thành lập vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 dưới sự dẫn dắt của trợ lí thư kí [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] là [[Edmund Goodman]],<ref name="Business: Club History" /> người sau này trở thành huấn luyện viên tại vị lâu nhất trong lịch sử Palace. Câu lạc bộ nộp đơn xin gia nhập [[English Football League|Football League]] nhưng bị từ chối, và thay vào đó phải bắt đầu ở [[Southern Football League|Southern League]] Second Division trong [[Southern Football League 1905-06|mùa giải 1905-06]]. Palace đã thành công ngay ở chiến dịch đầu tiên, giành quyền thăng hạng lên Southern League First Division sau khi đăng quang ngôi vô địch.<ref name="Business: Club History" /> Đội cũng thi đấu tại [[United League (bóng đá)|United League]] vào giữa tuần và kết thúc với vị trí á quân sau [[Watford F.C.|Watford]], và chính ở giải đấu này câu lạc bộ đã chơi trận đầu tiên, giành chiến thắng 3-0 trên sân khách trước [[New Brompton F.C.|New Brompton]].<ref name="Business: Club History" /><ref>King, p. 10</ref>
[[File:Crystal palace fc 1905-06.jpg|thumb|Đội hình Crystal Palace F.C. (1905-06).]]

Năm 1907, trong một [[Newcastle United F.C. 0-1 Crystal Palace F.C. (1907)|chiến thắng gây sốc ở vòng Một]], Crystal Palace đánh bại [[Newcastle United F.C.|Newcastle United]] 1-0 tại Cúp FA.<ref name="TOON" /><ref name="GK" /> Hai năm sau, vào năm 1909, một cú sốc còn lớn hơn đã xảy ra khi Palace đánh bại đương kim vô địch Cúp FA là [[Wolverhampton Wanderers|Wolves]] ở vòng Một của giải đấu năm đó, trở thành đội ngoài hệ thống giải vô địch đầu tiên loại nhà vô địch đang giữ cúp.<ref name="grauniad">{{Chú thích web |title=The Joy of Six: FA Cup holders falling at the first hurdle |url=https://www.theguardian.com/sport/blog/2012/jan/06/joy-of-six-fa-cup |publisher=The Guardian |access-date=10 tháng 1 năm 2026 |date=6 tháng 1 năm 2012}}</ref> Câu lạc bộ tiếp tục thi đấu tại Southern League cho tới năm 1914, khi [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] bùng nổ khiến [[British Admiralty|Bộ Hải quân Anh]] trưng dụng Crystal Palace cùng khu đất xung quanh, buộc câu lạc bộ phải rời đi. Đội chuyển sang sân nhà của [[West Norwood F.C.|West Norwood]] gần đó tại [[Herne Hill Velodrome]]. Ba năm sau, họ lại chuyển tới [[Croydon Common Athletic Ground|the Nest]] sau sự tan rã của [[Croydon Common F.C.|Croydon Common]].

====Vụ đánh bom trận chung kết Cúp FA 1913====
Sân Crystal Palace gần như đã bị phá hủy trong một âm mưu đánh bom [[khủng bố]] nhằm vào [[Chung kết Cúp FA 1913|trận chung kết Cúp FA 1913]], khi các [[suffragette]] thuộc [[Women's Social and Political Union]] lên kế hoạch cho nổ tung các khán đài.<ref name="Kay" /><ref name="PaulaBartley" /> Đây là một phần của [[chiến dịch đánh bom và phóng hỏa của phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ]], trong đó các suffragette tiến hành một loạt vụ đánh bom và đốt phá mang động cơ chính trị trên khắp cả nước, như một phần của chiến dịch đòi [[quyền bầu cử cho phụ nữ]].<ref>{{Chú thích web |title=Suffragettes, violence and militancy |url=https://www.bl.uk/votes-for-women/articles/suffragettes-violence-and-militancy |publisher=British Library |access-date=14 tháng 10 năm 2021 |date=2018 |archive-date=10 tháng 9 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210910203912/https://www.bl.uk/votes-for-women/articles/suffragettes-violence-and-militancy }}</ref>

===Gia nhập Football League (1920-1958)===
Câu lạc bộ trở thành một trong những thành viên sáng lập của [[Football League Third Division]] mới ở [[Football League 1920-21|mùa giải 1920-21]], kết thúc mùa giải với ngôi vô địch và giành quyền thăng hạng lên [[Football League Second Division|Second Division]]. Thành tích đó giúp họ gia nhập nhóm [[Preston North End F.C.|Preston North End]], [[Birmingham City F.C.|Small Heath]], [[Liverpool F.C.|Liverpool]] và [[Bury F.C.|Bury]] với tư cách những câu lạc bộ duy nhất vào thời điểm đó vô địch giải đấu ngay trong mùa giải đầu tiên góp mặt tại hệ thống giải vô địch.<ref>King, pp.&nbsp;15-19</ref> Palace sau đó chuyển tới sân vận động mới là [[Selhurst Park]] vào năm 1924, nơi câu lạc bộ vẫn thi đấu các trận sân nhà cho tới ngày nay.<ref>King, pp.&nbsp;15-19</ref>

Trận đấu khai trương tại Selhurst Park là cuộc chạm trán với [[Sheffield Wednesday F.C.|The Wednesday]], và Palace thua 0-1 trước 25.000 khán giả. Kết thúc ở vị trí thứ 21, câu lạc bộ bị xuống hạng xuống [[Football League Third Division South|Third Division South]]. Trước [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], Palace đã có những nỗ lực đáng kể trong cuộc đua thăng hạng, phần lớn đều kết thúc ở nửa trên bảng xếp hạng và có ba lần đứng á quân. Trong những năm chiến tranh, Football League bị đình chỉ, và câu lạc bộ giành được hai chức vô địch [[Wartime League]]. Sau chiến tranh, Palace kém thành công hơn ở giải vô địch, với vị trí cao nhất chỉ là hạng bảy, và ngược lại, có ba lần đội phải xin [[Re-election (Football League)|tái bầu chọn]].

===Chuyến thăm lịch sử của Real Madrid và thăng hạng lên hạng đấu cao nhất (1958-1973)===
[[File:Di stefano real madrid cf (cropped).png|thumb|left|[[Alfredo Di Stéfano]], người đã ra sân cho Real Madrid trong trận gặp Palace năm 1962. Tờ ''Croydon Advertiser'' viết rằng “pha bóng dẫn tới bàn thứ tư của Madrid được thực hiện nhẹ nhàng đến mức tưởng như chỉ đang đi bộ”.<ref>{{Chú thích báo|last=Matthews|first=John|title=Nearly 25, 000 See Real Dazzle, But Palace Fight Back|newspaper=Croydon Advertiser|date=20 April 1962|page=24}}</ref> ]]
Câu lạc bộ ở lại Third Division South cho tới hết [[Bóng đá Anh mùa giải 1957-58|mùa giải 1957-58]], thời điểm Football League được tái cấu trúc với việc các câu lạc bộ ở nửa dưới của Third Division South sáp nhập với các câu lạc bộ ở nửa dưới của Third Division North để tạo thành [[Football League Fourth Division|Fourth Division]] mới. Palace kết thúc ở vị trí thứ 14, ngay dưới vạch phân chia, và bị đẩy xuống đáy của bóng đá Anh. Tuy nhiên, quãng thời gian ở đó chỉ kéo dài ngắn ngủi. Chủ tịch Palace là [[Arthur Wait]] bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của [[Tottenham Hotspur F.C.|Tottenham]] là [[Arthur Rowe (cầu thủ bóng đá)|Arthur Rowe]] vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1959-60|mùa giải 1959-60]], và phong cách bóng đá đầy hứng khởi của ông mang lại niềm vui lớn cho cổ động viên Palace. Mùa giải tiếp theo chứng kiến Palace giành quyền thăng hạng, đồng thời tạo nên một dấu ấn vào tháng 4 năm 1962 khi chạm trán đội [[Real Madrid C.F.|Real Madrid]] vĩ đại của thời kì đó trong một trận giao hữu lịch sử. Đây là lần đầu tiên đội bóng khổng lồ Tây Ban Nha thi đấu một trận tại Luân Đôn, và chỉ diễn ra hai tuần trước khi họ gặp [[S.L. Benfica|Benfica]] ở [[Chung kết Cúp C1 châu Âu 1962|chung kết Cúp C1 châu Âu]]. Một đội hình Real Madrid mạnh nhất đã đánh bại Palace với tỉ số 4-3. Dù Rowe từ chức vì lí do sức khỏe vào cuối năm 1962, câu lạc bộ vẫn giữ được đà tiến bộ. [[Dick Graham]] rồi sau đó là [[Bert Head]] đã dẫn dắt Palace tới hai lần thăng hạng liên tiếp trong các [[Bóng đá Anh mùa giải 1963-64|mùa giải 1963-64]] và [[Bóng đá Anh mùa giải 1968-69|1968-69]], đưa câu lạc bộ đi xuyên qua Second Division để lên tới [[Football League First Division|First Division]].<ref>King, pp.&nbsp;32-7</ref>

Quãng thời gian đầu tiên của Palace ở hạng đấu cao nhất bóng đá Anh kéo dài từ năm 1969 tới năm 1973, và đội đã tạo ra một số kết quả đáng nhớ, trong đó nổi bật nhất có lẽ là chiến thắng 5-0 trên sân nhà trước [[Manchester United F.C.|Manchester United]] ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1972-73|mùa giải 1972-73]]. Arthur Wait từ chức chủ tịch trong mùa giải đó và được thay bằng Raymond Bloye, người đã bổ nhiệm [[Malcolm Allison]] làm huấn luyện viên vào tháng 3 năm 1973, còn Bert Head chuyển lên làm tổng giám đốc. Đáng tiếc, sự thay đổi trên băng ghế huấn luyện đến quá muộn để cứu câu lạc bộ khỏi việc bị xuống hạng trở lại Second Division.

===Lên xuống giữa các hạng đấu (1973-1984)===
Sau nỗi thất vọng vì bị rớt khỏi hạng đấu cao nhất, mùa giải tiếp theo thậm chí còn tệ hơn đối với câu lạc bộ. Dưới sự dẫn dắt của Allison, Palace phải chịu cảnh xuống hạng lần thứ hai liên tiếp, và trở lại Division Three ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1974-75|mùa giải 1974-75]]. Chính dưới thời Allison, câu lạc bộ đổi biệt danh từ “The Glaziers” thành “The Eagles”, đồng thời chấm dứt sự gắn bó với màu trang phục claret và xanh để chuyển sang kiểu sọc dọc đỏ và xanh vẫn được dùng cho tới ngày nay. Palace vào tới bán kết [[Cúp FA 1975-76]], vượt qua [[Leeds United F.C.|Leeds]] và [[Chelsea F.C.|Chelsea]] trên đường đi, nhưng thua 0-2 trước nhà vô địch sau cùng là [[Southampton F.C.|Southampton]] tại bán kết trên sân [[Stamford Bridge (sân vận động)|Stamford Bridge]]. Allison từ chức sau khi [[Bóng đá Anh mùa giải 1975-76|mùa giải 1975-76]] khép lại vì không thể đưa câu lạc bộ thoát khỏi hạng Ba, và dưới sự dẫn dắt của [[Terry Venables]], Palace trở lại hạng đấu cao nhất nhờ các lần thăng hạng trong [[Bóng đá Anh mùa giải 1976-77|mùa giải 1976-77]] và [[Bóng đá Anh mùa giải 1978-79|mùa giải 1978-79]]; ở mùa giải sau, câu lạc bộ còn đăng quang ngôi vô địch Division Two.

Đội hình năm 1979 ấy được truyền thông đặt cho biệt danh “''Team of the Eighties''”, bởi đội sở hữu hàng loạt cầu thủ trẻ tài năng trưởng thành từ đội trẻ từng vô địch [[FA Youth Cup]] các mùa giải 1976-77 và 1977-78, và họ thậm chí từng đứng đầu toàn bộ Football League trong giai đoạn đầu của [[Bóng đá Anh mùa giải 1979-80|mùa giải 1979-80]]. Tuy nhiên, những khó khăn tài chính mà câu lạc bộ phải gánh chịu đã dẫn tới sự tan rã của nhóm cầu thủ này. Cuối cùng, điều đó khiến Palace không thể duy trì vị thế tại hạng đấu cao nhất. Palace xuống hạng khỏi First Division ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1980-81|mùa giải 1980-81]], trùng với thời điểm [[Ron Noades]] tiếp quản câu lạc bộ. Đội chật vật ở hạng Hai, và Noades thậm chí còn bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của [[Brighton & Hove Albion F.C.|Brighton]] là [[Alan Mullery]], một quyết định rất không được lòng người hâm mộ Palace.

===Những năm tháng của Steve Coppell (1984-1993)===
Ngày 4 tháng 6 năm 1984, cựu cầu thủ của Manchester United và [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh|đội tuyển Anh]] là [[Steve Coppell]], người mới giải nghệ vì chấn thương không lâu trước đó, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Palace. Coppell đã từng bước xây dựng lại câu lạc bộ trong những năm sau đó, và kết quả là Đại bàng giành quyền thăng hạng trở lại First Division thông qua [[Play-off English Football League|play-off]] ở [[Play-off Football League 1989#Second Division|mùa giải 1988-89]]. Palace tiếp nối thành công đó bằng việc vào tới [[Chung kết Cúp FA 1990|chung kết Cúp FA 1990]], hòa 3-3 với Manchester United sau [[Extra time (cầu thủ bóng đá)|hiệp phụ]] ở trận đầu tiên, nhưng thua 0-1 trong trận đá lại. Câu lạc bộ tiếp tục xây dựng trên nền tảng thành công ấy, và chiến dịch [[Football League 1990-91|1990-91]] chứng kiến Palace cạnh tranh với [[Arsenal F.C.|Arsenal]] và Liverpool cho [[Danh sách nhà vô địch bóng đá Anh|chức vô địch Anh]], trước khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch cho tới nay. Palace lỡ suất dự cúp châu Âu vào cuối mùa giải ấy, một phần vì lệnh cấm của [[UEFA]] đối với các câu lạc bộ Anh sau [[Heysel Stadium disaster|thảm họa Heysel]]. Dù tới lúc đó lệnh cấm đã được dỡ bỏ, điều này khiến nước Anh không có thứ hạng trong bảng [[hệ số UEFA]] dùng cho mùa giải đó,<ref>{{Chú thích web|url=https://kassiesa.home.xs4all.nl/bert/uefa/data/method1/crank1990.html|title=UEFA Country Ranking 1990|date=22 April 2020|access-date=22 April 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20180816124445/https://kassiesa.home.xs4all.nl/bert/uefa/data/method1/crank1990.html|archive-date=16 tháng 8 năm 2018}}</ref> và điều đó dẫn tới việc hạng đấu cao nhất của Anh chỉ được trao đúng một suất dự [[Cúp UEFA 1991-92|Cúp UEFA]], suất này thuộc về á quân Liverpool. Câu lạc bộ cũng trở lại [[Wembley Stadium (1923)|Wembley]] và vô địch [[Full Members Cup]], đánh bại [[Everton F.C.|Everton]] 4-1 sau hiệp phụ trong [[Chung kết Full Members' Cup 1991|trận chung kết]]. Trong mùa giải kế tiếp, chân sút ngôi sao [[Ian Wright]] rời câu lạc bộ để gia nhập Arsenal. Palace kết thúc ở vị trí thứ 10 và trở thành một thành viên sáng lập của [[Premier League]] mới trong [[FA Premier League 1992-93|mùa giải 1992-93]].<ref>King, p.&nbsp;39-48</ref>

[[File:Selhurst Park Holmesdale Stand.jpg|thumb|alt=Ảnh chụp một khán đài sát bên đường.|Khán đài Holmesdale Road tại [[Selhurst Park]], được xây dựng trong mùa giải 1994-95.]]
Sau đó, Palace bán luôn chân sút chủ lực còn lại là [[Mark Bright]] cho Sheffield Wednesday và gặp khó khăn trong khâu ghi bàn suốt mùa giải tiếp theo, mùa giải kết thúc bằng việc câu lạc bộ xuống hạng (thua [[Oldham Athletic F.C.|Oldham Athletic]] ở suất an toàn cuối cùng do kém hiệu số bàn thắng bại: Oldham là -11, còn Palace là -13). Đại bàng cũng kết thúc mùa giải với 49 điểm, lập nên một kỉ lục Premier League vẫn còn tồn tại tới nay, về số điểm cao nhất của một đội bị xuống hạng. Coppell từ chức, và trợ lí của ông tại câu lạc bộ là [[Alan Smith (manager)|Alan Smith]] lên thay.
===Những năm lên xuống (1993-1998)===
Mùa giải đầu tiên của Alan Smith trên cương vị huấn luyện viên chứng kiến Palace vô địch First Division và giành quyền thăng hạng trở lại Premier League.<ref>King, p. 48</ref> Tuy nhiên, lần trụ lại này của đội vừa nhiều biến cố vừa đầy tranh cãi. Ngày 25 tháng 1 năm 1995, Palace tiếp Manchester United tại Selhurst Park, trong trận đấu mà tiền đạo [[Eric Cantona]] của đội khách bị truất quyền thi đấu. Anh bị cổ động viên Palace là Matthew Simmons chế giễu,<ref>{{Chú thích báo|title=The Cantona affair: Palace offer Frenchman no sympathy |first=Martin |last=Whitfield |url=https://www.independent.co.uk/sport/the-cantona-affair-palace-offer-frenchman-no-sympathy-1570043.html |work=The Independent |date=27 tháng 1 năm 1995 |access-date=29 May 2013 |archive-date=25 tháng 9 năm 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150925233726/http://www.independent.co.uk/sport/the-cantona-affair-palace-offer-frenchman-no-sympathy-1570043.html }}</ref> và đáp trả bằng một cú tung người đá thẳng vào khán đài.<ref>{{Chú thích báo|title=Soccer star attacks a fan|url=https://news.google.com/newspapers?id=DUNWAAAAIBAJ&dq=crystal%20palace&pg=1390%2C6363284|date=27 tháng 1 năm 1995|agency=The Associated Press|newspaper=The Gainesville Sun|access-date=29 May 2013}}</ref> Cantona bị tuyên án hai tuần tù giam,<ref>{{Chú thích báo|title=Jail term may make Cantona quit UK |url=https://www.independent.co.uk/news/jail-term-may-make-cantona-quit-uk-1612464.html |first=Steve |last=Boggan |date=24 March 1995 |access-date=29 May 2013 |work=The Independent |archive-date=12 May 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140512233121/http://www.independent.co.uk/news/jail-term-may-make-cantona-quit-uk-1612464.html }}</ref> nhưng sau đó được giảm xuống còn 120 giờ [[community service|lao động công ích]] sau khi kháng cáo. Simmons lập tức bị cấm vào Selhurst Park<ref name="Attack on fan new low for soccer" /> và sau này còn bị kết tội ở hai cáo buộc đe dọa Cantona.<ref>{{Chú thích báo|title=Soccer fan goes ballistic after guilty verdict|url=https://news.google.com/newspapers?id=EsQfAAAAIBAJ&dq=crystal%20palace%20soccer&pg=2502%2C313986|newspaper=Southeast Missourian|date=2 tháng 5 năm 1996|access-date=29 May 2013|agency=Associated Press}}</ref> Chưa dừng lại ở đó, vào tháng 3, tiền đạo [[Chris Armstrong (footballer born 1971)|Chris Armstrong]] của Palace bị FA đình chỉ vì không vượt qua một cuộc kiểm tra chất cấm.<ref>{{Chú thích báo|title=The FA has suspended Chris Armstrong of Crystal Palace for smoking a private spliff. Our football correspondent calls for a sense of proportion |first=Glenn |last=Moore |date=7 March 1995 |work=The Independent |access-date=29 May 2013 |url=https://www.independent.co.uk/life-style/the-fa-has-suspended-chris-armstrong-of-crystal-palace-for-smoking-a-private-spliff-our-football-correspondent-calls-for-a-sense-of-proportion-1610241.html |archive-date=16 December 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131216212254/http://www.independent.co.uk/life-style/the-fa-has-suspended-chris-armstrong-of-crystal-palace-for-smoking-a-private-spliff-our-football-correspondent-calls-for-a-sense-of-proportion-1610241.html }}</ref> Trên sân cỏ, Smith đưa câu lạc bộ vào tới bán kết cả Cúp FA lẫn [[EFL Cup|League Cup]], nhưng phong độ tại giải vô địch lại thiếu ổn định, và Palace một lần nữa phải xuống hạng, kết thúc ở vị trí thứ tư từ dưới lên trong bối cảnh Premier League được thu gọn từ 22 xuống còn 20 câu lạc bộ.<ref>King, p. 50</ref>

Smith rời câu lạc bộ và Steve Coppell trở lại trong vai trò giám đốc kĩ thuật vào mùa hè năm 1995. Nhờ sự kết hợp giữa công việc huấn luyện đội một của [[Ray Lewington]] và sau đó là nhiệm kì huấn luyện viên của [[Dave Bassett]], Palace vào tới loạt play-off. Tuy nhiên, họ thua [[Chung kết play-off Football League First Division 1996|trận chung kết play-off First Division 1996]] theo cách đầy kịch tính, khi [[Steve Claridge]] ghi bàn ở phút cuối của hiệp phụ để mang về chiến thắng 2-1 cho [[Leicester City F.C.|Leicester City]]. Mùa giải tiếp theo, Coppell trực tiếp nắm đội một sau khi Bassett rời đi để dẫn dắt [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]] vào đầu năm 1997.<ref>{{Chú thích báo|title=Bassett quits Palace and joins Forest|agency=Reuters|work=The Nation|location=Bangkok|publisher=Nation Multimedia Group|date=1 March 1997|access-date=1 tháng 8 năm 2012|url=https://news.google.com/newspapers?id=dKZNAAAAIBAJ&dq=bassett%20nottingham%20forest%20manager&pg=6362%2C145781}}</ref> Câu lạc bộ vào tới loạt play-off năm thứ hai liên tiếp, và lần này giành quyền thăng hạng trở lại Premier League sau khi đánh bại [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]] 1-0 trong [[1997 Football League First Division play-off final|trận chung kết]] tại Wembley.<ref>King, pp.&nbsp;51-2</ref>

Chiến dịch thứ ba của câu lạc bộ tại Premier League cũng không thành công hơn hai lần trước, và đúng với bản chất của một [[yo-yo club]], Palace lại tiếp tục xuống hạng trở lại First Division vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1997-98|mùa giải 1997-98]]. Câu lạc bộ cũng có một ông chủ mới khi trùm tuyển dụng [[Mark Goldberg ((huấn luyện viên bóng đá))|Mark Goldberg]] hoàn tất việc tiếp quản vào tháng 6 năm 1998.<ref>Dyer, Ken. "Goldberg Finally Seals Palace Deal." Evening Standard: 71. 5 tháng 6 năm 1998. ProQuest. Web. 30 May 2013.</ref>

===Khủng hoảng tài chính và phục hồi (1998-2013)===
Terry Venables trở lại Palace trong nhiệm kì thứ hai sau khi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng, và câu lạc bộ còn góp mặt ở đấu trường châu Âu trong mùa hè ấy khi thi đấu tại [[UEFA Intertoto Cup]]. Tuy nhiên, Palace sau đó rơi vào quản lí tài sản vào năm 1999, khi ông chủ Mark Goldberg không còn đủ khả năng duy trì nguồn hỗ trợ tài chính cho câu lạc bộ.<ref name="BBC289590" /> Venables rời đi và Steve Coppell lại tiếp quản ghế huấn luyện viên. Câu lạc bộ thoát khỏi tình trạng quản lí tài sản dưới quyền sở hữu của [[Simon Jordan]], và Coppell được thay bằng Alan Smith trong nhiệm kì thứ hai của ông. Palace suýt rơi xuống hạng Ba ngay trong mùa giải đầu tiên của Jordan, [[Bóng đá Anh mùa giải 2000-01|mùa giải 2000-01]]. Smith bị sa thải vào tháng 4, và huấn luyện viên lâu năm [[Steve Kember]] được giao nắm đội tạm quyền. Ông đã thắng cả hai trận còn lại để bảo đảm suất trụ hạng cho Palace, trong đó [[Dougie Freedman]] ghi bàn quyết định ở phút 87 trong ngày cuối mùa giải, mang về chiến thắng 1-0 trước [[Stockport County F.C.|Stockport County]]. Cựu đội trưởng của Manchester United là [[Steve Bruce]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức mới cho [[Bóng đá Anh mùa giải 2001-02|mùa giải 2001-02]].<ref>{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/2001/may/31/newsstory.sport3?INTCMP=SRCH |title=Bruce confirmed as Palace manager |work=[[The Guardian]] |date=31 May 2001 |access-date=31 May 2013 |last=Rookwood |first=Dan |archive-date=6 May 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140506233112/http://www.guardian.co.uk/football/2001/may/31/newsstory.sport3?INTCMP=SRCH }}</ref> Sau khởi đầu đầy hứa hẹn của chiến dịch mới, mang lại hi vọng về một cuộc đua thăng hạng, Bruce lại tìm cách rời câu lạc bộ chỉ sau bốn tháng cầm quân בעקבות lời mời từ [[Birmingham City F.C.|Birmingham City]] cho vị trí huấn luyện viên trưởng mới của họ.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/football/2001/nov/03/newsstory.sport3?INTCMP=SRCH |title=Palace farce as Bruce awaits escape to Blues |work=[[The Guardian]] |date=3 tháng 11 năm 2001 |access-date=31 May 2013 |last=Fifield |first=Dominic |archive-date=7 May 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140507000104/http://www.guardian.co.uk/football/2001/nov/03/newsstory.sport3?INTCMP=SRCH }}</ref><ref>Stewart, Colin. "[http://www.scotsman.com/sport/football/top-football-stories/bruce-left-in-limbo-as-palace-turn-down-resignation-1-584966 Bruce Left in Limbo as Palace Turn Down Resignation]." The Scotsman: 3. 3 tháng 11 năm 2001. ProQuest. Web. 31 May 2013. [https://archive.today/20130629100410/http://www.scotsman.com/sport/football/top-football-stories/bruce-left-in-limbo-as-palace-turn-down-resignation-1-584966 Archived] on 3 tháng 6 năm 2013.</ref> Palace cho Bruce [[Garden leave|nghỉ chờ việc có hưởng lương]],<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/manchester-united/3016698/Palace-stand-firm-over-Bruce-dispute.html |title=Palace stand firm over Bruce dispute |work=[[The Daily Telegraph|The Telegraph]] |date=12 tháng 11 năm 2001 |access-date=31 May 2013 |last=Johnson |first=William |archive-date=5 tháng 6 năm 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140605223220/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/manchester-united/3016698/Palace-stand-firm-over-Bruce-dispute.html }}</ref> nhưng cuối cùng vẫn cho phép ông chuyển sang Birmingham.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.theguardian.com/football/2001/dec/12/newsstory.sport2?INTCMP=SRCH |title=Bruce finally joins the Blues |work=[[The Guardian]] |date=12 December 2001 |access-date=31 May 2013 |archive-date=6 May 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140506235020/http://www.guardian.co.uk/football/2001/dec/12/newsstory.sport2?INTCMP=SRCH }}</ref> Người kế nhiệm Bruce là [[Trevor Francis]], người trước đó từng bị chính Bruce thay thế ở câu lạc bộ vùng West Midlands này.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/2001/nov/30/newsstory.sport5?INTCMP=SRCH |title=Palace name Francis as manager |work=[[The Guardian]] |date=30 tháng 11 năm 2001 |access-date=31 May 2013 |last=Rookwood |first=Dan |archive-date=7 May 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140507000107/http://www.guardian.co.uk/football/2001/nov/30/newsstory.sport5?INTCMP=SRCH }}</ref>

Dưới thời Francis, Palace kết thúc ở nhóm giữa bảng trong hai mùa giải liên tiếp, nhưng sau đó ông bị sa thải,<ref>{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/2003/apr/19/newsstory.sport4?INTCMP=SRCH |title=Francis sacked for failing to decorate Jordan's Palace |work=[[The Guardian]] |date=19 April 2003 |access-date=31 May 2013 |last=Fifield |first=Dominic |archive-date=25 tháng 10 năm 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20141025193651/http://www.guardian.co.uk/football/2003/apr/19/newsstory.sport4?INTCMP=SRCH }}</ref> và được thay bằng Steve Kember, người chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng.<ref>Bright, Richard. "Palace Turn to Kember as Manager." The Daily Telegraph: 05. 24 May 2003. ProQuest. Web. 31 May 2013</ref> Câu lạc bộ thắng ba trận mở màn của [[Bóng đá Anh mùa giải 2003-04|mùa giải 2003-04]] dưới thời Kember, qua đó leo lên dẫn đầu bảng xếp hạng, nhưng ông bị sa thải vào tháng 11 sau chuỗi kết quả tệ hại khiến Palace tụt xuống gần khu vực xuống hạng.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/2424589/Kember-sacked-by-Palace.html |title=Kember sacked by Palace |work=[[The Daily Telegraph|The Telegraph]] |date=4 tháng 11 năm 2003 |access-date=31 May 2013 |last=Ley |first=John |archive-date=26 tháng 9 năm 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150926001051/http://www.telegraph.co.uk/sport/2424589/Kember-sacked-by-Palace.html }}</ref> Cựu tiền đạo Palace là [[Iain Dowie]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên và đã đưa đội vào tới [[2004 Football League First Division play-off final|trận chung kết play-off]], giành quyền thăng hạng nhờ chiến thắng 1-0 trước [[West Ham United F.C.|West Ham]]. Tuy nhiên, một lần nữa Palace không thể giữ được vị trí của mình ở hạng đấu cao nhất và phải xuống hạng ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải tiếp theo, sau trận hòa trên sân đối thủ địa phương [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]].

[[File:Palace fans protest outside Lloyds HQ in London.JPG|thumb|alt=Một đám đông người cùng một xe cảnh sát đứng bên ngoài một tòa nhà.|Cổ động viên Crystal Palace biểu tình — và lo lắng chờ đợi tin tức — bên ngoài trụ sở [[Lloyds Banking Group|Lloyds HQ]] tại Luân Đôn ngày 1 tháng 6 năm 2010.]]
Sau lần xuống hạng đó, Simon Jordan không thể đưa câu lạc bộ vào trạng thái tài chính ổn định trong những năm tiếp theo, và vào tháng 1 năm 2010, Palace một lần nữa bị đưa vào diện quản lí tài sản, lần này là do một chủ nợ yêu cầu.<ref>{{Chú thích báo|title=Championship side Crystal Palace go into administration|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/c/crystal_palace/8481549.stm|work=BBC Sport|date=27 tháng 1 năm 2010|access-date=1 tháng 8 năm 2012|archive-url=https://web.archive.org/web/20120315091032/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/c/crystal_palace/8481549.stm|archive-date=15 tháng 3 năm 2012|url-status=live}}</ref> Do các quy định của Football League, câu lạc bộ bị trừ mười điểm,<ref>{{Chú thích báo|title=Crystal Palace deducted 10 points|work=BBC Sport|date=28 tháng 1 năm 2010|access-date=1 tháng 8 năm 2012|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/c/crystal_palace/8484824.stm|archive-url=https://web.archive.org/web/20160113005218/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/c/crystal_palace/8484824.stm|archive-date=13 tháng 1 năm 2016|url-status=live}}</ref> và đơn vị quản lí tài sản P&A Partnership buộc phải bán đi những cầu thủ quan trọng như [[Victor Moses]] và [[José Fonte]]. Huấn luyện viên của Palace khi đó là [[Neil Warnock]] cũng rời câu lạc bộ trong tháng 3. Ông được bổ nhiệm vào mùa thu năm 2007 để thay thế cựu thần tượng của người hâm mộ là [[Peter Taylor (footballer born 1953)|Peter Taylor]], người chỉ có một giai đoạn ngắn dẫn dắt đội. [[Paul Hart]] tiếp quản với tư cách huấn luyện viên tạm quyền trong những tuần cuối mùa giải, và suất trụ hạng tại [[EFL Championship|Championship]] chỉ được bảo đảm ở vòng cuối cùng sau trận hòa đáng nhớ 2-2 trên sân Sheffield Wednesday, kết quả đồng thời khiến chính Wednesday xuống hạng.<ref>{{Chú thích báo|title=Sheff Wed 2-2 Crystal Palace|date=2 May 2010|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_div_1/8646785.stm|access-date=1 tháng 8 năm 2012|work=BBC Sport|first=Paul|last=Fletcher|archive-url=https://web.archive.org/web/20160113005219/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/eng_div_1/8646785.stm|archive-date=13 tháng 1 năm 2016|url-status=live}}</ref>

Khi mùa giải khép lại, một tập đoàn gồm nhiều cổ động viên giàu có mang tên CPFC 2010 đã đàm phán thành công để mua lại câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích báo|last=Scott |first=Matt |title=Crystal Palace saved from liquidation by CPFC 2010 |url=https://www.theguardian.com/football/2010/jun/01/crystal-palace-saved-liquidation-cpfc-2010 |access-date=31 May 2013 |newspaper=The Guardian |date=1 tháng 6 năm 2010 |archive-date=4 tháng 6 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100604055631/http://www.guardian.co.uk/football/2010/jun/01/crystal-palace-saved-liquidation-cpfc-2010 }}</ref> Nhóm này do [[Steve Parish (businessman)|Steve Parish]] dẫn đầu, với vai trò là gương mặt đại diện nổi bật của nhóm bốn người còn có Stephen Browett, [[Jeremy Hosking]] và [[Martin Long (businessman)|Martin Long]]. Điều quan trọng hơn, tập đoàn này còn bảo đảm được quyền sở hữu đất của Selhurst Park và ghi nhận công lao của chiến dịch do cổ động viên phát động, vốn đã tạo áp lực để [[Lloyds Banking Group|Lloyds Bank]] bán lại sân cho câu lạc bộ.<ref name="theguardian.com" />

Các ông chủ mới nhanh chóng bổ nhiệm [[George Burley]] làm huấn luyện viên của Palace.<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/c/crystal_palace/8745764.stm|title=Crystal Palace appoint George Burley as new boss|work=BBC Sport|date=17 tháng 6 năm 2010|access-date=21 tháng 8 năm 2010|archive-url=https://web.archive.org/web/20160113005219/http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/c/crystal_palace/8745764.stm|archive-date=13 tháng 1 năm 2016|url-status=live}}</ref> Tuy nhiên, khởi đầu tệ hại của mùa giải tiếp theo khiến câu lạc bộ lơ lửng gần cuối bảng vào tháng 12. Ngày 1 tháng 1 năm 2011, sau thất bại 0-3 trước [[Millwall F.C.|Millwall]], Burley bị sa thải và trợ lí của ông là Dougie Freedman được giao nắm đội tạm quyền. Chỉ hơn một tuần sau, Freedman được bổ nhiệm chính thức làm huấn luyện viên trưởng.<ref>{{Chú thích báo|title=Crystal Palace appoint Dougie Freedman as their new manager|date=11 tháng 1 năm 2011|url=https://www.theguardian.com/football/2011/jan/11/crystal-palace-dougie-freedman-new-manager|newspaper=The Guardian|location=London|access-date=1 tháng 8 năm 2012|archive-url=https://web.archive.org/web/20130921201655/http://www.guardian.co.uk/football/2011/jan/11/crystal-palace-dougie-freedman-new-manager|archive-date=21 tháng 9 năm 2013|url-status=live}}</ref> Palace dần leo lên bảng xếp hạng, và sau khi có trận hòa 1-1 trên sân [[Hull City A.F.C.|Hull City]] vào ngày 30 tháng 4, câu lạc bộ chính thức an toàn khỏi nguy cơ xuống hạng khi mùa giải vẫn còn một trận. Sau một năm rưỡi nữa trên ghế huấn luyện viên, Freedman rời đi để sang dẫn dắt [[Bolton Wanderers F.C.|Bolton Wanderers]] vào ngày 23 tháng 10 năm 2012.<ref>{{Chú thích báo|title=Dougie Freedman confirmed as Bolton boss by Crystal Palace |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/20044214 |publisher=British Broadcasting Corporation |work=BBC Sport |access-date=8 tháng 11 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20121117035838/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/20044214 |archive-date=17 tháng 11 năm 2012 |url-status=live |date=23 tháng 10 năm 2012 }}</ref> Tháng sau đó, ông được thay thế bởi [[Ian Holloway]], người đã đưa câu lạc bộ trở lại Premier League sau tám năm vắng bóng bằng chiến thắng 1-0 trước Watford trong [[2013 Football League Championship play-off final|trận chung kết play-off Championship]] tại [[Wembley Stadium|Wembley mới]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/22592831|title=Crystal Palace 1-0 Watford (aet)|date=27 May 2013|website=BBC Sport}}</ref>

===Khẳng định chỗ đứng tại Premier League, danh hiệu lớn đầu tiên và châu Âu (2013-nay)===
Holloway từ chức vào tháng 10 năm 2013 sau khởi đầu nghèo nàn của mùa giải.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/24643421|title=Ian Holloway: Crystal Palace boss departs Premier League strugglers|work=BBC Sport|access-date=12 tháng 2 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20181020124056/https://www.bbc.co.uk/sport/football/24643421|archive-date=20 tháng 10 năm 2018|url-status=live}}</ref> [[Tony Pulis]] lên thay và giúp câu lạc bộ tránh được việc xuống hạng khỏi Premier League lần đầu tiên, nhờ đó còn giành giải [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2013-14|Huấn luyện viên của mùa giải Premier League 2013-14]], nhưng lại từ chức chỉ hai ngày trước khi chiến dịch kế tiếp khởi tranh. Sau nhiệm kì thứ hai không thành công của Neil Warnock trong nửa đầu [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2014-15|mùa giải 2014-15]], cựu tiền vệ Palace là [[Alan Pardew]] được xác nhận làm huấn luyện viên mới vào tháng 1 năm 2015, và đưa câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ mười, thành tích cao nhất của họ tại Premier League tính tới thời điểm đó.<ref>{{Chú thích báo |last=Burt |first=Jason |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/crystal-palace/11323047/Alan-Pardew-confirmed-as-Crystal-Palace-manager-after-Newcastle-release-him-from-contract.html |title=Alan Pardew confirmed as Crystal Palace manager after Newcastle receive £3.5m compensation |work=The Daily Telegraph |date=3 tháng 1 năm 2015 |access-date=3 tháng 1 năm 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150104025818/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/crystal-palace/11323047/Alan-Pardew-confirmed-as-Crystal-Palace-manager-after-Newcastle-release-him-from-contract.html |archive-date=4 tháng 1 năm 2015 |url-status=live}}</ref> Trong [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2015-16|mùa giải 2015-16]], mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Pardew, Palace vào tới [[Chung kết Cúp FA 2016|chung kết Cúp FA]] đầu tiên sau 26 năm, nơi họ một lần nữa chạm trán Manchester United và thua 1-2 sau hiệp phụ. Tháng 12 năm 2016, sau chuỗi kết quả tệ hại, Pardew bị sa thải và được thay bằng [[Sam Allardyce]], người giữ Palace ở lại Premier League, nhưng bất ngờ từ chức khi [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2016-17|mùa giải 2016-17]] khép lại.<ref>{{Chú thích báo|title=Sam Allardyce resigns as Crystal Palace manager|url=http://www.skysports.com/football/news/11706/10890540/sam-allardyce-resigns-as-crystal-palace-manager|access-date=23 May 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170524075818/http://www.skysports.com/football/news/11706/10890540/sam-allardyce-resigns-as-crystal-palace-manager|archive-date=24 May 2017|url-status=live}}</ref>

Ngày 26 tháng 6 năm 2017, Palace bổ nhiệm [[Frank de Boer]] làm huấn luyện viên ngoại quốc chính thức đầu tiên của mình.<ref>{{Chú thích báo|url=https://uk.reuters.com/article/uk-soccer-england-cry-deboer-idUKKBN19H1HF|title=New boss De Boer aims to make Palace a 'solid Premier League team'|archive-url=https://web.archive.org/web/20170626180034/http://uk.reuters.com/article/uk-soccer-england-cry-deboer-idUKKBN19H1HF|archive-date=26 tháng 6 năm 2017|access-date=25 tháng 8 năm 2017|work=Reuters|date=26 tháng 6 năm 2017}}</ref> Ông bị sa thải chỉ sau 77 ngày cầm quân, khi câu lạc bộ đã thua cả bốn trận đầu tiên tại giải vô địch ở đầu [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2017-18|mùa giải 2017-18]] mà không ghi nổi một bàn nào.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.mirror.co.uk/sport/football/frank-de-boer-sacked-crystal-11145140|title=Frank de Boer sacked by Crystal Palace|newspaper=Daily Mirror|date=11 tháng 9 năm 2017|access-date=3 April 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180514065023/https://www.mirror.co.uk/sport/football/frank-de-boer-sacked-crystal-11145140|archive-date=14 May 2018|url-status=live}}</ref> Ngày hôm sau, 12 tháng 9 năm 2017, cựu huấn luyện viên tuyển Anh [[Roy Hodgson]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ, và ông đã giúp đội kết thúc mùa giải đó ở vị trí thứ mười một, tiếp đó là hạng mười hai trong [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2018-19|mùa giải 2018-19]] và hạng mười bốn ở [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2019-20|mùa giải 2019-20]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.cpfc.co.uk/news/2017/september/roy-hodgson-appointed-palace-manager/|title=Hodgson appointed Palace manager|publisher=Crystal Palace Official Site|date=12 tháng 9 năm 2017|access-date=12 tháng 9 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170914112847/https://www.cpfc.co.uk/news/2017/september/roy-hodgson-appointed-palace-manager/|archive-date=14 tháng 9 năm 2017|url-status=live}}</ref> Ngày 18 tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ thông báo Hodgson sẽ rời đi vào cuối [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2020-21|mùa giải 2020-21]] khi hợp đồng của ông hết hạn, sau khi vừa giúp đội có mùa thứ hai liên tiếp đứng thứ mười bốn.<ref>{{Chú thích web|date=18 May 2021|title=Roy Hodgson to step down as Crystal Palace manager|url=https://www.cpfc.co.uk/news/2021/may/roy-hodgson-to-step-down-as-crystal-palace-manager/|url-status=live|access-date=21 May 2021|website=www.cpfc.co.uk|language=en-gb|archive-url=https://web.archive.org/web/20210518102737/https://www.cpfc.co.uk/news/2021/may/roy-hodgson-to-step-down-as-crystal-palace-manager |archive-date=18 May 2021}}</ref>

[[File:FC Admira Wacker Mödling vs. LASK Linz 2018-08-12 (028).jpg|thumb|upright|[[Oliver Glasner]] đã đưa Palace tới danh hiệu lớn đầu tiên, Cúp FA năm [[Chung kết Cúp FA 2025|2025]], và suất dự cúp châu Âu lần đầu tiên.]]
Ngày 4 tháng 7 năm 2021, Palace bổ nhiệm cựu đội trưởng Arsenal [[Patrick Vieira]] làm huấn luyện viên mới theo hợp đồng ba năm.<ref>{{Chú thích web|title=Patrick Vieira appointed as manager. News|url=https://www.cpfc.co.uk/news/news/patrick-vieira-appointed-as-manager/2021-07-03/|access-date=4 July 2021|website=Crystal Palace F.C.|date=4 July 2021 |language=en-GB}}</ref> Dù đã đưa câu lạc bộ vào một trận bán kết Cúp FA và kết thúc ở vị trí thứ mười hai tại giải vô địch trong [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2021-22|mùa giải 2021-22]], Vieira bị sa thải trong chiến dịch tiếp theo vào ngày 17 tháng 3 năm 2023, sau chuỗi 12 trận không thắng khiến câu lạc bộ chỉ còn hơn nhóm xuống hạng ba điểm.<ref>{{Chú thích web |title=Patrick Vieira: Crystal Palace sack manager after 12-game winless run|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/64972447|publisher=[[BBC Sport]]|date=17 tháng 3 năm 2023|access-date=17 tháng 3 năm 2023}}</ref> Ngày 21 tháng 3, Hodgson được bổ nhiệm trở lại làm huấn luyện viên Palace cho tới hết mùa giải.<ref name="BBC Sport Palace2" /> Ông đưa đội trụ hạng an toàn và kết thúc ở vị trí thứ mười một. Ngày 3 tháng 7, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức lần thứ hai,<ref>{{Chú thích web| url=https://www.cpfc.co.uk/news/announcement/roy-hodgson-appointed-crystal-palace-manager-2023-24-season/ | title=Hodgson appointed manager for 23/24 season - News | date=3 July 2023}}</ref> nhưng rời vị trí này giữa chừng trong [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2023-24|mùa giải 2023-24]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.cpfc.co.uk/news/announcement/club-statement-roy-hodgson/|title=Club Statement: Roy Hodgson|date=19 tháng 2 năm 2024|website=Crystal Palace F.C.}}</ref>

Người thay Hodgson là huấn luyện viên người Áo, cựu thuyền trưởng của [[Eintracht Frankfurt]], [[Oliver Glasner]].<ref>{{Chú thích web|url=https://www.cpfc.co.uk/news/announcement/oliver-glasner-appointed-crystal-palace-manager/|title=Oliver Glasner appointed as Palace manager|website=Crystal Palace F.C.|date=19 tháng 2 năm 2024}}</ref> Dưới thời Glasner, câu lạc bộ có cú nước rút ấn tượng vào cuối mùa giải, thắng sáu trong bảy trận cuối tại giải vô địch, qua đó cân bằng vị trí cao nhất của Palace tại Premier League là hạng mười (từng đạt được vào năm 2015).<ref>{{Chú thích web |url=https://www.cpfc.co.uk/news/club/crystal-palace-six-wins-in-seven-premier-league-games-how-they-did-it/ |title=Seventh heaven: the story of Palace's season-ending surge |publisher=Crystal Palace F.C. |date=22 May 2024 }}</ref> Sau đó, bốn cầu thủ của Palace là [[Eberechi Eze]], [[Marc Guéhi]], [[Dean Henderson]] và [[Adam Wharton]] được triệu tập vào đội tuyển Anh dự [[UEFA Euro 2024|Euro 2024]], nhiều hơn bất cứ câu lạc bộ nào khác đóng góp cho tuyển Anh tại giải đấu này.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.cpfc.co.uk/news/announcement/four-crystal-palace-players-england-euro-2024-squad-eze-guehi-henderson-wharton/ |title=Four Palace stars named in England Euros squad |publisher=Crystal Palace F.C. |date=6 tháng 6 năm 2024 }}</ref>

Trong [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2024-25|mùa giải 2024-25]], Glasner đưa Palace tới danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, khi bàn thắng của Eberechi Eze mang về chiến thắng 1-0 trước [[Manchester City F.C.|Manchester City]] trong [[Chung kết Cúp FA 2025|trận chung kết Cúp FA 2025]], đồng thời bảo đảm suất tham dự [[UEFA Europa League]] lần đầu tiên.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/live/cm23zrkn7ryt#Report |title=Crystal Palace 1-0 Manchester City: Line-ups |website=BBC Sport |date=17 May 2025 |access-date=17 May 2025}}</ref> Tuy nhiên, tấm vé Europa League của câu lạc bộ nhanh chóng bị đe dọa bởi các quy định về sở hữu đa câu lạc bộ của UEFA. Cổ đông lớn nhất của Palace là [[John Textor]] cũng sở hữu đội bóng Pháp tại [[Ligue 1]] là [[Olympique Lyonnais|Lyon]], câu lạc bộ cũng giành quyền dự cùng giải đấu này.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/2025/jun/21/multi-club-ownership-crystal-palace-looming-court-threat |title='A perfect storm': multi-club ownership, Crystal Palace and a looming court threat |work=The Guardian |date=21 tháng 6 năm 2025 }}</ref> Ngày 11 tháng 7 năm 2025, UEFA ra phán quyết rằng Palace vi phạm các quy định về sở hữu đa câu lạc bộ của cơ quan này, kết quả là câu lạc bộ bị giáng xuống [[UEFA Conference League]].<ref>{{Chú thích web |last=Battison |first=Paul |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/ckg5260zzp2o |title=Palace demoted from Europa League over ownership rules |publisher=BBC Sport |date=11 July 2025 }}</ref> Kháng cáo của Palace bị bác bỏ, khi [[Court of Arbitration for Sport]] (CAS) giữ nguyên phán quyết của UEFA vào ngày 11 tháng 8 năm 2025.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.skysports.com/football/news/11706/13409938/crystal-palace-to-play-in-conference-league-after-cas-rules-uefa-decision-should-stand-following-europa-league-demotion |title=Crystal Palace to play in Conference League after CAS rules UEFA decision should stand following Europa League demotion |publisher=Sky Sports |date=11 tháng 8 năm 2025 }}</ref>

Câu lạc bộ bắt đầu [[Crystal Palace F.C. mùa giải 2025-26|mùa giải 2025-26]] bằng chức vô địch [[FA Community Shield 2025|FA Community Shield]] đầu tiên, sau khi đánh bại Liverpool 3-2 trong loạt luân lưu khi trận đấu hòa 2-2 sau thời gian thi đấu chính thức. Chiến thắng này giúp Palace trở thành câu lạc bộ đầu tiên kể từ [[Derby County F.C.|Derby County]] năm [[1975 FA Charity Shield|1975]] vô địch giải đấu ngay trong lần đầu tham dự.<ref>{{Chú thích báo |last=Smith |first=Emma |date=10 tháng 8 năm 2025 |title=Crystal Palace started the new season with a suddenly familiar feeling, basking in trophy glory as triumphant underdogs at Wembley. |url=https://www.bbc.com/sport/football/live/cy7y0p1p7ezt?page=13 |access-date=August 10, 2025 |work=[[BBC News]] |department=[[BBC Sport]] |publisher=[[BBC]]}}</ref> Ngày 21 tháng 8, Palace gặp câu lạc bộ Na Uy [[Fredrikstad FK|Fredrikstad]] tại Selhurst Park trong vòng [[2025-26 UEFA Conference League qualifying#Play-off round|play-off]] của UEFA Conference League, trận đấu châu Âu chính thức đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Palace thắng lượt đi 1-0, với [[Jean-Philippe Mateta]] ghi bàn thắng đầu tiên của câu lạc bộ tại cúp châu Âu.<ref>{{Chú thích báo |last=Aarons |first=Ed |date=21 tháng 8 năm 2025 |title=Mateta sinks Fredrikstad to give Crystal Palace advantage in Conference playoff |url=https://www.theguardian.com/football/2025/aug/21/crystal-palace-fredrikstad-conference-league-playoff-match-report |access-date=21 tháng 8 năm 2025 |work=[[The Guardian]]}}</ref> Câu lạc bộ giành quyền vào [[2025-26 UEFA Conference League league phase|vòng bảng]] sau trận hòa 0-0 ở lượt về trên đất Na Uy.<ref>{{Chú thích báo |last=Aarons |first=Ed |date=28 tháng 8 năm 2025 |title=Goalless draw earns Crystal Palace aggregate win in Conference playoff at Fredrikstad |url=https://www.theguardian.com/football/2025/aug/28/goalless-draw-earns-crystal-palace-aggregate-win-in-conference-playoff-at-fredrikstad |access-date=29 tháng 8 năm 2025 |work=[[The Guardian]]}}</ref> Hành trình bảo vệ Cúp FA của Palace kết thúc ngay ở vòng Ba, khi [[Macclesfield F.C.|Macclesfield]], một đội ngoài hệ thống giải vô địch xếp thấp hơn họ 117 bậc, [[Macclesfield 2-1 Crystal Palace (2026)|đánh bại họ 2-1]] trong một trong những cú sốc lớn nhất từng xuất hiện ở giải đấu này.<ref>{{Chú thích báo|last=Rose|first=Gary|date=10 tháng 1 năm 2026|title=Macclesfield 2-1 Crystal Palace|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/live/czr43x12xnrt|access-date=12 tháng 1 năm 2026|work=BBC Sport}}</ref>

==Màu sắc và huy hiệu==
{{Commons|Trang phục Crystal Palace F.C.}}
Câu lạc bộ nghiệp dư nguyên thủy mặc áo sọc vòng xanh và trắng với quần đùi xanh, dù cũng có một số biến thể; người ta cho rằng bộ trang phục đầu tiên của đội vào năm 1861 là áo chia nửa màu xanh nhạt và trắng. Khi câu lạc bộ chuyên nghiệp Crystal Palace được thành lập vào năm 1905, màu áo ban đầu được chọn là claret và xanh, kết hợp với quần đùi trắng và tất thường có màu claret. Đây là kết quả từ vai trò quan trọng mà [[Edmund Goodman]], một nhân viên của [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]] sau này trở thành huấn luyện viên của Palace, đã đóng góp trong quá trình hình thành câu lạc bộ. Câu lạc bộ duy trì khá nhất quán công thức này cho tới năm 1938, khi họ quyết định bỏ màu claret và xanh để chuyển sang áo trắng cùng quần đùi đen và tất đồng màu. Đội quay lại với màu claret và xanh trong giai đoạn từ năm 1949 tới năm 1954, nhưng đến năm 1955, câu lạc bộ lại trở về với trắng và đen, chỉ dùng điểm nhấn claret và xanh.<ref name="HFK" />

Có nhiều biến thể quanh chủ đề này cho tới năm 1963, khi câu lạc bộ dùng bộ áo sân khách màu vàng làm màu trang phục sân nhà. Năm 1964, đội chuyển sang bộ trang phục toàn trắng lấy cảm hứng từ [[Real Madrid C.F.|Real Madrid]], câu lạc bộ mà Palace từng gặp trong một trận giao hữu lịch sử vài năm trước đó. Sau đó, vào năm 1966, đội quay trở lại với áo claret và xanh cùng quần đùi trắng. Câu lạc bộ tiếp tục sử dụng các biến thể của kiểu phối màu này cho tới khi [[Malcolm Allison]] đến làm huấn luyện viên vào năm 1973. Allison đã làm mới toàn bộ hình ảnh của câu lạc bộ, chuyển sang áo sọc dọc đỏ và xanh, lấy cảm hứng từ [[FC Barcelona|Barcelona]]. Palace đã chơi trong các biến thể đỏ và xanh kể từ đó, ngoại trừ [[mùa giải]] kỉ niệm 100 năm 2005, khi đội mặc một phiên bản tái hiện bộ trang phục claret, xanh và trắng của [[1971-72 Crystal Palace F.C. season|mùa giải 1971-72]].<ref name="HFK" />
[[File:UnitedKingdom-66 (29882187932).jpg|thumb|right|Pete the Eagle – linh vật của câu lạc bộ (2016).]]

Câu lạc bộ khá muộn mới thiết lập một huy hiệu chính thức. Dù các chữ viết tắt đã được thêu trên áo từ [[1935-36 Crystal Palace F.C. season|mùa giải 1935-36]], một huy hiệu có mặt tiền của tòa [[The Crystal Palace|Crystal Palace]] chỉ xuất hiện từ năm 1955. Huy hiệu này biến mất khỏi áo đấu vào năm 1964, và thay vào đó tên đội được thêu trên áo từ năm 1967 tới năm 1972. Sau đó, một huy hiệu hình tròn được sử dụng vào năm 1972, với chữ viết tắt của câu lạc bộ và biệt danh "Glaziers", trước khi Allison tiếp tục thay đổi cả điều này.<ref name="HFK" /> Biệt danh của câu lạc bộ được đổi thành "Eagles", lấy cảm hứng từ câu lạc bộ Bồ Đào Nha [[S.L. Benfica|Benfica]], và huy hiệu khi đó thể hiện hình một con đại bàng đang giữ quả bóng.<ref name="HFK" /> Biểu tượng này được giữ cho tới năm 1987, khi câu lạc bộ kết hợp hình đại bàng với mặt tiền của Crystal Palace; và dù đã được cập nhật vào các năm 1996 và 2012, huy hiệu hiện nay vẫn giữ các đặc điểm này.<ref>{{Chú thích báo|last=Elliott |first=Ken |title=Facelift for Crystal Palace's 'Benfica eagle' |url=https://www.standard.co.uk/sport/football/facelift-for-crystal-palaces-benfica-eagle-7593041.html |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |newspaper=Evening Standard |date=27 tháng 3 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140107072737/http://www.standard.co.uk/sport/football/facelift-for-crystal-palaces-benfica-eagle-7593041.html |archive-date=7 tháng 1 năm 2014 }}</ref> Vào tháng 6 năm 2022, câu lạc bộ đổi năm trên huy hiệu từ 1905 thành 1861, để phản ánh thời điểm [[Crystal Palace F.C. (1861)|Crystal Palace Football Club nguyên thủy]] được thành lập.<ref>{{Chú thích web |title=Crystal Palace 1861: New crest to commemorate club's place in football history |url=https://www.cpfc.co.uk/news/announcement/crystal-palace-football-club-release-new-1861-crest-for-badge-to-honour-footballing-history/2022-06-18/ |website=cpfc.co.uk |publisher=Crystal Palace FC |access-date=18 tháng 6 năm 2022 |date=18 tháng 6 năm 2022}}</ref>

Từ năm 2010 tới năm 2020, câu lạc bộ sử dụng một con [[American bald eagle|đại bàng đầu trắng Mỹ]] tên Kayla làm [[mascot|linh vật]] của đội, với chú chim bay từ đầu này sang đầu kia của sân vận động trước mỗi trận sân nhà.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.bromleytimes.co.uk/news/crystal_palace_eagles_will_be_flying_high_with_new_mascot_1_634203|title=Crystal Palace Eagles will be flying high with new mascot|date=8 tháng 9 năm 2010|work=Bromley Times|publisher=Archant Community Media|access-date=2 May 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140502043130/http://www.bromleytimes.co.uk/news/crystal_palace_eagles_will_be_flying_high_with_new_mascot_1_634203|archive-date=2 May 2014|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://sports.howzit.msn.com/kayla-the-next-breed-of-mascot?page=12|title=Kayla – The Next Breed of Mascot|date=12 December 2013|work=Howzit MSN Sport|publisher=Microsoft|access-date=2 May 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140502043514/http://sports.howzit.msn.com/kayla-the-next-breed-of-mascot?page=12|archive-date=2 May 2014}}</ref><ref>{{Chú thích web|title=Crystal Palace F.C. saddened to learn of Kayla the Eagle's passing|url=https://www.cpfc.co.uk/news/2020/june/crystal-palace-saddened-to-learn-of-kayle-the-eagles-death/|access-date=28 tháng 8 năm 2020|website=www.cpfc.co.uk|language=en-gb}}</ref>

===Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ===
Kể từ năm 2022, trang phục của Crystal Palace do [[Macron (sportswear)|Macron]] sản xuất. Các nhà sản xuất trước đó gồm [[Umbro]] (1975-77), [[Admiral Sportswear|Admiral]] (1977-80, 1987-88, 2003-04), [[Adidas]] (1980-83, 1996-99), [[Hummel International|Hummel]] (1984-87), [[Bukta]] (1988-93), Ribero (1992-94), Nutmeg (1994-96), TFG Sports (1999-2001), [[Le Coq Sportif]] (2001-03), [[Diadora]] (2004-07), [[Erreà]] (2007-09), [[Nike, Inc.|Nike]] (2009-12), Avec (2012-14), Macron (2014-18, 2022–nay), và [[Puma (brand)|Puma]] (2018-22).<ref>{{Chú thích web |title=Revealed: Crystal Palace and Puma 2018/19 Kits |url=https://www.cpfc.co.uk/news/2018/may/revealed-crystal-palace-and-puma-201819-kits/ |publisher=Crystal Palace F.C. |access-date=10 May 2018 |date=9 May 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180509230643/https://www.cpfc.co.uk/news/2018/may/revealed-crystal-palace-and-puma-201819-kits/ |archive-date=9 May 2018 }}</ref>

Hiện tại, áo đấu của câu lạc bộ được tài trợ bởi [[NET88]] (2024–nay). Các nhà tài trợ trước đây gồm [[The Co-operative Group|Red Rose]] (1983-84), Top Score (1985-86), AVR (1986-87), Andrew Copeland (1987-88), [[Virgin Atlantic|Fly Virgin]] (1988-91), [[Tulip Computers]] (1991-93), [[TDK]] (1993-99), [[Churchill Insurance]] (2000-06), GAC Logistics (2006-14), [[Neteller]] (2014-15), Mansion.com (2015-17), ManBetX (2017-20), W88 (2020-22) và [[Cinch (company)|cinch]] (2022-24).

Câu lạc bộ kí hợp đồng tài trợ tay áo đầu tiên với All Football, một ứng dụng mạng xã hội bóng đá có trụ sở tại Trung Quốc, vào năm 2017.<ref>{{Chú thích web |publisher=sportspromedia.com |year=2017 |title=Crystal Palace reveal first sleeve sponsor |url=http://www.sportspromedia.com/news/crystal-palace-reveal-first-sleeve-sponsor |archive-url=https://web.archive.org/web/20170720225008/http://www.sportspromedia.com/news/crystal-palace-reveal-first-sleeve-sponsor |archive-date=20 July 2017 |url-status=live |access-date=18 July 2017}}</ref>

Năm 2023, Crystal Palace và [[TGP Europe|Kaiyun Sports]] công bố mối quan hệ hợp tác chung, theo đó công ty này trở thành nhà tài trợ tay áo chính thức mới của câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |last=Sim |first=Josh |date=30 May 2023 |title=Crystal Palace tap Kaiyun Sports for 2023/24 sleeve sponsorship |url=https://www.sportspromedia.com/news/crystal-palace-kaiyun-sports-sleeve-sponsorship-2023-24-betting/ |access-date=23 tháng 9 năm 2023 |website=SportsPro |language=en-GB}}</ref>

==Sân vận động==
{{Main|Selhurst Park}}

Năm 1905, Crystal Palace Company, đơn vị sở hữu địa điểm tổ chức [[Chung kết Cúp FA]] nằm trong khuôn viên [[The Crystal Palace|The Crystal Palace]], muốn có một đội bóng của riêng mình chơi tại đó để khai thác tiềm năng khán giả rất lớn của khu vực. Vì vậy, họ thành lập một câu lạc bộ chuyên nghiệp mới là Crystal Palace F.C. để thi đấu tại sân vận động này.<ref>King, p. 62</ref> Khi [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] bùng nổ, tòa Crystal Palace và khu đất xung quanh bị quân đội trưng dụng, và vào năm 1915, câu lạc bộ buộc phải rời đi theo lệnh của [[British Admiralty|Bộ Hải quân Anh]]. Đội tìm được nơi đóng quân tạm thời tại [[Herne Hill Velodrome]]. Dù một số câu lạc bộ khác đã đề nghị cho Palace mượn sân, đội cảm thấy tốt nhất vẫn là ở gần khu vực cổ động viên tự nhiên của mình nhất có thể.<ref>King, p. 63</ref> Khi [[Croydon Common F.C.|Croydon Common]] tan rã vào năm 1917, Palace tiếp quản sân cũ của đội này tại [[Croydon Common Athletic Ground|the Nest]].<ref>King, p. 64</ref> Đến năm 1919, câu lạc bộ bắt đầu mua khu đất mà sau này họ sẽ xây dựng [[Selhurst Park]], sân nhà hiện tại của mình.<ref>Matthews, pp.29-30</ref>

Kiến trúc sư sân vận động nổi tiếng [[Archibald Leitch]] được thuê để thiết kế, và việc xây dựng Selhurst Park hoàn tất kịp cho [[mùa giải]] [[Bóng đá Anh mùa giải 1924-25|1924-25]]. Sân vận động gần như không thay đổi nhiều, chỉ có thêm hệ thống đèn chiếu sáng và một số cải tạo bảo trì cho tới năm 1969, khi khán đài Arthur Wait được xây dựng. Khán đài Chính trở thành khán đài ghế ngồi toàn bộ vào mùa hè năm 1981, và trong vài năm kế tiếp nhiều hạng mục khác tiếp tục được thực hiện, khi đầu Whitehorse Lane được tái phát triển để xây dựng một siêu thị [[Sainsbury's]], văn phòng câu lạc bộ và cửa hàng của đội. Khán đài Arthur Wait trở thành khán đài ghế ngồi toàn bộ vào năm 1990, và đến năm 1994, Holmesdale Terrace được thay bằng một khán đài mới hai tầng.

Kỉ lục khán giả của Selhurst Park được thiết lập vào năm 1979, với con số chính thức là 51.482 người.<ref>King p.&nbsp;67-71</ref> Sau toàn bộ các đợt tái phát triển sân và những yêu cầu an toàn בעקבות [[Taylor Report]], sức chứa hiện tại của sân là 25.486 chỗ.

Năm 2011, đã có những đề xuất đưa câu lạc bộ trở về sân nhà nguyên thủy tại Crystal Palace National Stadium,<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.cpfc.co.uk/page/News/0,.10323~2271669.00.html |title=Eagles Fly Home |publisher=Crystal Palace F.C. |work=cpfc.co.uk |date=28 tháng 6 năm 2011 |access-date=28 May 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110907152719/http://www.cpfc.co.uk/page/News/0%2C%2C10323~2271669%2C00.html |archive-date=7 tháng 9 năm 2011 }}</ref> nhưng sau khi câu lạc bộ giành quyền thăng hạng lên [[Premier League]] vào năm 2013, trọng tâm được chuyển trở lại việc tái phát triển Selhurst Park thành một sân vận động có sức chứa 40.000 chỗ.<ref name="ESSPSF40" />
Các kế hoạch sửa đổi cho một khán đài Chính mới với 13.500 chỗ ngồi (nâng tổng sức chứa sân lên 34.000) đã được phê duyệt trong cuộc họp của Hội đồng Croydon ngày 19 tháng 4 năm 2018.<ref>{{Chú thích báo |title=Crystal Palace plan for Selhurst Park expansion given the go-ahead by Croydon Council |url=https://www.croydonadvertiser.co.uk/news/croydon-news/crystal-palace-plan-selhurst-park-1479320 |access-date=20 April 2018 |newspaper=Croydon Advertiser |date=20 April 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180420010458/https://www.croydonadvertiser.co.uk/news/croydon-news/crystal-palace-plan-selhurst-park-1479320 |archive-date=20 April 2018 |url-status=live}}</ref> Tuy nhiên, các kế hoạch này sau đó bị trì hoãn, trước tiên vì đại dịch COVID-19, và sau đó do câu lạc bộ tập trung triển khai việc nâng cấp học viện tại Beckenham, công trình hoàn thành vào năm 2021. Khi câu lạc bộ cuối cùng cũng bắt đầu thúc đẩy lại dự án tái phát triển khán đài, các trì hoãn tiếp theo lại xảy ra do sự phản đối đối với việc phá dỡ các căn nhà tại khu Wooderson Close gần đó. Câu lạc bộ đã kí một thỏa thuận pháp lí để cung cấp nhà thay thế nhằm di dời cư dân. Vào tháng 8 năm 2024, việc mở rộng khán đài Chính được Hội đồng Croydon phê duyệt lại và các công việc sơ bộ đã bắt đầu, với mục tiêu hoàn thành vào mùa hè năm 2027.

{{wide image|Selhurst Park Stadium.jpg|alt=See caption|900px|align-cap=center|Toàn cảnh Selhurst Park nhìn từ Upper Holmesdale, lần lượt từ trái sang phải là Khán đài Chính, đầu Whitehorse Lane và khán đài Arthur Wait}}

==Cổ động viên==
[[File:HOLMSDALE_FANATICS.jpg|thumb|Sự cổ vũ cuồng nhiệt của khán giả nhà thuộc Holmesdale Fanatics.]]
Crystal Palace có lực lượng cổ động viên chủ yếu đến từ khu vực địa phương, trải rộng trên [[Nam Luân Đôn]], [[Kent]] và [[Surrey]]. Sân nhà nguyên thủy của đội tại Crystal Palace nằm ở ranh giới với Kent, trong khi Selhurst Park nằm trong địa giới Surrey, cho tới khi [[London Government Act 1963]] khiến [[Greater London]] bao trùm luôn [[Croydon]]. Sự cổ vũ cuồng nhiệt của câu lạc bộ trong các trận sân nhà tập trung ở khán đài Holmesdale Road, nơi nhóm [[Ultras|ultra]] có tên [[Holmesdale Fanatics]] đã hoạt động từ năm 2005.

Người hâm mộ cũng đã thành lập ít nhất hai tổ chức cổ động viên khác. Palace Independent Supporters' Association được lập ra để phản ánh các mối quan tâm của người hâm mộ với câu lạc bộ,<ref>{{Chú thích web|title=About Us |url=http://palace-isa.co.uk/about-us/ |work=Palace Independent Supporters Association |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120619211820/http://palace-isa.co.uk/about-us/ |archive-date=19 tháng 6 năm 2012 }}</ref> trong khi Crystal Palace Supporters' Trust ban đầu được thành lập כדי giúp cổ động viên có thể mua lại câu lạc bộ trong giai đoạn [[Administration (insolvency)|quản lí tài sản]] năm 2000, và tiếp tục tồn tại cho tới cuối năm 2023.<ref>{{Chú thích web|title=What we do |url=http://palacetrust.org.uk/the-trust/what-we-do/ |work=Crystal Palace Supporters' Trust |date=20 tháng 6 năm 2011 |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130411210652/http://palacetrust.org.uk/the-trust/what-we-do/ |archive-date=11 April 2013 }}</ref>

Qua các năm, người hâm mộ đã xuất bản nhiều [[fanzine]] khác nhau. ''Eagle Eye'' ra mắt năm 1987 và tồn tại tới năm 1994, trước khi một số cộng tác viên tiếp tục xuất bản tạp chí thay thế là ''Palace Echo'' vào năm 1995; ấn phẩm này kéo dài tới năm 2007.<ref>{{Chú thích web |title=About Palace Echo |url=http://www.palace-echo.net/about.shtml |access-date=15 July 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131104121826/http://www.palace-echo.net/about.shtml |archive-date=4 tháng 11 năm 2013}}</ref> ''The Eastern Eagles'', ''So Glad You're Mine'' và ''One More Point'' cũng được cổ động viên phát hành trong thập niên 1990.<ref>{{Chú thích web |title=Football Fanzines For Sale – (Part 2 – Clubs From C – D) |url=http://home.clara.net/sjafn/fanzinesc_d.htm |access-date=15 July 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130528030035/http://home.clara.net/sjafn/fanzinesc_d.htm |archive-date=28 May 2013 |url-status=live }}</ref> Khi ''One More Point'' ngừng xuất bản, ''Five Year Plan'' ra đời để thay thế,<ref>{{Chú thích web |title=About FYP |url=http://www.fiveyearplanfanzine.co.uk/about-fyp.html |access-date=15 July 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130719170204/http://www.fiveyearplanfanzine.co.uk/about-fyp.html |archive-date=19 July 2013}}</ref> và hiện vẫn duy trì hiện diện trực tuyến.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.fiveyearplanfanzine.co.uk/ |title=Five Year Plan |access-date=15 July 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130720030445/http://fiveyearplanfanzine.co.uk/ |archive-date=20 July 2013 |url-status=live}}</ref> Cổ động viên cũng tranh luận trên hai [[internet forum|diễn đàn trực tuyến]], The BBS và Holmesdale.net, những nơi mà câu lạc bộ cũng sử dụng làm kênh giao tiếp với người hâm mộ.<ref>{{Chú thích web|title=Crystal Palace F.C.Fans' Charter Season 2012/13 |url=http://www.cpfc.co.uk/documents/fans-charter61-319328.pdf |access-date=15 July 2012 |publisher=Crystal Palace Football Club |archive-url=https://web.archive.org/web/20121018201223/http://www.cpfc.co.uk/documents/fans-charter61-319328.pdf |archive-date=18 tháng 10 năm 2012}}</ref>

[[File:Selhurst Park.jpg|right|alt=Photo of 7 cheerleaders performing on a football pitch in front of a packed stand with many on the lower tier waving red and blue flags.|thumb|Người hâm mộ Crystal Palace bày tỏ sự ủng hộ với câu lạc bộ sau khi đội rơi vào tình trạng quản lí tài sản năm 2010.]]

Vì Crystal Palace là một câu lạc bộ tại Luân Đôn, đội phải cạnh tranh với nhiều câu lạc bộ địa phương khác để giành sự chú ý của người hâm mộ, nhưng Palace vẫn sở hữu một khu vực ảnh hưởng rõ rệt với 900.000 dân.<ref name="BBCLUX" /><ref>{{Chú thích báo |title=Aston Villa: Martin O'Neill ready to rotate squad again |url=http://www.birminghammail.co.uk/sport/football/football-news/aston-villa-martin-oneill-ready-118931 |access-date=26 tháng 6 năm 2013 |newspaper=Birmingham Mail |date=14 tháng 2 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131113150245/http://www.birminghammail.co.uk/sport/football/football-news/aston-villa-martin-oneill-ready-118931 |archive-date=13 tháng 11 năm 2013 |url-status=live}}</ref> Năm 2010, tập đoàn mới do [[Steve Parish (businessman)|Steve Parish]] đứng đầu đã tìm kiếm ý kiến đóng góp của người hâm mộ về các quyết định trong tương lai. Vài năm sau, tập đoàn này tham khảo ý kiến về một thiết kế huy hiệu mới, và khi các phương án họ chọn bị bác bỏ, câu lạc bộ thay vào đó đã chọn một thiết kế dựa trên ý tưởng của người hâm mộ từ một diễn đàn trực tuyến.<ref>{{Chú thích báo|last=Bloss |first=Andrew |title=Crystal Palace unveils new football club crest |url=http://www.yourlocalguardian.co.uk/news/10404267.Crystal_Palace_unveils_new_football_club_crest/ |access-date=26 tháng 6 năm 2013 |newspaper=Croydon Guardian |date=8 May 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131113145227/http://www.yourlocalguardian.co.uk/news/10404267.Crystal_Palace_unveils_new_football_club_crest/ |archive-date=13 tháng 11 năm 2013 }}</ref> Câu lạc bộ cũng đã tăng cường mối liên hệ với cộng đồng địa phương, và thông qua Crystal Palace F.C. Foundation, họ làm việc với các quận London lân cận là Croydon, Bromley và Sutton để cung cấp các chương trình thể thao và giáo dục, đồng thời hi vọng từ đó tiếp tục mở rộng cơ sở cổ động viên cũng như phạm vi địa lí của mình. Công việc của Foundation đã được Football League ghi nhận vào tháng 8 năm 2009 bằng giải Silver Standard Community Scheme Award.<ref>{{Chú thích web|title=What We Do |url=http://cpfcfoundation.org/what-we-do/ |work=Crystal Palace F.C. Foundation |access-date=26 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131019013756/http://cpfcfoundation.org/what-we-do/ |archive-date=19 tháng 10 năm 2013 }}</ref>

Câu lạc bộ cũng nhận được sự ủng hộ đáng kể từ giới nổi tiếng. [[Kevin Day]] và [[Jo Brand]] tổ chức một đêm hài kịch thường niên cho [[Comic Relief]] và học viện Palace,<ref>{{Chú thích báo|last=Bloss |first=Andrew |title=Tickets still on sale for Crystal Palace comedy night |url=http://www.croydonguardian.co.uk/leisure/leisurenews/10453140.Tickets_still_on_sale_for_Crystal_Palace_comedy_night/ |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |newspaper=The Croydon Guardian |date=30 May 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131015074153/http://www.croydonguardian.co.uk/leisure/leisurenews/10453140.Tickets_still_on_sale_for_Crystal_Palace_comedy_night/ |archive-date=15 tháng 10 năm 2013 }}</ref> còn các danh hài [[Eddie Izzard]] và [[Mark Steel]] cũng là những người hâm mộ Palace rất nhiệt thành. Diễn viên [[Neil Morrissey]] đã phát triển loại bia Palace Ale, được bán trong sân vận động,<ref>{{Chú thích web|title=Palace launch their own ale|url=http://www.football-league.co.uk/championship/news/20110513/palace-launch-their-own-ale_2293322_2359484|work=Football League|access-date=27 tháng 6 năm 2013|date=13 May 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20131017055551/http://www.football-league.co.uk/championship/news/20110513/palace-launch-their-own-ale_2293322_2359484|archive-date=17 tháng 10 năm 2013}}</ref> còn diễn viên [[Bill Nighy]] là người bảo trợ cho tổ chức từ thiện Crystal Palace Children's Charity (CPSCC).<ref>{{Chú thích web|title=CPSCC |url=http://www.tapitlocal.com/cpscc/ |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130417142910/http://www.tapitlocal.com/cpscc/ |archive-date=17 April 2013 }}</ref> Các diễn viên [[Timothy Spall]] và con trai ông [[Rafe Spall]] đều là những người hâm mộ cuồng nhiệt của câu lạc bộ. Người dẫn chương trình phát thanh [[David Jensen]] là chủ tịch Crystal Palace Vice Presidents Club,<ref>{{Chú thích báo|last=King |first=Mark |title=David 'Kid' Jensen: my Saturday job |url=https://www.theguardian.com/money/2011/dec/09/david-jensen-saturday-job |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |newspaper=The Guardian |location=London |date=9 December 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120705161201/http://www.guardian.co.uk/money/2011/dec/09/david-jensen-saturday-job |archive-date=5 July 2012 }}</ref> và từng làm người phát ngôn cho tập đoàn CPFC 2010 trong quá trình tiếp quản câu lạc bộ. Diễn viên, nhà văn và nhà sản xuất [[John Salthouse]] từng có tên trong danh sách cầu thủ của Palace từ năm 1968 tới năm 1970 dưới tên John Lewis,<ref>{{Chú thích báo |last=Salthouse |first=John |title=Scholes Shatters Kop Legend |newspaper=Sunday Mirror |date=8 tháng 6 năm 1997 |page=72}}</ref> đồng thời cũng từng làm linh vật cho câu lạc bộ khi còn nhỏ.<ref>{{Chú thích báo |title=John Is Top of the Bill |newspaper=Evening Times |date=11 tháng 11 năm 1985 |page=13}}</ref> Ông còn đưa câu lạc bộ vào vai diễn Tony của mình trong [[Abigail's Party]].<ref name="Duvitski 6" /> Người dẫn chương trình truyền hình [[Susanna Reid]] đã tiết lộ tình yêu dành cho Palace khi tham gia ''[[Strictly Come Dancing]]'', và từng tới Selhurst Park để tìm cảm hứng.<ref>Strictly Come Dancing, broadcast BBC1 12 tháng 10 năm 2013</ref> [[Bill Wyman]], tay bass của [[The Rolling Stones]], là một cổ động viên suốt đời của Palace.<ref>{{Chú thích web |title=Bill appears in Crystal Palace FC interview video – Bill Wyman |url=https://billwyman.com/2015/07/bill-appears-in-crystal-palace-fc-interview-video/ |access-date=1 April 2025 |language=en-US}}</ref> Nhà vô địch Olympic người Anh [[Alex Yee]] cũng là người hâm mộ của câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.cpfc.co.uk/news/club/olympic-champion-crystal-palace-fan-alex-yee-nominated-sports-personality-of-the-year/ |title=Palace fan Alex Yee nominated for BBC Spotty |publisher=Crystal Palace |date=10 December 2024 |access-date=22 April 2025}}</ref>

===Kình địch===
{{See also|Mối kình địch Brighton & Hove Albion F.C.–Crystal Palace F.C.|Derby Nam Luân Đôn }}

Do vị trí của mình ở thủ đô, Crystal Palace góp mặt trong một số trận derby địa phương, chủ yếu là các cuộc đối đầu tại [[South London derby|Nam Luân Đôn]]. Đội có các mối kình địch với cả [[Millwall F.C.|Millwall]] lẫn đội từng thuê chung sân là [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]]. Câu lạc bộ có mối kình địch lâu đời và rất dữ dội với [[Brighton & Hove Albion F.C.|Brighton & Hove Albion]], bắt đầu sau khi Palace xuống hạng xuống Third Division vào năm 1974 và lên tới đỉnh điểm khi hai đội chạm trán nhau ở vòng Một của [[Cúp FA 1976-77]]. Cặp đấu này phải đá lại hai lần, nhưng trận đá lại lần thứ hai kết thúc trong tranh cãi sau khi trọng tài [[Ron Challis]] yêu cầu thực hiện lại một quả phạt đền mà Brighton đã đá thành công, do có báo cáo cho rằng một cầu thủ Brighton xâm nhập vòng cấm sớm, dù một số nguồn khác cũng cho rằng nguyên nhân là do va chạm từ phía một cầu thủ Crystal Palace. Quả đá lại bị cản phá, Palace thắng 1-0, và một mối kình địch dữ dội ra đời.<ref name="In Bed With Maradona" />

==Quyền sở hữu==
[[File:Sydney Bourne and Edmund Goodman circa 1906.jpg|right|alt=Low resolution monochrome photo of two men.|thumb|Chủ tịch đầu tiên [[Sydney Bourne]] cùng với [[Edmund Goodman]], năm 1906.]]
Crystal Palace Company sở hữu câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Crystal Palace trong những năm đầu tồn tại của đội. Chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ là [[Sydney Bourne]], người được thư kí câu lạc bộ [[Edmund Goodman]] tìm ra sau khi ông kiểm tra hồ sơ những người mua vé các trận chung kết Cúp FA. Goodman chú ý tới tên của Bourne vì ông là người mua nhiều vé mỗi năm, nên đã gặp và nhận thấy ông rất đồng tình với ý tưởng về câu lạc bộ mới. Bourne được mời vào ban giám đốc và được bầu làm chủ tịch trong cuộc họp đầu tiên của câu lạc bộ. Ông giữ chức chủ tịch cho tới khi qua đời vào năm 1930.<ref>King, pp.&nbsp;8-23</ref>

Sau khi Bourne qua đời, câu lạc bộ trải qua nhiều nhiệm kì chủ tịch ngắn hạn: Louis Bellatti (1930-1935), R.S. Flew (1935), Carey Burnett (1935-36), E.T. Truett (1936-1939), trước khi bước vào thời kì của Percy Harper (1939-1950). Nhà xây dựng địa phương [[Arthur Wait]] lập ra một tập đoàn gồm bảy doanh nhân khác để mua lại câu lạc bộ vào năm 1949, và tiếp quản từ Harper vào năm 1950, ban đầu theo hình thức luân phiên ghế chủ tịch.<ref name="CA1" /> Năm 1958, Wait trở thành chủ tịch thường trực, giữ cương vị này cho tới năm 1972 khi Raymond Bloye lên thay.<ref>"New chairman ends freeze at Palace." ''Times'' [London, England] 27 October 1972: 10. The Times Digital Archive. Web. 29 May 2013.</ref><ref name="CA3" /> Quyền sở hữu của Bloye kéo dài tới ngày 26 tháng 1 năm 1981, khi nhà phát triển bất động sản [[Ron Noades]] cùng tập đoàn của ông nắm quyền kiểm soát câu lạc bộ. Noades cuối cùng bán câu lạc bộ cho [[Mark Goldberg ((huấn luyện viên bóng đá))|Mark Goldberg]] vào ngày 5 tháng 6 năm 1998, qua đó trở thành chủ tịch Crystal Palace có thời gian tại vị lâu thứ hai sau Sydney Bourne. Tuy nhiên, Noades vẫn giữ quyền sở hữu [[Selhurst Park]], và cho câu lạc bộ thuê lại để sử dụng. Quãng thời gian Goldberg điều hành câu lạc bộ không thành công, và Palace rơi vào diện quản lí tài sản vào tháng 3 năm 1999. Mặc dù người hâm mộ lập ra một nhóm mang tên Crystal Palace Supporters' Trust trong nỗ lực giành quyền kiểm soát câu lạc bộ, triệu phú kiêm cổ động viên lâu năm [[Simon Jordan]] đã đàm phán thành công một thỏa thuận với các chủ nợ và quản tài viên, và một công ty mới mang tên CPFC 2000 tiếp quản quyền kiểm soát. Công ty này lại rơi vào diện quản lí tài sản vào tháng 1 năm 2010, và mãi tới tháng 6 năm đó một vụ tiếp quản mới hoàn tất, do một tập đoàn gồm bốn cổ động viên giàu có mang tên CPFC 2010 thực hiện.<ref>King, pp.&nbsp;42-60</ref>

CPFC 2010 được thành lập bởi một tập đoàn gồm bốn doanh nhân, [[Steve Parish (businessman)|Steve Parish]], [[Martin Long (businessman)|Martin Long]], Stephen Browett và [[Jeremy Hosking]], với mỗi người nắm 25% cổ phần của công ty.<ref>{{Chú thích báo|last=Moody |first=Graham |title=Crystal Palace post £5m loss |url=http://www.streathamguardian.co.uk/sport/9572656.Crystal_Palace_post___5m_loss/ |access-date=1 tháng 6 năm 2013 |newspaper=Croydon Guardian |date=6 tháng 3 năm 2012 |archive-date=11 tháng 2 năm 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150211031459/http://www.streathamguardian.co.uk/sport/9572656.Crystal_Palace_post___5m_loss/ }}</ref><ref>{{citation|title=Certificate of Incorporation|date=29 tháng 3 năm 2010}}</ref> Bốn người đã đàm phán thành công vụ tiếp quản với quản tài viên Brendan Guilfoyle từ P&A Partnership, và một [[company voluntary arrangement]] chính thức được các chủ nợ của công ty chấp thuận vào ngày 20 tháng 8 năm 2010.<ref>{{Chú thích báo|title=Crystal Palace come out of administration |url=https://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/teams/c/crystal_palace/8930854.stm |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |date=20 tháng 8 năm 2010 |url-status=live |archive-url=https://web.archive.org/web/20130617040639/http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/teams/c/crystal_palace/8930854.stm |archive-date=17 tháng 6 năm 2013 }}</ref> Tập đoàn này cũng mua lại Selhurst Park từ [[Lloyds Banking Group|Lloyds Bank]] sau khi một cuộc biểu tình của người hâm mộ gây áp lực buộc ngân hàng phải chấp nhận các điều khoản thỏa thuận.<ref name="theguardian.com" /><ref>{{Chú thích báo|last=Wilson |first=Jeremy |title=Crystal Palace granted reprieve after principle agreement over sale of club and ground |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/crystal-palace/7794816/Crystal-Palace-granted-reprieve-after-principle-agreement-over-sale-of-club-and-ground.html |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |newspaper=The Daily Telegraph |location=London |date=1 tháng 6 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150211033530/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/teams/crystal-palace/7794816/Crystal-Palace-granted-reprieve-after-principle-agreement-over-sale-of-club-and-ground.html |archive-date=11 tháng 2 năm 2015 }}</ref>

Vào tháng 12 năm 2015, các nhà đầu tư người Mỹ [[Josh Harris (businessman)|Josh Harris]] và [[David Blitzer]] mỗi người mua 18% cổ phần của câu lạc bộ với tư cách [[general partner]]s, tổng trị giá 50 triệu bảng, dù hiện nay phần sở hữu này được ước tính còn khoảng 10%.<ref>{{Chú thích báo|title=Crystal Palace: Deal agreed with US investors Harris and Blitzer|url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/35138750|work=BBC Sport|date=18 December 2015|access-date=19 December 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20151219080614/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/35138750|archive-date=19 December 2015|url-status=live}}</ref> Vào tháng 8 năm 2021, một nhà đầu tư Mỹ khác là [[John Textor]] mua 40% cổ phần trị giá 87,5 triệu bảng, sau đó tăng lên 45% vào năm 2023. Parish vẫn là chủ tịch với 10% cổ phần; Robert Franco và các nhà đầu tư khác nắm 9% còn lại.<ref>{{Chú thích web |date=16 tháng 2 năm 2022 |title=Will U.S. owner John Textor's 'Botafogo Way' produce the Bayern Munich of Brazilian football? |url=https://www.espn.in/football/botafogo/story/4595579/will-us-owner-john-textors-botafogo-way-produce-the-bayern-munich-of-brazilian-football |access-date=24 tháng 3 năm 2022 |website=ESPN |language=en}}</ref><ref>{{Chú thích báo |last1=Aarons |first1=Ed |title=Palace chairman Steve Parish falls out with club's biggest investor John Textor |url=https://www.theguardian.com/football/2023/jan/19/crystal-palace-chairman-steve-parish-in-fall-out-with-clubs-biggest-investor-john-textor |website=The Guardian |date=19 tháng 1 năm 2023 |access-date=28 tháng 11 năm 2023}}</ref><ref>{{Chú thích web |last1=Alencar |first1=Mauricio |title=Who owns Crystal Palace now? How much did John Textor, Josh Harris and David Blitzer and his co-owners pay? |url=https://www.cityam.com/who-owns-crystal-palace-now-how-much-did-john-textor-josh-harris-and-david-blitzer-and-his-co-owners-pay/ |website=City A.M. |date=8 December 2023 |access-date=10 December 2023}}</ref>

Vào tháng 6 năm 2025, Textor đồng ý bán phần sở hữu của mình tại câu lạc bộ cho [[Woody Johnson]], chủ sở hữu đội [[National Football League|NFL]] là [[New York Jets]] và cựu [[United States Ambassador to the United Kingdom|đại sứ Mỹ tại Vương quốc Anh]].<ref>{{Chú thích báo |last=Brinkerhoff |first=Nick |title=Jets owner Woody Johnson buys stake in Premier League's Crystal Palace |url=https://www.usatoday.com/story/sports/nfl/2025/06/23/crystal-palace-ownership-woody-johnson-jets/84318337007/ |work=USA Today |date=23 tháng 6 năm 2025 |access-date=1 December 2025}}</ref> Johnson kí các văn bản pháp lí vào ngày 23 tháng 6 trong một thương vụ được cho là trị giá khoảng 190 triệu bảng cho phần cổ phần của Textor.<ref>{{Chú thích báo |last=Aarons |first=Ed |title=Woody Johnson signs £190m deal to buy John Textor's shares in Crystal Palace |url=https://www.theguardian.com/football/2025/jun/23/woody-johnson-signs-deal-to-buy-john-textor-shares-crystal-palace |work=The Guardian |date=23 tháng 6 năm 2025 |access-date=1 December 2025}}</ref> Ngày 24 tháng 7, câu lạc bộ thông báo rằng thương vụ mua lại của Johnson đã hoàn tất.<ref>{{Chú thích báo |last=Drury |first=Sam |title=Crystal Palace: Woody Johnson completes purchase of Eagle Football's shareholding in the club |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/c6282gl2z52o |work=BBC Sport |date=24 July 2025 |access-date=1 December 2025}}</ref> Thương vụ này cũng đánh dấu chấm hết cho sự hiện diện của [[Eagle Football Holdings]] tại Crystal Palace, khi tập đoàn này thoái toàn bộ phần sở hữu của mình ở câu lạc bộ thông qua giao dịch đó.<ref>{{Chú thích báo |title=New York Jets co-owner Johnson completes purchase of stake in Palace |url=https://www.reuters.com/sports/soccer/new-york-jets-co-owner-johnson-completes-purchase-stake-palace-2025-07-25/ |work=Reuters |date=25 July 2025 |access-date=1 December 2025}}</ref>

==Thống kê và kỉ lục==
{{Main|Danh sách kỉ lục và thống kê Crystal Palace F.C.}}

{{See also|Danh sách mùa giải Crystal Palace F.C.}}

[[Jim Cannon (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1953)|Jim Cannon]] giữ kỉ lục về số lần ra sân nhiều nhất cho Crystal Palace trên mọi đấu trường, với 660 trận cho đội một trong giai đoạn từ năm 1973 tới năm 1988.<ref name="K441" /> Hậu vệ này cũng giữ kỉ lục số trận tại giải vô địch nhiều nhất, với 571 lần ra sân.<ref name="soccerbaserecords" /> Tiền đạo [[Peter Simpson (Scottish footballer)|Peter Simpson]] giữ kỉ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải, với 54 bàn ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1930-31|mùa giải 1930-31]] tại [[Football League Third Division South|Division Three (South)]], đồng thời cũng là chân sút ghi nhiều bàn nhất trong sự nghiệp cho câu lạc bộ – 165 bàn trong giai đoạn từ năm 1929 tới năm 1935.<ref name="soccerbaserecords" /> Thủ môn [[Wayne Hennessey]] giữ kỉ lục số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất trong số các cầu thủ của câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích báo |url=https://www.cpfc.co.uk/news/2018/october/hennessey-breaks-palace-record/ |title=Hennessey Breaks Palace Cap Record |publisher=cpfc.co.uk |date=17 tháng 10 năm 2018 |access-date=17 tháng 10 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20181017144751/https://www.cpfc.co.uk/news/2018/october/hennessey-breaks-palace-record/ |archive-date=17 tháng 10 năm 2018 |url-status=live}}</ref>

[[File:CrystalPalaceFC League Performance.svg|thumb|left|Biểu đồ thể hiện vị trí trên bảng xếp hạng của Crystal Palace kể từ khi gia nhập Football League.]]Crystal Palace là nhà vô địch đầu tiên của [[Football League Third Division|Third Division]] mới thành lập ở [[Football League 1920-21|mùa giải 1920-21]], đây cũng chính là mùa đầu tiên của họ tại Football League, nhờ đó đội trở thành một trong số rất ít câu lạc bộ từng vô địch một hạng đấu của Football League ngay trong mùa giải đầu tiên góp mặt. Mức khán giả trung bình 19.092 người tại giải vô địch trong [[Football League 1960-61|mùa giải 1960-61]] và lượng khán giả 37.774 người ở trận [[Good Friday]] tại [[Selhurst Park]] giữa Palace và [[Millwall F.C.|Millwall]] trong cùng mùa giải là các kỉ lục khán giả của [[Football League Fourth Division|Fourth Division]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.footballsite.co.uk/Statistics/LeagueTables/Season1960-61/Div41960-61.htm |title=Division Four 1960/61 |access-date=15 July 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130419060805/http://www.footballsite.co.uk/Statistics/LeagueTables/Season1960-61/Div41960-61.htm |archive-date=19 April 2013 }}</ref> Kỉ lục khán giả sân nhà chính thức của Palace là 51.482 người trong một trận [[Football League Second Division|Second Division]] gặp [[Burnley F.C.|Burnley]] ngày 11 tháng 5 năm 1979.<ref name="K444" /> Chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch là trận thắng 9-0 trên sân nhà trước [[Barrow F.C.|Barrow]] ở Fourth Division năm 1959, trong khi thất bại nặng nề nhất tại giải vô địch là trận thua với cùng tỉ số 0-9 trên sân [[Liverpool F.C.|Liverpool]] tại [[Football League First Division|First Division]] năm 1989.<ref name="K444" />

Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà Crystal Palace từng nhận được cho một cầu thủ là 67,5 triệu bảng từ [[Arsenal F.C.|Arsenal]] để mua [[Eberechi Eze]] vào tháng 8 năm 2025, trong khi mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng chi ra cho tới nay là 48 triệu bảng để mua [[Jørgen Strand Larsen]] từ [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderers]] vào tháng 2 năm 2026.

Thứ hạng cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch cho tới nay là vị trí thứ ba ở Football League First Division cũ, hiện nay là [[Premier League]], đạt được ở [[Football League 1990-91|mùa giải 1990-91]]. Palace giữ kỉ lục về số điểm nhiều nhất của một đội bị xuống hạng tại Premier League với 49 điểm (dù đó là trong một mùa giải gồm 42 trận, ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1992-93|mùa giải 1992-93]]).<ref name="relegation" /> Palace cũng là câu lạc bộ duy nhất từng bị xuống hạng khỏi Premier League dù đứng thứ tư từ dưới lên, bởi vào cuối [[Bóng đá Anh mùa giải 1994-95|mùa giải 1994-95]] đã có quyết định rằng bốn đội cuối bảng sẽ xuống hạng để giải đấu giảm từ 22 xuống còn 20 câu lạc bộ cho [[1995-96 FA Premier League|mùa giải 1995-96]]; tổng số điểm 45 của Palace trong mùa đó cũng là tổng điểm cao thứ hai trong lịch sử Premier League đối với một đội bị xuống hạng.<ref name="relegation" /> Palace giữ kỉ lục về số lần thắng chung kết play-off nhiều nhất (4 lần) để giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất. Mỗi chiến thắng ở chung kết play-off đó diễn ra tại một địa điểm khác nhau: Selhurst Park năm 1989 (lượt đi của trận chung kết hai lượt diễn ra tại [[Ewood Park]] ở [[Blackburn]]), [[Wembley Stadium (1923)|Wembley cũ]] năm 1997, [[Millennium Stadium]] ở [[Cardiff]] năm 2004 và [[Wembley Stadium|Wembley mới]] năm 2013.

==Cầu thủ==
===Đội hình đội một===
{{updated|23 tháng 2 năm 2026}}<ref>{{Chú thích web|url=https://www.cpfc.co.uk/teams/first-team/|title=First-Team Squad|publisher=Crystal Palace Football Club}}</ref>
{{Fs start}}
{{Fs start}}
{{Fs player|no=1|nat=ENG|pos=GK|name=[[Dean Henderson]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}}
{{Fs player|no=1|nat=ENG|pos=GK|name=[[Dean Henderson]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}}
{{Fs player|no=2|nat=COL|pos=DF|name=[[Daniel Muñoz]]}}
{{Fs player|no=2|nat=COL|pos=DF|name=[[Daniel Muñoz (cầu thủ bóng đá)|Daniel Muñoz]]}}
{{Fs player|no=3|nat=ENG|pos=DF|name=[[Tyrick Mitchell]]}}
{{Fs player|no=3|nat=ENG|pos=DF|name=[[Tyrick Mitchell]]}}
{{Fs player|no=5|nat=FRA|pos=DF|name=[[Maxence Lacroix]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)#Đội phó|đội phó]]}}
{{Fs player|no=5|nat=FRA|pos=DF|name=[[Maxence Lacroix]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội phó thứ ba]]}}
{{Fs player|no=7|nat=SEN|pos=FW|name=[[Ismaïla Sarr]]}}
{{Fs player|no=7|nat=SEN|pos=FW|name=[[Ismaïla Sarr]]}}
{{Fs player|no=8|nat=COL|pos=MF|name=[[Jefferson Lerma]]}}
{{Fs player|no=8|nat=COL|pos=MF|name=[[Jefferson Lerma]]}}
Dòng 74: Dòng 230:
{{Fs player|no=10|nat=ESP|pos=MF|name=[[Yéremy Pino]]}}
{{Fs player|no=10|nat=ESP|pos=MF|name=[[Yéremy Pino]]}}
{{Fs player|no=11|nat=WAL|pos=FW|name=[[Brennan Johnson]]}}
{{Fs player|no=11|nat=WAL|pos=FW|name=[[Brennan Johnson]]}}
{{Fs player|no=12|nat=NGA|pos=FW|name=[[Christantus Uche]]|other=cho mượn từ [[Getafe CF|Getafe]]}}
{{Fs player|no=12|nat=NGA|pos=FW|name=[[Christantus Uche]]|other=mượn từ [[Getafe CF|Getafe]]}}
{{Fs player|no=14|nat=FRA|pos=FW|name=[[Jean-Philippe Mateta]]}}
{{Fs player|no=14|nat=FRA|pos=FW|name=[[Jean-Philippe Mateta]]}}
{{Fs player|no=17|nat=ENG|pos=DF|name=[[Nathaniel Clyne]]}}
{{Fs player|no=17|nat=ENG|pos=DF|name=[[Nathaniel Clyne]]}}
{{Fs player|no=18|nat=JPN|pos=MF|name=[[Kamada Daichi]]}}
{{Fs player|no=18|nat=JPN|pos=MF|name=[[Daichi Kamada]]}}
{{Fs player|no=19|nat=ENG|pos=MF|name=[[Will Hughes]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)#Đội phó|đội phó]]}}
{{Fs player|no=19|nat=ENG|pos=MF|name=[[Will Hughes]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội phó]]}}
{{Fs mid}}
{{Fs player|no=20|nat=ENG|pos=MF|name=[[Adam Wharton]]}}
{{Fs player|no=20|nat=ENG|pos=MF|name=[[Adam Wharton]]}}
{{Fs player|no=22|nat=NOR|pos=FW|name=[[Jørgen Strand Larsen]]}}
{{Fs player|no=22|nat=NOR|pos=FW|name=[[Jørgen Strand Larsen]]}}
{{Fs mid}}
{{Fs player|no=23|nat=FRA|pos=DF|name=[[Jaydee Canvot]]}}
{{Fs player|no=23|nat=FRA|pos=DF|name=[[Jaydee Canvot]]}}
{{Fs Player|no=24|nat=CRO|pos=DF|name=[[Borna Sosa]]}}
{{Fs Player|no=24|nat=CRO|pos=DF|name=[[Borna Sosa]]}}
{{Fs player|no=26|nat=USA|pos=DF|name=[[Chris Richards]]}}
{{Fs player|no=26|nat=USA|pos=DF|name=[[Chris Richards (bóng đá)|Chris Richards]]}}
{{Fs player|no=28|nat=MLI|pos=MF|name=[[Cheick Doucouré]]}}
{{Fs player|no=28|nat=MLI|pos=MF|name=[[Cheick Doucouré]]}}
{{Fs player|no=29|nat=CIV|pos=FW|name=[[Evann Guessand]]|other=cho mượn từ [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]]}}
{{Fs player|no=29|nat=CIV|pos=FW|name=[[Evann Guessand]]|other=mượn từ [[Aston Villa F.C.|Aston Villa]]}}
{{Fs player|no=31|nat=ENG|pos=GK|name=[[Remi Matthews]]}}
{{Fs player|no=31|nat=ENG|pos=GK|name=[[Remi Matthews]]}}
{{Fs player|no=34|nat=MAR|pos=DF|name=[[Chadi Riad]]}}
{{Fs player|no=34|nat=MAR|pos=DF|name=[[Chadi Riad]]}}
{{Fs player|no=38|nat=ENG|pos=DF|name=[[Caleb Kporha]]}}
{{Fs player|no=38|nat=ENG|pos=DF|name=[[Caleb Kporha]]}}
{{Fs player|no=42|nat=ENG|pos=MF|name=[[Kaden Rodney]]}}
{{Fs player|no=42|nat=ENG|pos=MF|name=[[Kaden Rodney]]}}
{{Fs player|no=44|nat=ARG|pos=GK|name=[[Walter Benítez]]}}
{{Fs player|no=44|nat=ARG|pos=GK|name=[[Walter Benítez (cầu thủ bóng đá)|Walter Benítez]]}}
{{Fs player|no=55|nat=NIR|pos=MF|name=[[Justin Devenny]]}}
{{Fs player|no=55|nat=NIR|pos=MF|name=[[Justin Devenny]]}}
{{Fs player|no=59|nat=TRI|pos=DF|name=[[Rio Cardines]]}}
{{Fs player|no=59|nat=TRI|pos=DF|name=[[Rio Cardines]]}}
{{Fs player|no=60|nat=IRL|pos=DF|name=[[George King]]}}
{{Fs player|no=72|nat=ENG|pos=DF|name=[[Dean Benamar]]}}
{{Fs player|no=73|nat=ENG|pos=FW|name=[[Benjamin Casey]]}}
{{Fs player|no=86|nat=ENG|pos=FW|name=[[Joél Drakes-Thomas]]}}
{{Fs end}}
{{Fs end}}


===Cho mượn===
===Cho mượn===
Các bản hợp đồng cho mượn được liệt kê dưới đây là dành cho những cầu thủ vốn thuộc đội hình đội một hoặc các cầu thủ dưới 21 tuổi đã từng ra sân trong một trận đấu chính thức cho đội một, hoặc từng được triệu tập vào đội hình đội một cho một trận chính thức.

{{Fs start}}
{{Fs start}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=[[Owen Goodman]]|other=cho [[Huddersfield Town F.C.|Huddersfield Town]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=[[Owen Goodman]]|other=cho [[Barnsley F.C.|Barnsley]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=[[Joe Whitworth]]|other=cho [[Exeter City F.C.|Exeter City]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs start}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=[[Owen Goodman]]|other=cho [[Barnsley F.C.|Barnsley]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=IRL|pos=DF|name=[[Tayo Adaramola]]|other=cho [[Sheffield Wednesday F.C.|Sheffield Wednesday]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=GK|name=[[Joe Whitworth]]|other=cho [[Exeter City F.C.|Exeter City]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=[[Danny Imray]]|other=cho [[West Bromwich Albion F.C.|West Brom]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=IRL|pos=DF|name=[[Tayo Adaramola]]|other=cho [[Sheffield Wednesday F.C.|Sheffield Wednesday]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=DF|name=[[Danny Imray]]|other=cho [[West Bromwich Albion F.C.|West Brom]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs mid}}
{{Fs mid}}
{{Fs player|no=|nat=BRA|pos=MF|name=[[Matheus França]]|other=cho [[CR Vasco da Gama|Vasco da Gama]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=BRA|pos=MF|name=[[Matheus França]]|other=cho [[CR Vasco da Gama|Vasco da Gama]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=[[David Ozoh]]|other=cho [[Derby County F.C.|Derby County]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=MF|name=[[David Ozoh]]|other=cho [[Derby County F.C.|Derby County]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=FW|name=[[Romain Esse]]|other=cho [[Coventry City F.C.|Coventry City]] mượn đến hết mùa giải 2025–26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=FW|name=[[Romain Esse]]|other=cho [[Coventry City F.C.|Coventry City]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=FW|name=[[Jesurun Rak-Sakyi]]|other=cho [[Stoke City F.C.|Stoke City]] until end of 2025-26 season}}
{{Fs player|no=|nat=ENG|pos=FW|name=[[Jesurun Rak-Sakyi]]|other=cho [[Stoke City F.C.|Stoke City]] mượn đến hết mùa giải 2025-26}}
{{Fs end}}
{{Fs end}}


===Học viện trẻ===
=== Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại ===
{{Further|Đội U-21 và Học viện Crystal Palace F.C.}}
Đội hình được bầu chọn bởi người hâm mộ.<ref>{{chú thích web|title=Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại|url=http://www.cpfc.premiumtv.co.uk/page/CentenaryDetail/0,,10323~658700,00.html|publisher=CPFC|access-date =ngày 27 tháng 6 năm 2013|archive-url=https://web.archive.org/web/20050508042735/http://www.cpfc.premiumtv.co.uk/page/CentenaryDetail/0,,10323~658700,00.html|archive-date = ngày 8 tháng 5 năm 2005 |url-status=dead}}</ref>
* {{flagicon|England}} [[Nigel Martyn]] (1989–96)
* {{flagicon|England}} [[Kenny Sansom]] (1975–80)
* {{flagicon|Wales}} [[Chris Coleman]] (1991–95)
* {{flagicon|Scotland}} [[Jim Cannon]] (1972–88)
* {{flagicon|England}} [[Paul Hinshelwood]] (1974–83)
* {{flagicon|England}} [[John Salako]] (1986–95)
* {{flagicon|England}} [[Geoff Thomas]] (1987–93)
* {{flagicon|England}} [[Andy Gray]] (1984–87,1989–92)
* {{flagicon|Italy}} [[Attilio Lombardo]] (1997–99)
* {{flagicon|England}} [[Andrew Johnson (cầu thủ bóng đá)|Andrew Johnson]] (2002–06)
* {{flagicon|England}} [[Ian Wright]] (1985–91)


=== Cầu thủ của năm ===
==Các cựu cầu thủ đáng chú ý==
:''Những cầu thủ có hơn 100 lần ra sân cho Crystal Palace có thể được tìm thấy [[Danh sách cầu thủ bóng đá Crystal Palace F.C.|tại đây]]''
{|
:''Toàn bộ các cầu thủ trong quá khứ (và hiện tại) có bài viết trên Wikipedia có thể được tìm thấy [[:Thể loại:Cầu thủ bóng đá Crystal Palace F.C.|tại đây]]''
|-
{{See also|Cầu thủ xuất sắc nhất năm Crystal Palace F.C.}}
|valign="top"|

===“Đội hình thế kỉ” của Crystal Palace===
Để kỉ niệm 100 năm thành lập Crystal Palace vào năm 2005, người hâm mộ Palace đã được mời bỏ phiếu chọn ra một "Đội hình thế kỉ" từ danh sách rút gọn gồm mười cầu thủ cho mỗi vị trí do câu lạc bộ cung cấp.<ref>{{Chú thích web|title=Centenary: All-Time XI |url=http://www.cpfc.premiumtv.co.uk/page/CentenaryDetail/0,.10323~658700.00.html |publisher=CPFC |access-date=27 tháng 6 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20050508042735/http://www.cpfc.premiumtv.co.uk/page/CentenaryDetail/0%2C%2C10323~658700%2C00.html |archive-date= 8 tháng 5 năm 2005 }}</ref>
* {{flagicon|England}} [[Nigel Martyn]] (1989-96)
* {{flagicon|England}} [[Paul Hinshelwood]] (1974-83)
* {{flagicon|Wales}} [[Chris Coleman (cầu thủ bóng đá)|Chris Coleman]] (1991-95)
* {{flagicon|Scotland}} [[Jim Cannon (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1953)|Jim Cannon]] (1972-88)
* {{flagicon|England}} [[Kenny Sansom]] (1975-80)
* {{flagicon|England}} [[John Salako]] (1986-95)
* {{flagicon|England}} [[Geoff Thomas (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1964)|Geoff Thomas]] (1987-93)
* {{flagicon|England}} [[Andy Gray (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1964)|Andy Gray]] (1984-87, 1989-92)
* {{flagicon|Italy}} [[Attilio Lombardo]] (1997-99)
* {{flagicon|England}} [[Andrew Johnson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1981)|Andrew Johnson]] (2002-06, 2014)
* {{flagicon|England}} [[Ian Wright]] (1985-91)

==Ban huấn luyện==
{| class="toccolours"
{| class="toccolours"
|-
|-
! style="background:silver;"|Năm!! style="background:silver;"|Người chiến thắng
! style="background:#DD0000;"| Vị trí
! style="background:#0000DD;"| Tên
|-
|-
|Giám đốc thể thao
|1972||{{flagicon|Scotland}} [[John McCormick]]
| Matt Hobbs
|-
|-
|Huấn luyện viên
|1973||{{flagicon|Scotland}} [[Tony Taylor]]
|[[Oliver Glasner]]
|-
|-
|Trợ lí huấn luyện viên
|1974||{{flagicon|England}} [[Peter Taylor]]
|[[Paddy McCarthy]]
|-
|-
|Các huấn luyện viên đội một
|1975||{{flagicon|England}} [[Derek Jeffries]]
|[[Ronald Brunmayr]] <br/> [[Emanuel Pogatetz]] <br/> [[Michael Angerschmid]] <br/> [[James_Holland_(soccer)|James Holland]]
|-
|-
|Huấn luyện viên thủ môn
|1976||{{flagicon|England}} [[Peter Taylor]]
|[[Andy Quy]]
|-
|-
|Huấn luyện viên thể lực
|1977||{{flagicon|England}} [[Kenny Sansom]]
|Michael Berktold
|-
|-
|Huấn luyện viên tăng cường thể chất
|1978||{{flagicon|Scotland}} [[Jim Cannon]]
|Andy Goldsmith
|-
|-
|Giám đốc học viện
|1979||{{flagicon|England}} [[Kenny Sansom]]
|Gary Issott
|-
|-
|Huấn luyện viên đội U-21
|1980||{{flagicon|England}} [[Paul Hinshelwood]]
|[[Darren Powell]]
|-
|
|1981||{{flagicon|England}} [[Paul Hinshelwood]]
|-
|1982||{{flagicon|England}} [[Paul Barron]]
|-
|1983||{{flagicon|Ireland}} [[Jerry Murphy]]
|-
|1984||{{flagicon|England}} [[Billy Gilbert]]
|-
|1985||{{flagicon|Scotland}} [[Jim Cannon]]
|-
|1986||{{flagicon|Scotland}} [[George Wood]]
|}
|}

|width="1"|
==Các huấn luyện viên==
|valign="top"|
{{Main|Danh sách huấn luyện viên Crystal Palace F.C.}}
{| class="toccolours"

:''Thống kê được cập nhật đầy đủ tới và bao gồm trận đấu diễn ra ngày 19 tháng 3 năm 2026. Không bao gồm các huấn luyện viên tạm quyền. Tất cả các trận đấu chính thức đều được tính.''

<gallery widths="180px" heights="150px">
Edmund Goodman circa 1908.jpg|[[Edmund Goodman]], huấn luyện viên tại vị lâu nhất của Palace, dẫn dắt đội từ năm 1907 tới năm 1925.
2022128173931 2022-05-08 Fussball Eintracht Frankfurt vs Borussia Mönchengladbach - Sven - 1D X MK II - 2395 - B70I8506 (cropped).jpg|[[Oliver Glasner]], huấn luyện viên của câu lạc bộ từ tháng 2 năm 2024, người đã cùng Palace giành [[Cúp FA 2024-25]] và [[2025 FA Community Shield]].
</gallery>

{| class="wikitable sortable" style="text-align: center"
|-
|-
! Tên
! style="background:silver;"|Năm!! style="background:silver;"|Người chiến thắng
! Từ
! Đến
! St
! T
! H
! B
! % thắng
|-
|-
|align=left| {{sortname|Jack|Robson|dab=(huấn luyện viên bóng đá)}}
|1987||{{flagicon|Scotland}} [[Jim Cannon]]
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1905}}
|align=left|{{dts|30 tháng 4 năm 1907}}
{{WDL|77|35|18|24}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Edmund|Goodman}}
|1988||{{flagicon|England}} [[Geoff Thomas]]
|align=left|{{dts|1 tháng 5 năm 1907}}
|align=left|{{dts|24 tháng 11 năm 1925}}
{{WDL|613|242|166|205}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Alex|Maley}}
|1989||{{flagicon|England}} [[Ian Wright]]
|align=left|{{dts|24 tháng 11 năm 1925}}
|align=left|{{dts|12 tháng 10 năm 1927}}
{{WDL|83|36|16|31}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Fred|Mavin}}
|1990||{{flagicon|England}} [[Mark Bright]]
|align=left|{{dts|21 tháng 11 năm 1927}}
|align=left|{{dts|18 tháng 10 năm 1930}}
{{WDL|132|63|33|36}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Jack|Tresadern}}
|1991||{{flagicon|England}} [[Geoff Thomas]]
|align=left|{{dts|27 tháng 10 năm 1930}}
|align=left|{{dts|tháng 6 năm 1935}}
{{WDL|213|98|44|71}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Tom|Bromilow}}
|1992||{{flagicon|Ireland}} [[Eddie McGoldrick]]
|align=left| {{dts|tháng 7 năm 1935}}<br />1 tháng 1 năm 1937
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1936}}<br />tháng 7 năm 1939
{{WDL|162|71|40|51}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|R. S.|Moyes}}
|1993||{{flagicon|England}} [[Andy Thorn]]
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1936}}
|align=left|{{dts|8 tháng 12 năm 1936}}
{{WDL|23|6|6|11}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|George|Irwin|dab=(huấn luyện viên bóng đá)}}
|1994||{{flagicon|Wales}} [[Chris Coleman]]
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1939}}
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1947}}
{{WDL|45|15|11|19}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Jack|Butler|dab=cầu thủ bóng đá, sinh năm 1894}}
|1995||{{flagicon|England}} [[Richard Shaw]]
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1947}}
|align=left|{{dts|tháng 6 năm 1949}}
{{WDL|88|23|24|41}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Ronnie|Rooke}}
|1996||{{flagicon|England}} [[Andy Roberts]]
|align=left|{{dts|tháng 6 năm 1949}}
|align=left|{{dts|29 tháng 11 năm 1950}}
{{WDL|62|19|15|28}}
|-
|-
|1997||{{flagicon|Scotland}} [[David Hopkin]]
|align=left| {{sortname|Fred|Dawes}}/[[Charlie Slade]]
|align=left|{{dts|29 tháng 11 năm 1950}}
|align=left|{{dts|11 tháng 10 năm 1951}}
{{WDL|40|8|10|22}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Laurie|Scott|dab=cầu thủ bóng đá}}
|1998||{{flagicon|England}} [[Marc Edworthy]]
|align=left|{{dts|11 tháng 10 năm 1951}}
|align=left|{{dts|tháng 10 năm 1954}}
{{WDL|145|43|41|61}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Cyril|Spiers}}
|1999||{{flagicon|England}} [[Hayden Mullins]]
|align=left|{{dts|tháng 10 năm 1954}}
|align=left|{{dts|tháng 6 năm 1958}}
{{WDL|181|52|53|76}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|George|Smith|dab=cầu thủ bóng đá, sinh năm 1915}}
|2000||{{flagicon|England}} [[Andy Linighan]]
|align=left|{{dts|tháng 7 năm 1958}}
|align=left|{{dts|12 tháng 4 năm 1960}}
{{WDL|100|42|27|31}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Arthur|Rowe|dab=cầu thủ bóng đá}}
|2001||{{flagicon|Trung Quốc}} [[Phạm Chí Nghị]]
|align=left|{{dts|15 tháng 4 năm 1960}}
|}
|align=left|{{dts|30 tháng 11 năm 1962}}
|width="1"|
{{WDL|132|52|32|48}}
|valign="top"|
{| class="toccolours"
|-
|-
|align=left| {{sortname|Dick|Graham}}
! style="background:silver;"|Năm!! style="background:silver;"|Người chiến thắng
|align=left|{{dts|30 tháng 11 năm 1962}}
|align=left|{{dts|3 tháng 1 năm 1966}}
{{WDL|150|68|41|41}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Bert|Head}}
|2002||{{flagicon|Scotland}} [[Dougie Freedman]]
|align=left|{{dts|18 tháng 4 năm 1966}}
|align=left|{{dts|30 tháng 3 năm 1973}}
{{WDL|328|101|96|131}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Malcolm|Allison}}
|2003||{{flagicon|England}} [[Hayden Mullins]]
|align=left|{{dts|30 tháng 3 năm 1973}}<br />1 tháng 12 năm 1980
|align=left|{{dts|tháng 5 năm 1976}}<br />26 tháng 1 năm 1981
{{WDL|155|53|48|54}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Terry|Venables}}
|2004||{{flagicon|England}} [[Andrew Johnson (cầu thủ bóng đá)|Andrew Johnson]]
|align=left|{{dts|1 tháng 6 năm 1976}}<br />9 tháng 6 năm 1998
|align=left|{{dts|14 tháng 10 năm 1980}}<br />15 tháng 1 năm 1999
{{WDL|220|80|76|64}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Dario|Gradi}}
|2005||{{flagicon|England}} [[Andrew Johnson (cầu thủ bóng đá)|Andrew Johnson]]
|align=left|{{dts|26 tháng 1 năm 1981}}
|align=left| {{dts|10 tháng 11 năm 1981}}
{{WDL|30|7|3|20}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Steve|Kember}}
|2006||{{flagicon|Barbados}} [[Emmerson Boyce]]
|align=left| {{dts|10 tháng 11 năm 1981}}<br />18 tháng 4 năm 2003
|align=left| {{dts|tháng 6 năm 1982}}<br />3 tháng 11 năm 2003
{{WDL|53|15|14|24}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Alan|Mullery}}
|2007||{{flagicon|Guyana}} [[Leon Cort]]
|align=left| {{dts|tháng 7 năm 1982}}
|align=left| {{dts|tháng 6 năm 1984}}
{{WDL|98|31|27|40}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Steve|Coppell}}
|2008||{{flagicon|Argentina}} [[Julián Speroni]]
|align=left| {{dts|tháng 7 năm 1984}}<br />tháng 7 năm 1995<br />28 tháng 2 năm 1997<br />15 tháng 1 năm 1999
|align=left| {{dts|21 tháng 5 năm 1993}}<br />8 tháng 2 năm 1996<br />13 tháng 3 năm 1998<br />1 tháng 8 năm 2000
{{WDL|565|221|146|198}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Alan|Smith|dab=manager}}
|2009||{{flagicon|Argentina}} [[Julián Speroni]]
|align=left| {{dts|3 tháng 6 năm 1993}}<br />1 tháng 8 năm 2000
|align=left| {{dts|15 tháng 5 năm 1995}}<br />29 tháng 4 năm 2001
{{WDL|163|62|43|58}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Dave|Bassett}}
|2010||{{flagicon|Argentina}} [[Julián Speroni]]
|align=left| {{dts|8 tháng 2 năm 1996}}
|align=left| {{dts|27 tháng 2 năm 1997}}
{{WDL|60|29|15|16}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Attilio|Lombardo}}<ref group=upper-alpha>Cầu thủ kiêm huấn luyện viên</ref>
|2011||{{flagicon|England}} [[Nathaniel Clyne]]
|align=left| {{dts|13 tháng 3 năm 1998}}
|align=left| {{dts|29 tháng 4 năm 1998}}
{{WDL|7|2|0|5}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Steve|Bruce}}
|2012||{{flagicon|Norway}} [[Jonathan Parr]]
|align=left| {{dts|30 tháng 5 năm 2001}}
|align=left| {{dts|31 tháng 10 năm 2001}}
{{WDL|18|11|2|5}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Trevor|Francis}}
|2013||{{flagicon|Australia}} [[Mile Jedinak]]
|align=left| {{dts|30 tháng 11 năm 2001}}
|align=left| {{dts|18 tháng 4 năm 2003}}
{{WDL|78|28|22|28}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Iain|Dowie}}
|2014||{{flagicon|Argentina}} [[Julián Speroni]]
|align=left| {{dts|22 tháng 12 năm 2003}}
|align=left| {{dts|22 tháng 5 năm 2006}}
{{WDL|123|50|29|44}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Peter|Taylor|dab=cầu thủ bóng đá born 1953}}
|2015||{{flagicon|England}} [[Scott Dann]]
|align=left|{{dts|13 tháng 6 năm 2006}}
|align=left|{{dts|8 tháng 10 năm 2007}}
{{WDL|60|21|16|23}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Neil|Warnock}}
|2016||{{flagicon|Ivory Coast}} [[Wilfried Zaha]]
|align=left|{{dts|11 tháng 10 năm 2007}}<br />27 tháng 8 năm 2014
|}
|align=left|{{dts|2 tháng 3 năm 2010}}<br />27 tháng 12 năm 2014
|width="1"|
{{WDL|146|50|45|51}}
|valign="top"|
{| class="toccolours"
|-
|-
|align=left| {{sortname|Paul|Hart}}
! style="background:silver;"|Năm!! style="background:silver;"|Người chiến thắng
|align=left|{{dts|2 tháng 3 năm 2010}}
|align=left|{{dts|3 tháng 5 năm 2010}}
{{WDL|14|3|6|5}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|George|Burley}}
|2017||{{flagicon|Ivory Coast}} [[Wilfried Zaha]]
|align=left|{{dts|17 tháng 6 năm 2010}}
|align=left|{{dts|1 tháng 1 năm 2011}}
{{WDL|25|7|5|13}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Dougie|Freedman}}
|2018||{{flagicon|Ivory Coast}} [[Wilfried Zaha]]
|align=left|{{dts|11 tháng 1 năm 2011}}
|align=left|{{dts|23 tháng 10 năm 2012}}
{{WDL|90|32|27|31}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Ian|Holloway}}
|2019||{{flagicon|England}} [[Aaron Wan-Bissaka]]
|align=left|{{dts|3 tháng 11 năm 2012}}
|align=left|{{dts|23 tháng 10 năm 2013}}
{{WDL|46|14|14|18}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Tony|Pulis}}
|2020||{{flagicon|Ghana}} [[Jordan Ayew]]
|align=left|{{dts|23 tháng 11 năm 2013}}
|align=left|{{dts|14 tháng 8 năm 2014}}
{{WDL|28|12|5|11}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Alan|Pardew}}
|2021||{{flagicon|Spain}} [[Vicente Guaita]]
|align=left|{{dts|2 tháng 1 năm 2015}}
|align=left|{{dts|22 tháng 12 năm 2016}}
{{WDL|87|35|13|39}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Sam|Allardyce}}
|2022||{{flagicon|England}} [[Conor Gallagher]]
|align=left|{{dts|23 tháng 12 năm 2016}}
|align=left|{{dts|23 tháng 5 năm 2017}}
{{WDL|24|9|3|12}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Frank de|Boer}}
|2023||{{flagicon|Mali}} [[Cheick Doucouré]]
|align=left|{{dts|26 tháng 6 năm 2017}}
|align=left|{{dts|11 tháng 9 năm 2017}}
{{WDL|5|1|0|4}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Roy|Hodgson}}
|2024||{{flagicon|France}} [[Jean-Philippe Mateta]]
|align=left|{{dts|12 tháng 9 năm 2017}}<br />21 tháng 3 năm 2023
|align=left|{{dts|23 tháng 5 năm 2021}}<br />{{dts|19 tháng 2 năm 2024}}
{{WDL|200|66|47|87}}
|-
|-
|align=left| {{sortname|Patrick|Vieira}}
|2025||{{flagicon|Colombia}} [[Daniel Muñoz]]
|align=left|{{dts|4 tháng 7 năm 2021}}
|align=left|{{dts|17 tháng 3 năm 2023}}
{{WDL|74|22|25|27}}
|-
|-
|align=left|
|}
{{sortname|Oliver|Glasner}}
|align=left|{{dts|19 tháng 2 năm 2024}}
|align=left|''nay''
{{WDL|108|46|33|29}}
|}
|}


==Danh hiệu==
==Danh hiệu==


'''Giải vô địch'''
*[[List of winners of English Football League Championship and predecessors|Second Division / First Division / Championship]] (cấp độ 2)
**Vô địch: [[1978–79 Football League|1978–79]], [[1993–94 Football League|1993–94]]
*[[Football League Second Division|Second Division]] / [[Football League First Division|First Division]] / [[EFL Championship|Championship]] (cấp độ 2)
**Á quân: [[1968–69 Football League|1968–69]]
** địch: [[Football League 1978-79|1978-79]], [[Football League 1993-94|1993-94]]
**Á quân: [[Football League 1968-69|1968-69]]
**Play-off winners (4) (record): [[1989 Football League Second Division play-off final|1989]], [[1997 Football League First Division play-off final|1997]], [[2004 Football League First Division play-off final|2004]], [[2013 Football League Championship play-off final|2013]]
**Thắng play-off thăng hạng: [[Play off Football League 1989#Second Division|1989]], [[Play-off Football League 1997#First Division|1997]], [[Play-off Football League 2004#First Division|2004]], [[Play-off Football League 2013#Championship|2013]]
*[[List of winners of English Football League One and predecessors|Third Division / Third Division South]] (cấp độ 3)
*[[Football League Third Division |Third Division]] / [[Football League Third Division South|Third Division South]] (cấp độ 3)
**Vô địch: [[1920–21 Football League|1920–21]]
**Vô địch: [[Football League 1920-21|1920-21]]
**Á quân: [[1928–29 Football League|1928–29]], [[1930–31 Football League|1930–31]], [[1938–39 Football League|1938–39]], [[1963–64 Football League|1963–64]]
**Á quân: [[Football League 1928-29|1928-29]], [[Football League 1930-31|1930-31]], [[Football League 1938-39|1938-39]], [[Football League 1963-64|1963-64]]
*[[List of winners of English Football League Two and predecessors|Fourth Division]] (cấp độ 4)
** Á quân: [[1960–61 Football League|1960–61]]
*[[Football League Fourth Division|Fourth Division]] (cấp độ 4)
**Á quân: [[Football League 1960-61|1960-61]]


'''Cúp'''
*[[FA Cup]]
**'''Vô địch''': [[Cúp FA 2024–25|2024–25]]
*[[Cúp FA]]
**Á quân: [[1989–90 FA Cup|1989–90]], [[Cúp FA 2015-16|2015–16]]
** địch: [[Cúp FA 2024-25|2024-25]]
**Á quân: [[Cúp FA 1989-90|1989-90]], [[Cúp FA 2015-16|2015-16]]
*[[FA Community Shield]]
**Vô địch: [[FA Community Shield 2025|2025]]
*[[Full Members Cup]]<ref group=upper-alpha>Đây là một giải đấu cúp được tổ chức từ năm 1985 tới năm 1992. Giải cũng từng được biết đến với các tên tài trợ là '''[[Simod]] Cup''' từ năm 1987 tới năm 1989 và '''[[Zenith Data Systems]] Cup''' từ năm 1989 tới năm 1992. Giải được tạo ra sau [[Heysel Stadium disaster|thảm họa Heysel]], khi các câu lạc bộ Anh bị cấm tham dự [[UEFA#Competitions|các giải đấu châu Âu]], như một giải đấu bổ sung dành cho các câu lạc bộ ở hai hạng đấu cao nhất.</ref>
**Vô địch: [[Full Members Cup 1990-91|1990-91]]


'''Danh hiệu thời chiến'''
*[[Full Members Cup]]<ref group="upper-alpha">Đây là một giải đấu cúp được tổ chức từ năm 1985 đến năm 1992. Giải đấu cũng được biết đến với tên gọi tài trợ là '''[[Simod]] Cup''' từ năm 1987 đến năm 1989 và '''[[Zenith Data Systems]] Cup''' từ năm 1989 đến năm 1992. Giải đấu được thành lập sau [[Thảm họa Heysel]], khi các câu lạc bộ Anh bị cấm tham gia [[UEFA#Competitions|giải đấu châu Âu]], như một giải đấu bổ sung cho các câu lạc bộ ở hai hạng đấu cao nhất.</ref>
*[[Football League North and South|Football League South]]
**Vô địch: [[1990–91 Full Members Cup|1990–91]]
**Vô địch: [[Bóng đá Anh mùa giải 1940-41|1940-41]]
*[[Wartime League|Wartime South D League]]
**Vô địch: [[Bóng đá Anh mùa giải 1939-40|1939-40]]


'''Các giải đấu khu vực'''
* [[Siêu cúp Anh|FA Community Shield]]
*[[Southern Football League|Southern Football League Division One]]
**Á quân: [[Southern Football League 1913-14|1913-14]]
*[[Southern Football League|Southern Football League Division Two]]
**Vô địch: [[Southern Football League 1905-06|1905-06]]
*[[United League (bóng đá)|United League]]<ref name=royalrecords>{{Chú thích web |url=http://www.royalsrecord.co.uk/cups/united.html |title=United League |website=www.royalsrecord.co.uk |archive-url=https://web.archive.org/web/20160412045405/http://www.royalsrecord.co.uk/cups/united.html |archive-date=12 tháng 4 năm 2016}}</ref>
**Vô địch: [[United League (bóng đá)#1906-07|1906-07]]
**Á quân: [[United League (bóng đá)#1905-06|1905-06]]
*[[Southern Professional Floodlit Cup]]
**Á quân: 1958-59
*[[London Challenge Cup]]<ref group=upper-alpha>Đây là một giải đấu do [[London Football Association|London FA]] tổ chức. Giải lần đầu được tổ chức vào năm 1908, và ngoài giai đoạn hai cuộc chiến tranh thế giới, được tổ chức hằng mùa giải cho tới năm 1974, khi giải bị giải thể.</ref>
**Vô địch: 1912-13, 1913-14, 1920-21
**Á quân: 1919-20, 1921-22, 1922-23, 1931-32, 1937-38, 1946-47
*[[Surrey Senior Cup]]<ref>{{Chú thích web|publisher=Surrey FA |title=Saturday Senior Cup Previous Winners |url=http://www.surreyfa.com/previous-winners-and-officials/saturday-senior-cup-previous-winners |access-date=31 tháng 3 năm 2016 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140502232940/http://www.surreyfa.com/previous-winners-and-officials/saturday-senior-cup-previous-winners |archive-date= 2 tháng 5 năm 2014 }}</ref>
**Vô địch: 1996-97, 2000-01, 2001-02
* [[London Five-a-Sides]]
** Vô địch: 1959, 1969
** Á quân: 1958, 1968, 1979
*Kent Senior Shield
**Vô địch: 1911-12
**Á quân: 1912-13


==Trong văn hóa đại chúng==
** Vô địch: [[Siêu cúp Anh 2025|2025]]
Trong bộ phim ''[[Wonderland (phim năm 1999)|Wonderland]]'' năm 1999, các cảnh của nhân vật Dan cùng con trai tại một trận bóng đá được quay ở [[Selhurst Park]] trong trận hòa 1-1 của Crystal Palace với [[Birmingham City F.C.|Birmingham City]] vào ngày 6 tháng 2 năm 1999.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.statto.com/football/stats/results/1999-02-06|publisher=Statto.com|title=Results saturday 6th tháng 2 năm 1999|date=17 tháng 6 năm 2012|url-status=live|archive-url=https://web.archive.org/web/20130526020629/http://www.statto.com/football/stats/results/1999-02-06|archive-date=26 tháng 5 năm 2013}}</ref> Trong vở kịch sân khấu và phiên bản truyền hình ''[[Abigail's Party]]'', nhân vật Tony nhắc rằng trước đây anh từng chơi bóng chuyên nghiệp cho Crystal Palace, nhưng "mọi chuyện không thành", chi tiết mà diễn viên [[John Salthouse]] đã đưa vào nhân vật trong quá trình tập luyện dựa trên chính cuộc đời mình.<ref name="Duvitski 6" /> Salthouse cũng đưa câu lạc bộ vào loạt phim truyền hình thiếu nhi do ông viết là ''[[Hero to Zero]]'', trong đó cha của nhân vật chính từng chơi cho đội dự bị của Palace.<ref>{{Chú thích báo|last=Maume|first=Chris|title=Owen's method is latest pitch at football's screen test|newspaper=The Independent|page=28|date=26 tháng 2 năm 2000}}</ref> Trong loạt đầu của bộ phim hài truyền hình ''[[Only Fools and Horses]]'', có thể thấy một chiếc khăn quàng Crystal Palace treo trên giá áo, được nhà sản xuất [[Ray Butt]] đặt ở đó, dù tên đệm của nhân vật Rodney là Charlton, như người anh Del tiết lộ trong ngày cưới của Rodney: mẹ họ là người hâm mộ "Athletic" chứ không phải "Heston".<ref>{{Chú thích báo|last=Simons|first=Raoul|title=Football Talk|newspaper=The Evening Standard|date=25 tháng 5 năm 2006|page=59}}</ref> Hiệu trưởng Keith Blackwell, người từng đóng vai linh vật "Pete the Eagle" của Palace trong thập niên 1990, đã xuất hiện trong một loạt quảng cáo Coca-Cola năm 1996, với các đoạn phim ông mặc trang phục linh vật được sử dụng trong quảng cáo. Blackwell từng kể về vai trò này và những rắc rối nó gây ra tại trường học của ông, khi ông phải vắng một số cuộc họp phụ huynh vì Palace thi đấu giữa tuần.<ref>{{Chú thích báo|last=Earls|first=John|title=Game for a laugh; Soccer club mascots keep thousands of fans entertained at every game by dressing up as lions, dinosaurs – and even a giant hammer! But what makes them want to face the taunts of cheeky away fans?|url=http://www.thefreelibrary.com/Game+for+a+laugh%3B+Soccer+club+mascots+keep+thousands+of+fans...-a061132570|access-date=28 tháng 6 năm 2013|newspaper=The People|date=19 tháng 10 năm 1997|archive-url=https://web.archive.org/web/20131202223317/http://www.thefreelibrary.com/Game+for+a+laugh%3B+Soccer+club+mascots+keep+thousands+of+fans...-a061132570|archive-date=2 tháng 12 năm 2013|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|last=Leach |first=Conrad |title=Mascot men, mascot cats and dogs |url=https://www.independent.co.uk/sport/mascot-men-mascot-cats-and-dogs-1185112.html |access-date=28 tháng 6 năm 2013 |newspaper=The Independent |date=15 tháng 11 năm 1998 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131218170439/http://www.independent.co.uk/sport/mascot-men-mascot-cats-and-dogs-1185112.html |archive-date=18 tháng 12 năm 2013 }}</ref>


Câu lạc bộ bắt đầu phát bài hát "[[Glad All Over]]" của [[the Dave Clark Five]] trong các trận sân nhà vào đầu năm 1964, và ban nhạc này cũng từng biểu diễn ca khúc đó tại Selhurst Park vào năm 1968.<ref name=Henty>{{Chú thích web|url=https://www.cpfc.co.uk/news/features/john-henty-crystal-palace-glad-all-over-gold-record/|title=John Henty: The man who made Crystal Palace 'Glad All Over'|date=15 tháng 11 năm 2023|website=Crystal Palace F.C.}}</ref> Từ đó, bài hát gắn bó mật thiết với câu lạc bộ, và cổ động viên Palace hát nó ở mọi trận đấu.<ref name=CA_GAO>{{Chú thích báo|url=http://www.croydonadvertiser.co.uk/sport/football/football-news/crystal-palace-fans-sing-glad-433141|title=Why do Crystal Palace fans sing Glad All Over and what are its lyrics?|last=Booker|first=James|date=19 tháng 5 năm 2016|work=croydonadvertiser|access-date=20 tháng 11 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20171115075645/http://www.croydonadvertiser.co.uk/sport/football/football-news/crystal-palace-fans-sing-glad-433141|archive-date=15 tháng 11 năm 2017|url-status=live}}</ref> Câu lạc bộ đã phát hành một phiên bản hát lại của bài này để chào đón [[1990 FA Cup final|trận chung kết Cúp FA 1990]].<ref name="CA_GAO" /><ref>{{Chú thích web |date=15 tháng 11 năm 2023 |title=Glad All Over: Beers at Abbey Road Studios and an FA Cup single - News |url=https://www.cpfc.co.uk/news/club/glad-all-over-60th-anniversary-abbey-road-mark-bright-fa-cup-final-single/ |access-date=10 tháng 6 năm 2025 |website=Crystal Palace F.C. |language=en-GB}}</ref>
== Chú thích ==
{{tham khảo|30em}}


Tập phim năm 2008 của ''[[The IT Crowd]]'', "[[List of The IT Crowd episodes|Are We Not Men?]]", đã sử dụng Selhurst Park để quay các cảnh đám đông. Loạt phim Apple TV ''[[Ted Lasso]]'' cũng quay các cảnh sân vận động tại Selhurst Park.
== Liên kết ngoài ==
{{Các trận đấu của Crystal Palace F.C.}}
{{Bóng đá Anh}}
{{Giải bóng đá ngoại hạng Anh}}
{{Bóng đá ở London}}
{{sơ khai bóng đá}}


Crystal Palace F.C. là chủ đề của loạt phim gồm năm phần trên [[Amazon Prime Video]], phát hành năm 2021, mang tên ''[[When Eagles Dare]]'', ghi lại [[mùa giải]] [[2012-13 Crystal Palace F.C. season|2012-13]] của câu lạc bộ, khi họ giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất thông qua loạt play-off Championship.<ref>{{Chú thích web |url=https://www.independent.co.uk/sport/football/crystal-palace-documentary-amazon-prime-b1843109.html |title=Crystal Palace documentary: Amazon to release 'When Eagles Dare' in June |last=Braidwood |first=Jaime |work=The Independent |date=6 tháng 5 năm 2021 |access-date=16 tháng 8 năm 2021 |url-status=live|archive-url=https://web.archive.org/web/20210506142945/https://www.independent.co.uk/sport/football/crystal-palace-documentary-amazon-prime-b1843109.html |archive-date=6 tháng 5 năm 2021}}</ref>

==Crystal Palace Women==
{{Main|Crystal Palace F.C. Women}}

[[Crystal Palace F.C. (Women)|Crystal Palace Women]] là một câu lạc bộ bóng đá nữ được thành lập vào năm 1992 và có liên kết với đội nam cùng tên. Hiện tại, đội thi đấu tại [[FA Women's Super League 2|Women's Super League 2]] và chơi các trận sân nhà tại [[Gander Green Lane|Sân vận động Cộng đồng VBS]] ở [[Sutton, Luân Đôn|Sutton]], Nam Luân Đôn.

==Ghi chú==
{{Tham khảo|group=upper-alpha}}

==Tham khảo==
;Tài liệu tham khảo
*{{Chú thích sách|last=King|first=Ian|title=Crystal Palace: The Complete Record 1905-2011|publisher=Derby Books Publishing Company Limited|year=2012|isbn=978-1-78091-221-9}}
* Matthews, Tony (editor). ''We All Follow The Palace''. Juma, 1998. {{ISBN|1-872204-55-4}}

;Chú thích
{{Tham khảo|30em|refs=

<ref name="Attack on fan new low for soccer">{{Chú thích báo |title=Attack on fan new low for soccer |url=https://news.google.com/newspapers?id=PUlWAAAAIBAJ&dq=crystal%20palace&pg=6748%2C6539137 |newspaper=The Register-Guard |date=28 tháng 1 năm 1995 |agency=Associated Press |location=Eugene |access-date=29 tháng 5 năm 2013}}</ref>

<ref name="BBCLUX">{{Chú thích báo|last=Stevens |first=Rob |title=Crystal Palace: Steve Parish faces 'luxury problems' after promotion |url=https://www.bbc.co.uk/sport/football/22704156 |newspaper=BBC News |date=30 tháng 5 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130607110831/http://www.bbc.co.uk/sport/0/football/22704156 |archive-date=7 tháng 6 năm 2013 |url-status=live |access-date=28 tháng 6 năm 2013}}</ref>

<ref name="BBC Sport Palace2">{{Chú thích web |title=Hodgson reappointed as Crystal Palace manager |website=BBC Sport |date=21 tháng 3 năm 2023 |url=https://www.bbc.com/sport/football/65013469 |access-date=21 tháng 3 năm 2023}}</ref>

<ref name="BBC289590">{{Chú thích báo |url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/business/the_company_file/289590.stm |title=The Company File: Palace on the rocks |date=3 tháng 3 năm 1999 |work=BBC News |archive-url=https://web.archive.org/web/20140506201138/http://news.bbc.co.uk/2/hi/business/289590.stm |archive-date=6 tháng 5 năm 2014 |url-status=live |access-date=26 tháng 8 năm 2009}}</ref>

<ref name="Business: Club History">{{Chú thích web |url=http://www.cpfc.co.uk/club/history/ |title=History |publisher=[[CPFC]] |archive-url=https://web.archive.org/web/20130606051751/http://www.cpfc.co.uk/club/history/ |archive-date=6 tháng 6 năm 2013 |url-status=live |access-date=14 tháng 10 năm 2013}}</ref>

<ref name="CA1">{{Chú thích báo |title=Behind-The-Scenes Shuffle at Palace |work=Croydon Advertiser |date=August 1972 |author=Matthews, John |quote=...&nbsp;whose board he joined in 1948}}</ref>

<ref name="CA3">"New Man Bloye Kills 'Moneybags' Tag", ''Croydon Advertiser'', 27 tháng 10 năm 1972, p.58 "Twenty two years ago&nbsp;... seven men formed a board&nbsp;... (n)ow the last of the seven, Arthur Wait, steps (down)"</ref>

<ref name="cap2021">{{Chú thích web |title=Premier League Handbook 2020/21 |url=https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2021/04/07/6ebff069-a7ee-415d-afbd-15878b6d33b2/2020-21-PL-Handbook-240321.pdf |url-status=live |archive-url=https://web.archive.org/web/20210412002820/https://resources.premierleague.com/premierleague/document/2021/04/07/6ebff069-a7ee-415d-afbd-15878b6d33b2/2020-21-PL-Handbook-240321.pdf |archive-date=12 tháng 4 năm 2021 |publisher=Premier League |page=14 |access-date=12 tháng 4 năm 2021}}</ref>

<ref name="Duvitski 6">{{Chú thích báo |last=Duvitski |first=Janine |title=Party Central: The Players |newspaper=The Observer |location=London |date=14 tháng 10 năm 2007 |page=6}}</ref>

<ref name="ESSPSF40">{{Chú thích báo|last=Johnson |first=Simon |title=Crystal Palace: Selhurst Park set for a 40.000 makeover |url=https://www.standard.co.uk/sport/football/crystal-palace-selhurst-park-set-for-a-40000-makeover-8635930.html |newspaper=Evening Standard |date=29 tháng 5 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130609090147/http://www.standard.co.uk/sport/football/crystal-palace-selhurst-park-set-for-a-40000-makeover-8635930.html |archive-date=9 tháng 6 năm 2013 |access-date=27 tháng 6 năm 2013}}</ref>

<ref name="GK">{{Chú thích web |last=Porter |first=Steve |title=All time greatest F A cup giant killings Number 11 Newcastle United 0-1 Crystal Palace |url=http://www.freewebs.com/captainbeecher/1907crystalpalace.htm |work=The Giant Killers |archive-url=https://web.archive.org/web/20141208080520/http://www.freewebs.com/captainbeecher/1907crystalpalace.htm |archive-date=8 tháng 12 năm 2014 |access-date=20 tháng 6 năm 2013}}</ref>

<ref name="guardian1861">{{Chú thích báo |last=Wilson |first=Paul |url=https://www.theguardian.com/football/2020/apr/21/crystal-palace-launch-plan-to-claim-title-as-oldest-football-league-club |title=Crystal Palace launch plan to claim title of oldest Football League club |date=22 tháng 4 năm 2020 |work=The Guardian |language=en-GB <!--|issn=0261-3077--> |access-date=22 tháng 4 năm 2020}}</ref>

<ref name="HFK">{{Chú thích web |title=Crystal Palace |work=Historical Football Kits |first=Dave |last=Moor |url=http://www.historicalkits.co.uk/Crystal_Palace/Crystal_Palace.htm |archive-url=https://web.archive.org/web/20120906064705/http://www.historicalkits.co.uk/Crystal_Palace/Crystal_Palace.htm |archive-date=6 tháng 9 năm 2012 |url-status=live |access-date=1 tháng 8 năm 2012}}</ref>

<ref name="In Bed With Maradona">{{Chú thích web |title=The Unlikely Rivalry Between Brighton and Crystal Palace |work=IBWM |url=http://inbedwithmaradona.com/journal/2017/8/7/the-unlikely-rivalry-between-brighton-and-crystal-palace |publisher=In Bed With Maradona |date=7 tháng 8 năm 2017 |archive-url=https://web.archive.org/web/20170904195219/http://inbedwithmaradona.com/journal/2017/8/7/the-unlikely-rivalry-between-brighton-and-crystal-palace |archive-date=4 tháng 9 năm 2017 |url-status=live |access-date=4 tháng 9 năm 2017}}</ref>

<ref name="K441">King, p. 441</ref>

<ref name="K444">King, p. 444</ref>

<ref name="Kay">{{Chú thích tập san học thuật |last1=Kay |first1=Joyce |title=It Wasn't Just Emily Davison! Sport, Suffrage and Society in Edwardian Britain |journal=The International Journal of the History of Sport |date=2008 |volume=25 |issue=10 |page=1343 |doi=10.1080/09523360802212271 |s2cid=154063364 |url=http://dspace.stir.ac.uk/bitstream/1893/765/2/International%20Journal%20paper.pdf}}</ref>

<ref name="PaulaBartley">{{Chú thích sách |last=Bartley |first=Paula |title=Votes for Women: 1860-1928 |date=27 tháng 4 năm 2007 |page=87 |publisher=Hodder Education Group |isbn=978-0-340-92685-7 |language=en}}</ref>

<ref name="relegation">{{Chú thích web |url=https://www.theguardian.com/football/the-agony-and-the-ecstasy/2018/aug/24/premier-league-40-point-mark-relegation-crystal-palace |title=Premier League managers should forget the mythical 40-point mark |last=Foster |first=Richard |date=24 tháng 8 năm 2018 |website=[[The Guardian]] |access-date=4 tháng 2 năm 2019}}</ref>

<ref name="royalrecords">{{Chú thích web |url=http://www.royalsrecord.co.uk/cups/united.html |title=United League |website=www.royalsrecord.co.uk |archive-url=https://web.archive.org/web/20160412045405/http://www.royalsrecord.co.uk/cups/united.html |archive-date=12 tháng 4 năm 2016}}</ref>

<ref name="soccerbaserecords">{{Chú thích web |url=http://www.soccerbase.com/teams/team.sd?team_id=646&teamTabs=records |publisher=Soccerbase |title=Crystal Palace all time records |archive-url=https://web.archive.org/web/20131017163401/http://www.soccerbase.com/teams/team.sd?team_id=646&teamTabs=records |archive-date=17 tháng 10 năm 2013 |url-status=live |access-date=16 tháng 7 năm 2013}}</ref>

<ref name="theguardian.com">{{Chú thích báo|title=Crystal Palace fans stage demonstration against Lloyds Bank as deadline looms |url=https://www.theguardian.com/football/2010/jun/01/crystal-palace-lloyds-bank-demonstration |date=1 tháng 6 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100604055626/http://www.guardian.co.uk/football/2010/jun/01/crystal-palace-lloyds-bank-demonstration |archive-date=4 tháng 6 năm 2010 |agency=Press Association |access-date=27 tháng 6 năm 2013}}</ref>

<ref name="TOON">{{Chú thích sách |last=Hutchinson |first=Roger |title=The Toon: A Complete History of Newcastle United Football Club |year=2011 |publisher=Random House |isbn=978-1-78057-314-4 |url=https://books.google.com/books?id=mGJsZeq7myAC&q=newcastle+crystal+palace+1907&pg=PT20}}</ref>

}}

==Đọc thêm==
* ''The Crystal Palace Story'' của Roy Peskett, do Roy Peskett Publishing Ltd xuất bản (1969). {{isbn|978-0-9501-0390-7}}.
* ''100 Years of Crystal Palace Football Club'' của Rev. Nigel Sands, do The History Press Ltd xuất bản, (2005), {{ISBN|978-0-7524-3608-1}}.
* ''Crystal Palace Football Club'' của Rev. Nigel Sands, do NPI Media Group xuất bản, (1999), {{ISBN|978-0-7524-1544-4}}.
* ''Classic Matches: Crystal Palace FC'' của Rev. Nigel Sands, do The History Press Ltd xuất bản, (2002), {{ISBN|978-0-7524-2733-1}}.
* ''Crystal Palace Miscellany'' của Neil McSteen, do Legends Publishing xuất bản, (2009), {{ISBN|978-1-905411-55-9}}.

==Xem thêm==
{{Portal bar|Bóng đá|Bóng đá Anh|Luân Đôn}}
*[[Bóng đá Luân Đôn]]

==Liên kết ngoài==
{{Commons category}}
{{Wikinews category|Crystal Palace F.C.}}
* {{Website chính thức}}

===Các website độc lập===
* {{BBC Football Info|crystal-palace}}
* [https://www.skysports.com/crystal-palace Crystal Palace] at Sky Sports
* [https://www.premierleague.com/clubs/6/Crystal-Palace/overview Crystal Palace FC] at Premier League
* [https://www.uefa.com/nationalassociations/teams/52916--crystal-palace/ Crystal Palace FC] at [[UEFA]]

{{Crystal Palace F.C.}}
{{Navboxes|list =
{{Mùa giải Crystal Palace F.C.}}
{{Trận đấu Crystal Palace F.C.}}
{{Premier League}}
{{EFL Championship}}
{{Bóng đá Luân Đôn}}
{{Josh Harris}}
{{David Blitzer}}
}}

{{Authority control}}

{{DEFAULTSORT:Crystal Palace F.C. 1905}}
[[Thể loại:Crystal Palace F.C.| ]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1905]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Luân Đôn]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Luân Đôn]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Southern Football League]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ Southern Football League]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1905 ở Anh]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1905 ở Anh]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1905]]
[[Thể loại:Crystal Palace, Luân Đôn]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]]
[[Thể loại:David Blitzer]]
[[Thể loại:Josh Harris]]
[[Thể loại:Thể thao Khu Croydon của Luân Đôn]]
[[Thể loại:United League (bóng đá)]]
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]]
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh]]

Phiên bản lúc 10:20, ngày 7 tháng 4 năm 2026

Crystal Palace
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Crystal Palace
Biệt danh
  • The Eagles
  • The Glaziers[A]
Tên ngắn gọn
  • Palace
  • CPFC
Thành lập10 tháng 9 năm 1905; 120 năm trước (1905-09-10)[B]
Sân vận độngSelhurst Park
Sức chứa25.486[2]
Chủ sở hữu
  • Woody Johnson (43%)
  • Josh Harris (10%)
  • David Blitzer (10%)
  • Steve Parish (10%)
Chủ tịch điều hànhSteve Parish
Người quản lýOliver Glasner
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 12 trên 20
Websitecpfc.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Crystal Palace (tiếng Anh: Crystal Palace Football Club), thường được gọi đơn giản là Palace, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Selhurst, Nam Luân Đôn, Anh, hiện thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Câu lạc bộ chính thức được thành lập với tư cách một đội bóng chuyên nghiệp vào năm 1905 tại khu triển lãm Crystal Palace, nhưng có nguồn gốc xa hơn, từ tận năm 1861.[3][4] Từ năm 1905 tới năm 1915, đội sử dụng sân chung kết Cúp FA nằm trong khuôn viên triển lãm làm sân nhà, trước khi buộc phải rời đi do Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Năm 1924, câu lạc bộ chuyển tới sân nhà hiện tại là Selhurst Park.

Trong những năm đầu tồn tại với tư cách một câu lạc bộ chuyên nghiệp, Palace thi đấu tại Southern League, trước khi được bầu vào Football League vào năm 1920. Từ thập niên 1960 trở đi, phần lớn lịch sử thi đấu ở giải vô địch của đội gắn với hai hạng đấu cao nhất bóng đá Anh. Kể từ năm 1964, câu lạc bộ chỉ có đúng một lần rơi xuống dưới hạng Hai, và quãng thời gian đó cũng chỉ kéo dài ba mùa giải, từ năm 1974 tới năm 1977. Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, Palace trải qua một giai đoạn thành công ở hạng đấu cao nhất. Sau khi vào tới chung kết Cúp FA 1990, Palace từng cạnh tranh với ArsenalLiverpool cho chức vô địch Anh ở mùa giải 1990-91, trước khi khép lại mùa giải ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của đội tại giải vô địch cho tới nay. Palace lỡ cơ hội giành vé dự Cúp UEFA vì số suất dành cho các đội bóng Anh ở hạng đấu cao nhất khi đó còn hạn chế sau thảm họa Heysel. Câu lạc bộ cũng là một trong những thành viên sáng lập của Premier League đầu tiên ở mùa giải 1992-93.

Tuy nhiên, sau đó vận may của câu lạc bộ lao dốc nghiêm trọng sau khi đội xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất vào năm 1998. Nguyên nhân là những vấn đề tài chính khiến Palace phải rơi vào tình trạng quản lý tài sản hai lần, vào các năm 1999 và 2010. Sau đó, đội dần phục hồi, và kể từ khi thăng hạng trở lại Premier League vào năm 2013, Palace đã có chuỗi 13 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất tính tới mùa giải 2025-26, dài nhất trong lịch sử câu lạc bộ, đồng thời vào thêm hai trận chung kết Cúp FA nữa vào các năm 20162025, với chiến thắng ở trận chung kết sau đã mang về danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử đội bóng. Sau thành công đó, câu lạc bộ tiếp tục giành luôn FA Community Shield đầu tiên ngay trong cùng năm.

Màu trang phục của câu lạc bộ là claret và xanh cho tới năm 1973, trước khi được thay bằng mẫu sọc dọc đỏ và xanh đang được sử dụng cho tới ngày nay. Palace có mối kình địch dữ dội và lâu đời với Brighton & Hove Albion, hình thành từ thập niên 1970 vì những lí do cạnh tranh. Ngoài ra, đội cũng có các mối kình địch mạnh với những câu lạc bộ lân cận MillwallCharlton Athletic, các đối thủ trong những trận derby Nam Luân Đôn.

Lịch sử

Ảnh đơn sắc mặt trước của tòa Palace và một phần khuôn viên xung quanh.
Tòa nhà triển lãm Crystal Palace (1854)

Cung Triển lãm và sân chung kết Cúp FA (1854-1905)

Năm 1854, tòa nhà triển lãm Crystal Palace được di dời khỏi Hyde Park, Luân Đôn, rồi được dựng lại tại một khu vực ở Nam Luân Đôn bên cạnh Sydenham Hill. Khu vực xung quanh sau đó được đổi tên thành Crystal Palace và bao gồm Crystal Palace Park, nơi nhiều cơ sở thể thao được xây dựng. Năm 1857, Crystal Palace Cricket Club được thành lập tại đây và sử dụng sân cricket bên trong công viên. Các thành viên của đội cricket sau đó vận động để duy trì hoạt động thể thao trong mùa đông và lập ra một đội bóng nghiệp dư mang tên Crystal Palace,[5] đội bóng này trở thành một trong những thành viên sáng lập của Football Association vào năm 1863.[6] Đội góp mặt ở giải Cúp FA đầu tiên trong mùa giải 1871-72, vào tới vòng bán kết[7] và tiếp tục thi đấu ở Cúp FA trong bốn mùa giải tiếp theo, nhưng sau đó biến mất khỏi các ghi chép lịch sử vào khoảng tháng 12 năm 1875.[8]

Năm 1895, Football Association tìm được một địa điểm cố định mới để tổ chức Cúp FA final tại sân vận động thể thao nằm trong khuôn viên khu triển lãm. Vài năm sau, Crystal Palace Company, đơn vị sở hữu tòa Palace và phần đất xung quanh, vốn phụ thuộc vào hoạt động du lịch để có doanh thu, bắt đầu tìm kiếm những sức hút mới cho địa điểm này và quyết định thành lập một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp mới để thi đấu tại sân vận động đó.[9] Các ông chủ muốn có một đội bóng chơi tại đây để khai thác tiềm năng khán giả rất lớn của khu vực.

Trận chung kết Cúp FA 1905 tại Sân vận động Crystal Palace.

Sự ra đời của câu lạc bộ chuyên nghiệp và Southern League (1905-1920)

Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Crystal Palace được thành lập vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 dưới sự dẫn dắt của trợ lí thư kí Aston Villa là Edmund Goodman,[10] người sau này trở thành huấn luyện viên tại vị lâu nhất trong lịch sử Palace. Câu lạc bộ nộp đơn xin gia nhập Football League nhưng bị từ chối, và thay vào đó phải bắt đầu ở Southern League Second Division trong mùa giải 1905-06. Palace đã thành công ngay ở chiến dịch đầu tiên, giành quyền thăng hạng lên Southern League First Division sau khi đăng quang ngôi vô địch.[10] Đội cũng thi đấu tại United League vào giữa tuần và kết thúc với vị trí á quân sau Watford, và chính ở giải đấu này câu lạc bộ đã chơi trận đầu tiên, giành chiến thắng 3-0 trên sân khách trước New Brompton.[10][11]

Đội hình Crystal Palace F.C. (1905-06).

Năm 1907, trong một chiến thắng gây sốc ở vòng Một, Crystal Palace đánh bại Newcastle United 1-0 tại Cúp FA.[12][13] Hai năm sau, vào năm 1909, một cú sốc còn lớn hơn đã xảy ra khi Palace đánh bại đương kim vô địch Cúp FA là Wolves ở vòng Một của giải đấu năm đó, trở thành đội ngoài hệ thống giải vô địch đầu tiên loại nhà vô địch đang giữ cúp.[14] Câu lạc bộ tiếp tục thi đấu tại Southern League cho tới năm 1914, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ khiến Bộ Hải quân Anh trưng dụng Crystal Palace cùng khu đất xung quanh, buộc câu lạc bộ phải rời đi. Đội chuyển sang sân nhà của West Norwood gần đó tại Herne Hill Velodrome. Ba năm sau, họ lại chuyển tới the Nest sau sự tan rã của Croydon Common.

Vụ đánh bom trận chung kết Cúp FA 1913

Sân Crystal Palace gần như đã bị phá hủy trong một âm mưu đánh bom khủng bố nhằm vào trận chung kết Cúp FA 1913, khi các suffragette thuộc Women's Social and Political Union lên kế hoạch cho nổ tung các khán đài.[15][16] Đây là một phần của chiến dịch đánh bom và phóng hỏa của phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, trong đó các suffragette tiến hành một loạt vụ đánh bom và đốt phá mang động cơ chính trị trên khắp cả nước, như một phần của chiến dịch đòi quyền bầu cử cho phụ nữ.[17]

Gia nhập Football League (1920-1958)

Câu lạc bộ trở thành một trong những thành viên sáng lập của Football League Third Division mới ở mùa giải 1920-21, kết thúc mùa giải với ngôi vô địch và giành quyền thăng hạng lên Second Division. Thành tích đó giúp họ gia nhập nhóm Preston North End, Small Heath, LiverpoolBury với tư cách những câu lạc bộ duy nhất vào thời điểm đó vô địch giải đấu ngay trong mùa giải đầu tiên góp mặt tại hệ thống giải vô địch.[18] Palace sau đó chuyển tới sân vận động mới là Selhurst Park vào năm 1924, nơi câu lạc bộ vẫn thi đấu các trận sân nhà cho tới ngày nay.[19]

Trận đấu khai trương tại Selhurst Park là cuộc chạm trán với The Wednesday, và Palace thua 0-1 trước 25.000 khán giả. Kết thúc ở vị trí thứ 21, câu lạc bộ bị xuống hạng xuống Third Division South. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Palace đã có những nỗ lực đáng kể trong cuộc đua thăng hạng, phần lớn đều kết thúc ở nửa trên bảng xếp hạng và có ba lần đứng á quân. Trong những năm chiến tranh, Football League bị đình chỉ, và câu lạc bộ giành được hai chức vô địch Wartime League. Sau chiến tranh, Palace kém thành công hơn ở giải vô địch, với vị trí cao nhất chỉ là hạng bảy, và ngược lại, có ba lần đội phải xin tái bầu chọn.

Chuyến thăm lịch sử của Real Madrid và thăng hạng lên hạng đấu cao nhất (1958-1973)

Alfredo Di Stéfano, người đã ra sân cho Real Madrid trong trận gặp Palace năm 1962. Tờ Croydon Advertiser viết rằng “pha bóng dẫn tới bàn thứ tư của Madrid được thực hiện nhẹ nhàng đến mức tưởng như chỉ đang đi bộ”.[20]

Câu lạc bộ ở lại Third Division South cho tới hết mùa giải 1957-58, thời điểm Football League được tái cấu trúc với việc các câu lạc bộ ở nửa dưới của Third Division South sáp nhập với các câu lạc bộ ở nửa dưới của Third Division North để tạo thành Fourth Division mới. Palace kết thúc ở vị trí thứ 14, ngay dưới vạch phân chia, và bị đẩy xuống đáy của bóng đá Anh. Tuy nhiên, quãng thời gian ở đó chỉ kéo dài ngắn ngủi. Chủ tịch Palace là Arthur Wait bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của Tottenham là Arthur Rowe vào cuối mùa giải 1959-60, và phong cách bóng đá đầy hứng khởi của ông mang lại niềm vui lớn cho cổ động viên Palace. Mùa giải tiếp theo chứng kiến Palace giành quyền thăng hạng, đồng thời tạo nên một dấu ấn vào tháng 4 năm 1962 khi chạm trán đội Real Madrid vĩ đại của thời kì đó trong một trận giao hữu lịch sử. Đây là lần đầu tiên đội bóng khổng lồ Tây Ban Nha thi đấu một trận tại Luân Đôn, và chỉ diễn ra hai tuần trước khi họ gặp Benficachung kết Cúp C1 châu Âu. Một đội hình Real Madrid mạnh nhất đã đánh bại Palace với tỉ số 4-3. Dù Rowe từ chức vì lí do sức khỏe vào cuối năm 1962, câu lạc bộ vẫn giữ được đà tiến bộ. Dick Graham rồi sau đó là Bert Head đã dẫn dắt Palace tới hai lần thăng hạng liên tiếp trong các mùa giải 1963-64 và 1968-69, đưa câu lạc bộ đi xuyên qua Second Division để lên tới First Division.[21]

Quãng thời gian đầu tiên của Palace ở hạng đấu cao nhất bóng đá Anh kéo dài từ năm 1969 tới năm 1973, và đội đã tạo ra một số kết quả đáng nhớ, trong đó nổi bật nhất có lẽ là chiến thắng 5-0 trên sân nhà trước Manchester United ở mùa giải 1972-73. Arthur Wait từ chức chủ tịch trong mùa giải đó và được thay bằng Raymond Bloye, người đã bổ nhiệm Malcolm Allison làm huấn luyện viên vào tháng 3 năm 1973, còn Bert Head chuyển lên làm tổng giám đốc. Đáng tiếc, sự thay đổi trên băng ghế huấn luyện đến quá muộn để cứu câu lạc bộ khỏi việc bị xuống hạng trở lại Second Division.

Lên xuống giữa các hạng đấu (1973-1984)

Sau nỗi thất vọng vì bị rớt khỏi hạng đấu cao nhất, mùa giải tiếp theo thậm chí còn tệ hơn đối với câu lạc bộ. Dưới sự dẫn dắt của Allison, Palace phải chịu cảnh xuống hạng lần thứ hai liên tiếp, và trở lại Division Three ở mùa giải 1974-75. Chính dưới thời Allison, câu lạc bộ đổi biệt danh từ “The Glaziers” thành “The Eagles”, đồng thời chấm dứt sự gắn bó với màu trang phục claret và xanh để chuyển sang kiểu sọc dọc đỏ và xanh vẫn được dùng cho tới ngày nay. Palace vào tới bán kết Cúp FA 1975-76, vượt qua LeedsChelsea trên đường đi, nhưng thua 0-2 trước nhà vô địch sau cùng là Southampton tại bán kết trên sân Stamford Bridge. Allison từ chức sau khi mùa giải 1975-76 khép lại vì không thể đưa câu lạc bộ thoát khỏi hạng Ba, và dưới sự dẫn dắt của Terry Venables, Palace trở lại hạng đấu cao nhất nhờ các lần thăng hạng trong mùa giải 1976-77 và mùa giải 1978-79; ở mùa giải sau, câu lạc bộ còn đăng quang ngôi vô địch Division Two.

Đội hình năm 1979 ấy được truyền thông đặt cho biệt danh “Team of the Eighties”, bởi đội sở hữu hàng loạt cầu thủ trẻ tài năng trưởng thành từ đội trẻ từng vô địch FA Youth Cup các mùa giải 1976-77 và 1977-78, và họ thậm chí từng đứng đầu toàn bộ Football League trong giai đoạn đầu của mùa giải 1979-80. Tuy nhiên, những khó khăn tài chính mà câu lạc bộ phải gánh chịu đã dẫn tới sự tan rã của nhóm cầu thủ này. Cuối cùng, điều đó khiến Palace không thể duy trì vị thế tại hạng đấu cao nhất. Palace xuống hạng khỏi First Division ở mùa giải 1980-81, trùng với thời điểm Ron Noades tiếp quản câu lạc bộ. Đội chật vật ở hạng Hai, và Noades thậm chí còn bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của Brighton là Alan Mullery, một quyết định rất không được lòng người hâm mộ Palace.

Những năm tháng của Steve Coppell (1984-1993)

Ngày 4 tháng 6 năm 1984, cựu cầu thủ của Manchester United và đội tuyển Anh là Steve Coppell, người mới giải nghệ vì chấn thương không lâu trước đó, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Palace. Coppell đã từng bước xây dựng lại câu lạc bộ trong những năm sau đó, và kết quả là Đại bàng giành quyền thăng hạng trở lại First Division thông qua play-off ở mùa giải 1988-89. Palace tiếp nối thành công đó bằng việc vào tới chung kết Cúp FA 1990, hòa 3-3 với Manchester United sau hiệp phụ ở trận đầu tiên, nhưng thua 0-1 trong trận đá lại. Câu lạc bộ tiếp tục xây dựng trên nền tảng thành công ấy, và chiến dịch 1990-91 chứng kiến Palace cạnh tranh với Arsenal và Liverpool cho chức vô địch Anh, trước khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba, thành tích cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch cho tới nay. Palace lỡ suất dự cúp châu Âu vào cuối mùa giải ấy, một phần vì lệnh cấm của UEFA đối với các câu lạc bộ Anh sau thảm họa Heysel. Dù tới lúc đó lệnh cấm đã được dỡ bỏ, điều này khiến nước Anh không có thứ hạng trong bảng hệ số UEFA dùng cho mùa giải đó,[22] và điều đó dẫn tới việc hạng đấu cao nhất của Anh chỉ được trao đúng một suất dự Cúp UEFA, suất này thuộc về á quân Liverpool. Câu lạc bộ cũng trở lại Wembley và vô địch Full Members Cup, đánh bại Everton 4-1 sau hiệp phụ trong trận chung kết. Trong mùa giải kế tiếp, chân sút ngôi sao Ian Wright rời câu lạc bộ để gia nhập Arsenal. Palace kết thúc ở vị trí thứ 10 và trở thành một thành viên sáng lập của Premier League mới trong mùa giải 1992-93.[23]

Ảnh chụp một khán đài sát bên đường.
Khán đài Holmesdale Road tại Selhurst Park, được xây dựng trong mùa giải 1994-95.

Sau đó, Palace bán luôn chân sút chủ lực còn lại là Mark Bright cho Sheffield Wednesday và gặp khó khăn trong khâu ghi bàn suốt mùa giải tiếp theo, mùa giải kết thúc bằng việc câu lạc bộ xuống hạng (thua Oldham Athletic ở suất an toàn cuối cùng do kém hiệu số bàn thắng bại: Oldham là -11, còn Palace là -13). Đại bàng cũng kết thúc mùa giải với 49 điểm, lập nên một kỉ lục Premier League vẫn còn tồn tại tới nay, về số điểm cao nhất của một đội bị xuống hạng. Coppell từ chức, và trợ lí của ông tại câu lạc bộ là Alan Smith lên thay.

Những năm lên xuống (1993-1998)

Mùa giải đầu tiên của Alan Smith trên cương vị huấn luyện viên chứng kiến Palace vô địch First Division và giành quyền thăng hạng trở lại Premier League.[24] Tuy nhiên, lần trụ lại này của đội vừa nhiều biến cố vừa đầy tranh cãi. Ngày 25 tháng 1 năm 1995, Palace tiếp Manchester United tại Selhurst Park, trong trận đấu mà tiền đạo Eric Cantona của đội khách bị truất quyền thi đấu. Anh bị cổ động viên Palace là Matthew Simmons chế giễu,[25] và đáp trả bằng một cú tung người đá thẳng vào khán đài.[26] Cantona bị tuyên án hai tuần tù giam,[27] nhưng sau đó được giảm xuống còn 120 giờ lao động công ích sau khi kháng cáo. Simmons lập tức bị cấm vào Selhurst Park[28] và sau này còn bị kết tội ở hai cáo buộc đe dọa Cantona.[29] Chưa dừng lại ở đó, vào tháng 3, tiền đạo Chris Armstrong của Palace bị FA đình chỉ vì không vượt qua một cuộc kiểm tra chất cấm.[30] Trên sân cỏ, Smith đưa câu lạc bộ vào tới bán kết cả Cúp FA lẫn League Cup, nhưng phong độ tại giải vô địch lại thiếu ổn định, và Palace một lần nữa phải xuống hạng, kết thúc ở vị trí thứ tư từ dưới lên trong bối cảnh Premier League được thu gọn từ 22 xuống còn 20 câu lạc bộ.[31]

Smith rời câu lạc bộ và Steve Coppell trở lại trong vai trò giám đốc kĩ thuật vào mùa hè năm 1995. Nhờ sự kết hợp giữa công việc huấn luyện đội một của Ray Lewington và sau đó là nhiệm kì huấn luyện viên của Dave Bassett, Palace vào tới loạt play-off. Tuy nhiên, họ thua trận chung kết play-off First Division 1996 theo cách đầy kịch tính, khi Steve Claridge ghi bàn ở phút cuối của hiệp phụ để mang về chiến thắng 2-1 cho Leicester City. Mùa giải tiếp theo, Coppell trực tiếp nắm đội một sau khi Bassett rời đi để dẫn dắt Nottingham Forest vào đầu năm 1997.[32] Câu lạc bộ vào tới loạt play-off năm thứ hai liên tiếp, và lần này giành quyền thăng hạng trở lại Premier League sau khi đánh bại Sheffield United 1-0 trong trận chung kết tại Wembley.[33]

Chiến dịch thứ ba của câu lạc bộ tại Premier League cũng không thành công hơn hai lần trước, và đúng với bản chất của một yo-yo club, Palace lại tiếp tục xuống hạng trở lại First Division vào cuối mùa giải 1997-98. Câu lạc bộ cũng có một ông chủ mới khi trùm tuyển dụng Mark Goldberg hoàn tất việc tiếp quản vào tháng 6 năm 1998.[34]

Khủng hoảng tài chính và phục hồi (1998-2013)

Terry Venables trở lại Palace trong nhiệm kì thứ hai sau khi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng, và câu lạc bộ còn góp mặt ở đấu trường châu Âu trong mùa hè ấy khi thi đấu tại UEFA Intertoto Cup. Tuy nhiên, Palace sau đó rơi vào quản lí tài sản vào năm 1999, khi ông chủ Mark Goldberg không còn đủ khả năng duy trì nguồn hỗ trợ tài chính cho câu lạc bộ.[35] Venables rời đi và Steve Coppell lại tiếp quản ghế huấn luyện viên. Câu lạc bộ thoát khỏi tình trạng quản lí tài sản dưới quyền sở hữu của Simon Jordan, và Coppell được thay bằng Alan Smith trong nhiệm kì thứ hai của ông. Palace suýt rơi xuống hạng Ba ngay trong mùa giải đầu tiên của Jordan, mùa giải 2000-01. Smith bị sa thải vào tháng 4, và huấn luyện viên lâu năm Steve Kember được giao nắm đội tạm quyền. Ông đã thắng cả hai trận còn lại để bảo đảm suất trụ hạng cho Palace, trong đó Dougie Freedman ghi bàn quyết định ở phút 87 trong ngày cuối mùa giải, mang về chiến thắng 1-0 trước Stockport County. Cựu đội trưởng của Manchester United là Steve Bruce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức mới cho mùa giải 2001-02.[36] Sau khởi đầu đầy hứa hẹn của chiến dịch mới, mang lại hi vọng về một cuộc đua thăng hạng, Bruce lại tìm cách rời câu lạc bộ chỉ sau bốn tháng cầm quân בעקבות lời mời từ Birmingham City cho vị trí huấn luyện viên trưởng mới của họ.[37][38] Palace cho Bruce nghỉ chờ việc có hưởng lương,[39] nhưng cuối cùng vẫn cho phép ông chuyển sang Birmingham.[40] Người kế nhiệm Bruce là Trevor Francis, người trước đó từng bị chính Bruce thay thế ở câu lạc bộ vùng West Midlands này.[41]

Dưới thời Francis, Palace kết thúc ở nhóm giữa bảng trong hai mùa giải liên tiếp, nhưng sau đó ông bị sa thải,[42] và được thay bằng Steve Kember, người chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng.[43] Câu lạc bộ thắng ba trận mở màn của mùa giải 2003-04 dưới thời Kember, qua đó leo lên dẫn đầu bảng xếp hạng, nhưng ông bị sa thải vào tháng 11 sau chuỗi kết quả tệ hại khiến Palace tụt xuống gần khu vực xuống hạng.[44] Cựu tiền đạo Palace là Iain Dowie được bổ nhiệm làm huấn luyện viên và đã đưa đội vào tới trận chung kết play-off, giành quyền thăng hạng nhờ chiến thắng 1-0 trước West Ham. Tuy nhiên, một lần nữa Palace không thể giữ được vị trí của mình ở hạng đấu cao nhất và phải xuống hạng ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải tiếp theo, sau trận hòa trên sân đối thủ địa phương Charlton Athletic.

Một đám đông người cùng một xe cảnh sát đứng bên ngoài một tòa nhà.
Cổ động viên Crystal Palace biểu tình — và lo lắng chờ đợi tin tức — bên ngoài trụ sở Lloyds HQ tại Luân Đôn ngày 1 tháng 6 năm 2010.

Sau lần xuống hạng đó, Simon Jordan không thể đưa câu lạc bộ vào trạng thái tài chính ổn định trong những năm tiếp theo, và vào tháng 1 năm 2010, Palace một lần nữa bị đưa vào diện quản lí tài sản, lần này là do một chủ nợ yêu cầu.[45] Do các quy định của Football League, câu lạc bộ bị trừ mười điểm,[46] và đơn vị quản lí tài sản P&A Partnership buộc phải bán đi những cầu thủ quan trọng như Victor MosesJosé Fonte. Huấn luyện viên của Palace khi đó là Neil Warnock cũng rời câu lạc bộ trong tháng 3. Ông được bổ nhiệm vào mùa thu năm 2007 để thay thế cựu thần tượng của người hâm mộ là Peter Taylor, người chỉ có một giai đoạn ngắn dẫn dắt đội. Paul Hart tiếp quản với tư cách huấn luyện viên tạm quyền trong những tuần cuối mùa giải, và suất trụ hạng tại Championship chỉ được bảo đảm ở vòng cuối cùng sau trận hòa đáng nhớ 2-2 trên sân Sheffield Wednesday, kết quả đồng thời khiến chính Wednesday xuống hạng.[47]

Khi mùa giải khép lại, một tập đoàn gồm nhiều cổ động viên giàu có mang tên CPFC 2010 đã đàm phán thành công để mua lại câu lạc bộ.[48] Nhóm này do Steve Parish dẫn đầu, với vai trò là gương mặt đại diện nổi bật của nhóm bốn người còn có Stephen Browett, Jeremy Hosking và Martin Long. Điều quan trọng hơn, tập đoàn này còn bảo đảm được quyền sở hữu đất của Selhurst Park và ghi nhận công lao của chiến dịch do cổ động viên phát động, vốn đã tạo áp lực để Lloyds Bank bán lại sân cho câu lạc bộ.[49]

Các ông chủ mới nhanh chóng bổ nhiệm George Burley làm huấn luyện viên của Palace.[50] Tuy nhiên, khởi đầu tệ hại của mùa giải tiếp theo khiến câu lạc bộ lơ lửng gần cuối bảng vào tháng 12. Ngày 1 tháng 1 năm 2011, sau thất bại 0-3 trước Millwall, Burley bị sa thải và trợ lí của ông là Dougie Freedman được giao nắm đội tạm quyền. Chỉ hơn một tuần sau, Freedman được bổ nhiệm chính thức làm huấn luyện viên trưởng.[51] Palace dần leo lên bảng xếp hạng, và sau khi có trận hòa 1-1 trên sân Hull City vào ngày 30 tháng 4, câu lạc bộ chính thức an toàn khỏi nguy cơ xuống hạng khi mùa giải vẫn còn một trận. Sau một năm rưỡi nữa trên ghế huấn luyện viên, Freedman rời đi để sang dẫn dắt Bolton Wanderers vào ngày 23 tháng 10 năm 2012.[52] Tháng sau đó, ông được thay thế bởi Ian Holloway, người đã đưa câu lạc bộ trở lại Premier League sau tám năm vắng bóng bằng chiến thắng 1-0 trước Watford trong trận chung kết play-off Championship tại Wembley mới.[53]

Khẳng định chỗ đứng tại Premier League, danh hiệu lớn đầu tiên và châu Âu (2013-nay)

Holloway từ chức vào tháng 10 năm 2013 sau khởi đầu nghèo nàn của mùa giải.[54] Tony Pulis lên thay và giúp câu lạc bộ tránh được việc xuống hạng khỏi Premier League lần đầu tiên, nhờ đó còn giành giải Huấn luyện viên của mùa giải Premier League 2013-14, nhưng lại từ chức chỉ hai ngày trước khi chiến dịch kế tiếp khởi tranh. Sau nhiệm kì thứ hai không thành công của Neil Warnock trong nửa đầu mùa giải 2014-15, cựu tiền vệ Palace là Alan Pardew được xác nhận làm huấn luyện viên mới vào tháng 1 năm 2015, và đưa câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ mười, thành tích cao nhất của họ tại Premier League tính tới thời điểm đó.[55] Trong mùa giải 2015-16, mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Pardew, Palace vào tới chung kết Cúp FA đầu tiên sau 26 năm, nơi họ một lần nữa chạm trán Manchester United và thua 1-2 sau hiệp phụ. Tháng 12 năm 2016, sau chuỗi kết quả tệ hại, Pardew bị sa thải và được thay bằng Sam Allardyce, người giữ Palace ở lại Premier League, nhưng bất ngờ từ chức khi mùa giải 2016-17 khép lại.[56]

Ngày 26 tháng 6 năm 2017, Palace bổ nhiệm Frank de Boer làm huấn luyện viên ngoại quốc chính thức đầu tiên của mình.[57] Ông bị sa thải chỉ sau 77 ngày cầm quân, khi câu lạc bộ đã thua cả bốn trận đầu tiên tại giải vô địch ở đầu mùa giải 2017-18 mà không ghi nổi một bàn nào.[58] Ngày hôm sau, 12 tháng 9 năm 2017, cựu huấn luyện viên tuyển Anh Roy Hodgson được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ, và ông đã giúp đội kết thúc mùa giải đó ở vị trí thứ mười một, tiếp đó là hạng mười hai trong mùa giải 2018-19 và hạng mười bốn ở mùa giải 2019-20.[59] Ngày 18 tháng 5 năm 2021, câu lạc bộ thông báo Hodgson sẽ rời đi vào cuối mùa giải 2020-21 khi hợp đồng của ông hết hạn, sau khi vừa giúp đội có mùa thứ hai liên tiếp đứng thứ mười bốn.[60]

Oliver Glasner đã đưa Palace tới danh hiệu lớn đầu tiên, Cúp FA năm 2025, và suất dự cúp châu Âu lần đầu tiên.

Ngày 4 tháng 7 năm 2021, Palace bổ nhiệm cựu đội trưởng Arsenal Patrick Vieira làm huấn luyện viên mới theo hợp đồng ba năm.[61] Dù đã đưa câu lạc bộ vào một trận bán kết Cúp FA và kết thúc ở vị trí thứ mười hai tại giải vô địch trong mùa giải 2021-22, Vieira bị sa thải trong chiến dịch tiếp theo vào ngày 17 tháng 3 năm 2023, sau chuỗi 12 trận không thắng khiến câu lạc bộ chỉ còn hơn nhóm xuống hạng ba điểm.[62] Ngày 21 tháng 3, Hodgson được bổ nhiệm trở lại làm huấn luyện viên Palace cho tới hết mùa giải.[63] Ông đưa đội trụ hạng an toàn và kết thúc ở vị trí thứ mười một. Ngày 3 tháng 7, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức lần thứ hai,[64] nhưng rời vị trí này giữa chừng trong mùa giải 2023-24.[65]

Người thay Hodgson là huấn luyện viên người Áo, cựu thuyền trưởng của Eintracht Frankfurt, Oliver Glasner.[66] Dưới thời Glasner, câu lạc bộ có cú nước rút ấn tượng vào cuối mùa giải, thắng sáu trong bảy trận cuối tại giải vô địch, qua đó cân bằng vị trí cao nhất của Palace tại Premier League là hạng mười (từng đạt được vào năm 2015).[67] Sau đó, bốn cầu thủ của Palace là Eberechi Eze, Marc Guéhi, Dean HendersonAdam Wharton được triệu tập vào đội tuyển Anh dự Euro 2024, nhiều hơn bất cứ câu lạc bộ nào khác đóng góp cho tuyển Anh tại giải đấu này.[68]

Trong mùa giải 2024-25, Glasner đưa Palace tới danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, khi bàn thắng của Eberechi Eze mang về chiến thắng 1-0 trước Manchester City trong trận chung kết Cúp FA 2025, đồng thời bảo đảm suất tham dự UEFA Europa League lần đầu tiên.[69] Tuy nhiên, tấm vé Europa League của câu lạc bộ nhanh chóng bị đe dọa bởi các quy định về sở hữu đa câu lạc bộ của UEFA. Cổ đông lớn nhất của Palace là John Textor cũng sở hữu đội bóng Pháp tại Ligue 1Lyon, câu lạc bộ cũng giành quyền dự cùng giải đấu này.[70] Ngày 11 tháng 7 năm 2025, UEFA ra phán quyết rằng Palace vi phạm các quy định về sở hữu đa câu lạc bộ của cơ quan này, kết quả là câu lạc bộ bị giáng xuống UEFA Conference League.[71] Kháng cáo của Palace bị bác bỏ, khi Court of Arbitration for Sport (CAS) giữ nguyên phán quyết của UEFA vào ngày 11 tháng 8 năm 2025.[72]

Câu lạc bộ bắt đầu mùa giải 2025-26 bằng chức vô địch FA Community Shield đầu tiên, sau khi đánh bại Liverpool 3-2 trong loạt luân lưu khi trận đấu hòa 2-2 sau thời gian thi đấu chính thức. Chiến thắng này giúp Palace trở thành câu lạc bộ đầu tiên kể từ Derby County năm 1975 vô địch giải đấu ngay trong lần đầu tham dự.[73] Ngày 21 tháng 8, Palace gặp câu lạc bộ Na Uy Fredrikstad tại Selhurst Park trong vòng play-off của UEFA Conference League, trận đấu châu Âu chính thức đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Palace thắng lượt đi 1-0, với Jean-Philippe Mateta ghi bàn thắng đầu tiên của câu lạc bộ tại cúp châu Âu.[74] Câu lạc bộ giành quyền vào vòng bảng sau trận hòa 0-0 ở lượt về trên đất Na Uy.[75] Hành trình bảo vệ Cúp FA của Palace kết thúc ngay ở vòng Ba, khi Macclesfield, một đội ngoài hệ thống giải vô địch xếp thấp hơn họ 117 bậc, đánh bại họ 2-1 trong một trong những cú sốc lớn nhất từng xuất hiện ở giải đấu này.[76]

Màu sắc và huy hiệu

Câu lạc bộ nghiệp dư nguyên thủy mặc áo sọc vòng xanh và trắng với quần đùi xanh, dù cũng có một số biến thể; người ta cho rằng bộ trang phục đầu tiên của đội vào năm 1861 là áo chia nửa màu xanh nhạt và trắng. Khi câu lạc bộ chuyên nghiệp Crystal Palace được thành lập vào năm 1905, màu áo ban đầu được chọn là claret và xanh, kết hợp với quần đùi trắng và tất thường có màu claret. Đây là kết quả từ vai trò quan trọng mà Edmund Goodman, một nhân viên của Aston Villa sau này trở thành huấn luyện viên của Palace, đã đóng góp trong quá trình hình thành câu lạc bộ. Câu lạc bộ duy trì khá nhất quán công thức này cho tới năm 1938, khi họ quyết định bỏ màu claret và xanh để chuyển sang áo trắng cùng quần đùi đen và tất đồng màu. Đội quay lại với màu claret và xanh trong giai đoạn từ năm 1949 tới năm 1954, nhưng đến năm 1955, câu lạc bộ lại trở về với trắng và đen, chỉ dùng điểm nhấn claret và xanh.[77]

Có nhiều biến thể quanh chủ đề này cho tới năm 1963, khi câu lạc bộ dùng bộ áo sân khách màu vàng làm màu trang phục sân nhà. Năm 1964, đội chuyển sang bộ trang phục toàn trắng lấy cảm hứng từ Real Madrid, câu lạc bộ mà Palace từng gặp trong một trận giao hữu lịch sử vài năm trước đó. Sau đó, vào năm 1966, đội quay trở lại với áo claret và xanh cùng quần đùi trắng. Câu lạc bộ tiếp tục sử dụng các biến thể của kiểu phối màu này cho tới khi Malcolm Allison đến làm huấn luyện viên vào năm 1973. Allison đã làm mới toàn bộ hình ảnh của câu lạc bộ, chuyển sang áo sọc dọc đỏ và xanh, lấy cảm hứng từ Barcelona. Palace đã chơi trong các biến thể đỏ và xanh kể từ đó, ngoại trừ mùa giải kỉ niệm 100 năm 2005, khi đội mặc một phiên bản tái hiện bộ trang phục claret, xanh và trắng của mùa giải 1971-72.[77]

Pete the Eagle – linh vật của câu lạc bộ (2016).

Câu lạc bộ khá muộn mới thiết lập một huy hiệu chính thức. Dù các chữ viết tắt đã được thêu trên áo từ mùa giải 1935-36, một huy hiệu có mặt tiền của tòa Crystal Palace chỉ xuất hiện từ năm 1955. Huy hiệu này biến mất khỏi áo đấu vào năm 1964, và thay vào đó tên đội được thêu trên áo từ năm 1967 tới năm 1972. Sau đó, một huy hiệu hình tròn được sử dụng vào năm 1972, với chữ viết tắt của câu lạc bộ và biệt danh "Glaziers", trước khi Allison tiếp tục thay đổi cả điều này.[77] Biệt danh của câu lạc bộ được đổi thành "Eagles", lấy cảm hứng từ câu lạc bộ Bồ Đào Nha Benfica, và huy hiệu khi đó thể hiện hình một con đại bàng đang giữ quả bóng.[77] Biểu tượng này được giữ cho tới năm 1987, khi câu lạc bộ kết hợp hình đại bàng với mặt tiền của Crystal Palace; và dù đã được cập nhật vào các năm 1996 và 2012, huy hiệu hiện nay vẫn giữ các đặc điểm này.[78] Vào tháng 6 năm 2022, câu lạc bộ đổi năm trên huy hiệu từ 1905 thành 1861, để phản ánh thời điểm Crystal Palace Football Club nguyên thủy được thành lập.[79]

Từ năm 2010 tới năm 2020, câu lạc bộ sử dụng một con đại bàng đầu trắng Mỹ tên Kayla làm linh vật của đội, với chú chim bay từ đầu này sang đầu kia của sân vận động trước mỗi trận sân nhà.[80][81][82]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ

Kể từ năm 2022, trang phục của Crystal Palace do Macron sản xuất. Các nhà sản xuất trước đó gồm Umbro (1975-77), Admiral (1977-80, 1987-88, 2003-04), Adidas (1980-83, 1996-99), Hummel (1984-87), Bukta (1988-93), Ribero (1992-94), Nutmeg (1994-96), TFG Sports (1999-2001), Le Coq Sportif (2001-03), Diadora (2004-07), Erreà (2007-09), Nike (2009-12), Avec (2012-14), Macron (2014-18, 2022–nay), và Puma (2018-22).[83]

Hiện tại, áo đấu của câu lạc bộ được tài trợ bởi NET88 (2024–nay). Các nhà tài trợ trước đây gồm Red Rose (1983-84), Top Score (1985-86), AVR (1986-87), Andrew Copeland (1987-88), Fly Virgin (1988-91), Tulip Computers (1991-93), TDK (1993-99), Churchill Insurance (2000-06), GAC Logistics (2006-14), Neteller (2014-15), Mansion.com (2015-17), ManBetX (2017-20), W88 (2020-22) và cinch (2022-24).

Câu lạc bộ kí hợp đồng tài trợ tay áo đầu tiên với All Football, một ứng dụng mạng xã hội bóng đá có trụ sở tại Trung Quốc, vào năm 2017.[84]

Năm 2023, Crystal Palace và Kaiyun Sports công bố mối quan hệ hợp tác chung, theo đó công ty này trở thành nhà tài trợ tay áo chính thức mới của câu lạc bộ.[85]

Sân vận động

Năm 1905, Crystal Palace Company, đơn vị sở hữu địa điểm tổ chức Chung kết Cúp FA nằm trong khuôn viên The Crystal Palace, muốn có một đội bóng của riêng mình chơi tại đó để khai thác tiềm năng khán giả rất lớn của khu vực. Vì vậy, họ thành lập một câu lạc bộ chuyên nghiệp mới là Crystal Palace F.C. để thi đấu tại sân vận động này.[86] Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, tòa Crystal Palace và khu đất xung quanh bị quân đội trưng dụng, và vào năm 1915, câu lạc bộ buộc phải rời đi theo lệnh của Bộ Hải quân Anh. Đội tìm được nơi đóng quân tạm thời tại Herne Hill Velodrome. Dù một số câu lạc bộ khác đã đề nghị cho Palace mượn sân, đội cảm thấy tốt nhất vẫn là ở gần khu vực cổ động viên tự nhiên của mình nhất có thể.[87] Khi Croydon Common tan rã vào năm 1917, Palace tiếp quản sân cũ của đội này tại the Nest.[88] Đến năm 1919, câu lạc bộ bắt đầu mua khu đất mà sau này họ sẽ xây dựng Selhurst Park, sân nhà hiện tại của mình.[89]

Kiến trúc sư sân vận động nổi tiếng Archibald Leitch được thuê để thiết kế, và việc xây dựng Selhurst Park hoàn tất kịp cho mùa giải 1924-25. Sân vận động gần như không thay đổi nhiều, chỉ có thêm hệ thống đèn chiếu sáng và một số cải tạo bảo trì cho tới năm 1969, khi khán đài Arthur Wait được xây dựng. Khán đài Chính trở thành khán đài ghế ngồi toàn bộ vào mùa hè năm 1981, và trong vài năm kế tiếp nhiều hạng mục khác tiếp tục được thực hiện, khi đầu Whitehorse Lane được tái phát triển để xây dựng một siêu thị Sainsbury's, văn phòng câu lạc bộ và cửa hàng của đội. Khán đài Arthur Wait trở thành khán đài ghế ngồi toàn bộ vào năm 1990, và đến năm 1994, Holmesdale Terrace được thay bằng một khán đài mới hai tầng.

Kỉ lục khán giả của Selhurst Park được thiết lập vào năm 1979, với con số chính thức là 51.482 người.[90] Sau toàn bộ các đợt tái phát triển sân và những yêu cầu an toàn בעקבות Taylor Report, sức chứa hiện tại của sân là 25.486 chỗ.

Năm 2011, đã có những đề xuất đưa câu lạc bộ trở về sân nhà nguyên thủy tại Crystal Palace National Stadium,[91] nhưng sau khi câu lạc bộ giành quyền thăng hạng lên Premier League vào năm 2013, trọng tâm được chuyển trở lại việc tái phát triển Selhurst Park thành một sân vận động có sức chứa 40.000 chỗ.[92]Các kế hoạch sửa đổi cho một khán đài Chính mới với 13.500 chỗ ngồi (nâng tổng sức chứa sân lên 34.000) đã được phê duyệt trong cuộc họp của Hội đồng Croydon ngày 19 tháng 4 năm 2018.[93] Tuy nhiên, các kế hoạch này sau đó bị trì hoãn, trước tiên vì đại dịch COVID-19, và sau đó do câu lạc bộ tập trung triển khai việc nâng cấp học viện tại Beckenham, công trình hoàn thành vào năm 2021. Khi câu lạc bộ cuối cùng cũng bắt đầu thúc đẩy lại dự án tái phát triển khán đài, các trì hoãn tiếp theo lại xảy ra do sự phản đối đối với việc phá dỡ các căn nhà tại khu Wooderson Close gần đó. Câu lạc bộ đã kí một thỏa thuận pháp lí để cung cấp nhà thay thế nhằm di dời cư dân. Vào tháng 8 năm 2024, việc mở rộng khán đài Chính được Hội đồng Croydon phê duyệt lại và các công việc sơ bộ đã bắt đầu, với mục tiêu hoàn thành vào mùa hè năm 2027.

See caption
Toàn cảnh Selhurst Park nhìn từ Upper Holmesdale, lần lượt từ trái sang phải là Khán đài Chính, đầu Whitehorse Lane và khán đài Arthur Wait

Cổ động viên

Sự cổ vũ cuồng nhiệt của khán giả nhà thuộc Holmesdale Fanatics.

Crystal Palace có lực lượng cổ động viên chủ yếu đến từ khu vực địa phương, trải rộng trên Nam Luân Đôn, KentSurrey. Sân nhà nguyên thủy của đội tại Crystal Palace nằm ở ranh giới với Kent, trong khi Selhurst Park nằm trong địa giới Surrey, cho tới khi London Government Act 1963 khiến Greater London bao trùm luôn Croydon. Sự cổ vũ cuồng nhiệt của câu lạc bộ trong các trận sân nhà tập trung ở khán đài Holmesdale Road, nơi nhóm ultra có tên Holmesdale Fanatics đã hoạt động từ năm 2005.

Người hâm mộ cũng đã thành lập ít nhất hai tổ chức cổ động viên khác. Palace Independent Supporters' Association được lập ra để phản ánh các mối quan tâm của người hâm mộ với câu lạc bộ,[94] trong khi Crystal Palace Supporters' Trust ban đầu được thành lập כדי giúp cổ động viên có thể mua lại câu lạc bộ trong giai đoạn quản lí tài sản năm 2000, và tiếp tục tồn tại cho tới cuối năm 2023.[95]

Qua các năm, người hâm mộ đã xuất bản nhiều fanzine khác nhau. Eagle Eye ra mắt năm 1987 và tồn tại tới năm 1994, trước khi một số cộng tác viên tiếp tục xuất bản tạp chí thay thế là Palace Echo vào năm 1995; ấn phẩm này kéo dài tới năm 2007.[96] The Eastern Eagles, So Glad You're MineOne More Point cũng được cổ động viên phát hành trong thập niên 1990.[97] Khi One More Point ngừng xuất bản, Five Year Plan ra đời để thay thế,[98] và hiện vẫn duy trì hiện diện trực tuyến.[99] Cổ động viên cũng tranh luận trên hai diễn đàn trực tuyến, The BBS và Holmesdale.net, những nơi mà câu lạc bộ cũng sử dụng làm kênh giao tiếp với người hâm mộ.[100]

Photo of 7 cheerleaders performing on a football pitch in front of a packed stand with many on the lower tier waving red and blue flags.
Người hâm mộ Crystal Palace bày tỏ sự ủng hộ với câu lạc bộ sau khi đội rơi vào tình trạng quản lí tài sản năm 2010.

Vì Crystal Palace là một câu lạc bộ tại Luân Đôn, đội phải cạnh tranh với nhiều câu lạc bộ địa phương khác để giành sự chú ý của người hâm mộ, nhưng Palace vẫn sở hữu một khu vực ảnh hưởng rõ rệt với 900.000 dân.[101][102] Năm 2010, tập đoàn mới do Steve Parish đứng đầu đã tìm kiếm ý kiến đóng góp của người hâm mộ về các quyết định trong tương lai. Vài năm sau, tập đoàn này tham khảo ý kiến về một thiết kế huy hiệu mới, và khi các phương án họ chọn bị bác bỏ, câu lạc bộ thay vào đó đã chọn một thiết kế dựa trên ý tưởng của người hâm mộ từ một diễn đàn trực tuyến.[103] Câu lạc bộ cũng đã tăng cường mối liên hệ với cộng đồng địa phương, và thông qua Crystal Palace F.C. Foundation, họ làm việc với các quận London lân cận là Croydon, Bromley và Sutton để cung cấp các chương trình thể thao và giáo dục, đồng thời hi vọng từ đó tiếp tục mở rộng cơ sở cổ động viên cũng như phạm vi địa lí của mình. Công việc của Foundation đã được Football League ghi nhận vào tháng 8 năm 2009 bằng giải Silver Standard Community Scheme Award.[104]

Câu lạc bộ cũng nhận được sự ủng hộ đáng kể từ giới nổi tiếng. Kevin Day và Jo Brand tổ chức một đêm hài kịch thường niên cho Comic Relief và học viện Palace,[105] còn các danh hài Eddie Izzard và Mark Steel cũng là những người hâm mộ Palace rất nhiệt thành. Diễn viên Neil Morrissey đã phát triển loại bia Palace Ale, được bán trong sân vận động,[106] còn diễn viên Bill Nighy là người bảo trợ cho tổ chức từ thiện Crystal Palace Children's Charity (CPSCC).[107] Các diễn viên Timothy Spall và con trai ông Rafe Spall đều là những người hâm mộ cuồng nhiệt của câu lạc bộ. Người dẫn chương trình phát thanh David Jensen là chủ tịch Crystal Palace Vice Presidents Club,[108] và từng làm người phát ngôn cho tập đoàn CPFC 2010 trong quá trình tiếp quản câu lạc bộ. Diễn viên, nhà văn và nhà sản xuất John Salthouse từng có tên trong danh sách cầu thủ của Palace từ năm 1968 tới năm 1970 dưới tên John Lewis,[109] đồng thời cũng từng làm linh vật cho câu lạc bộ khi còn nhỏ.[110] Ông còn đưa câu lạc bộ vào vai diễn Tony của mình trong Abigail's Party.[111] Người dẫn chương trình truyền hình Susanna Reid đã tiết lộ tình yêu dành cho Palace khi tham gia Strictly Come Dancing, và từng tới Selhurst Park để tìm cảm hứng.[112] Bill Wyman, tay bass của The Rolling Stones, là một cổ động viên suốt đời của Palace.[113] Nhà vô địch Olympic người Anh Alex Yee cũng là người hâm mộ của câu lạc bộ.[114]

Kình địch

Do vị trí của mình ở thủ đô, Crystal Palace góp mặt trong một số trận derby địa phương, chủ yếu là các cuộc đối đầu tại Nam Luân Đôn. Đội có các mối kình địch với cả Millwall lẫn đội từng thuê chung sân là Charlton Athletic. Câu lạc bộ có mối kình địch lâu đời và rất dữ dội với Brighton & Hove Albion, bắt đầu sau khi Palace xuống hạng xuống Third Division vào năm 1974 và lên tới đỉnh điểm khi hai đội chạm trán nhau ở vòng Một của Cúp FA 1976-77. Cặp đấu này phải đá lại hai lần, nhưng trận đá lại lần thứ hai kết thúc trong tranh cãi sau khi trọng tài Ron Challis yêu cầu thực hiện lại một quả phạt đền mà Brighton đã đá thành công, do có báo cáo cho rằng một cầu thủ Brighton xâm nhập vòng cấm sớm, dù một số nguồn khác cũng cho rằng nguyên nhân là do va chạm từ phía một cầu thủ Crystal Palace. Quả đá lại bị cản phá, Palace thắng 1-0, và một mối kình địch dữ dội ra đời.[115]

Quyền sở hữu

Low resolution monochrome photo of two men.
Chủ tịch đầu tiên Sydney Bourne cùng với Edmund Goodman, năm 1906.

Crystal Palace Company sở hữu câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Crystal Palace trong những năm đầu tồn tại của đội. Chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ là Sydney Bourne, người được thư kí câu lạc bộ Edmund Goodman tìm ra sau khi ông kiểm tra hồ sơ những người mua vé các trận chung kết Cúp FA. Goodman chú ý tới tên của Bourne vì ông là người mua nhiều vé mỗi năm, nên đã gặp và nhận thấy ông rất đồng tình với ý tưởng về câu lạc bộ mới. Bourne được mời vào ban giám đốc và được bầu làm chủ tịch trong cuộc họp đầu tiên của câu lạc bộ. Ông giữ chức chủ tịch cho tới khi qua đời vào năm 1930.[116]

Sau khi Bourne qua đời, câu lạc bộ trải qua nhiều nhiệm kì chủ tịch ngắn hạn: Louis Bellatti (1930-1935), R.S. Flew (1935), Carey Burnett (1935-36), E.T. Truett (1936-1939), trước khi bước vào thời kì của Percy Harper (1939-1950). Nhà xây dựng địa phương Arthur Wait lập ra một tập đoàn gồm bảy doanh nhân khác để mua lại câu lạc bộ vào năm 1949, và tiếp quản từ Harper vào năm 1950, ban đầu theo hình thức luân phiên ghế chủ tịch.[117] Năm 1958, Wait trở thành chủ tịch thường trực, giữ cương vị này cho tới năm 1972 khi Raymond Bloye lên thay.[118][119] Quyền sở hữu của Bloye kéo dài tới ngày 26 tháng 1 năm 1981, khi nhà phát triển bất động sản Ron Noades cùng tập đoàn của ông nắm quyền kiểm soát câu lạc bộ. Noades cuối cùng bán câu lạc bộ cho Mark Goldberg vào ngày 5 tháng 6 năm 1998, qua đó trở thành chủ tịch Crystal Palace có thời gian tại vị lâu thứ hai sau Sydney Bourne. Tuy nhiên, Noades vẫn giữ quyền sở hữu Selhurst Park, và cho câu lạc bộ thuê lại để sử dụng. Quãng thời gian Goldberg điều hành câu lạc bộ không thành công, và Palace rơi vào diện quản lí tài sản vào tháng 3 năm 1999. Mặc dù người hâm mộ lập ra một nhóm mang tên Crystal Palace Supporters' Trust trong nỗ lực giành quyền kiểm soát câu lạc bộ, triệu phú kiêm cổ động viên lâu năm Simon Jordan đã đàm phán thành công một thỏa thuận với các chủ nợ và quản tài viên, và một công ty mới mang tên CPFC 2000 tiếp quản quyền kiểm soát. Công ty này lại rơi vào diện quản lí tài sản vào tháng 1 năm 2010, và mãi tới tháng 6 năm đó một vụ tiếp quản mới hoàn tất, do một tập đoàn gồm bốn cổ động viên giàu có mang tên CPFC 2010 thực hiện.[120]

CPFC 2010 được thành lập bởi một tập đoàn gồm bốn doanh nhân, Steve Parish, Martin Long, Stephen Browett và Jeremy Hosking, với mỗi người nắm 25% cổ phần của công ty.[121][122] Bốn người đã đàm phán thành công vụ tiếp quản với quản tài viên Brendan Guilfoyle từ P&A Partnership, và một company voluntary arrangement chính thức được các chủ nợ của công ty chấp thuận vào ngày 20 tháng 8 năm 2010.[123] Tập đoàn này cũng mua lại Selhurst Park từ Lloyds Bank sau khi một cuộc biểu tình của người hâm mộ gây áp lực buộc ngân hàng phải chấp nhận các điều khoản thỏa thuận.[49][124]

Vào tháng 12 năm 2015, các nhà đầu tư người Mỹ Josh Harris và David Blitzer mỗi người mua 18% cổ phần của câu lạc bộ với tư cách general partners, tổng trị giá 50 triệu bảng, dù hiện nay phần sở hữu này được ước tính còn khoảng 10%.[125] Vào tháng 8 năm 2021, một nhà đầu tư Mỹ khác là John Textor mua 40% cổ phần trị giá 87,5 triệu bảng, sau đó tăng lên 45% vào năm 2023. Parish vẫn là chủ tịch với 10% cổ phần; Robert Franco và các nhà đầu tư khác nắm 9% còn lại.[126][127][128]

Vào tháng 6 năm 2025, Textor đồng ý bán phần sở hữu của mình tại câu lạc bộ cho Woody Johnson, chủ sở hữu đội NFL là New York Jets và cựu đại sứ Mỹ tại Vương quốc Anh.[129] Johnson kí các văn bản pháp lí vào ngày 23 tháng 6 trong một thương vụ được cho là trị giá khoảng 190 triệu bảng cho phần cổ phần của Textor.[130] Ngày 24 tháng 7, câu lạc bộ thông báo rằng thương vụ mua lại của Johnson đã hoàn tất.[131] Thương vụ này cũng đánh dấu chấm hết cho sự hiện diện của Eagle Football Holdings tại Crystal Palace, khi tập đoàn này thoái toàn bộ phần sở hữu của mình ở câu lạc bộ thông qua giao dịch đó.[132]

Thống kê và kỉ lục

Jim Cannon giữ kỉ lục về số lần ra sân nhiều nhất cho Crystal Palace trên mọi đấu trường, với 660 trận cho đội một trong giai đoạn từ năm 1973 tới năm 1988.[133] Hậu vệ này cũng giữ kỉ lục số trận tại giải vô địch nhiều nhất, với 571 lần ra sân.[134] Tiền đạo Peter Simpson giữ kỉ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải, với 54 bàn ở mùa giải 1930-31 tại Division Three (South), đồng thời cũng là chân sút ghi nhiều bàn nhất trong sự nghiệp cho câu lạc bộ – 165 bàn trong giai đoạn từ năm 1929 tới năm 1935.[134] Thủ môn Wayne Hennessey giữ kỉ lục số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất trong số các cầu thủ của câu lạc bộ.[135]

Biểu đồ thể hiện vị trí trên bảng xếp hạng của Crystal Palace kể từ khi gia nhập Football League.

Crystal Palace là nhà vô địch đầu tiên của Third Division mới thành lập ở mùa giải 1920-21, đây cũng chính là mùa đầu tiên của họ tại Football League, nhờ đó đội trở thành một trong số rất ít câu lạc bộ từng vô địch một hạng đấu của Football League ngay trong mùa giải đầu tiên góp mặt. Mức khán giả trung bình 19.092 người tại giải vô địch trong mùa giải 1960-61 và lượng khán giả 37.774 người ở trận Good Friday tại Selhurst Park giữa Palace và Millwall trong cùng mùa giải là các kỉ lục khán giả của Fourth Division.[136] Kỉ lục khán giả sân nhà chính thức của Palace là 51.482 người trong một trận Second Division gặp Burnley ngày 11 tháng 5 năm 1979.[137] Chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch là trận thắng 9-0 trên sân nhà trước Barrow ở Fourth Division năm 1959, trong khi thất bại nặng nề nhất tại giải vô địch là trận thua với cùng tỉ số 0-9 trên sân Liverpool tại First Division năm 1989.[137]

Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà Crystal Palace từng nhận được cho một cầu thủ là 67,5 triệu bảng từ Arsenal để mua Eberechi Eze vào tháng 8 năm 2025, trong khi mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng chi ra cho tới nay là 48 triệu bảng để mua Jørgen Strand Larsen từ Wolverhampton Wanderers vào tháng 2 năm 2026.

Thứ hạng cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch cho tới nay là vị trí thứ ba ở Football League First Division cũ, hiện nay là Premier League, đạt được ở mùa giải 1990-91. Palace giữ kỉ lục về số điểm nhiều nhất của một đội bị xuống hạng tại Premier League với 49 điểm (dù đó là trong một mùa giải gồm 42 trận, ở mùa giải 1992-93).[138] Palace cũng là câu lạc bộ duy nhất từng bị xuống hạng khỏi Premier League dù đứng thứ tư từ dưới lên, bởi vào cuối mùa giải 1994-95 đã có quyết định rằng bốn đội cuối bảng sẽ xuống hạng để giải đấu giảm từ 22 xuống còn 20 câu lạc bộ cho mùa giải 1995-96; tổng số điểm 45 của Palace trong mùa đó cũng là tổng điểm cao thứ hai trong lịch sử Premier League đối với một đội bị xuống hạng.[138] Palace giữ kỉ lục về số lần thắng chung kết play-off nhiều nhất (4 lần) để giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất. Mỗi chiến thắng ở chung kết play-off đó diễn ra tại một địa điểm khác nhau: Selhurst Park năm 1989 (lượt đi của trận chung kết hai lượt diễn ra tại Ewood Park ở Blackburn), Wembley cũ năm 1997, Millennium StadiumCardiff năm 2004 và Wembley mới năm 2013.

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 23 tháng 2 năm 2026[139]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMAnhDean Henderson (đội trưởng)
2HVColombiaDaniel Muñoz
3HVAnhTyrick Mitchell
5HVPhápMaxence Lacroix (đội phó thứ ba)
7SénégalIsmaïla Sarr
8TVColombiaJefferson Lerma
9AnhEddie Nketiah
10TVTây Ban NhaYéremy Pino
11WalesBrennan Johnson
12NigeriaChristantus Uche (mượn từ Getafe)
14PhápJean-Philippe Mateta
17HVAnhNathaniel Clyne
18TVNhật BảnDaichi Kamada
19TVAnhWill Hughes (đội phó)
SốVT Quốc giaCầu thủ
20TVAnhAdam Wharton
22Na UyJørgen Strand Larsen
23HVPhápJaydee Canvot
24HVCroatiaBorna Sosa
26HVHoa KỳChris Richards
28TVMaliCheick Doucouré
29Bờ Biển NgàEvann Guessand (mượn từ Aston Villa)
31TMAnhRemi Matthews
34HVMarocChadi Riad
38HVAnhCaleb Kporha
42TVAnhKaden Rodney
44TMArgentinaWalter Benítez
55TVBắc IrelandJustin Devenny
59HVTrinidad và TobagoRio Cardines

Cho mượn

Các bản hợp đồng cho mượn được liệt kê dưới đây là dành cho những cầu thủ vốn thuộc đội hình đội một hoặc các cầu thủ dưới 21 tuổi đã từng ra sân trong một trận đấu chính thức cho đội một, hoặc từng được triệu tập vào đội hình đội một cho một trận chính thức.

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
TMAnhOwen Goodman (cho Barnsley mượn đến hết mùa giải 2025-26)
TMAnhJoe Whitworth (cho Exeter City mượn đến hết mùa giải 2025-26)
HVCộng hòa IrelandTayo Adaramola (cho Sheffield Wednesday mượn đến hết mùa giải 2025-26)
HVAnhDanny Imray (cho West Brom mượn đến hết mùa giải 2025-26)
SốVT Quốc giaCầu thủ
TVBrasilMatheus França (cho Vasco da Gama mượn đến hết mùa giải 2025-26)
TVAnhDavid Ozoh (cho Derby County mượn đến hết mùa giải 2025-26)
AnhRomain Esse (cho Coventry City mượn đến hết mùa giải 2025-26)
AnhJesurun Rak-Sakyi (cho Stoke City mượn đến hết mùa giải 2025-26)

Học viện trẻ

Các cựu cầu thủ đáng chú ý

Những cầu thủ có hơn 100 lần ra sân cho Crystal Palace có thể được tìm thấy tại đây
Toàn bộ các cầu thủ trong quá khứ (và hiện tại) có bài viết trên Wikipedia có thể được tìm thấy tại đây

“Đội hình thế kỉ” của Crystal Palace

Để kỉ niệm 100 năm thành lập Crystal Palace vào năm 2005, người hâm mộ Palace đã được mời bỏ phiếu chọn ra một "Đội hình thế kỉ" từ danh sách rút gọn gồm mười cầu thủ cho mỗi vị trí do câu lạc bộ cung cấp.[140]

  • Anh Nigel Martyn (1989-96)
  • Anh Paul Hinshelwood (1974-83)
  • Wales Chris Coleman (1991-95)
  • Scotland Jim Cannon (1972-88)
  • Anh Kenny Sansom (1975-80)
  • Anh John Salako (1986-95)
  • Anh Geoff Thomas (1987-93)
  • Anh Andy Gray (1984-87, 1989-92)
  • Ý Attilio Lombardo (1997-99)
  • Anh Andrew Johnson (2002-06, 2014)
  • Anh Ian Wright (1985-91)

Ban huấn luyện

Vị tríTên
Giám đốc thể thaoMatt Hobbs
Huấn luyện viênOliver Glasner
Trợ lí huấn luyện viênPaddy McCarthy
Các huấn luyện viên đội mộtRonald Brunmayr
Emanuel Pogatetz
Michael Angerschmid
James Holland
Huấn luyện viên thủ mônAndy Quy
Huấn luyện viên thể lựcMichael Berktold
Huấn luyện viên tăng cường thể chấtAndy Goldsmith
Giám đốc học việnGary Issott
Huấn luyện viên đội U-21Darren Powell

Các huấn luyện viên

Thống kê được cập nhật đầy đủ tới và bao gồm trận đấu diễn ra ngày 19 tháng 3 năm 2026. Không bao gồm các huấn luyện viên tạm quyền. Tất cả các trận đấu chính thức đều được tính.
TênTừĐếnStTHB% thắng
Jack Robsontháng 7 năm 190530 tháng 4 năm 1907&000000000000007700000077&000000000000003500000035&000000000000001800000018&0000000000000024000000240&000000000000004545000045,45
Edmund Goodman1 tháng 5 năm 190724 tháng 11 năm 1925&0000000000000613000000613&0000000000000242000000242&0000000000000166000000166&00000000000002050000002050&000000000000003947999939,48
Alex Maley24 tháng 11 năm 192512 tháng 10 năm 1927&000000000000008300000083&000000000000003600000036&000000000000001600000016&0000000000000031000000310&000000000000004336999943,37
Fred Mavin21 tháng 11 năm 192718 tháng 10 năm 1930&0000000000000132000000132&000000000000006300000063&000000000000003300000033&0000000000000036000000360&000000000000004772999947,73
Jack Tresadern27 tháng 10 năm 1930tháng 6 năm 1935&0000000000000213000000213&000000000000009800000098&000000000000004400000044&0000000000000071000000710&000000000000004600999946,01
Tom Bromilowtháng 7 năm 1935
1 tháng 1 năm 1937
tháng 7 năm 1936
tháng 7 năm 1939
&0000000000000162000000162&000000000000007100000071&000000000000004000000040&0000000000000051000000510&000000000000004382999943,83
R. S. Moyestháng 7 năm 19368 tháng 12 năm 1936&000000000000002300000023&00000000000000060000006&00000000000000060000006&0000000000000011000000110&000000000000002608999926,09
George Irwintháng 7 năm 1939tháng 7 năm 1947&000000000000004500000045&000000000000001500000015&000000000000001100000011&0000000000000019000000190&000000000000003332999933,33
Jack Butlertháng 7 năm 1947tháng 6 năm 1949&000000000000008800000088&000000000000002300000023&000000000000002400000024&0000000000000041000000410&000000000000002614000026,14
Ronnie Rooketháng 6 năm 194929 tháng 11 năm 1950&000000000000006200000062&000000000000001900000019&000000000000001500000015&0000000000000028000000280&000000000000003064999930,65
Fred Dawes/Charlie Slade29 tháng 11 năm 195011 tháng 10 năm 1951&000000000000004000000040&00000000000000080000008&000000000000001000000010&0000000000000022000000220&000000000000002000000020,00
Laurie Scott11 tháng 10 năm 1951tháng 10 năm 1954&0000000000000145000000145&000000000000004300000043&000000000000004100000041&0000000000000061000000610&000000000000002966000029,66
Cyril Spierstháng 10 năm 1954tháng 6 năm 1958&0000000000000181000000181&000000000000005200000052&000000000000005300000053&0000000000000076000000760&000000000000002873000028,73
George Smiththáng 7 năm 195812 tháng 4 năm 1960&0000000000000100000000100&000000000000004200000042&000000000000002700000027&0000000000000031000000310&000000000000004200000042,00
Arthur Rowe15 tháng 4 năm 196030 tháng 11 năm 1962&0000000000000132000000132&000000000000005200000052&000000000000003200000032&0000000000000048000000480&000000000000003939000039,39
Dick Graham30 tháng 11 năm 19623 tháng 1 năm 1966&0000000000000150000000150&000000000000006800000068&000000000000004100000041&0000000000000041000000410&000000000000004532999945,33
Bert Head18 tháng 4 năm 196630 tháng 3 năm 1973&0000000000000328000000328&0000000000000101000000101&000000000000009600000096&00000000000001310000001310&000000000000003078999930,79
Malcolm Allison30 tháng 3 năm 1973
1 tháng 12 năm 1980
tháng 5 năm 1976
26 tháng 1 năm 1981
&0000000000000155000000155&000000000000005300000053&000000000000004800000048&0000000000000054000000540&000000000000003418999934,19
Terry Venables1 tháng 6 năm 1976
9 tháng 6 năm 1998
14 tháng 10 năm 1980
15 tháng 1 năm 1999
&0000000000000220000000220&000000000000008000000080&000000000000007600000076&0000000000000064000000640&000000000000003635999936,36
Dario Gradi26 tháng 1 năm 198110 tháng 11 năm 1981&000000000000003000000030&00000000000000070000007&00000000000000030000003&0000000000000020000000200&000000000000002332999923,33
Steve Kember10 tháng 11 năm 1981
18 tháng 4 năm 2003
tháng 6 năm 1982
3 tháng 11 năm 2003
&000000000000005300000053&000000000000001500000015&000000000000001400000014&0000000000000024000000240&000000000000002830000028,30
Alan Mullerytháng 7 năm 1982tháng 6 năm 1984&000000000000009800000098&000000000000003100000031&000000000000002700000027&0000000000000040000000400&000000000000003162999931,63
Steve Coppelltháng 7 năm 1984
tháng 7 năm 1995
28 tháng 2 năm 1997
15 tháng 1 năm 1999
21 tháng 5 năm 1993
8 tháng 2 năm 1996
13 tháng 3 năm 1998
1 tháng 8 năm 2000
&0000000000000565000000565&0000000000000221000000221&0000000000000146000000146&00000000000001980000001980&000000000000003911999939,12
Alan Smith3 tháng 6 năm 1993
1 tháng 8 năm 2000
15 tháng 5 năm 1995
29 tháng 4 năm 2001
&0000000000000163000000163&000000000000006200000062&000000000000004300000043&0000000000000058000000580&000000000000003803999938,04
Dave Bassett8 tháng 2 năm 199627 tháng 2 năm 1997&000000000000006000000060&000000000000002900000029&000000000000001500000015&0000000000000016000000160&000000000000004832999948,33
Attilio Lombardo[C]13 tháng 3 năm 199829 tháng 4 năm 1998&00000000000000070000007&00000000000000020000002&00000000000000000000000&000000000000000500000050&000000000000002857000028,57
Steve Bruce30 tháng 5 năm 200131 tháng 10 năm 2001&000000000000001800000018&000000000000001100000011&00000000000000020000002&000000000000000500000050&000000000000006110999961,11
Trevor Francis30 tháng 11 năm 200118 tháng 4 năm 2003&000000000000007800000078&000000000000002800000028&000000000000002200000022&0000000000000028000000280&000000000000003589999935,90
Iain Dowie22 tháng 12 năm 200322 tháng 5 năm 2006&0000000000000123000000123&000000000000005000000050&000000000000002900000029&0000000000000044000000440&000000000000004064999940,65
Peter Taylor13 tháng 6 năm 20068 tháng 10 năm 2007&000000000000006000000060&000000000000002100000021&000000000000001600000016&0000000000000023000000230&000000000000003500000035,00
Neil Warnock11 tháng 10 năm 2007
27 tháng 8 năm 2014
2 tháng 3 năm 2010
27 tháng 12 năm 2014
&0000000000000146000000146&000000000000005000000050&000000000000004500000045&0000000000000051000000510&000000000000003425000034,25
Paul Hart2 tháng 3 năm 20103 tháng 5 năm 2010&000000000000001400000014&00000000000000030000003&00000000000000060000006&000000000000000500000050&000000000000002142999921,43
George Burley17 tháng 6 năm 20101 tháng 1 năm 2011&000000000000002500000025&00000000000000070000007&00000000000000050000005&0000000000000013000000130&000000000000002800000028,00
Dougie Freedman11 tháng 1 năm 201123 tháng 10 năm 2012&000000000000009000000090&000000000000003200000032&000000000000002700000027&0000000000000031000000310&000000000000003556000035,56
Ian Holloway3 tháng 11 năm 201223 tháng 10 năm 2013&000000000000004600000046&000000000000001400000014&000000000000001400000014&0000000000000018000000180&000000000000003042999930,43
Tony Pulis23 tháng 11 năm 201314 tháng 8 năm 2014&000000000000002800000028&000000000000001200000012&00000000000000050000005&0000000000000011000000110&000000000000004285999942,86
Alan Pardew2 tháng 1 năm 201522 tháng 12 năm 2016&000000000000008700000087&000000000000003500000035&000000000000001300000013&0000000000000039000000390&000000000000004022999940,23
Sam Allardyce23 tháng 12 năm 201623 tháng 5 năm 2017&000000000000002400000024&00000000000000090000009&00000000000000030000003&0000000000000012000000120&000000000000003750000037,50
Frank de Boer26 tháng 6 năm 201711 tháng 9 năm 2017&00000000000000050000005&00000000000000010000001&00000000000000000000000&000000000000000400000040&000000000000002000000020,00
Roy Hodgson12 tháng 9 năm 2017
21 tháng 3 năm 2023
23 tháng 5 năm 2021
19 tháng 2 năm 2024
&0000000000000200000000200&000000000000006600000066&000000000000004700000047&0000000000000087000000870&000000000000003300000033,00
Patrick Vieira4 tháng 7 năm 202117 tháng 3 năm 2023&000000000000007400000074&000000000000002200000022&000000000000002500000025&0000000000000027000000270&000000000000002973000029,73

Oliver Glasner

19 tháng 2 năm 2024nay&0000000000000108000000108&000000000000004600000046&000000000000003300000033&0000000000000029000000290&000000000000004259000042,59

Danh hiệu

Giải vô địch

  • Second Division / First Division / Championship (cấp độ 2)
    • Vô địch: 1978-79, 1993-94
    • Á quân: 1968-69
    • Thắng play-off thăng hạng: 1989, 1997, 2004, 2013
  • Third Division / Third Division South (cấp độ 3)
    • Vô địch: 1920-21
    • Á quân: 1928-29, 1930-31, 1938-39, 1963-64
  • Fourth Division (cấp độ 4)
    • Á quân: 1960-61

Cúp

Danh hiệu thời chiến

  • Football League South
    • Vô địch: 1940-41
  • Wartime South D League
    • Vô địch: 1939-40

Các giải đấu khu vực

  • Southern Football League Division One
    • Á quân: 1913-14
  • Southern Football League Division Two
    • Vô địch: 1905-06
  • United League[141]
    • Vô địch: 1906-07
    • Á quân: 1905-06
  • Southern Professional Floodlit Cup
    • Á quân: 1958-59
  • London Challenge Cup[E]
    • Vô địch: 1912-13, 1913-14, 1920-21
    • Á quân: 1919-20, 1921-22, 1922-23, 1931-32, 1937-38, 1946-47
  • Surrey Senior Cup[142]
    • Vô địch: 1996-97, 2000-01, 2001-02
  • London Five-a-Sides
    • Vô địch: 1959, 1969
    • Á quân: 1958, 1968, 1979
  • Kent Senior Shield
    • Vô địch: 1911-12
    • Á quân: 1912-13

Trong văn hóa đại chúng

Trong bộ phim Wonderland năm 1999, các cảnh của nhân vật Dan cùng con trai tại một trận bóng đá được quay ở Selhurst Park trong trận hòa 1-1 của Crystal Palace với Birmingham City vào ngày 6 tháng 2 năm 1999.[143] Trong vở kịch sân khấu và phiên bản truyền hình Abigail's Party, nhân vật Tony nhắc rằng trước đây anh từng chơi bóng chuyên nghiệp cho Crystal Palace, nhưng "mọi chuyện không thành", chi tiết mà diễn viên John Salthouse đã đưa vào nhân vật trong quá trình tập luyện dựa trên chính cuộc đời mình.[111] Salthouse cũng đưa câu lạc bộ vào loạt phim truyền hình thiếu nhi do ông viết là Hero to Zero, trong đó cha của nhân vật chính từng chơi cho đội dự bị của Palace.[144] Trong loạt đầu của bộ phim hài truyền hình Only Fools and Horses, có thể thấy một chiếc khăn quàng Crystal Palace treo trên giá áo, được nhà sản xuất Ray Butt đặt ở đó, dù tên đệm của nhân vật Rodney là Charlton, như người anh Del tiết lộ trong ngày cưới của Rodney: mẹ họ là người hâm mộ "Athletic" chứ không phải "Heston".[145] Hiệu trưởng Keith Blackwell, người từng đóng vai linh vật "Pete the Eagle" của Palace trong thập niên 1990, đã xuất hiện trong một loạt quảng cáo Coca-Cola năm 1996, với các đoạn phim ông mặc trang phục linh vật được sử dụng trong quảng cáo. Blackwell từng kể về vai trò này và những rắc rối nó gây ra tại trường học của ông, khi ông phải vắng một số cuộc họp phụ huynh vì Palace thi đấu giữa tuần.[146][147]

Câu lạc bộ bắt đầu phát bài hát "Glad All Over" của the Dave Clark Five trong các trận sân nhà vào đầu năm 1964, và ban nhạc này cũng từng biểu diễn ca khúc đó tại Selhurst Park vào năm 1968.[148] Từ đó, bài hát gắn bó mật thiết với câu lạc bộ, và cổ động viên Palace hát nó ở mọi trận đấu.[149] Câu lạc bộ đã phát hành một phiên bản hát lại của bài này để chào đón trận chung kết Cúp FA 1990.[149][150]

Tập phim năm 2008 của The IT Crowd, "Are We Not Men?", đã sử dụng Selhurst Park để quay các cảnh đám đông. Loạt phim Apple TV Ted Lasso cũng quay các cảnh sân vận động tại Selhurst Park.

Crystal Palace F.C. là chủ đề của loạt phim gồm năm phần trên Amazon Prime Video, phát hành năm 2021, mang tên When Eagles Dare, ghi lại mùa giải 2012-13 của câu lạc bộ, khi họ giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất thông qua loạt play-off Championship.[151]

Crystal Palace Women

Crystal Palace Women là một câu lạc bộ bóng đá nữ được thành lập vào năm 1992 và có liên kết với đội nam cùng tên. Hiện tại, đội thi đấu tại Women's Super League 2 và chơi các trận sân nhà tại Sân vận động Cộng đồng VBS ở Sutton, Nam Luân Đôn.

Ghi chú

  1. ^ Có tính lịch sử. Hiện vẫn còn được dùng, dù không phổ biến.
  2. ^ Dù Crystal Palace F.C. chuyên nghiệp chỉ chính thức được thành lập vào năm 1905, câu lạc bộ khẳng định mình là sự tiếp nối của đội bóng nghiệp dư nguyên thủy được thành lập vào năm 1861.[1]
  3. ^ Cầu thủ kiêm huấn luyện viên
  4. ^ Đây là một giải đấu cúp được tổ chức từ năm 1985 tới năm 1992. Giải cũng từng được biết đến với các tên tài trợ là Simod Cup từ năm 1987 tới năm 1989 và Zenith Data Systems Cup từ năm 1989 tới năm 1992. Giải được tạo ra sau thảm họa Heysel, khi các câu lạc bộ Anh bị cấm tham dự các giải đấu châu Âu, như một giải đấu bổ sung dành cho các câu lạc bộ ở hai hạng đấu cao nhất.
  5. ^ Đây là một giải đấu do London FA tổ chức. Giải lần đầu được tổ chức vào năm 1908, và ngoài giai đoạn hai cuộc chiến tranh thế giới, được tổ chức hằng mùa giải cho tới năm 1974, khi giải bị giải thể.

Tham khảo

Tài liệu tham khảo
  • King, Ian (2012). Crystal Palace: The Complete Record 1905-2011. Derby Books Publishing Company Limited. ISBN 978-1-78091-221-9.
  • Matthews, Tony (editor). We All Follow The Palace. Juma, 1998. ISBN 1-872204-55-4
Chú thích
  1. ^ Wilson, Paul (ngày 22 tháng 4 năm 2020). "Crystal Palace launch plan to claim title of oldest Football League club". The Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  2. ^ "Premier League Handbook 2020/21" (PDF). Premier League. tr. 14. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
  3. ^ Palace at the Palace. Peter Manning 2018.
  4. ^ The Origin of Crystal Palace FC, Volume I. Steve Martyniuk 2016.
  5. ^ Sherman, Montagu (1889). Athletics and Football. Longman's Green. tr. 301.
  6. ^ Bell's Life in London and Sporting Chronicle, 12 December 1863, p. 3
  7. ^ Bell's Life in London and Sporting Chronicle, 24 February 1872, p. 5
  8. ^ Palace at the Palace. Peter Manning 2018
  9. ^ Matthews, p. 11-13
  10. ^ a b c "History". CPFC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013.
  11. ^ King, p. 10
  12. ^ Hutchinson, Roger (2011). The Toon: A Complete History of Newcastle United Football Club. Random House. ISBN 978-1-78057-314-4.
  13. ^ Porter, Steve. "All time greatest F A cup giant killings Number 11 Newcastle United 0-1 Crystal Palace". The Giant Killers. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013.
  14. ^ "The Joy of Six: FA Cup holders falling at the first hurdle". The Guardian. ngày 6 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
  15. ^ Kay, Joyce (2008). "It Wasn't Just Emily Davison! Sport, Suffrage and Society in Edwardian Britain" (PDF). The International Journal of the History of Sport. 25 (10): 1343. doi:10.1080/09523360802212271. S2CID 154063364.
  16. ^ Bartley, Paula (ngày 27 tháng 4 năm 2007). Votes for Women: 1860-1928 (bằng tiếng Anh). Hodder Education Group. tr. 87. ISBN 978-0-340-92685-7.
  17. ^ "Suffragettes, violence and militancy". British Library. 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2021.
  18. ^ King, pp. 15-19
  19. ^ King, pp. 15-19
  20. ^ Matthews, John (ngày 20 tháng 4 năm 1962). "Nearly 25, 000 See Real Dazzle, But Palace Fight Back". Croydon Advertiser. tr. 24.
  21. ^ King, pp. 32-7
  22. ^ "UEFA Country Ranking 1990". ngày 22 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  23. ^ King, p. 39-48
  24. ^ King, p. 48
  25. ^ Whitfield, Martin (ngày 27 tháng 1 năm 1995). "The Cantona affair: Palace offer Frenchman no sympathy". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  26. ^ "Soccer star attacks a fan". The Gainesville Sun. The Associated Press. ngày 27 tháng 1 năm 1995. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  27. ^ Boggan, Steve (ngày 24 tháng 3 năm 1995). "Jail term may make Cantona quit UK". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  28. ^ "Attack on fan new low for soccer". The Register-Guard. Eugene. Associated Press. ngày 28 tháng 1 năm 1995. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  29. ^ "Soccer fan goes ballistic after guilty verdict". Southeast Missourian. Associated Press. ngày 2 tháng 5 năm 1996. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  30. ^ Moore, Glenn (ngày 7 tháng 3 năm 1995). "The FA has suspended Chris Armstrong of Crystal Palace for smoking a private spliff. Our football correspondent calls for a sense of proportion". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  31. ^ King, p. 50
  32. ^ "Bassett quits Palace and joins Forest". The Nation. Bangkok: Nation Multimedia Group. Reuters. ngày 1 tháng 3 năm 1997. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  33. ^ King, pp. 51-2
  34. ^ Dyer, Ken. "Goldberg Finally Seals Palace Deal." Evening Standard: 71. 5 tháng 6 năm 1998. ProQuest. Web. 30 May 2013.
  35. ^ "The Company File: Palace on the rocks". BBC News. ngày 3 tháng 3 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.
  36. ^ Rookwood, Dan (ngày 31 tháng 5 năm 2001). "Bruce confirmed as Palace manager". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  37. ^ Fifield, Dominic (ngày 3 tháng 11 năm 2001). "Palace farce as Bruce awaits escape to Blues". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  38. ^ Stewart, Colin. "Bruce Left in Limbo as Palace Turn Down Resignation." The Scotsman: 3. 3 tháng 11 năm 2001. ProQuest. Web. 31 May 2013. Archived on 3 tháng 6 năm 2013.
  39. ^ Johnson, William (ngày 12 tháng 11 năm 2001). "Palace stand firm over Bruce dispute". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  40. ^ "Bruce finally joins the Blues". The Guardian. ngày 12 tháng 12 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  41. ^ Rookwood, Dan (ngày 30 tháng 11 năm 2001). "Palace name Francis as manager". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  42. ^ Fifield, Dominic (ngày 19 tháng 4 năm 2003). "Francis sacked for failing to decorate Jordan's Palace". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  43. ^ Bright, Richard. "Palace Turn to Kember as Manager." The Daily Telegraph: 05. 24 May 2003. ProQuest. Web. 31 May 2013
  44. ^ Ley, John (ngày 4 tháng 11 năm 2003). "Kember sacked by Palace". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  45. ^ "Championship side Crystal Palace go into administration". BBC Sport. ngày 27 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  46. ^ "Crystal Palace deducted 10 points". BBC Sport. ngày 28 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  47. ^ Fletcher, Paul (ngày 2 tháng 5 năm 2010). "Sheff Wed 2-2 Crystal Palace". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  48. ^ Scott, Matt (ngày 1 tháng 6 năm 2010). "Crystal Palace saved from liquidation by CPFC 2010". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  49. ^ a b "Crystal Palace fans stage demonstration against Lloyds Bank as deadline looms". Press Association. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  50. ^ "Crystal Palace appoint George Burley as new boss". BBC Sport. ngày 17 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.
  51. ^ "Crystal Palace appoint Dougie Freedman as their new manager". The Guardian. London. ngày 11 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  52. ^ "Dougie Freedman confirmed as Bolton boss by Crystal Palace". BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 23 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012.
  53. ^ "Crystal Palace 1-0 Watford (aet)". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2013.
  54. ^ "Ian Holloway: Crystal Palace boss departs Premier League strugglers". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  55. ^ Burt, Jason (ngày 3 tháng 1 năm 2015). "Alan Pardew confirmed as Crystal Palace manager after Newcastle receive £3.5m compensation". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015.
  56. ^ "Sam Allardyce resigns as Crystal Palace manager". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
  57. ^ "New boss De Boer aims to make Palace a 'solid Premier League team'". Reuters. ngày 26 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
  58. ^ "Frank de Boer sacked by Crystal Palace". Daily Mirror. ngày 11 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
  59. ^ "Hodgson appointed Palace manager". Crystal Palace Official Site. ngày 12 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2017.
  60. ^ "Roy Hodgson to step down as Crystal Palace manager". www.cpfc.co.uk (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
  61. ^ "Patrick Vieira appointed as manager. News". Crystal Palace F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2021.
  62. ^ "Patrick Vieira: Crystal Palace sack manager after 12-game winless run". BBC Sport. ngày 17 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2023.
  63. ^ "Hodgson reappointed as Crystal Palace manager". BBC Sport. ngày 21 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2023.
  64. ^ "Hodgson appointed manager for 23/24 season - News". ngày 3 tháng 7 năm 2023.
  65. ^ "Club Statement: Roy Hodgson". Crystal Palace F.C. ngày 19 tháng 2 năm 2024.
  66. ^ "Oliver Glasner appointed as Palace manager". Crystal Palace F.C. ngày 19 tháng 2 năm 2024.
  67. ^ "Seventh heaven: the story of Palace's season-ending surge". Crystal Palace F.C. ngày 22 tháng 5 năm 2024.
  68. ^ "Four Palace stars named in England Euros squad". Crystal Palace F.C. ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  69. ^ "Crystal Palace 1-0 Manchester City: Line-ups". BBC Sport. ngày 17 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
  70. ^ "'A perfect storm': multi-club ownership, Crystal Palace and a looming court threat". The Guardian. ngày 21 tháng 6 năm 2025.
  71. ^ Battison, Paul (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "Palace demoted from Europa League over ownership rules". BBC Sport.
  72. ^ "Crystal Palace to play in Conference League after CAS rules UEFA decision should stand following Europa League demotion". Sky Sports. ngày 11 tháng 8 năm 2025.
  73. ^ Smith, Emma (ngày 10 tháng 8 năm 2025). "Crystal Palace started the new season with a suddenly familiar feeling, basking in trophy glory as triumphant underdogs at Wembley". BBC Sport. BBC News. BBC. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
  74. ^ Aarons, Ed (ngày 21 tháng 8 năm 2025). "Mateta sinks Fredrikstad to give Crystal Palace advantage in Conference playoff". The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  75. ^ Aarons, Ed (ngày 28 tháng 8 năm 2025). "Goalless draw earns Crystal Palace aggregate win in Conference playoff at Fredrikstad". The Guardian. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
  76. ^ Rose, Gary (ngày 10 tháng 1 năm 2026). "Macclesfield 2-1 Crystal Palace". BBC Sport. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  77. ^ a b c d Moor, Dave. "Crystal Palace". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012.
  78. ^ Elliott, Ken (ngày 27 tháng 3 năm 2012). "Facelift for Crystal Palace's 'Benfica eagle'". Evening Standard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  79. ^ "Crystal Palace 1861: New crest to commemorate club's place in football history". cpfc.co.uk. Crystal Palace FC. ngày 18 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2022.
  80. ^ "Crystal Palace Eagles will be flying high with new mascot". Bromley Times. Archant Community Media. ngày 8 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014.
  81. ^ "Kayla – The Next Breed of Mascot". Howzit MSN Sport. Microsoft. ngày 12 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014.
  82. ^ "Crystal Palace F.C. saddened to learn of Kayla the Eagle's passing". www.cpfc.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  83. ^ "Revealed: Crystal Palace and Puma 2018/19 Kits". Crystal Palace F.C. ngày 9 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018.
  84. ^ "Crystal Palace reveal first sleeve sponsor". sportspromedia.com. 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017.
  85. ^ Sim, Josh (ngày 30 tháng 5 năm 2023). "Crystal Palace tap Kaiyun Sports for 2023/24 sleeve sponsorship". SportsPro (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.
  86. ^ King, p. 62
  87. ^ King, p. 63
  88. ^ King, p. 64
  89. ^ Matthews, pp.29-30
  90. ^ King p. 67-71
  91. ^ "Eagles Fly Home". cpfc.co.uk. Crystal Palace F.C. ngày 28 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  92. ^ Johnson, Simon (ngày 29 tháng 5 năm 2013). "Crystal Palace: Selhurst Park set for a 40.000 makeover". Evening Standard. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  93. ^ "Crystal Palace plan for Selhurst Park expansion given the go-ahead by Croydon Council". Croydon Advertiser. ngày 20 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2018.
  94. ^ "About Us". Palace Independent Supporters Association. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  95. ^ "What we do". Crystal Palace Supporters' Trust. ngày 20 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  96. ^ "About Palace Echo". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  97. ^ "Football Fanzines For Sale – (Part 2 – Clubs From C – D)". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  98. ^ "About FYP". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  99. ^ "Five Year Plan". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  100. ^ "Crystal Palace F.C.Fans' Charter Season 2012/13" (PDF). Crystal Palace Football Club. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2012.
  101. ^ Stevens, Rob (ngày 30 tháng 5 năm 2013). "Crystal Palace: Steve Parish faces 'luxury problems' after promotion". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.
  102. ^ "Aston Villa: Martin O'Neill ready to rotate squad again". Birmingham Mail. ngày 14 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  103. ^ Bloss, Andrew (ngày 8 tháng 5 năm 2013). "Crystal Palace unveils new football club crest". Croydon Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  104. ^ "What We Do". Crystal Palace F.C. Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  105. ^ Bloss, Andrew (ngày 30 tháng 5 năm 2013). "Tickets still on sale for Crystal Palace comedy night". The Croydon Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  106. ^ "Palace launch their own ale". Football League. ngày 13 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  107. ^ "CPSCC". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  108. ^ King, Mark (ngày 9 tháng 12 năm 2011). "David 'Kid' Jensen: my Saturday job". The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  109. ^ Salthouse, John (ngày 8 tháng 6 năm 1997). "Scholes Shatters Kop Legend". Sunday Mirror. tr. 72.
  110. ^ "John Is Top of the Bill". Evening Times. ngày 11 tháng 11 năm 1985. tr. 13.
  111. ^ a b Duvitski, Janine (ngày 14 tháng 10 năm 2007). "Party Central: The Players". The Observer. London. tr. 6.
  112. ^ Strictly Come Dancing, broadcast BBC1 12 tháng 10 năm 2013
  113. ^ "Bill appears in Crystal Palace FC interview video – Bill Wyman" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2025.
  114. ^ "Palace fan Alex Yee nominated for BBC Spotty". Crystal Palace. ngày 10 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  115. ^ "The Unlikely Rivalry Between Brighton and Crystal Palace". IBWM. In Bed With Maradona. ngày 7 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017.
  116. ^ King, pp. 8-23
  117. ^ Matthews, John (tháng 8 năm 1972). "Behind-The-Scenes Shuffle at Palace". Croydon Advertiser. ... whose board he joined in 1948
  118. ^ "New chairman ends freeze at Palace." Times [London, England] 27 October 1972: 10. The Times Digital Archive. Web. 29 May 2013.
  119. ^ "New Man Bloye Kills 'Moneybags' Tag", Croydon Advertiser, 27 tháng 10 năm 1972, p.58 "Twenty two years ago ... seven men formed a board ... (n)ow the last of the seven, Arthur Wait, steps (down)"
  120. ^ King, pp. 42-60
  121. ^ Moody, Graham (ngày 6 tháng 3 năm 2012). "Crystal Palace post £5m loss". Croydon Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2013.
  122. ^ Certificate of Incorporation, ngày 29 tháng 3 năm 2010
  123. ^ "Crystal Palace come out of administration". ngày 20 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  124. ^ Wilson, Jeremy (ngày 1 tháng 6 năm 2010). "Crystal Palace granted reprieve after principle agreement over sale of club and ground". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  125. ^ "Crystal Palace: Deal agreed with US investors Harris and Blitzer". BBC Sport. ngày 18 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2015.
  126. ^ "Will U.S. owner John Textor's 'Botafogo Way' produce the Bayern Munich of Brazilian football?". ESPN (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2022.
  127. ^ Aarons, Ed (ngày 19 tháng 1 năm 2023). "Palace chairman Steve Parish falls out with club's biggest investor John Textor". The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
  128. ^ Alencar, Mauricio (ngày 8 tháng 12 năm 2023). "Who owns Crystal Palace now? How much did John Textor, Josh Harris and David Blitzer and his co-owners pay?". City A.M. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
  129. ^ Brinkerhoff, Nick (ngày 23 tháng 6 năm 2025). "Jets owner Woody Johnson buys stake in Premier League's Crystal Palace". USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  130. ^ Aarons, Ed (ngày 23 tháng 6 năm 2025). "Woody Johnson signs £190m deal to buy John Textor's shares in Crystal Palace". The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  131. ^ Drury, Sam (ngày 24 tháng 7 năm 2025). "Crystal Palace: Woody Johnson completes purchase of Eagle Football's shareholding in the club". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  132. ^ "New York Jets co-owner Johnson completes purchase of stake in Palace". Reuters. ngày 25 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  133. ^ King, p. 441
  134. ^ a b "Crystal Palace all time records". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013.
  135. ^ "Hennessey Breaks Palace Cap Record". cpfc.co.uk. ngày 17 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018.
  136. ^ "Division Four 1960/61". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  137. ^ a b King, p. 444
  138. ^ a b Foster, Richard (ngày 24 tháng 8 năm 2018). "Premier League managers should forget the mythical 40-point mark". The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2019.
  139. ^ "First-Team Squad". Crystal Palace Football Club.
  140. ^ "Centenary: All-Time XI". CPFC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.
  141. ^ "United League". www.royalsrecord.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2016.
  142. ^ "Saturday Senior Cup Previous Winners". Surrey FA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2016.
  143. ^ "Results saturday 6th tháng 2 năm 1999". Statto.com. ngày 17 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2013.
  144. ^ Maume, Chris (ngày 26 tháng 2 năm 2000). "Owen's method is latest pitch at football's screen test". The Independent. tr. 28.
  145. ^ Simons, Raoul (ngày 25 tháng 5 năm 2006). "Football Talk". The Evening Standard. tr. 59.
  146. ^ Earls, John (ngày 19 tháng 10 năm 1997). "Game for a laugh; Soccer club mascots keep thousands of fans entertained at every game by dressing up as lions, dinosaurs – and even a giant hammer! But what makes them want to face the taunts of cheeky away fans?". The People. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.
  147. ^ Leach, Conrad (ngày 15 tháng 11 năm 1998). "Mascot men, mascot cats and dogs". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.
  148. ^ "John Henty: The man who made Crystal Palace 'Glad All Over'". Crystal Palace F.C. ngày 15 tháng 11 năm 2023.
  149. ^ a b Booker, James (ngày 19 tháng 5 năm 2016). "Why do Crystal Palace fans sing Glad All Over and what are its lyrics?". croydonadvertiser. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  150. ^ "Glad All Over: Beers at Abbey Road Studios and an FA Cup single - News". Crystal Palace F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  151. ^ Braidwood, Jaime (ngày 6 tháng 5 năm 2021). "Crystal Palace documentary: Amazon to release 'When Eagles Dare' in June". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2021.

Đọc thêm

  • The Crystal Palace Story của Roy Peskett, do Roy Peskett Publishing Ltd xuất bản (1969). ISBN 978-0-9501-0390-7.
  • 100 Years of Crystal Palace Football Club của Rev. Nigel Sands, do The History Press Ltd xuất bản, (2005), ISBN 978-0-7524-3608-1.
  • Crystal Palace Football Club của Rev. Nigel Sands, do NPI Media Group xuất bản, (1999), ISBN 978-0-7524-1544-4.
  • Classic Matches: Crystal Palace FC của Rev. Nigel Sands, do The History Press Ltd xuất bản, (2002), ISBN 978-0-7524-2733-1.
  • Crystal Palace Miscellany của Neil McSteen, do Legends Publishing xuất bản, (2009), ISBN 978-1-905411-55-9.

Xem thêm

  • Bóng đá Luân Đôn

Liên kết ngoài

Các website độc lập

Bản mẫu:Crystal Palace F.C.