Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Burnley F.C.”
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động | viết lại toàn bộ nội dung, dựa theo bản dịch enwiki của Burnley F.C. | ||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
{{Short description|Câu lạc bộ bóng đá Anh}} | |||
{{About|đội bóng đá nam|đội bóng đá nữ|Burnley F.C. Women|các đội trẻ|Học viện Burnley F.C.}} | |||
{{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá | {{Hộp thông tin câu lạc bộ bóng đá | ||
| clubname | | clubname = Burnley | ||
| image | | image = Burnley FC Logo.svg | ||
| | | upright = 0.8 | ||
| alt = Huy hiệu của Burnley F.C. | |||
| nickname = ''The Clarets'' | |||
| fullname = Câu lạc bộ bóng đá Burnley | |||
| founded = {{start date and years ago|1882|5|18|df=yes}} | |||
| nickname = The Clarets | |||
| founded = {{start date and age|1882|5|18|df=yes}} | |||
| ground = [[Turf Moor]] | | ground = [[Turf Moor]] | ||
| capacity = 21.944 | | capacity = 21.944 | ||
| owner = ALK Capital [[LLC]] | | owner = ALK Capital [[LLC]] | ||
| chairman = Alan Pace | | chairman = [[Alan Pace]] | ||
| mgrtitle = Huấn luyện viên | | mgrtitle = Huấn luyện viên trưởng | ||
| manager = [[Scott Parker]] | | manager = [[Scott Parker]] | ||
| league = | | league = {{English football updater|Burnley}} | ||
| season = | | season = {{English football updater|Burnley2}} | ||
| position = {{English football updater|Burnley3}} | |||
| position = [[EFL Championship 2024–25|EFL Championship]], thứ 2 trên 20 (thăng hạng) | |||
| current = | | current = Burnley F.C. mùa giải 2025-26 | ||
| pattern_la1 = _burnley2526h | | pattern_la1 = _burnley2526h | ||
| pattern_b1 = _burnley2526h | | pattern_b1 = _burnley2526h | ||
| Dòng 40: | Dòng 44: | ||
| pattern_sh3 = _burnley2526t | | pattern_sh3 = _burnley2526t | ||
| pattern_so3 = _burnley2526tl | | pattern_so3 = _burnley2526tl | ||
| website = https:// | | website = {{URL|https://burnleyfootballclub.com}} | ||
}} | }} | ||
'''Câu lạc bộ bóng đá Burnley''' ([[tiếng Anh]]: '''Burnley Football Club''' - '''Burnley FC'''), với biệt danh ''The Clarets'' (Rượu vang đỏ), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Anh đặt trụ sở tại [[Burnley]], [[Lancashire]], hiện đang thi đấu tại [[Giải vô địch bóng đá Anh|Giải bóng đá Ngoại hạng Anh]]. Được sáng lập vào năm [[1888]] bởi các thành viên trong Liên đoàn Bóng đá<ref name="football league founders">[http://www.rsssf.com/engpaul/FLA/1888-89.html England 1888–89] Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation</ref> với màu sắc chủ đạo của câu lạc bộ là [[Đỏ yên chi|màu đỏ rượu nho]] và [[xanh da trời]]. Sân nhà của đội kể từ năm 1883 là [[Turf Moor]]. | |||
'''Câu lạc bộ bóng đá Burnley''' ({{Langx|en|Burnley Football Club}}) ({{IPAc-en|ˈ|b|ɜr|n|l|i}}) là một câu lạc bộ [[bóng đá]] chuyên nghiệp có trụ sở tại [[Burnley]], Lancashire, Anh. Đội thi đấu tại [[Premier League]], hạng đấu cao nhất của [[hệ thống giải bóng đá Anh]]. Được thành lập vào năm 1882, Burnley là một trong những đội đầu tiên chuyển sang chuyên nghiệp (vào năm 1883), và sau đó đã gây sức ép lên [[Football Association]] để cho phép trả lương cho cầu thủ. Burnley lần đầu tham dự [[Cúp FA]] ở [[Cúp FA 1885-86|mùa giải 1885-86]] và là một trong 12 thành viên sáng lập của [[English Football League|Football League]] ở [[Football League 1888-89|mùa giải 1888-89]], giải đấu bóng đá theo thể thức vô địch đầu tiên trên thế giới. | |||
Burnley đã vô địch [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Giải vô địch quốc gia Anh]] hai lần vào năm [[1920]]-[[1921]]<ref>[http://www.rsssf.com/engpaul/FLA/1920-21.html England 1920–21] Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation</ref> và [[1959]]-[[1960]],<ref>[http://www.rsssf.com/engpaul/FLA/1959-60.html England 1959–60] Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation</ref> giành [[Cúp FA|FA Cup]] một lần vào năm [[1914]]. ''The Clarets'' cũng vào đến tứ kết [[Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu|Cúp châu Âu]] năm [[1961]]. Họ là một trong ba đội từng giành chiến thắng tất cả bốn giải đấu chuyên nghiệp của bóng đá Anh. Hai đội khác là [[Preston North End F.C.|Preston North End]] và [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton]]. | |||
Burnley là một trong chỉ năm đội bóng từng vô địch [[Hệ thống giải bóng đá Anh|cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh]], và đã hai lần đăng quang [[List of English football champions|vô địch Anh]], vào các mùa giải [[Burnley F.C. mùa giải 1920-21|1920-21]] và [[Burnley F.C. mùa giải 1959-60|1959-60]]. Đội đã một lần vô địch Cúp FA, vào [[Cúp FA 1913-14|mùa giải 1913-14]], và hai lần giành [[FA Community Shield|FA Charity Shield]], vào các năm [[FA Charity Shield 1960|1960]] và [[1973 FA Charity Shield|1973]]. Burnley cũng đã hai lần về nhì ở cả [[Football League First Division|First Division]] lẫn Cúp FA. Trong chiến dịch 1920-21, Burnley tạo nên chuỗi 30 trận bất bại tại giải vô địch, lập nên một kỉ lục của Anh.{{efn|Thành tích này từng là chuỗi bất bại dài nhất trong một mùa giải thuộc hệ thống bóng đá chuyên nghiệp Anh cho tới khi bị [[Arsenal F.C.|Arsenal]] vượt qua ở [[Arsenal F.C. mùa giải 2003-04|mùa giải 2003-04]].<ref name=RememberingRecord/>}} Từ thập niên 1950 tới thập niên 1970, dưới quyền chủ tịch [[Bob Lord (chủ tịch bóng đá)|Bob Lord]], Burnley nổi tiếng với chính sách đào tạo trẻ và hệ thống tuyển trạch, đồng thời là một trong những câu lạc bộ đầu tiên xây dựng sân tập chuyên biệt. Phần lớn đội hình vô địch giải đấu mùa giải 1959-60 đều trưởng thành từ [[Học viện Burnley F.C.|học viện trẻ]] của câu lạc bộ. Vào thời điểm đó, Burnley, với dân số 80.000 người, trở thành một trong những thị trấn nhỏ nhất từng sản sinh ra nhà vô địch hạng đấu cao nhất nước Anh.{{efn|name=Population}} | |||
Phần lớn thời gian câu lạc bộ thi đấu ở hai giải đấu là hạng Nhất và hạng Nhì của [[Anh]], từ [[1976]]-[[2009]]. Từ [[1985]]-[[1992]] họ đã có bảy năm phải chơi ở giải đấu thấp nhất của Liên đoàn bóng đá Anh. Từ năm [[2000]] đến năm 2009 họ đã chơi liên tục ở Giải hạng nhất nước Anh, cho đến khi họ đạt được quyền lên chơi ở [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|giải Ngoại hạng]] lần đầu tiên trong 33 năm sau khi chiến thắng trong giải vô địch hạng nhất nước Anh năm 2009 vòng Play-off cuối cùng, mặc dù ở giải ngoại hạng họ thi đấu không đến nỗi tệ và được coi là "hiện tượng" của giải nhưng cuối cùng đã bị xuống hạng sau một mùa giải duy nhất. | |||
Đội đã thi đấu các trận sân nhà tại [[Turf Moor]] từ năm 1883, sau khi rời địa điểm ban đầu ở Calder Vale. Có biệt danh là “the Clarets”, câu lạc bộ sử dụng màu rượu vang đỏ và xanh từ năm 1910. Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ dựa trên quốc huy của thị trấn Burnley. Đội có mối kình địch lâu đời với câu lạc bộ lân cận [[Blackburn Rovers F.C.|Blackburn Rovers]], với trận đấu giữa hai đội được gọi là [[Derby East Lancashire|derby East Lancashire]]. Cầu thủ ra sân nhiều nhất trong lịch sử Burnley là [[Jerry Dawson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1888)|Jerry Dawson]], với 569 lần ra sân trong 22 năm khoác áo đội bóng, còn chân sút ghi nhiều bàn nhất là [[George Beel]] với 188 bàn thắng. | |||
==Các thành viên== | |||
===Đội hình hiện tại=== | |||
{{updated|1 tháng 9 năm 2025}}<ref name="Burnley FC Player Profiles">{{chú thích web |url=https://www.burnleyfootballclub.com/teams/first-team/squad-list |title=First Team |publisher=Burnley F.C. |access-date=11 July 2022}}</ref> | |||
== Lịch sử == | |||
{{Main|Lịch sử Burnley F.C.}} | |||
{{About||thống kê chi tiết theo từng mùa giải|Danh sách mùa giải Burnley F.C.|thành tích của câu lạc bộ ở đấu trường quốc tế|Burnley F.C. in European football}} | |||
=== Khởi đầu và những danh hiệu lớn đầu tiên (1882-1946) === | |||
[[File:Burnley FC 1890.png|thumb|Một trong những bức ảnh sớm nhất chụp đội hình Burnley, với chiếc [[Lancashire Senior Cup|Lancashire Cup]] ở giữa bức ảnh|alt=Ảnh đen trắng của đội Burnley với chiếc cúp Lancashire Cup ở giữa]] | |||
Câu lạc bộ được thành lập vào ngày 18 tháng 5 năm 1882 bởi các thành viên của đội [[Rugby football|bóng bầu dục]] Burnley Rovers,{{efn|Tờ ''Burnley Advertiser'' đưa tin vào ngày 26 tháng 9 năm 1874 rằng một đội [[rugby football|bóng bầu dục]] có tên “The Burnley Rovers Football Club” đã “vừa mới được thành lập”, và khi đó đã có 35 thành viên.<ref>"Local News". ''Burnley Advertiser''. 26 September 1874. p. 2.</ref>}} những người đã bỏ phiếu chuyển sang chơi [[association football]] khi môn thể thao này ngày càng trở nên nổi bật trong khu vực.<ref name=Simp12>Simpson (2007), p. 12</ref> Hậu tố “Rovers” bị bỏ chỉ vài ngày sau đó.<ref name=Simp12 /> Đội giành danh hiệu đầu tiên vào năm 1883: Dr Dean's Cup, một [[Single-elimination tournament|giải đấu loại trực tiếp]] giữa các câu lạc bộ nghiệp dư ở khu vực Burnley.<ref name=DrDean>{{Chú thích web|last=Simpson|first=Ray|date=5 December 2017|title=The Story Of The Dr Dean Trophy|url=https://www.burnleyfootballclub.com/news/2017/december/the-story-of-the-dr-dean-trophy/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200806100407/https://www.burnleyfootballclub.com/news/2017/december/the-story-of-the-dr-dean-trophy/|archive-date=6 tháng 8 năm 2020|access-date=4 tháng 9 năm 2019|publisher=Burnley F.C.}}</ref> Tới cuối năm đó, câu lạc bộ chuyển sang [[Professionalism in association football|chuyên nghiệp]] và kí hợp đồng với nhiều cầu thủ Scotland, những người được ban lãnh đạo Burnley đánh giá là các cầu thủ giỏi nhất. Vì lý do đó, Burnley từ chối gia nhập [[The Football Association|Football Association]] (FA) và tham dự [[Cúp FA]], do tổ chức này cấm các cầu thủ chuyên nghiệp.<ref name=Simp2024>Simpson (2007), pp. 20-24</ref> Năm 1884, Burnley dẫn đầu một nhóm gồm 35 câu lạc bộ khác để thành lập [[British Football Association]] (BFA), một tổ chức ly khai nhằm thách thức quyền lực của FA. FA thay đổi quy định của mình vào năm 1885, cho phép thi đấu chuyên nghiệp, và Burnley có lần đầu ra sân ở Cúp FA vào [[Cúp FA 1885-86|mùa giải 1885-86]].<ref name=Simp2024 /><ref>Butler (1991), p. 30</ref> Vào tháng 10 năm 1886, sân [[Turf Moor]] của Burnley trở thành sân chuyên nghiệp đầu tiên được một thành viên [[British royal family|hoàng gia Anh]] ghé thăm, khi [[Prince Albert Victor, Duke of Clarence and Avondale|Prince Albert Victor]] dự khán một trận [[Exhibition game|giao hữu]] giữa Burnley và [[Bolton Wanderers F.C.|Bolton Wanderers]].<ref name=DrDean /> Câu lạc bộ là một trong mười hai thành viên sáng lập của [[English Football League|Football League]] ở [[Burnley F.C. mùa giải 1888-89|mùa giải 1888-89]], giải bóng đá vô địch đầu tiên trên thế giới, và là một trong sáu đội đến từ [[Lancashire]].<ref name=Simp2830>Simpson (2007), pp. 28-30</ref> Ở trận đấu thứ hai, [[William Tait (cầu thủ bóng đá)|William Tait]] trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử ghi [[hat-trick]] tại giải vô địch, với ba bàn thắng vào lưới Bolton Wanderers, giúp Burnley có chiến thắng đầu tiên ở giải đấu này.<ref name=Simp2830 /> Ở [[Burnley F.C. mùa giải 1889-90|mùa giải 1889-90]], Burnley giành [[Lancashire Senior Cup|Lancashire Cup]] đầu tiên sau khi đánh bại đối thủ địa phương [[Blackburn Rovers]] trong trận chung kết.<ref>Simpson (2007), pp. 35-36</ref> | |||
Burnley xuống hạng [[Football League Second Division|Second Division]] lần đầu tiên ở [[Football League 1896-97|mùa giải 1896-97]].<ref name=Rundle /> Đội vô địch hạng đấu này ở [[Football League 1897-98|mùa giải kế tiếp]], chỉ thua hai trong tổng số 30 trận trước khi giành quyền thăng hạng thông qua loạt [[Playoffs|play-off]] bốn đội mang tên [[Football League test matches|test matches]], dù trận đấu cuối cùng gặp câu lạc bộ của [[Football League First Division|First Division]] là [[Stoke City F.C.|Stoke]] gây nhiều tranh cãi. Trận đấu kết thúc với tỉ số 0-0, do cả hai đội chỉ cần một [[Tie (draw)|trận hòa]] để giành một suất ở hạng đấu cao nhất, và sau đó được gọi là “[t]he match without a shot at goal”.<ref>Simpson (2007), pp. 67-68</ref> Burnley lại xuống hạng ở [[1899-1900 Football League|mùa giải 1899-1900]] và vướng vào tranh cãi khi [[Goalkeeper (association football)|thủ môn]] [[Jack Hillman]] tìm cách hối lộ đối thủ [[Nottingham Forest F.C.|Nottingham Forest]] trong trận cuối cùng của mùa giải, khiến ông bị treo giò trọn vẹn mùa giải tiếp theo.<ref>Simpson (2007), pp. 75-76</ref> Đây có thể là trường hợp đầu tiên được ghi nhận về [[match fixing]] trong bóng đá.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.theguardian.com/football/2006/aug/09/theknowledge.sport|title=The earliest recorded case of match-fixing|last1=Dart|first1=James|last2=Bandini|first2=Nicky|date=9 tháng 8 năm 2006|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727052854/https://www.theguardian.com/football/2006/aug/09/theknowledge.sport|archive-date=27 July 2020|website=The Guardian|access-date=25 tháng 1 năm 2018}}</ref> Đội tiếp tục thi đấu tại Second Division, thậm chí còn đứng cuối bảng ở [[Football League 1902-03|mùa giải 1902-03]] — nhưng được [[Re-election (Football League)|bầu lại]] — khi câu lạc bộ gặp khó khăn về tài chính.<ref name=Simp529 /><ref>Simpson (2007), p. 83</ref> | |||
[[File:Burnley F.C. 1920-21.jpg|thumb|right|Ảnh đội hình vô địch giải đấu ở [[Burnley F.C. mùa giải 1920-21|mùa giải 1920-21]]|alt=Ảnh đen trắng của Burnley tạo dáng phía sau một chiếc cúp vô địch]] | |||
Harry Windle được bổ nhiệm làm chủ tịch vào năm 1909, và từ đó tình hình tài chính của câu lạc bộ được cải thiện.<ref>Simpson (2007), pp. 6, 119, 186, 222</ref> Năm 1910, ban lãnh đạo Burnley đổi màu áo của câu lạc bộ từ xanh lá sang màu rượu vang đỏ và xanh, đồng thời bổ nhiệm [[John Haworth]] làm [[Manager (association football)|huấn luyện viên]] mới của đội.<ref name=Simp540542>Simpson (2007), pp. 540-542</ref> Ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1912-13|mùa giải 1912-13]], đội giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất, và ở mùa giải sau đó, Burnley giành danh hiệu lớn đầu tiên khi đánh bại [[Liverpool F.C.|Liverpool]] trong [[1914 FA Cup final]].<ref name=Rundle /> [[Bert Freeman]] ghi bàn thắng duy nhất, giúp Burnley trở thành câu lạc bộ đầu tiên đánh bại năm đội bóng thuộc hạng đấu cao nhất trong cùng một mùa Cúp. [[Tommy Boyle (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1886)|Tommy Boyle]] trở thành [[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]] đầu tiên nhận chiếc cúp từ tay một vị vua đang tại vị, Vua [[George V]].<ref name=Simp130132>Simpson (2007), pp. 130-132</ref> Đội về nhì sau [[West Bromwich Albion F.C.|West Bromwich Albion]] ở [[Football League 1919-20|mùa giải 1919-20]],<ref>{{Chú thích web|title=England 1919-20|url=https://www.rsssf.org/engpaul/FLA/1919-20.html|last1=Felton|first1=Paul|last2=Spencer|first2=Barry|date=31 tháng 10 năm 2013|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727052915/http://www.rsssf.com/engpaul/FLA/1919-20.html|archive-date=27 July 2020|publisher=RSSSF|access-date=26 May 2020}}</ref> trước khi giành chức vô địch First Division đầu tiên trong lịch sử ở [[Burnley F.C. mùa giải 1920-21|mùa giải 1920-21]].<ref name=Rundle /> Burnley thua ba trận mở màn, nhưng sau đó bất bại trong 30 trận liên tiếp tại giải, lập kỉ lục của Anh.<ref name=RememberingRecord>{{Chú thích web|date=26 tháng 3 năm 2021|title=Remembering The Record Breakers|url=https://www.burnleyfootballclub.com/content/remembering-the-record-breakers|archive-url=https://web.archive.org/web/20210421084053/https://www.burnleyfootballclub.com/content/remembering-the-record-breakers|archive-date=21 April 2021|access-date=21 April 2021|publisher=Burnley F.C.}}</ref> Chín mùa giải sau, đội xuống hạng xuống Second Division. Họ chật vật ở hạng đấu thứ hai và chỉ tránh được thêm một lần xuống hạng nữa ở [[Football League 1931-32|mùa giải 1931-32]] nhờ hơn hai điểm.<ref name=Simp529>Simpson (2007), p. 529</ref><ref>{{Chú thích web|title=England 1931-32|url=https://www.rsssf.org/engpaul/FLA/1931-32.html|last1=Edwards|first1=Gareth|last2=Felton|first2=Paul|date=21 tháng 9 năm 2000|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727081324/http://www.rsssf.com/engpaul/FLA/1931-32.html|archive-date=27 July 2020|publisher=RSSSF|access-date=10 May 2020}}</ref> Những năm cho tới khi [[World War II|Chiến tranh thế giới thứ Hai]] bùng nổ được đặc trưng bởi các vị trí giữa bảng tại giải vô địch.<ref name=Simp529 /> | |||
=== Thời kì tiến bộ và hoàng kim (1946-1976) === | |||
Ở [[Bóng đá Anh mùa giải 1946-47|mùa giải 1946-47]], mùa giải đầu tiên của Football League sau chiến tranh, Burnley giành quyền thăng hạng lên First Division và vào tới [[1947 FA Cup final|trận chung kết Cúp FA]], nơi đội thua [[Charlton Athletic F.C.|Charlton Athletic]] sau [[Overtime (sports)|hiệp phụ]]. Hàng thủ của đội được đặt biệt danh là “The Iron Curtain”, bởi chỉ để thủng lưới 29 bàn sau 42 trận tại giải vô địch.<ref>Simpson (2007), pp. 240-242</ref> [[Alan Brown (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1914)|Alan Brown]], đội trưởng của Burnley mùa giải 1946-47,<ref>Simpson (2007), pp. 545-546</ref> được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ vào năm 1954,<ref>Quelch (2015), pp. 207-208</ref> còn [[Bob Lord (football chairman)|Bob Lord]] trở thành chủ tịch một năm sau đó.<ref name=FootballTimes /> Dưới thời của họ, câu lạc bộ trở thành một trong những đội bóng có tính tiến bộ nhất khi đó.<ref name=Quelch199206>Quelch (2015), pp. 199-206</ref><ref>{{Chú thích web|last=York|first=Gary|date=24 May 2007|title=John Connelly life story: Part 1|url=http://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/football/burnley_fc/news/1422640.John_Connelly_life_story__Part_1/|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222222233/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/1422640.john-connelly-life-story-part-1/|archive-date=22 December 2020|access-date=25 tháng 1 năm 2018|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Burnley là một trong những câu lạc bộ đầu tiên xây dựng [[Training ground (association football)|sân tập]] chuyên biệt, tại [[Gawthorpe Hall|Gawthorpe]],<ref name=FootballTimes /><ref name=Marshall2017>{{Chú thích web|last=Marshall|first=Tyrone|date=24 tháng 3 năm 2017|title=Training ground move a sign of our ambition, says Burnley captain Tom Heaton as Clarets move into their new home|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/15174299.training-ground-move-sign-ambition-says-burnley-captain-tom-heaton-clarets-move-new-home/|access-date=15 tháng 6 năm 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222222247/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/15174299.training-ground-move-sign-ambition-says-burnley-captain-tom-heaton-clarets-move-new-home/|archive-date=22 December 2020|website=Lancashire Telegraph}}</ref> và nổi tiếng với chính sách đào tạo trẻ cùng hệ thống [[Scout (association football)|tuyển trạch]], nhờ đó phát hiện được nhiều tài năng trẻ.<ref name=Quelch199206 /> Năm 1958, cựu cầu thủ Burnley [[Harry Potts]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.<ref name=Ponting1996 /> Đội hình của ông chủ yếu xoay quanh bộ đôi gồm đội trưởng [[Jimmy Adamson]] và [[Jimmy McIlroy]], nhạc trưởng của đội bóng.<ref>{{Chú thích báo|last=Glanville|first=Brian|date=20 tháng 8 năm 2018|title=Jimmy McIlroy obituary|work=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2018/aug/20/jimmy-mcilroy-obituary|access-date=26 May 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222005113/https://www.theguardian.com/football/2018/aug/20/jimmy-mcilroy-obituary|archive-date=22 December 2020}}</ref> Potts thường sử dụng sơ đồ [[4-4-2 formation|4-4-2]], khi đó chưa phổ biến, và triển khai lối chơi [[Total Football]].<ref name=FootballTimes>{{Chú thích báo|url=https://thesefootballtimes.co/2018/02/27/burnley-total-football-and-the-pioneering-title-win-of-1959-60/|title=Burnley, Total Football and the pioneering title win of 1959/60|last=McParlan|first=Paul|date=27 tháng 2 năm 2018|work=These Football Times|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222222230/https://thesefootballtimes.co/2018/02/27/burnley-total-football-and-the-pioneering-title-win-of-1959-60/|archive-date=22 December 2020|access-date=10 tháng 6 năm 2018}}</ref><ref name=Ponting1996>{{Chú thích báo|url=https://www.independent.co.uk/news/people/obituary-harry-potts-1325268.html|title=Obituary: Harry Potts|last=Ponting|first=Ivan|date=22 tháng 1 năm 1996|work=The Independent|archive-url=https://web.archive.org/web/20201223101709/https://www.independent.co.uk/news/people/obituary-harry-potts-1325268.html|archive-date=23 December 2020|access-date=10 tháng 6 năm 2018}}</ref> | |||
[[File:Gawthorpe Training Ground.jpg|thumb|left|[[Gawthorpe Hall|Gawthorpe]] ''(ảnh chụp năm 2017)'' là một trong những [[Training ground (association football)|sân tập]] chuyên biệt đầu tiên.|alt=Sân tập của Burnley tại Gawthorpe]] | |||
Burnley giành chức vô địch First Division lần thứ hai ở [[Burnley F.C. mùa giải 1959-60|mùa giải 1959-60]].<ref name=Rundle /> Họ chỉ vươn lên đầu bảng sau khi trận đấu cuối cùng đã khép lại.<ref>Quelch (2015), p. 197</ref>{{efn|Burnley từng đứng đầu bảng xếp hạng giữa ngày 25 và 26 tháng 8 năm 1959 sau trận đấu thứ hai của mình, nhưng rơi xuống vị trí thứ ba sau khi các đội khác hoàn tất trận đấu thứ hai của họ.<ref>Quelch (2015), pp. 72-76</ref>}} Đội hình ấy chỉ tiêu tốn [[Pound sign|£]]13.000 ({{Inflation|UK|13000|1959|r=-4|fmt=eq|cursign=£}}{{Inflation-fn|UK|group=lower-alpha}}) phí [[Transfer (association football)|chuyển nhượng]] — £8.000 dành cho McIlroy vào năm 1950 và £5.000 cho [[Full back (association football)|hậu vệ trái]] [[Alex Elder]] vào năm 1959. Các cầu thủ Burnley còn lại đều trưởng thành từ [[Burnley F.C. Academy|học viện trẻ]] của câu lạc bộ.<ref name=Quelch199206 /> Với dân số 80.000 người, thị trấn Burnley trở thành một trong những nơi nhỏ nhất từng có đội vô địch hạng đấu cao nhất nước Anh.<ref name=Quelch199206 />{{efn|name=Population|Dân số [[Burnley]] đã giảm khoảng 20 phần trăm so với lần gần nhất câu lạc bộ [[Burnley F.C. mùa giải 1920-21|vô địch First Division vào năm 1921]].<ref name=Quelch199206 />}} Sau khi mùa giải kết thúc, đội sang Hoa Kỳ để đại diện cho Anh tại [[International Soccer League]], giải bóng đá quốc tế hiện đại đầu tiên ở Mỹ.<ref>{{Chú thích web|last=Litterer|first=David A.|date=15 tháng 12 năm 1999|title=USA – International Soccer League II|url=https://www.rsssf.org/usadave/islii.html|access-date=21 July 2020|publisher=RSSSF|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727081521/http://www.rsssf.com/usadave/islii.html|archive-date=27 July 2020}}</ref> Ở mùa giải tiếp theo, Burnley lần đầu tiên thi đấu tại đấu trường [[UEFA competitions|châu Âu]] ở [[1960-61 European Cup]]. Họ đánh bại cựu [[List of European Cup and UEFA Champions League finals|đội vào chung kết]] [[Stade de Reims|Reims]] ở vòng Một, nhưng bị loại bởi [[Hamburger SV]] ở tứ kết.<ref name=Simp296297>Simpson (2007), pp. 296-297</ref> Đội về nhì tại [[Football League 1961-62#First Division|First Division 1961-62]] sau tân binh [[Ipswich Town F.C.|Ipswich Town]] khi chỉ thắng một trong mười trận cuối cùng, đồng thời vào tới [[1962 FA Cup final|chung kết Cúp FA]] nhưng thua [[Tottenham Hotspur F.C.|Tottenham Hotspur]]. Adamson vẫn được bầu là [[FWA Footballer of the Year]], còn McIlroy xếp á quân.<ref>Simpson (2007), pp. 301-303</ref> | |||
Mức lương trần ở Football League bị bãi bỏ vào năm 1961, điều đó đồng nghĩa các câu lạc bộ tới từ những thị trấn nhỏ như Burnley không còn có thể cạnh tranh về tài chính với các đội từ những đô thị lớn hơn nữa.<ref name=FootballTimes /><ref>{{Chú thích báo|last=Shaw|first=Phil|date=18 tháng 1 năm 2016|title=EFL Official Website Fifty-five years to the day: £20 maximum wage cap abolished by Football League clubs|publisher=English Football League|url=https://www.efl.com/news/2016/january/fifty-five-years-to-the-day-20-maximum-wage-cap-abolished-by-football-league-clubs/|access-date=26 tháng 1 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20201223101654/https://www.efl.com/news/2016/january/fifty-five-years-to-the-day-20-maximum-wage-cap-abolished-by-football-league-clubs/|archive-date=23 December 2020}}</ref> Việc McIlroy ra đi đầy tranh cãi để tới Stoke City vào năm 1963{{efn|McIlroy bị bán cho [[Stoke City F.C.|Stoke City]] trong chiến dịch [[Football League 1962-63|1962-63]] với giá £25.000, sau khi bị đưa vào danh sách chuyển nhượng. Điều này gây phẫn nộ trong giới cổ động viên Burnley, và một số người không bao giờ trở lại Turf Moor nữa.<ref name=Simp304311 /> Năm 1999, McIlroy cho biết tình bạn giữa ông với Reg Cooke, một giám đốc của Burnley và là đối thủ của chủ tịch [[Bob Lord (football chairman)|Bob Lord]], có thể đã khiến Lord bán ông đi.<ref>{{Chú thích báo|date=7 tháng 12 năm 1999|title=Why Bob Lord sold me, by Jimmy McIlroy|website=Lancashire Telegraph|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/6100467.bob-lord-sold-jimmy-mcilroy/|access-date=26 July 2021|archive-url=https://web.archive.org/web/20210726172212/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/6100467.bob-lord-sold-jimmy-mcilroy/|archive-date=26 July 2021}}</ref>}} cùng việc Adamson giải nghệ vào năm 1964 cũng làm suy yếu vận mệnh của câu lạc bộ.<ref name=Simp304311>Simpson (2007), pp. 304-311</ref> Tuy vậy, Burnley vẫn giữ được vị trí ở First Division trong suốt thập niên đó, khi về thứ ba ở cả [[Bóng đá Anh mùa giải 1962-63|mùa giải 1962-63]] lẫn [[Bóng đá Anh mùa giải 1965-66|mùa giải 1965-66]], đồng thời giành quyền dự [[1966-67 Inter-Cities Fairs Cup]].<ref name=Rundle>{{Chú thích web|last=Rundle|first=Richard|title=Burnley|url=https://www.fchd.info/BURNLEY.HTM|access-date=3 May 2025|publisher=Football Club History Database}}</ref> Potts được Adamson thay thế ở vị trí huấn luyện viên vào năm 1970. Adamson ca ngợi đội hình của mình là “Đội bóng của thập niên 1970”, nhưng ông không thể ngăn đà sa sút, khi Burnley xuống hạng ở [[Football League 1970-71|mùa giải 1970-71]].<ref>Simpson (2007), pp. 546-549</ref> Burnley vô địch Second Division ở [[Football League 1972-73|mùa giải 1972-73]], và được mời tham dự [[1973 FA Charity Shield]],{{efn|name=FACS1973|Nhà vô địch [[Football League 1972-73 First Division|First Division 1972-73]] là [[Liverpool F.C.|Liverpool]] cùng đội vô địch [[1972-73 FA Cup]] là [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]] đều từ chối tham dự [[1973 FA Charity Shield]], vì vậy [[Manchester City F.C.|Manchester City]] — đội đang giữ Charity Shield — và Burnley, nhà vô địch Second Division, đã gặp nhau thay thế.<ref>{{Chú thích web|title=Manchester City v Burnley, 18 August 1973|url=https://www.11v11.com/matches/manchester-city-v-burnley-18-august-1973-367023/|access-date=22 tháng 1 năm 2022|website=11v11|publisher=AFS Enterprises|archive-url=https://web.archive.org/web/20221225085325/https://www.11v11.com/matches/manchester-city-v-burnley-18-august-1973-367023/|archive-date=25 December 2022}}</ref>}} và giành chiến thắng trước [[Manchester City F.C.|Manchester City]].<ref name=CityCharity>{{Chú thích web|last=Clayton|first=David|date=2 tháng 8 năm 2018|title=City and the FA Community Shield: Complete record|url=https://www.mancity.com/news/first-team/first-team-news/2018/august/manchester-city-fa-community-shield-complete-story|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727055757/https://www.mancity.com/news/first-team/first-team-news/2018/august/manchester-city-fa-community-shield-complete-story|archive-date=27 July 2020|access-date=21 July 2020|publisher=Manchester City F.C.}}</ref> Năm 1975, đội trở thành nạn nhân của một trong những cú sốc lớn nhất lịch sử Cúp FA khi [[Wimbledon F.C.|Wimbledon]], khi đó còn thi đấu tại [[Southern Football League|Southern League]], thắng 1-0 ngay tại Turf Moor.<ref>{{Chú thích web|date=18 tháng 2 năm 2017|title=The biggest FA Cup shocks in the history of the game|url=http://www.independent.co.uk/sport/football/fa-league-cups/lincoln-burnley-quarter-finals-history-goal-fa-cup-shocks-history-a7587436.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201117073137/https://www.independent.co.uk/sport/football/fa-league-cups/lincoln-burnley-quarter-finals-history-goal-fa-cup-shocks-history-a7587436.html|archive-date=17 tháng 11 năm 2020|access-date=21 July 2020|work=The Independent}}</ref> Adamson rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 1976, và Burnley lại xuống hạng khỏi First Division sau đó trong năm ấy.<ref>Simpson (2007), pp. 357-358</ref> Trong giai đoạn này, sự sụt giảm lượng khán giả tới sân, cộng với khoản nợ ngày càng lớn, buộc Burnley phải bán đi các ngôi sao như [[Martin Dobson]] và [[Leighton James]], khiến câu lạc bộ sa sút nhanh chóng.<ref>Quelch (2017), pp. 17-20</ref> | |||
=== Gần như biến mất và hồi sinh (1976-2020) === | |||
[[File:Burnley FC League Performance.svg|thumb|upright=2.0|Biểu đồ thể hiện thành tích của Burnley từ mùa giải khai sinh của [[The Football League|Football League]] ở [[The Football League 1888-89|mùa giải 1888-89]] cho tới hiện tại|alt=Xem chú thích]] | |||
Đội xuống hạng xuống [[Football League Third Division|Third Division]] lần đầu tiên ở [[Burnley F.C. mùa giải 1979-80|mùa giải 1979-80]].<ref name=Rundle /> Dưới sự dẫn dắt của cựu cầu thủ Burnley [[Brian Miller (cầu thủ bóng đá)|Brian Miller]],<ref name=Simp550554>Simpson (2007), pp. 550-554</ref> Burnley trở lại hạng Hai với tư cách đội vô địch ở [[Burnley F.C. mùa giải 1981-82|mùa giải 1981-82]]. Tuy nhiên, lần trở lại này diễn ra rất ngắn ngủi và chỉ kéo dài đúng một năm.<ref name=Rundle /> Những thay đổi trên băng ghế huấn luyện tiếp tục được thực hiện trong hành trình tìm kiếm thành công; Miller bị thay bởi [[Frank Casper]] vào đầu năm 1983, rồi Casper bị thay bởi [[John Bond (cầu thủ bóng đá)|John Bond]] trước [[Burnley F.C. mùa giải 1983-84|mùa giải 1983-84]], còn Bond lại bị [[John Benson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1942)|John Benson]] thay thế một mùa giải sau đó.<ref name=Simp550554 /> Bond là huấn luyện viên đầu tiên kể từ [[Frank Hill]] (1948-1954) không từng có sự nghiệp cầu thủ tại câu lạc bộ. Ông bị cổ động viên chỉ trích vì kí hợp đồng với những cầu thủ đắt giá làm gia tăng nợ nần của Burnley, đồng thời bán đi các tài năng trẻ như [[Lee Dixon]], [[Brian Laws]] và [[Trevor Steven]].<ref>Quelch (2017), pp. 24-39</ref> Benson là người cầm quân khi Burnley xuống hạng xuống [[Football League Fourth Division|Fourth Division]] lần đầu tiên vào cuối [[Burnley F.C. mùa giải 1984-85|mùa giải 1984-85]].<ref name=Simp550554 /> Đội tránh được việc rơi xuống [[National League (division)|Football Conference]], cấp độ cao nhất của [[non-League football]], ở vòng đấu cuối cùng của [[Burnley F.C. mùa giải 1986-87|mùa giải 1986-87]], sau khi họ thắng [[Leyton Orient F.C.|Orient]] còn các đối thủ cạnh tranh hoặc hòa hoặc thua.<ref>{{Chú thích báo|last=Davies|first=Tom|date=26 April 2018|title=Golden Goal: Neil Grewcock saves Burnley v Orient (1987)|work=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2018/apr/26/golden-goal-neil-grewcock-saves-burnley-v-orient-1987|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222203323/https://www.theguardian.com/football/2018/apr/26/golden-goal-neil-grewcock-saves-burnley-v-orient-1987|archive-date=22 December 2020|access-date=9 May 2020}}</ref> | |||
[[File:Wade Elliott's 2009 Championship play-off Final Goal.jpg|thumb|right|Bàn thắng của [[Wade Elliott]] giúp Burnley thắng [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]] 1-0 trong [[2009 Football League Championship play-off final|trận chung kết play-off Championship 2009]].|alt=Một cầu thủ mặc áo đỏ trắng và một cầu thủ mặc áo xanh nhạt đang nhìn quả bóng bay về phía khung thành, trong khi thủ môn đổ người sang bên phải]] | |||
Năm 1988, Burnley gặp [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderers]] trong [[1988 Associate Members' Cup final|trận chung kết]] của [[EFL Trophy|Associate Members' Cup]] nhưng thua 0-2. Trận đấu thu hút 80.000 khán giả, lập kỉ lục cho một trận đấu giữa hai đội đến từ hạng Tư.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/football/4804537.Sherpa_final_a_turning_point_in_Burnley_s_history/|title=Sherpa final a turning point in Burnley's history|last=Donlan|first=Matt|date=18 December 2009|website=Lancashire Telegraph|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222214147/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/4804537.sherpa-final-turning-point-burnleys-history/|archive-date=22 December 2020|access-date=26 tháng 1 năm 2018}}</ref> Đội vô địch Fourth Division ở [[Burnley F.C. mùa giải 1991-92|mùa giải 1991-92]] dưới quyền huấn luyện viên [[Jimmy Mullen (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1952)|Jimmy Mullen]]. Ông thay Casper vào tháng 10 năm 1991 và thắng chín trận vô địch đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên.<ref>Simpson (2007), pp. 420-423</ref> Với việc vô địch hạng Tư, Burnley trở thành câu lạc bộ thứ hai từng vô địch [[English football league system|cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh]], sau Wolverhampton Wanderers.<ref name=Tyler2017>{{Chú thích báo|url=http://www.skysports.com/football/news/12038/10868826/martin-tylers-stats-most-own-goals-fewest-different-scorers-in-a-season|title=Martin Tyler's stats: Most own goals, fewest different scorers in a season|last=Tyler|first=Martin|date=9 May 2017|publisher=Sky Sports|archive-url=https://web.archive.org/web/20200414134011/https://www.skysports.com/football/news/12038/10868826/martin-tylers-stats-most-own-goals-fewest-different-scorers-in-a-season|archive-date=14 April 2020|access-date=15 tháng 8 năm 2018}}</ref><ref name=WolvesHonours>{{Chú thích web|title=Club Honours & Records|url=https://www.wolves.co.uk/club/history/club-records/|access-date=21 July 2020|publisher=Wolverhampton Wanderers F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20201112023938/https://www.wolves.co.uk/club/history/club-records/|archive-date=12 tháng 11 năm 2020}}</ref> Burnley thắng [[EFL League One play-offs|play-off Second Division]] ở [[Burnley F.C. mùa giải 1993-94|mùa giải 1993-94]] và giành quyền thăng hạng lên hạng Hai.<ref name=Rundle /> Tuy nhiên, sau đó đội lại xuống hạng chỉ sau một mùa giải,<ref name=Rundle /> và ở [[Burnley F.C. mùa giải 1997-98|mùa giải 1997-98]], chỉ có chiến thắng ở ngày cuối trước [[Plymouth Argyle F.C.|Plymouth Argyle]] mới ngăn Burnley rơi trở lại hạng Tư.<ref>{{Chú thích web|title=A turning point in Burnley's history – story of dramatic 1998 last day drama by the man who saved the Clarets|url=https://www.lancs.live/sport/football/football-news/turning-point-burnleys-history-story-18190254|last=James|first=Alex|date=3 May 2020|website=Lancs Live|access-date=26 May 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200924052320/https://www.lancs.live/sport/football/football-news/turning-point-burnleys-history-story-18190254|archive-date=24 tháng 9 năm 2020}}</ref> Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên [[Stan Ternent]], Burnley đứng thứ hai ở [[1999-2000 Burnley F.C. mùa giải|mùa giải 1999-2000]] và giành quyền thăng hạng lên hạng Hai.<ref>Simpson (2007), p. 454</ref> Đầu năm 2002, những khó khăn tài chính do sự sụp đổ của [[ITV Digital]] đã đẩy câu lạc bộ tới sát bờ vực [[Administration (British football)|quản trị tài chính]].<ref>Quelch (2017), pp. 197-202</ref> Ternent bị sa thải בשנת 2004, sau khi ông tránh cho đội xuống hạng với một đội hình gồm nhiều cầu thủ [[Loan (sports)|mượn]] và một số cầu thủ chưa hoàn toàn sung sức.<ref>Quelch (2017), pp. 204-213</ref> Chiến dịch [[Burnley F.C. mùa giải 2008-09|2008-09]], dưới quyền [[Owen Coyle]], kết thúc bằng việc Burnley thăng hạng lên [[Premier League]]. [[Sheffield United F.C.|Sheffield United]] bị đánh bại trong [[2009 Football League Championship play-off final|trận chung kết play-off Championship 2009]], đồng nghĩa Burnley trở lại hạng đấu cao nhất sau 33 năm.<ref>{{Chú thích báo|last=Fletcher|first=Paul|date=25 May 2009|title=Burnley 1-0 Sheff Utd|publisher=BBC Sport|url=https://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_div_1/8060970.stm|access-date=26 May 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201122132642/http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/eng_div_1/8060970.stm|archive-date=22 tháng 11 năm 2020}}</ref> Burnley cũng vào tới bán kết [[EFL Cup|League Cup]] lần đầu tiên sau hơn 25 năm, nhưng thua Tottenham theo [[Two-legged tie|tổng tỉ số hai lượt]] ở những phút cuối của trận lượt về.<ref name=Rundle /><ref>{{Chú thích web|title=England League Cup 2008/09|url=https://www.rsssf.org/tablese/engleagcup09.html|last=King|first=Ian|date=6 tháng 3 năm 2009|access-date=26 May 2020|publisher=RSSSF|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727053402/http://www.rsssf.com/tablese/engleagcup09.html|archive-date=27 July 2020}}</ref> | |||
[[File:Sean Dyche.jpg|thumb|upright=0.7|Huấn luyện viên [[Sean Dyche]] đã đưa Burnley hai lần thăng hạng lên [[Premier League]].|alt=Sean Dyche trong một cuộc phỏng vấn]] | |||
Việc thăng hạng khiến thị trấn Burnley trở thành một trong những địa phương nhỏ nhất từng có một câu lạc bộ Premier League.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2017/08/09/sports/soccer/premier-league-huddersfield-town.html|title=When the Premier League Puts Your Town on the Map|last=Smith|first=Rory|date=9 tháng 8 năm 2017|work=The New York Times|archive-url=https://web.archive.org/web/20201112034424/https://www.nytimes.com/2017/08/09/sports/soccer/premier-league-huddersfield-town.html|archive-date=12 tháng 11 năm 2020|access-date=23 December 2017}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.com/sport/football/32417417|title=Bournemouth: The minnows who made the Premier League|date=28 April 2015|publisher=BBC Sport|access-date=23 December 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20190714064250/https://www.bbc.com/sport/football/32417417|archive-date=14 July 2019}}</ref> Đội khởi đầu mùa giải đầy ấn tượng và trở thành tân binh đầu tiên của giải đấu thắng cả bốn trận sân nhà đầu tiên của mình.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.burnleyfootballclub.com/page/TheGaffer/0,.10413~1816946.00.html|title=Coyle Hails Best Win Yet|date=6 tháng 10 năm 2009|publisher=Burnley F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20091006031823/http://www.burnleyfootballclub.com/page/TheGaffer/0,.10413~1816946.00.html|archive-date=6 tháng 10 năm 2009|access-date=24 July 2018}}</ref> Tuy nhiên, Coyle rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2010 để dẫn dắt đối thủ địa phương Bolton Wanderers. Ông được thay bằng cựu cầu thủ Burnley là Brian Laws, nhưng phong độ của đội sa sút mạnh và họ xuống hạng chỉ sau một mùa giải.<ref>Quelch (2017), pp. 282-291</ref> [[Sean Dyche]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 10 năm 2012.<ref name=DycheManager>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.com/sport/football/20138319|title=Burnley: Sean Dyche named as new manager at Turf Moor|date=30 tháng 10 năm 2012|publisher=BBC Sport|access-date=26 tháng 1 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20200807161459/https://www.bbc.com/sport/football/20138319|archive-date=7 tháng 8 năm 2020}}</ref> Ở mùa giải trọn vẹn đầu tiên cầm quân, Dyche đưa Burnley trở lại Premier League ở [[Burnley F.C. mùa giải 2013-14|mùa giải 2013-14]] với ngân sách eo hẹp và đội hình mỏng.<ref>Quelch (2017), pp. 318-332</ref> Đội xuống hạng sau một mùa giải nhưng giành chức vô địch [[EFL Championship|Championship]] trong lần trở lại ở [[Burnley F.C. mùa giải 2015-16|mùa giải 2015-16]], khép lại mùa giải với chuỗi 23 trận bất bại tại giải vô địch.<ref name=Rundle /><ref name=Marshall2016>{{Chú thích web|last=Marshall|first=Tyrone|date=7 May 2016|title='It means a lot' – Sean Dyche hails Burnley's title triumph after Charlton victory|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/14478023.it-means-lot---sean-dyche-hails-burnleys-title-triumph-charlton-victory/|archive-url=https://web.archive.org/web/20201022232814/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/14478023.it-means-lot---sean-dyche-hails-burnleys-title-triumph-charlton-victory/|archive-date=22 tháng 10 năm 2020|access-date=11 April 2020|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Năm 2017, câu lạc bộ hoàn tất việc xây dựng Barnfield Training Centre — cơ sở thay thế Gawthorpe — và Dyche cũng tham gia vào thiết kế sân tập này.<ref name=Marshall2017 /> Burnley kết thúc [[Burnley F.C. mùa giải 2017-18|mùa giải Premier League 2017-18]] ở vị trí thứ bảy, qua đó giành quyền dự [[2018-19 UEFA Europa League]] và trở lại đấu trường châu Âu sau 51 năm.<ref>{{Chú thích báo|last=Sutcliffe|first=Steve|date=13 May 2018|title=Burnley 1-2 Bournemouth|publisher=BBC Sport|url=https://www.bbc.com/sport/football/44020161|access-date=26 May 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201223101655/https://www.bbc.com/sport/football/44020161|archive-date=23 December 2020}}</ref> Tuy nhiên, đội không thể vào vòng bảng khi bị câu lạc bộ Hy Lạp [[Olympiacos F.C.|Olympiacos]] loại ở vòng play-off.<ref>{{Chú thích báo|last=Johnston|first=Neil|date=30 tháng 8 năm 2018|title=Burnley 1-1 Olympiakos (2-4 on agg)|publisher=BBC Sport|url=https://www.bbc.com/sport/football/45350947|archive-url=https://web.archive.org/web/20190831125418/https://www.bbc.com/sport/football/45350947|archive-date=31 tháng 8 năm 2019|access-date=31 tháng 8 năm 2018}}</ref> | |||
=== Giai đoạn các ông chủ nước ngoài (2020-nay) === | |||
Vào tháng 12 năm 2020, công ty đầu tư Mỹ ALK Capital mua lại 84% cổ phần của Burnley với giá 170 triệu bảng.<ref name=Wood2021>{{Chú thích web|last=Wood|first=Liam|date=1 tháng 2 năm 2021|title=Burnley chairman Alan Pace reported to be in market for takeover at Serie A club Spezia|url=https://www.lancs.live/sport/football/football-news/burnley-spezia-takeover-alan-pace-19748557|archive-url=https://web.archive.org/web/20210307143422/https://www.lancs.live/sport/football/football-news/burnley-spezia-takeover-alan-pace-19748557|archive-date=7 tháng 3 năm 2021|access-date=1 tháng 9 năm 2021|website=Lancs Live}}</ref> Đây là lần đầu tiên câu lạc bộ không còn nằm dưới sự điều hành của các doanh nhân địa phương hay những người hâm mộ Burnley.<ref name=Geldard2020>{{Chú thích web|last=Geldard|first=Suzanne|date=31 December 2020|title=Burnley's takeover by American company ALK Capital complete|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/18978107.burnleys-takeover-american-company-alk-capital-complete/|archive-url=https://web.archive.org/web/20201231010830/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/18978107.burnleys-takeover-american-company-alk-capital-complete/|archive-date=31 December 2020|access-date=31 December 2020|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Ở [[Burnley F.C. mùa giải 2021-22|mùa giải 2021-22]], Burnley xuống hạng trở lại Championship sau khi thua ở vòng đấu cuối cùng và kết thúc ở vị trí thứ 18.<ref>{{Chú thích báo|last=Ostlere|first=Lawrence|date=22 May 2022|title=Burnley relegated from Premier League after defeat by Newcastle as Leeds survive on final day|work=The Independent|url=https://www.independent.co.uk/sport/football/burnley-relegated-leeds-newcastle-wilson-raphinha-b2084653.html|access-date=23 May 2022|archive-url=https://web.archive.org/web/20220728144136/https://www.independent.co.uk/sport/football/burnley-relegated-leeds-newcastle-wilson-raphinha-b2084653.html|archive-date=28 July 2022}}</ref> Vào tháng 6 năm 2022, người Bỉ [[Vincent Kompany]] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Burnley, trở thành người đầu tiên ngoài [[British Isles]] dẫn dắt câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |last=Kotasthane |first=Kalash |date=16 tháng 6 năm 2022 |title=Getting to Know: Burnley |url=https://www.ccfc.co.uk/news/2022/june/getting-to-know-burnley/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20220616150058/https://www.ccfc.co.uk/news/2022/june/getting-to-know-burnley/ |archive-date=16 tháng 6 năm 2022 |access-date=28 December 2022 |publisher=Coventry City F.C.}}</ref> Trong những tháng đầu tiên cầm quân, ông tái thiết đội hình với ngân sách hạn chế, chủ yếu kí hợp đồng với các cầu thủ trẻ và cầu thủ nước ngoài. Kompany cũng áp dụng lối chơi thiên về kiểm soát bóng và tấn công.<ref>{{Chú thích báo |last=Ducker |first=James |date=11 tháng 11 năm 2022 |title=How Vincent Kompany turned Burnley from route one merchants to entertainers |work=The Telegraph |url=https://www.telegraph.co.uk/football/2022/11/11/how-vincent-kompany-turned-burnley-route-one-merchants-entertainers/ |access-date=28 December 2022 |archive-url=https://web.archive.org/web/20221111134751/https://www.telegraph.co.uk/football/2022/11/11/how-vincent-kompany-turned-burnley-route-one-merchants-entertainers/ |archive-date=11 tháng 11 năm 2022}}</ref> Burnley giành quyền thăng hạng trở lại Premier League ở [[Burnley F.C. mùa giải 2022-23|mùa giải 2022-23]] khi mùa giải vẫn còn bảy trận — một kỉ lục của Championship — trước khi vô địch Championship sau chiến thắng 1-0 trên sân đối thủ địa phương Blackburn Rovers.<ref>{{Chú thích web |last=Goodlad |first=Nat |date=8 April 2023 |title=Famous faces react after Burnley win promotion to the Premier League |url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/23443666.famous-faces-react-burnley-win-promotion-premier-league/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20230408103823/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/23443666.famous-faces-react-burnley-win-promotion-premier-league/ |archive-date=8 April 2023 |access-date=9 May 2023 |website=Lancashire Telegraph}}</ref><ref name=Hurcom2023>{{Chú thích web |last=Hurcom |first=Sophie |date=25 April 2023 |title=Burnley beat Blackburn to win Championship title |url=https://www.bbc.com/sport/football/65307371 |archive-url=https://web.archive.org/web/20230502220221/https://www.bbc.com/sport/football/65307371 |archive-date=2 May 2023 |access-date=9 May 2023 |publisher=BBC Sport}}</ref> Ở [[Burnley F.C. mùa giải 2023-24|mùa giải tiếp theo]], Burnley שוב xuống hạng khỏi Premier League, kết thúc ở vị trí thứ 19 với tổng cộng chỉ 24 điểm, mức thấp nhất trong lịch sử câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |title=Tables |url=https://www.premierleague.com/tables |archive-url=https://web.archive.org/web/20240519223400/https://www.premierleague.com/tables |archive-date=19 May 2024 |access-date=20 May 2024 |publisher=Premier League}}</ref><ref>{{Chú thích web |date=19 May 2024 |title=Burnley 1-2 Nottingham Forest: Key stats |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/ce445w7dd07o |archive-url=https://web.archive.org/web/20240520132506/https://www.bbc.com/sport/football/articles/ce445w7dd07o |archive-date=20 May 2024 |access-date=20 May 2024 |publisher=BBC Sport}}</ref> Tuy nhiên, ít lâu sau đó, Kompany chuyển sang [[FC Bayern Munich|Bayern Munich]] với mức phí 10,2 triệu bảng, đưa ông trở thành [[List of most expensive association football transfers#Managers|một trong những huấn luyện viên đắt giá nhất lịch sử]].<ref>{{Chú thích web |date=29 May 2024 |title=Vincent Kompany: Bayern Munich appoint Burnley boss as new head coach to replace Thomas Tuchel |url=https://www.skysports.com/football/news/11890/13141664/vincent-kompany-bayern-munich-appoint-burnley-boss-as-new-head-coach-to-replace-thomas-tuchel |archive-url=https://web.archive.org/web/20240529173941/https://www.skysports.com/football/news/11890/13141664/vincent-kompany-bayern-munich-appoint-burnley-boss-as-new-head-coach-to-replace-thomas-tuchel |archive-date=29 May 2024 |access-date=29 May 2024 |publisher=Sky Sports}}</ref><ref>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=29 May 2024 |title=Burnley boss Vincent Kompany lands in Munich ahead of unveiling as new Bayern manager |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/burnley-boss-vincent-kompany-lands-in-munich-ahead-of-unveiling-as-new-bayern-manager-4646218 |archive-url=https://web.archive.org/web/20240529174810/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/burnley-boss-vincent-kompany-lands-in-munich-ahead-of-unveiling-as-new-bayern-manager-4646218 |archive-date=29 May 2024 |access-date=29 May 2024 |website=Burnley Express}}</ref> | |||
Burnley giành quyền thăng hạng trở lại hạng đấu cao nhất ngay ở lần thử đầu tiên dưới quyền [[Scott Parker]], khép lại [[Burnley F.C. mùa giải 2024-25|mùa giải 2024-25]] với chuỗi 33 trận bất bại, một kỉ lục của câu lạc bộ.<ref name=BBCSport210425>{{Chú thích web |last=Brennan |first=Stuart |date=21 April 2025 |title=Burnley 2-1 Sheffield United: Clarets promoted along with Leeds |url=https://www.bbc.com/sport/football/live/cvg70ljnn2gt |archive-url=https://web.archive.org/web/20250428212341/https://www.bbc.com/sport/football/live/cvg70ljnn2gt |archive-date=28 April 2025 |access-date=21 April 2025 |publisher=BBC Sport}}</ref><ref name=LancsTelegraph030525>{{Chú thích web |last=Parker |first=Ian |date=3 May 2025 |title=Record-breaking Clarets win, but miss out on title |url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/25136819.record-breaking-clarets-win-miss-title/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20250505082910/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/25136819.record-breaking-clarets-win-miss-title/ |archive-date=5 May 2025 |access-date=5 May 2025 |website=Lancashire Telegraph}}</ref> Đội chỉ để thủng lưới 16 bàn sau 46 trận — trung bình 0,35 bàn mỗi trận — qua đó lập nên thành tích phòng ngự tốt nhất lịch sử các giải vô địch Anh,<ref name=LancsTelegraph030525 /><ref name=Telegraph170125>{{Chú thích web |last=Ducker |first=James |date=17 tháng 1 năm 2025 |title=Burnley have England's meanest defence with these talented youngsters |url=https://www.telegraph.co.uk/football/2025/01/17/burnley-england-meanest-defence-talented-kids/ |archive-url=https://archive.today/20250117082307/https://www.telegraph.co.uk/football/2025/01/17/burnley-england-meanest-defence-talented-kids/ |archive-date=17 tháng 1 năm 2025 |access-date=17 tháng 1 năm 2025 |website=The Telegraph}}</ref> cùng nhiều cột mốc khác.{{efn|Burnley giữ sạch lưới kỉ lục 30 trận, không bao giờ để thủng lưới quá một bàn trong bất cứ trận nào, và trở thành đội đầu tiên cán mốc ba chữ số điểm ở cùng một hạng đấu trong hai dịp khác nhau (101 điểm ở mùa giải 2022-23 và 100 điểm ở mùa giải 2024-25).<ref name=BurnleyExp040525>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=4 May 2025 |title=Verdict: Burnley's record-breaking, promotion-winning season doesn't get the fairytale ending it deserved |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/verdict-burnleys-record-breaking-promotion-winning-season-doesnt-get-the-fairytale-ending-it-deserved-5112375 |archive-url=https://web.archive.org/web/20250505091506/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/verdict-burnleys-record-breaking-promotion-winning-season-doesnt-get-the-fairytale-ending-it-deserved-5112375 |archive-date=5 May 2025 |access-date=5 May 2025 |website=Burnley Express}}</ref><ref name=EFL030525>{{Chú thích web |date=3 May 2025 |title=Sky Bet Championship: Post-match stat pack |url=https://www.efl.com/news/2025/may/03/sky-bet-championship--post-match-stat-pack/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20250505091952/https://www.efl.com/news/2025/may/03/sky-bet-championship--post-match-stat-pack/ |archive-date=5 May 2025 |access-date=5 May 2025 |publisher=English Football League}}</ref>}} Dù vậy, Burnley vẫn đứng sau [[Leeds United F.C.|Leeds United]] vì [[goal difference|hiệu số bàn thắng bại]], trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Football League giành 100 điểm mà vẫn không thể vô địch.<ref name=LancsTelegraph030525 /><ref>{{Chú thích web |date=3 May 2025 |title=Burnley 3-1 Millwall: Burnley miss Championship title on goal difference despite plundering 100 points |url=https://www.skysports.com/football/burnley-vs-millwall/report/509884 |archive-url=https://web.archive.org/web/20250505093342/https://www.skysports.com/football/burnley-vs-millwall/report/509884 |archive-date=5 May 2025 |access-date=5 May 2025 |publisher=Sky Sports}}</ref> | |||
== Trang phục và màu sắc == | |||
{{Commons|Trang phục Burnley F.C.}} | |||
{{Football kit box | |||
|align=right | |||
|pattern_la=_white_stripes | |||
|pattern_b=_burnley_88_89 | |||
|pattern_ra=_white_stripes | |||
|leftarm=003366 | |||
|body=00366 | |||
|rightarm=003366 | |||
|shorts=003366 | |||
|socks=003366 | |||
|title=Trang phục của Burnley ở mùa giải đầu tiên của Football League (1888-89). Bộ trang phục thực tế có tay áo dài. | |||
}} | |||
Trong những thập niên đầu tiên, Burnley sử dụng nhiều kiểu dáng và màu sắc trang phục sân nhà khác nhau.<ref name=Simp586>Simpson (2007), p. 586</ref> Trong tám năm đầu, đội sử dụng nhiều biến thể của màu xanh và trắng, vốn là màu của đội tiền thân Burnley Rovers.<ref name=Simp586 /> Trước khi bắt đầu [[Burnley F.C. mùa giải 1890-91|mùa giải 1890-91]], câu lạc bộ sử dụng áo xanh toàn bộ, nhưng chuyển sang áo trắng toàn bộ giữa mùa giải.<ref name=Simp586 /> Sau các giai đoạn dùng màu [[Amber (color)|hổ phách]] và đen, rồi hổ phách với [[Wine (color)#Claret|claret]], Burnley mặc áo sọc hồng và trắng ở mùa giải 1894-95, trước khi quay lại với màu hổ phách và đen.<ref name=Simp586 /><ref name=historicalkits>{{Chú thích web|last=Moor|first=Dave|title=Burnley|url=http://www.historicalkits.co.uk/Burnley/Burnley.htm|access-date=31 May 2025|publisher=Historical Football Kits|archive-url=https://web.archive.org/web/20221031114141/http://www.historicalkits.co.uk/Burnley/Burnley.htm|archive-date=31 tháng 10 năm 2022}}</ref> Vào cuối thập niên 1890, câu lạc bộ dùng áo đỏ toàn bộ, còn từ năm 1900 tới năm 1910 thì mặc áo xanh lá toàn bộ.<ref name=Simp586 /> Năm 1910, Burnley đổi sang màu claret và xanh, và đây là màu sắc gắn bó với phần lớn lịch sử của câu lạc bộ, ngoại trừ một giai đoạn dùng áo trắng trong nửa sau thập niên 1930 và trong Chiến tranh thế giới thứ Hai.<ref name=Simp586 /> Năm 1946, câu lạc bộ đăng kí lại màu áo của mình là claret và xanh, sau một lời kêu gọi thành công trên tờ ''[[Burnley Express]]'' đã nhận đủ số [[Rationing in the United Kingdom#Clothing|phiếu quần áo quyên góp]] từ người hâm mộ để có thể mua một bộ trang phục mới.<ref>"The Clarets are back!" ''Burnley Express''. 17 tháng 7 năm 1946. p. 4.</ref> Sự thay đổi màu sắc này cũng góp phần làm xuất hiện biệt danh của Burnley là “the Clarets”.<ref name=Simp586 /> Trong những thập niên trước đó, đội từng được gọi bằng những biệt danh như “the Turfites”, “the Moorites”, “the Royalites” và “the Brunsiders”.<ref>{{Chú thích web |last=Geldard |first=Suzanne |date=2 tháng 6 năm 2007 |title=No 10: The meeting that gave birth to Clarets |url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/1469176.no-10-meeting-gave-birth-clarets/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20200727055157/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/1469176.no-10-meeting-gave-birth-clarets/ |archive-date=27 July 2020 |access-date=27 July 2020 |website=Lancashire Telegraph}}</ref><ref>"Burnley v. Chesterfield". ''Northern Daily Telegraph''. 5 tháng 9 năm 1903. p. 4.</ref> | |||
Trang phục của Burnley do nhiều nhà sản xuất khác nhau cung cấp kể từ năm 1975, khi [[Umbro]] sản xuất áo đấu của câu lạc bộ, và đã có [[English football sponsorship|nhà tài trợ trên áo]] từ năm 1982.<ref name=historicalkits />{{efn|Khi bắt đầu [[Burnley F.C. mùa giải 2000-01|mùa giải 2000-01]], một thỏa thuận tài trợ dự kiến với [[Granville Technology Group|Time Computers]] đã đổ vỡ, khiến Burnley phải thi đấu cả mùa giải mà không có nhà tài trợ trên áo. Trong vài trận cuối cùng của mùa giải, đội mặc áo có in địa chỉ trang web của câu lạc bộ.<ref>"Clarets in record deal". ''Lancashire Telegraph''. 12 tháng 6 năm 2001. p. 39.</ref>}} Tên nhà tài trợ đầu tiên xuất hiện trên áo Burnley là Poco Homes, một công ty xây dựng có trụ sở tại [[Manchester]], tài trợ trong giai đoạn từ năm 1982 tới năm 1983.<ref name=historicalkits /><ref>"Poco put their shirt on Clarets". ''Burnley Express''. 24 tháng 9 năm 1982. p. 31.</ref> Hợp đồng tài trợ áo kéo dài nhất của câu lạc bộ là với [[Endsleigh Insurance]], kéo dài từ năm 1988 tới năm 1998.<ref name=historicalkits /> Năm 2017, câu lạc bộ có được hợp đồng tài trợ tay áo đầu tiên, với logo của trò chơi điện thoại ''Golf Clash'' — một tựa game do [[TT Games#Playdemic|Playdemic]] phát triển — xuất hiện trên tay áo trái của áo đấu Burnley.<ref>{{Chú thích web |last=Carp |first=Sam |date=2 tháng 10 năm 2017 |title=Burnley score first ever sleeve sponsor |url=https://www.sportspro.com/news/burnley-score-first-ever-sleeve-sponsor/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20250516110840/https://www.sportspro.com/news/burnley-score-first-ever-sleeve-sponsor/ |archive-date=16 May 2025 |access-date=16 May 2025 |website=SportsPro}}</ref> | |||
== Huy hiệu == | |||
[[File:Burnley Crest, The Mall Shopping Centre - geograph.org.uk - 849925 (cropped).jpg|thumb|right|Quốc huy của thị trấn Burnley tạo nên nền tảng cho huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ.|alt=Quốc huy của Burnley với dòng chữ ở phía dưới là "Pretiumque et causa laboris"]] | |||
Áo đấu của Burnley lần đầu mang một [[club crest|huy hiệu]] vào tháng 12 năm 1887, khi đội mặc áo trắng với một dải chéo xanh mang [[coat of arms of the Prince of Wales|quốc huy của Thân vương xứ Wales]], để kỉ niệm chuyến thăm của Hoàng tử Albert Victor tới Turf Moor vào năm trước đó — lần đầu tiên một thành viên của hoàng gia tới một sân bóng chuyên nghiệp.<ref name=DrDean /><ref name=historicalkits /> Huy hiệu hoàng gia được sử dụng thường xuyên cho tới [[1894-95 Burnley F.C. season|mùa giải 1894-95]], nhưng xuất hiện trở lại ở trận [[1914 FA Cup final|chung kết Cúp FA 1914]], có sự hiện diện của Vua George V.<ref name=Simp130132 /><ref name=historicalkits /> Trong trận [[1934-35 FA Cup#Semi-Finals|bán kết Cúp FA 1934-35]], quốc huy của thị trấn Burnley lần đầu tiên xuất hiện trên áo đấu của câu lạc bộ.<ref name=historicalkits /> Huy hiệu này trở lại ở [[1947 FA Cup final|trận chung kết Cúp FA 1947]],<ref>{{Chú thích web|last=Moor|first=Dave|title=English FA Cup Finalists 1946 – 1949|url=http://www.historicalkits.co.uk/English_Football_League/FA_Cup_Finals/1946-1949.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727075109/http://www.historicalkits.co.uk/English_Football_League/FA_Cup_Finals/1946-1949.html|archive-date=27 July 2020|access-date=26 May 2020|publisher=Historical Football Kits}}</ref> và quốc huy của thị trấn trở thành chi tiết cố định trên áo Burnley trong gần một thập kỉ sau khi đội vô địch First Division mùa giải 1959-60. Từ năm 1969 tới năm 1979 trên trang phục sân nhà, và tới năm 1976 trên [[Away colours|áo sân khách]], đội sử dụng một [[Monogram|chữ lồng]] “BFC” cách điệu.<ref name=historicalkits /> | |||
Năm 1972, giám đốc thương mại của Burnley là [[Jack Butterfield (cầu thủ bóng đá)|Jack Butterfield]] công bố ý định đưa vào sử dụng một huy hiệu có thể được [[copyright|đăng kí bản quyền]], qua đó mở ra một [[design competition|cuộc thi thiết kế công khai]], và người chiến thắng là ông Jolleys ở [[Ashton-on-Ribble]]. Thiết kế của ông có hai con sư tử, hai [[Red Rose of Lancaster|bông hồng đỏ]], một con ong, một [[Shuttle (weaving)|thoi dệt]], mũ giáp của hiệp sĩ và một bàn tay.<ref>Simpson (2007), p. 341</ref> Huy hiệu tạo ra từ thiết kế này được câu lạc bộ chính thức thông qua vào năm 1973, và lần đầu xuất hiện trên trang phục sân khách của Burnley khi bắt đầu [[1976-77 Burnley F.C. season|mùa giải 1976-77]], trước khi được đưa lên áo sân nhà vào năm 1979.<ref name=historicalkits /> Năm 1983, huy hiệu này bị thay thế trên áo đấu bằng một chữ lồng trắng đơn giản “B.F.C.”, nhưng được khôi phục lại vào năm 1987.<ref name=historicalkits /> | |||
Năm 2009, để đánh dấu 50 năm kể từ chức vô địch mùa giải 1959-60, câu lạc bộ đưa trở lại quốc huy của thị trấn từng được sử dụng trong thập niên 1960, rồi thay khẩu hiệu tiếng Latin “''Pretiumque et Causa Laboris''” ({{lit|Phần thưởng và nguyên nhân của [lao động]}}) bằng dòng chữ “Burnley Football Club” vào năm sau đó.<ref name=historicalkits /><ref name=sbnation>{{Chú thích báo|last=Thomas|first=Andi|date=16 tháng 1 năm 2015|title=Why Burnley's badge is the best in the Premier League|work=SB Nation|url=https://www.sbnation.com/soccer/2015/1/16/7557207/burnley-badge-premier-league|access-date=19 tháng 6 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727055912/https://www.sbnation.com/soccer/2015/1/16/7557207/burnley-badge-premier-league|archive-date=27 July 2020}}</ref> Năm 2023, các chi tiết của huy hiệu được thể hiện bằng màu trắng và đặt trên một tấm khiên màu claret,<ref>{{Chú thích web |last=Cook |first=Glenn |date=15 tháng 6 năm 2023 |title=Burnley FC Update Crest Ahead of Premier League Return |url=https://news.sportslogos.net/2023/06/15/burnley-fc-update-crest-ahead-of-premier-league-return/soccer/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20230617141634/https://news.sportslogos.net/2023/06/15/burnley-fc-update-crest-ahead-of-premier-league-return/soccer/ |archive-date=17 tháng 6 năm 2023 |access-date=17 tháng 6 năm 2023 |website=SportsLogos.net}}</ref> và xuất hiện trên trang phục sân nhà từ mùa giải 2024-25.<ref>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=10 July 2024 |title=Burnley unveil new Longside Stand-inspired home kit for 2024/25 Championship campaign |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/burnley-unveil-new-longside-stand-inspired-home-kit-for-202425-championship-campaign-4698097 |access-date=24 tháng 8 năm 2024 |archive-url=https://archive.today/20240826175410/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/burnley-unveil-new-longside-stand-inspired-home-kit-for-202425-championship-campaign-4698097 |archive-date=26 tháng 8 năm 2024 |website=Burnley Express}}</ref> | |||
Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ dựa trên quốc huy của thị trấn Burnley.<ref name=BeautiHist>{{Chú thích web|last=Eijden|first=Han van|date=27 tháng 9 năm 2010|title=Burnley|url=https://thebeautifulhistory.wordpress.com/clubs/burnley/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200817181216/https://thebeautifulhistory.wordpress.com/clubs/burnley/|archive-date=17 tháng 8 năm 2020|access-date=10 tháng 9 năm 2019|publisher=The Beautiful History}}</ref> Con cò ở đỉnh huy hiệu ám chỉ gia tộc Starkie, một dòng họ nổi bật ở khu vực Burnley. Trong mỏ, con cò ngậm một [[Lacy knot|nút thắt Lacy]] của gia tộc [[de Lacy]], những người từng nắm giữ Burnley vào thời Trung Cổ. Con cò đứng trên một ngọn đồi và những cây bông, tượng trưng cho di sản công nghiệp bông của thị trấn. Bàn tay ở phía dưới biểu trưng cho khẩu hiệu của thị trấn là “Hold to the Truth”, bắt nguồn từ [[Towneley family|gia tộc Towneley]]. Hai con ong phản ánh tinh thần lao động chăm chỉ của thị trấn, con sư tử tượng trưng cho hoàng gia, còn hình [[Chevron (insignia)|chevron]] biểu thị [[River Brun]], con sông chảy qua Burnley.<ref name=sbnation /><ref name=BeautiHist /> | |||
== Sân vận động == | |||
{{Main|Turf Moor}} | |||
Đội đã thi đấu các trận sân nhà tại Turf Moor מאז tháng 2 năm 1883, thay thế cho sân ban đầu của mình ở Calder Vale.<ref name=TMStory>{{Chú thích web|title=The Turf Moor Story|url=http://www.burnleyfootballclub.premiumtv.co.uk/page/History/0,.10413~1031447.00.html|date=3 July 2007|publisher=Burnley F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20080309101845/http://www.burnleyfootballclub.premiumtv.co.uk/page/History/0,.10413~1031447.00.html|archive-date=9 tháng 3 năm 2008|access-date=11 tháng 8 năm 2018}}</ref> Khu đất Turf Moor đã được sử dụng cho thể thao ít nhất từ năm 1843, khi [[Burnley Cricket Club]] chuyển tới khu vực này.<ref name=Simp574>Simpson (2007), p. 574</ref><ref>Bennett (1948), pp. 258-259</ref> Năm 1883, đội cricket đã mời Burnley tới một khu đất liền kề sân cricket.<ref name=TMStory /> Cả hai câu lạc bộ vẫn ở đó từ thời điểm ấy, và trong số các đối thủ tại Lancashire, chỉ có [[Preston North End F.C.|Preston North End]] là liên tục sử dụng sân nhà của mình — [[Deepdale]] — trong thời gian dài hơn.<ref name=TMStory /> | |||
Ban đầu sân chỉ gồm mặt cỏ thi đấu và khán đài đầu tiên mãi tới năm 1885 mới được xây dựng.<ref name=Simp574 /> Năm 1888, trận đấu đầu tiên tại giải vô địch trên sân Turf Moor chứng kiến Burnley thắng Bolton Wanderers 4-1, với [[Fred Poland]] ghi bàn thắng đầu tiên tại giải vô địch trên sân vận động này.<ref name=Simp2830 /> Sức chứa của Turf Moor được nâng lên 50.000 dưới thời chủ tịch Harry Windle trong thập niên 1910.<ref name=Simp130132 /> Sân vận động này tổ chức trận [[Cúp FA semi-finals|bán kết Cúp FA]] duy nhất vào năm 1922, giữa [[Huddersfield Town A.F.C.|Huddersfield Town]] và [[Notts County F.C.|Notts County]], còn năm năm sau nơi đây tổ chức trận đấu quốc tế trọn vẹn duy nhất, giữa [[England national football team|Anh]] và [[Wales national football team|Xứ Wales]] במסגרת [[1927-28 British Home Championship|British Home Championship]].<ref>Simpson (2007), p. 575</ref> Từ giữa thập niên 1940 tới giữa thập niên 1960, lượng khán giả trung bình trên sân dao động trong khoảng 20.000-35.000 người, còn Burnley đạt mức khán giả trung bình cao nhất lịch sử câu lạc bộ là 33.621 ở First Division mùa giải 1947-48.<ref>Wiseman (2009), pp. 17-18</ref> Kỉ lục khán giả cho một trận đấu đã được thiết lập từ năm 1924 trong cuộc đối đầu với Huddersfield Town ở vòng Ba Cúp FA, khi có 54.775 khán giả tới sân.<ref name=Wiseman15>Wiseman (2009), p. 15</ref> Năm 1960, trong trận [[Replay (sports)|đá lại]] vòng Năm Cúp FA với [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]], con số khán giả chính thức là 52.850. Tuy nhiên, một số cổng bị phá và rất nhiều cổ động viên không đếm được đã tràn vào sân.<ref>Quelch (2015), p. 158</ref> | |||
Mặt sân của Turf Moor từng có độ dốc cho tới năm 1974, khi sân được nâng lên để giảm bớt điều đó.<ref name=TMStory /> Trong giữa thập niên 1990, sân tiếp tục được cải tạo khi các khán đài bậc đứng Longside và Bee Hole End được thay bằng các [[All-seater stadium|khán đài toàn chỗ ngồi]] theo khuyến nghị của [[Taylor Report]].<ref>Quelch (2017), pp. 149-151</ref> Năm 2019, câu lạc bộ xây thêm hai khán đài góc dành cho cổ động viên khuyết tật của đội chủ nhà giữa khán đài Jimmy McIlroy với cả North Stand và Bob Lord Stand nhằm đáp ứng các quy định của Accessible Stadium Guide.<ref>{{Chú thích web|date=11 December 2017|title=Disabled Fans To Get New Facilities In Turf Moor Facelift|url=https://www.burnleyfootballclub.com/news/2017/december/disabled-to-get-new-facilities-in-turf-moor-facelift/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200705220826/https://www.burnleyfootballclub.com/news/2017/december/disabled-to-get-new-facilities-in-turf-moor-facelift/|archive-date=5 July 2020|access-date=5 July 2020|publisher=Burnley F.C.}}</ref><ref>{{Chú thích web|date=9 tháng 8 năm 2019|title=Supporter Information: Accessible Stands and VAR|url=https://www.burnleyfootballclub.com/news/2019/august/supporter-information-accessible-stands-and-var/|archive-url=https://web.archive.org/web/20190809160709/https://www.burnleyfootballclub.com/news/2019/august/supporter-information-accessible-stands-and-var/|archive-date=9 tháng 8 năm 2019|access-date=5 July 2020|publisher=Burnley F.C.}}</ref> Turf Moor hiện có sức chứa 21.944 chỗ và gồm bốn khán đài: North Stand (trước đây là Longside), Jimmy McIlroy Stand (trước đây là Bee Hole End), Bob Lord Stand, và Cricket Field Stand dành cho cả cổ động viên chủ nhà lẫn đội khách.<ref name=TMStory /><ref>{{Chú thích web |title=Burnley FC Stadium |url=https://www.premierleague.com/clubs/43/Burnley/stadium |archive-url=https://web.archive.org/web/20240731092240/https://www.premierleague.com/clubs/43/Burnley/stadium |archive-date=31 July 2024 |access-date=31 July 2024 |publisher=Premier League}}</ref><ref>{{Chú thích web|title=Welcome to Turf Moor – Visiting Supporters Guide|url=https://www.tottenhamhotspur.com/media/27596/burnley-visitors-guide.pdf|archive-url=https://web.archive.org/web/20240731121957/https://www.tottenhamhotspur.com/media/27596/burnley-visitors-guide.pdf|archive-date=31 July 2024|access-date=31 July 2024|publisher=Tottenham Hotspur F.C.|format=PDF}}</ref> | |||
Trong một trận giao hữu trước mùa giải với đội bóng Ý [[SS Lazio|Lazio]] tại Turf Moor vào tháng 8 năm 2025, Burnley trở thành câu lạc bộ bóng đá đầu tiên trong lịch sử [[Live streaming|phát trực tiếp]] một trận đấu bằng [[Immersion (virtual reality)|thực tế ảo nhập vai]].<ref name=BroadcastNow>{{Chú thích web |last=Bickerton |first=Jake |date=30 July 2025 |title=Burnley FC unveils first-ever VR matchday broadcast |url=https://www.broadcastnow.co.uk/tech-innovation/burnley-fc-unveils-first-ever-vr-matchday-broadcast/5207440.article |archive-url=https://web.archive.org/web/20250810170925/https://www.broadcastnow.co.uk/tech-innovation/burnley-fc-unveils-first-ever-vr-matchday-broadcast/5207440.article |archive-date=10 tháng 8 năm 2025 |access-date=10 tháng 8 năm 2025 |website=Broadcast}}</ref><ref name=IlMessaggero>{{Chú thích web |last=Faccini |first=Niccolò |date=9 tháng 8 năm 2025 |title=Burnley-Lazio 0-1: Cancellieri decide l'amichevole delle traverse. Zaccagni sbaglia dal dischetto, centrocampo in enorme difficoltà |trans-title=Burnley–Lazio 0-1: Cancellieri quyết định trận giao hữu của những cú dội xà. Zaccagni đá hỏng phạt đền, hàng tiền vệ gặp rất nhiều khó khăn |url=https://www.ilmessaggero.it/sport/ss_lazio/burnley_lazio_risultato_cancellieri_amichevole_zaccagni_centrocampo_cosa_e_successo-9004730.html |archive-url=https://archive.today/20250810144556/https://www.ilmessaggero.it/sport/ss_lazio/burnley_lazio_risultato_cancellieri_amichevole_zaccagni_centrocampo_cosa_e_successo-9004730.html |archive-date=10 tháng 8 năm 2025 |access-date=10 tháng 8 năm 2025 |website=Il Messaggero |language=it}}</ref>{{efn|Buổi phát sóng, do đối tác Rezzil của câu lạc bộ phát triển, cho phép người xem có một vị trí ngồi ảo bên trong sân với [[Panorama|góc nhìn toàn cảnh]] ra mặt sân, kèm bình luận trực tiếp, âm thanh khán giả xung quanh và các hình ảnh theo thời gian thực như nhận diện thương hiệu của câu lạc bộ và trang phục cầu thủ.<ref name=BroadcastNow /><ref name=IlMessaggero />}} | |||
{{wide image|Turf Moor panorama.jpg|1000px|align-cap=center|Toàn cảnh Turf Moor (2011), nhìn về phía bắc từ Bob Lord Stand, với Cricket Field Stand ở bên trái, North Stand ở phía đối diện và Jimmy McIlroy Stand ở bên phải|alt=Xem chú thích}} | |||
== Cổ động viên và các mối kình địch == | |||
=== Cổ động viên === | |||
Cổ động viên của Burnley chủ yếu đến từ East Lancashire và [[West Yorkshire]].<ref>Taylor (2013), p. 196</ref> Câu lạc bộ là một trong những đội được ủng hộ tốt nhất tại bóng đá Anh [[per capita|xét theo đầu người]],<ref>{{Chú thích báo|last=Johnson|first=William|date=27 December 2001|title=Burnley's head for heights|work=The Telegraph|url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/competitions/championship/3019410/Burnleys-head-for-heights.html|access-date=25 December 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222203317/https://www.telegraph.co.uk/sport/football/competitions/championship/3019410/Burnleys-head-for-heights.html|archive-date=22 December 2020}}</ref> với lượng khán giả trung bình khoảng 21.000 người ở Premier League trong một thị trấn chỉ có xấp xỉ 78.000 dân.<ref>{{Chú thích web|title=Burnley Performance Stats|url=https://www.espn.com/soccer/team/stats/_/id/379/league/ENG.1/view/performance|access-date=13 tháng 2 năm 2021|publisher=ESPN|archive-url=https://web.archive.org/web/20240731201425/https://www.espn.com/soccer/team/stats/_/id/379/league/ENG.1/season/2023/view/performance|archive-date=31 July 2024}} Individual seasons accessed via dropdown menu.</ref><ref>{{Chú thích web |date=tháng 3 năm 2024 |title=Burnley – local data profile |url=https://assets.publishing.service.gov.uk/media/6602fc9065ca2f8e6b7da865/Burnley.pdf |archive-url=https://web.archive.org/web/20240804082932/https://assets.publishing.service.gov.uk/media/6602fc9065ca2f8e6b7da865/Burnley.pdf |archive-date=4 tháng 8 năm 2024 |access-date=26 tháng 8 năm 2024 |website=gov.uk |publisher=Government Digital Service}}</ref> Hội cổ động viên đầu tiên của Burnley được thành lập vào đầu năm 1932,<ref>Simpson (2007), pp. 194-195</ref> và kể từ đó nhiều hội nhóm cổ động viên khác đã được hình thành khắp Vương quốc Anh cũng như ở nước ngoài.<ref>{{Chú thích web|title=Supporters Clubs, Groups, Associations and Trusts|url=https://www.burnleyfootballclub.com/more/more-fans/supporters-clubs|archive-url=https://web.archive.org/web/20210818114952/https://www.burnleyfootballclub.com/more/more-fans/supporters-clubs|archive-date=18 tháng 8 năm 2021|access-date=24 tháng 9 năm 2020|publisher=Burnley F.C.}}</ref> Cổ động viên của câu lạc bộ có mối giao hảo lâu năm với những người ủng hộ đội bóng Hà Lan [[Helmond Sport]] từ thập niên 1990, và một số cổ động viên Burnley lẫn Helmond thường xuyên thực hiện những chuyến đi ra nước ngoài để thăm các trận đấu của nhau.<ref>{{Chú thích web|last=Marshall|first=Jack|date=17 April 2018|title=Clarets across borders: Turf Moor's Dutch tribute to Burnley expat|url=https://www.burnleyexpress.net/news/clarets-across-borders-turf-moor-s-dutch-tribute-to-burnley-expat-1-9121264|archive-url=https://web.archive.org/web/20201009123439/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/clarets-across-borders-turf-moors-dutch-tribute-burnley-expat-1037736|archive-date=9 tháng 10 năm 2020|access-date=24 April 2019|website=Burnley Express}}</ref> Trong các mùa giải 2022-23 và 2023-24, Helmond Sport sử dụng trang phục sân khách màu claret và xanh để tri ân Burnley.<ref>{{Chú thích web |last=Pichel |first=Dominique |date=11 tháng 11 năm 2022 |title=Bijzondere vriendschap met Engelse club geëerd op uitshirt van Helmond Sport |trans-title=Tình bạn đặc biệt với câu lạc bộ Anh được tôn vinh trên áo sân khách của Helmond Sport |url=https://www.ed.nl/helmond/bijzondere-vriendschap-met-engelse-club-geeerd-op-uitshirt-van-helmond-sport~a7db2348/ |archive-url=https://archive.today/20240731091215/https://www.ed.nl/helmond/bijzondere-vriendschap-met-engelse-club-geeerd-op-uitshirt-van-helmond-sport~a7db2348/ |archive-date=31 July 2024 |url-access=subscription |access-date=31 July 2024 |website=Eindhovens Dagblad |language=nl}}</ref><ref>{{Chú thích web |date=24 July 2023 |title=Helmond Sport / 24 juli 2023 |trans-title=Helmond Sport / 24 July 2023 |url=https://www.helmondsport.nl/nieuws/tenues-2023-2024-onze-club-onze-stad |archive-url=https://web.archive.org/web/20230730121300/https://www.helmondsport.nl/nieuws/tenues-2023-2024-onze-club-onze-stad |archive-date=30 July 2023 |access-date=13 tháng 8 năm 2023 |publisher=Helmond Sport |language=nl}}</ref> | |||
Một bài [[Football chant|hát cổ vũ]] thường xuyên được vang lên từ đầu thập niên 1970 là “No Nay Never”, một phiên bản phỏng theo ca khúc “[[The Wild Rover]]”, với phần lời nhằm xúc phạm đối thủ lớn nhất là Blackburn Rovers.<ref>{{Chú thích web|last=Barnes|first=Paulinus|date=21 October 1992|title=Football: Fan's Eye view No. 10: Beating Clarets' blues: Burnley|url=http://www.independent.co.uk/sport/football-fans-eye-view-no-10-beating-clarets-blues-burnley-1558635.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201224124028/https://www.independent.co.uk/sport/football-fan-s-eye-view-no-10-beating-clarets-blues-burnley-1558635.html|archive-date=24 December 2020|access-date=11 April 2020|work=The Independent}}</ref> Đầu thập niên 1980, một nhóm [[Football hooliganism|côn đồ bóng đá]] mang tên [[Suicide Squad (hooligan firm)|Suicide Squad]] xuất hiện từ chính trong cộng đồng cổ động viên Burnley.<ref>{{Chú thích báo|date=16 December 2000|title=Turf war fear for Turf Moor|work=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2000/dec/16/newsstory.sport1|access-date=5 July 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201010074734/https://www.theguardian.com/football/2000/dec/16/newsstory.sport1|archive-date=10 tháng 10 năm 2020}}</ref> Nhóm này sau đó xuất hiện trong loạt phim tài liệu về hooligan năm 2006 mang tên ''[[The Real Football Factories]]''.<ref>{{Chú thích web|last=Plunkett|first=Susan|date=9 April 2019|title=Former Burnley pub that featured in football hooligan documentary up for sale|url=https://www.burnleyexpress.net/news/former-burnley-pub-that-featured-football-hooligan-documentary-sale-1-9700659|archive-url=https://web.archive.org/web/20201014190700/https://www.burnleyexpress.net/lifestyle/eating-out/former-burnley-pub-featured-football-hooligan-documentary-sale-987088|archive-date=14 tháng 10 năm 2020|access-date=25 December 2019|website=Burnley Express}}</ref> Năm 2011, 12 thành viên của nhóm bị kết án tù với tổng cộng 32 năm tù sau một vụ việc gây chú ý lớn với cổ động viên Blackburn Rovers vào năm 2009.<ref>{{Chú thích web|last=Chadderton|first=Sam|date=19 tháng 1 năm 2011|title=Burnley 'Suicide Squad' hooligans jailed for 32 years over East Lancs derby clash|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/8797259.burnley-suicide-squad-hooligans-jailed-32-years-east-lancs-derby-clash/|archive-url=https://web.archive.org/web/20201009032532/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/8797259.burnley-suicide-squad-hooligans-jailed-32-years-east-lancs-derby-clash/|archive-date=9 tháng 10 năm 2020|access-date=2 tháng 1 năm 2020|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Nhóm này tan rã sau phán quyết đó.<ref>{{Chú thích web|last=Brewin|first=John|date=4 tháng 2 năm 2015|title=Hooliganism in England: The enduring cultural legacy of football violence|url=https://www.espn.co.uk/football/blog/name/68/post/2193850/headline|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727072917/https://www.espn.co.uk/football/blog/name/68/post/2193850/headline|archive-date=27 July 2020|access-date=5 July 2020|publisher=ESPN}}</ref> | |||
Những người hâm mộ Burnley nổi tiếng có thể kể tới người tiên phong của bóng đá [[Jimmy Hogan]], một khán giả quen thuộc tại Turf Moor;<ref>Smith (1963), p. 34</ref> nhà báo [[Alastair Campbell]], người thường xuyên tham gia các sự kiện của câu lạc bộ;<ref>Simpson (2007), p. 572</ref> và vận động viên cricket [[James Anderson (cricketer)|James Anderson]], người cũng từng làm việc bán thời gian tại phòng vé của Burnley.<ref>{{Chú thích web|title=Famous Fans|url=https://www.burnleyfootballclub.premiumtv.co.uk/page/FamousFans/0,.10413.00.html|date=31 May 2007|publisher=Burnley F.C.|archive-url=https://web.archive.org/web/20080821202124/https://www.burnleyfootballclub.premiumtv.co.uk/page/FamousFans/0,.10413.00.html|archive-date=21 tháng 8 năm 2008|access-date=28 May 2020}}</ref> [[Charles III|Vua Charles III]] cũng là một cổ động viên của câu lạc bộ,<ref>{{Chú thích báo |date=15 tháng 2 năm 2012 |title=Prince of Wales supports Burnley Football Club |work=The Telegraph |url=https://www.telegraph.co.uk/sport/football/9085234/Prince-of-Wales-supports-Burnley-football-club.html |access-date=29 tháng 9 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120406123947/http://www.telegraph.co.uk/sport/football/9085234/Prince-of-Wales-supports-Burnley-football-club.html |archive-date=6 April 2012}}</ref> cũng như hồng y Nam Phi [[Wilfrid Napier]].<ref>{{Chú thích web |date=28 April 2014 |title=Pope hears of Claret's Premier League promotion joy |url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/11175845.pope-hears-clarets-premier-league-promotion-joy/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20220422154332/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/11175845.pope-hears-clarets-premier-league-promotion-joy/ |archive-date=22 April 2022 |access-date=26 July 2024 |website=Lancashire Telegraph}}</ref> Năm 2019, cổ động viên Burnley Scott Cunliffe được [[UEFA]] trao giải #EqualGame “vì công việc của anh với tư cách hình mẫu trong việc nhấn mạnh sự đa dạng, tính hòa nhập và khả năng tiếp cận trong bóng đá”; anh đã chạy tới mọi sân khách tại Premier League trong chiến dịch [[2018-19 Burnley F.C. season|2018-19]] của Burnley và quyên góp được hơn 55.000 bảng cho các quỹ cộng đồng của các câu lạc bộ Premier League cũng như cho các dự án cộng đồng tại Burnley.<ref>{{Chú thích web|date=28 tháng 8 năm 2019|title=UEFA's 2019 #EqualGame Award winners – Borussia Dortmund and Burnley FC fan|url=https://www.uefa.com/insideuefa/news/newsid=2619143.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201107235006/https://www.uefa.com/insideuefa/social-responsibility/news/0254-0f8e6e9c593f-2fff654f798c-1000--uefa-s-2019-equalgame-award-winners-borussia-dortmund-and-burnl/?referrer=%2finsideuefa%2fnews%2fnewsid%3d2619143|archive-date=7 tháng 11 năm 2020|access-date=28 tháng 8 năm 2019|publisher=UEFA}}</ref><ref>{{Chú thích web|last=Lomas|first=Jon|date=17 December 2019|title=Burnley fan Scott Cunliffe discusses what's next following the completion of his 'RunAway' challenge earlier this year|url=https://www.burnleyexpress.net/news/burnley-fan-scott-cunliffe-discusses-whats-next-following-completion-his-runaway-challenge-earlier-year-1343028|archive-url=https://web.archive.org/web/20201223171936/https://www.burnleyexpress.net/news/burnley-fan-scott-cunliffe-discusses-whats-next-following-completion-his-runaway-challenge-earlier-year-1343028|archive-date=23 December 2020|access-date=24 tháng 9 năm 2020|website=Burnley Express}}</ref> | |||
Một thức uống phổ biến được phục vụ tại các trận sân nhà từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất là “Béné & Hot” — rượu mùi Pháp [[Bénédictine]] pha thêm nước nóng. Các binh sĩ của [[East Lancashire Regiment]] đã quen với loại đồ uống này khi đóng quân tại nơi khai sinh của thức uống, [[Fécamp]], [[Normandy]], trong chiến tranh. Họ uống cùng nước nóng để giữ ấm trong chiến hào, và những người lính sống sót sau đó đã mang loại rượu này trở lại khu vực East Lancashire. Hơn 30 chai được bán ra ở mỗi trận sân nhà, khiến câu lạc bộ trở thành một trong những nơi bán Bénédictine nhiều nhất thế giới; Turf Moor cũng là sân bóng duy nhất tại Anh bán loại đồ uống này.<ref>{{Chú thích web|date=7 tháng 8 năm 2019|title=Benedictine Man of the Match|url=https://www.burnleyfootballclub.com/news/2019/august/benedictine-man-of-the-match/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727055349/https://www.burnleyfootballclub.com/news/2019/august/benedictine-man-of-the-match/|archive-date=27 July 2020|access-date=3 tháng 9 năm 2019|publisher=Burnley F.C.}}</ref><ref>{{Chú thích web|date=25 tháng 9 năm 2018|title=Turf Moor only football ground in the UK to serve Bénédictine|url=https://www.burnleyexpress.net/news/turf-moor-only-football-ground-uk-serve-bacnacdictine-574272|archive-url=https://web.archive.org/web/20210214150507/https://www.burnleyexpress.net/news/turf-moor-only-football-ground-uk-serve-bacnacdictine-574272|archive-date=14 tháng 2 năm 2021|access-date=14 tháng 2 năm 2021|website=Burnley Express}}</ref> | |||
=== Kình địch === | |||
[[Association football|Bóng đá]] lần đầu được chơi tại Burnley vào đầu thập niên 1880,<ref name=Ben226227>Bennett (1951), pp. 226-227</ref> và tới năm 1883 thị trấn này đã có hơn 20 đội bóng.<ref>"Annual meeting of the Burnley Football Club". ''Burnley Express''. 30 June 1883. p. 7.</ref> Một trong những đối thủ sớm nhất của Burnley là [[Burnley Union Star F.C.|Burnley Union Star]],<ref name=Simp574 /> có trụ sở ở phía bắc thị trấn.<ref name=Ben226227 /> Trong khi Burnley nhận được sự ủng hộ từ khắp khu vực và được mô tả là “câu lạc bộ hàng đầu của thị trấn”,<ref name=Simp2024 /><ref>"The Burnley Football Charity Cup". ''Manchester Courier and Lancashire General Advertiser''. 30 June 1883. p. 7.</ref><ref>"Lancashire Cup competition – first round". ''Blackburn Standard''. 16 October 1886. p. 2.</ref> thì Union Star lại được xem là một trong những đội bóng địa phương nổi bật nhất.<ref>Simpson (2007), p. 31</ref> Mối kình địch giữa hai đội đạt đỉnh trong Lancashire Cup mùa giải 1886-87, khi một trận thuộc vòng Một giữa hai bên kết thúc với tỉ số hòa 2-2.<ref>Simpson (2007), p. 27</ref> Trước khi trận đá lại có thể được tổ chức, Union Star bị loại khỏi giải vì sử dụng một cầu thủ chưa đăng kí, và bị đình chỉ trong một tháng.<ref>"Lancashire Senior Challenge Cup". ''The Manchester Guardian''. 25 October 1886. p. 7.</ref><ref>"Football". ''Liverpool Mercury''. 23 October 1886. p. 7.</ref> Vụ việc khiến căng thẳng gia tăng, với tờ ''Football Field'' viết rằng “một bộ phận nhất định các cổ động viên của Union Star dường như mang đúng bản chất của sự thô lỗ khi xem các trận đấu tại Turf Moor”.<ref>"Nuggets". ''Football Field''. 16 April 1887. p. 6.</ref> Union Star giải thể vào năm 1891, và Burnley nhanh chóng mua lại “Stars Stand” từ sân của đội này rồi chuyển nó về Turf Moor.<ref name=Simp574 /> Burnley bất bại trong mười lần gặp đối thủ này, thắng tám trận.<ref>Simpson (2007), pp. 18-29</ref> Một đối thủ đầu tiên khác là [[Padiham F.C. (1878)|Padiham]], với một trận đấu năm 1884 từng thu hút số khán giả kỉ lục lúc bấy giờ là 12.000 người tại Turf Moor.<ref name=Simp2024 /><ref name=Simp574 /> | |||
Đối thủ lớn nhất của Burnley là [[Blackburn Rovers F.C.|Blackburn Rovers]], đội bóng mà Burnley tranh tài trong [[East Lancashire derby|East Lancashire derby]], được đặt theo tên khu vực mà cả hai câu lạc bộ đều thuộc về. Các trận đấu giữa hai đội tới từ những [[mill town|thị trấn công nghiệp dệt]] này cũng được gọi là “Cotton Mills derby”.<ref name=Mitten2005>{{Chú thích báo|last=Mitten|first=Andy|date=1 May 2005|title=More Than A Game: Blackburn vs Burnley|work=FourFourTwo|url=https://www.fourfourtwo.com/features/more-game-blackburn-vs-burnley|access-date=23 December 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20201028053028/https://www.fourfourtwo.com/features/more-game-blackburn-vs-burnley|archive-date=28 tháng 10 năm 2020}}</ref><ref name=Croydon2012>{{Chú thích web|last=Croydon|first=Emily|date=30 tháng 11 năm 2012|title=Burnley v Blackburn Rovers: Is this football's most passionate derby?|url=https://www.bbc.com/sport/football/20554401|archive-url=https://web.archive.org/web/20200716205416/https://www.bbc.com/sport/football/20554401|archive-date=16 July 2020|access-date=9 tháng 9 năm 2019|publisher=BBC Sport}}</ref> Cả hai đều là thành viên sáng lập của Football League và đều từng vô địch First Division lẫn Cúp FA.<ref name=Mitten2005 /> Hai câu lạc bộ chỉ cách nhau đúng {{convert|14|mi}} và bên cạnh khoảng cách địa lí gần gũi,<ref name=Croydon2012 /> còn có một lịch sử kình địch lâu dài; lần chạm trán chính thức đầu tiên giữa hai bên là một trận đấu thuộc Football League năm 1888.<ref name=11v11BURBLB>{{Chú thích web|url=https://www.11v11.com/teams/burnley/tab/opposingTeams/opposition/Blackburn%20Rovers/|title=Burnley football club: record v Blackburn Rovers|website=11v11|publisher=AFS Enterprises|access-date=16 tháng 8 năm 2018}}</ref> Tuy nhiên, bốn năm trước đó, hai đội đã gặp nhau lần đầu trong một trận giao hữu,<ref name=Simp2024 /> “với rất nhiều niềm kiêu hãnh bị đặt lên bàn cân”.<ref>{{Chú thích web|last=Matthews|first=Martin|date=7 tháng 10 năm 2009|title=History of the Blackburn Rovers v Burnley derby: part one|url=http://www.lancashiretelegraph.co.uk/news/4668181.History_of_the_Blackburn_Rovers_v_Burnley_derby__part_one/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200802100207/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/4668181.history-blackburn-rovers-v-burnley-derby-part-one/|archive-date=2 tháng 8 năm 2020|access-date=16 tháng 8 năm 2018|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Burnley hiện có thành tích đối đầu tốt hơn, với 45 chiến thắng so với 41 của Blackburn.<ref name=11v11BURBLB /> Đối thủ gần Burnley nhất về mặt địa lí thực ra là [[Accrington Stanley F.C.|Accrington Stanley]], nhưng vì hai đội chưa bao giờ thi đấu cùng cấp độ — dù câu lạc bộ đã giải thể [[Accrington F.C.|Accrington]] thì từng có — nên không tồn tại mối kình địch đáng kể nào giữa hai bên.<ref>Wiseman (2009), p. 9</ref> | |||
Các mối kình địch khác gồm những câu lạc bộ lân cận như [[Blackpool F.C.|Blackpool]], [[Bolton Wanderers F.C.|Bolton Wanderers]] và [[Preston North End F.C.|Preston North End]].<ref name=Wiseman137138>Wiseman (2009), pp. 137-138</ref> Burnley cũng có một [[Roses rivalry]] với các đội thuộc West Yorkshire như [[Bradford City A.F.C.|Bradford City]] và [[Leeds United F.C.|Leeds United]].<ref name=FFCensus>{{Chú thích web|title=Rivalry Uncovered!|url=http://www.footballfanscensus.com/issueresults/Club_Rivalries_Uncovered_Results.pdf|date=3 tháng 2 năm 2004|publisher=Football Fans Census|archive-url=https://web.archive.org/web/20040203154108/http://www.footballfanscensus.com/issueresults/Club_Rivalries_Uncovered_Results.pdf|archive-date=3 tháng 2 năm 2004|access-date=25 tháng 1 năm 2018}}</ref><ref>{{Chú thích web|last=Flanagan|first=Chris|date=6 December 2010|title=Leighton James: Leeds United rivalry makes it huge for Burnley|url=https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/football/burnley_fc/news/8721282.leighton-james-leeds-united-rivalry-makes-it-huge-for-burnley/|archive-url=https://web.archive.org/web/20201125030722/https://www.lancashiretelegraph.co.uk/sport/8721282.leighton-james-leeds-united-rivalry-makes-huge-burnley/|archive-date=25 tháng 11 năm 2020|access-date=24 tháng 10 năm 2019|website=Lancashire Telegraph}}</ref> Đội từng có những trận đấu rất căng thẳng với [[Halifax Town A.F.C.|Halifax Town]], [[Plymouth Argyle F.C.|Plymouth Argyle]], [[Rochdale A.F.C.|Rochdale]] và [[Stockport County F.C.|Stockport County]] trong các thập niên 1980 và 1990 khi còn chơi ở các hạng đấu thấp, dù cảm giác thù địch chủ yếu chỉ tới từ một phía; theo cuộc khảo sát [[Football Fans Census]] năm 2003, cả cổ động viên Halifax lẫn Stockport đều xem Burnley là đối thủ lớn nhất của mình, trong khi cổ động viên Burnley không xếp câu lạc bộ nào trong số đó vào ba đối thủ lớn nhất.<ref name=Wiseman137138 /><ref name=FFCensus /> | |||
== Cầu thủ == | |||
{{About||danh sách các cầu thủ có từ 100 lần ra sân trở lên cho Burnley|List of Burnley F.C. players|toàn bộ các cầu thủ Burnley trong quá khứ và hiện tại có bài viết trên Wikipedia|Category:Burnley F.C. players}} | |||
=== Đội hình đội một === | |||
{{updated|29 tháng 1 năm 2026}}<ref name=FirstTeam>{{Chú thích web |url=https://www.burnleyfootballclub.com/teams/first-team/squad-list |title=Men |publisher=Burnley F.C. |access-date=26 tháng 6 năm 2024}}</ref><ref>{{Chú thích web |url=https://burnleyfootballclub.com/content/202526-squad-numbers-confirmed |title=2025/26 Squad numbers confirmed |publisher=Burnley F.C. |date=30 July 2025 |access-date=30 July 2025}}</ref> | |||
{{fs start}} | {{fs start}} | ||
{{fs player|no=1|nat=SVK|pos=GK|name=[[Martin Dúbravka]]}} | {{fs player|no=1|nat=SVK|pos=GK|name=[[Martin Dúbravka]]}} | ||
{{fs player|no=2|nat=ENG|pos=DF|name=[[Kyle Walker]]}} | {{fs player|no=2|nat=ENG|pos=DF|name=[[Kyle Walker]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội phó]]}} | ||
{{fs player|no=3|nat=NED|pos=DF|name=[[Quilindschy Hartman]]}} | {{fs player|no=3|nat=NED|pos=DF|name=[[Quilindschy Hartman]]}} | ||
{{fs player|no=4|nat=ENG|pos=DF|name=[[Joe Worrall]]}} | {{fs player|no=4|nat=ENG|pos=DF|name=[[Joe Worrall (cầu thủ bóng đá)|Joe Worrall]]}} | ||
{{fs player|no=5|nat=FRA|pos=DF|name=[[Maxime Estève]]}} | {{fs player|no=5|nat=FRA|pos=DF|name=[[Maxime Estève]]}} | ||
{{fs player|no=6|nat=COD|pos=DF|name=[[Axel Tuanzebe]]}} | {{fs player|no=6|nat=COD|pos=DF|name=[[Axel Tuanzebe]]}} | ||
| Dòng 65: | Dòng 164: | ||
{{fs player|no=11|nat=ENG|pos=FW|name=[[Jaidon Anthony]]}} | {{fs player|no=11|nat=ENG|pos=FW|name=[[Jaidon Anthony]]}} | ||
{{fs player|no=12|nat=ENG|pos=DF|name=[[Bashir Humphreys]]}} | {{fs player|no=12|nat=ENG|pos=DF|name=[[Bashir Humphreys]]}} | ||
{{fs player|no=13|nat=GER|pos=GK|name=[[Max Weiß]]}} | {{fs player|no=13|nat=GER|pos=GK|name=[[Max Weiß (cầu thủ bóng đá)|Max Weiß]]}} | ||
{{fs player|no=14|nat=WAL|pos=DF|name=[[Connor Roberts]]}} | {{fs player|no=14|nat=WAL|pos=DF|name=[[Connor Roberts (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1995)|Connor Roberts]]}} | ||
{{fs player|no=16|nat=POR|pos=MF|name=[[Florentino Luís]]|other= | {{fs player|no=16|nat=POR|pos=MF|name=[[Florentino Luís]]|other=mượn từ [[S.L. Benfica|Benfica]]}} | ||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=17|nat=FRA|pos=FW|name=[[Loum Tchaouna]]}} | {{fs player|no=17|nat=FRA|pos=FW|name=[[Loum Tchaouna]]}} | ||
{{fs player|no=18|nat=SWE|pos=DF|name=[[Hjalmar Ekdal]]}} | {{fs player|no=18|nat=SWE|pos=DF|name=[[Hjalmar Ekdal]]}} | ||
{{fs mid}} | |||
{{fs player|no=19|nat=NED|pos=FW|name=[[Zian Flemming]]}} | {{fs player|no=19|nat=NED|pos=FW|name=[[Zian Flemming]]}} | ||
{{fs player|no= | {{fs player|no=20|nat=ENG|pos=MF|name=[[James Ward-Prowse]]|other=mượn từ [[West Ham United F.C.|West Ham United]]}} | ||
{{fs player|no=23|nat=BRA|pos=DF|name=[[Lucas Pires]]}} | {{fs player|no=23|nat=BRA|pos=DF|name=[[Lucas Pires (cầu thủ bóng đá)|Lucas Pires]]}} | ||
{{fs player|no=24|nat=IRL|pos=MF|name=[[Josh Cullen]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}} | {{fs player|no=24|nat=IRL|pos=MF|name=[[Josh Cullen (cầu thủ bóng đá)|Josh Cullen]]|other=[[Đội trưởng (bóng đá)|đội trưởng]]}} | ||
{{fs player|no=25|nat=SUI|pos=FW|name=[[Zeki Amdouni]]}} | {{fs player|no=25|nat=SUI|pos=FW|name=[[Zeki Amdouni]]}} | ||
{{fs player|no=26|nat=ANG|pos=FW|name=[[Manuel Benson]]}} | |||
{{fs player|no=27|nat=ALB|pos=FW|name=[[Armando Broja]]}} | {{fs player|no=27|nat=ALB|pos=FW|name=[[Armando Broja]]}} | ||
{{fs player|no=28|nat=TUN|pos=MF|name=[[Hannibal Mejbri]]}} | {{fs player|no=28|nat=TUN|pos=MF|name=[[Hannibal Mejbri]]}} | ||
| Dòng 82: | Dòng 180: | ||
{{fs player|no=31|nat=BEL|pos=MF|name=[[Mike Trésor]]}} | {{fs player|no=31|nat=BEL|pos=MF|name=[[Mike Trésor]]}} | ||
{{fs player|no=32|nat=CZE|pos=GK|name=[[Václav Hladký]]}} | {{fs player|no=32|nat=CZE|pos=GK|name=[[Václav Hladký]]}} | ||
{{fs player|no=34|nat=NED|pos=FW|name=[[Jaydon Banel]]}} | |||
{{fs player|no=35|nat=ENG|pos=FW|name=[[Ashley Barnes]]}} | {{fs player|no=35|nat=ENG|pos=FW|name=[[Ashley Barnes]]}} | ||
{{fs player|no=36|nat=GER|pos=DF|name=[[Jordan Beyer]]}} | {{fs player|no=36|nat=GER|pos=DF|name=[[Jordan Beyer]]}} | ||
{{fs player|no=44|nat=BEL|pos=DF|name=[[Hannes Delcroix]]}} | |||
{{fs player|no=48|nat=BEL|pos=FW|name=[[Enock Agyei]]}} | {{fs player|no=48|nat=BEL|pos=FW|name=[[Enock Agyei]]}} | ||
{{fs end}} | {{fs end}} | ||
=== | === Cho mượn === | ||
{{fs start}} | {{fs start}} | ||
{{fs player|no=21|nat=ENG|pos=MF|name=[[Aaron Ramsey ( | {{fs player|no=21|nat=ENG|pos=MF|name=[[Aaron Ramsey (English footballer)|Aaron Ramsey]]|other=cho [[Leicester City F.C.|Leicester City]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | ||
{{fs player|no= | {{fs player|no=22|nat=PER|pos=DF|name=[[Oliver Sonne]]|other=cho [[AC Sparta Prague|Sparta Prague]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | ||
{{fs player|no= | {{fs player|no=30|nat=ITA|pos=FW|name=[[Luca Koleosho]]|other=cho [[Paris FC]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | ||
{{fs player|no=34|nat=NED|pos=FW|name=[[Jaydon Banel]]|other=cho [[Derby County F.C.|Derby County]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | |||
{{fs mid}} | |||
{{Fs mid}} | |||
{{fs player|no=43|nat=NED|pos=DF|name=[[Shurandy Sambo]]|other=tại [[Sparta Rotterdam]] đến 30 tháng 6 năm 2026}} | |||
{{fs player|no=|nat= | {{fs player|no=37|nat=BEN|pos=FW|name=[[Andréas Hountondji]]|other=cho [[FC St. Pauli|St. Pauli]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | ||
{{fs player|no=|nat= | {{fs player|no=39|nat=ENG|pos=DF|name=[[Owen Dodgson]]|other=cho [[Stockport County F.C.|Stockport County]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | ||
{{fs player|no=43|nat=CUW|pos=DF|name=[[Shurandy Sambo]]|other=cho [[Sparta Rotterdam]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | |||
{{fs player|no=45|nat=IRL|pos=FW|name=[[Michael Obafemi]]|other=cho [[Blackpool F.C.|Blackpool]] mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026}} | |||
{{fs end}} | {{fs end}} | ||
== | === Học viện === | ||
{{Further|topic=đội hình học viện|Burnley F.C. Academy}} | |||
== Ban quản lí == | |||
=== Ban điều hành bóng đá === | |||
{| class="wikitable" | {| class="wikitable" | ||
|- | |- | ||
! Vị trí | |||
! Position | |||
! Tên | ! Tên | ||
|- | |- | ||
|Huấn luyện viên trưởng | |Huấn luyện viên trưởng | ||
|[[ | |[[Scott Parker]] | ||
|- | |||
|Trợ lý huấn luyện viên | |||
|[[Craig Bellamy]] | |||
|- | |- | ||
|Trợ lí huấn luyện viên | |||
|Huấn luyện viên đội 1 | |||
|[[Henrik Jensen ((huấn luyện viên bóng đá), born 1985)|Henrik Jensen]] | |||
|[[Mike Jackson (footballer, born 1973)|Mike Jackson]]<br>[[Floribert N'Galula]] | |||
|- | |- | ||
| | |Ban huấn luyện | ||
|[[Jack Cork]]<br />[[Pål Fjelde]]<br />Jonathan Hill<br />[[Mike Jackson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1973)|Mike Jackson]]<br />[[Connor King]]<br />Kersten Kuhl | |||
|Bram Geers | |||
|- | |||
|Huấn luyện viên Thủ môn | |||
|[[Jelle ten Rouwelaar]] | |||
|- | |||
|Nhà phân tích hiệu suất | |||
|Richard Bredice | |||
|} | |} | ||
Nguồn:<ref name=FirstTeam /> | |||
==Các huấn luyện viên từng dẫn dắt== | |||
{| class="wikitable" | |||
|- style="text-align:center; background:#ddd;" | |||
!Huấn luyện viên | |||
!Nhiệm kỳ | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|Ủy ban câu lạc bộ | |||
|align=center|(1882–1894) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Harry Bradshaw]] | |||
|align=center|(1894–1899) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Ernest Mangnall]] | |||
|align=center|(1900–1903) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Spen Whittaker]] | |||
|align=center|(1903–1910) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[R.H. Wadge]] | |||
|align=center|(1910) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[John Haworth]] | |||
|align=center|(1910–1924) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Albert Pickles]] | |||
|align=center|(1925–1932) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Tom Bromilow]] | |||
|align=center|(1932–1935) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| Ủy ban lựa chọn | |||
|align=center|(1935–1945) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Cliff Britton]] | |||
|align=center|(1945–1948) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Frank Hill]] | |||
|align=center|(1948–1954) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Alan Brown (cầu thủ bóng đá)|Alan Brown]] | |||
|align=center|(1954–1957) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Billy Dougall]] | |||
|align=center|(1957–1958) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Harry Potts]] | |||
|align=center|(1958–1970) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Jimmy Adamson]] | |||
|align=center|(1970–1976) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Joe Brown (cầu thủ bóng đá sinh năm 1929)|Joe Brown]] | |||
|align=center|(1976–1977) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Harry Potts]] | |||
|align=center|(1977–1979) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Brian Miller (cầu thủ bóng đá)|Brian Miller]] | |||
|align=center|(1979–1983) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[John Bond (cầu thủ bóng đá)|John Bond]] | |||
|align=center|(1983–1984) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[John Benson (cầu thủ bóng đá)|John Benson]] | |||
|align=center|(1984–1985) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Martin Buchan]] | |||
|align=center|(1985) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Tommy Cavanagh]] | |||
|align=center|(1985–1986) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Brian Miller (cầu thủ bóng đá)|Brian Miller]] | |||
|align=center|(1986–1989) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Frank Casper (cầu thủ bóng đá)|Frank Casper]] | |||
|align=center|(1989–1991) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Jimmy Mullen (cầu thủ bóng đá sinh năm 1952)|Jimmy Mullen]] | |||
|align=center|(1991–1996) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Clive Middlemass]] (Giữ chỗ) | |||
|align=center|(tháng 2 – 03 năm 1996) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
| [[Adrian Heath]] | |||
|align=center|(1996–1997) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Chris Waddle]] | |||
|align=center|(1997–1998) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Stan Ternent]] | |||
|align=center|(1998–2004) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Steve Cotterill]] | |||
|align=center|(2004–2007) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Steve Davis (cầu thủ bóng đá sinh năm 1968)|Steve Davis]] (tạm quyền) | |||
|align=center| (Tháng 11 năm 2007) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Owen Coyle]] | |||
|align=center| (11/2007–1/2010) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Brian Laws]] | |||
|align=center| (1/2010–12/2010) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Stuart Gray]] (tạm quyền) | |||
|align=center| (12/2010-1/2011) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Eddie Howe]] | |||
|align=center| (1/2011-10/2012) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Terry Pashley]] (tạm quyền) | |||
|align=center| (10/2012) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Sean Dyche]] | |||
|align=center| (10/2012-4/2022) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Mike Jackson]] (tạm quyền) | |||
|align=center| (4/2022-6/2022) | |||
|- bgcolor= style="text-align:center;" | |||
|[[Vincent Kompany]] | |||
|align=center| (6/2022-nay) | |||
|} | |||
==Danh hiệu== | |||
'''Giải quốc nội''' | |||
=== Các huấn luyện viên === | |||
'''[[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh|Giải ngoại hạng Anh]]''' | |||
{{Main|List of Burnley F.C. managers}} | |||
*Chiến thắng tại Giải ngoại hạng Anh: 1920–21, 1959–60 | |||
Người con của Burnley là [[Harry Bradshaw ((huấn luyện viên bóng đá))|Harry Bradshaw]] là huấn luyện viên đầu tiên của Burnley — ông được bổ nhiệm vào tháng 8 năm 1894 — và cũng là người đầu tiên giành chức vô địch giải đấu cùng câu lạc bộ, khi đưa đội đứng đầu Second Division vào cuối [[Football League 1897-98#Second Division|mùa giải 1897-98]].<ref name=Simp540542/> John Haworth là huấn luyện viên đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ giành được một danh hiệu lớn, với chức vô địch [[Cúp FA 1913-14|Cúp FA năm 1914]]; dưới thời Haworth, Burnley cũng lần đầu trở thành [[List of English football champions|nhà vô địch Anh]] ở [[Football League 1920-21|mùa giải 1920-21]].<ref name=Simp540542/> Harry Potts đưa câu lạc bộ tới chức vô địch First Division thứ hai trong chiến dịch [[Football League 1959-60|1959-60]].<ref name=FootballTimes /> Jimmy Adamson ([[Football League 1972-73#Second Division|Second Division 1972-73]]), Brian Miller ([[Football League 1981-82#Third Division|Third Division 1981-82]]), Jimmy Mullen ([[Football League 1991-92#Fourth Division|Fourth Division 1991-92]]), Sean Dyche ([[Football League 2015-16 Championship|Championship 2015-16]]) và Vincent Kompany ([[2022-23 EFL Championship|Championship 2022-23]]) cũng từng dẫn dắt Burnley tới các chức vô địch giải đấu.<ref name=Marshall2016 /><ref name=Hurcom2023 /><ref>Simpson (2007), pp. 548-556</ref> | |||
*Về nhì tại Giải ngoại hạng Anh: 1919–20, 1961–62 | |||
=== Chủ sở hữu === | |||
'''[[Giải bóng đá hạng nhất nước Anh|Giải hạng nhất nước Anh]]''' | |||
Năm 1897, câu lạc bộ được đăng kí thành một [[Private company limited by shares|công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần]].<ref>Peskett & Williams (1970), p. 57</ref> Từ khi thành lập cho tới năm 2020, Burnley được điều hành bởi các doanh nhân địa phương và những người hâm mộ câu lạc bộ.<ref name=Geldard2020 /> Vào tháng 12 năm 2020, Velocity Sports Partners, nhánh đầu tư thể thao của công ty quản lí Mỹ ALK Capital, mua lại 84% cổ phần của Burnley với giá 170 triệu bảng.<ref name=Wood2021 /><ref name=Geldard2020 /> [[Alan Pace]], [[Partner (business rank)|đối tác điều hành]] của ALK Capital, sau đó thay Mike Garlick ở vị trí chủ tịch câu lạc bộ.<ref name=Geldard2020 /> ALK đã vay phần lớn số tiền dùng cho thương vụ tiếp quản, và các khoản nợ vay đó được chuyển sang cho câu lạc bộ. Kết quả là sau thương vụ [[Leveraged buyout|thâu tóm bằng đòn bẩy]] này, Burnley từ chỗ không có nợ đã phải gánh khoản nợ khoảng 100 triệu bảng, với [[interest rate|lãi suất]] vào khoảng 8 phần trăm.<ref>{{Chú thích web|last=Conn|first=David|date=2 tháng 2 năm 2021|title=Burnley's US takeover has left club £90m worse off and loaded with debt|url=http://www.theguardian.com/football/2021/feb/02/burnley-us-takeover-has-left-club-90m-worse-off-and-loaded-with-debt|access-date=6 May 2022|website=The Guardian|archive-url=https://web.archive.org/web/20220615172753/https://www.theguardian.com/football/2021/feb/02/burnley-us-takeover-has-left-club-90m-worse-off-and-loaded-with-debt|archive-date=15 tháng 6 năm 2022}}</ref><ref>{{Chú thích báo|last=Stone|first=Simon|date=4 May 2022|title=Burnley face 'significant' loan repayment if relegated, accounts show|publisher=BBC Sport|url=https://www.bbc.com/sport/football/61317194|access-date=6 May 2022|archive-url=https://web.archive.org/web/20220815014745/https://www.bbc.com/sport/football/61317194|archive-date=15 tháng 8 năm 2022}}</ref> | |||
*Chiến thắng Giải hạng nhất nước Anh: 1897–98, 1972–73 | |||
*Về nhì tại Giải hạng nhất nước Anh: 1912–13, 1946–47 | |||
*Giành vé Play-off của Giải bóng đá hạng nhất nước Anh: 2008–09 | |||
Vào tháng 5 năm 2023, [[J. J. Watt]], cựu [[defensive end]] của giải [[American football]] [[National Football League]], cùng vợ là cựu tuyển thủ quốc tế của [[United States women's national soccer team]] [[Kealia Watt]], được công bố là những nhà đầu tư thiểu số mới.<ref>{{Chú thích web |last=Black |first=Dan |date=2 May 2023 |title=US sporting superstars JJ Watt and Kealia Watt on becoming part of a 'special club with incredible supporters' in Burnley |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/us-sporting-superstars-jj-watt-and-kealia-watt-on-becoming-part-of-a-special-club-with-incredible-supporters-in-burnley-4126236 |archive-url=https://web.archive.org/web/20230502115830/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/us-sporting-superstars-jj-watt-and-kealia-watt-on-becoming-part-of-a-special-club-with-incredible-supporters-in-burnley-4126236 |archive-date=2 May 2023 |access-date=5 May 2023 |website=Burnley Express}}</ref> Nhóm [[YouTube]] [[Dude Perfect]] cũng trở thành nhà đầu tư thiểu số của câu lạc bộ vào cuối năm đó.<ref>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=8 tháng 8 năm 2023 |title=YouTube group Dude Perfect join JJ Watt in taking minority stake in Burnley FC |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/youtube-group-dude-perfect-join-jj-watt-in-taking-minority-stake-in-burnley-fc-4248142 |archive-url=https://web.archive.org/web/20240523022558/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/youtube-group-dude-perfect-join-jj-watt-in-taking-minority-stake-in-burnley-fc-4248142 |archive-date=23 May 2024 |access-date=8 tháng 8 năm 2023 |website=Burnley Express}}</ref> Vào tháng 7 năm 2025, ALK Capital, thông qua nhánh đầu tư Velocity Sport Limited, mua lại cổ phần chi phối tại câu lạc bộ Tây Ban Nha [[RCD Espanyol|Espanyol]], đưa Burnley gia nhập mô hình sở hữu đa câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=14 July 2025 |title=Alan Pace agrees takeover of Spanish side Espanyol as Burnley joins multi-club model |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/alan-pace-agrees-takeover-of-spanish-side-espanyol-as-burnley-joins-multi-club-model-5223184 |archive-url=https://web.archive.org/web/20250714130912/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/alan-pace-agrees-takeover-of-spanish-side-espanyol-as-burnley-joins-multi-club-model-5223184 |archive-date=14 July 2025 |access-date=14 July 2025 |website=Burnley Express}}</ref> | |||
'''[[Giải bóng đá đơn vị 1 nước Anh]]''' | |||
*Chiến thắng Giải bóng đá đơn vị 1 nước Anh: 1981–82 | |||
*Về nhì Giải bóng đá đơn vị 1 nước Anh: 1999–00 | |||
*Giành vé Play-off của Giải bóng đá đơn vị 1 nước Anh: 1993–94 | |||
=== Hội đồng quản trị === | |||
'''[[Giải bóng đá đơn vị 2 nước Anh]]''' | |||
{| class="wikitable" | |||
*Chiến thắng Giải bóng đá đơn vị 2 nước Anh: 1991–92 | |||
Burnley là một trong vài đội giành chức vô địch của tất cả bốn đơn vị hàng đầu chuyên nghiệp kể từ khi cơ cấu hiện nay xuất hiện vào năm 1958 (các đội khác là [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderers]] và [[Preston North End F.C.|Preston North End]]). | |||
'''Cúp''' | |||
'''[[Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu|Cúp Vô địch Châu âu]]''' | |||
* Quarter-Finalists: 1961 | |||
'''[[Cúp FA]]''' | |||
*Chiến thắng: 1913–14 | |||
*Về nhì: 1946–47, 1961–62 | |||
*về ba: 1973–74 | |||
'''[[Siêu cúp Anh|Siêu cúp nước Anh]]''' | |||
*Chiến thắng: 1973 | |||
*Shared: 1960 | |||
'''[[Anglo-Scottish Cup]]''' | |||
*Chiến thắng: 1978–79 | |||
'''[[Ferencvaros Vase]]''' | |||
* Vòng chung kết: 1914 | |||
===Cầu thủ hiện tại - xuất hiện nhiều nhất=== | |||
Năm xuất hiện nhiều nhất khi vẫn còn ở câu lạc bộ tới ngày 12 tháng 5 năm 2010 là: | |||
{| class="toccolours" | |||
|- | |- | ||
! Vị trí | |||
! style="background:silver;"|Tên | |||
! Tên | |||
! style="background:silver;"|Trận đấu | |||
! style="background:silver;"|Bàn thắng | |||
|- | |- | ||
|Chủ tịch | |||
| {{flagicon|Denmark}} [[Brian Jensen (goalkeeper)|Brian Jensen]] || 245 || 0 | |||
|[[Alan Pace]] | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| {{flagicon|England}} [[Robbie Blake]] || 242 || 61 | |||
|- | |- | ||
|Các thành viên | |||
| {{flagicon|England}} [[Wade Elliott]] || 204 || 17 | |||
|[[Dave Checketts]]<br />Antonio Dávila<br />Stuart Hunt<br />Mike Smith<br />Vlad Torgovnik | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| {{flagicon|Northern Ireland}} [[Michael Duff (cầu thủ bóng đá)|Michael Duff]] || 173 || 4 | |||
|- | |||
| {{flagicon|Ireland}} [[Chris McCann (cầu thủ bóng đá)|Chris McCann]] || 147 || 18 | |||
|} | |} | ||
Nguồn:<ref>{{Chú thích web |title=Burnley FC Key Personnel & Club Information |url=https://www.premierleague.com/clubs/43/Burnley/directory |archive-url=https://web.archive.org/web/20240514194744/https://www.premierleague.com/clubs/43/Burnley/directory |archive-date=14 May 2024 |access-date=26 tháng 6 năm 2024 |publisher=Premier League}}</ref> | |||
=== Các chủ tịch === | |||
===Cầu thủ hiện tại - ghi nhiều bàn thắng nhất=== | |||
Những người sau đây từng là chủ tịch hội đồng quản trị của câu lạc bộ:<ref>Simpson (2007), p. 6</ref> | |||
Năm cầu thủ ghi nhiều nhất khi vẫn còn ở câu lạc bộ tới ngày 12 tháng 5 năm 2010 là: | |||
{| | |||
|valign="top" width="0%"| | |||
{| class="toccolours" | |||
{| class="wikitable" style="text-align: center" | |||
|- | |- | ||
! Giai đoạn | |||
! style="background:silver;"|Tên | |||
! Tên | |||
! style="background:silver;"|Bàn thắng | |||
! style="background:silver;"|Trận đấu | |||
|- | |- | ||
|1882-83 | |||
| {{flagicon|England}} [[Robbie Blake]] || 61 || 242 | |||
|Albert Jobling | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| {{flagicon|Republic of Ireland}} [[Chris McCann (cầu thủ bóng đá)|Chris McCann]] || 18 || 147 | |||
|- | |- | ||
|1883-1885 | |||
| {{flagicon|Scotland}} [[Graham Alexander]] || 17 || 122 | |||
|John Rawcliffe | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| {{flagicon|England}} [[Wade Elliott]] || 17 || 204 | |||
|- | |- | ||
|1885-1887 | |||
| {{flagicon|Northern Ireland}} [[Martin Paterson]] || 16 || 66 | |||
|John Bradley | |||
|} | |||
===Top vua phá lưới của giải đấu=== | |||
{| class="toccolours" | |||
|- | |- | ||
|1887-1896 | |||
! style="background:silver;"|Mùa giải | |||
|Wyatt Granger | |||
! style="background:silver;"|Cầu thủ | |||
! style="background:silver;"|Bàn thắng | |||
! style="background:silver;"|Trận đấu | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| [[Burnley F.C. season 2009–10|2009–10]] || {{flagicon|Scotland}} [[Steven Fletcher (cầu thủ bóng đá)|Steven Fletcher]] || 8 || 35 | |||
|- | |- | ||
|1896-1899 | |||
| [[Burnley F.C. season 2008–09|2008–09]] || {{flagicon|Northern Ireland}} [[Martin Paterson]] || 12 || 43 | |||
|[[Charles Sutcliffe]] | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 2007–08 || {{flagicon|Scotland}} [[Andy Gray (footballer born 1977)|Andy Gray]] || 11 || 25 | |||
|- | |- | ||
|1899-1909 | |||
| 2006–07 || {{flagicon|Scotland}} [[Andy Gray (footballer born 1977)|Andy Gray]] || 14 || 35 | |||
|Edwin Whitehead | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 2005–06 || {{flagicon|Nigeria}} [[Ade Akinbiyi]] || 12 || 29 | |||
|- | |- | ||
|1909-1930 | |||
| 2004–05 || {{flagicon|England}} [[Robbie Blake]] || 10 || 24 | |||
|Harry Windle | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 2003–04 || {{flagicon|England}} [[Robbie Blake]] || 19 || 45 | |||
|- | |- | ||
|1930-1932 | |||
| 2002–03 || {{flagicon|Wales}} [[Gareth Taylor]] || 16 || 40 | |||
|William Bracewell | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 2001–02 || {{flagicon|Wales}} [[Gareth Taylor]] || 16 || 40 | |||
|- | |- | ||
|1932-1934 | |||
| 2000–01 || {{flagicon|England}} [[Andy Payton]] || 9 || 40 | |||
|Edward Tate | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 1999-00 || {{flagicon|England}} [[Andy Payton]] || 27 || 41 | |||
|- | |- | ||
|1934-1948 | |||
| 1998–99 || {{flagicon|England}} [[Andy Payton]] || 20 || 40 | |||
|Tom Clegg | |||
|- style="background:#eee;" | |||
|} | |||
| 1997–98 || {{flagicon|England}} [[Andy Cooke]] || 16 || 34 | |||
|valign="top" width="0%"| | |||
{| class="wikitable" style="text-align: center" | |||
! Giai đoạn | |||
! Tên | |||
|- | |- | ||
|1948-1952 | |||
| 1996–97 || {{flagicon|England}} [[Paul Barnes (cầu thủ bóng đá)|Paul Barnes]] || 24 || 40 | |||
|Ernest Kay | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 1995–96 || {{flagicon|Wales}} [[Kurt Nogan]] || 20 || 46 | |||
|- | |- | ||
|1952-1955 | |||
| 1994–95 || {{flagicon|England}} [[David Eyres]] || 8 || 39 | |||
|Wilfred Hopkinson | |||
|- style="background:#eee;" | |||
| 1993–94 || {{flagicon|England}} [[David Eyres]] || 19 || 45 | |||
|- | |- | ||
|1955-1981 | |||
| 1992–93 || {{flagicon|England}} [[Adrian Heath]] || 19 || 43 | |||
|[[Bob Lord (football chairman)|Bob Lord]] | |||
|- | |||
|1981-1985 | |||
|John Jackson | |||
|- | |||
|1985-1998 | |||
|Frank Teasdale | |||
|- | |||
|1998-2012 | |||
|[[Barry Kilby]] | |||
|- | |||
|2012-2015 | |||
|John Banaszkiewicz<br />Mike Garlick<ref>{{Chú thích báo|date=26 May 2012|title=Garlick and Banaszkiewicz replace Kilby as Burnley co-chairmen|publisher=BBC Sport|url=https://www.bbc.com/sport/football/18219503|access-date=18 May 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201207082758/https://www.bbc.com/sport/football/18219503|archive-date=7 December 2020}}</ref> | |||
|- | |||
|2015-2020 | |||
|Mike Garlick<ref>{{Chú thích web|date=28 May 2015|title=Mike Garlick becomes sole Burnley chairman|url=https://www.skysports.com/football/news/11095/9867404/mike-garlick-has-become-burnley-chairman|archive-url=https://web.archive.org/web/20201009041357/https://www.skysports.com/football/news/11095/9867404/mike-garlick-has-become-burnley-chairman|archive-date=9 tháng 10 năm 2020|access-date=5 tháng 10 năm 2020|publisher=Sky Sports}}</ref> | |||
|- | |||
|2020- | |||
|[[Alan Pace]]<ref name=Geldard2020 /> | |||
|} | |} | ||
|} | |||
== Danh hiệu == | |||
{{Further|List of Burnley F.C. records and statistics#Honours and achievements}} | |||
{{For|các danh hiệu do đội dự bị và học viện giành được|Burnley F.C. Academy#Honours}} | |||
Burnley là câu lạc bộ thứ hai, và là một trong chỉ năm đội bóng từng vô địch cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh, cùng với Wolverhampton Wanderers, Preston North End, Sheffield United và [[Portsmouth F.C.|Portsmouth]].<ref name=Tyler2017 /><ref name=WolvesHonours /> Các danh hiệu của câu lạc bộ bao gồm:<ref name=Rundle /><ref>{{Chú thích web|title=Burnley Football Club honours|url=https://www.11v11.com/teams/burnley/tab/honours/|website=11v11|publisher=AFS Enterprises|access-date=26 tháng 1 năm 2018}}</ref> | |||
'''Giải vô địch''' | |||
*[[Football League First Division|First Division]] (cấp độ 1){{efn|name=Tiers|Sau khi được thành lập vào năm 1992, [[Premier League]] trở thành hạng đấu cao nhất của [[Football in England|bóng đá Anh]]; các hạng [[English Football League|Football League]] [[Football League First Division|First Division]], [[Football League Second Division|Second Division]] và [[Football League Third Division|Third Division]] sau đó lần lượt trở thành các cấp độ thứ hai, thứ ba và thứ tư.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.football-league.co.uk/page/History/HistoryDetail/0,.10794~1357277.00.html|title=History Of The Football League|publisher=The Football League|date=22 tháng 9 năm 2010|archive-url=https://web.archive.org/web/20130202161656/http://www.football-league.co.uk/page/History/HistoryDetail/0%2C%2C10794~1357277%2C00.html|archive-date=2 tháng 2 năm 2013}}</ref> Từ năm 2004, First Division đổi tên thành [[EFL Championship|Championship]], Second Division đổi thành [[EFL League One|League One]] và Third Division đổi thành [[EFL League Two|League Two]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/3795239.stm|title=League gets revamp|publisher=BBC Sport|date=10 tháng 6 năm 2004|archive-url=https://web.archive.org/web/20200729210603/http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/football/3795239.stm|archive-date=29 July 2020|access-date=18 tháng 6 năm 2020}}</ref>}} | |||
**Vô địch: [[Football League 1920-21|1920-21]], [[Football League 1959-60|1959-60]] | |||
**Á quân: [[Football League 1919-20|1919-20]], [[Football League 1961-62|1961-62]] | |||
*[[Football League Second Division|Second Division]] / [[Football League Championship|Championship]] (cấp độ 2){{efn|name=Tiers}} | |||
**Vô địch: [[Football League 1897-98|1897-98]], [[Football League 1972-73|1972-73]], [[Football League 2015-16 Championship|2015-16]], [[2022-23 EFL Championship|2022-23]] | |||
**Thăng hạng: [[Football League 1912-13|1912-13]], [[Football League 1946-47|1946-47]], [[Football League 2013-14 Championship|2013-14]], [[2024-25 EFL Championship|2024-25]] | |||
**Vô địch [[EFL Championship play-offs|play-off]]: [[2009 Football League play-offs#Championship|2009]] | |||
*[[Football League Third Division|Third Division]] / [[Football League Second Division|Second Division]] (cấp độ 3){{efn|name=Tiers}} | |||
**Vô địch: [[Football League 1981-82|1981-82]] | |||
**Thăng hạng: [[1999-2000 Football League|1999-2000]] | |||
**Vô địch [[EFL League One play-offs|play-off]]: [[1994 Football League play-offs#Second Division|1994]] | |||
*[[Football League Fourth Division|Fourth Division]] (cấp độ 4){{efn|name=Tiers}} | |||
**Vô địch: [[Football League 1991-92|1991-92]] | |||
'''Cúp''' | |||
*[[Cúp FA]] | |||
**Vô địch: [[Cúp FA 1913-14|1913-14]] | |||
**Á quân: [[Cúp FA 1946-47|1946-47]], [[Cúp FA 1961-62|1961-62]] | |||
*[[FA Charity Shield]]<ref>{{Chú thích web|last=Ross|first=James M.|date=1 tháng 9 năm 2020|title=England – List of FA Charity/Community Shield Matches|url=https://www.rsssf.org/tablese/engsupcuphist.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201115125550/http://www.rsssf.com/tablese/engsupcuphist.html|archive-date=15 tháng 11 năm 2020|publisher=RSSSF|access-date=15 tháng 11 năm 2020}}</ref> | |||
**Vô địch: [[1960 FA Charity Shield|1960]] (''đồng vô địch''),{{efn|Cho tới năm 1993, nếu [[Tie (draw)|hòa]], [[FA Community Shield|FA Charity Shield]] sẽ được chia sẻ giữa hai đội tham dự, mỗi đội giữ chiếc cúp trong sáu tháng. Burnley và [[Wolverhampton Wanderers F.C.|Wolverhampton Wanderers]] hòa 2-2.<ref name=Simp296297 /><ref>{{Chú thích web|title=The FA Community Shield history|url=http://www.thefa.com/fa-community-shield/more/history|publisher=The Football Association|archive-url=https://web.archive.org/web/20130609184712/http://www.thefa.com/fa-community-shield/more/history|archive-date=9 tháng 6 năm 2013|access-date=6 July 2020}}</ref>}} [[1973 FA Charity Shield|1973]]{{efn|name=FACS1973}} | |||
**Á quân: [[1921 FA Charity Shield|1921]] | |||
*[[Texaco Cup]]<ref>{{Chú thích web|last=Lewis|first=Tom|date=20 December 2007|title=Anglo-Scottish Cup & Texaco Cup – Full Results|url=https://www.rsssf.org/tablest/texacohist.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201017210849/http://www.rsssf.com/tablest/texacohist.html|archive-date=17 tháng 10 năm 2020|publisher=RSSSF|access-date=27 May 2020}}</ref> | |||
**Á quân: [[1973-74 Texaco Cup|1973-74]] | |||
*[[Anglo-Scottish Cup]] | |||
**Vô địch: [[1978-79 Anglo-Scottish Cup|1978-79]] | |||
*[[Associate Members' Cup]] | |||
**Á quân: [[1987-88 Associate Members' Cup|1987-88]] | |||
'''Khu vực''' | |||
*[[Lancashire Senior Cup|Lancashire Cup]]<ref>Các mùa giải vô địch được dẫn từ cuốn ''The Clarets Chronicles'' (2007) của Ray Simpson. Những mùa giải vô địch từ năm 2007 trở đi được dẫn từ các nguồn khác.</ref><ref>{{Chú thích web |last=Whitaker |first=Alec |date=31 tháng 8 năm 2023 |title=Barrow AFC suffer agonising penalty defeat in Senior Cup Final |url=https://www.nwemail.co.uk/sport/23756361.barrow-afc-suffer-agonising-penalty-defeat-senior-cup-final/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20240412135420/https://www.nwemail.co.uk/sport/23756361.barrow-afc-suffer-agonising-penalty-defeat-senior-cup-final/ |archive-date=12 April 2024 |access-date=12 April 2024 |website=The Mail}}</ref>{{efn|Kể từ giữa thập niên 1990, câu lạc bộ sử dụng [[reserve team|đội dự bị]] ở giải đấu này.<ref>Simpson (2007), pp. 509-510</ref>}} | |||
**Vô địch (13): 1889-90, 1914-15, 1949-50, 1951-52, 1959-60, 1960-61, 1961-62, 1964-65, 1965-66, 1969-70, 1971-72, 1992-93, 2022-23 | |||
== Kỉ lục và thống kê == | |||
{{Main|Danh sách kỉ lục và thống kê Burnley F.C.}} | |||
[[File:Jerry Dawson.jpg|thumb|[[Jerry Dawson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1888)|Jerry Dawson]] giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho Burnley, với 569 trận.|alt=Ảnh đen trắng của Jerry Dawson đang tạo dáng và nhìn về phía trước]] | |||
Kỉ lục về số lần ra sân nhiều nhất cho đội một của Burnley trên mọi đấu trường thuộc về thủ môn [[Jerry Dawson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1888)|Jerry Dawson]], người đã chơi 569 trận trong giai đoạn từ năm 1907 tới năm 1929.<ref name=Simp492539>Simpson (2007), pp. 492, 539</ref> Chân sút ghi nhiều bàn nhất của câu lạc bộ là [[George Beel]], với 188 bàn từ năm 1923 tới năm 1932.<ref name=Simp492539 /> Năm 1962, Jimmy Adamson giành giải [[FWA Footballer of the Year]], là lần đầu tiên và cho tới nay vẫn là lần duy nhất một cầu thủ Burnley làm được điều đó.<ref>Wiseman (2009), p. 88</ref> [[Willie Irvine]] trở thành [[List of English football first tier top scorers|vua phá lưới hạng đấu cao nhất]] ở [[Football League 1965-66|mùa giải 1965-66]] với 29 bàn, cũng là một thành tích độc nhất trong lịch sử câu lạc bộ.<ref>{{Chú thích web|last=Ross|first=James M.|date=30 July 2020|title=English League Leading Goalscorers|url=https://www.rsssf.org/tablese/engtops.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20201103192855/http://www.rsssf.com/tablese/engtops.html|archive-date=3 tháng 11 năm 2020|publisher=RSSSF|access-date=3 tháng 11 năm 2020}}</ref> | |||
Jimmy McIlroy là cầu thủ được khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn thuộc biên chế câu lạc bộ, với 51 lần ra sân cho [[Northern Ireland national football team|Bắc Ireland]] trong giai đoạn 1951-1962.<ref>Simpson (2007), pp. 532-538</ref> Cầu thủ Burnley đầu tiên thi đấu một trận quốc tế trọn vẹn là [[Jack Yates (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1861)|John Yates]], người ra sân cho tuyển Anh gặp [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Ireland (1882-1950)|Ireland]] vào tháng 3 năm 1889. Ông ghi một hat-trick nhưng không bao giờ được triệu tập lại nữa.<ref>Simpson (2007), p. 13</ref> Vào tháng 1 năm 1957, [[Ian Lawson (cầu thủ bóng đá, sinh năm 1939)|Ian Lawson]] 17 tuổi ghi kỉ lục bốn bàn ngay trong trận ra mắt cho Burnley gặp [[Chesterfield F.C.|Chesterfield]] ở vòng Ba Cúp FA.<ref>{{Chú thích báo|last=Turner|first=Georgina|date=25 tháng 9 năm 2013|title=Was Jesse Lingard's debut for Birmingham the most prolific ever?|work=The Guardian|url=https://www.theguardian.com/football/2013/sep/25/jesse-lingard-debut-birmingham-prolific|access-date=19 July 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727053450/https://www.theguardian.com/football/2013/sep/25/jesse-lingard-debut-birmingham-prolific|archive-date=27 July 2020}}</ref> Cầu thủ trẻ nhất từng chơi cho câu lạc bộ là [[Tommy Lawton]], khi ông mới 16 tuổi 174 ngày trong trận ra mắt trước [[Doncaster Rovers F.C.|Doncaster Rovers]] tại Second Division vào ngày 28 tháng 3 năm 1936.<ref>Simpson (2007), p. 210</ref> Trận ra mắt đó khiến ông trở thành [[Tiền đạo (bóng đá)|trung phong]] trẻ nhất từng chơi ở Football League vào thời điểm bấy giờ.<ref>{{Chú thích web|last=Sawyer|first=Rob|date=5 tháng 10 năm 2019|title=Remembering Tommy Lawton|url=https://www.evertonfc.com/news/1368533/remembering-tommy-lawton|archive-url=https://web.archive.org/web/20210412085028/https://www.evertonfc.com/news/1368533/remembering-tommy-lawton|archive-date=12 April 2021|access-date=12 April 2021|publisher=Everton F.C.}}</ref> Cầu thủ lớn tuổi nhất là [[Len Smelt]], người chơi trận cuối cùng khi đã 41 tuổi 132 ngày trong cuộc đối đầu với [[Arsenal F.C.|Arsenal]] tại First Division vào ngày 18 tháng 4 năm 1925.<ref>{{Chú thích web|last=Simpson|first=Ray|date=11 December 2013|title=History Re-Written|url=https://www.burnleyfootballclub.com/news/2013/december/history-re-written/|archive-url=https://web.archive.org/web/20200804021915/https://www.burnleyfootballclub.com/news/2013/december/history-re-written/|archive-date=4 tháng 8 năm 2020|access-date=10 April 2021|publisher=Burnley F.C.}}</ref> | |||
Chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch là thắng lợi 9-0 trước [[Darwen F.C. (1870)|Darwen]] ở [[Football League 1891-92]].<ref name=Statto>{{Chú thích web|title=Burnley scoring and sequence records|url=http://www.statto.com/football/teams/burnley/records|publisher=Statto|archive-url=https://web.archive.org/web/20170315184511/http://www.statto.com/football/teams/burnley/records|archive-date=15 tháng 3 năm 2017|access-date=11 tháng 8 năm 2018}}</ref> Những chiến thắng đậm nhất của Burnley tại Cúp FA là các trận thắng 9-0 trước [[Crystal Palace F.C.|Crystal Palace]] ([[Cúp FA 1908-09|1908-09]]), [[New Brighton A.F.C.|New Brighton]] ([[Cúp FA 1956-57|1956-57]]) và [[Penrith F.C.|Penrith]] ([[Cúp FA 1984-85|1984-85]]).<ref name=Statto /> Thất bại nặng nề nhất là trận thua 0-11 trước [[Darwen Old Wanderers F.C.|Darwen Old Wanderers]] ở vòng Một Cúp FA mùa giải 1885-86, khi Burnley sử dụng [[Reserve team|đội dự bị]] do phần lớn các cầu thủ chuyên nghiệp vẫn bị cấm tham dự theo quy định của FA trong{{efn|name=Professionals|Các cầu thủ chuyên nghiệp chỉ được phép chơi ở [[Cúp FA]] và các giải do [[County football association|liên đoàn quận]] tổ chức nếu họ sinh ra tại địa phương của câu lạc bộ hoặc đã cư trú trong bán kính {{Convert|6|miles|km|abbr=out|spell=in}} tính từ sân của câu lạc bộ trong tối thiểu hai năm.<ref name=Simp2024 />}} giai đoạn đó.<ref name=Simp2024 /><ref name=Statto /> | |||
Chuỗi bất bại dài nhất của đội ở hạng đấu cao nhất diễn ra trong giai đoạn từ ngày 6 tháng 9 năm 1920 tới ngày 25 tháng 3 năm 1921, khi họ bất bại 30 trận trên đường giành chức vô địch First Division. Thành tích này từng là chuỗi bất bại dài nhất trong một mùa giải chuyên nghiệp tại Anh cho tới khi Arsenal vượt qua ở [[Arsenal F.C. mùa giải 2003-04|mùa giải 2003-04]].<ref name=RememberingRecord /><ref name=Statto /> Burnley lập chuỗi bất bại dài nhất trong bất cứ hạng đấu nào ở [[2024-25 EFL Championship|mùa giải Championship 2024-25]],<ref name=BBCSport210425 /> khi không thua trong 33 trận cuối cùng.<ref name=LancsTelegraph030525 /> Họ cũng cân bằng hoặc phá nhiều [[Football records and statistics in England|kỉ lục của giải vô địch Anh]] trong mùa giải đó, bao gồm mức trung bình bàn thua mỗi trận thấp nhất (0,35; 16 bàn sau 46 trận),<ref name=LancsTelegraph030525 /><ref name=Telegraph170125 /> số trận giữ sạch lưới nhiều nhất đồng hạng (30, cân bằng với đội [[Port Vale F.C. mùa giải 1953-54|Port Vale 1953-54]]),<ref name=BurnleyExp040525 /> trở thành đội đầu tiên không để thủng lưới quá một bàn trong bất cứ trận đấu nào tại giải, và là đội đầu tiên giành ít nhất 100 điểm trong một hạng đấu cụ thể (Championship) ở hai dịp khác nhau (101 điểm ở 2022-23 và 100 điểm ở 2024-25).<ref name=EFL030525 /> | |||
Kỉ lục khán giả sân nhà của câu lạc bộ là 54.775 người, trong trận vòng Ba Cúp FA với Huddersfield Town vào ngày 23 tháng 2 năm 1924; còn kỉ lục khán giả sân nhà ở giải vô địch là 52.869 người, trong trận First Division gặp Blackpool vào ngày 11 tháng 10 năm 1947.<ref name=Wiseman15 /> Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng thu về là 31 triệu bảng (chưa kể phụ phí và điều khoản bán lại) do Manchester City trả để mua [[James Trafford]] vào năm 2025, thương vụ cũng khiến anh trở thành thủ môn người Anh đắt giá nhất lịch sử.<ref>{{Chú thích web |last=Scrafton |first=Matt |date=29 July 2025 |title=James Trafford completes Man City switch – becoming Burnley's record sale |url=https://www.burnleyexpress.net/sport/football/james-trafford-completes-man-city-switch-becoming-burnleys-record-sale-5248077 |archive-url=https://web.archive.org/web/20250729185057/https://www.burnleyexpress.net/sport/football/james-trafford-completes-man-city-switch-becoming-burnleys-record-sale-5248077 |archive-date=29 July 2025 |access-date=29 July 2025 |website=Burnley Express}}</ref> Mức phí cao nhất Burnley từng chi ra là khoảng 23 triệu bảng để mua tiền vệ [[Lesley Ugochukwu]] từ [[Chelsea F.C.|Chelsea]] vào năm 2025.<ref>{{Chú thích web |date=6 tháng 8 năm 2025 |title=Burnley sign midfielder Ugochukwu from Chelsea |url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/crm43mzz4zro |archive-url=https://archive.today/20250807071424/https://www.bbc.com/sport/football/articles/crm43mzz4zro |archive-date=7 tháng 8 năm 2025 |access-date=7 tháng 8 năm 2025 |publisher=BBC Sport}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.com/sport/football/articles/cgergn4qjpxo|title=A big risk for a record fee?|last=Hobbs|first=Matthew|publisher=BBC Sport|date=7 tháng 8 năm 2025|access-date=9 tháng 8 năm 2025|archive-date=9 tháng 8 năm 2025|archive-url=https://web.archive.org/web/20250809211520/https://www.bbc.com/sport/football/articles/cgergn4qjpxo}}</ref> [[Bob Kelly (cầu thủ bóng đá)|Bob Kelly]] từng phá [[List of most expensive association football transfers|kỉ lục chuyển nhượng thế giới]] vào năm 1925, khi chuyển từ Burnley sang [[Sunderland A.F.C.|Sunderland]] với mức phí 6.500 bảng ({{Inflation|UK|6500|1925|r=-4|fmt=eq|cursign=£}}{{Inflation-fn|UK|group=lower-alpha}}).<ref>{{Chú thích báo|last=O'Brien|first=John|date=9 tháng 8 năm 2016|title=Evolution of world record transfers since 1893|publisher=Reuters|url=https://www.reuters.com/article/us-soccer-transfers/evolution-of-world-record-transfers-since-1893-idUSKCN10K031|access-date=11 tháng 8 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20201222211349/https://www.reuters.com/article/us-soccer-transfers/evolution-of-world-record-transfers-since-1893-idUSKCN10K031|archive-date=22 December 2020}}</ref> | |||
== Ghi chú == | |||
{{Danh sách ghi chú}} | |||
==Tham khảo== | ==Tham khảo== | ||
'''Cụ thể''' | |||
{{Tham khảo}} | {{Tham khảo}} | ||
'''Tài liệu dẫn''' | |||
==Liên kết ngoài== | |||
* {{Chú thích sách |last=Bennett |first=Walter |title=The History of Burnley 1650-1850 |year=1948 |publisher=Burnley Corporation |asin=B0032OO3MM |ref=none }} | |||
* [http://www.burnleyfootballclub.com/ Trang chủ của Burnley FC] | |||
* {{Chú thích sách |last=Bennett |first=Walter |title=The History of Burnley from 1850 |year=1951 |publisher=Burnley Corporation |asin=B001HBTW7S |ref=none }} | |||
* [http://www.claretsmad.co.uk/ Burnley FC – Clarets Mad] | |||
* {{Chú thích sách |last=Butler |first=Bryon |title=The Official History of The Football Association |year=1991 |publisher=Queen Anne Press |isbn=0-356-19145-1 |ref=none }} | |||
* [http://www.thelongside.co.uk/ thelongside web] | |||
* {{Chú thích sách |last1=Peskett |first1=Roy |last2=Williams |first2=Tony |title=Rothmans Football Yearbook 1970-71 |year=1970 |publisher=Queen Anne Press |isbn=0-362-00071-9 |ref=none }} | |||
* [http://www.thelongside.info/ thelongside info] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140508145942/http://www.thelongside.info/ |date = ngày 8 tháng 5 năm 2014}} | |||
* {{Chú thích sách |last=Quelch |first=Tim |title=Never Had It So Good: Burnley's Incredible 1959/60 League Title Triumph |year=2015 |publisher=Pitch Publishing Ltd |isbn=978-1-909626-54-6 |ref=none }} | |||
* [http://www.claretstrust.co.uk/ claretstrust] | |||
* {{Chú thích sách |last=Quelch |first=Tim |title=From Orient to the Emirates: The Plucky Rise of Burnley FC |year=2017 |publisher=Pitch Publishing Ltd |isbn=978-1-78531-312-7 |ref=none }} | |||
* {{Chú thích sách |last=Simpson |first=Ray |title=The Clarets Chronicles: The Definitive History of Burnley Football Club 1882-2007 |year=2007 |publisher=Burnley F.C. |isbn=978-0-9557468-0-2 |ref=none }} | |||
* {{Chú thích sách |last=Smith |first=Stratton |title=The International Football Book for Boys No. 5 |year=1963 |publisher=Souvenir Press |asin=B000KHKII2 |ref=none }} | |||
* {{Chú thích sách |last=Taylor |first=Matthew |title=The Association Game: A History of British Football |year=2013 |publisher=Routledge |isbn=978-1-317-87008-1 |ref=none }} | |||
* {{Chú thích sách |last=Wiseman |first=David |title=The Burnley FC Miscellany |year=2009 |publisher=DB Publishing |isbn=978-1-85983-717-7 |ref=none }} | |||
== Liên kết ngoài == | |||
{{Giải bóng đá ngoại hạng Anh}} | |||
{{Commons category}} | |||
{{Portal bar|Bóng đá Anh|Lancashire}} | |||
* {{Official website}} | |||
* Burnley trên [[BBC Sport]]: [https://www.bbc.com/sport/football/teams/burnley Tin tức câu lạc bộ] – [https://www.bbc.com/sport/football/teams/burnley/scores-fixtures Kết quả và lịch thi đấu gần đây] | |||
* [https://www.skysports.com/burnley Burnley] tại [[Sky Sports]] | |||
* [https://www.premierleague.com/clubs/43/Burnley/overview Burnley] tại Premier League | |||
* [https://www.uefa.com/nationalassociations/teams/53354--burnley/ Burnley] tại [[UEFA]] | |||
* [http://www.claretsmad.co.uk/ Clarets Mad] | |||
* [https://web.archive.org/web/20140508145942/http://www.thelongside.info/ The Longside – Bách khoa toàn thư trực tuyến về The Clarets] (bản lưu trữ) | |||
* [http://www.claretstrust.co.uk/ Clarets Trust] | |||
{{Burnley F.C.}} | |||
{{Mùa giải Burnley F.C.}} | |||
{{FA Premier League}} | |||
{{EFL Championship}} | |||
{{Văn hóa Khu Burnley}} | |||
{{Authority control}} | |||
[[Thể loại:Burnley F.C.| ]] | [[Thể loại:Burnley F.C.| ]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | |||
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Lancashire]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]] | |||
[[Thể loại:Thành viên sáng lập The Football League]] | |||
[[Thể loại:Thể thao Burnley]] | [[Thể loại:Thể thao Burnley]] | ||
[[Thể loại: | [[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Lancashire]] | ||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Anh]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1882]] | [[Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1882]] | ||
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1882 ở Anh]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ Premier League]] | |||
[[Thể loại:Câu lạc bộ English Football League]] | |||
[[Thể loại:Vô địch Cúp FA]] | |||
Phiên bản lúc 23:15, ngày 6 tháng 4 năm 2026
| Huy hiệu của Burnley F.C. | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Burnley | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Clarets | |||
| Thành lập | 18 tháng 5 năm 1882 | |||
| Sân | Turf Moor | |||
| Sức chứa | 21.944 | |||
| Chủ sở hữu | ALK Capital LLC | |||
| Chủ tịch điều hành | Alan Pace | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Scott Parker | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | |||
| 2024-25 | Championship, thứ 2 trên 24 (thăng hạng) | |||
| Website | burnleyfootballclub | |||
Câu lạc bộ bóng đá Burnley (tiếng Anh: Burnley Football Club) (/ˈbɜːrnli/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Burnley, Lancashire, Anh. Đội thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh. Được thành lập vào năm 1882, Burnley là một trong những đội đầu tiên chuyển sang chuyên nghiệp (vào năm 1883), và sau đó đã gây sức ép lên Football Association để cho phép trả lương cho cầu thủ. Burnley lần đầu tham dự Cúp FA ở mùa giải 1885-86 và là một trong 12 thành viên sáng lập của Football League ở mùa giải 1888-89, giải đấu bóng đá theo thể thức vô địch đầu tiên trên thế giới.
Burnley là một trong chỉ năm đội bóng từng vô địch cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh, và đã hai lần đăng quang vô địch Anh, vào các mùa giải 1920-21 và 1959-60. Đội đã một lần vô địch Cúp FA, vào mùa giải 1913-14, và hai lần giành FA Charity Shield, vào các năm 1960 và 1973. Burnley cũng đã hai lần về nhì ở cả First Division lẫn Cúp FA. Trong chiến dịch 1920-21, Burnley tạo nên chuỗi 30 trận bất bại tại giải vô địch, lập nên một kỉ lục của Anh.[a] Từ thập niên 1950 tới thập niên 1970, dưới quyền chủ tịch Bob Lord, Burnley nổi tiếng với chính sách đào tạo trẻ và hệ thống tuyển trạch, đồng thời là một trong những câu lạc bộ đầu tiên xây dựng sân tập chuyên biệt. Phần lớn đội hình vô địch giải đấu mùa giải 1959-60 đều trưởng thành từ học viện trẻ của câu lạc bộ. Vào thời điểm đó, Burnley, với dân số 80.000 người, trở thành một trong những thị trấn nhỏ nhất từng sản sinh ra nhà vô địch hạng đấu cao nhất nước Anh.[b]
Đội đã thi đấu các trận sân nhà tại Turf Moor từ năm 1883, sau khi rời địa điểm ban đầu ở Calder Vale. Có biệt danh là “the Clarets”, câu lạc bộ sử dụng màu rượu vang đỏ và xanh từ năm 1910. Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ dựa trên quốc huy của thị trấn Burnley. Đội có mối kình địch lâu đời với câu lạc bộ lân cận Blackburn Rovers, với trận đấu giữa hai đội được gọi là derby East Lancashire. Cầu thủ ra sân nhiều nhất trong lịch sử Burnley là Jerry Dawson, với 569 lần ra sân trong 22 năm khoác áo đội bóng, còn chân sút ghi nhiều bàn nhất là George Beel với 188 bàn thắng.
Lịch sử
Khởi đầu và những danh hiệu lớn đầu tiên (1882-1946)

Câu lạc bộ được thành lập vào ngày 18 tháng 5 năm 1882 bởi các thành viên của đội bóng bầu dục Burnley Rovers,[c] những người đã bỏ phiếu chuyển sang chơi association football khi môn thể thao này ngày càng trở nên nổi bật trong khu vực.[3] Hậu tố “Rovers” bị bỏ chỉ vài ngày sau đó.[3] Đội giành danh hiệu đầu tiên vào năm 1883: Dr Dean's Cup, một giải đấu loại trực tiếp giữa các câu lạc bộ nghiệp dư ở khu vực Burnley.[4] Tới cuối năm đó, câu lạc bộ chuyển sang chuyên nghiệp và kí hợp đồng với nhiều cầu thủ Scotland, những người được ban lãnh đạo Burnley đánh giá là các cầu thủ giỏi nhất. Vì lý do đó, Burnley từ chối gia nhập Football Association (FA) và tham dự Cúp FA, do tổ chức này cấm các cầu thủ chuyên nghiệp.[5] Năm 1884, Burnley dẫn đầu một nhóm gồm 35 câu lạc bộ khác để thành lập British Football Association (BFA), một tổ chức ly khai nhằm thách thức quyền lực của FA. FA thay đổi quy định của mình vào năm 1885, cho phép thi đấu chuyên nghiệp, và Burnley có lần đầu ra sân ở Cúp FA vào mùa giải 1885-86.[5][6] Vào tháng 10 năm 1886, sân Turf Moor của Burnley trở thành sân chuyên nghiệp đầu tiên được một thành viên hoàng gia Anh ghé thăm, khi Prince Albert Victor dự khán một trận giao hữu giữa Burnley và Bolton Wanderers.[4] Câu lạc bộ là một trong mười hai thành viên sáng lập của Football League ở mùa giải 1888-89, giải bóng đá vô địch đầu tiên trên thế giới, và là một trong sáu đội đến từ Lancashire.[7] Ở trận đấu thứ hai, William Tait trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử ghi hat-trick tại giải vô địch, với ba bàn thắng vào lưới Bolton Wanderers, giúp Burnley có chiến thắng đầu tiên ở giải đấu này.[7] Ở mùa giải 1889-90, Burnley giành Lancashire Cup đầu tiên sau khi đánh bại đối thủ địa phương Blackburn Rovers trong trận chung kết.[8]
Burnley xuống hạng Second Division lần đầu tiên ở mùa giải 1896-97.[9] Đội vô địch hạng đấu này ở mùa giải kế tiếp, chỉ thua hai trong tổng số 30 trận trước khi giành quyền thăng hạng thông qua loạt play-off bốn đội mang tên test matches, dù trận đấu cuối cùng gặp câu lạc bộ của First Division là Stoke gây nhiều tranh cãi. Trận đấu kết thúc với tỉ số 0-0, do cả hai đội chỉ cần một trận hòa để giành một suất ở hạng đấu cao nhất, và sau đó được gọi là “[t]he match without a shot at goal”.[10] Burnley lại xuống hạng ở mùa giải 1899-1900 và vướng vào tranh cãi khi thủ môn Jack Hillman tìm cách hối lộ đối thủ Nottingham Forest trong trận cuối cùng của mùa giải, khiến ông bị treo giò trọn vẹn mùa giải tiếp theo.[11] Đây có thể là trường hợp đầu tiên được ghi nhận về match fixing trong bóng đá.[12] Đội tiếp tục thi đấu tại Second Division, thậm chí còn đứng cuối bảng ở mùa giải 1902-03 — nhưng được bầu lại — khi câu lạc bộ gặp khó khăn về tài chính.[13][14]

Harry Windle được bổ nhiệm làm chủ tịch vào năm 1909, và từ đó tình hình tài chính của câu lạc bộ được cải thiện.[15] Năm 1910, ban lãnh đạo Burnley đổi màu áo của câu lạc bộ từ xanh lá sang màu rượu vang đỏ và xanh, đồng thời bổ nhiệm John Haworth làm huấn luyện viên mới của đội.[16] Ở mùa giải 1912-13, đội giành quyền thăng hạng lên hạng đấu cao nhất, và ở mùa giải sau đó, Burnley giành danh hiệu lớn đầu tiên khi đánh bại Liverpool trong 1914 FA Cup final.[9] Bert Freeman ghi bàn thắng duy nhất, giúp Burnley trở thành câu lạc bộ đầu tiên đánh bại năm đội bóng thuộc hạng đấu cao nhất trong cùng một mùa Cúp. Tommy Boyle trở thành đội trưởng đầu tiên nhận chiếc cúp từ tay một vị vua đang tại vị, Vua George V.[17] Đội về nhì sau West Bromwich Albion ở mùa giải 1919-20,[18] trước khi giành chức vô địch First Division đầu tiên trong lịch sử ở mùa giải 1920-21.[9] Burnley thua ba trận mở màn, nhưng sau đó bất bại trong 30 trận liên tiếp tại giải, lập kỉ lục của Anh.[1] Chín mùa giải sau, đội xuống hạng xuống Second Division. Họ chật vật ở hạng đấu thứ hai và chỉ tránh được thêm một lần xuống hạng nữa ở mùa giải 1931-32 nhờ hơn hai điểm.[13][19] Những năm cho tới khi Chiến tranh thế giới thứ Hai bùng nổ được đặc trưng bởi các vị trí giữa bảng tại giải vô địch.[13]
Thời kì tiến bộ và hoàng kim (1946-1976)
Ở mùa giải 1946-47, mùa giải đầu tiên của Football League sau chiến tranh, Burnley giành quyền thăng hạng lên First Division và vào tới trận chung kết Cúp FA, nơi đội thua Charlton Athletic sau hiệp phụ. Hàng thủ của đội được đặt biệt danh là “The Iron Curtain”, bởi chỉ để thủng lưới 29 bàn sau 42 trận tại giải vô địch.[20] Alan Brown, đội trưởng của Burnley mùa giải 1946-47,[21] được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ vào năm 1954,[22] còn Bob Lord trở thành chủ tịch một năm sau đó.[23] Dưới thời của họ, câu lạc bộ trở thành một trong những đội bóng có tính tiến bộ nhất khi đó.[24][25] Burnley là một trong những câu lạc bộ đầu tiên xây dựng sân tập chuyên biệt, tại Gawthorpe,[23][26] và nổi tiếng với chính sách đào tạo trẻ cùng hệ thống tuyển trạch, nhờ đó phát hiện được nhiều tài năng trẻ.[24] Năm 1958, cựu cầu thủ Burnley Harry Potts được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.[27] Đội hình của ông chủ yếu xoay quanh bộ đôi gồm đội trưởng Jimmy Adamson và Jimmy McIlroy, nhạc trưởng của đội bóng.[28] Potts thường sử dụng sơ đồ 4-4-2, khi đó chưa phổ biến, và triển khai lối chơi Total Football.[23][27]

Burnley giành chức vô địch First Division lần thứ hai ở mùa giải 1959-60.[9] Họ chỉ vươn lên đầu bảng sau khi trận đấu cuối cùng đã khép lại.[29][d] Đội hình ấy chỉ tiêu tốn £13.000 (tương đương £360.000 vào năm 2026[e]) phí chuyển nhượng — £8.000 dành cho McIlroy vào năm 1950 và £5.000 cho hậu vệ trái Alex Elder vào năm 1959. Các cầu thủ Burnley còn lại đều trưởng thành từ học viện trẻ của câu lạc bộ.[24] Với dân số 80.000 người, thị trấn Burnley trở thành một trong những nơi nhỏ nhất từng có đội vô địch hạng đấu cao nhất nước Anh.[24][b] Sau khi mùa giải kết thúc, đội sang Hoa Kỳ để đại diện cho Anh tại International Soccer League, giải bóng đá quốc tế hiện đại đầu tiên ở Mỹ.[31] Ở mùa giải tiếp theo, Burnley lần đầu tiên thi đấu tại đấu trường châu Âu ở 1960-61 European Cup. Họ đánh bại cựu đội vào chung kết Reims ở vòng Một, nhưng bị loại bởi Hamburger SV ở tứ kết.[32] Đội về nhì tại First Division 1961-62 sau tân binh Ipswich Town khi chỉ thắng một trong mười trận cuối cùng, đồng thời vào tới chung kết Cúp FA nhưng thua Tottenham Hotspur. Adamson vẫn được bầu là FWA Footballer of the Year, còn McIlroy xếp á quân.[33]
Mức lương trần ở Football League bị bãi bỏ vào năm 1961, điều đó đồng nghĩa các câu lạc bộ tới từ những thị trấn nhỏ như Burnley không còn có thể cạnh tranh về tài chính với các đội từ những đô thị lớn hơn nữa.[23][34] Việc McIlroy ra đi đầy tranh cãi để tới Stoke City vào năm 1963[f] cùng việc Adamson giải nghệ vào năm 1964 cũng làm suy yếu vận mệnh của câu lạc bộ.[35] Tuy vậy, Burnley vẫn giữ được vị trí ở First Division trong suốt thập niên đó, khi về thứ ba ở cả mùa giải 1962-63 lẫn mùa giải 1965-66, đồng thời giành quyền dự 1966-67 Inter-Cities Fairs Cup.[9] Potts được Adamson thay thế ở vị trí huấn luyện viên vào năm 1970. Adamson ca ngợi đội hình của mình là “Đội bóng của thập niên 1970”, nhưng ông không thể ngăn đà sa sút, khi Burnley xuống hạng ở mùa giải 1970-71.[37] Burnley vô địch Second Division ở mùa giải 1972-73, và được mời tham dự 1973 FA Charity Shield,[g] và giành chiến thắng trước Manchester City.[39] Năm 1975, đội trở thành nạn nhân của một trong những cú sốc lớn nhất lịch sử Cúp FA khi Wimbledon, khi đó còn thi đấu tại Southern League, thắng 1-0 ngay tại Turf Moor.[40] Adamson rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 1976, và Burnley lại xuống hạng khỏi First Division sau đó trong năm ấy.[41] Trong giai đoạn này, sự sụt giảm lượng khán giả tới sân, cộng với khoản nợ ngày càng lớn, buộc Burnley phải bán đi các ngôi sao như Martin Dobson và Leighton James, khiến câu lạc bộ sa sút nhanh chóng.[42]
Gần như biến mất và hồi sinh (1976-2020)

Đội xuống hạng xuống Third Division lần đầu tiên ở mùa giải 1979-80.[9] Dưới sự dẫn dắt của cựu cầu thủ Burnley Brian Miller,[43] Burnley trở lại hạng Hai với tư cách đội vô địch ở mùa giải 1981-82. Tuy nhiên, lần trở lại này diễn ra rất ngắn ngủi và chỉ kéo dài đúng một năm.[9] Những thay đổi trên băng ghế huấn luyện tiếp tục được thực hiện trong hành trình tìm kiếm thành công; Miller bị thay bởi Frank Casper vào đầu năm 1983, rồi Casper bị thay bởi John Bond trước mùa giải 1983-84, còn Bond lại bị John Benson thay thế một mùa giải sau đó.[43] Bond là huấn luyện viên đầu tiên kể từ Frank Hill (1948-1954) không từng có sự nghiệp cầu thủ tại câu lạc bộ. Ông bị cổ động viên chỉ trích vì kí hợp đồng với những cầu thủ đắt giá làm gia tăng nợ nần của Burnley, đồng thời bán đi các tài năng trẻ như Lee Dixon, Brian Laws và Trevor Steven.[44] Benson là người cầm quân khi Burnley xuống hạng xuống Fourth Division lần đầu tiên vào cuối mùa giải 1984-85.[43] Đội tránh được việc rơi xuống Football Conference, cấp độ cao nhất của non-League football, ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 1986-87, sau khi họ thắng Orient còn các đối thủ cạnh tranh hoặc hòa hoặc thua.[45]

Năm 1988, Burnley gặp Wolverhampton Wanderers trong trận chung kết của Associate Members' Cup nhưng thua 0-2. Trận đấu thu hút 80.000 khán giả, lập kỉ lục cho một trận đấu giữa hai đội đến từ hạng Tư.[46] Đội vô địch Fourth Division ở mùa giải 1991-92 dưới quyền huấn luyện viên Jimmy Mullen. Ông thay Casper vào tháng 10 năm 1991 và thắng chín trận vô địch đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên.[47] Với việc vô địch hạng Tư, Burnley trở thành câu lạc bộ thứ hai từng vô địch cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh, sau Wolverhampton Wanderers.[48][49] Burnley thắng play-off Second Division ở mùa giải 1993-94 và giành quyền thăng hạng lên hạng Hai.[9] Tuy nhiên, sau đó đội lại xuống hạng chỉ sau một mùa giải,[9] và ở mùa giải 1997-98, chỉ có chiến thắng ở ngày cuối trước Plymouth Argyle mới ngăn Burnley rơi trở lại hạng Tư.[50] Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Stan Ternent, Burnley đứng thứ hai ở mùa giải 1999-2000 và giành quyền thăng hạng lên hạng Hai.[51] Đầu năm 2002, những khó khăn tài chính do sự sụp đổ của ITV Digital đã đẩy câu lạc bộ tới sát bờ vực quản trị tài chính.[52] Ternent bị sa thải בשנת 2004, sau khi ông tránh cho đội xuống hạng với một đội hình gồm nhiều cầu thủ mượn và một số cầu thủ chưa hoàn toàn sung sức.[53] Chiến dịch 2008-09, dưới quyền Owen Coyle, kết thúc bằng việc Burnley thăng hạng lên Premier League. Sheffield United bị đánh bại trong trận chung kết play-off Championship 2009, đồng nghĩa Burnley trở lại hạng đấu cao nhất sau 33 năm.[54] Burnley cũng vào tới bán kết League Cup lần đầu tiên sau hơn 25 năm, nhưng thua Tottenham theo tổng tỉ số hai lượt ở những phút cuối của trận lượt về.[9][55]

Việc thăng hạng khiến thị trấn Burnley trở thành một trong những địa phương nhỏ nhất từng có một câu lạc bộ Premier League.[56][57] Đội khởi đầu mùa giải đầy ấn tượng và trở thành tân binh đầu tiên của giải đấu thắng cả bốn trận sân nhà đầu tiên của mình.[58] Tuy nhiên, Coyle rời câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2010 để dẫn dắt đối thủ địa phương Bolton Wanderers. Ông được thay bằng cựu cầu thủ Burnley là Brian Laws, nhưng phong độ của đội sa sút mạnh và họ xuống hạng chỉ sau một mùa giải.[59] Sean Dyche được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào tháng 10 năm 2012.[60] Ở mùa giải trọn vẹn đầu tiên cầm quân, Dyche đưa Burnley trở lại Premier League ở mùa giải 2013-14 với ngân sách eo hẹp và đội hình mỏng.[61] Đội xuống hạng sau một mùa giải nhưng giành chức vô địch Championship trong lần trở lại ở mùa giải 2015-16, khép lại mùa giải với chuỗi 23 trận bất bại tại giải vô địch.[9][62] Năm 2017, câu lạc bộ hoàn tất việc xây dựng Barnfield Training Centre — cơ sở thay thế Gawthorpe — và Dyche cũng tham gia vào thiết kế sân tập này.[26] Burnley kết thúc mùa giải Premier League 2017-18 ở vị trí thứ bảy, qua đó giành quyền dự 2018-19 UEFA Europa League và trở lại đấu trường châu Âu sau 51 năm.[63] Tuy nhiên, đội không thể vào vòng bảng khi bị câu lạc bộ Hy Lạp Olympiacos loại ở vòng play-off.[64]
Giai đoạn các ông chủ nước ngoài (2020-nay)
Vào tháng 12 năm 2020, công ty đầu tư Mỹ ALK Capital mua lại 84% cổ phần của Burnley với giá 170 triệu bảng.[65] Đây là lần đầu tiên câu lạc bộ không còn nằm dưới sự điều hành của các doanh nhân địa phương hay những người hâm mộ Burnley.[66] Ở mùa giải 2021-22, Burnley xuống hạng trở lại Championship sau khi thua ở vòng đấu cuối cùng và kết thúc ở vị trí thứ 18.[67] Vào tháng 6 năm 2022, người Bỉ Vincent Kompany được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Burnley, trở thành người đầu tiên ngoài British Isles dẫn dắt câu lạc bộ.[68] Trong những tháng đầu tiên cầm quân, ông tái thiết đội hình với ngân sách hạn chế, chủ yếu kí hợp đồng với các cầu thủ trẻ và cầu thủ nước ngoài. Kompany cũng áp dụng lối chơi thiên về kiểm soát bóng và tấn công.[69] Burnley giành quyền thăng hạng trở lại Premier League ở mùa giải 2022-23 khi mùa giải vẫn còn bảy trận — một kỉ lục của Championship — trước khi vô địch Championship sau chiến thắng 1-0 trên sân đối thủ địa phương Blackburn Rovers.[70][71] Ở mùa giải tiếp theo, Burnley שוב xuống hạng khỏi Premier League, kết thúc ở vị trí thứ 19 với tổng cộng chỉ 24 điểm, mức thấp nhất trong lịch sử câu lạc bộ.[72][73] Tuy nhiên, ít lâu sau đó, Kompany chuyển sang Bayern Munich với mức phí 10,2 triệu bảng, đưa ông trở thành một trong những huấn luyện viên đắt giá nhất lịch sử.[74][75]
Burnley giành quyền thăng hạng trở lại hạng đấu cao nhất ngay ở lần thử đầu tiên dưới quyền Scott Parker, khép lại mùa giải 2024-25 với chuỗi 33 trận bất bại, một kỉ lục của câu lạc bộ.[76][77] Đội chỉ để thủng lưới 16 bàn sau 46 trận — trung bình 0,35 bàn mỗi trận — qua đó lập nên thành tích phòng ngự tốt nhất lịch sử các giải vô địch Anh,[77][78] cùng nhiều cột mốc khác.[h] Dù vậy, Burnley vẫn đứng sau Leeds United vì hiệu số bàn thắng bại, trở thành đội đầu tiên trong lịch sử Football League giành 100 điểm mà vẫn không thể vô địch.[77][81]
Trang phục và màu sắc
Trong những thập niên đầu tiên, Burnley sử dụng nhiều kiểu dáng và màu sắc trang phục sân nhà khác nhau.[82] Trong tám năm đầu, đội sử dụng nhiều biến thể của màu xanh và trắng, vốn là màu của đội tiền thân Burnley Rovers.[82] Trước khi bắt đầu mùa giải 1890-91, câu lạc bộ sử dụng áo xanh toàn bộ, nhưng chuyển sang áo trắng toàn bộ giữa mùa giải.[82] Sau các giai đoạn dùng màu hổ phách và đen, rồi hổ phách với claret, Burnley mặc áo sọc hồng và trắng ở mùa giải 1894-95, trước khi quay lại với màu hổ phách và đen.[82][83] Vào cuối thập niên 1890, câu lạc bộ dùng áo đỏ toàn bộ, còn từ năm 1900 tới năm 1910 thì mặc áo xanh lá toàn bộ.[82] Năm 1910, Burnley đổi sang màu claret và xanh, và đây là màu sắc gắn bó với phần lớn lịch sử của câu lạc bộ, ngoại trừ một giai đoạn dùng áo trắng trong nửa sau thập niên 1930 và trong Chiến tranh thế giới thứ Hai.[82] Năm 1946, câu lạc bộ đăng kí lại màu áo của mình là claret và xanh, sau một lời kêu gọi thành công trên tờ Burnley Express đã nhận đủ số phiếu quần áo quyên góp từ người hâm mộ để có thể mua một bộ trang phục mới.[84] Sự thay đổi màu sắc này cũng góp phần làm xuất hiện biệt danh của Burnley là “the Clarets”.[82] Trong những thập niên trước đó, đội từng được gọi bằng những biệt danh như “the Turfites”, “the Moorites”, “the Royalites” và “the Brunsiders”.[85][86]
Trang phục của Burnley do nhiều nhà sản xuất khác nhau cung cấp kể từ năm 1975, khi Umbro sản xuất áo đấu của câu lạc bộ, và đã có nhà tài trợ trên áo từ năm 1982.[83][i] Tên nhà tài trợ đầu tiên xuất hiện trên áo Burnley là Poco Homes, một công ty xây dựng có trụ sở tại Manchester, tài trợ trong giai đoạn từ năm 1982 tới năm 1983.[83][88] Hợp đồng tài trợ áo kéo dài nhất của câu lạc bộ là với Endsleigh Insurance, kéo dài từ năm 1988 tới năm 1998.[83] Năm 2017, câu lạc bộ có được hợp đồng tài trợ tay áo đầu tiên, với logo của trò chơi điện thoại Golf Clash — một tựa game do Playdemic phát triển — xuất hiện trên tay áo trái của áo đấu Burnley.[89]
Huy hiệu

Áo đấu của Burnley lần đầu mang một huy hiệu vào tháng 12 năm 1887, khi đội mặc áo trắng với một dải chéo xanh mang quốc huy của Thân vương xứ Wales, để kỉ niệm chuyến thăm của Hoàng tử Albert Victor tới Turf Moor vào năm trước đó — lần đầu tiên một thành viên của hoàng gia tới một sân bóng chuyên nghiệp.[4][83] Huy hiệu hoàng gia được sử dụng thường xuyên cho tới mùa giải 1894-95, nhưng xuất hiện trở lại ở trận chung kết Cúp FA 1914, có sự hiện diện của Vua George V.[17][83] Trong trận bán kết Cúp FA 1934-35, quốc huy của thị trấn Burnley lần đầu tiên xuất hiện trên áo đấu của câu lạc bộ.[83] Huy hiệu này trở lại ở trận chung kết Cúp FA 1947,[90] và quốc huy của thị trấn trở thành chi tiết cố định trên áo Burnley trong gần một thập kỉ sau khi đội vô địch First Division mùa giải 1959-60. Từ năm 1969 tới năm 1979 trên trang phục sân nhà, và tới năm 1976 trên áo sân khách, đội sử dụng một chữ lồng “BFC” cách điệu.[83]
Năm 1972, giám đốc thương mại của Burnley là Jack Butterfield công bố ý định đưa vào sử dụng một huy hiệu có thể được đăng kí bản quyền, qua đó mở ra một cuộc thi thiết kế công khai, và người chiến thắng là ông Jolleys ở Ashton-on-Ribble. Thiết kế của ông có hai con sư tử, hai bông hồng đỏ, một con ong, một thoi dệt, mũ giáp của hiệp sĩ và một bàn tay.[91] Huy hiệu tạo ra từ thiết kế này được câu lạc bộ chính thức thông qua vào năm 1973, và lần đầu xuất hiện trên trang phục sân khách của Burnley khi bắt đầu mùa giải 1976-77, trước khi được đưa lên áo sân nhà vào năm 1979.[83] Năm 1983, huy hiệu này bị thay thế trên áo đấu bằng một chữ lồng trắng đơn giản “B.F.C.”, nhưng được khôi phục lại vào năm 1987.[83]
Năm 2009, để đánh dấu 50 năm kể từ chức vô địch mùa giải 1959-60, câu lạc bộ đưa trở lại quốc huy của thị trấn từng được sử dụng trong thập niên 1960, rồi thay khẩu hiệu tiếng Latin “Pretiumque et Causa Laboris” (n.đ. 'Phần thưởng và nguyên nhân của [lao động]') bằng dòng chữ “Burnley Football Club” vào năm sau đó.[83][92] Năm 2023, các chi tiết của huy hiệu được thể hiện bằng màu trắng và đặt trên một tấm khiên màu claret,[93] và xuất hiện trên trang phục sân nhà từ mùa giải 2024-25.[94]
Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ dựa trên quốc huy của thị trấn Burnley.[95] Con cò ở đỉnh huy hiệu ám chỉ gia tộc Starkie, một dòng họ nổi bật ở khu vực Burnley. Trong mỏ, con cò ngậm một nút thắt Lacy của gia tộc de Lacy, những người từng nắm giữ Burnley vào thời Trung Cổ. Con cò đứng trên một ngọn đồi và những cây bông, tượng trưng cho di sản công nghiệp bông của thị trấn. Bàn tay ở phía dưới biểu trưng cho khẩu hiệu của thị trấn là “Hold to the Truth”, bắt nguồn từ gia tộc Towneley. Hai con ong phản ánh tinh thần lao động chăm chỉ của thị trấn, con sư tử tượng trưng cho hoàng gia, còn hình chevron biểu thị River Brun, con sông chảy qua Burnley.[92][95]
Sân vận động
Đội đã thi đấu các trận sân nhà tại Turf Moor מאז tháng 2 năm 1883, thay thế cho sân ban đầu của mình ở Calder Vale.[96] Khu đất Turf Moor đã được sử dụng cho thể thao ít nhất từ năm 1843, khi Burnley Cricket Club chuyển tới khu vực này.[97][98] Năm 1883, đội cricket đã mời Burnley tới một khu đất liền kề sân cricket.[96] Cả hai câu lạc bộ vẫn ở đó từ thời điểm ấy, và trong số các đối thủ tại Lancashire, chỉ có Preston North End là liên tục sử dụng sân nhà của mình — Deepdale — trong thời gian dài hơn.[96]
Ban đầu sân chỉ gồm mặt cỏ thi đấu và khán đài đầu tiên mãi tới năm 1885 mới được xây dựng.[97] Năm 1888, trận đấu đầu tiên tại giải vô địch trên sân Turf Moor chứng kiến Burnley thắng Bolton Wanderers 4-1, với Fred Poland ghi bàn thắng đầu tiên tại giải vô địch trên sân vận động này.[7] Sức chứa của Turf Moor được nâng lên 50.000 dưới thời chủ tịch Harry Windle trong thập niên 1910.[17] Sân vận động này tổ chức trận bán kết Cúp FA duy nhất vào năm 1922, giữa Huddersfield Town và Notts County, còn năm năm sau nơi đây tổ chức trận đấu quốc tế trọn vẹn duy nhất, giữa Anh và Xứ Wales במסגרת British Home Championship.[99] Từ giữa thập niên 1940 tới giữa thập niên 1960, lượng khán giả trung bình trên sân dao động trong khoảng 20.000-35.000 người, còn Burnley đạt mức khán giả trung bình cao nhất lịch sử câu lạc bộ là 33.621 ở First Division mùa giải 1947-48.[100] Kỉ lục khán giả cho một trận đấu đã được thiết lập từ năm 1924 trong cuộc đối đầu với Huddersfield Town ở vòng Ba Cúp FA, khi có 54.775 khán giả tới sân.[101] Năm 1960, trong trận đá lại vòng Năm Cúp FA với Bradford City, con số khán giả chính thức là 52.850. Tuy nhiên, một số cổng bị phá và rất nhiều cổ động viên không đếm được đã tràn vào sân.[102]
Mặt sân của Turf Moor từng có độ dốc cho tới năm 1974, khi sân được nâng lên để giảm bớt điều đó.[96] Trong giữa thập niên 1990, sân tiếp tục được cải tạo khi các khán đài bậc đứng Longside và Bee Hole End được thay bằng các khán đài toàn chỗ ngồi theo khuyến nghị của Taylor Report.[103] Năm 2019, câu lạc bộ xây thêm hai khán đài góc dành cho cổ động viên khuyết tật của đội chủ nhà giữa khán đài Jimmy McIlroy với cả North Stand và Bob Lord Stand nhằm đáp ứng các quy định của Accessible Stadium Guide.[104][105] Turf Moor hiện có sức chứa 21.944 chỗ và gồm bốn khán đài: North Stand (trước đây là Longside), Jimmy McIlroy Stand (trước đây là Bee Hole End), Bob Lord Stand, và Cricket Field Stand dành cho cả cổ động viên chủ nhà lẫn đội khách.[96][106][107]
Trong một trận giao hữu trước mùa giải với đội bóng Ý Lazio tại Turf Moor vào tháng 8 năm 2025, Burnley trở thành câu lạc bộ bóng đá đầu tiên trong lịch sử phát trực tiếp một trận đấu bằng thực tế ảo nhập vai.[108][109][j]
Cổ động viên và các mối kình địch
Cổ động viên
Cổ động viên của Burnley chủ yếu đến từ East Lancashire và West Yorkshire.[110] Câu lạc bộ là một trong những đội được ủng hộ tốt nhất tại bóng đá Anh xét theo đầu người,[111] với lượng khán giả trung bình khoảng 21.000 người ở Premier League trong một thị trấn chỉ có xấp xỉ 78.000 dân.[112][113] Hội cổ động viên đầu tiên của Burnley được thành lập vào đầu năm 1932,[114] và kể từ đó nhiều hội nhóm cổ động viên khác đã được hình thành khắp Vương quốc Anh cũng như ở nước ngoài.[115] Cổ động viên của câu lạc bộ có mối giao hảo lâu năm với những người ủng hộ đội bóng Hà Lan Helmond Sport từ thập niên 1990, và một số cổ động viên Burnley lẫn Helmond thường xuyên thực hiện những chuyến đi ra nước ngoài để thăm các trận đấu của nhau.[116] Trong các mùa giải 2022-23 và 2023-24, Helmond Sport sử dụng trang phục sân khách màu claret và xanh để tri ân Burnley.[117][118]
Một bài hát cổ vũ thường xuyên được vang lên từ đầu thập niên 1970 là “No Nay Never”, một phiên bản phỏng theo ca khúc “The Wild Rover”, với phần lời nhằm xúc phạm đối thủ lớn nhất là Blackburn Rovers.[119] Đầu thập niên 1980, một nhóm côn đồ bóng đá mang tên Suicide Squad xuất hiện từ chính trong cộng đồng cổ động viên Burnley.[120] Nhóm này sau đó xuất hiện trong loạt phim tài liệu về hooligan năm 2006 mang tên The Real Football Factories.[121] Năm 2011, 12 thành viên của nhóm bị kết án tù với tổng cộng 32 năm tù sau một vụ việc gây chú ý lớn với cổ động viên Blackburn Rovers vào năm 2009.[122] Nhóm này tan rã sau phán quyết đó.[123]
Những người hâm mộ Burnley nổi tiếng có thể kể tới người tiên phong của bóng đá Jimmy Hogan, một khán giả quen thuộc tại Turf Moor;[124] nhà báo Alastair Campbell, người thường xuyên tham gia các sự kiện của câu lạc bộ;[125] và vận động viên cricket James Anderson, người cũng từng làm việc bán thời gian tại phòng vé của Burnley.[126] Vua Charles III cũng là một cổ động viên của câu lạc bộ,[127] cũng như hồng y Nam Phi Wilfrid Napier.[128] Năm 2019, cổ động viên Burnley Scott Cunliffe được UEFA trao giải #EqualGame “vì công việc của anh với tư cách hình mẫu trong việc nhấn mạnh sự đa dạng, tính hòa nhập và khả năng tiếp cận trong bóng đá”; anh đã chạy tới mọi sân khách tại Premier League trong chiến dịch 2018-19 của Burnley và quyên góp được hơn 55.000 bảng cho các quỹ cộng đồng của các câu lạc bộ Premier League cũng như cho các dự án cộng đồng tại Burnley.[129][130]
Một thức uống phổ biến được phục vụ tại các trận sân nhà từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất là “Béné & Hot” — rượu mùi Pháp Bénédictine pha thêm nước nóng. Các binh sĩ của East Lancashire Regiment đã quen với loại đồ uống này khi đóng quân tại nơi khai sinh của thức uống, Fécamp, Normandy, trong chiến tranh. Họ uống cùng nước nóng để giữ ấm trong chiến hào, và những người lính sống sót sau đó đã mang loại rượu này trở lại khu vực East Lancashire. Hơn 30 chai được bán ra ở mỗi trận sân nhà, khiến câu lạc bộ trở thành một trong những nơi bán Bénédictine nhiều nhất thế giới; Turf Moor cũng là sân bóng duy nhất tại Anh bán loại đồ uống này.[131][132]
Kình địch
Bóng đá lần đầu được chơi tại Burnley vào đầu thập niên 1880,[133] và tới năm 1883 thị trấn này đã có hơn 20 đội bóng.[134] Một trong những đối thủ sớm nhất của Burnley là Burnley Union Star,[97] có trụ sở ở phía bắc thị trấn.[133] Trong khi Burnley nhận được sự ủng hộ từ khắp khu vực và được mô tả là “câu lạc bộ hàng đầu của thị trấn”,[5][135][136] thì Union Star lại được xem là một trong những đội bóng địa phương nổi bật nhất.[137] Mối kình địch giữa hai đội đạt đỉnh trong Lancashire Cup mùa giải 1886-87, khi một trận thuộc vòng Một giữa hai bên kết thúc với tỉ số hòa 2-2.[138] Trước khi trận đá lại có thể được tổ chức, Union Star bị loại khỏi giải vì sử dụng một cầu thủ chưa đăng kí, và bị đình chỉ trong một tháng.[139][140] Vụ việc khiến căng thẳng gia tăng, với tờ Football Field viết rằng “một bộ phận nhất định các cổ động viên của Union Star dường như mang đúng bản chất của sự thô lỗ khi xem các trận đấu tại Turf Moor”.[141] Union Star giải thể vào năm 1891, và Burnley nhanh chóng mua lại “Stars Stand” từ sân của đội này rồi chuyển nó về Turf Moor.[97] Burnley bất bại trong mười lần gặp đối thủ này, thắng tám trận.[142] Một đối thủ đầu tiên khác là Padiham, với một trận đấu năm 1884 từng thu hút số khán giả kỉ lục lúc bấy giờ là 12.000 người tại Turf Moor.[5][97]
Đối thủ lớn nhất của Burnley là Blackburn Rovers, đội bóng mà Burnley tranh tài trong East Lancashire derby, được đặt theo tên khu vực mà cả hai câu lạc bộ đều thuộc về. Các trận đấu giữa hai đội tới từ những thị trấn công nghiệp dệt này cũng được gọi là “Cotton Mills derby”.[143][144] Cả hai đều là thành viên sáng lập của Football League và đều từng vô địch First Division lẫn Cúp FA.[143] Hai câu lạc bộ chỉ cách nhau đúng 14 dặm (23 km) và bên cạnh khoảng cách địa lí gần gũi,[144] còn có một lịch sử kình địch lâu dài; lần chạm trán chính thức đầu tiên giữa hai bên là một trận đấu thuộc Football League năm 1888.[145] Tuy nhiên, bốn năm trước đó, hai đội đã gặp nhau lần đầu trong một trận giao hữu,[5] “với rất nhiều niềm kiêu hãnh bị đặt lên bàn cân”.[146] Burnley hiện có thành tích đối đầu tốt hơn, với 45 chiến thắng so với 41 của Blackburn.[145] Đối thủ gần Burnley nhất về mặt địa lí thực ra là Accrington Stanley, nhưng vì hai đội chưa bao giờ thi đấu cùng cấp độ — dù câu lạc bộ đã giải thể Accrington thì từng có — nên không tồn tại mối kình địch đáng kể nào giữa hai bên.[147]
Các mối kình địch khác gồm những câu lạc bộ lân cận như Blackpool, Bolton Wanderers và Preston North End.[148] Burnley cũng có một Roses rivalry với các đội thuộc West Yorkshire như Bradford City và Leeds United.[149][150] Đội từng có những trận đấu rất căng thẳng với Halifax Town, Plymouth Argyle, Rochdale và Stockport County trong các thập niên 1980 và 1990 khi còn chơi ở các hạng đấu thấp, dù cảm giác thù địch chủ yếu chỉ tới từ một phía; theo cuộc khảo sát Football Fans Census năm 2003, cả cổ động viên Halifax lẫn Stockport đều xem Burnley là đối thủ lớn nhất của mình, trong khi cổ động viên Burnley không xếp câu lạc bộ nào trong số đó vào ba đối thủ lớn nhất.[148][149]
Cầu thủ
Đội hình đội một
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Học viện
Ban quản lí
Ban điều hành bóng đá
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | Scott Parker |
| Trợ lí huấn luyện viên | Henrik Jensen |
| Ban huấn luyện | Jack Cork Pål Fjelde Jonathan Hill Mike Jackson Connor King Kersten Kuhl |
Nguồn:[151]
Các huấn luyện viên
Người con của Burnley là Harry Bradshaw là huấn luyện viên đầu tiên của Burnley — ông được bổ nhiệm vào tháng 8 năm 1894 — và cũng là người đầu tiên giành chức vô địch giải đấu cùng câu lạc bộ, khi đưa đội đứng đầu Second Division vào cuối mùa giải 1897-98.[16] John Haworth là huấn luyện viên đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ giành được một danh hiệu lớn, với chức vô địch Cúp FA năm 1914; dưới thời Haworth, Burnley cũng lần đầu trở thành nhà vô địch Anh ở mùa giải 1920-21.[16] Harry Potts đưa câu lạc bộ tới chức vô địch First Division thứ hai trong chiến dịch 1959-60.[23] Jimmy Adamson (Second Division 1972-73), Brian Miller (Third Division 1981-82), Jimmy Mullen (Fourth Division 1991-92), Sean Dyche (Championship 2015-16) và Vincent Kompany (Championship 2022-23) cũng từng dẫn dắt Burnley tới các chức vô địch giải đấu.[62][71][153]
Chủ sở hữu
Năm 1897, câu lạc bộ được đăng kí thành một công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần.[154] Từ khi thành lập cho tới năm 2020, Burnley được điều hành bởi các doanh nhân địa phương và những người hâm mộ câu lạc bộ.[66] Vào tháng 12 năm 2020, Velocity Sports Partners, nhánh đầu tư thể thao của công ty quản lí Mỹ ALK Capital, mua lại 84% cổ phần của Burnley với giá 170 triệu bảng.[65][66] Alan Pace, đối tác điều hành của ALK Capital, sau đó thay Mike Garlick ở vị trí chủ tịch câu lạc bộ.[66] ALK đã vay phần lớn số tiền dùng cho thương vụ tiếp quản, và các khoản nợ vay đó được chuyển sang cho câu lạc bộ. Kết quả là sau thương vụ thâu tóm bằng đòn bẩy này, Burnley từ chỗ không có nợ đã phải gánh khoản nợ khoảng 100 triệu bảng, với lãi suất vào khoảng 8 phần trăm.[155][156]
Vào tháng 5 năm 2023, J. J. Watt, cựu defensive end của giải American football National Football League, cùng vợ là cựu tuyển thủ quốc tế của United States women's national soccer team Kealia Watt, được công bố là những nhà đầu tư thiểu số mới.[157] Nhóm YouTube Dude Perfect cũng trở thành nhà đầu tư thiểu số của câu lạc bộ vào cuối năm đó.[158] Vào tháng 7 năm 2025, ALK Capital, thông qua nhánh đầu tư Velocity Sport Limited, mua lại cổ phần chi phối tại câu lạc bộ Tây Ban Nha Espanyol, đưa Burnley gia nhập mô hình sở hữu đa câu lạc bộ.[159]
Hội đồng quản trị
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Chủ tịch | Alan Pace |
| Các thành viên | Dave Checketts Antonio Dávila Stuart Hunt Mike Smith Vlad Torgovnik |
Nguồn:[160]
Các chủ tịch
Những người sau đây từng là chủ tịch hội đồng quản trị của câu lạc bộ:[161]
|
|
Danh hiệu
Burnley là câu lạc bộ thứ hai, và là một trong chỉ năm đội bóng từng vô địch cả bốn hạng chuyên nghiệp của bóng đá Anh, cùng với Wolverhampton Wanderers, Preston North End, Sheffield United và Portsmouth.[48][49] Các danh hiệu của câu lạc bộ bao gồm:[9][164]
Giải vô địch
- First Division (cấp độ 1)[k]
- Vô địch: 1920-21, 1959-60
- Á quân: 1919-20, 1961-62
- Second Division / Championship (cấp độ 2)[k]
- Vô địch: 1897-98, 1972-73, 2015-16, 2022-23
- Thăng hạng: 1912-13, 1946-47, 2013-14, 2024-25
- Vô địch play-off: 2009
- Third Division / Second Division (cấp độ 3)[k]
- Vô địch: 1981-82
- Thăng hạng: 1999-2000
- Vô địch play-off: 1994
- Fourth Division (cấp độ 4)[k]
- Vô địch: 1991-92
Cúp
- Cúp FA
- Vô địch: 1913-14
- Á quân: 1946-47, 1961-62
- FA Charity Shield[167]
- Texaco Cup[169]
- Á quân: 1973-74
- Anglo-Scottish Cup
- Vô địch: 1978-79
- Associate Members' Cup
- Á quân: 1987-88
Khu vực
- Lancashire Cup[170][171][m]
- Vô địch (13): 1889-90, 1914-15, 1949-50, 1951-52, 1959-60, 1960-61, 1961-62, 1964-65, 1965-66, 1969-70, 1971-72, 1992-93, 2022-23
Kỉ lục và thống kê

Kỉ lục về số lần ra sân nhiều nhất cho đội một của Burnley trên mọi đấu trường thuộc về thủ môn Jerry Dawson, người đã chơi 569 trận trong giai đoạn từ năm 1907 tới năm 1929.[173] Chân sút ghi nhiều bàn nhất của câu lạc bộ là George Beel, với 188 bàn từ năm 1923 tới năm 1932.[173] Năm 1962, Jimmy Adamson giành giải FWA Footballer of the Year, là lần đầu tiên và cho tới nay vẫn là lần duy nhất một cầu thủ Burnley làm được điều đó.[174] Willie Irvine trở thành vua phá lưới hạng đấu cao nhất ở mùa giải 1965-66 với 29 bàn, cũng là một thành tích độc nhất trong lịch sử câu lạc bộ.[175]
Jimmy McIlroy là cầu thủ được khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn thuộc biên chế câu lạc bộ, với 51 lần ra sân cho Bắc Ireland trong giai đoạn 1951-1962.[176] Cầu thủ Burnley đầu tiên thi đấu một trận quốc tế trọn vẹn là John Yates, người ra sân cho tuyển Anh gặp Ireland vào tháng 3 năm 1889. Ông ghi một hat-trick nhưng không bao giờ được triệu tập lại nữa.[177] Vào tháng 1 năm 1957, Ian Lawson 17 tuổi ghi kỉ lục bốn bàn ngay trong trận ra mắt cho Burnley gặp Chesterfield ở vòng Ba Cúp FA.[178] Cầu thủ trẻ nhất từng chơi cho câu lạc bộ là Tommy Lawton, khi ông mới 16 tuổi 174 ngày trong trận ra mắt trước Doncaster Rovers tại Second Division vào ngày 28 tháng 3 năm 1936.[179] Trận ra mắt đó khiến ông trở thành trung phong trẻ nhất từng chơi ở Football League vào thời điểm bấy giờ.[180] Cầu thủ lớn tuổi nhất là Len Smelt, người chơi trận cuối cùng khi đã 41 tuổi 132 ngày trong cuộc đối đầu với Arsenal tại First Division vào ngày 18 tháng 4 năm 1925.[181]
Chiến thắng đậm nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch là thắng lợi 9-0 trước Darwen ở Football League 1891-92.[182] Những chiến thắng đậm nhất của Burnley tại Cúp FA là các trận thắng 9-0 trước Crystal Palace (1908-09), New Brighton (1956-57) và Penrith (1984-85).[182] Thất bại nặng nề nhất là trận thua 0-11 trước Darwen Old Wanderers ở vòng Một Cúp FA mùa giải 1885-86, khi Burnley sử dụng đội dự bị do phần lớn các cầu thủ chuyên nghiệp vẫn bị cấm tham dự theo quy định của FA trong[n] giai đoạn đó.[5][182]
Chuỗi bất bại dài nhất của đội ở hạng đấu cao nhất diễn ra trong giai đoạn từ ngày 6 tháng 9 năm 1920 tới ngày 25 tháng 3 năm 1921, khi họ bất bại 30 trận trên đường giành chức vô địch First Division. Thành tích này từng là chuỗi bất bại dài nhất trong một mùa giải chuyên nghiệp tại Anh cho tới khi Arsenal vượt qua ở mùa giải 2003-04.[1][182] Burnley lập chuỗi bất bại dài nhất trong bất cứ hạng đấu nào ở mùa giải Championship 2024-25,[76] khi không thua trong 33 trận cuối cùng.[77] Họ cũng cân bằng hoặc phá nhiều kỉ lục của giải vô địch Anh trong mùa giải đó, bao gồm mức trung bình bàn thua mỗi trận thấp nhất (0,35; 16 bàn sau 46 trận),[77][78] số trận giữ sạch lưới nhiều nhất đồng hạng (30, cân bằng với đội Port Vale 1953-54),[79] trở thành đội đầu tiên không để thủng lưới quá một bàn trong bất cứ trận đấu nào tại giải, và là đội đầu tiên giành ít nhất 100 điểm trong một hạng đấu cụ thể (Championship) ở hai dịp khác nhau (101 điểm ở 2022-23 và 100 điểm ở 2024-25).[80]
Kỉ lục khán giả sân nhà của câu lạc bộ là 54.775 người, trong trận vòng Ba Cúp FA với Huddersfield Town vào ngày 23 tháng 2 năm 1924; còn kỉ lục khán giả sân nhà ở giải vô địch là 52.869 người, trong trận First Division gặp Blackpool vào ngày 11 tháng 10 năm 1947.[101] Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng thu về là 31 triệu bảng (chưa kể phụ phí và điều khoản bán lại) do Manchester City trả để mua James Trafford vào năm 2025, thương vụ cũng khiến anh trở thành thủ môn người Anh đắt giá nhất lịch sử.[183] Mức phí cao nhất Burnley từng chi ra là khoảng 23 triệu bảng để mua tiền vệ Lesley Ugochukwu từ Chelsea vào năm 2025.[184][185] Bob Kelly từng phá kỉ lục chuyển nhượng thế giới vào năm 1925, khi chuyển từ Burnley sang Sunderland với mức phí 6.500 bảng (tương đương £440.000 vào năm 2026[e]).[186]
Ghi chú
- ^ Thành tích này từng là chuỗi bất bại dài nhất trong một mùa giải thuộc hệ thống bóng đá chuyên nghiệp Anh cho tới khi bị Arsenal vượt qua ở mùa giải 2003-04.[1]
- ^ a b Dân số Burnley đã giảm khoảng 20 phần trăm so với lần gần nhất câu lạc bộ vô địch First Division vào năm 1921.[24]
- ^ Tờ Burnley Advertiser đưa tin vào ngày 26 tháng 9 năm 1874 rằng một đội bóng bầu dục có tên “The Burnley Rovers Football Club” đã “vừa mới được thành lập”, và khi đó đã có 35 thành viên.[2]
- ^ Burnley từng đứng đầu bảng xếp hạng giữa ngày 25 và 26 tháng 8 năm 1959 sau trận đấu thứ hai của mình, nhưng rơi xuống vị trí thứ ba sau khi các đội khác hoàn tất trận đấu thứ hai của họ.[30]
- ^ a b UK Retail Price Index inflation figures are based on data from Clark, Gregory (2017). "The Annual RPI and Average Earnings for Britain, 1209 to Present (New Series)". MeasuringWorth. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
- ^ McIlroy bị bán cho Stoke City trong chiến dịch 1962-63 với giá £25.000, sau khi bị đưa vào danh sách chuyển nhượng. Điều này gây phẫn nộ trong giới cổ động viên Burnley, và một số người không bao giờ trở lại Turf Moor nữa.[35] Năm 1999, McIlroy cho biết tình bạn giữa ông với Reg Cooke, một giám đốc của Burnley và là đối thủ của chủ tịch Bob Lord, có thể đã khiến Lord bán ông đi.[36]
- ^ a b Nhà vô địch First Division 1972-73 là Liverpool cùng đội vô địch 1972-73 FA Cup là Sunderland đều từ chối tham dự 1973 FA Charity Shield, vì vậy Manchester City — đội đang giữ Charity Shield — và Burnley, nhà vô địch Second Division, đã gặp nhau thay thế.[38]
- ^ Burnley giữ sạch lưới kỉ lục 30 trận, không bao giờ để thủng lưới quá một bàn trong bất cứ trận nào, và trở thành đội đầu tiên cán mốc ba chữ số điểm ở cùng một hạng đấu trong hai dịp khác nhau (101 điểm ở mùa giải 2022-23 và 100 điểm ở mùa giải 2024-25).[79][80]
- ^ Khi bắt đầu mùa giải 2000-01, một thỏa thuận tài trợ dự kiến với Time Computers đã đổ vỡ, khiến Burnley phải thi đấu cả mùa giải mà không có nhà tài trợ trên áo. Trong vài trận cuối cùng của mùa giải, đội mặc áo có in địa chỉ trang web của câu lạc bộ.[87]
- ^ Buổi phát sóng, do đối tác Rezzil của câu lạc bộ phát triển, cho phép người xem có một vị trí ngồi ảo bên trong sân với góc nhìn toàn cảnh ra mặt sân, kèm bình luận trực tiếp, âm thanh khán giả xung quanh và các hình ảnh theo thời gian thực như nhận diện thương hiệu của câu lạc bộ và trang phục cầu thủ.[108][109]
- ^ a b c d Sau khi được thành lập vào năm 1992, Premier League trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; các hạng Football League First Division, Second Division và Third Division sau đó lần lượt trở thành các cấp độ thứ hai, thứ ba và thứ tư.[165] Từ năm 2004, First Division đổi tên thành Championship, Second Division đổi thành League One và Third Division đổi thành League Two.[166]
- ^ Cho tới năm 1993, nếu hòa, FA Charity Shield sẽ được chia sẻ giữa hai đội tham dự, mỗi đội giữ chiếc cúp trong sáu tháng. Burnley và Wolverhampton Wanderers hòa 2-2.[32][168]
- ^ Kể từ giữa thập niên 1990, câu lạc bộ sử dụng đội dự bị ở giải đấu này.[172]
- ^ Các cầu thủ chuyên nghiệp chỉ được phép chơi ở Cúp FA và các giải do liên đoàn quận tổ chức nếu họ sinh ra tại địa phương của câu lạc bộ hoặc đã cư trú trong bán kính sáu dặm (9,7 km) tính từ sân của câu lạc bộ trong tối thiểu hai năm.[5]
Tham khảo
Cụ thể
- ^ a b c "Remembering The Record Breakers". Burnley F.C. ngày 26 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Local News". Burnley Advertiser. 26 September 1874. p. 2.
- ^ a b Simpson (2007), p. 12
- ^ a b c Simpson, Ray (ngày 5 tháng 12 năm 2017). "The Story Of The Dr Dean Trophy". Burnley F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
- ^ a b c d e f g Simpson (2007), pp. 20-24
- ^ Butler (1991), p. 30
- ^ a b c Simpson (2007), pp. 28-30
- ^ Simpson (2007), pp. 35-36
- ^ a b c d e f g h i j k l Rundle, Richard. "Burnley". Football Club History Database. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ^ Simpson (2007), pp. 67-68
- ^ Simpson (2007), pp. 75-76
- ^ Dart, James; Bandini, Nicky (ngày 9 tháng 8 năm 2006). "The earliest recorded case of match-fixing". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
- ^ a b c Simpson (2007), p. 529
- ^ Simpson (2007), p. 83
- ^ Simpson (2007), pp. 6, 119, 186, 222
- ^ a b c Simpson (2007), pp. 540-542
- ^ a b c Simpson (2007), pp. 130-132
- ^ Felton, Paul; Spencer, Barry (ngày 31 tháng 10 năm 2013). "England 1919-20". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Edwards, Gareth; Felton, Paul (ngày 21 tháng 9 năm 2000). "England 1931-32". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), pp. 240-242
- ^ Simpson (2007), pp. 545-546
- ^ Quelch (2015), pp. 207-208
- ^ a b c d e McParlan, Paul (ngày 27 tháng 2 năm 2018). "Burnley, Total Football and the pioneering title win of 1959/60". These Football Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
- ^ a b c d e Quelch (2015), pp. 199-206
- ^ York, Gary (ngày 24 tháng 5 năm 2007). "John Connelly life story: Part 1". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
- ^ a b Marshall, Tyrone (ngày 24 tháng 3 năm 2017). "Training ground move a sign of our ambition, says Burnley captain Tom Heaton as Clarets move into their new home". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2020.
- ^ a b Ponting, Ivan (ngày 22 tháng 1 năm 1996). "Obituary: Harry Potts". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
- ^ Glanville, Brian (ngày 20 tháng 8 năm 2018). "Jimmy McIlroy obituary". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Quelch (2015), p. 197
- ^ Quelch (2015), pp. 72-76
- ^ Litterer, David A. (ngày 15 tháng 12 năm 1999). "USA – International Soccer League II". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ^ a b Simpson (2007), pp. 296-297
- ^ Simpson (2007), pp. 301-303
- ^ Shaw, Phil (ngày 18 tháng 1 năm 2016). "EFL Official Website Fifty-five years to the day: £20 maximum wage cap abolished by Football League clubs". English Football League. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
- ^ a b Simpson (2007), pp. 304-311
- ^ "Why Bob Lord sold me, by Jimmy McIlroy". Lancashire Telegraph. ngày 7 tháng 12 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
- ^ Simpson (2007), pp. 546-549
- ^ "Manchester City v Burnley, 18 August 1973". 11v11. AFS Enterprises. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2022.
- ^ Clayton, David (ngày 2 tháng 8 năm 2018). "City and the FA Community Shield: Complete record". Manchester City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ^ "The biggest FA Cup shocks in the history of the game". The Independent. ngày 18 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), pp. 357-358
- ^ Quelch (2017), pp. 17-20
- ^ a b c Simpson (2007), pp. 550-554
- ^ Quelch (2017), pp. 24-39
- ^ Davies, Tom (ngày 26 tháng 4 năm 2018). "Golden Goal: Neil Grewcock saves Burnley v Orient (1987)". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020.
- ^ Donlan, Matt (ngày 18 tháng 12 năm 2009). "Sherpa final a turning point in Burnley's history". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
- ^ Simpson (2007), pp. 420-423
- ^ a b Tyler, Martin (ngày 9 tháng 5 năm 2017). "Martin Tyler's stats: Most own goals, fewest different scorers in a season". Sky Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018.
- ^ a b "Club Honours & Records". Wolverhampton Wanderers F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ^ James, Alex (ngày 3 tháng 5 năm 2020). "A turning point in Burnley's history – story of dramatic 1998 last day drama by the man who saved the Clarets". Lancs Live. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), p. 454
- ^ Quelch (2017), pp. 197-202
- ^ Quelch (2017), pp. 204-213
- ^ Fletcher, Paul (ngày 25 tháng 5 năm 2009). "Burnley 1-0 Sheff Utd". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ King, Ian (ngày 6 tháng 3 năm 2009). "England League Cup 2008/09". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Smith, Rory (ngày 9 tháng 8 năm 2017). "When the Premier League Puts Your Town on the Map". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Bournemouth: The minnows who made the Premier League". BBC Sport. ngày 28 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Coyle Hails Best Win Yet". Burnley F.C. ngày 6 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2018.
- ^ Quelch (2017), pp. 282-291
- ^ "Burnley: Sean Dyche named as new manager at Turf Moor". BBC Sport. ngày 30 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
- ^ Quelch (2017), pp. 318-332
- ^ a b Marshall, Tyrone (ngày 7 tháng 5 năm 2016). "'It means a lot' – Sean Dyche hails Burnley's title triumph after Charlton victory". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
- ^ Sutcliffe, Steve (ngày 13 tháng 5 năm 2018). "Burnley 1-2 Bournemouth". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Johnston, Neil (ngày 30 tháng 8 năm 2018). "Burnley 1-1 Olympiakos (2-4 on agg)". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
- ^ a b Wood, Liam (ngày 1 tháng 2 năm 2021). "Burnley chairman Alan Pace reported to be in market for takeover at Serie A club Spezia". Lancs Live. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ^ a b c d e Geldard, Suzanne (ngày 31 tháng 12 năm 2020). "Burnley's takeover by American company ALK Capital complete". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ^ Ostlere, Lawrence (ngày 22 tháng 5 năm 2022). "Burnley relegated from Premier League after defeat by Newcastle as Leeds survive on final day". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022.
- ^ Kotasthane, Kalash (ngày 16 tháng 6 năm 2022). "Getting to Know: Burnley". Coventry City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
- ^ Ducker, James (ngày 11 tháng 11 năm 2022). "How Vincent Kompany turned Burnley from route one merchants to entertainers". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
- ^ Goodlad, Nat (ngày 8 tháng 4 năm 2023). "Famous faces react after Burnley win promotion to the Premier League". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2023.
- ^ a b Hurcom, Sophie (ngày 25 tháng 4 năm 2023). "Burnley beat Blackburn to win Championship title". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Tables". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Burnley 1-2 Nottingham Forest: Key stats". BBC Sport. ngày 19 tháng 5 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Vincent Kompany: Bayern Munich appoint Burnley boss as new head coach to replace Thomas Tuchel". Sky Sports. ngày 29 tháng 5 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2024.
- ^ Scrafton, Matt (ngày 29 tháng 5 năm 2024). "Burnley boss Vincent Kompany lands in Munich ahead of unveiling as new Bayern manager". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2024.
- ^ a b Brennan, Stuart (ngày 21 tháng 4 năm 2025). "Burnley 2-1 Sheffield United: Clarets promoted along with Leeds". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2025.
- ^ a b c d e Parker, Ian (ngày 3 tháng 5 năm 2025). "Record-breaking Clarets win, but miss out on title". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b Ducker, James (ngày 17 tháng 1 năm 2025). "Burnley have England's meanest defence with these talented youngsters". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
- ^ a b Scrafton, Matt (ngày 4 tháng 5 năm 2025). "Verdict: Burnley's record-breaking, promotion-winning season doesn't get the fairytale ending it deserved". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b "Sky Bet Championship: Post-match stat pack". English Football League. ngày 3 tháng 5 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Burnley 3-1 Millwall: Burnley miss Championship title on goal difference despite plundering 100 points". Sky Sports. ngày 3 tháng 5 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b c d e f g Simpson (2007), p. 586
- ^ a b c d e f g h i j k Moor, Dave. "Burnley". Historical Football Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
- ^ "The Clarets are back!" Burnley Express. 17 tháng 7 năm 1946. p. 4.
- ^ Geldard, Suzanne (ngày 2 tháng 6 năm 2007). "No 10: The meeting that gave birth to Clarets". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Burnley v. Chesterfield". Northern Daily Telegraph. 5 tháng 9 năm 1903. p. 4.
- ^ "Clarets in record deal". Lancashire Telegraph. 12 tháng 6 năm 2001. p. 39.
- ^ "Poco put their shirt on Clarets". Burnley Express. 24 tháng 9 năm 1982. p. 31.
- ^ Carp, Sam (ngày 2 tháng 10 năm 2017). "Burnley score first ever sleeve sponsor". SportsPro. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2025.
- ^ Moor, Dave. "English FA Cup Finalists 1946 – 1949". Historical Football Kits. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), p. 341
- ^ a b Thomas, Andi (ngày 16 tháng 1 năm 2015). "Why Burnley's badge is the best in the Premier League". SB Nation. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
- ^ Cook, Glenn (ngày 15 tháng 6 năm 2023). "Burnley FC Update Crest Ahead of Premier League Return". SportsLogos.net. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2023.
- ^ Scrafton, Matt (ngày 10 tháng 7 năm 2024). "Burnley unveil new Longside Stand-inspired home kit for 2024/25 Championship campaign". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2024.
- ^ a b Eijden, Han van (ngày 27 tháng 9 năm 2010). "Burnley". The Beautiful History. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2019.
- ^ a b c d e "The Turf Moor Story". Burnley F.C. ngày 3 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
- ^ a b c d e Simpson (2007), p. 574
- ^ Bennett (1948), pp. 258-259
- ^ Simpson (2007), p. 575
- ^ Wiseman (2009), pp. 17-18
- ^ a b Wiseman (2009), p. 15
- ^ Quelch (2015), p. 158
- ^ Quelch (2017), pp. 149-151
- ^ "Disabled Fans To Get New Facilities In Turf Moor Facelift". Burnley F.C. ngày 11 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Supporter Information: Accessible Stands and VAR". Burnley F.C. ngày 9 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Burnley FC Stadium". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Welcome to Turf Moor – Visiting Supporters Guide" (PDF). Tottenham Hotspur F.C. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
- ^ a b Bickerton, Jake (ngày 30 tháng 7 năm 2025). "Burnley FC unveils first-ever VR matchday broadcast". Broadcast. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b Faccini, Niccolò (ngày 9 tháng 8 năm 2025). "Burnley-Lazio 0-1: Cancellieri decide l'amichevole delle traverse. Zaccagni sbaglia dal dischetto, centrocampo in enorme difficoltà" [Burnley–Lazio 0-1: Cancellieri quyết định trận giao hữu của những cú dội xà. Zaccagni đá hỏng phạt đền, hàng tiền vệ gặp rất nhiều khó khăn]. Il Messaggero (bằng tiếng Ý). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
- ^ Taylor (2013), p. 196
- ^ Johnson, William (ngày 27 tháng 12 năm 2001). "Burnley's head for heights". The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2019.
- ^ "Burnley Performance Stats". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021. Individual seasons accessed via dropdown menu.
- ^ "Burnley – local data profile" (PDF). gov.uk. Government Digital Service. tháng 3 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
- ^ Simpson (2007), pp. 194-195
- ^ "Supporters Clubs, Groups, Associations and Trusts". Burnley F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
- ^ Marshall, Jack (ngày 17 tháng 4 năm 2018). "Clarets across borders: Turf Moor's Dutch tribute to Burnley expat". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
- ^ Pichel, Dominique (ngày 11 tháng 11 năm 2022). "Bijzondere vriendschap met Engelse club geëerd op uitshirt van Helmond Sport" [Tình bạn đặc biệt với câu lạc bộ Anh được tôn vinh trên áo sân khách của Helmond Sport]. Eindhovens Dagblad (bằng tiếng Hà Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Helmond Sport / 24 juli 2023" [Helmond Sport / 24 July 2023] (bằng tiếng Hà Lan). Helmond Sport. ngày 24 tháng 7 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2023.
- ^ Barnes, Paulinus (ngày 21 tháng 10 năm 1992). "Football: Fan's Eye view No. 10: Beating Clarets' blues: Burnley". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2020.
- ^ "Turf war fear for Turf Moor". The Guardian. ngày 16 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
- ^ Plunkett, Susan (ngày 9 tháng 4 năm 2019). "Former Burnley pub that featured in football hooligan documentary up for sale". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2019.
- ^ Chadderton, Sam (ngày 19 tháng 1 năm 2011). "Burnley 'Suicide Squad' hooligans jailed for 32 years over East Lancs derby clash". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
- ^ Brewin, John (ngày 4 tháng 2 năm 2015). "Hooliganism in England: The enduring cultural legacy of football violence". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
- ^ Smith (1963), p. 34
- ^ Simpson (2007), p. 572
- ^ "Famous Fans". Burnley F.C. ngày 31 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2020.
- ^ "Prince of Wales supports Burnley Football Club". The Telegraph. ngày 15 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Pope hears of Claret's Premier League promotion joy". Lancashire Telegraph. ngày 28 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2024.
- ^ "UEFA's 2019 #EqualGame Award winners – Borussia Dortmund and Burnley FC fan". UEFA. ngày 28 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
- ^ Lomas, Jon (ngày 17 tháng 12 năm 2019). "Burnley fan Scott Cunliffe discusses what's next following the completion of his 'RunAway' challenge earlier this year". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Benedictine Man of the Match". Burnley F.C. ngày 7 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Turf Moor only football ground in the UK to serve Bénédictine". Burnley Express. ngày 25 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2021.
- ^ a b Bennett (1951), pp. 226-227
- ^ "Annual meeting of the Burnley Football Club". Burnley Express. 30 June 1883. p. 7.
- ^ "The Burnley Football Charity Cup". Manchester Courier and Lancashire General Advertiser. 30 June 1883. p. 7.
- ^ "Lancashire Cup competition – first round". Blackburn Standard. 16 October 1886. p. 2.
- ^ Simpson (2007), p. 31
- ^ Simpson (2007), p. 27
- ^ "Lancashire Senior Challenge Cup". The Manchester Guardian. 25 October 1886. p. 7.
- ^ "Football". Liverpool Mercury. 23 October 1886. p. 7.
- ^ "Nuggets". Football Field. 16 April 1887. p. 6.
- ^ Simpson (2007), pp. 18-29
- ^ a b Mitten, Andy (ngày 1 tháng 5 năm 2005). "More Than A Game: Blackburn vs Burnley". FourFourTwo. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
- ^ a b Croydon, Emily (ngày 30 tháng 11 năm 2012). "Burnley v Blackburn Rovers: Is this football's most passionate derby?". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019.
- ^ a b "Burnley football club: record v Blackburn Rovers". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Matthews, Martin (ngày 7 tháng 10 năm 2009). "History of the Blackburn Rovers v Burnley derby: part one". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Wiseman (2009), p. 9
- ^ a b Wiseman (2009), pp. 137-138
- ^ a b "Rivalry Uncovered!" (PDF). Football Fans Census. ngày 3 tháng 2 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
- ^ Flanagan, Chris (ngày 6 tháng 12 năm 2010). "Leighton James: Leeds United rivalry makes it huge for Burnley". Lancashire Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2019.
- ^ a b "Men". Burnley F.C. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
- ^ "2025/26 Squad numbers confirmed". Burnley F.C. ngày 30 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.
- ^ Simpson (2007), pp. 548-556
- ^ Peskett & Williams (1970), p. 57
- ^ Conn, David (ngày 2 tháng 2 năm 2021). "Burnley's US takeover has left club £90m worse off and loaded with debt". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2022.
- ^ Stone, Simon (ngày 4 tháng 5 năm 2022). "Burnley face 'significant' loan repayment if relegated, accounts show". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2022.
- ^ Black, Dan (ngày 2 tháng 5 năm 2023). "US sporting superstars JJ Watt and Kealia Watt on becoming part of a 'special club with incredible supporters' in Burnley". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2023.
- ^ Scrafton, Matt (ngày 8 tháng 8 năm 2023). "YouTube group Dude Perfect join JJ Watt in taking minority stake in Burnley FC". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
- ^ Scrafton, Matt (ngày 14 tháng 7 năm 2025). "Alan Pace agrees takeover of Spanish side Espanyol as Burnley joins multi-club model". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Burnley FC Key Personnel & Club Information". Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
- ^ Simpson (2007), p. 6
- ^ "Garlick and Banaszkiewicz replace Kilby as Burnley co-chairmen". BBC Sport. ngày 26 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
- ^ "Mike Garlick becomes sole Burnley chairman". Sky Sports. ngày 28 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
- ^ "Burnley Football Club honours". 11v11. AFS Enterprises. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
- ^ "History Of The Football League". The Football League. ngày 22 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2013.
- ^ "League gets revamp". BBC Sport. ngày 10 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2020.
- ^ Ross, James M. (ngày 1 tháng 9 năm 2020). "England – List of FA Charity/Community Shield Matches". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.
- ^ "The FA Community Shield history". The Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2020.
- ^ Lewis, Tom (ngày 20 tháng 12 năm 2007). "Anglo-Scottish Cup & Texaco Cup – Full Results". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2020.
- ^ Các mùa giải vô địch được dẫn từ cuốn The Clarets Chronicles (2007) của Ray Simpson. Những mùa giải vô địch từ năm 2007 trở đi được dẫn từ các nguồn khác.
- ^ Whitaker, Alec (ngày 31 tháng 8 năm 2023). "Barrow AFC suffer agonising penalty defeat in Senior Cup Final". The Mail. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- ^ Simpson (2007), pp. 509-510
- ^ a b Simpson (2007), pp. 492, 539
- ^ Wiseman (2009), p. 88
- ^ Ross, James M. (ngày 30 tháng 7 năm 2020). "English League Leading Goalscorers". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), pp. 532-538
- ^ Simpson (2007), p. 13
- ^ Turner, Georgina (ngày 25 tháng 9 năm 2013). "Was Jesse Lingard's debut for Birmingham the most prolific ever?". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2020.
- ^ Simpson (2007), p. 210
- ^ Sawyer, Rob (ngày 5 tháng 10 năm 2019). "Remembering Tommy Lawton". Everton F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
- ^ Simpson, Ray (ngày 11 tháng 12 năm 2013). "History Re-Written". Burnley F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2021.
- ^ a b c d "Burnley scoring and sequence records". Statto. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
- ^ Scrafton, Matt (ngày 29 tháng 7 năm 2025). "James Trafford completes Man City switch – becoming Burnley's record sale". Burnley Express. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Burnley sign midfielder Ugochukwu from Chelsea". BBC Sport. ngày 6 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ^ Hobbs, Matthew (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "A big risk for a record fee?". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
- ^ O'Brien, John (ngày 9 tháng 8 năm 2016). "Evolution of world record transfers since 1893". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
Tài liệu dẫn
- Bennett, Walter (1948). The History of Burnley 1650-1850. Burnley Corporation. ASIN B0032OO3MM.
- Bennett, Walter (1951). The History of Burnley from 1850. Burnley Corporation. ASIN B001HBTW7S.
- Butler, Bryon (1991). The Official History of The Football Association. Queen Anne Press. ISBN 0-356-19145-1.
- Peskett, Roy; Williams, Tony (1970). Rothmans Football Yearbook 1970-71. Queen Anne Press. ISBN 0-362-00071-9.
- Quelch, Tim (2015). Never Had It So Good: Burnley's Incredible 1959/60 League Title Triumph. Pitch Publishing Ltd. ISBN 978-1-909626-54-6.
- Quelch, Tim (2017). From Orient to the Emirates: The Plucky Rise of Burnley FC. Pitch Publishing Ltd. ISBN 978-1-78531-312-7.
- Simpson, Ray (2007). The Clarets Chronicles: The Definitive History of Burnley Football Club 1882-2007. Burnley F.C. ISBN 978-0-9557468-0-2.
- Smith, Stratton (1963). The International Football Book for Boys No. 5. Souvenir Press. ASIN B000KHKII2.
- Taylor, Matthew (2013). The Association Game: A History of British Football. Routledge. ISBN 978-1-317-87008-1.
- Wiseman, David (2009). The Burnley FC Miscellany. DB Publishing. ISBN 978-1-85983-717-7.
Liên kết ngoài
- Website chính thức

- Burnley trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả và lịch thi đấu gần đây
- Burnley tại Sky Sports
- Burnley tại Premier League
- Burnley tại UEFA
- Clarets Mad
- The Longside – Bách khoa toàn thư trực tuyến về The Clarets (bản lưu trữ)
- Clarets Trust
Bản mẫu:Burnley F.C.Bản mẫu:Mùa giải Burnley F.C.
Bản mẫu:Văn hóa Khu Burnley