Trương Chính (phê bình văn học)
Phó Giáo sư, nhà phê bình văn học Trương Chính | |
|---|---|
| Sinh | 16 tháng 7, 1916 Can Lộc, Hà Tĩnh |
| Mất | 7 tháng 10, 2004 (88 tuổi) Hà Nội |
| Quốc tịch | |
| Nghề nghiệp | giảng dạy, nghiên cứu |
| Chức vị | Phó Giáo sư |
| Đảng phái chính trị | |
| Danh hiệu | Nhà giáo Ưu tú |
| Sự nghiệp khoa học | |
| Ngành | phê bình văn học |
| Nơi công tác | |
| Công trình nổi bật | Tuyển tập Trương Chính (về Văn học Việt Nam) ( 2 tập) |
Giải thưởng Giải thưởng Nhà nước 2000 Khoa học Công nghệ | |
Trương Chính (1916 – 2004) là nhà phê bình văn học, dịch giả Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) năm 2000. Ông được phong học hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú.
Tiểu sử
Trương Chính sinh ngày 16 tháng 7 năm 1916 tại xã Thuận Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Thời niên thiếu, ông học ở trường Quốc học Vinh, sau đó theo học chương trình tú tài ở Hà Nội.[1]
Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm việc ở Bộ Giao thông công chính. Năm 1952, ông được cử sang Trung Quốc học Trung văn rồi được giữ lại Khu học xá trung ương dịch sách giáo dục học. Năm 1956, ông về nước, làm việc ở Ban Tu thư trung ương (sau này là Nhà xuất bản Giáo dục) làm công việc soạn sách giáo khoa theo Chương trình mới.
Năm 1959, ông chuyển về làm giảng viên dạy môn Văn học Trung Quốc tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông nghỉ hưu vào năm 1979.[1]
Ông qua đời ngày 7 tháng 10 năm 2004 tại Hà Nội.[1]
Sự nghiệp
— Trương Chính, [1]
Trương Chính bắt đầu sự nghiệp viết văn bằng các bài phê bình với tinh thần trung thực thẳng thắn khen chê và đầy tự tin, bản lĩnh. Ngoài công việc chính là giảng dạy, nghiên cứu lý luận phê bình văn học, ông đã chủ biên hoặc tham gia biên soạn nhiều tài liệu, tư liệu về lịch sử văn học Việt Nam, văn học Trung Quốc. Ông còn là dịch giả tiếng Trung của nhiều tác phẩm nổi tiếng của Trung Quốc hoặc dịch qua ngôn ngữ tiếng Trung.
Cho đến những năm trên 80 tuổi ông vẫn còn công bố công trình cuối cùng: Giải thích những từ gần âm, gần nghĩa dễ nhầm lẫn in lần đầu năm 1997, đến nay đã được tái bản rất nhiều lần.
| “ | Về phương diện dịch, giới thiệu, nghiên cứu văn học Trung Quốc, sau Đặng Thai Mai, anh xứng đáng được xếp vào vị trí “Á quân". | ” |
| — giáo sư Nguyễn Khắc Phi.[1] | ||
Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) với công trình Tuyển tập Trương Chính (về Văn học Việt Nam - 2 tập).[2]
Công trình chính
- Dưới mắt tôi (1939)
- Tuyển tập Trương Chính (2 tập) năm 1997
- Giải thích những từ gần âm, gần nghĩa dễ nhầm lẫn (in lần đầu năm 1997)
Dịch
- Bàng hoàng; Gào thét; Chuyện cũ viết lại; Tạp văn tuyển tập của văn hào Lỗ Tấn.
- Tiếng chuông cảnh tỉnh trước thế kỷ XXI (1993), Trò chuyện cùng các bạn gái (1995) của học giả Nhật Daisaku Ikeda.
- Tường lạc đà của Lão Xá; Nửa đêm của Mao Thuẫn; Bài ca tuổi trẻ của Dương Mạt; Ông giáo Chi của Diệp Thánh Đào (dịch cùng Đặng Đức Siêu).
- Lịch sử văn học Trung Quốc (1993) (dịch cùng Nguyễn Thạch Giang, Phan Văn Các; Đàm Gia Kiện chủ biên)
Biên soạn và giới thiệu
- Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam gồm 3 tập (đồng tác giả với Nhóm Lê Quý Đôn)
- Thơ văn Nguyễn Công Trứ
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du (cùng Lê Thước)
- Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm (cùng Nguyễn Thạch Giang)
- Thơ Tống (chủ biên, dịch và viết Lời giới thiệu)
- Viết Lời giới thiệu các cuốn Thơ Đỗ Phủ, và tập 2 bộ Thơ Đường 2 tập
Nguồn:[1]
Vinh danh
- Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ năm 2000
- Nhà giáo Ưu tú
Tham khảo
- 1 2 3 4 5 6 Huy Huyền, Phan Thị Quỳnh An. "Phó Giáo sư Nhà giáo ưu tú Trương Chính". Bảo tàng di sản các nhà khoa học Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Các công trình KH&CN được Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước". chinhphu.vn. ngày 21 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2025.