Bước tới nội dung

Bùi Duy Tân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phó Giáo sư, nhà nghiên cứu văn học sử

Bùi Duy Tân
Sinh(1932-10-20)20 tháng 10, 1932
Thôn Trung Hòa, xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tam Chúc), tỉnh Ninh Bình
Mất31 tháng 10, 2009(2009-10-31) (77 tuổi)
Hà Nội
Quốc tịch Việt Nam
Trường lớpĐại học Tổng hợp Hà Nội
Nghề nghiệpgiảng dạy, nghiên cứu
Đảng phái chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Danh hiệu
Học hàmPhó Giáo sư
Sự nghiệp khoa học
Ngànhvăn học sử
Nơi công tácĐại học Tổng hợp Hà Nội
Công trình nổi bật
  • Khảo và luận một số thể loại, tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (2 tập)
Binh nghiệp
Thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1950 -1952

Giải thưởng
Giải thưởng Nhà nước 2005
Khoa học Công nghệ

Bùi Duy Tân (20 tháng 10 năm 193231 tháng 10 năm 2009) là nhà nghiên cứu văn học sử Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) năm 2005. Ông được phong học hàm Phó Giáo sư (1984) và danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (2008).

Tiểu sử

Bùi Duy Tân sinh ngày 20 tháng 10 năm 1932 tại thôn Trung Hòa, xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tam Chúc), tỉnh Ninh Bình.[1]

Trong những năm 1947 đến 1950, ông tham gia phong trào bình dân học vụ và tuyên truyền tại địa phương.

Từ năm 1950, ông tham gia quân đội và hoạt động ở vùng địch hậu ở Liên khu III. Giữa năm 1952, bị bệnh, ông giải ngũ về làm cán bộ thuế của xã, sau đó làm cán sự địch vận và hoạt động thanh niên ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định.

Ông là sinh viên khóa I của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956 - 1959), được giữ lại làm giảng viên môn Văn học cổ Việt Nam. Năm 1968, ông tốt nghiệp bằng đại học thứ hai chuyên ngành Hán - Nôm.[1]

Ông được phong hàm Phó Giáo sư năm 1984; được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1997 và Nhà giáo Nhân dân năm 2008. Ông cũng từng làm Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn (1982-1984).[2]

Ông nghỉ hưu vào năm 2001 và qua đời ngày 31 tháng 10 năm 2009.[1]

Sự nghiệp

Bùi Duy Tân thuộc thế hệ đầu tiên được chính Trường Đại học Tổng hợp đào tạo bài bản để trở thành những nhà nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp. Từ khi được giữ lại trường công tác, ông đã có trên 40 năm nghiên cứu văn học và giảng dạy từ bình dân học vụ, phổ thông cho đến đại học và trên đại học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), trở thành một tên tuổi trong giới nghiên cứu văn học sử của Việt Nam.[2]

Ông đã góp phần đào tạo hàng ngàn sinh viên, hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ cho đất nước.[1]

Trong sự nghiệp nghiên cứu, ông có được thành quả rất sớm: Ông cùng các GS. Đinh Gia Khánh và Mai Cao Chương hoàn thành bộ giáo trình Văn học cổ Việt Nam vào năm 1964; tham gia biên soạn các loại từ điển văn học, xây dựng bộ Tổng tập văn học Việt Nam, các giáo trình, hợp tuyển, sách tham khảo và hàng trăm bài khảo cứu về các vấn đề lịch sử văn học dân tộc; những khảo luận, chuyên đề về các tác gia văn học trung đại như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bảo, Thái Thuận, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Tông Quai...[1]

Năm 2005, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) với công trình Khảo và luận một số thể loại, tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (2 tập).[3]

Công trình chính

  • Văn học cổ Việt Nam (viết chung), 1964.
  • Sái Thuận - Nhà thơ lớn nhất cổ Kinh Bắc (chủ biên), 1978.
  • Từ điển bách khoa Việt Nam - tập I (viết chung), 1995.
  • Văn học Việt Nam thế kỷ X nửa đầu thế kỷ XVIII (viết chung), 1979, tái bản 7.
  • Sáu trăm năm Nguyễn Trãi (viết chung), 1982.
  • Từ điển văn học. Tập I và II (viết chung), 1983 - 1984.
  • Nguyễn Bảo và “Châu Khê thi tập”, 1991.
  • Nguyễn Bỉnh Khiêm - Danh nhân văn hoá (viết chung), 1991.
  • Đào Duy Từ - Thân thế và sự nghiệp (viết chung), 1993.
  • Tương đồng văn hoá Hàn Quốc - Việt Nam (viết chung).
  • Tổng tập văn học Việt Nam, tập 6 (chủ biên), 1997.
  • Tổng tập văn học Việt Nam, tập 7 (chủ biên), 1997.
  • Lê Thánh Tông - con người và sự nghiệp (viết chung), 1998.
  • Hoàng đế Lê Thánh Tông (viết chung), 1998.
  • Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đều thế kỷ XX (viết chung), 1998.
  • Giáo trình văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, 1998.
  • Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, tập A - thế kỷ X - XV (chủ biên), 1999.
  • Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, tập B - thế kỷ XVI - nửa đầu XVIII (chủ biên), 1999.
  • Khảo và luận một số gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập I), 1999.
  • Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: tác gia - tác phẩm (chủ biên), 2000.
  • Khảo và luận một số gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (Tập II), 2001.
  • Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, tập 1 (chủ biên), 2004.
  • Theo dòng khảo luận, 2005.

Nguồn:[4]

Vinh danh

  • Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ năm 2005
  • Nhà giáo Nhân dân (2008)
  • Nhà giáo Ưu tú (1997)

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 NHS (ngày 15 tháng 11 năm 2011). "Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt Nam". Văn hóa Nghệ An. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
  2. 1 2 TS. Đỗ Thu Hiền (ngày 25 tháng 9 năm 2015). "PGS.NGND Bùi Duy Tân - một đời đam mê văn học sử". Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
  3. "Giải thưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước về KH&CN năm 2005". VUSTA. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2024.
  4. "PGS Bùi Duy Tân". Đại học Quôc gia Hà Nội. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.

Xem thêm