Bùi Văn Nguyên
Giáo sư, nhà nghiên cứu văn học dân gian Bùi Văn Nguyên | |
|---|---|
| Sinh | 1918 Nghi Hưng, Nghi Lộc, Nghệ An |
| Mất | 2 tháng 4, 2003 (84–85 tuổi) Hà Nội |
| Quốc tịch | |
| Tên khác |
|
| Trường lớp | Đại học Văn khoa Hà Nội |
| Nghề nghiệp | giảng dạy, nghiên cứu |
| Đảng phái chính trị | |
| Danh hiệu | Nhà giáo Ưu tú (1989) |
| Học hàm | Giáo sư (1984) |
| Khen thưởng | |
Chức vụ Tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (1984-1989) | |
| Sự nghiệp khoa học | |
| Ngành | văn học dân gian |
| Nơi công tác | Đại học Sư phạm Hà Nội |
| Công trình nổi bật |
|
Giải thưởng Giải thưởng Nhà nước 2005 Khoa học Công nghệ | |
Bùi Văn Nguyên (1918 – 2003) là nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) năm 2005. Ông được phong học hàm Giáo sư (1984) và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú (1989).
Tiểu sử
Bùi Văn Nguyên (bút danh Vân Trình, Khuê Hoa Tử, Hùng Nam Yến, Tú Gầy) sinh năm 1918 tại xã Nghi Hưng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, theo các giấy tờ chính thức thì ông sinh ngày 13 tháng 4 năm 1923, theo lời ông, đây là khai rút đi 5 tuổi. Thuở nhỏ ông học chữ Hán, sau mới đi học chữ Pháp.[1] Sau khi đậu Tú tài, có thời gian ông làm công chức ngành Bưu điện ở Biên Hoà.
Sau Cách mạng, ông vào học Đại học Văn khoa Hà Nội.[2] Cuối năm 1946, ông về dạy học ở quê nhà. Sau khi hòa bình lập lại, ông được cử làm Hiệu trưởng trường cấp 3 Phan Đình Phùng, Hà Tĩnh.
Năm 1957, ông là giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông là người sáng lập và nhiều năm giữ vai trò Chủ nhiệm Bộ môn Văn học dân gian và Văn học viết trung đại Việt Nam.[2] Ông là Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam giai đoạn 1984-1989.[3]
Năm 1984, ông được Nhà nước phong chức danh Giáo sư. Năm 1989, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Năm 1990, ông nghỉ hưu tại Hà Nội.[1]
Ông qua đời ngày 2 tháng 4 năm 2003 tại Hà Nội.[3]
Sự nghiệp
Bùi Văn Nguyên là nhà nghiên cứu văn học dân, nhà sưu tầm, biên soạn và dịch thuật văn học dân gian. Ông là bậc thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò, đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu và biên khảo, dịch thuật, truyện ký danh nhân và các bộ giáo trình văn học sử tiêu biểu.[4]
Ông là tác giả của 30 công trình khoa học (30 cuốn sách), là đồng tác giả của 70 cuốn sách,[2] tiêu biểu là: Văn học Việt Nam, sáu tập (soạn chung, 1961, 1962), Nguyễn Trãi (Truyện ký, 1980), Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn (1980), Văn chương Nguyễn Trãi (1984), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai tập (1988), Tân đính Lĩnh Nam chích quái (1993), Ức Trai di tập bổ sung (1994), Kinh Dịch Phục Hy - Đạo người trung chính thức thời (1997), v.v...[3][4]
Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn không ngừng nghiên cứu khoa học. Những cuốn sách ra đời gần đây nhất - Việt Nam truyện cổ triết lý và tình thương (1991); Việt Nam, thần thoại và truyền thuyết (1993); Việt Nam truyền thống, sức sống trường tồn (1996) - là những công trình nghiên cứu cuối cùng của ông.[1]
Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì.[2]
Năm 2005, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (lĩnh vực Khoa học Xã hội) với cụm công trình về Nguyễn Trãi, gồm: Nguyễn Trãi và Bản hùng ca đại cáo (1999); Văn chương Nguyễn Trãi rực ánh sao Khuê (2000).[5]
Công trình chính
- Tổng tập Văn học Việt Nam (chủ biên, tập 4 và tập 5);
- Nguyễn Trãi (Truyện ký, 1980),
- Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn (1980),
- Văn chương Nguyễn Trãi (1984),
- Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai tập (1988),
- Tân đính Lĩnh Nam chích quái (1993),
- Ức Trai di tập bổ sung (1994),
- Kinh Dịch Phục Hy - Đạo người trung chính thức thời (1997),
- Nguyễn Trãi – danh nhân truyện ký (1980);
- Nguyễn Bỉnh Khiêm – danh nhân truyện ký (1983);
- Hồng Đức quốc âm thi tập (cùng với Phạm Trọng Điềm, phiên âm, chú giải, giới thiệu (1962, 1982);
- Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, thế kỷ X - thế kỷ XVII, biên soạn cùng với Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San, (1962, 1976);
- Thơ ca Việt Nam: Hình thức và thể loại (viết cùng Hà Minh Đức - 1971);
- Tư liệu tham khảo Văn học Việt Nam, tập 2 (1979);
- Tác gia Nguyễn Trãi trong nhà trường Đại học Sư phạm (1980);
- Giảng văn, 2 tập (chủ biên, 1982);
- Văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm (1988);
- Thơ quốc âm Nguyễn Trãi (1994);
- Lê Thánh Tông: Tao Đàn nguyên soái;
- Bạch Vân Quốc ngữ thi tập (1989);
- Nguyễn Du người tình và Nguyễn Du tình người;
- Truyền thuyết Hồ Tây;
- Việt Nam: cội nguồn trăm họ;
- Việt Nam truyện cổ triết lý và tình thương (1991);
- Việt Nam, thần thoại và truyền thuyết (1993)
- Việt Nam truyền thống, sức sống trường tồn (1996);
Vinh danh
- Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ năm 2005
- Nhà giáo Ưu tú (1989)
Khen thưởng
- Huân chương Kháng chiến hạng Ba
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất
- Huân chương Lao động hạng Nhì
Tham khảo
- 1 2 3 Vu Nguyen HNUE (ngày 9 tháng 10 năm 2020). "Nhà nghiên cứu văn học dân gian Bùi Văn Nguyên". Đại học Sư phạm Hà Nội. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 Cẩm Hà (ngày 8 tháng 4 năm 2025). "Giáo sư, NGƯT Bùi Văn Nguyên, một nhà giáo tâm huyết, một nhà khoa học lớn". Trường THPT Phan Đình Phùng. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 Nguyễn Công Lý (ngày 6 tháng 6 năm 2013). "Giáo sư Bùi Văn Nguyên như tôi được biết". Đaị học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn (ngày 12 tháng 4 năm 2013). "Hành trình của GS. Bùi Văn Nguyên với tạp chí Văn học". Báo Tổ quốc. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Giải thưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước về KH&CN năm 2005". VUSTA. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2024.