Bước tới nội dung

Rotherham United F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Rotherham United)
Rotherham United
Tập tin:Rotherham United F.C. svg.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Rotherham United
Biệt danhThe Millers
Thành lập27 tháng 5 năm 1925; 100 năm trước (1925-05-27)
SânSân vận động New York
Sức chứa12.021
Chủ tịch điều hànhTony Stewart
Người quản lýLee Clark
Giải đấuLeague One
2024-25League One, thứ 13 trên 24
Websitethemillers.co.uk
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Rotherham United (tiếng Anh: Rotherham United Football Club), có biệt danh The Millers,[1] là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Rotherham, South Yorkshire, Anh. Đội hiện thi đấu tại EFL League One, hạng đấu cao thứ ba của bóng đá Anh, sau khi bị rớt hạng từ EFL Championship ở mùa giải 2023-24. Màu áo của câu lạc bộ ban đầu là vàng và đen, nhưng được đổi sang đỏ và trắng vào khoảng năm 1930.[2] Đội đã thi đấu các trận sân nhà tại Sân vận động New York từ năm 2012, sau quãng thời gian ngắn chuyển tới Sân vận động Don Valley vào năm 2008 từ sân nhà ban đầu là Millmoor.

Câu lạc bộ được thành lập từ sự sáp nhập giữa Rotherham County và Rotherham Town vào năm 1925 và lập tức được xếp thi đấu tại Football League. Họ giành quyền thăng hạng với tư cách vô địch Third Division North ở mùa giải 1950-51, đồng thời là đội á quân của trận chung kết League Cup đầu tiên vào năm 1961, khi thua Aston Villa với tổng tỉ số 2-3. Sau mười bảy mùa giải tại Second Division, các lần rớt hạng tiếp theo diễn ra vào năm 1968 và 1973. Đội giành quyền thăng hạng từ Fourth Division ở mùa giải 1974-75, rồi sau đó vô địch Third Division ở mùa giải 1980-81. Những lần rớt hạng vào các năm 1983 và 1988 tạo cơ hội để Rotherham vô địch Fourth Division mùa giải 1988-89, dù họ phải giành thêm một suất thăng hạng nữa vào mùa giải 1991-92 sau khi rớt hạng ở mùa giải trước đó. Họ đánh bại Shrewsbury Town 2-1 trong trận chung kết năm 1996 của Football League Trophy.

Dưới thời Ronnie Moore, Rotherham giành hai lần thăng hạng liên tiếp ở các mùa giải 1999-2000 và 2000-01. Họ trụ lại hạng hai trong bốn mùa giải, nhưng rồi rớt hạng hai lần trong vòng ba năm tính đến năm 2007. Câu lạc bộ sau đó lại có thêm hai lần thăng hạng liên tiếp, lần này dưới sự dẫn dắt của Steve Evans, giành quyền thăng hạng trực tiếp từ League Two ở mùa giải 2012-13 và thăng hạng từ League One thông qua play-off ở mùa giải 2013-14. Câu lạc bộ qua lại giữa Championship và League One trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2016-17 đến 2021-22, vô địch play-off vào năm 2018 đồng thời giành luôn Chung kết EFL Trophy 2022.

Lịch sử Rotherham United F.C.

Bộ trang phục đầu tiên của Rotherham United (1925)

Nguồn gốc của câu lạc bộ có từ năm 1877, khi đội bóng được thành lập dưới tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Thornhill (sau này là Thornhill United).[3] George Cook là huấn luyện viên vào khoảng thời gian này. Trong nhiều năm, đội bóng hàng đầu ở khu vực là Rotherham Town, đội đã trải qua ba mùa giải tại Football League trong khi Thornhill United vẫn còn chơi tại Sheffield & Hallamshire League. Tuy nhiên, đến đầu thế kỉ 20, Town đã rút khỏi Football League và giải thể; một câu lạc bộ mới cùng tên sau đó gia nhập Midland League.[3] Trong khi đó, vận may của Thornhill ngày càng đi lên, đến mức vào năm 1905 họ tuyên bố mình là đội bóng hàng đầu của thị trấn và đổi tên thành Rotherham County. Trong một thời gian, cả hai đội cùng thi đấu tại Midland League, lần lượt xếp thứ nhất và thứ hai ở mùa giải 1911-12. Rotherham County trở thành thành viên của hạng hai Football League vào năm 1919, trong khi Rotherham Town không được bầu vào khu vực phía bắc của hạng ba trong mùa giải tiếp theo. Đến năm 1925, vận may của County sa sút và họ phải xin tái cử vào hạng ba. Lúc này, việc có hai câu lạc bộ chuyên nghiệp trong cùng một thị trấn đã rõ ràng là không bền vững. Các cuộc đàm phán bắt đầu vào tháng 2 năm 1925, và đầu tháng 5 hai câu lạc bộ sáp nhập để thành lập Rotherham United. Vài ngày sau, câu lạc bộ mới được chính thức tái cử vào Football League dưới tên gọi mới.

Bộ áo đỏ và trắng được sử dụng vào khoảng năm 1930 sau quãng thời gian thi đấu trong màu hổ phách và đen, nhưng điều đó không mang lại sự cải thiện trong vận may của câu lạc bộ: năm 1931, họ lại phải xin tái cử. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình trở nên sáng sủa hơn. The Millers vô địch phiên bản hậu chiến duy nhất của Football League Third Division North Cup năm 1946 sau khi đánh bại Chester với tổng tỉ số 5-4. Sau đó, họ kết thúc với tư cách á quân ba mùa giải liên tiếp từ 1947 đến 1949, rồi trở thành nhà vô địch Division Three (North) vào năm 1951. Rotherham đạt vị trí cao nhất trong lịch sử tại giải vô địch quốc gia là hạng ba ở Second Division năm 1955, khi chỉ có goal average ngăn họ giành suất lên hạng đấu cao nhất sau khi kết thúc mùa giải bằng điểm với nhà vô địch Birmingham City và á quân Luton Town. Trong mùa giải đó, họ có những kết quả đáng chú ý, bao gồm chiến thắng 6-1 trước Liverpool. Năm 1961, The Millers đánh bại Aston Villa 2-0 tại Millmoor trong trận lượt đi của trận chung kết League Cup đầu tiên; tuy nhiên họ thua 0-3 ở trận lượt về tại Villa Park. Trận lượt về được tổ chức ở mùa giải sau đó do Villa có "lịch thi đấu dày đặc". Câu lạc bộ giữ được vị trí tại Division Two đến năm 1968, rồi bắt đầu sa sút và rơi xuống Division Four vào năm 1973. Năm 1975, họ giành quyền thăng hạng trở lại Third Division khi kết thúc ở vị trí thăng hạng thứ ba tại Fourth Division. The Millers vô địch Division Three ở mùa giải 1980-81, và chỉ kém suất thăng hạng liên tiếp thứ hai đúng bốn điểm khi xếp thứ bảy tại hạng hai (khi đó là Division 2) ở mùa giải 1981-82. Từ đó đến nay, họ chưa từng kết thúc ở vị trí cao đến vậy nữa.[4] Mùa giải này cũng chứng kiến Rotherham hoàn thành cặp trận ghi nhiều bàn nhất của họ tại hạng hai, đánh bại Chelsea 6-0 trên sân nhà (31 tháng 10 năm 1981) và 4-1 trên sân khách tại Stamford Bridge (20 tháng 3 năm 1982).[5]

Trong thập niên 1990, Rotherham thăng hạng và rớt hạng giữa hai hạng đấu thấp nhất của Football League, và rơi xuống Fourth Division vào năm 1991, chỉ hai năm sau khi thăng hạng, nhưng giành lại vị thế ở cấp độ thứ ba (đổi tên thành Division Two cho mùa giải 1992-93 do sự ra đời của FA Premier League) khi kết thúc ở vị trí thứ ba tại Fourth Division năm 1992. Họ trụ lại cấp độ này trong năm mùa giải, nhưng không bao giờ thực sự là ứng viên cho suất thăng hạng, trước khi rớt hạng vào năm 1997. Năm 1996, Rotherham United có chuyến đi đầu tiên tới Wembley, đánh bại Shrewsbury 2-1 để giành Football League Trophy, với hai bàn thắng của Nigel Jemson mang lại chiến thắng cho Rotherham, trong bối cảnh có hơn 20.000 cổ động viên Rotherham United theo chân đội bóng. Năm 1997, ngay sau khi rớt hạng xuống Division Three, Ronnie Moore lên nắm quyền tại Rotherham United. Mùa giải đầu tiên của ông kết thúc với một vị trí ở giữa bảng xếp hạng, sau đó mùa giải thứ hai kết thúc bằng thất bại trên chấm luân lưu trước Leyton Orient ở bán kết play-off. Ở mùa giải 1999-2000, khi Rotherham kết thúc với vị trí á quân Division Three và giành quyền thăng hạng lên Division Two, họ tiếp tục cán đích ở vị trí á quân và có thêm một suất thăng hạng thứ hai liên tiếp.

Biểu đồ vị trí xếp hạng trong lịch sử của Rotherham United tại giải vô địch quốc gia

Rotherham trụ lại được Division One trong bốn mùa giải, và sau khi rớt xuống League One năm 2005, Mick Harford tiếp quản cương vị huấn luyện viên của The Millers, nhưng bị sa thải sau chuỗi 17 trận không thắng. Harford được thay bằng huấn luyện viên đội trẻ Alan Knill. Đầu năm 2006, có thông báo rằng câu lạc bộ sẽ đối mặt với một tương lai bất định nếu không thể bù đắp khoản thiếu hụt tài chính vào khoảng 140.000 bảng mỗi tháng. Sự can thiệp vào thời điểm muộn nhất có thể của một liên danh doanh nhân địa phương đã giúp câu lạc bộ tiếp tục tồn tại.[6] Trận đấu cuối cùng của mùa giải 2005-06, trên sân nhà trước Milton Keynes Dons, là cuộc đối đầu quyết định suất trụ hạng, trong đó trận hòa không bàn thắng đã giúp Rotherham ở lại giải đấu. Rotherham United bước vào năm thứ hai liên tiếp tại League One với mức trừ 10 điểm do CVA cứu câu lạc bộ khỏi bị thanh lí. Ban đầu, câu lạc bộ đã bù lại số điểm này, nhưng sau khi mất nhạc trưởng Lee Williamson cùng tiền đạo chủ lực Will Hoskins trong kì chuyển nhượng tháng 1, The Millers kém nhóm an toàn 13 điểm và nguy cơ rớt hạng trở nên không thể tránh khỏi. Điều này dẫn tới việc Knill bị sa thải ngày 1 tháng 3, còn Mark Robins trở thành huấn luyện viên tạm quyền.

Vị trí của Robins được xác nhận chính thức vào ngày 6 tháng 4 năm 2007,[7] nhưng ông không thể cứu Rotherham khỏi rớt hạng. The Millers dành phần lớn mùa giải 2007-08 ở các vị trí thăng hạng trực tiếp, nhưng đến giữa tháng 3 năm 2008 người ta tiết lộ rằng Rotherham một lần nữa rơi vào diện quản trị và sẽ bị trừ 10 điểm. Doanh nhân địa phương Tony Stewart sau đó tiếp quản chức chủ tịch ở mùa giải 2008-09 và đưa câu lạc bộ ra khỏi diện quản trị thông qua một Creditors Voluntary Agreement, dẫn đến án trừ 17 điểm.[8] Sau đó The Millers buộc phải rời Millmoor, sân nhà hơn 100 năm của họ, để chuyển tới Sân vận động Don Valley ở Sheffield, sau tranh chấp với chủ đất.[9] The Millers có một mùa giải thành công dưới chế độ mới, xóa được khoảng cách điểm số và cạnh tranh cho một vị trí play-off. Rotherham cũng có hai hành trình cúp đáng chú ý, vào tới Football League Trophy Northern Final và vòng 16 đội League Cup. Điều này bao gồm các chiến thắng trước những đối thủ chơi ở hạng cao hơn như Wolverhampton Wanderers, Southampton, Sheffield Wednesday, Leicester City và Leeds United.

Mark Robins giữ lại phần lớn đội hình từ chiến dịch 2008-09, đồng thời tăng cường lực lượng bằng những bản hợp đồng chất lượng như Nicky Law và chân sút prolific Adam Le Fondre. Mùa giải 2009-10 khởi đầu tốt đẹp cho đến khi Robins gây tranh cãi khi rời đi để tới đối thủ Barnsley vào tháng 9, để lại The Millers ở vị trí đầu bảng. Cựu huấn luyện viên Ronnie Moore thay thế ông và đưa câu lạc bộ vào trận chung kết play-off đầu tiên trong lịch sử, đồng thời có chuyến đi đầu tiên tới Wembley mới, nơi họ thua 2-3. Vào tháng 3 năm 2011, sau chuỗi phong độ yếu kém, ông rời Rotherham theo thỏa thuận chung, và Andy Scott thay thế cho đến khi bị sa thải vào tháng 3 năm 2012. Steve Evans kế nhiệm ông, trong mùa giải đầu tiên tại Sân vận động New York, và giành quyền thăng hạng sau khi kết thúc ở vị trí thứ hai tại League Two. Ở mùa giải League One 2013-14, Rotherham giành một vị trí trong play-off League One, nơi họ đánh bại Preston North End ở bán kết để thiết lập trận chung kết play-off thứ hai tại Sân vận động Wembley trong vòng bốn năm.[10] Trong trận chung kết gặp Leyton Orient, trận đấu phải bước vào loạt sút luân lưu, nơi hai pha cản phá của Adam Collin đem về suất thăng hạng thứ hai liên tiếp cho câu lạc bộ.[11]

Ở mùa giải Championship 2014-15, mùa giải đầu tiên của Rotherham tại hạng đấu này sau chín năm vắng bóng, cơ hội trụ hạng của họ bị đe dọa bởi án trừ điểm vì tung Farrend Rawson không đủ điều kiện ra sân trong chiến thắng trên sân nhà trước Brighton & Hove Albion,[12] do hợp đồng cho mượn của Rawson đã hết hạn hai ngày trước trận đấu, và dù câu lạc bộ khẳng định đây là lỗi hành chính từ bên ngoài, họ vẫn bị đẩy trở lại cuộc chiến trụ hạng.[13] Suất trụ hạng được bảo đảm ở trận áp chót mùa giải với chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Reading.[14] Rotherham bán đi những cầu thủ then chốt của các chiến dịch thăng hạng trước mùa giải 2015-16, bao gồm Ben Pringle, Craig Morgan và Kari Arnason. Evans rời câu lạc bộ vào tháng 9[15] và cựu huấn luyện viên Leeds United Neil Redfearn được bổ nhiệm làm người thay thế,[16] nhưng bị sa thải vào tháng 2 năm 2016 sau chuỗi sáu thất bại trong tám trận.[17] Neil Warnock được bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho phần còn lại của mùa giải,[18] và câu lạc bộ đã trụ hạng, kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 21. Warnock rời câu lạc bộ vào tháng 5 năm 2016 sau khi không đạt được thỏa thuận gia hạn hợp đồng.[19] Alan Stubbs trở thành huấn luyện viên mới của Rotherham vào tháng 6 năm 2016,[20] nhưng bị sa thải vào tháng 10.[21] Rotherham thay Stubbs bằng Kenny Jackett,[22] và sau đó chính ông cũng bị thay bằng Paul Warne, trong bối cảnh Rotherham kết thúc mùa giải ở vị trí cuối bảng và rớt xuống League One. Kết quả là họ khép lại mùa giải với 24 điểm, qua đó hiện đang giữ kỉ lục số điểm thấp nhất trong một mùa giải ở hạng hai của bóng đá Anh, vượt qua mốc 26 điểm của Blackpool FC và Stockport County.[23]

Ngay ở lần nỗ lực đầu tiên, Rotherham trở lại Championship sau khi đánh bại Shrewsbury trong trận chung kết play-off năm 2018.[24] Rotherham rớt hạng khỏi Championship ngay ở mùa giải tiếp theo, vào trận áp chót của chiến dịch.[25] Ở mùa giải 2019-20, Rotherham giành quyền thăng hạng nhờ points per game, kết thúc ở vị trí thứ hai sau Coventry City. Họ lại rớt về League One vào cuối mùa giải 2020-21 sau khi nhận bàn gỡ hòa ở phút 88 trước Cardiff City, kết quả khiến họ xuống hạng thay cho Derby County.[26] Ở mùa giải 2021-22, The Millers trở lại Championship với tư cách á quân sau khi đánh bại Gillingham 2-0 ở vòng cuối cùng của mùa giải.[27] Câu lạc bộ cũng vô địch EFL Trophy 2021-22 tại Sân vận động Wembley sau khi đánh bại Sutton United 4-2 sau hiệp phụ.[28] Đầu mùa giải 2022-23, huấn luyện viên Paul Warne rời đi để tới Derby County,[29] và được thay bằng huấn luyện viên của Exeter City là Matt Taylor.[30] Cuối mùa giải 2023-24, Rotherham lại rớt xuống League One.[31]

Trang phục và tài trợ Rotherham United F.C.

Kể từ năm 2015, quyền đặt tên sân vận động hiện thuộc sở hữu của công ty địa phương trị giá hàng triệu bảng là AESSEAL.[32]

Nhà tài trợ chính của câu lạc bộ là IPM Group và Asura, xuất hiện trên toàn bộ các bộ trang phục thi đấu. Trang phục tập luyện có một hợp đồng tài trợ riêng với Guardian Electrical, đơn vị xuất hiện trên toàn bộ đồ tập và trang phục sinh hoạt. Toàn bộ trang phục đều do nhà tài trợ lâu năm Puma sản xuất, thương hiệu đã hợp tác với câu lạc bộ hơn 10 năm.

Sân vận động Rotherham United F.C.

Sân vận động New York trong quá trình xây dựng (4 tháng 2 năm 2012)
Sân vận động New York

Sân nhà truyền thống của câu lạc bộ là Millmoor tại Rotherham, nơi đội bóng thi đấu từ năm 1907 đến năm 2008. Ở một phía của sân là vị trí của khán đài chính mới, công trình vẫn chưa được hoàn thiện. Người ta từng hi vọng khán đài có sức chứa 4.500 người này, chỉ có một tầng, toàn bộ là ghế ngồi và có mái che, sẽ được hoàn thành vào một thời điểm nào đó trong mùa giải 2006-07, nhưng điều đó đã không thành hiện thực trước khi sân bị bỏ không vào năm 2008. Ở phía bên kia sân là khán đài Millmoor Lane, nơi có sự kết hợp giữa ghế ngồi có mái che và ghế ngồi ngoài trời. Ước tính mỗi khu ở bên này dài khoảng một phần ba chiều dài sân. Khu ghế ngồi có mái che ở giữa khán đài này trông khá đặc biệt, với một số cột chống đỡ và mái vòm cong. Cả hai đầu sân đều là các khán đài bậc cũ, có một số cột chống đỡ và nay đã được chuyển thành toàn bộ ghế ngồi. Lớn hơn trong hai khán đài này là Tivoli End, vốn được các cổ động viên chủ nhà sử dụng. Có thể dễ dàng nhận thấy mặt sân dốc lên về phía khán đài này. Sân cũng nổi bật với hệ thống đèn chiếu sáng rất ấn tượng, trong đó các cột đèn thuộc hàng cao nhất cả nước với chiều cao xấp xỉ 124 foot (38 m). Sau khi chủ sở hữu câu lạc bộ và chủ sở hữu Millmoor không đạt được thỏa thuận thuê sân, câu lạc bộ rời đi để chuyển tới Don Valley Stadium ở Sheffield vào năm 2008.[33]

Trong lúc một sân vận động cộng đồng mới được xây dựng chuyên biệt tại Rotherham, câu lạc bộ chuyển tới Sân vận động Don Valley ở Sheffield gần đó trong bốn mùa giải từ 2008-09 đến 2011-12.

Vào tháng 1 năm 2010, câu lạc bộ thông báo rằng sân vận động mới của họ, sau này được đặt tên là AESSEAL New York Stadium, sẽ được xây dựng trên khu đất xưởng đúc cũ của Guest and Chrimes tại trung tâm thị trấn Rotherham.[34]Công tác chuẩn bị tại khu đất bắt đầu vào tháng 2 năm 2010 để dọn chỗ cho việc thi công nền móng và phá dỡ nhà máy cũ nhằm nhường chỗ cho sân vận động. Việc xây dựng bắt đầu vào tháng 6 năm 2011 và trận đấu đầu tiên được tổ chức tại sân là một trận giao hữu tiền mùa giải giữa Rotherham và Barnsley, diễn ra vào ngày 21 tháng 7 năm 2012.[35] The Millers thắng 2-1; bàn thắng đầu tiên tại sân được ghi bởi Jacob Mellis của Barnsley, còn David Noble ghi bàn đầu tiên cho Rotherham tại sân nhà mới.[35] New York Stadium có trận đấu tại giải vô địch quốc gia đầu tiên vào ngày 18 tháng 8 năm 2012, khi Rotherham đánh bại Burton Albion 3-0,[36]Daniel Nardiello ghi bàn thắng chính thức đầu tiên trên sân này.[37]

Cổ động viên Rotherham United F.C.

The Chuckle Brothers được bổ nhiệm làm chủ tịch danh dự trọn đời của Rotherham United F.C. vào năm 2007.

Những người ủng hộ Rotherham United bao gồm:

  • Paul Chuckle – một nửa của bộ đôi hài Chuckle Brothers, đồng thời là chủ tịch danh dự trọn đời của câu lạc bộ từ năm 2007.[38]
  • Barry Chuckle – cổ động viên suốt đời của câu lạc bộ và là chủ tịch danh dự trọn đời cùng với người anh em Paul.[39][40]
  • Dalziel Martin – cổ động viên suốt đời của câu lạc bộ, đồng thời là giọng ca chính của ban nhạc sextape nổi tiếng thế giới
  • Howard Webb MBE – cựu trọng tài Premier League và FIFA, sinh ra tại Rotherham, người từng cho biết ông đã ủng hộ câu lạc bộ từ thuở nhỏ.[41]
  • Chris Wolstenholme – tay bass của ban nhạc rock Muse, người lớn lên tại Rotherham và đã xác nhận sự ủng hộ của mình dành cho câu lạc bộ, tiếp nối truyền thống từ cha và ông của mình.[42][43]
  • Matt Nicholls – tay trống của ban nhạc Bring Me the Horizon, người từng công khai nói về sự ủng hộ suốt đời của mình dành cho Rotherham United.[44]
  • Dean Andrews – diễn viên người Anh, nổi tiếng với các vai diễn trong Life on MarsAshes to Ashes, được liệt kê trong số những người ủng hộ đáng chú ý của câu lạc bộ.[45]

Kỉ lục và thống kê Rotherham United F.C.

  • Thứ hạng cao nhất tại giải vô địch quốc gia: hạng 3, 1954-55 Football League Second Division 2013-14[46]
  • Thành tích tốt nhất tại Cúp FA: vòng Năm, 1952-53, 1967-68
  • Chiến thắng đậm nhất tại giải vô địch quốc gia: 8-0 trước Oldham Athletic, Millmoor, Division 3 North, ngày 26 tháng 5 năm 1947[47]
  • Chiến thắng đậm nhất tại cúp: 6-0 trước Spennymoor United,[48] vòng Hai Cúp FA, ngày 17 tháng 12 năm 1977, trước Wolverhampton Wanderers, vòng Một Cúp FA,[49] ngày 16 tháng 11 năm 1985, trước King's Lynn,[50] vòng Hai Cúp FA, ngày 6 tháng 12 năm 1997
  • Thất bại đậm nhất: 1-11 trước Bradford City, Division 3 North, ngày 25 tháng 8 năm 1928[51]
  • Lượng khán giả sân nhà cao nhất tại Millmoor: 25.170 trước Sheffield United, Football League Second Division, ngày 13 tháng 12 năm 1952
  • Lượng khán giả sân nhà cao nhất tại Don Valley Stadium: 7.082 trước Aldershot Town, Football League Two play-offs, ngày 19 tháng 5 năm 2010[52]
  • Lượng khán giả sân nhà cao nhất tại New York Stadium: 11.758 trước Sheffield United, Football League One, ngày 7 tháng 9 năm 2013
  • Đối thủ gặp nhiều nhất ở các trận giải vô địch quốc gia và cúp: Lincoln City (94), Doncaster Rovers (84), Crewe Alexandra (79), Bradford City (78), York City (78)
  • Đối thủ bị đánh bại nhiều nhất ở các trận giải vô địch quốc gia và cúp: Lincoln City (49), Doncaster Rovers (40), Bradford City (37), Rochdale (36), Chester City (35)
  • Đối thủ thua nhiều nhất trước ở các trận giải vô địch quốc gia và cúp: Chesterfield (41), Wrexham (31), Darlington (30), Walsall (29), Crewe Alexandra (29), Huddersfield Town (29)
  • Đối thủ hòa nhiều nhất ở các trận giải vô địch quốc gia và cúp: Swansea City (25), Doncaster Rovers (22), Lincoln City (21), Walsall (21), Crewe Alexandra (20), York City (20)
  • Số điểm cao nhất tại giải vô địch quốc gia: 91, Division 2, 2000-01
  • Số bàn thắng cao nhất tại giải vô địch quốc gia: 114, Division 3 (N), 1946-47
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất tại giải vô địch quốc gia: Gladstone Guest, 130 bàn tại giải, từ năm 1946 đến năm 1956
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất tại cúp: Alan Crawford, 18 bàn, từ năm 1974 đến năm 1979
  • Vua phá lưới cao nhất trong một mùa giải tại giải vô địch quốc gia: Wally Ardron, 38 bàn, 1946-47
  • Nhiều bàn thắng nhất trong một trận: Jack Shaw, 5 bàn trước Darlington, Cúp FA, ngày 25 tháng 11 năm 1950, thắng 7-2
  • Cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất: Kári Árnason (36 lần cho Iceland)
  • Số lần ra sân kỉ lục: Danny Williams, 461 trận tại giải vô địch quốc gia, 39 trận cúp, tổng cộng 621 trận[53]
  • Cầu thủ trẻ nhất: Kevin Eley, 16 tuổi 71 ngày, ngày 15 tháng 5 năm 1984
  • Mức phí chuyển nhượng kỉ lục: £1.000.000 cho Sam Nombe từ Exeter City[54]
  • Mức phí nhận được cao nhất: £1.600.000 từ Cardiff City cho Danny Ward[55]
  • Doanh thu vé cổng cao nhất: £106.182 trước Southampton, vòng Ba Cúp FA, ngày 16 tháng 1 năm 2002

Cầu thủ Rotherham United F.C.

Đội hình đội một

Tính đến 2 tháng 2 năm 2026[56]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TMAnhCameron Dawson
2HVCộng hòa IrelandJoe Rafferty (đội trưởng)
3HVScotlandZak Jules
4TVScotlandLiam Kelly
6HVAnhReece James
7TVAnhJoe Powell
8TVAnhKian Spence
9AnhJordan Hugill
10AnhSam Nombe
11HVCuraçaoAr'jany Martha
13TMAnhTed Cann
14HVCHDC CongoMarvin Kaleta
15HVAnhJamal Baptiste (mượn từ Sheffield United)
16TVAnhDru Yearwood
17TVAnhShaun McWilliams
18HVScotlandLenny Agbaire
19TVAnhJosh Benson
SốVT Quốc giaCầu thủ
20AnhDuncan Watmore
22HVHà LanDenzel Hall
23TVAnhJack Holmes
24AnhHarry Gray (mượn từ Leeds United)
26TVAnhHamish Douglas
27TVAnhBen Hatton
28HVJamaicaBrandon Cover
29WalesGabriele Biancheri (mượn từ Manchester United)
36HVCộng hòa IrelandEmmanuel Adegboyega
37TVAnhJames Clarke
38TVAnhKane Richardson
39HVAnhHarrison Duncan
41TVAnhJosh Ayres
42AnhReece Wilson
44TVAnhDan Gore (mượn từ Manchester United)
49HVAnhLino Sousa (mượn từ Aston Villa)

Ban quản lí câu lạc bộ Rotherham United F.C.

Các vị trí huấn luyện

Tính đến 16 tháng 5 năm 2025[57][58]
  • Huấn luyện viên: Lee Clark
  • Trợ lí huấn luyện viên: Peter Leven
  • Huấn luyện viên đội một: Richard Wood
  • Huấn luyện viên thủ môn: Andy Warrington
  • Trưởng bộ phận hiệu suất: Ross Burbeary
  • Chuyên viên vật lí trị liệu đội một: James Kelly
  • Chuyên viên phân tích đội một: Matt Dixon
  • Trưởng bộ phận nhận diện tài năng: Rob Scott
  • Các tuyển trạch viên kĩ thuật chính: Warren Spalding và Lewis Scott
  • Quản lí học viện: Richard Hairyes
  • Trưởng bộ phận huấn luyện học viện: John Williams
  • Huấn luyện viên trưởng giai đoạn phát triển: Donovan Gethfield
  • Huấn luyện viên trưởng giai đoạn phát triển trẻ: Jamie Yates
  • Huấn luyện viên trưởng giai đoạn nền tảng: Bỏ trống
  • Trưởng bộ phận vật lí trị liệu học viện: Adrian Littlejohn
  • Nhà khoa học thể thao học viện: Reiss Turton
  • Trưởng bộ phận tuyển mộ học viện: Scott Duncanson

Lịch sử huấn luyện viên

Tính đến 17 tháng 6 năm 2025
TênQuốc giaTừĐếnThành tích
PWDLTỉ lệ thắng
Billy Heald1 August 19251 tháng 3 năm 1929&0000000000000165000000165&000000000000005500000055&000000000000003800000038&0000000000000072000000720&000000000000003332999933,33
Stan DaviesWales1 tháng 3 năm 192931 tháng 5 năm 1930&000000000000005900000059&000000000000001800000018&000000000000001200000012&0000000000000029000000290&000000000000003051000030,51
Billy Heald1 August 193031 tháng 12 năm 1933&0000000000000150000000150&000000000000004900000049&000000000000002700000027&0000000000000074000000740&000000000000003267000032,67
Reg FreemanAnh1 tháng 1 năm 19341 August 1952&0000000000000523000000523&0000000000000252000000252&000000000000009700000097&00000000000001740000001740&000000000000004817999948,18
Andy SmailesAnh1 August 195231 tháng 10 năm 1958&0000000000000278000000278&0000000000000109000000109&000000000000005000000050&00000000000001190000001190&000000000000003921000039,21
Tom JohnstonScotland1 tháng 12 năm 19581 tháng 7 năm 1962&0000000000000174000000174&000000000000006300000063&000000000000004700000047&0000000000000064000000640&000000000000003621000036,21
Danny WilliamsAnh1 tháng 7 năm 19621 tháng 2 năm 1965&0000000000000125000000125&000000000000005300000053&000000000000002100000021&0000000000000051000000510&000000000000004239999942,40
Jack MansellAnh1 August 196531 tháng 5 năm 1967&000000000000009600000096&000000000000003400000034&000000000000002700000027&0000000000000035000000350&000000000000003542000035,42
Tommy DochertyScotland1 tháng 11 năm 196730 tháng 11 năm 1968&000000000000005200000052&000000000000001600000016&000000000000001700000017&0000000000000019000000190&000000000000003076999930,77
Jim McAnearneyScotland1 tháng 12 năm 19681 tháng 5 năm 1973&0000000000000240000000240&000000000000009200000092&000000000000006600000066&0000000000000082000000820&000000000000003832999938,33
Jimmy McGuiganScotland1 tháng 5 năm 197313 tháng 11 năm 1979&0000000000000341000000341&0000000000000131000000131&000000000000009100000091&00000000000001190000001190&000000000000003842000038,42
Ian PorterfieldScotland30 tháng 12 năm 19796 tháng 6 năm 1981&000000000000007100000071&000000000000003200000032&000000000000002100000021&0000000000000018000000180&000000000000004507000045,07
Emlyn HughesAnh1 tháng 7 năm 198121 tháng 3 năm 1983&000000000000008400000084&000000000000003100000031&000000000000002100000021&0000000000000032000000320&000000000000003689999936,90
George KerrScotland21 tháng 3 năm 198331 tháng 5 năm 1985&0000000000000124000000124&000000000000004400000044&000000000000003000000030&0000000000000050000000500&000000000000003547999935,48
Norman HunterAnh18 tháng 6 năm 19859 tháng 12 năm 1987&0000000000000137000000137&000000000000004300000043&000000000000004100000041&0000000000000053000000530&000000000000003139000031,39
John BreckinAnh9 tháng 12 năm 198723 tháng 12 năm 1987&00000000000000020000002&00000000000000000000000&00000000000000000000000&0000000000000002000000200&00000000000000000000000,00
Dave CusackAnh23 tháng 12 năm 19871 tháng 4 năm 1988&000000000000001700000017&00000000000000050000005&00000000000000080000008&000000000000000400000040&000000000000002941000029,41
Billy McEwanScotland1 tháng 4 năm 19881 tháng 1 năm 1991&0000000000000147000000147&000000000000005400000054&000000000000004200000042&0000000000000051000000510&000000000000003672999936,73
Phil HensonAnh1 tháng 1 năm 199114 tháng 9 năm 1994&0000000000000199000000199&000000000000007500000075&000000000000005500000055&0000000000000069000000690&000000000000003768999937,69
John McGovern / Archie GemmillScotland14 tháng 9 năm 199431 tháng 7 năm 1996&0000000000000104000000104&000000000000003600000036&000000000000003100000031&0000000000000037000000370&000000000000003461999934,62
Danny BergaraUruguay1 August 199624 tháng 5 năm 1997&000000000000005000000050&00000000000000070000007&000000000000001400000014&0000000000000029000000290&000000000000001400000014,00
Ronnie MooreAnh24 tháng 5 năm 199731 tháng 1 năm 2005&0000000000000398000000398&0000000000000143000000143&0000000000000121000000121&00000000000001340000001340&000000000000003592999935,93
Alan Knill (tạm quyền)Anh31 tháng 1 năm 20057 tháng 4 năm 2005&000000000000007400000074&000000000000002000000020&000000000000001900000019&0000000000000035000000350&000000000000002703000027,03
Mick HarfordAnh7 tháng 4 năm 200510 tháng 12 năm 2005&000000000000002600000026&00000000000000050000005&00000000000000080000008&0000000000000013000000130&000000000000001923000019,23
Alan KnillAnh10 tháng 12 năm 20051 tháng 3 năm 2007&000000000000006400000064&000000000000001800000018&000000000000001700000017&0000000000000029000000290&000000000000002812999928,13
Mark RobinsAnh1 tháng 3 năm 20079 tháng 9 năm 2009&0000000000000129000000129&000000000000005600000056&000000000000003000000030&0000000000000043000000430&000000000000004340999943,41
Steve Thornber (tạm quyền)Anh9 tháng 9 năm 200926 tháng 9 năm 2009&00000000000000030000003&00000000000000010000001&00000000000000020000002&000000000000000000000000&000000000000003332999933,33
Ronnie MooreAnh26 tháng 9 năm 200921 tháng 3 năm 2011&000000000000008700000087&000000000000003600000036&000000000000002100000021&0000000000000030000000300&000000000000004138000041,38
Andy Liddell (tạm quyền)Anh25 tháng 3 năm 201115 tháng 4 năm 2011&00000000000000040000004&00000000000000010000001&00000000000000010000001&000000000000000200000020&000000000000002500000025,00
Andy ScottAnh16 tháng 4 năm 201117 tháng 3 năm 2012&000000000000004600000046&000000000000001500000015&000000000000001400000014&0000000000000017000000170&000000000000003260999932,61
Darren Patterson (tạm quyền)Bắc Ireland19 tháng 3 năm 201211 tháng 4 năm 2012&00000000000000050000005&00000000000000040000004&00000000000000000000000&000000000000000100000010&000000000000008000000080,00
Steve EvansScotland9 tháng 4 năm 201228 tháng 9 năm 2015&0000000000000173000000173&000000000000007200000072&000000000000004500000045&0000000000000056000000560&000000000000004161999941,62
Eric Black (tạm quyền)Scotland1 tháng 10 năm 20159 tháng 10 năm 2015&00000000000000010000001&00000000000000000000000&00000000000000000000000&0000000000000001000000100&00000000000000000000000,00
Neil RedfearnAnh9 tháng 10 năm 20158 tháng 2 năm 2016&000000000000002100000021&00000000000000050000005&00000000000000020000002&0000000000000014000000140&000000000000002380999923,81
Neil WarnockAnh11 tháng 2 năm 201618 tháng 5 năm 2016&000000000000001600000016&00000000000000060000006&00000000000000060000006&000000000000000400000040&000000000000003750000037,50
Alan StubbsAnh1 tháng 6 năm 201619 tháng 10 năm 2016&000000000000001400000014&00000000000000010000001&00000000000000030000003&00000000000000100000001000&00000000000000071399997,14
Paul Warne (tạm quyền)Anh19 tháng 10 năm 201621 tháng 10 năm 2016&00000000000000000000000&00000000000000000000000&00000000000000000000000&00000000000000000000000!
Kenny JackettWales21 tháng 10 năm 201628 tháng 11 năm 2016&00000000000000050000005&00000000000000000000000&00000000000000010000001&0000000000000004000000400&00000000000000000000000,00
Paul WarneAnh28 tháng 11 năm 201622 tháng 9 năm 2022&0000000000000176000000176&000000000000006300000063&000000000000003700000037&0000000000000076000000760&000000000000003579999935,80
Richard Wood / Lee Peltier (tạm quyền)Anh22 tháng 9 năm 20224 tháng 10 năm 2022&00000000000000010000001&00000000000000000000000&00000000000000000000000&0000000000000001000000100&00000000000000000000000,00
Matt TaylorAnh4 tháng 10 năm 202213 tháng 11 năm 2023&000000000000005500000055&000000000000001000000010&000000000000001800000018&0000000000000027000000270&000000000000001817999918,18
Wayne Carlisle (tạm quyền)Bắc Ireland13 tháng 11 năm 202311 tháng 12 năm 2023&00000000000000040000004&00000000000000000000000&00000000000000020000002&0000000000000002000000200&00000000000000000000000,00
Leam RichardsonAnh11 tháng 12 năm 202317 tháng 4 năm 2024&000000000000002400000024&00000000000000020000002&00000000000000040000004&00000000000000180000001800&00000000000000083300008,33
Steve EvansScotland17 tháng 4 năm 202429 tháng 3 năm 2025&000000000000005000000050&000000000000001900000019&000000000000001000000010&0000000000000021000000210&000000000000003800000038,00
Matt HamshawAnh30 tháng 3 năm 2025Hiện tại&00000000000000080000008&00000000000000040000004&00000000000000020000002&000000000000000200000020&000000000000005000000050,00

Ban giám đốc và quyền sở hữu

  • Chủ tịch: Tony Stewart[59]
  • Phó chủ tịch: Richard Stewart
  • Giám đốc điều hành: Paul Douglas
  • Giám đốc vận hành: Julie Hunt
  • Giám đốc thương mại: Steve Coakley
  • Giám đốc tài chính: Karen Thomas

Danh hiệu Rotherham United F.C.

Giải vô địch

  • Third Division North / Third Division / Second Division / League One (cấp độ 3)
    • Vô địch: 1950-51, 1980-81
    • Thăng hạng với vị trí thứ 2: 2000-01, 2019-20, 2021-22
    • Vô địch play-off: 2014, 2018
  • Fourth Division / Third Division / League Two (cấp độ 4)
    • Vô địch: 1988-89
    • Thăng hạng với vị trí thứ 2: 1991-92, 1999-2000, 2012-13
    • Thăng hạng với vị trí thứ 3: 1974-75

Cúp

Tham khảo Rotherham United F.C.

  1. "Rotherham history at talkfootball". Talkfootball.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2010.
  2. "Rotherham United kit history". historicalkits.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2017.
  3. 1 2 "Rotherham United". ngày 14 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2019.
  4. "Rotherham United". 360Football. ngày 6 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2013.
  5. "Rotherham United v Chelsea history". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019.
  6. "Millers survival likely as new group takeover". Rotherham United FC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012.
  7. "Millers name Robins as new boss". BBC Sport. ngày 6 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2007.
  8. "Rotherham accept points penalty". BBC Sport. ngày 7 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2017.
  9. "Troubled League Two clubs on the brink". The Guardian. ngày 6 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2017.
  10. "Rotherham heading to Wembley". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  11. "Rotherham promoted to the Championship". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  12. "Rotherham charged by Football League with fielding ineligible player". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  13. "Rotherham deducted 3 points by the football league". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  14. "Rotherham secure Championship survival". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  15. "Evans calls time on illustrious Rotherham spell". BBC Sport. ngày 28 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  16. "Redfearn appointed new Millers boss". BBC Sport. ngày 9 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  17. "Neil Redfearn: Rotherham United sack manager". BBC Sport. ngày 8 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  18. "Neil Warnock named Rotherham manager until end of season". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016.
  19. "Neil Warnock: Rotherham United contract will not be extended". BBC Sport. ngày 18 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  20. "Alan Stubbs: Rotherham United appoint Hibernian boss as their new manager". BBC Sport. ngày 1 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
  21. "Rotherham United Club Statement". Rotherham United FC. ngày 19 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016.
  22. "Kenny Jackett: Rotherham United appoint ex-Wolves boss as manager". BBC Sport. ngày 21 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  23. Davis, Paul (ngày 1 tháng 4 năm 2017). "Rotherham United: Warne ... Blame me for Millers relegation". Sheffield Star. Johnston Press. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017.
  24. Scott, Ged (ngày 27 tháng 5 năm 2018). "Rotherham United 2-1 Shrewsbury Town". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  25. "West Bromwich Albion 2-1 Rotherham United". BBC Sport. ngày 27 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  26. Pearlman, Michael (ngày 8 tháng 5 năm 2021). "Cardiff City 1-1 Rotherham United". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  27. "Gillingham 0-2 Rotherham United". BBC Sport. ngày 30 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  28. "Rotherham United 4-2 Sutton United (AET)". BBC Sport. ngày 3 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  29. "Paul Warne: Derby County appoint Rotherham United boss as new head coach". BBC Sport. ngày 22 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  30. "Matt Taylor: Exeter boss leaves to become Rotherham's new manager". BBC Sport. ngày 4 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  31. "Rotherham United 0-1 Plymouth Argyle 1". BBC Sport. ngày 5 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2024.
  32. "Stadium Naming Deal". themillers.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2014.
  33. "End of an era: Millmoor farewell for Rotherham". Yorkshire Post. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2012.
  34. "Guest and Chrimes site confirmed". MillersMad. ngày 27 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010.
  35. 1 2 "New Rotherham United stadium hosts first football match". BBC News Online. BBC. ngày 22 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012.
  36. "Rotherham beat Burton in first home league game at the New York Stadium". BBC Sport. ngày 18 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  37. "Rotherham 3-0 Burton". BBC News Online. BBC. ngày 18 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2012.
  38. "Six things you may not know about the Chuckle Brothers". Sky News. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  39. "Obituary – Barry 'Chuckle' Elliott 1944-2018". Rotherham United F.C. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  40. "Obituary – Barry 'Chuckle' Elliott 1944-2018". Rotherham United F.C. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  41. "Howard Webb on refereeing and Rotherham United". Dutch Referee. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  42. "Bass player Chris's journey from Millmoor to Muse millions". Rotherham Advertiser. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  43. "Interview with Muse's Chris Wolstenholme". TNT Magazine. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  44. "Celebrity Fan: Bring Me the Horizon's Matt Nicholls (Rotherham)". Shoot Magazine. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  45. "Rotherham United Celebrity Fans and Famous Fans". CF Classics. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2025.
  46. "footballsite – Football League Division 2 table 1954/55". www.footballsite.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2021.
  47. "Rotherham United football club: record v Oldham Athletic". www.11v11.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  48. "Football Club History Database – Spennymoor United". www.fchd.info. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.
  49. "England – FA Challenge Cup 1985-1986". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
  50. "FA Challenge Cup 1997-98 Second Round". www.nozdrul.plus.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.
  51. "Rotherham 1-11 Bradford". Bradford City MAD. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.
  52. "Rotherham United Football Club". Themillers.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2012.
  53. "Local sporting legends". johndoxey.100freemb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.
  54. "SIGNING | MILLERS SMASH CLUB RECORD AGAIN TO SECURE SAM'S SERVICES". www.themillers.co.uk. ngày 31 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
  55. "Danny Ward: Cardiff City sign striker from Rotherham United". BBC Sport. ngày 23 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  56. "First team 2023/24". Rotherham United F.C. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
  57. "Meet the First Team staff". Rotherham United F.C. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  58. "Who's Who". Rotherham United F.C. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  59. "The Board". Rotherham United FC. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008.
  60. "Chester Fixtures 45-46". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2016.

Liên kết ngoài Rotherham United F.C.

Bản mẫu:Rotherham United F.C.

Bản mẫu:Sheffield & Hallamshire County FA