Xung đột đảng phái tại Việt Nam (1945–1949)
Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập năm 1930, rạn nứt đảng phái bắt đầu xuất hiện. Điển hình là tranh cãi và bút chiến giữa Đảng Cộng sản, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng, Đệ Tứ Quốc tế... Tuy nhiên, xung đột chưa thực sự bùng nổ mà chỉ thể hiện qua bút chiến và khẩu chiến trên báo chí.[1][2] Năm 1941 Việt Nam Độc lập Đồng minh (tức Việt Minh) được Nguyễn Ái Quốc thành lập tại Pác Bó, Cao Bằng để đoàn kết các đảng phái, tổ chức, đoàn thể khác nhau chống lại Đế quốc Nhật và Thực dân Pháp. Lúc này Việt Minh bắt đầu xung khắc với các đảng phái khác của người Việt tại Trung Quốc, điển hình là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội...[3][4]
Xung đột chỉ thực sự bùng nổ sau Cách mạng Tháng Tám do Việt Minh lãnh đạo và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Việt Minh giành chiến thắng sơ bộ, các đảng phái đối lập bị thanh trừng và suy yếu. Một số nhân vật và hội đoàn vận động Bảo Đại đàm phán và hợp tác với Pháp để thành lập Quốc gia Việt Nam vào ngày 2 tháng 7 năm 1949 với mục tiêu chống cộng.[5][6][7]
Bối cảnh
Việt Nam nằm trong Đông Dương thuộc Pháp từ thập niên 1880. Chủ nghĩa quốc gia Việt Nam gồm hai khuynh hướng chính: cải cách và cách mạng đều tiếp nhận chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa dân tộc chống cộng.[8] Các nhóm theo chủ nghĩa quốc gia gồm có Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân Đảng, cùng các cộng đồng tôn giáo như Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, và Công giáo.[9] Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thành lập và các nhóm theo khuynh hướng Trotsky.
Những rạn nứt giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản xuất hiện từ cuối thập niên 1920 vì hai bên có sự khác biệt trong viễn kiến về Việt Nam hậu thuộc địa.[10] Những người quốc gia cáo buộc đảng cộng sản là bè phái và lệ thuộc vào ảnh hưởng ngoại bang, trong khi những người cộng sản cho rằng chủ nghĩa quốc gia có phạm vi hẹp và chủ nghĩa cộng hòa chưa đủ triệt để.[11] Những người cộng sản Việt Nam hình dung cuộc cách mạng của mình vừa là cách mạng vô sản vừa là một bộ phận của cách mạng thế giới, chứ không chỉ thuần túy là một phong trào dân tộc. Họ tin rằng đấu tranh giai cấp và thanh trừng là cần thiết để phá bỏ các cấu trúc xã hội cũ và mở đường cho chủ nghĩa xã hội.[12] Việc cách mạng cộng sản Việt Nam theo đuổi sự kiểm soát tập trung đã dẫn đến một cuộc nội chiến kéo dài, đặc trưng bởi bạo lực, thanh trừng ý thức hệ và đàn áp các phong trào quốc gia đối lập.[13] Theo một số nhà sử học, Đảng Cộng sản Đông Dương chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc khơi mào bạo lực giữa người Việt.[14]
Trước năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái Quốc gia khác tuy có ý thức hệ khác nhau nhưng vẫn có chung nền tảng giáo dục, thường xuyên có sự hợp tác và đôi khi có cùng quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân. Trong giai đoạn 1924 - 1927, ở miền Nam Trung Quốc, các nhóm người Việt chống thực dân Pháp đa dạng tương tác với nhau, với cả người Trung Quốc, Triều Tiên và các dân tộc khác. Từ năm 1941 đến 1944 ở miền nam Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương, Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) cùng tham gia vào mặt trận chống Nhật, đôi khi tố giác nhau với chính quyền Trung Quốc, nhưng không bắt cóc hoặc ám sát lẫn nhau. Trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng từng hợp tác với những người Trotskyist tại Nam Kỳ trong giai đoạn 1933-1937.[15] Hai bên sau đó chỉ trích nhau, chẳng hạn thành viên của Quốc tế Thứ Ba (Đảng Cộng sản Đông Dương) và Quốc tế Thứ Tư (những người Trotskyist) cáo buộc lẫn nhau là phục vụ lợi ích đế quốc. Ban đầu cuộc tranh đấu chỉ trong phạm vi báo chí, truyền thông. Đến năm 1945 thì nhiều phe đã dùng vũ lực để tiêu diệt lẫn nhau.
Quốc dân Đại hội Tân Trào do Việt Minh tổ chức ngày 16 tháng 8 năm 1945, trước khi Việt Minh nắm chính quyền, xác định 10 chính sách lớn trong đó chính sách đầu tiên là "Phản đối xâm lược; Tiêu trừ Việt gian. Lập nên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn toàn độc lập". Theo hồi ký của tướng Võ Nguyên Giáp, dù được Việt Minh trao nhiều ưu đãi (được nhường 70 ghế đại biểu Quốc hội mà không cần bầu cử, được giao một số chức vụ cao trong nhà nước) nhưng một số đảng phái như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt... vẫn không bằng lòng với địa vị chính trị của mình và đã tìm nhiều cách lật đổ Việt Minh nhằm chiếm chính quyền.[16] Theo sử gia David G. Marr, đó là một thời kỳ đầy hận thù, phản bội và giết chóc. Cho tới tháng 8 năm 1946, các đảng phái đối lập, ngoại trừ Giáo hội Công giáo, đều bị phá vỡ, vô hiệu hóa, hoặc buộc phải lưu vong.[17][15]
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quân Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh. Theo thỏa thuận Potsdam,[18][19] quân Anh sẽ giải giáp cho quân Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 về phía Nam và quân Trung Quốc sẽ giải giáp cho quân Nhật từ vĩ tuyến 16 về phía Bắc.[20][21]
Lực lượng và phe phái
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Minh
Sau khi thành lập, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiêm nhiệm Thủ tướng.
Việt Minh là lực lượng chính yếu thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giai đoạn này Chủ nhiệm Tổng bộ là Nguyễn Lương Bằng và Bí thư Tổng bộ là Hoàng Quốc Việt. Các tổ chức thành viên nòng cốt gồm có:
Đảng Cộng sản Đông Dương:[22][23] tổ chức sáng lập Việt Minh năm 1941 và đóng vai trò nòng cốt; lúc này đã tự giải tán và hoạt động với tên gọi Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Marx ở Đông Dương; Tổng Bí thư lúc này là Trường Chinh
Đảng Dân chủ Việt Nam:[22] gia nhập năm 1944; Tổng Thư ký lúc này là Dương Đức Hiền
Đảng Xã hội Việt Nam: gia nhập năm 1946; Tổng Thư ký lúc này là Phan Tư Nghĩa
Thanh niên Tiền phong:[24] gia nhập năm 1945; Chủ tịch lúc này là Phạm Ngọc Thạch
Nhiều tổ chức tôn giáo bị chia rẽ, một số quay sang ủng hộ Pháp, nhưng một số ủng hộ Việt Minh và tham gia kháng chiến như:
Hội Phật giáo Cứu quốc:[25][26][27] Thích Tịnh Khiết, Thích Minh Nguyệt. Thích Tâm An, Thích Thanh Chân, Thích Trí Thủ, Thích Mật Thể, Thích Thế Long, Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Trí Độ, Thích Thanh Tứ, Minh Tịnh...
Hội Cao Đài Cứu quốc 12 Phái Hợp nhất,[28][29] bao gồm Cao Đài Minh Chơn Đạo, Cao Đài Tiên Thiên và Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Ngợi, Nguyễn Ngọc Tương, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Ngọc Nhựt...
Hội Công giáo Cứu quốc,[30] Hội Công giáo Kháng chiến:[31] Vũ Đình Tụng, Ngô Tử Hạ, Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn, Phêrô Võ Thành Trinh, Gioakim Nguyễn Bá Luật, Phêrô Phạm Bá Trực...
Hội Hòa Hảo Kháng chiến:[32][33] một số tín đồ Hòa Hảo theo kháng chiến, nhưng chưa được ghi chép rõ ràng, một chức sắc nổi bật theo kháng chiến lúc này là Huỳnh Thiện Từ
Hội thánh Tin Lành (nhóm chống Pháp):[33] Bùi Hoành Thử, Dương Tự Ấp, mục sư Trần Văn Đệ...
Ngoài ra Mặt trận Việt Minh cũng thành lập nhiều tổ chức xã hội để tranh thủ sự ủng hộ từ mọi tầng lớp nhân dân, có thể kể đến:
Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam:[34][35] thành lập ngày 29 tháng 5 năm 1946; bao gồm nhiều đoàn thể xã hội khác nhau; Hội trưởng lúc này là Huỳnh Thúc Kháng; năm 1951 hợp nhất với Việt Minh thành Mặt trận Liên Việt- Đoàn Thanh niên Cứu quốc:[36][37] thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1931 với tên gốc là Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương; mở rộng và hợp nhất với các đoàn Thanh niên Dân chủ, Thanh niên Tiền phong và Thanh niên Giải phóng vào ngày 7 tháng 2 năm 1950; nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Đoàn Phụ nữ Cứu quốc:[38] thành lập ngày 16 tháng 6 năm 1941, nay là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Đội Thiếu nhi cứu quốc:[39] thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1941 với tên gốc là Đội Nhi đồng Cứu quốc; sau hợp nhất với Đội Thiếu niên Tiền phong vào năm 1946; nay là Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
- Hội Hồng thập tự:[40] thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1946, nay là Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
- Hội Công nhân Cứu quốc:[41] thành lập tháng 5 năm 1941, nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Tổ chức quân sự và an ninh chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Việt Minh trực tiếp chỉ đạo là:
Cứu quốc quân:[42] sáp nhập với Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân năm 1945; chỉ huy lúc này là Chu Văn Tấn
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân:[22] thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944; sau hợp nhất với Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân vào ngày 15 tháng 5 năm 1945; chỉ huy lúc này là Võ Nguyên Giáp; hiện nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam
Việt Nam Công an Vụ:[43] thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1945 với 3 lực lượng khác nhau ở 3 miền; sau này Sở Liêm phóng Bắc Bộ, Sở Trinh sát Trung Bộ và Quốc gia Tự vệ cuộc Nam Bộ hợp nhất thành Việt Nam Công an Vụ vào ngày 21 tháng 2 năm 1946; chỉ huy lúc này là Lê Giản; hiện nay là Công an Nhân dân Việt Nam
Bộ đội Bình Xuyên:[44] gia nhập năm 1945; thủ lĩnh lúc này là Dương Văn Dương; về sau một nhóm của Lê Văn Viễn tách ra quy thuận Pháp;[45] các nhóm chống Pháp của Dương Văn Hà, Huỳnh Văn Trí và Mai Văn Vĩnh được sáp nhập vào Vệ quốc đoàn
Các tổ chức đối lập
Các thế lực Trung Hoa Dân quốc và Cộng hòa Pháp có toan tính khác nhau cho mục đích của họ, nên họ ủng hộ các phe phái chống đối Việt Minh. Ngoài ra trước đó Đế quốc Nhật Bản còn hỗ trợ các tổ chức theo đường lối phát xít.
Các đảng phái phát xít và bảo hoàng được Đế quốc Nhật Bản hỗ trợ gồm có:
Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng (Đại Việt Quốc Xã):[46]:231 Chủ tịch đảng là Nguyễn Xuân Tiếu; hoạt động chủ yếu ở Bắc Kỳ
Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội (Phục Quốc Hội):[47] do Cường Để lãnh đạo; hoạt động chủ yếu ở Nhật Bản; tuy nhiên hội này đã suy yếu từ năm 1940 nên chỉ có thể hoạt động ở một số nơi tại Lạng Sơn và Nam Kỳ.
Đại Việt Phục hưng Hội (Phục Hưng Hội): do Ngô Đình Khôi lãnh đạo; hoạt động chủ yếu tại Trung Kỳ
Các đảng phái quốc gia được Trung Hoa Dân quốc hỗ trợ gồm có:
Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách):[48][49] do Nguyễn Hải Thần lãnh đạo
Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc):[50] Chủ tịch đảng là Vũ Hồng Khanh
Đại Việt Quốc dân Đảng (Đại Việt):[51] Chủ tịch đảng là Trương Tử Anh
Đại Việt Dân chính Đảng (Dân Chính): do Nguyễn Tường Tam lãnh đạo; trước ủng hộ Nhật Bản, sau quay sang ủng hộ Trung Quốc.[46]:231
Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng: do Lý Đông A lãnh đạo; hoạt động chủ yếu ở Bắc Kỳ
Các đảng này hoạt động chủ yếu ở Trung Quốc và Bắc Kỳ. Việt Cách và Việt Quốc theo chân Quốc quân Trung Hoa Dân quốc về Việt Nam vào tháng 8 năm 1945. Về sau Việt Quốc, Đại Việt và Dân chính kết hợp thành Mặt trận Quốc dân Đảng vào ngày 15 tháng 12 năm 1945.[50]
Các nhóm quân phiệt được Pháp hỗ trợ gồm có:
Quân đội Hòa Hảo và Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (Dân Xã Hòa Hảo):[52][53] quân đội do Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ và Lê Quang Vinh chỉ huy; đảng do Nguyễn Văn Sâm lãnh đạo; giáo hội do Huỳnh Phú Sổ lãnh đạo
Quân đội Cao Đài:[54] quân đội do Trần Quang Vinh và Trình Minh Thế chỉ huy; giáo hội do Phạm Công Tắc lãnh đạo
Quân lực Quốc gia Bình Xuyên (nhóm Bình Xuyên quy hàng Pháp):[44] do Lê Văn Viễn chỉ huy
Các nhóm này hoạt động chủ yếu ở Nam Kỳ. Giai đoạn 1940-1945 các nhóm được Nhật Bản hỗ trợ, sau khi Pháp trở lại năm 1945 thì ngả theo Pháp để chống cộng. Cả 3 nhóm kết hợp và lập ra Mặt trận Quốc gia liên hiệp vào ngày 20 tháng 4 năm 1946.[55]
Các đảng phái quốc gia và chống cộng sản được Pháp hỗ trợ gồm có:
Việt Nam Quốc gia Liên hiệp:[56] do Lê Văn Hoạch lãnh đạo
Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng:[57] Chủ tịch đảng là Hồ Văn Ngà
Đảng Dân chủ Đông Dương:[58] Chủ tịch đảng là Nguyễn Văn Thinh
Cả 3 đảng này hoạt động chủ yếu ở Nam Kỳ.
Các tổ chức tôn giáo (ngoài Hòa Hảo và Cao Đài) gồm có:
Liên đoàn Công giáo Việt Nam:[59] do Lê Hữu Từ lãnh đạo
Hội thánh Tin Lành (không ủng hộ bên nào, chủ trương trung lập về chính trị):[60] do Lê Văn Thái lãnh đạo
Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam:[61] do Lâm Văn Hậu lãnh đạo
Ngày 27 tháng 2 năm 1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp được thành lập từ Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt, Hòa Hảo, Cao Đài, Liên đoàn Công giáo.[62] Mặt trận chủ trương ủng hộ Bảo Đại và thành lập chính phủ của người Việt trong Khối Liên hiệp Pháp.
Các nhóm Đệ Tứ Quốc tế tại Việt Nam (Trotskyist, Đệ Tứ) chủ trương chống lại cả Pháp và Việt Minh gồm có:
Nhóm Tranh Đấu: do Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch lãnh đạo.
Liên minh Cộng Sản: do Lư Sanh Hạnh và Trần Đình Minh lãnh đạo.
Diễn biến tại miền Bắc

Tại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân Quốc như Việt Cách, Việt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ Quốc dân Đảng, không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam. Ông miêu tả họ là những người không có tổ chức, 1 nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ.[63] Theo sử gia Trần Trọng Kim thì Việt Quốc, Việt Cách có thế lực nhờ quân đội Trung Hoa Dân Quốc hỗ trợ, nhưng không thống nhất và không có kỷ luật chặt chẽ,[64] tuyên truyền nhiều mà không làm được việc gì đáng kể.[65] Thiếu tá Archimedes Patti trong nhóm OSS ở Côn Minh mô tả:[66]
- "Họ mang theo cao vọng là sẽ nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước nhưng lại quá kém về tổ chức và không có được một chương trình hành động ra hồn. Họ đã sống tập trung nhiều năm ở Quảng Tây dưới sự che chở của Trương Phát Khuê và ngẫu nhiên trở nên chống Pháp. Liên minh Đồng minh Hội đầy tham vọng và rạn nứt, đã bị lạc lõng. Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt cũng tách khỏi liên minh và tìm cách giành cho mình quyền lãnh đạo... Sự chia rẽ đã làm lợi cho Việt Nam suốt trong 6 tháng sau và những người Quốc gia thân Trung Quốc đã tự mình cô lập khỏi đông đảo quần chúng, đúng như Hồ Chí Minh đã dự đoán."
Từ cuối năm 1945, sau khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Lãnh đạo các đảng phái quốc gia đối lập với Việt Minh rất phẫn nộ vì thấy Việt Minh đơn phương thành lập chính quyền và mong muốn giành lại chính quyền từ tay Việt Minh.[67] Các đảng phái đối lập đẩy mạnh các biện pháp chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các biện pháp của những đảng phái đối lập này rất đa dạng, bao gồm: tuyên truyền, kích động biểu tình có vũ trang,[68] kêu gọi Trung Hoa Dân quốc can thiệp, ám sát các cán bộ Việt Minh, thậm chí âm mưu đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[69]
Việt Minh đã tìm cách củng cố quyền lực bằng việc khủng bố và thanh trừng các nhóm quốc gia chủ nghĩa và Trốt-kít.[70][71][72][73] Năm 1946, Hiệp ước Hoa–Pháp và Hiệp định sơ bộ Pháp–Việt được ký kết cho phép quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay Quốc Quân và tạo điều kiện cho sự tồn tại song song giữa chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp, điều này đã củng cố sức mạnh của Việt Minh trong khi làm suy yếu các nhóm quốc gia chủ nghĩa.[74][75] Ngay trong mùa hè Việt Minh đã cùng với quân đội Pháp đàn áp các phần tử quốc gia chủ nghĩa, những người bị nhắm đến vì lập trường chống thực dân mạnh mẽ và không chấp nhận chủ trương đàm phán với Pháp của Việt Minh.[76][77][78]:175–177[79]:699–700 Một cuộc nội chiến không công khai bùng nổ ở Việt Nam lần đầu tiên kể từ thế kỷ 18.[80]
Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng và Đế quốc Việt Nam
Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng (thường được gọi tắt là Đại Việt Quốc xã) theo Chủ nghĩa Quốc xã do Nguyễn Xuân Tiếu sáng lập vào năm 1936, Trần Trọng Kim là Tổng bí thư. Đây là tổ chức chính trị Đại Việt thân Đế quốc Nhật Bản,[81] được thành lập để làm hậu thuẫn chính trị cho việc lập ra một Đế quốc Việt Nam, được xem là "chính phủ tay sai" của Nhật Bản trong thời kỳ Đế quốc Nhật chiếm đóng và thống trị Đông Á, Đông Nam Á và Việt Nam trong Chiến tranh Thái Bình Dương.[82][81] Đại Việt Quốc xã là lực lượng có xu hướng bảo hoàng với khoảng 2 ngàn thành viên, ảnh hưởng ở các thị thành công nghiệp nhẹ ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai diễn ra.
Đầu năm 1944, Nguyễn Xuân Tiếu thành lập một tổ chức liên minh các đảng phái chủ trương dựa vào thế lực Nhật để chống lại chính quyền thực dân Pháp với nòng cốt là Đại Việt Quốc xã Đảng liên minh với các đảng khác như Đại Việt Dân chính Đảng và Đại Việt Duy dân Đảng.[83] [84] Không lâu sau, nhóm Tân Việt Nam Quốc dân Đảng (lãnh tụ Nhượng Tống) cũng gia nhập Đại Việt Quốc gia Liên minh. Lúc này Liên minh đổi tên thành Việt Nam Quốc dân Hội.[85] Tháng 2 năm 1945, đến lượt Đại Việt Quốc dân Đảng cũng cử đại diện tham gia Liên minh.[86] Đến tháng 6 năm 1945, liên minh này đã trở thành lực lượng cách mạng dân tộc chủ nghĩa quan trọng nhất ở miền Bắc Việt Nam.[87]
Sau khi Việt Minh giành được chính quyền, ngày 5 tháng 9 năm 1945, thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng với lý do "Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng đã tư thông với ngoại quốc để mưu những việc có hại cho sự độc lập Việt Nam".[88][89]
Đại Việt Phục hưng Hội
Đại Việt Phục hưng Hội được thành lập đầu năm 1942, do 3 anh em Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lãnh đạo. Hội ủng hộ Hoàng thân Cường Để, chủ trương liên kết với Đế quốc Nhật Bản để gạt ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương. Hội phát triển chủ yếu trong nhóm trong các gia tộc quan lại tại Huế, không phát triển sâu rộng trong quần chúng.
Những hoạt động của Đại Việt Phục hưng Hội dù rất bí mật nhưng vẫn bị mật thám Pháp phát hiện. Đầu năm 1944, Sở Mật thám Trung Kỳ tổ chức vây bắt các yếu nhân trong Đại Việt Phục hưng Hội. Trừ Ngô Đình Diệm và một số ít thành viên trốn thoát, hầu hết các thành viên của Đại Việt Phục hưng Hội đều bị bắt.[90][91] Phía người Nhật hầu như không có động thái can thiệp nào để bảo vệ cho Hội.
Mãi đến khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Đại Việt Phục hưng Hội mới phục hồi hoạt động trở lại. Hội cũng tích cực cổ vũ cho sự ra đời của Đế quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hoàng thân Cường Để và lãnh tụ Ngô Đình Diệm của Đại Việt Phục hưng Hội làm Thủ tướng. Tuy nhiên, người Nhật đã chọn giải pháp tiếp tục duy trì Hoàng đế Bảo Đại, và dưới áp lực của người Nhật, Hoàng đế Bảo Đại đã chỉ định Trần Trọng Kim làm Thủ tướng của Đế quốc Việt Nam.[92] Sự kiện này một lần nữa làm phân hóa trầm trọng sự ủng hộ của Đại Việt Phục hưng Hội đối với Đế quốc Việt Nam.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng, tổ chức Đại Việt Phục hưng Hội mất hậu thuẫn và lần thứ 3 bị phân hóa. Đặc biệt sau khi lãnh tụ Ngô Đình Khôi cùng với Ngô Đình Huân, Phạm Quỳnh bị Việt Minh hành quyết đã gây tổn thất lớn đến tinh thần của tổ chức.[93][94][95] Đại Việt Phục hưng Hội buộc phải ngừng hoạt động, một vài Đảng viên cốt cán chuyển sang các phong trào chính trị có tầm ảnh hưởng lớn hơn.
Việt Nam Quốc dân Đảng

Ngay sau khi Việt Minh giành chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội, Lê Khang dẫn đầu một nhóm Việt Quốc rời Hà Nội đến Vĩnh Yên nằm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội.[96] Tại đây họ tổ chức một cuộc biểu tình của dân chúng để thuyết phục lực lượng Bảo an binh địa phương tham gia. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, hàng ngàn người ủng hộ Việt Minh thuộc 3 huyện lân cận tiếp cận căn cứ của Việt Quốc tại Vĩnh Yên kêu gọi Việt Quốc tham gia một cuộc diễu hành xuyên qua thị trấn. Khi bị từ chối, họ bắn thành viên Việt Quốc. Việt Quốc bắn trả khiến một số người chết đồng thời bắt giữ khoảng 150 người. Những người bị bắt được thả sau khi đã được tuyên truyền về Việt Quốc và thừa nhận mình bị lừa khi tham gia biểu tình. Sau đó, Việt Minh và Việt Quốc tiếp tục thảo luận về việc phóng thích những người còn bị Việt Quốc giam giữ, về việc tổ chức đàm phán và những đề xuất liên quan đến việc thành lập chính quyền liên hiệp ở địa phương. Trong khi hai bên thảo luận, Việt Minh cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho thị xã Vĩnh Yên khiến cuộc sống ngày càng khó khăn.[97]
Ngày 21 tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Trung Quốc do Lư Hán làm tổng chỉ huy, Tiêu Văn làm phó tư lệnh vượt biên giới Việt-Trung tiến vào Việt Nam.[98] Một số nguồn khác cho rằng ngày 27 tháng 8 thì quân đội Trung Hoa Dân quốc mới chính thức vượt biên giới tiến vào miền bắc Việt Nam.[99] Quân đoàn 62 và 53 tiến từ Quảng Tây, dưới sự chỉ huy của Tiêu Văn, đã chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn, và những vị trí quan trọng dọc theo bờ biển tới Hải Phòng, còn quân đoàn 93 và 60 của Lư Hán từ Vân Nam tiến vào Lào Cai và dọc theo sông Hồng tới Hà Nội. Ngày 9 tháng 9, quân đội Trung Quốc tới Hà Nội.[100] Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng bao gồm những đơn vị vượt biên giới Trung Quốc tiến vào Việt Nam cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc, các chi bộ đảng tại Công ty Đường sắt Đông Dương, Sở Bưu điện và Viện Đại học Đông Dương, các đảng viên Việt Quốc mới ra tù và các thành viên Đại Việt đang muốn liên kết với Việt Quốc. Lực lượng này đi theo quân đoàn 93 của Trung Hoa Dân Quốc kéo xuống từ Vân Nam, kiểm soát các vùng dọc theo hành lang Tây Bắc từ Lào Cai đến Yên Bái, Phú Thọ.[101] Việt Quốc cũng cho tiến tiến hành những vụ cướp bóc và thu các khoản cống nạp từ người dân địa phương.[102][103] Tướng Võ Nguyên Giáp mô tả lãnh đạo Việt Quốc, Việt Cách như những người tự cho mình là yêu nước nhưng thực tế chỉ là "một nhóm phản động đang ra sức thu vén làm giàu cho bản thân" nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc. Điều tệ hại nhất là quân Trung Hoa Dân Quốc còn gây sức ép để thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng được nắm những ghế quan trọng trong chính phủ. Võ Nguyên Giáp cho rằng điều này chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc.[104] Patti nhận định rằng các thành viên của Việt Quốc này đã "mất phương hướng chính trị một cách vô vọng", không biết điều hành chính phủ và hoạt động chủ yếu vì động cơ tham vọng về quyền lực và lợi ích cá nhân.[105] Hồ Chí Minh khuyên Võ Nguyên Giáp phải nhẫn nhịn, vì Việt quốc có sự hậu thuẫn rất mạnh của 20 vạn quân Trung Hoa đang đóng trên khắp miền Bắc Việt Nam. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá Việt Quốc còn cao hơn Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskyist hay các đảng phái khác.[106]
Ngày 18 tháng 9 năm 1945, Hoàng Văn Đức, một thành viên quan trọng của Đảng Dân chủ Việt Nam cùng đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Hà Nội đến Vĩnh Yên thương lượng. Cuộc thương lượng không thành công, Lê Khang tấn công Phúc Yên nhưng thất bại. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công Vĩnh Yên nhưng không giành được thị xã này. Ngày 29 tháng 9 năm 1945, Nguyễn Lương Bằng (Việt Minh) và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) gặp nhau và đồng ý chấm dứt xung đột, thả tù nhân và ngừng lên án nhau công khai. Việt Quốc không tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh ở vùng nông thôn ngoài việc chiếm giữ nông trại Tam Lộng tại Vĩnh Yên. Đầu tháng 12 năm 1945, Việt Minh tấn công Tam Lộng nhưng bị đẩy lùi.[107]
Vũ Hồng Khanh sau nhiều lần bị Trung Quốc cản trở từ Vân Nam về đến Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 1945. Trong khi ông vắng mặt, một nhóm đảng viên Việt Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Minh đã thành lập một ủy ban nhằm tái cơ cấu lại Việt Quốc. Vũ Hồng Khanh làm ngơ việc này. Nguyễn Tường Tam ở lại Trung Quốc trong suốt năm 1945 để vận động Trung Quốc và Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam nhưng không thành công. Vì vậy tài năng báo chí của Tam không được sử dụng.[108] Cuối mùa thu năm 1945, đảng viên Việt Quốc đã bắt cóc Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu và giam giữ họ trong ba tuần lễ. Hồ Chí Minh sau khi thương lượng phải chấp nhận giải nhiệm chức vụ của Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu trong chính phủ lâm thời. Võ Nguyên Giáp thôi chức Bộ trưởng và làm Thứ trưởng Quốc phòng bên cạnh Vũ Hồng Khanh.[105]
Việt Quốc xuất bản Báo Việt Nam ra số đầu tiên ngày 15 tháng 11 năm 1945, trên trang nhất của số đầu tiên tuyên bố Việt Quốc kế thừa sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông hy sinh năm 1930 đồng thời cáo buộc Hồ Chí Minh quay lưng với Mặt trận thống nhất (1942-1945) bằng cách đơn phương giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945. Bài báo cho rằng Việt Quốc hoàn toàn có thể lật đổ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vì lợi ích quốc gia nên họ không làm. Việt Quốc cũng tuyên bố Việt Minh đang "theo đuổi 1 chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, vì theo chủ nghĩa cực đoan nên đánh mất bạn bè quốc tế, khủng bố các đảng phái cách mạng khác, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam". Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa và sử dụng họ vào các mục tiêu quyền lực tham lam, ích kỷ. Trong 6 tuần sau, Báo Việt Nam hiếm khi sử dụng cụm từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nếu có dùng thì cũng để trong ngoặc kép đồng thời không thừa nhận quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ buộc tội Hồ Chí Minh là độc tài, Việt Minh là băng đảng phát xít và vẽ một số tranh biếm họa chỉ trích Hồ Chí Minh. Họ cũng tố cáo Tổng bộ Việt Minh lừa bịp, tống tiền, bắt cóc đối thủ và tổ chức các cuộc tấn công vũ trang vào văn phòng Việt Quốc. Họ cũng chỉ trích Báo Cứu quốc của Việt Minh. Báo Việt Nam rất ít nói về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoại trừ thường xuyên lên án lực lượng an ninh và Bộ Tuyên truyền. Báo Việt Nam lưu hành rộng rãi tại các tỉnh với sự giúp đỡ của các đảng viên Việt Quốc và các cảm tình viên ở Sở Bưu điện và Công ty Đường sắt Đông Dương. Các chính quyền địa phương thường xuyên tịch thu Báo Việt Nam và bắt giữ những người đọc báo này.[109]
Tuy nghi ngờ, thậm chí thù địch nhau nhưng các thành viên Việt Minh và Việt Quốc vẫn gặp nhau thậm chí còn ký kết các thỏa thuận. Ngày 19 tháng 11 năm 1945, tướng Tiêu Văn đứng ra tổ chức một cuộc hội nghị hòa giải có Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Minh tham gia. Sau khi bàn bạc, cả ba phái đều thỏa thuận thành lập một Chính phủ liên hiệp, quân đội các bên không dùng vũ lực giải quyết những vấn đề bất đồng, đồng thời chấm dứt việc công kích nhau trên báo chí.[110] Ngày 24 tháng 11 năm 1945, sau buổi lễ trước trụ sở Việt Quốc, lãnh tụ 3 tổ chức Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần lại gặp nhau và ký vào bản "Đoàn kết tinh thần" cam kết các bên sẽ không tấn công lẫn nhau, đi đến thống nhất và hỗ trợ Nam Bộ kháng chiến. Kết quả là Việt Quốc có ghế trong số 70 ghế "đại biểu đương nhiên" (không phải qua bầu cử) trong Quốc hội khóa I và Nguyễn Tường Long cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong Chính phủ liên hiệp lâm thời, Nguyễn Tường Tam sau đó cũng được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.[111] Theo Võ Nguyên Giáp, do không bằng lòng với vị trí có được, Việt Nam Quốc dân Đảng tìm cách lật đổ Việt Minh để cùng với các đảng phái Việt Cách, Đại Việt... chiếm chính quyền.[16]
Sau đó vài ngày, Báo Cứu quốc coi bản ghi nhớ ngày 24 tháng 11 năm 1945 là sự xác nhận 1 chính phủ liên hiệp đã tồn tại. Việt Quốc lên án việc này. Hồ Chí Minh thông báo cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh rằng các đảng phái đã thống nhất ý kiến, không cần phải thay đổi chính phủ làm cho nhân dân hoang mang, quốc tế hoài nghi mà sẽ tổ chức bầu cử quốc hội trong 3 tuần nữa; ông cũng mời Việt Quốc và Việt Cách ứng cử và chấm dứt công kích nhau bằng lời nói và hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. Báo Việt Nam của Việt Quốc chỉ trích Hồ không quân tử và sử dụng các biện pháp "khủng bố và độc tài".[112][113]
Sau khi đạt được thỏa thuận, các bên ra lệnh cho cấp dưới ngừng xung đột vũ trang và chỉ trích nhau. Điều này khiến nhiều người thấy khó hiểu như việc các lãnh đạo người Mường đã giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàn áp Việt Quốc nghi ngờ về chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những người khác ủng hộ chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn. Tuy vậy các bên vẫn không sẵn sàng thảo luận về việc sáp nhập hoặc phối hợp hoạt động với nhau. Tại một số nơi các chỉ huy Trung Quốc phải đứng ra làm trung gian giữa Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách để đi đến thành lập chính quyền liên hiệp. Tại Phú Thọ, tướng Vương của Trung Hoa Dân quốc làm trung gian để Việt Minh và Việt Quốc thảo luận việc thành lập chính quyền liên hiệp nhưng 2 bên ngừng thảo luận và đấu súng với nhau tại chợ khiến dân chúng bị thiệt hại nên họ đã gửi kiến nghị lên Hồ Chí Minh phàn nàn cả hai bên bắt cóc nhiều con tin, khiến giao thương đình trệ và không bên nào lắng nghe những bậc cao niên ở địa phương. Tướng Vương phải ép 2 bên ngừng bắn, cuộc ngừng bắn kéo dài được 4 tháng. [114] Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx ở Đông Dương sau đó đăng tải bức thư ngỏ gửi các thành viên trong Việt Nam Quốc dân Đảng.
| ...Chúng tôi không bảo những người theo Đại Việt quốc xã, Cao đài, Phật thầy là Việt gian cả. Trong số những người ấy có nhiều phần tử trung thực chỉ vì thiếu sự nhận xét sáng suốt về chính trị, nên đã nhầm theo bọn lãnh tụ Việt gian. Nhưng còn những phần tử 100 phần 100 phản quốc, lẩn sau những chiêu bài Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng để tránh sự trừng phạt của quốc dân và Chính phủ. Các anh dung túng họ và hơn nữa nhận họ trong hàng ngũ; thế là các anh tự chia rẽ với dân, chứ không phải ai chia rẽ với các anh đâu...Không kể chi những chuyện xa xôi, hãy nói những cuộc khởi nghĩa hay đấu tranh cách mạng từ chiến tranh đến giờ: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, kháng Nhật cứu nước, mồng 9 tháng ba, khởi nghĩa 19 Tháng Tám. Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, các anh ở đâu?... Chúng tôi xin đề ra ba nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước như dưới đây: 1. Đoàn kết hợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc. 2. Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung. 3. Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến. |
| Sự Thật, số 1, ngày 5 tháng 12 năm 1945[115] |
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. 2 đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử và đề nghị 2 bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc.[113] Ngày 20 tháng 1 năm 1946, Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ từ Trùng Khánh về Việt Nam thông báo về cuộc đàm phán Hoa - Pháp khiến nội bộ Việt Quốc tranh luận căng thẳng về hành động tiếp theo khi Trung Quốc rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam. Ngày 10 tháng 2 năm 1946, tại Hà Nội và Hải Phòng, Việt Quốc tổ chức lễ tưởng niệm cuộc nổi dậy năm 1930 ở Yên Bái. Tại Hải Phòng, cuộc tưởng niệm bị một số người phản đối vì không treo cờ đỏ sao vàng.[116]
Từ giữa tháng 2 năm 1946, việc Pháp và Trung Quốc đàm phán với nhau, Pháp có thể đổ quân vào miền Bắc và Hồ Chí Minh đàm phán với Pháp khiến các đảng phái lo lắng và bắt đầu chỉ trích lẫn nhau. 1 tờ báo phi đảng phái chỉ trích cả hai tờ Việt Nam và Cứu Quốc vì đã liên tục dùng từ "phản động" mạt sát nhau khiến công chúng hoang mang, ảnh hưởng đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong khi người nước ngoài (trong đó có Pháp) cũng đang đọc báo của họ.[114] Ngày 20 tháng 2 năm 1946, 1 đám đông tập hợp trước dinh Bảo Đại mang theo cờ vàng của nhà vua và các biểu ngữ ủng hộ Bảo Đại, phản đối chính sách thân Pháp và cảnh báo tổ quốc đang lâm nguy. 3 người cao tuổi đến gặp Bảo Đại để yêu cầu ông đứng ra thành lập chính phủ mới thay thế Hồ Chí Minh. Quân cảnh Trung Hoa Dân Quốc ngăn cản lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng giải tán đám đông. Việt Minh cáo buộc Việt Quốc tổ chức cuộc biểu tình này.[114]
Trong khi giải giáp vũ khí của quân Nhật tại phía Bắc vĩ tuyến 16 theo Hiệp ước Hoa - Pháp tháng 2 năm 1946 và Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp đã chuyển giao cho Việt Nam Quốc dân Đảng và các đảng phái đối lập với Việt Minh hàng tấn vũ khí thu gom được của Nhật. Với số vũ khí này và được thực dân Pháp "bật đèn xanh", Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức các đội vũ trang mang tên "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"... Các đội vũ trang này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người không đảng phái như ông Ba Viên vì vào tháng 9 năm 1945, Việt Quốc thỏa thuận bí mật với Đại úy Nguyễn Duy Viên theo đó đại đội lính Khố đỏ của ông sẽ theo Việt Quốc. Tuy nhiên Việt Quốc nghi ngờ Đại úy Viên là điệp viên hai mang của Pháp và sẽ điều động đơn vị của mình thủ tiêu đảng viên Việt Quốc ngay sau khi vượt biên giới về Việt Nam. Đầu tháng 11, Viên đến Hà Giang gặp các thành viên Việt Quốc tại đây. Những binh sĩ đào ngũ từ các đơn vị lính thuộc địa cũng đổ về Hà Giang giúp Viên có được một đội quân khoảng 400 người. Việt Quốc và Việt Minh tại Hà Giang mâu thuẫn nhau khiến Viên đến Hà Nội yêu cầu chính phủ cử đại diện đến thuyết phục mọi người cùng chống Pháp. Sau khi gặp Hồ Chí Minh, Viên trở về Hà Giang, cho quân bắt giữ các đảng viên Việt Quốc tại đây và xử bắn một số người trên một ngọn đồi gần thị xã. Tháng 4 năm 1946, Việt Quốc cho người ám sát Viên tại Hà Nội rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà Nội và một số đô thị ở Bắc Bộ.[117][118] Khi Pháp chiếm lại Nam Kỳ, báo chí của các đảng phái này chỉ trích Việt Minh là bất lực, có khi là phản bội.[119] Khi Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của AFP và AP rằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng chấp nhận các cố vấn Pháp nếu họ tới Việt Nam với tư cách bạn bè chứ không phải kẻ xâm lược thì Việt Quốc và Việt Cách rải truyền đơn kết tội Việt Minh cấu kết với Pháp và kêu gọi người Việt Nam nếu muốn thật sự có độc lập thì "phải từ bỏ Hồ Chí Minh và bè lũ giết người" của ông. Họ ca ngợi lập trường của Tưởng Giới Thạch là "tuân theo các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và giúp đỡ cho sự nghiệp độc lập của Việt Nam", trong khi Việt Minh tại miền Nam lại thương lượng với Pháp và Hồ Chí Minh ở Hà Nội tỏ ra thân thiện với Pháp. Hồ Chí Minh nhận xét: "Việt Minh sẽ còn phải đấu tranh lâu dài cả với người Trung Quốc và người Việt Nam".[120]
Sau khi Hiệp định sơ bộ được ký với Pháp vào tháng 3 năm 1946, quân Pháp sẽ ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa. Các nhóm đối lập thân Trung Hoa sợ bị mất chỗ dựa. Các nhóm này đã cài người vào đám đông để kích động nhân dân gây bạo loạn nhằm tìm cách phá bỏ hiệp định.[121] Tại ngoại ô Hà Nội dân chúng biểu tình phản đối vì cho rằng Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp.[122] Ngày 7 tháng 3 năm 1946, khi hàng vạn người dân tập trung tại quảng trường Nhà hát lớn để nghe Hồ Chí Minh phát biểu thì một quả lựu đạn từ trong đám đông ném lên nhưng không nổ. Thủ phạm sau đó bị bắt, đó là trùm ám sát Giáo Mười và kẻ trực tiếp ném lựu đạn là Văn. Chỗ ở bí mật của Hồ Chí Minh cũng bị Việt Nam Quốc dân Đảng lần ra, nhóm này kéo đến phá phách tan tành ngôi nhà và lấy đi hết đồ đạc.[123]
Tháng 4 năm 1946, Ủy ban Hành chính Bắc bộ ký thỏa thuận với đại diện Việt Quốc tại 4 thị xã nhằm thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp giữa 2 bên. Đầu tháng 5, Ủy ban Hành chính Bắc bộ cảnh báo với Ủy ban tỉnh Bắc Giang cần linh hoạt với các thành viên Việt Quốc để duy trì sự đoàn kết đồng thời phải chuẩn bị kế hoạch dự phòng nhằm tránh các tình huống bất thường xảy ra.[124] Mặc dù Hồ Chí Minh giữ độc quyền liên lạc với Pháp với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc.[125] Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn.[125] Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp còn theo David G. Marr Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn.[125][126] Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ[127] (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài[125][128] nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn.[125]
Tháng 5 năm 1946, Trần Đăng Ninh, phụ trách an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Vĩnh Yên với lý do thảo luận về công tác sửa chữa đê điều và bị Vũ Hồng Khanh bắt. Ninh và 2 người khác trốn thoát. Việc bắt giữ này trở thành lý do để đàn áp Việt Quốc. Vệ quốc quân bắt đầu tuần tra quanh nơi hoạt động của Việt Quốc. Ngày 20 tháng 5 năm 1946, trong một cuộc đụng độ gần Phú Thọ, Việt Quốc bắt giữ và hành quyết một nhóm người ủng hộ Việt Minh, thả vài xác chết xuống sông Hồng để cảnh cáo.[129] Bộ Nội vụ ra lệnh cho tất cả các cán bộ công chức đang làm việc tại 7 thị xã ở các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội sơ tán và tham gia vào các Ủy ban thay thế được thành lập ở các địa điểm mới. Những người không thực hiện lệnh này không còn là người của chính phủ.[129]
Ngày 15 tháng 6 năm 1946, khi quân đội Trung Quốc rút về Vân Nam,[130] dân quân của Việt Minh cô lập các thị xã do Việt Quốc kiểm soát. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới Thạch và do bất đồng về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt ngày 6 tháng 3 cũng như không muốn sáp nhập quân đội vào biên chế Vệ quốc đoàn dưới sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng do Việt Minh kiểm soát do lo sợ bị khống chế rồi bị giải tán dần đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp.[127] Ngày 18 tháng 6 năm 1946, Vệ quốc quân tấn công Phú Thọ và Việt Trì. Quốc dân quân của Việt Quốc ở Phú Thọ hết đạn sau 4 ngày và phải rút lui. Vũ Hồng Khanh chỉ huy 350 lính phòng thủ Việt Trì trong 9 ngày rồi rút lui về Yên Bái. Việt Quốc ở Vĩnh Yên do Đỗ Đình Đạo chỉ huy đàm phán với Việt Minh và đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong 2 tháng. Đỗ Đình Đạo đồng ý sáp nhập lực lượng của ông vào Vệ quốc quân và thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp tại Vĩnh Yên. Lực lượng này được chia nhỏ đưa về các tiểu đoàn Vệ quốc quân tại nhiều nơi. Đỗ Đình Đạo được thuyên chuyển về Hà Nội. Trong suốt tháng 5 và tháng 6 năm 1946, Báo Việt Nam của Việt Quốc tại Hà Nội khẩn thiết kêu gọi Việt Minh ngừng tấn công Việt Quốc.[129]
Cuối tháng 6 tại Hà Nội, các thành viên Việt Quốc họp để thảo luận về việc có nên thừa nhận sự lãnh đạo của Việt Minh, rút lui về biên giới hay tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng là đồng minh của Việt Quốc, đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính có thể bắt đầu bằng việc tấn công lính Pháp để gây rối loạn. Người Pháp lại có ý định diễu binh quanh hồ Hoàn Kiếm để kỷ niệm Quốc khánh Pháp khiến lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo ngại sự kiện này có thể trở thành mục tiêu của các đảng phái đối lập với Việt Minh. Võ Nguyên Giáp hỏi ý kiến của chỉ huy quân Pháp tại Bắc Kỳ, Đại tá Jean Crépin, về thái độ của Pháp nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường trấn áp Việt Quốc và Việt Cách thì được ông này trả lời Pháp sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[131] Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật, chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) được Nha Công an Trung ương báo cáo phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị đảo chính Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ đạo phải tập trung trấn áp Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng phải có đủ chứng cứ.
Đầu tháng 6 năm 1946, Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cho đảng viên Nghiêm Xuân Chi ám sát một số lãnh đạo của Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh và Bồ Xuân Luật. Vụ ám sát được bố trí tại Nhà Thủy tọa, cạnh Hồ Gươm, đối diện với nhà số 8 đường Vua Lê (nay là phố Lê Thái Tổ), một trong những nơi ăn nghỉ của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi Nghiêm Xuân Chi chưa kịp ra tay thì đã bị tổ trinh sát của Sở Công an Bắc Bộ do Nguyễn Bá Hùng chỉ huy khống chế. Khám người Nghiêm Xuân Chi, Công an Bắc bộ thu được hai khẩu súng ngắn với 12 viên đạn trong ổ đạn. Mỗi khẩu đều có một viên đã lên nòng. Tại trụ sở Công an Bắc bộ (số 87 đường Gamberta, nay là phố Trần Hưng Đạo), Nghiêm Xuân Chi khai nhận đã được các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng giao nhiệm ám sát một số lãnh đạo Việt Minh.[132]
Trước những hoạt động gây mất trật tự an ninh tại Hà Nội và một số thành phố ở Bắc Bộ, Sở Công an Bắc Bộ đã lập chuyên án mà sau này được lấy tên công khai là Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu.[118]
Sau khi Việt Nam Công an vụ xin ý kiến chỉ đạo của Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, với chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương), vào rạng sáng ngày 12 tháng 7 năm 1946, Đội Trinh sát đặc biệt đã thực hiện nhiệm vụ bắt, khám xét những người có mặt tại số 7 phố Ôn Như Hầu vì can tội tống tiền và bắt cóc người, đã thực hiện phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là Lê Giản (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Công an Hà Nội) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương).[133] Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt, có Phan Kích Nam tự xưng là một lãnh đạo của Quốc dân Đảng. Theo điều tra của Nha công an, Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày Quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp.[134]
Trên thực tế, trong cuộc vây bắt, khám xét tại số 7 phố Ôn Như Hầu ngày 12 tháng 7, Công an Bắc Bộ thu được 8 súng ngắn, 5 súng trường và 1 trung liên Nhật, dụng cụ tra tấn, thuốc mê và đào được 6 xác người chôn đứng trong vườn chuối sau nhà. Tuy nhiên, trụ sở hành chính của Việt Nam Quốc dân Đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) chỉ là bình phong để che đậy hai căn cứ quan trọng hơn của Việt Nam Quốc dân Đảng trong nội thành Hà Nội khi đó là nhà số 132 phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân) và nhà số 80 phố Quán Thánh. Cuộc bắt, khám xét tại 132 - Duvigneau và 80 Quán Thánh diễn ra cùng thời điểm với vụ bắt, khám xét ở số 7 phố Ôn Như Hầu. Tại nhà số 132 phố Duvigneau, Nha Công an Bắc Bộ thu giữ nhiều tang vật gồm 6 máy in tipo với các "bát chữ" còn nguyên vẹn nội dung; 11 mặt đá in lito đã khắc chữ; trên 3 tạ truyền đơn, khẩu hiệu; tài liệu chống Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa in xong còn chưa kịp chuyển đi; 18,6 kg tiền giả (gồm cả giấy bạc Quan kim và giấy bạc Đông Dương); 12 khẩu súng ngắn, 8 khẩu tiểu liên, 17 súng trường, 3 trung liên FM và 13 quả lựu đạn Nhật. Khám xét tại nhà số 80 phố Quán Thánh, Công an Bắc Bộ thu được 9 súng ngắn, 21 súng trường, 2 trung liên Nhật, 11 quả lựu đạn các loại, hai thùng tài liệu, truyền đơn chống chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân Pháp tại Hà Nội đã điều xe tăng đến can thiệp vào vụ bắt, khám xét tại 80 phố Quán Thánh nhưng Việt Minh đã tiến hành đàm phán trên cơ sở Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1945. Trưa ngày 12 tháng 7, xe tăng và quân Pháp rút khỏi phố Quán Thánh.[135]
Ngày 13 tháng 7, tướng Morlière, Tư lệnh các Lực lượng Pháp tại Hà Nội đã cử sĩ quan tùy tùng đến trụ sở chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Bộ Phủ thông báo việc người Pháp rút đề nghị tổ chức cuộc diễu binh của quân Pháp tại Hà Nội do nhận thấy không bảo đảm an toàn. Tại đây, viên tùy tùng của tướng Morlière được đại diện Chính phủ Việt Nam thông báo rằng Việt Minh sẽ tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội và một số con phố quanh Hồ Gươm để chào mừng kỷ niệm ngày Cách mạng Pháp 14 tháng 7 năm 1789. Tất cả những chứng cứ, tang vật, truyền đơn, khẩu hiệu, ảnh chụp những xác chết, những hố chôn người... mà Công an Bắc Bộ thu tập được trong Vụ án phố Ôn Như Hầu đều được trưng bày cho toàn thể nhân dân Hà Nội được biết trong cuộc mít tinh diễu hành này.[132]
Nhà nước sau đó thông báo sự việc với báo chí. Các cuộc tấn công được gọi tắt là "Vụ án phố Ôn Như Hầu". Các báo của Việt Minh và các đảng phái thân Việt Minh đều tường thuật vụ án này. Các báo đưa tin công an đã phá tan âm mưu chống chính phủ, đã bắt những kẻ tiến hành những vụ bắt cóc tống tiền, ám sát, bán nước, in truyền đơn chống chính phủ, làm bạc giả... Tuy nhiên Việt Quốc đã không bị kể tên trong một số bài báo.[131]
Theo David G. Marr, nếu thật sự Pháp muốn đảo chính (họ đã cân nhắc và hoãn nhiều lần) thì không cần phải dựa vào Trương Tử Anh khơi ngòi, càng không cho Anh thành lập chính phủ. Công an cố tình lập lờ giữa Đại Việt Quốc dân Đảng do Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh lãnh đạo khi nhắm vào tòa soạn Báo Việt Nam và các trụ sở khác của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau cuộc tấn công, có người trong chính quyền đã cố gắng hạn chế những lời lên án công khai Việt Quốc để tuyên truyền về Mặt trận Thống nhất. Việt Quốc trên danh nghĩa vẫn nằm trong mặt trận. Ngoại trừ một vài đảng viên Việt Quốc hợp tác với Việt Minh, mọi công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đó trở đi đều sợ hãi khi bị cho là đảng viên Việt Quốc. Việt Quốc đồng nghĩa với tội phản quốc.[131]
Ngày 20 tháng 7 năm 1946, Ủy ban Hành chính Bắc Bộ dù không nhắc đến Việt Quốc đã thông báo đến các tỉnh rằng gần đây công an đã phát hiện được việc tống tiền, bắt cóc và làm tiền giả. Tất cả đều phải bị điều tra và truy tố. Ủy ban hướng dẫn các địa phương không để việc bắt bớ và giam giữ các phần tử phản động biến thành khủng bố. Các Ủy ban Hành chính địa phương giờ đã được chấp thuận cho việc bắt giữ các đảng viên Việt Quốc đã bị phát hiện hay còn tình nghi, tuy nhiên họ không săn lùng và hành quyết ngay lập tức. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người bị bắt, bị thẩm vấn. Hàng trăm người bị tống giam, bị đưa đến các trại cải tạo; hàng trăm người khác bị cách chức. Cán bộ phòng chính trị thuộc Sở Công an các tỉnh bắt những kẻ tình nghi, thẩm vấn, bắt ký vào lời khai, sau đó báo cáo lên chính quyền tỉnh là thả, xét xử hay biệt giam những người này.[131] Từ cuối tháng 7 năm 1946 cho đến cuối năm 1946, phần lớn những người bị công an giam giữ vì lý do chính trị đều bị xem là Việt Quốc. Công an tiếp tục thẩm vấn các đảng viên Việt Quốc về vụ bắt cóc một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xảy ra vào cuối năm 1945.[136]
Cuối tháng 7 năm 1946, Báo Việt Nam bị đình bản nhưng Tuần báo Chính Nghĩa vẫn tiếp tục xuất bản suốt 3 tháng sau. Báo chính Nghĩa đăng một loạt bài xã luận lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Xô Viết đồng thời chỉ trích hệ thống Ủy ban Hành chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc chính phủ không thể thành lập hệ thống tư pháp độc lập, chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh cũng bị hoài nghi. Cuối tháng 10 năm 1946, các bài xã luận và tin tức trong nước bị loại bỏ. Tới đầu tháng 12, Tuần báo Chính Nghĩa hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không còn một tin tức hay bài viết nào đáng phải kiểm duyệt nữa.[137]
| Thật thế các ngài thử hỏi xem trên đất nước này, ai đã lợi dụng và thực hành 'lấy người Việt Nam đánh lại người Việt Nam'? Thì chính là già Hồ và V.M. chứ còn ai! Chúng ta không nói gì những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm kia, V.M. mới nổi lên cướp chính quyền, khắp nơi đều thừa cơ chém giết, riêng tỉnh Quảng Ngãi hôm đầu tiên, một vạn người bị họ tiêu diệt là ít. Chỉ nói từ lúc họ nắm được chính quyền trở đi, mọi việc xếp đặt đã thành cơ ngũ, lại càng lợi dụng chính quyền mà lấy 'người Việt Nam đánh lại người Việt Nam' một cách tàn nhẫn. Chính Võ Nguyên Giáp không từng nói ra miệng đó ư? Cách mạng phải giết, giết trăm vạn người cũng là. [...] Mà những người Việt Nam đã bị người Việt Nam chém giết như thế, có tội lỗi gì? Chỉ có tội là trí thức biết suy nghĩ phải trái, là hơi có tiền của, là Quốc dân Đảng, là Cách mạng Đồng minh, là Đại Việt, là Phục Quốc, là Đệ Tứ, là những thanh niên có học nhiều ít, không để cho V.M. nhồi sọ, là những người dám chỉ trích họ là sai lầm, lừa dối. |
| Ngày Mới, số 54, ngày 10 tháng 10 năm 1947[138] |
Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 11 năm 1946, nhiều Đại biểu Quốc hội là đảng viên Việt Quốc bị bắt. Đại biểu Phan Kích Nam, đảng viên Việt Quốc, bị bắt trong vụ án phố Ôn Như Hầu, bị buộc tội bắt cóc, tống tiền và bị tống giam ngay lập tức. Đại biểu Nguyễn Đổng Lâm bị công an Hải Dương bắt và bị kiến nghị gửi đến trại biệt giam trong 2 năm với lý do "chính quyền địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ông Lâm còn tự do ngoài vòng pháp luật". Trường hợp của Lâm được báo cáo lên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Văn Tố. Nguyễn Văn Tố cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh thả Lâm. Ngày 21 tháng 8 năm 1946, Nguyễn Đổng Lâm được thả. Tại các địa phương khác, các Đại biểu Quốc hội là đảng viên Việt Quốc cũng bị sách nhiễu hoặc bắt giữ. Đại biểu Trình Như Tấu gửi kháng nghị đến 5 cơ quan chính phủ khác nhau sau khi ông bị dân quân bao vây nhà riêng để yêu cầu bồi thường một máy đánh chữ không có thật và đe dọa dùng vũ lực nếu ông không tuân thủ. Trình Như Tấu yêu cầu được bảo vệ với tư cách nghị sĩ nhưng không được hồi đáp. Tại Kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội vào cuối tháng 10 năm 1946, chưa tới 12 người trong số 50 Đại biểu Quốc hội thuộc Quốc dân Đảng tham dự.[139]
Sau khi rút lui về Yên Bái, Vũ Hồng Khanh nhận ra rằng nguồn cung cấp lương thực tại địa phương chỉ đủ nuôi sống lực lượng quân đội Việt Quốc chứ không đủ cung cấp cho những người ủng hộ Việt Quốc từ đồng bằng sông Hồng đến. Việc tiếp tế từ Lào Cai gặp nhiều khó khăn vì Việt Minh đã phá hủy đường sắt. Tới tháng 11, Lào Cai bị Vệ quốc quân bao vây và lương thực sắp hết. Vũ Hồng Khanh quyết định sơ tán sang Vân Nam và ra lệnh hành quyết 2 giảng viên học viện quân sự vì cố gắng dẫn học viên của họ quay trở lại đồng bằng. Tháng 10 năm 1947, khi Pháp nhảy dù xuống Phú Thọ, công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị cáo buộc giết chết hơn 100 tù nhân Việt Quốc trước nguy cơ họ có thể trốn thoát hoặc rơi vào tay người Pháp.[136] Hầu hết những người sống sót đã chạy trốn sang Trung Quốc hoặc các khu vực do Pháp kiểm soát ở miền Bắc Việt Nam.[140] Về sau, Việt Quốc lại phân hóa thành nhiều nhóm khác nhau. Một nhóm đồng ý hợp tác với Việt Minh để cùng tham gia chính phủ kháng chiến chống Pháp, ví dụ như Chu Bá Phượng (nguyên là đảng viên Việt Quốc) được giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong chính phủ kháng chiến. Nhóm kia thì vẫn chống Việt Minh, đến năm 1949 thì nhóm này lại phân hóa thành 2 khuynh hướng: một số chống Bảo Đại vì quyết giữ lập trường chống Pháp, rút về vùng núi giáp biên giới Việt-Trung, tại đây họ tuyên bố thành lập “Chính phủ Việt Nam” nhưng hầu như không tạo được ảnh hưởng nào thực tế.[141] Số khác lại quay sang hợp tác với Pháp, ủng hộ việc thành lập Quốc gia Việt Nam để cùng Pháp chống Việt Minh. Nhóm hợp tác với Pháp có nhiều người giữ nhiều chức vụ cao trong chính phủ Quốc gia Việt Nam như Nghiêm Xuân Thiện được làm tổng trấn Bắc Kỳ vào năm 1949.
Đại Việt Quốc dân đảng

Tháng 5 năm 1945, các thành viên của các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính Đảng thân Nhật và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) gặp nhau tại Trung Quốc để thành lập 1 liên minh đặc biệt nhằm phối hợp hoạt động giữa các nhóm trong nước và nhóm lưu vong trong trường hợp Trung Quốc đưa quân vào Đông Dương. Đại Việt Dân chính Đảng sáp nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang của Đại Việt còn lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn còn ở Trung Quốc. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng, dẫn đầu 1 đơn vị 250 người hành quân vào Hà Nội. Tuy nhiên ngày 19 tháng 8 năm 1945, lực lượng này đã không ngăn cản Việt Minh cướp chính quyền của phát xít Nhật tại Hà Nội. Tối hôm đó, các đảng viên Đại Việt và Việt Quốc tổ chức họp nhưng không thống nhất được kế hoạch chống Việt Minh giành chính quyền. Các đơn vị khác của Đại Việt ở các tỉnh không thể tiến về Hà Nội do lũ sông Hồng. Quân đội của Đại Việt rút về phía Đông và phía Tây Hà Nội chờ diễn biến tình hình.[142]
Từ tháng 9 năm 1945, rải rác khắp ba miền, Đại Việt Quốc dân Đảng đã cho thành lập chiến khu ở Kép (Bắc Giang), Lạc Triệu (Bắc Giang), Yên Bái, Di Linh (huyện Nông Cống, Thanh Hóa), An Điền (huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định), An Thành (Vĩnh Long), và Ba Rài (Mỹ Tho) để xây dựng các căn cứ và xây dựng lực lượng quân sự mạnh chống Pháp và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Riêng ở Lạc Triệu và Yên Bái còn có trường huấn luyện sĩ quan. Chiến khu ở Kép (Bắc Giang) được Đại Việt Quốc dân Đảng đánh giá là một áp lực mạnh mẽ đối với Việt Minh, có thể "sẵn sàng chuyển quân nhanh chóng về Hà Nội, "dọn dẹp" sạch sẽ Bắc Bộ Phủ (trụ sở của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)".[69]
Sau khi giành được chính quyền, ngày 5 tháng 9 năm 1945, nhân danh Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc dân Đảng với lý do "Đại Việt Quốc dân Đảng đã âm mưu những việc hại cho sự độc lập quốc gia và nền kinh tế Việt Nam".[88][89]
Do Chính phủ ban hành Sắc lệnh giải tán Đại Việt Quốc dân Đảng, nên các đảng viên Đại Việt đã mất tư cách pháp nhân để tham gia chính trường. Trước chiến thắng của Việt Minh trong cuộc Tổng tuyển cử, ngày 15 tháng 12 năm 1945, Đại Việt Quốc dân Đảng cùng với Việt Nam Quốc dân Đảng (lãnh đạo là Vũ Hồng Khanh) và Đại Việt Dân chính Đảng (lãnh đạo là Nguyễn Tường Tam) thành lập Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam nhằm chống lại "phe Cộng sản". Trương Tử Anh làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Bí thư trưởng và Nguyễn Tường Tam làm Tổng thư ký.[46]:227, 233 Việc tham gia Mặt trận Quốc dân Đảng giúp các đảng viên Đại Việt có lại khả năng tham chính dưới danh nghĩa của Mặt trận.
Đối với chương trình hành động của Mặt trận Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng đưa ra kế hoạch bốn điểm nhằm chống lại Việt Minh trong việc bầu cử Quốc hội và thành lập Chính phủ Liên hiệp:[143]
- Phát động phong trào toàn dân bất hợp tác với Việt Minh.
- Tách rời cựu hoàng Bảo Đại ra khỏi Việt Minh và vô hiệu hóa Quốc hội Việt Minh.
- Thành lập một Trung tâm chính trị ở hải ngoại.
- Củng cố các chiến khu, tăng cường khối Quốc dân Quân, mở rộng địa bàn hoạt động.
So với các đảng phái khác, vốn có thực lực bởi hậu thuẫn bởi nước ngoài (Việt Quốc, Việt Cách) hoặc tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo), Đại Việt chỉ thuần túy dựa vào các đảng viên, thiếu hẳn lực lượng quân sự mạnh. Nhận thức được điều này, dưới danh nghĩa Mặt trận Quốc dân Đảng ở miền Bắc và Mặt trận Quốc gia Liên hiệp ở miền Nam, Đại Việt cho ra nhật báo Việt Nam, tuần báo Chính nghĩa và đặc san Sao trắng, dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng bộ đặt ở Hà Nội.[144] Những ấn phẩm khác có báo Đồng minh, và Thanh niên. Đảng cũng lập ra Phong trào Quốc gia Bình dân và Đoàn Thanh niên Bảo quốc để vận động và tranh thủ lực lượng quần chúng tranh đua với Việt Minh.[145]
Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1945, các tổ chức khác nhau của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Minh có thể đã thủ tiêu hoặc bắt giữ hàng trăm đảng viên và những người có liên quan đến Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng tại các tỉnh Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Bình, Phú Thọ, Hưng Yên... Trương Tử Anh lẩn trốn sự truy nã của công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời liên tục cảnh báo Việt Nam Quốc dân Đảng không được liên minh với Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong suốt năm 1946, công an tiếp tục truy lùng các thành viên đảng Đại Việt. Theo David G. Marr, nhờ tuyên truyền có hiệu quả nên Việt Minh làm dân chúng tin rằng đảng viên Đại Việt là những tên tay sai cho phát xít Nhật dù trên thực tế trước ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp chỉ có một số ít người Việt có quan hệ với người Nhật, sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 tất cả các đảng phái ở Việt Nam kể cả Việt Minh đều tiếp xúc với quân đội và nhân viên dân sự Nhật.[146]
Trong ngày 12 tháng 7 năm 1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do phát hiện Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính chính quyền cách mạng đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm 1946.[147][148] Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên. Nhưng vẫn thực hiện bao vây khám xét để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Lực lượng công an đột kích bất ngờ vào lúc sáng sớm khiến cho lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp có hành động phản ứng.[147] Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn.[148]
Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ngày 19 tháng 12 năm 1946, thì Trương Tử Anh đột ngột mất tích.[149] Trên thực tế thì Trương Tử Anh đã bị xét xử và hành quyết ngay trong ngày hôm đó.[150] Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ.[134] Năm 1949, khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh đến hồi quyết liệt, các đảng viên Đại Việt thỏa hiệp với Pháp và tham gia thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam trực thuộc Liên hiệp Pháp. Năm đảng viên Đại Việt chiếm 5 trong số 19 ghế Nội các trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam.
Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng
Trong thời gian quân Tưởng vào miền Bắc, Đại Việt Duy dân tìm cách thâm nhập gây cơ sở ở Hòa Bình, xây dựng Hòa Bình thành căn cứ. Đại Việt Duy dân liên kết với một số lang đạo chống chính quyền, lôi kéo một số lang đạo có thái độ hai mặt trong bộ máy chính quyền các cấp và được số này che chở. Vì vậy, cơ sở Đại Việt Duy dân phát triển khá nhanh bao gồm một số huyện của tỉnh Hà Đông (cũ), Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình. Đảng Đại Việt Duy dân chọn Mường Diềm làm căn cứ chính của Đại Việt Duy dân ở Hòa Bình. Được các lang đạo giúp đỡ, Đại Việt Duy dân đã tích cực xây dựng lực lượng vũ trang bằng cách đưa thành viên từ miền xuôi lên, tập hợp thành viên ở địa phương, thành lập được một số đơn vị, mở một vài lớp huấn luyện quân sự...[151]Ngày 1 tháng 9 năm 1945, các thành viên Đại Việt Duy dân bị Việt Minh tấn công ở Nga My (nay là một phần của Gia Sơn, Ninh Bình) khiến cho 8 người chết và 26 người bị bắt.[152]
Giữa năm 1946, Đại Việt Duy dân bị chính quyền tấn công mạnh tại Hà Nội và các tỉnh ở đồng bằng. Đảng trưởng Đại Việt Duy dân Lý Đông A phải rời Hà Nội về Gia Viễn (Ninh Bình). Tại đây, Lý Đông A lại bị truy đuổi phải chạy lên Hòa Bình và về vùng Diềm. Nhiều thành viên Đại Việt Duy dân ở các nơi khác bị truy quét cũng chạy lên Hòa Bình.[151]
Trong thế bị truy đuổi, dồn ép, các lãnh đạo Đại Việt Duy dân dựa vào sự giúp đỡ của lang đạo và có được một vài đơn vị vũ trang trong tay dự định đánh chiếm Lương Sơn, Lạc Sơn, Chợ Bờ, Suối Rút rồi tiến lên đánh chiếm thị xã Hòa Bình, làm chủ toàn bộ tỉnh Hòa Bình. Lấy Hòa Bình làm bàn đạp chiếm Sơn La, xây dựng Hòa Bình - Sơn La thành một căn cứ rộng lớn ở miền núi rừng Tây Bắc để chống lại chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.[151]
Do nắm được kế hoạch của Đảng Đại Việt Duy dân thông qua con trai lang cun Mường Diềm là cán bộ phụ trách lực lượng vũ trang của huyện Mai Đà nên trước ngày Đại Việt Duy dân định khởi sự, Ban cán sư Việt Minh tại tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, công an tiêu diệt các toán vũ trang của Đại Việt Duy dân ở Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong, Lương Sơn, thị xã Hòa Bình. Lực lượng chiến đấu địa phương đã tiêu diệt và bắt sống đại bộ phận lãnh đạo và lực lượng vũ trang của Đại Việt Duy dân tại Bến Chương. Đảng trưởng Lý Đông A mất tích tại xã Hiền Lương - Mai Đà.[153] Đảng Đại Việt Duy dân hầu như đã bị giải tán. Những thành viên còn sống sót chạy trốn đến vùng Mường Thanh Hóa và khu Phát Diệm–Bùi Chu.[154]
Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội

Trong suốt thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, nhờ có Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) mà các đảng phái chống thực dân Pháp lưu vong tại miền Nam Trung Quốc nhận được sự công nhận và hỗ trợ của tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân khu IV (Quảng Đông - Quảng Tây). Tuy nhiên, từ tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh hoạt động tại các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc mà không lấy danh nghĩa Việt Cách khiến tướng Tiêu Văn (cấp dưới của Trương Phát Khuê phụ trách vấn đề Đông Dương) khó chịu. Tiêu Văn ủng hộ lãnh đạo Việt Cách là Nguyễn Hải Thần (người được kính trọng vì từng là đồng chí của Phan Bội Châu) tập hợp hàng trăm người Việt lưu vong và tổ chức các Ủy ban hành động (sau gọi là Lữ đoàn hành động) do các thành viên Việt Cách chỉ huy để cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới tấn công quân Nhật. Tuy nhiên, khi Nhật bất ngờ đầu hàng Đồng Minh, Tưởng Giới Thạch giao cho Lư Hán nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lư Hán không có quan hệ với Việt Cách cũng như các đảng phái lưu vong khác của người Việt nhưng chấp nhận cho Tiêu Văn tham gia quân đội của ông.
Khi quân Trung Quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật, lực lượng của Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội cũng theo về, mục đích của Việt Quốc, Việt Cách để mở đường, tạo dựng cơ sở cho Quân đội Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam,[155] gây xung đột vũ trang với Quân Giải phóng và cướp chính quyền các địa phương...[156][157] Các Lữ đoàn hành động theo 4 hướng vượt biên giới. Tuy nhiên trong 4 cánh quân này khi xung đột vũ trang với Việt Minh thì 3 cánh quân do Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trương Trung Phụng chỉ huy đã hạ vũ khí, tự giải giáp hoặc gia nhập lực lượng quân đội quốc gia của Việt Minh, chỉ có một cánh quân do Vũ Kim Thành chạy về vùng Hải Ninh rồi bị tiêu diệt.
Ngày 1 tháng 9 năm 1945, tại Móng Cái, Việt Cách thành lập Chính phủ Quốc gia Lâm thời Việt Nam do Nguyễn Hải Thần đứng đầu.[158][159] Sau đó Việt Cách thông báo với Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Trung Hoa Dân quốc và phe Đồng Minh đã công nhận hiệu kỳ của Việt Cách là lá cờ của tất cả các đảng cách mạng Việt Nam. Trên đường tiến vào Hà Nội và Hải Phòng, Việt Cách để cán bộ lại tại các tỉnh họ đi qua khiến Nguyễn Hải Thần khi về đến Hà Nội chỉ có một nhóm cận vệ bên cạnh.[160] Trên báo Cứu Quốc, 7 Tháng Chín 1945 Việt Minh tố cáo Việt Cách.
của Việt Nam Cách mạng Đồng-minh hội |
| ...Hội ấy cũng nêu lên cái khẩu hiệu đánh đuổi Pháp - Nhật. Nhưng họ đã tranh đấu những gì? Trong cuộc võ trang khởi nghĩa đánh vào hai kẻ thù, giữa lúc chủ quyền của chúng còn bền vững cũng như khi đã tan rã, người ta chỉ thấy có đoàn thể Việt Minh... Suốt trong thời kỳ ấy, không ai nghe nói đến hành động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Vừa đây, trước cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Minh ít ngày, hội ấy mới mộ một bọn thổ phỉ kéo vào Móng Cái để đánh Pháp Nhật (ở đó Pháp không còn một người và Nhật đã rút lui). Một vài hôm, khi Nhật trở lại, họ đã hột hoảng chút đi thật mau. Họ cũng nêu lên vẫn để giải phóng dân tộc, mang tự do hạnh phúc cho đồng hào, nhưng khi chiêm Móng cái, họ đã để họn thổ phỉ hung tợn của họ hà hiệp, cướp phá đồng bào, gây nhiều cuộc khủng bỏ tàn ác và thể thảm.Hội ấy tuyên bỏ có một lực lượng rộng lớn, nhưng lực lượng ây không phải là nhân dân trong nước, trong nước không ai biết đến, đó chỉ là một bọn cường dao..... |
| Cứu Quốc, số 1, ngày 7 Tháng 9 năm 1945[161] |
Ngày 18 tháng 9 năm 1945, Việt Minh họp bí mật với Việt Cách. Trong cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Qua đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo sẽ nhận được sự ủng hộ về tài chính và chính trị của Trung Hoa Dân quốc. Võ Nguyên Giáp dứt khoát không đồng ý. Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc, nhân dân sẽ "chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của họ để đổi lấy đô la Trung Quốc".[162] Ngày 30 tháng 9, Nguyễn Hải Thần dẫn đầu một phái đoàn tới gặp Tiêu Văn để thảo luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối tháng 10 năm 1945, bảy đảng viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần" với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần". Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp.[160]
Nguyễn Hải Thần về Hà Nội lập trụ sở ở đường Quan Thánh phố Cửa Bắc, tìm cách vận động dân chúng nội thành ủng hộ. Việt Cách bắc loa tố cáo Việt Minh là cộng sản; sự việc dẫn đến xô xát giữa những đám người ủng hộ và chống đối.[163] Trong khi lãnh đạo các phe phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách tranh cãi về các định nghĩa pháp lý, về việc bổ nhiệm các bộ trưởng và việc đưa ra các tuyên bố chung để đi đến thành lập Chính phủ Liên hiệp thì các chủ bút, cán bộ chính trị, lực lượng vũ trang của các bên vẫn đấu tranh với nhau gay gắt. Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia đoàn quân Nam tiến chi viện cho miền Nam đồng thời buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Báo chí thường xuyên cáo buộc Việt Cách và Việt Quốc tống tiền dân chúng. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền, đặc biệt là đối với Hoa kiều. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, đe dọa tính mạng và phá các cuộc họp của đối thủ. Việt Minh khuyến khích Bồ Xuân Luật rời bỏ Việt Cách lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Ngày 18 tháng 12 năm 1945 tại Hà Nội, Bồ Xuân Luật bị phục kích nhưng may mắn thoát chết.[164][165][166]
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Trương Đình Tri làm Bộ trưởng Bộ Xã hội và Bồ Xuân Luật làm Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp.[164][167] Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì một lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng chí của Phan Bội Châu, được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh.[168] Các lãnh đạo Việt Cách không gặp khó khăn gì trong việc kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4 năm 1946. Các viên chức nhà nước tại những nơi đó phải đối mặt với việc trung thành với Việt Cách, trung lập hay di tản khỏi thị xã. Việt Cách đôi khi phải xin phép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện một số hoạt động của họ.[169]
Bị Việt Quốc làm lu mờ và ngày càng mất đoàn kết, tháng 3 năm 1946, Việt Cách bị chia rẽ. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại lệ thuộc Việt Minh. Việt Cách có thể đã tổ chức một số cuộc tấn công vào lính Pháp tại Hải Phòng vào tháng 4 năm 1946. Cuối tháng 4 năm 1946, Pháp khai quật được 12 thi hài tại tầng hầm trụ sở cũ của Việt Cách tại Hà Nội trong đó có 2 công dân Pháp mất tích ngày 24 tháng 12 năm 1945. Cuối tháng 5 năm 1946, thành viên Việt Cách Hồ Đức Thành tham gia Hội Liên Việt. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6 năm 1946. Tháng 7 năm 1946, Việt Minh tấn công lực lượng của Việt Cách. Nguyễn Hải Thần phải sang Hồng Kông lưu vong.[170] Cuối tháng 10 năm 1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của Quốc hội. Công an thu được một số tài liệu của Việt Cách và triệu tập các thành viên Việt Cách tới thẩm vấn. Từ đó trở đi một vài thành viên Việt Cách hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp giữa các đảng phái trong khi đó các thành viên khác bị tống giam, ám sát hoặc phải lưu vong.[169]
Chiến sự tại miền Nam
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, để tranh thủ lực lượng quần chúng đông đảo ở Nam Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ Minoda Fujio và Tổng lãnh sự Nhật Ida mời bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và kỹ sư Ngô Tấn Nhơn tổ chức thanh niên ở Nam Kỳ.[171] Nắm được ý đồ đó, Xứ ủy Nam Kỳ do Trần Văn Giàu đứng đầu đưa bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Phong trào. Tổ chức Thanh niên tiền phong phát triển khắp các tỉnh Nam Kỳ. Lực lượng do người cộng sản kiểm soát ở miền Nam đông tới hàng triệu người có sức mạnh vượt trội các giáo phái và các phe phái chính trị khác.[172]
Về phía những người theo chủ nghĩa Trotskyist đang kiểm soát ngành cảnh sát và các giáo phái của Hòa Hảo, Cao Đài ít có thiện cảm với Việt Minh. Cao Đài có Đảng Phục Quốc của Trần Quang Vinh và số tín đồ đông hàng vạn người, tập trung ở Sài Gòn đến hàng nghìn làm công nhân và làm binh lính (tuy nhiên, lực lượng công nhân sau này lại theo Việt Minh). Lực lượng Hòa Hảo đông hàng chục vạn người, nhiều nhất là ở Hậu Giang, có chính đảng là Dân Xã Đảng. Giáo phái Tịnh độ cư sĩ có hàng vạn quần chúng, họ không tập trung lên Sài Gòn, nhưng làm cơ sở quần chúng cho Quốc gia Đảng. Phe Trotskyist không có đông quần chúng nhưng một cánh Trotskyist là cánh Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương cầm đầu Sở Mật thám và Sở Cảnh sát Nam Kỳ tạo thế cho các cánh khác hoạt động. Nhiều tổ chức khác có năm, bảy trăm, vài ba ngàn người hợp tác với Sở Sen đầm Kempeitai của Nhật.[173]
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Sài Gòn, những người lãnh đạo Việt Minh ở Sài Gòn đã tổ chức một cuộc biểu tình quy môn lớn để biểu thị một sự đoàn kết với việc Hồ Chí Minh tại Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn độc lập và để chứng minh Nam Bộ là một phần của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi người biểu tình đến trước cửa Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành 1 sự hỗn loạn. Không điều tra thủ phạm vụ nổ súng, cảnh sát Việt Nam đã bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng người Hoa và Pháp. Ngay sau đó, những người Trotskyist và phái Hòa Hảo, Cao Đài công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời. Họ tổ chức biểu tình yêu cầu cấp vũ khí cho dân chúng và kêu gọi mọi người chống lại quân đội Anh. Các Ủy ban Nhân dân địa phương ủng hộ yêu sách của các tổ chức này. Tại các tỉnh xảy ra xung đột vũ trang giữa bộ đội Việt Minh và các đơn vị quân sự của Cao Đài và Hòa Hảo. Phe đối lập kết tội Việt Minh phản bội, từ chối không giao nộp vũ khí và đòi Giàu từ chức.[174]
Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cải tổ Ủy ban Hành chính Lâm thời. Trần Văn Giàu từ chức nhường chỗ cho Phạm Văn Bạch. Số thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương rút từ 6 (trong số 9 người) xuống còn 4 (trong số 13 người). Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 1 thuộc Cao Đài, 1 người Trotskyist, 2 thuộc Hòa Hảo, 3 người không đảng phái, 2 người thuộc các đảng phái quốc gia khác. Ủy ban hành chính Nam Bộ hợp tác với Kỳ bộ Việt Minh gồm đại biểu các đảng phái: Đảng Cộng sản Đông Dương, Tân Dân chủ, Tổng công đoàn, Thanh niên Tiền phong, Việt Nam quốc gia, Cao Đài hợp nhất, Việt Nam Cứu quốc đoàn (Kỳ bộ cũ của Việt Minh), Quốc gia độc lập, Công giáo, Thanh niên nghĩa dũng đoàn họp bàn thành lập Ủy ban nhân dân Nam Bộ.[175] Tuy nhiên sự cải tổ này không đem lại ổn định cho miền Nam. Ủy ban mới nhanh chóng sụp đổ chưa đầy 2 tuần lễ sau do các cuộc tranh cãi đảng phái và nỗi lo sợ các đội vũ trang của Việt Minh.[176]
Sau khi Pháp nắm quyền kiểm soát Sài Gòn, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán về nông thôn và thi hành chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Lực lượng kháng chiến và cơ quan Quốc gia Tự vệ Cuộc bắt giam và thủ tiêu nhiều nhân sĩ, trí thức và lãnh tụ các đảng phái bị kết tội làm Việt gian hợp tác với Pháp hoặc bị tình nghi là Việt gian. Thậm chí một số nhân viên thừa hành của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ và một số nhóm kháng chiến còn lợi dụng công vụ để cướp bóc, trấn lột; nếu ai chống đối sẽ bị kết tội là Việt gian rồi thủ tiêu. Tinh thần kháng chiến đi xuống, lực lượng kháng chiến bị chia rẽ, các đảng phái quốc gia xa lánh Việt Minh và thành lập Mặt trận Quốc gia Liên hiệp.[177] Tháng 12 năm 1945, Nguyễn Bình được cử vào Nam lãnh đạo phong trào kháng chiến tại Nam Bộ. Ông lập lại trật tự bằng cách lập tòa án quân sự xét xử tất cả các chỉ huy quân sự lợi dụng danh nghĩa kháng chiến để cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng, tổ chức lại lực lượng kháng chiến thành các chi đội Vệ quốc đoàn.[178]
Mặt trận Quốc gia Thống nhất tan rã
Mặt trận Quốc gia Thống nhất là một liên minh chính trị thành lập ngày 14 tháng 8 năm 1945, gồm các đảng phái quốc gia tại Nam Bộ do Hồ Văn Ngà vận động thành lập ở miền Nam Việt Nam, hợp nhất tất cả các phe phái không thuộc Việt Minh, bao gồm cả các phái Nam Bộ Cao Đài, Hòa Hảo.[179][180][181] Nhóm Đệ Tứ không tham gia Mặt trận nhưng có tiếp xúc thường xuyên với Hồ Văn Ngà.[182] Cùng ngày Nhật cho phép Bảo Đại cử một Khâm sai đại thần nắm quyền cai trị tại Nam Kỳ đồng thời bổ nhiệm những người Việt thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất vào các vị trí trong bộ máy chính quyền do các viên chức dân sự Pháp đã bị Nhật tống giam. Ngày 16 tháng 8, giới chức Nhật bắt đầu chuyển giao các công sở cho Mặt trận Quốc gia Thống nhất.[183] Thống đốc Minoda ở Sài Gòn đợi khâm sai Nguyễn Văn Sâm để bàn giao. Ban đầu dự tính vị Khâm sai Nam Bộ sẽ đến vào ngày 19 tháng 8,[184] nhưng trên đường đi bị chậm trễ do Việt Minh nên tới chiều ngày 22 tháng 8 ông mới về tới Sài Gòn.[185] Nhật chuyển giao vũ khí cho chính quyền Việt Nam do Việt Minh làm nòng cốt.

Ngày 21 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn biểu dương lực lượng tại Sài Gòn với trên 200 nghìn người tham dự.[186] Nhóm Đệ Tứ cũng tham gia diễn hành dưới cờ của Ðệ Tứ Quốc Tế. Trong tháng 8 các đảng phái trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất và Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức hội nghị quân sự thành lập:
- Dân Quân Cách mạng Đệ Nhứt Sư đoàn do giới cựu chiến binh trong quân Nhật và Bình Xuyên đảm trách.
- Dân Quân Cách mạng Đệ Nhị Sư đoàn do Cao Đài đảm trách (Nguyễn Thành Phương, Trình Minh Thế đều xuất thân từ tổ chức này).
- Dân Quân Cách mạng Đệ Tam Sư đoàn do Nguyễn Hòa Hiệp đảm trách (Nguyễn Hòa Hiệp là đảng viên Quốc Dân Đảng miền Nam, lúc đó đã có sẵn tổ chức Dân Quốc Quân, cùng liên kết với các tổ chức khác để hình thành Đệ Tam Sư đoàn).
- Dân Quân Cách mạng Đệ Tứ Sư đoàn do Phật giáo Hòa Hảo đảm trách, với tổ chức Bảo An được quy nạp.
Ngày 22 tháng 8, Mặt trận Quốc gia đưa ra tuyên bố chính thức về nền độc lập dân tộc và việc thống nhất lãnh thổ quốc gia.[187]Chiều cùng ngày, Ban Trung ương Thanh niên Tiền phong ra quyết nghị tham gia Mặt trận Việt Minh.[24][188][189] Ngay sau đó, Việt Minh treo biểu ngữ "Chánh quyền về Việt Minh" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền do Việt Minh thành lập. Lãnh tụ các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bất ngờ trước ý định đơn phương thành lập chính quyền của Việt Minh.[179]
Trong cuộc họp sau đó Mặt trận, Trần Văn Giàu thuyết phục các đảng phái trong Mặt trận chuyển giao quyền lực cho Việt Minh vì Mặt trận có thể bị Đồng Minh xem là một tổ chức thân Nhật còn Việt Minh lại đang hợp tác với Đồng Minh (tình báo quân sự Mỹ OSS) chống Nhật. Ngày 23 tháng 8, Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh và Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn. Bảo Đại thoái vị và Nguyễn Văn Sâm phải trao quyền lại cho lực lượng Việt Minh.[187] Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ được thành lập do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, ra tuyên bố họ là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[190][191] Sau đó, một số lãnh đạo đảng phái, tôn giáo tại miền Nam đã tham gia vào Ủy ban hành chính.
Trotskyist
Ngay sau khi cấm Đại Việt Quốc dân Đảng hoạt động, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo những người Trotskyist (nhóm La Lutte và nhóm Liên minh Cộng sản Quốc tế) là kẻ thù của mình. Đảng cộng sản Đông Dương và những người Trotskyist từ lâu đã chỉ trích nhau là tay sai đế quốc. Tuy nhiên xung đột của hai nhóm này trước năm 1945 chỉ thể hiện bằng báo chí, diễn thuyết, truyền đơn. Sau năm 1945, hai nhóm bất đồng quan điểm về việc thực hiện cách mạng xã hội và cách đối phó với việc Đồng Minh đổ bộ vào Nam Kỳ. Tháng 3 năm 1945, nhóm Trotskyist ra tuyên bố lên án Đảng Cộng sản Đông Dương, nhóm Stalinist của Quốc tế thứ ba, đã từ bỏ giai cấp công nhân để nhóm mình thảm hại dưới các đế quốc "dân chủ", phản bội những người nông dân và không còn nói về vấn đề ruộng đất; đồng thời tuyên bố "cuộc đấu tranh độc lập dưới lá cờ của Quốc tế thứ tư", "ủng hộ cách mạng thế giới". Ý nghĩa chính của họ là làm suy nhược Đảng Cộng sản Đông Dương tại Nam Kỳ và để làm giảm hiệu quả của Việt Minh ở đó.[192] Những người Trotskyist cũng đấu tranh vì độc lập dân tộc nhưng lại chủ trương muốn thực hiện ngay lập tức một cuộc cách mạng xã hội và vũ trang quần chúng xóa bỏ tàn dư của chế độ thực dân Pháp và chống lại lực lượng Đồng Minh còn Đảng Cộng sản Đông Dương muốn thực hiện giải phóng dân tộc trước rồi làm cách mạng xã hội đồng thời thỏa hiệp với Đồng Minh để giành độc lập từng bước để tránh sự thay đổi đột ngột về kinh tế xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp gắn liền với nó.[68][193]
Trong tháng 8 năm 1945, những người Trotskyist đưa ra một chương trình cách mạng xã hội. Họ cùng với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên khuyến khích nông dân tước đoạt tài sản địa chủ, chia nhau ruộng đất của địa chủ. Nhiều địa chủ bị nông dân giết. Việt Minh phản đối việc xúi giục nông dân chiếm ruộng đất của địa chủ và tuyên bố: "chúng tôi chưa làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất. Chính phủ hiện nay chỉ là chính phủ dân chủ vì thế không có nhiệm vụ nói trên. Tất cả những người nào xúi giục nông dân chiếm tài sản của địa chủ sẽ bị trừng trị nghiêm khắc". Phía Việt Minh cho rằng những hành động như cách mà phái Trotskyist đang làm sẽ làm rạn nứt xã hội, cản trở việc Việt Nam độc lập khỏi Pháp.[194]
Cuối tháng 8 năm 1945, trên đường ra Hà Nội, vừa đến Quảng Ngãi, Tạ Thu Thâu bị giết.[195] Một số ý kiến khác cho rằng vào tháng 9, Tạ Thu Thâu về Nam Kỳ. Trên đường về, ông bị Việt Minh bắt vài ngày 14 tháng 9 và sau đó xử tử tại Quảng Ngãi.[196][197]
Trong suốt cuộc biểu tình tại Sài Gòn ngày 25 tháng 8, khi những người ủng hộ Việt Minh hô vang "Tất cả chính quyền về tay Việt Minh!" thì thành viên phái Liên Minh phản ứng lại "Tất cả chính quyền vào tay các ủy ban nhân dân!" và hát bài Quốc tế ca, không hài hòa với tiếng hát bài LênĐàng của Thanh Niên Tiền Phong cảm kích say sưa tầng lớp thanh niên với "chủ nghĩa anh hùng truyền thống ngànnăm của dân Việt". Ngày 3 tháng 9, nhóm Liên Minh biểu tình tại Chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi tăng cường lực lượng các ủy ban nhândân, vũ trang toàn dân để chiến đấu chống lại mọi đế quốc, không phân biệt đế quốc "phát xít" hay "dân chủ". Cácthành viên phụ trách vẫn giữ các khẩu hiệu: "Ruộng đất về tay dân cày! Nhà máy về tay công nhân! Đông Dươnghoàn toàn độc lập!".[198]
Thái độ nhóm Tranh Đấu từ tốn hơn, họ tuyên bố không hề dính dáng với nhóm Liên Minh. Tờ Tranh Đấu đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Sài Gòn khiến một số người chết nhưng nhìn chung lập trường của họ vẫn là thương lượng Đảng cộng sảnĐông Dương, chấp nhận hành động chung về mặt quân sự trong khi vẫn giữ độc lập về chính trị và triển vọng"cách mạng thường trực", "Các đồng chí chúng ta quên mọi hiềm nghi đối với phái Stalin".[199] Sau đó, ngày 8 tháng 9 năm 1945, Trần Văn Giàu thay mặt Ủy ban Hành chính Lâm thời ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích (ám chỉ những người Trotskyist và các giáo phái) đã phá hoại trật tự và gây đổ máu vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, đồng thời chỉ trích việc họ đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi vũ trang cho quần chúng. Bản thông cáo nhắc nhở rằng quân đội Nhật mặc dù đã bại trận nhưng theo thỏa thuận với Đồng Minh vẫn có trách nhiệm duy trì trật tự cho đến khi Đồng Minh tới. Tổng Hành dinh Nhật có thể tước vũ khí bộ đội quốc gia, cấm các phong trào chính trị gây rối loạn trị an, cấm các cuộc biểu tình không được phép trước Tổng Hành dinh Nhật, tước vũ khí dân chúng. Thông cáo kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo. Chỉ như vậy việc đàm phán giữa phong trào độc lập của Việt Nam với Đồng Minh mới thuận lợi.[200] Ông cũng trả lời điều chất vấn việc Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không liên quan đến Lâm ủy hành chính ở Nam Bộ. Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch được chỉ định là thành viên dự khuyết trong uỷ ban nhưng Phan Văn Hùm đã từ chối không tham gia.[201][202]
Ngày 14 tháng 9, Dương Bạch Mai tịch thu vũ khí cùng máy móc in ấn và tống giam những người Trotskyist ở trụ sở Tân Ðịnh, Sài Gòn. Binh lính Anh tìm thấy họ đêm 22 tháng 9 và giao nộp cho người Pháp.[68] Sau khi được thả, những người Trotskyist tổ chức tấn công quân Anh, Pháp theo lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu đứng đầu vào ngày 23 tháng 9.[203] Sau đó phong trào Đệ Tứ tham gia bạo động vũ trang dưới sự chỉ huy của người lãnh đạo do họ bầu ra là Trần Đình Minh.[204] Đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng 9, ở khu Hérault tại Tân Định ngoại ô Sài Gòn, khoảng 300 người Pháp bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị một nhóm người Việt bắt cóc và một nửa trong số họ bị giết, số còn lại được thả sau khi đã bị đánh đập, tra tấn.[205][206] Các nhóm quân sự tại Sài Gòn đổ lỗi cho nhau gây ra vụ việc.[207][208][209] Mật thám Pháp sau khi điều tra thì kết luận rằng cuộc tàn sát này thực chất do phe Trotskyist thực hiện.[210]
Đầu năm 1946, khi Pháp đánh chiếm lại Nam Bộ, Đảng Cộng sản Đông Dương đã truy lùng, bắt giữ và hành quyết một cách có hệ thống khoảng 20 lãnh đạo phe Trotskyist. Nguyễn Long Thành Nam (tín đồ Hòa Hảo, cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa) cho rằng tại Sài Gòn, lực lượng công an do Việt Minh kiểm soát đã bắt và xử bắn 68 cán bộ chủ chốt của phe Trotskyist trong đó có Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Sổ, Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương khi họ đang họp ở Thủ Đức vì phe Trotskyist không chấp hành lệnh rút lui về nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ.[211] Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng giết tại miền Đông Nam Bộ.[212] Tuy nhiên, theo nguồn khác thì Phan Văn Hùm bị hành quyết theo lệnh của Dương Bạch Mai trên chặng đường sắt giữa ga Phan Thiết và Tháp Chàm và thi thể bị ném xuống sông.[68] Những thành viên Trotskyist khác phải nương tựa Hòa Hảo và các đảng phái quốc gia khác ở đồng bằng sông Cửu Long.[187][195][213][214][215] Nhóm công nhân xe điện do Liên Minh lãnh đạo vẫn tiếp tục cầm cự chống lại quân Việt Minh, Gurkha và Pháp tại Gò Vấp và Đồng Tháp Mười ở tây bắc Sài Gòn cho đến ngày 13 tháng 1 năm 1946, khi Trần Đình Minh tử trận trong lúc chạm trán với quân viễn chinh ở trận Mỹ Lợi.[216][217]
Tại miền Bắc, các chính quyền địa phương được lệnh phát hiện, bắt giữ và tống giam những người Trotskyist tuy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ra văn bản nào cấm lực lượng này hoạt động. Đến năm 1946, những người Trotskyist tại miền Bắc không còn là mối lo ngại đối với chính quyền hoặc không còn người Trotskyist nào bị phát hiện. Trên báo chí, từ Trotskyist vẫn tiếp tục xuất hiện là để cảnh cáo những nhân viên nhà nước công khai phàn nàn đồng lương không đủ sống hay những người dám đấu tranh để người lao động kiểm soát nhà máy, xí nghiệp.[218] Tuy nhiên, việc Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định xoá sổ toàn bộ phe phái chống thực dân theo chủ nghĩa Marx ở miền Nam đã vẫn là chủ đề gây tranh cãi cho đến ngày nay.[219]
Hòa Hảo

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của Phật giáo Hòa Hảo. Đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái Hòa Hảo là Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, theo Việt Minh, một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hảo đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ cai quản, quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.[220] Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ.[221]
Ngày 7 và 8 tháng 9 năm 1945, một số thành viên Trotskyist cùng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tham gia một cuộc tấn công đẫm máu nhưng bất thành nhằm vào các thành viên Việt Minh ở Cần Thơ. Họ tổ chức một cuộc biểu tình của khoảng 15.000-20.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với các khẩu hiệu "Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp. Tẩy uế các phần tử thúi nát trong Ủy ban Hành chánh Nam bộ".[222][223] Nhưng Việt Minh đã huy động Thanh niên Tiền phong cùng với sự hỗ trợ quân Nhật Bản đồn trú gần đó bắn vào đoàn biểu tình đồng khiến nhiều người chết và bị thương.[68] Ngày 9 tháng 9 năm 1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với lý do "đi rước Đức Thầy", theo Việt Minh Hòa Hảo dự định cướp chính quyền. Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[220]
Mức độ đẫm máu của các cuộc đụng độ đã khiến Hòa Hảo mở ra một chiến dịch trả đũa đẫm máu nhằm vào lực lượng Cộng sản từ các căn cứ vùng châu thổ.[223] Thi thể các cán bộ cộng sản bị trói lại vào nhau và ném xuống sông, kênh. Tại các thôn ấp do Hòa Hảo kiểm soát, xác chết còn bị trưng bày công khai như một biện pháp nhằm nhận diện những người bị nghi ngờ có thiện cảm với Việt Minh.[224]
Đến cuối tháng 9 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tìm cách nối lại quan hệ và thương lượng với Hòa Hảo. Tuy nhiên, Huỳnh Phú Sổ vẫn giữ sự nghi ngờ sâu sắc đối với Việt Minh nên đã bác bỏ đề nghị này. Sang ngày 7 tháng 10, Việt Minh tiến hành xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu cuộc biểu tình là Huỳnh Thạnh Mậu (em trai Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn Xuân Thiếp (cố vấn Trotskyist) và Trần Ngọc Hoành (con trai Trần Văn Soái).[225][226]
Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp.[220] Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:
- Hai bên cam kết không chống lại nhau.
- Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
- Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.
Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, Mặt trận Quốc gia Liên hiệp tan rã vào tháng 7 năm 1946 và Huỳnh Phú Sổ dần tách rời khỏi giới thủ lĩnh quân đội của mình. [227] Huỳnh Phú Sổ ngày càng hăng say rao giảng về việc chống lại Việt Minh mà ông coi là mối đe dọa lớn hơn cả người Pháp. Xung đột với Việt Minh dần biến thành một cuộc thánh chiến. Huỳnh Phú Sổ giảng rằng mỗi tín đồ Hòa Hảo giết được mười người của Việt Minh thì sẽ được lên thiên đàng.[228]
Ngày 18 tháng 12 năm 1946, tại chiến khu Bình Hòa (Tân An), Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực, bao gồm 7 chi đội vũ trang với khoảng 20.000 binh sĩ và 300.000 đội viên bảo an quân.[229] Tên gọi của lực lượng Bộ đội Nguyễn Trung Trực nhằm gợi nhắc cuộc khởi nghĩa kháng chiến chống Pháp của anh hùng Nguyễn Trung Trực.[230]
Ngày 27 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng tham gia vào Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, một tổ chức chính trị chống lại quyền lãnh đạo của Việt Minh. Huỳnh Phú Sổ có kế hoạch cùng các đảng phái, tôn giáo khác sử dụng lực lượng vũ trang của mình để lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông để cô lập lực lượng kháng chiến của Việt Minh ở chiến khu 7, vô hiệu hóa hai chiến khu 8 và 9. Về mặt chính trị sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái khác ở miền Bắc để chống lại quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tháng 3 năm 1947, nhóm Trần Văn Soái bỏ không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn Lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo lừa dối tín đồ nói: "Súng Việt Minh bắn không nổ!", xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính Lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[220]
Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt Quốc dân Đảng và Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh chống Việt Minh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ và quần chúng cốt cán của Việt Minh.[220] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc tắm máu ở Tây Nam Bộ vào ngày 6 tháng 4 năm 1947. Những người dân không ủng hộ Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[220] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động cướp phá ở các vùng do Việt Minh kiểm soát tại các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[220] Việt Minh đáp trả bằng việc tấn công các căn cứ của Hòa Hảo từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1947, buộc quân đội Hòa Hảo phải rút lui về Long Xuyên.[231]
Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú (Đồng Tháp Mười) để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây và Việt Nam Cộng hòa đều nghi ngờ tướng Trần Văn Soái đã phản bội và chủ mưu trong vụ thủ tiêu Huỳnh giáo chủ rồi đổ lỗi cho Việt Minh để chia gây chia rẽ giữa 2 lực lượng và đem lực lượng của mình về đầu quân cho Pháp.[229][232][233] Theo nghiên cứu của McHale (2021) thì có hai khả năng cho cái chết của Huỳnh Phú Sổ: hoặc là Ủy ban Hành chính Nam Bộ đã lần lượt bắt giữ, xử án và hành quyết Huỳnh Phú Sổ sau ngày 16 tháng 4; hoặc là ông đã bị Việt Minh giết chết trong khoảng từ ngày 15 đến 23 tháng 4 năm 1947 rồi mới dựng lên quá trình pháp lý để hợp thức hoá việc này.[234] Theo đó, Ngày 18 tháng 4 năm 1947, ông được mời đến một căn cứ của Việt Minh ở Đồng Tháp Mười để dự cuộc hòa giải.[235][236] Tại cuộc họp, ông đã từ chối các yêu sách của phía Cộng sản và lên đường trở về nhưng khi đi qua Long Xuyên trên rạch Đốc Vàng Hạ, đoàn thuyền của ông bị chặn lại. Phần lớn tùy tùng bị sát hại và Huỳnh Phú Sổ bị bắt giữ.[231] Ngày 20 tháng 4, Ủy ban Hành chính Nam Bộ tuyên bố giải tán Dân Xã đảng do Huỳnh Phú Sổ lãnh đạo và đưa ông ra xét xử trước một tòa án quân sự. Tại phiên tòa ngày 25 tháng 4, Ủy ban Hành chính Nam Bộ tuyên án tử hình đối với Huỳnh Phú Sổ. Tướng Nguyễn Bình công bố việc hành quyết vào ngày 20 tháng 5 năm 1947, nhưng tin đồn về việc này đã được lan truyền trước đó từ lâu.[234] Nhằm ngăn tín đồ Hòa Hảo thu nhặt di cốt của Huỳnh Phú Sổ để dựng đền thờ tử đạo, Việt Minh đã phân xác và rải khắp nơi trong cả nước [237][238][239] Còn theo tài liệu của Viện nghiên cứu Khoa học Công an, Huỳnh Phú Sổ bị bắt và xử tử vào ngày 22 tháng 12 năm 1947 bởi Việt Minh tại Long Xuyên.[240]
Sau khi Huỳnh Phú Sổ mất tích, quan hệ Việt Minh - Hòa Hảo hoàn toàn đổ vỡ đồng thời tạo ra một khoảng trống quyền lực trong giới lãnh đạo tôn giáo. cha của ông là Huỳnh Công Bộ chọn kế vị để trở thành người lãnh đạo phong trào. Tuy nhiên, ông không có được sức uy tín, sự khéo léo chính trị và tinh thần lý tưởng mãnh liệt như con trai của mình.[241] Do đó phong trào bắt đầu suy giảm, dẫn tới tình trạng chia rẽ phe phái, cục bộ địa phương và bị các tổ chức bên ngoài chi phối, kéo theo bạo lực gia tăng khi những nhóm quân phiệt xung đột với nhau.[242][243] Lực lượng vũ trang Hòa Hảo bị phân hóa thành bốn nhánh quân phiệt cát cứ, mỗi nhóm do một thủ lĩnh quân sự lãnh đạo.[220][244]
- Nhóm Trần Văn Soái, tức Năm Lửa, mang danh nghĩa Quân đội Hòa Hảo, hoạt động tại Cần Thơ, Vĩnh Long, đặt bản doanh tại Cái Vồn.
- Nhóm Lâm Thành Nguyên, tức Hai Ngoán, hoạt động tại 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc, bản doanh đặt tại Cái Dầu.
- Nhóm Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, mang danh nghĩa Nghĩa quân Cách mạng, kiểm soát vùng Rạch Giá, Long Xuyên, đóng bản doanh tại Thốt Nốt.
- Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, tức Ba Gà Mổ, mang danh nghĩa Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, đóng tại một vài khu vực trong tỉnh Long Xuyên, đặt bản doanh tại Chợ Mới.
Những thủ lĩnh quân phiệt mới mang xu hướng bạo lực cực đoan hơn, thực hiện các vụ thiêu sống công khai, chém đầu và hành quyết hàng loạt người Khmer và người Việt.[245] Không ai trong số các chỉ huy quân sự quan tâm đến điều gì ngoài việc củng cố vị thế cá nhân và không một lãnh đạo dân sự nào có đủ năng lực định hướng hay kêu gọi kiềm chế như Huỳnh Phú Sổ.[246] Hoạt động bạo lực của Hoà Hảo thậm chí vượt khỏi phạm vi Nam Bộ, xâm nhập sang lãnh thổ Campuchia để cướp phá các ngôi làng của người Khmer. Phản ứng lại, người Khmer địa phương tổ chức lực lượng tự vệ chống Hòa Hảo, trong khi một số khác cải đạo nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân.[247] Đến giữa năm 1947, lực lượng Hòa Hảo đã hoàn toàn bước vào cuộc chiến vũ trang chống Việt Minh.[228] Chưa đầy một tháng sau vụ ám sát Giáo chủ, ngày 18 tháng 5 năm 1947, nhân danh Tổng chỉ huy các lực lượng quân sự Hòa Hảo Trần Văn Soái đã ký kết Hiệp định Liên quân với Đại tá Cluzet, Tư lệnh Phân khu Tây Nam Bộ của Pháp, với những cam kết hợp tác. Theo đó thì lực lượng quân sự của giáo phái Hòa Hảo sẽ được quân đội Pháp hậu thuẫn và xem như là Lực lượng Bổ sung (Suppletif Forces) để chống Việt Minh.[248]
Tháng 6 năm 1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới - Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[220] Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ... Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt,[249] nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Những người chống Việt Minh trong đạo Hòa Hảo, tổ chức nhiều lực lượng vũ trang hợp tác với Pháp, áp bức khủng bố dân chúng ủng hộ Việt Minh, gây ra nhiều tội ác.[220] Dù vậy, đa số tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì một số tín đồ Hòa Hảo giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến.
Đầu tháng 10 năm 1947, 40 nghìn quân Hoà Hảo đã đồng loạt tấn công vào các cơ sở của Việt Minh tại các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ để trả thù cho giáo chủ.[250] Trong những năm 1949 - 1950, nhiều đồn bốt đã án binh bất động, "trung lập hóa", không đàn áp dân chúng và tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[220]
Cao Đài

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cả chính quyền Nhật lẫn Việt Minh đều tranh thủ ra sức lôi kéo các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, một nhóm các chức sắc Cao Đài, nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa ở Tây Nam Bộ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng Thanh niên Đạo đức đoàn dưới sự lãnh đạo của Cao Triều Phát cố vấn Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, có xu hướng chống cả Pháp lẫn Nhật. Người Nhật thì can thiệp mở lại Tòa Thánh Tây Ninh tại Sài Gòn, đổi lại việc Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh), người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tập hợp các tín đồ hợp tác với quân đội Nhật để chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công của xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Nam Bộ. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi Nội ứng nghĩa binh, dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản.[251]
Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ. Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh tỉnh, một chức sắc Cao Đài thuộc Tòa Thánh Tây Ninh khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn.
Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham chiến tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Sau khi vào Nam, Đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội Vệ Quốc đoàn. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được tổ chức thành 2 chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và chi đội số 8 do Nguyễn Hoài Thanh chỉ huy.
Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã đưa lực lượng của mình rút về Tây Ninh và xây dựng các căn cứ để bảo vệ Tòa Thánh Tây Ninh. Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh quá khích lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh quá khích. Chi đội số 7 và số 8 do Cao Đài chỉ huy bị Việt Minh bao vây tước khí giới. Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch Việt Nam Độc lập Đảng.[252][253][254]
Nắm được sự mâu thuẫn này và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại các tín đồ Cao Đài sẽ không tấn công người Pháp và được quân Pháp bảo trợ.[255][256] Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các lãnh thổ do Tòa Thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, do Trung tướng Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng,[257] có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh.[257][258][259]
Bất đồng trước sự hợp tác của một số chức sắc với quân Pháp, các chức sắc còn lại của Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh đã gia nhập "Cao Đài Cứu Quốc", mở rộng thành "Cao Đài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt" với lập trường tiếp tục ủng hộ kháng chiến chống Pháp.[28][29][260] Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh. Phản ứng trước việc này, lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh tuyên bố trục xuất các chức sắc và tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh nào tham gia Cao Đài Cứu Quốc.
Bình Xuyên

Sau khi quân Anh-Pháp gây hấn ở Sài Gòn (23 tháng 9 năm 1945), nhiều lực lượng quân sự chống Pháp được thành lập. Người lập bộ đội thường lấy tên của mình đặt cho lực lượng trong vùng, như bộ đội Tân Quy cũng được gọi là bộ đội Dương Văn Dương, hay gọn hơn là bộ đội Ba Dương. Bộ đội Nhà Bè mang tên bộ đội Hai Nhị, Hai Soái... Khi Dương Văn Dương, thủ lĩnh các nhóm giang hồ Nam Bộ, thống nhất các lực lượng quân sự chống Pháp ở Tân Quy, Tân Thuận, Nhà Bè, Thủ Thiêm.
Bộ đội Bình Xuyên là lực lượng quân sự mạnh nhất ở vùng Đông Nam Bộ thời bấy giờ. Địa bàn hoạt động được tổ chức thành Liên khu Bình Xuyên (gồm các chi đội số 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25), đảm trách nhiệm vụ bao vây quân Anh-Pháp ở mạn Nam Sài Gòn. Sau khi đặc phái viên trung ương Nguyễn Bình vào tổ chức quân đội, Dương Văn Dương được chỉ định làm Khu bộ phó Khu 7.[261] Ngày 24 tháng 9 năm 1945, Lê Văn Khôi (hay "Ba Nhỏ"), cấp dưới của Ba Dương bị cáo buộc đã tổ chức vụ thảm sát ở Cité Hérault và nhiều tội danh khác.[208] hành động của Ba Nhỏ đã làm phức tạp thêm tình hình vốn rất phức tạp lúc bấy giờ dẫn đến việc Đông Dương Cộng sản Năm Bộ bị suy yếu bởi các vụ bắt giữ và hành quyết hàng loạt do quân đội Pháp tiến hành.[262] Để giữ vững kỷ luật quân đội, lấy lại lòng tin của nhân dân, Nguyễn Bình quyết định bắt Ba Nhỏ và mở phiên tòa xét xử tại Phước Lai, Long Thành (nay là xã Nhơn Trạch, Đồng Nai). Sau khi nghị án, Nguyễn Bình thay mặt tòa đọc bản tuyên án, nêu rõ những tội danh mà Ba Nhỏ đã phạm phải và tuyên án tử hình. Ba Nhỏ xin phép được tự hành quyết và yêu cầu đã được chấp thuận.[208][263][264]
Sau khi Dương Văn Dương tử trận vào năm 1946, lực lượng Bình Xuyên bị phân hóa. Một bộ phận chống Pháp do Dương Văn Hà (tức Năm Hà, em cùng cha khác mẹ của Dương Văn Dương) chỉ huy, được tổ chức lại và phiên chế chính quy thành Vệ quốc đoàn. Một bộ phận khác do Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) chỉ huy, li khai năm 1948 và hợp tác với Pháp, sau đó tham gia vào chính phủ Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Tháng 12 năm 1947, Đại úy Savani (Thuộc Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.
Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp gặp Nguyễn Bình (Nguyễn Bình cho mời Huỳnh Văn Nghệ hay còn gọi là Tám Nghệ đi Rừng Sác để thuyết phục vì biết Bảy Viễn rất nể trọng Tám Nghệ dù ông tướng này không phải dân giang hồ), và để tham gia cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Bảy Viễn chức Khu trưởng khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa bộ đội Bình Xuyên của Bảy Viễn và bộ đội Nguyễn Bình. Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời những chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng khu 7 mà trước đó Bảy Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này phải là Huỳnh Văn Nghệ vì chiến công của bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của bộ đội Bảy Viễn. Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị thuộc Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc đoàn để đối phó âm mưu chia rẽ các lực lượng Quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho rất nhiều những lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh chính của Lực lượng Bình Xuyên). Nguyễn Long Thành Nam cho rằng Bảy Viễn phản đối quyết liệt vì ông nghĩ Nguyễn Bình đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành.[265] Bảy Viễn nói với Nguyễn Bình "chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với chúng tôi. Bình Xuyên đã chiến đấu từ trước khi đồng chí vào tới Nam Bộ, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà đồng chí chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành... Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi....". Bảy Viễn kết tội Nguyễn Bình đã hai lần ám sát ông, Nguyễn Bình phản bác "Chính hắn (Bảy Viễn) đã nhiều lần mưu sát tôi, đoàn hộ vệ của tôi đã chết về tay hắn". Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng khu 7 và tỏ vẻ bất hợp tác với Việt Minh. Trên đường từ Đồng Tháp trở về Rừng Sác, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị Trung đoàn 306 của Nguyễn Bình phục kích trong đêm nhưng Bình Xuyên đã đề phòng nên họ thoát khỏi vòng phục kích.[266]
Ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani (Trưởng phòng nhì Pháp) cùng Thiếu úy Cistisni, Bảy Viễn họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc hợp tác giữa 2 bên. Ngày 13 tháng 6, Bảy Viễn mở cuộc hành quân để tái chiếm chiến khu Rừng Sác của Việt Minh nhưng không thành vì tướng Nguyễn Bình đã cho củng cố chiến khu này rất chặt chẽ. Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới quyền của Phó Thủ tướng Trần Văn Hữu kiêm Thống đốc Nam Phần. Tổng hành dinh được đặt tại số 31 Đại lộ Gaudot, Chợ Lớn.[267] Ngày 1 tháng 8 cùng năm, Bảy Viễn được Tướng De Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam phần.
Từ năm 1948, nhóm Bình Xuyên li khai là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng "Công an Xung phong", địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Dưới sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn - Chợ Lớn trong đó phải kể Casino Grande Monde (Đại Thế giới), Casino Cloche d'Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.[268] Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với người đảo Corse (Thuộc nước Pháp) để buôn thuốc phiện và ma tuý công khai. Trong giới giang hồ miền Nam khi đó thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như danh vọng.
Sau Hiệp định Genève, các thành viên của Bình Xuyên phải sáp nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng ngầm không phục tùng. Đến năm 1955 thì nhóm Bình Xuyên bị lực lượng của Ngô Đình Diệm tiêu diệt. Bảy Viễn và các thuộc cấp được Pháp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ, bắt đầu cuộc sống lưu vong.
Lập trường của các nhóm tôn giáo
Công giáo

Người Công giáo Việt Nam tích cực ủng hộ sự độc lập của Việt Nam, đặc biệt thấy rõ khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố thành lập vào tháng 9 năm 1945.[269] Ngày tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 khi đó trùng vào ngày lễ kính các đấng tử đạo Việt Nam. Trong chính quyền Việt Nam có những nhân vật Công giáo nổi bật như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng. Người Công giáo Việt Nam chống lại việc thực dân Pháp quay trở lại Đông Dương, và họ trở nên dấn sâu vào phong trào độc lập dân tộc.[270] Chính quyền Việt Nam cử lãnh đạo cấp cao tới dự lễ tấn phong Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ và lễ thành lập Liên đoàn Công giáo tại Phát Diệm.[270] Là người quyết liệt chống Pháp, Giám mục Lê Hữu Từ nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cố vấn tối cao của chính phủ.[271]
Trong giai đoạn ban đầu này, tiếp xúc giữa Công giáo và cộng sản tại miền Bắc diễn ra trực tiếp và ở cấp cao nhất, còn tại miền Nam, nơi sớm bị Pháp tái chiếm, các cuộc liên lạc này ít chính thức hơn.[270] Phong trào kháng Pháp của người Công giáo ở Nam Bộ cũng diễn ra sôi nổi, nhiều người trong số đó ủng hộ Việt Minh như bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, luật sư Thái Văn Lung, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh.[272]
Nhiều giáo sĩ Công giáo Việt Nam đề cao tinh thần dân tộc, chống thực dân đồng thời cố gắng giữ người Công giáo khỏi bị cuốn vào cuộc chiến giữa thực dân Pháp và Việt Minh. Hai địa phận Phát Diệm và Bùi Chu được vũ trang thành khu tự vệ Công giáo.[273] Trong suốt cuối thập niên 1940, khu vực này giữ được sự độc lập khỏi cả thực dân Pháp và Việt Minh.[269] Nhiều người dân lương, giáo đã kéo về đây để tránh tình hình chiến sự căng thẳng.[274]
Trong suốt Chiến tranh Đông Dương, Tòa Thánh Vatican không sẵn lòng ủng hộ thực dân Pháp lôi kéo người Công giáo Việt Nam.[275] Vấn đề là phong trào dân tộc ở Việt Nam lại do Đảng cộng sản lãnh đạo. Vatican cho rằng thức hệ cộng sản với chủ trương nhà nước vô thần muốn loại bỏ các tôn giáo.[276] Tháng 6 năm 1948, Vatican nhận định rằng người cộng sản Việt Nam "từng chút một" bộc lộ bản chất không phải là những người yêu nước mà là một đảng chống tôn giáo sẽ tiến hành việc "bách hại có hệ thống" người Công giáo Việt Nam.[275] Ngày 1 tháng 7 năm 1949, khi Đảng cộng sản đang dần kiểm soát toàn bộ Trung Quốc, Giáo hoàng Piô XII ra sắc lệnh cấm tín hữu Công giáo khắp thế giới cộng tác với phong trào cộng sản.[275]
Từ năm 1950, cả thực dân Pháp và Việt Minh đều muốn kiểm soát khu tự trị Phát Diệm–Bùi Chu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở nên gắn bó với khối cộng sản quốc tế, trong khi Vatican thì lên án mọi sự cộng tác với cộng sản, còn Quốc gia Việt Nam phi cộng sản được Hoa Kỳ hậu thuẫn đang trỗi dậy, dẫn đến việc các giáo sĩ Việt Nam nghiêng về phía chống cộng nhưng không từ bỏ chủ nghĩa dân tộc và chống thực dân.[269] Năm 1951 tại Hà Nội, các đấng bản quyền Đông Dương ra thư chung thể hiện lập trường chống cộng sản gay gắt: "Chẳng những không được nhập đảng cộng sản, mà lại anh em không thể cộng tác bất kỳ dưới hình thức nào có thể giúp đỡ họ nắm chính quyền." Lá thư thôi thúc lòng yêu nước và đức bác ái: "Lòng ái quốc là tình yêu tổ quốc, là yêu quê cha đất tổ … chúng tôi khích lệ và vun trồng nó như các nhân đức Kitô giáo khác."[277]
Năm 1951, thực dân Pháp kiểm soát về mặt hành chính và quân sự đối với khu Phát Diệm–Bùi Chu, chấm dứt sự tự trị của nơi này.[269] Thái độ chính trị hoặc trung lập chính trị của người Công giáo Việt Nam cho thấy sự đa dạng: họ không phải là một khối đồng nhất. Đông đảo hơn cả là những giáo hữu theo đường lối của các giám mục, thiểu số là những người ủng hộ Bảo Đại, hoặc là theo Việt Minh.[270] Tại Địa phận Hà Nội, Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê xử lý quân bình trước cả hai phía.[274] Theo trang VietCatholic ở hải ngoại, các nghiên cứu gần đây cho thấy Tòa Thánh và giới Công giáo Việt Nam không cộng tác với thực dân Pháp như thường được tuyên truyền.[274]
Trong giai đoạn này, Công giáo bị chia rẽ giữa nhiều lập trường khác nhau:[31][278][279]
- Hội Công giáo Cứu quốc và Hội Công giáo Kháng chiến ủng hộ Việt Minh, sau này hợp nhất thành Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn, Gioakim Nguyễn Bá Luật, Vũ Đình Tụng, Phêrô Phạm Bá Trực, Thái Văn Lung...
- Liên đoàn Công giáo Việt Nam từng ủng hộ Việt Minh rồi ngả về phía Quốc gia Việt Nam: Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ, Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giuse Maria Trịnh Như Khuê,...
- Hạn chế thể hiện thái độ chính trị: Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Gioan Baotixita Trần Hữu Đức, Đa Minh Hoàng Văn Đoàn, Phaolô Nguyễn Văn Bình,...
Phật giáo
Phần lớn phật tử và chư tăng Phật giáo tham gia kháng chiến và gia nhập các Hội Phật giáo Cứu quốc trên cả nước.[25][26][27]
Các sư tăng nổi bật tham gia Việt Minh có thể kể đến: Thích Tịnh Khiết, Thích Minh Nguyệt, Thích Tâm An, Thích Thanh Chân, Thích Trí Thủ, Thích Mật Thể, Thích Thế Long, Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Trí Độ, Thích Thanh Tứ, Minh Tịnh...
Có thể nói Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam thời đó và cũng là tôn giáo mà đa số ủng hộ Việt Minh chống Pháp. Tuy nhiên, người Phật giáo đã đụng chạm với thái độ và hành động chèn ép từ những người vô thần cực đoan trong thời gian kháng chiến. Nhiều lãnh đạo Phật giáo trong các vùng kháng chiến bị cô lập hóa như cư sĩ Thiều Chửu, tăng sĩ Thích Mật Thể, tăng sĩ Thích Tuệ Chiếu, tăng sĩ Thích Huyền Quang v.v.[280] Phía Quốc gia Việt Nam và Pháp từng cố gắng thành lập một số hội Phật giáo chống Việt Minh như Phật giáo Thuyền Lữ ở miền nam hoặc Phật giáo Cổ Sơn Môn ở miền trung nhưng không hiệu quả. Trong vùng Quốc gia, Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1951 giữa bối cảnh người Phật giáo ít dấn thân vào xã hội.[281]
Tin Lành
Tin Lành lúc này chưa có nhiều tín đồ như các tôn giáo khác, nhưng vẫn tổ chức một Hội thánh Tin Lành để lãnh đạo các tín đồ cả nước.[60][282] Cũng giống Công giáo, bên Tin Lành cũng bị chia rẽ với nhiều tín đồ và mục sử ủng hộ các phe khác nhau trong thời chiến tranh. Dù vậy hầu như không có xung đột nào giữa Việt Minh và Tin Lành được ghi chép lại.
Nói chung giai đoạn này, các thành viên giáo hội Tin Lành cũng bị chia rẽ thành 2 nhóm khác nhau,[33][60][282] mặc dù về lý thuyết vẫn là chung một Hội thánh:
- Nhóm ủng hộ Việt Minh: Bùi Hoành Thử, Dương Tự Ấp, Trần Văn Đệ... Về sau nhóm này thành lập Hội thánh Tin Lành tại miền Bắc
- Nhóm ủng hộ Pháp hoặc chủ trương trung lập: Lê Văn Thái, Lê Hoàng Phu... Về sau nhóm này thành lập Hội thánh Tin Lành tại miền Nam
Attentistes

Sau khi bùng nổ cuộc chiến tranh tổng lực giữa Việt Minh và Pháp vào tháng 12 năm 1946, đã xuất hiện những người quốc gia theo đuổi một ‘Lực lượng Thứ ba’ vừa chống cộng sản vừa chống thực dân. Tuy nhiên, nhiều nỗ lực đã thất bại do sự bất đồng giữa các nhóm phi cộng sản, khiến nhiều nhà hoạt động phải chọn một thái độ trung lập dè dặt trong cuộc xung đột, và họ bị gán nhãn là atttentistes.[283]:435 Một cách khái quát, thuật ngữ attentisme (chờ đợi và quan sát) đề cập tới thái độ của loạt các đối tượng, bao gồm giới buôn bán và thương nhân, giới trí thức và chuyên viên yêu nước, cũng như các lãnh đạo như Ngô Đình Diệm và một số đảng viên Đại Việt. Khi cuộc chiến bị quốc tế hóa vào năm 1950, nhiều nhân vật trong số này cuối cùng đã bước xuống khỏi 'hàng rào' và tham gia trực tiếp vào chính trường.[284]
Một số nhân vật attentistes nổi bật bao gồm:
Kết quả

Tại Bắc Bộ và Trung Bộ nơi Việt Minh có cơ sở và hậu thuẫn mạnh hơn, các nhóm chủ nghĩa quốc gia Việt Nam bị đánh bại và phải lánh đi.[285] Bằng việc loại bỏ các đảng quốc gia, Việt Minh đã làm suy yếu sức mạnh chung của Việt Nam trong việc chống lại quân Pháp tái chiếm.[286] Khi các cuộc đàm phán sụp đổ, căng thẳng giữa chính quyền Việt Minh và Pháp bùng nổ thành cuộc chiến toàn diện vào tháng 12 năm 1946.[287]:73–81 Pháp chiếm đóng các thành phố, và Việt Minh rút vào rừng núi, bưng biền xây dựng chiến khu.
Tại Nam Bộ, tình thế khó khăn hơn cho Việt Minh vì có nhiều giáo phái và tổ chức đoàn thể cùng tồn tại. Xứ ủy Nam Kỳ đã lôi kéo Thanh niên Tiền phong[24] và Bộ đội Bình Xuyên[261] gia nhập Việt Minh. Về sau một nhóm Bình Xuyên tách ra quy hàng Pháp. Hai tôn giáo Cao Đài[28] và Hòa Hảo[32] bị chia rẽ thành nhóm thiểu số theo Việt Minh và nhóm đa số chống Việt Minh cộng sản. Phật giáo có xu hướng ủng hộ Việt Minh,[25] các Hội Phật giáo Cứu quốc và Phật giáo Kháng chiến được thành lập trên khắp cả nước. Riêng Công giáo thì chia thành nhóm ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Bảo Đại, và trung lập.[288] Tóm lại, sau khi trấn áp các đảng phái đối lập ban đầu, Việt Minh vẫn tiếp tục chiến đấu với các nhóm chống cộng. Xung đột xảy ra rải rác, tại các vùng Công giáo ở Bắc Bộ, các vùng bảo hoàng ở Trung Bộ, và các vùng Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên ở Nam Bộ.
Các phần tử quốc gia còn sống sót cùng với các nhóm chính trị–tôn giáo đã tập hợp xung quanh cựu hoàng Bảo Đại để nối lại đàm phán với Pháp nhằm chống lại cộng sản.[289][78]:187–188 Quốc gia Việt Nam, với Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần thống nhất, thành lập vào ngày 2 tháng 7 năm 1949, sau khi thực hiện Hiệp định Élysée và cho quốc gia này có thêm quyền tự chủ trong Liên hiệp Pháp.[290] Vào tháng 1 năm 1950, Trung Quốc cộng sản và Liên Xô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác công nhận Quốc gia Việt Nam. Cuộc nội chiến và cuộc chiến thuộc địa ở Đông Dương trở nên quốc tế hóa và đan xen vào Chiến tranh Lạnh toàn cầu.[287]:90–95
Xung đột đảng phái chuyển trọng tâm sang việc Việt Minh chống lại Quốc gia Việt Nam. Để mở rộng ảnh hưởng và kêu gọi đoàn kết, ngày 7 tháng 3 năm 1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam hợp nhất lại thành Mặt trận Liên Việt.[291][292]
Xem thêm
Chú thích
- ↑ Trương Thị Bích Hạnh 2015, tr. 20.
- ↑ sử, Khoa Lịch (ngày 9 tháng 8 năm 2023). "Quan điểm của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với các Đảng phái chính trị trong cuộc vận động vì dân sinh, dân chủ (1936-1939)". Khoa Lịch sử.
- ↑ "Ý kiến: Việt Minh nắm quyền do đâu?". BBC News Tiếng Việt. ngày 19 tháng 8 năm 2015.
- ↑ Lê Mậu, Hãn (ngày 18 tháng 5 năm 2015). "Hồ Chí Minh hoàn thiện đường lối chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận Việt Minh". Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- ↑ Uông Thái, Biểu (ngày 27 tháng 11 năm 2020). "Phế đế "hồi loan" và ký vãng về "Hoàng triều Cương thổ" (kỳ cuối)". Báo Lâm Đồng. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "Những bí mật về cuộc đón tiếp Bảo Đại tại Hà Nội năm 1949". Bảo tàng Lịch sử quốc gia. ngày 16 tháng 7 năm 2010.
- ↑ Goscha 2016, tr. 241–247.
- ↑ Tran 2022, tr. 5–19.
- ↑ Goscha 2016, tr. 135–136, 170–181, 204.
- ↑ Reilly 2017, tr. 3.
- ↑ Tran & Vu 2022, tr. 10.
- ↑ Vu, Tuong (2019). "In the Service of World Revolution: Vietnamese Communists' Radical Ambitions through the Three Indochina Wars". Journal of Cold War Studies. 21 (4): 4–30. doi:10.1162/jcws_a_00905.
- ↑ Asselin 2023, tr. 4–45
- ↑ Thomas & Asselin 2022, tr. 515.
- 1 2 Marr 2013, tr. 405-406.
- 1 2 Võ Nguyên Giáp 2009, tr. 288-289.
- ↑ sử, Khoa Lịch (ngày 9 tháng 8 năm 2023). "Tìm hiểu về mặt trận Việt Minh (PGS. TS. Phạm Hồng Tung)". Khoa Lịch sử.
- ↑ "SCAP General Order no. 1". ngày 14 tháng 10 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2002.
- ↑ Hugh Dyson Walker (tháng 11 năm 2012). East Asia: A New History. AuthorHouse. tr. 621–. ISBN 978-1-4772-6516-1.
- ↑ Roy, Kaushik; Saha, Sourish (2016). Armed Forces and Insurgents in Modern Asia . Routledge. tr. 84. ISBN 978-1-317-23193-6 – qua Google Books.
- ↑ Miller, Edward (2016). The Vietnam War: A Documentary Reader. Uncovering the Past: Documentary Readers in American History . John Wiley & Sons. tr. 40. ISBN 978-1-4051-9678-9 – qua Google Books.
- 1 2 3 "Mặt trận Việt Minh - biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ↑ "Quan điểm của đồng chí Trường Chinh về Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam | Chương trình phối hợp | Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam". mattran.org.vn.
- 1 2 3 "THANH NIÊN TIỀN PHONG – SỨC MẠNH THẦN KỲ TRONG NHỮNG NGÀY MÙA THU LỊCH SỬ". thanhnien.hochiminhcity.gov.vn.
- 1 2 3 "Đóng góp của Phật giáo trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)". hutoglobal.
- 1 2 "Lễ Phật đản do Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ tổ chức năm 1949". Giác Ngộ Online. ngày 26 tháng 5 năm 2011.
- 1 2 Nguyễn Đại, Đồng (ngày 11 tháng 1 năm 2017). "Tính chất và đặc điểm của Phật giáo Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp". Tạp chí Nghiên cứu Tôn Giáo.
- 1 2 3 "Hội Cao Đài cứu quốc - Một nét son trong lịch sử đạo Cao Đài". vusta.vn. ngày 30 tháng 5 năm 2013.
- 1 2 "Cao Đài Ban Chỉnh đạo Bến Tre với sứ mệnh thiêng liêng trong nền Đại đạo Tam kỳ phổ độ - Giới thiệu các tổ chức tôn giáo đã được công nhận | Ban Tôn giáo Chính Phủ". BTGCP. ngày 1 tháng 1 năm 1970. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Ngô Quốc, Đông (ngày 12 tháng 4 năm 2014). "Từ Đoàn Công giáo cứu quốc đến Liên đoàn Công giáo Nam Bộ". Tạp chí Nghiên cứu Tôn Giáo.
- 1 2 "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- 1 2 "Đồng bào phật giáo Hoà Hảo An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) 2002 — LUẬN ÁN TIẾN SĨ - Cơ sở dữ liệu toàn văn". luanan.nlv.gov.vn.
- 1 2 3 "Bản sao đã lưu trữ" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "LỊCH SỬ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT".
- ↑ "TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 93 NĂM NGÀY THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM – NGÀY TRUYỀN THỐNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM (18/11/1930 – 18/11/2023)".
- ↑ "Nguyễn Lam - Người Bí thư đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cứu quốc". Báo Đại biểu Nhân dân. ngày 31 tháng 3 năm 2024.
- ↑ "GIỚI THIỆU VỀ ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH".
- ↑ "Hội LHPN Việt Nam: Các dấu mốc lịch sử - Cổng Thông Tin Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam".
- ↑ "Lịch sử Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh". ngày 17 tháng 2 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Lịch sử – HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM". redcross.org.vn.
- ↑ "Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam (phần 2)".
- ↑ "Chu Văn Tấn - người anh cả của du kích Việt Nam". Báo Thanh Niên. ngày 23 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2025.
- 1 2 Nguyễn Đình, Lễ (tháng 1 năm 2001). "Cuộc xung đột vũ trang giữa các giáo phái ở miền Nam với chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-1956)" (PDF). Thư viện số tài liệu nội sinh.
- ↑ "Số phận long đong của Ông phái viên Bảy Tâm". Báo Công an Nhân dân điện tử.
- 1 2 3 Guillemot, François (2003). "Vietnamese Nationalist Revolutionaries and the Japanese Occupation: The Case of the Dai Viet Parties (1936–1946)". Trong Narangoa, Li; Cribb, Robert (biên tập). Imperial Japan and National Identities in Asia, 1895–1945. RoutledgeCurzon. tr. 221–248. ISBN 9780700714827.
- ↑ Phạm Xuân Mỹ (2019). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1930 - 1985) (PDF). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
- ↑ Luận, Nguyễn Công (2012). "Memoirs of a Victim Turned Soldier" – qua JSTOR.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần|journal=(trợ giúp) - ↑ "60 năm nhìn lại vụ án "Tia chớp" Ro Nha". Báo Công an Nhân dân điện tử.
- 1 2 "VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG". ngày 9 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Đại Việt Quốc dân Đảng". ngày 13 tháng 11 năm 2021.
- ↑ "Nhìn lại cuộc xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Hoà Hảo - HỘ PHÁP - THƯ VIỆN HOA SEN".
- ↑ "Hiệp Định Genève, 50 Năm Nhìn Lại: Các Lực Lượng Quân Sự Của 4 Hệ Phái Hòa Hảo - Tin Trong Ngày - Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization".
- ↑ "SỰ HÌNH THÀNH NỘI ỨNG NGHĨA BINH & QUÂN ĐỘI CAO-ĐÀI" (PDF).
- ↑ "15- Nguyễn Bình Và Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp - Sách Phật Giáo Hòa Hảo - Phật Giáo Hòa Hảo".
- ↑ Reilly, Brett (tháng 11 năm 2016). "The Sovereign States of Vietnam, 1945–1955" (PDF).
- ↑ "Phạm Cao Dương: Miền Nam Trong Những Ngày Định Mệnh Tháng Tám và Chín 1945" (PDF).
- ↑ "New Page 1". navygermany.gerussa.com.
- ↑ "Hồ Chí Minh và vấn đề Công giáo (1945-1954)".
- 1 2 3 Ngô Quốc, Đông (ngày 23 tháng 12 năm 2019). "Hồ Chí Minh và đạo Tin lành".
- ↑ Dương, Thanh Mừng (ngày 9 tháng 11 năm 2023). "Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam với phong trào chấn hưng Phật giáo giữa thế kỷ XX".
{{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần|journal=(trợ giúp) - ↑ "Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ". vietnamsuhoc.com.
- ↑ Patti 1980, tr. 378.
- ↑ "Một Cơn Gió Bụi, Chương 6: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước, Trần Trọng Kim". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Một Cơn Gió Bụi, Chương 9: Đi sang Tàu, Trần Trọng Kim Lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014 tại Wayback Machine, Tạp chí Văn hóa Nghệ An
- ↑ Patti 1980, tr. 537-538.
- ↑ Paris - Saigon - Hanoi, trang 127, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
- 1 2 3 4 5 Marr 2013, tr. 408-409.
- 1 2 "Lược sử Đại Việt Quốc dân Đảng 1939-63". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Guillemot 2004.
- ↑ Marr 2013, tr. 383–441.
- ↑ Kort 2017, tr. 62–63, 81–85.
- ↑ Tran 2022, tr. 24–30.
- ↑ Goscha 2016, tr. 204–208.
- ↑ Holcombe 2020, tr. 35, 38–44.
- ↑ Kort 2017, tr. 83–84.
- ↑ Guillemot 2004, tr. 205-207.
- 1 2 Reilly, Brett (2018). The Origins of the Vietnamese Civil War and the State of Vietnam (PhD). University of Wisconsin–Madison.
- ↑ Tran, Nu-Anh (2023). "Denouncing the 'Việt Cộng': Tales of revolution and betrayal in the Republic of Vietnam". Journal of Southeast Asian Studies. 53 (4): 686–708. doi:10.1017/S0022463422000790.
- ↑ Goscha 2016, tr. 208.
- 1 2 Guillemot 2003, tr. 231.
- ↑ Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, báo Giáo dục thời đại
- ↑ Guillemot 2003, tr. 227–228.
- ↑ Hồ Văn Châm, Câu chuyện xoay quanh lá cờ, Tạp chí Cách mạng của Đại Việt Cách mạng Đảng, Bộ mới, số 6, Xuân Đinh Sửu, tháng 2 năm 1997. Houston, TX, USA.
- ↑ Causes, origins, and lessons of the Vietnam War. Hearings, Ninety-second Congress, second session... May 9, 10, and 11, 1972, page 325.
- ↑ Nguyễn Đức Cung, Đại Việt Cách mạng Đảng sử yếu & tư liệu, 2011.
- ↑ Guillemot 2019, tr. 43.
- 1 2 "SẮC LỆNH". www.vietlaw.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- 1 2 "Sắc lệnh số 8 ngày 5 tháng 9 năm 1945, Website Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam".
- ↑ Tử ngục Chín Hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn, Dương Phước Thu, Nhà xuất bản Thuận Hóa. tr 25
- ↑ Guillemot 2012a.
- ↑ Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Phạm Khắc Hoè, Nhà xuất bản Thuận Hoá 1987
- ↑ Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông Lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại Wayback Machine, Nhật Hoa Khanh, Tạp chí Xưa & Nay - Số 269 (10/2006)
- ↑ Trở lại chuyện Phạm Quỳnh Lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2018 tại Wayback Machine, 6/5/2017, Tuần báo Văn nghệ
- ↑ Tâm sự tướng lưu vong, chương 8, Nhà xuất bản công an nhân dân, 1998
- ↑ "Quá trình vận động đấu tranh tiến tới Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự thành lập chính quyền nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc". Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Marr 2013, tr. 414.
- ↑ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Patti 1980, tr. 281.
- ↑ Hammer 1955, tr. 139.
- ↑ Võ Nguyên Giáp 2009
- ↑ Hammer 1955, tr. 140.
- ↑ Patti 1980, tr. 544-545.
- 1 2 Currey 1999, tr. 110.
- ↑ Marr 2013, tr. 544-545.
- ↑ Marr 2013, tr. 414-415.
- ↑ Marr 2013, tr. 415-416.
- ↑ Marr 2013, tr. 416-417.
- ↑ Marr 2013, tr. 417.
- ↑ Hammer 1955, tr. 144.
- ↑ Marr 2013, tr. 418.
- 1 2 Thư gửi Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Báo Việt Nam, số 19, 6 tháng 12 năm 1945
- 1 2 3 Marr 2013, tr. 419.
- ↑ "Bức thư ngỏ cùng anh em Việt Nam Quốc dân Đảng trong nhóm "Việt Nam"". Báo Sự thật. ngày 5 tháng 12 năm 1945.
- ↑ Marr 2013, tr. 418-419.
- ↑ Marr 2013, tr. 415.
- 1 2 Phạm Văn Quyền (chủ biên), 60 năm Công an nhân dân Việt Nam, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân, 2006, trang 104.
- ↑ Patti 1980, tr. 542.
- ↑ Patti 1980, tr. 492-494.
- ↑ Ho Chi Minh. A life. P 345
- ↑ Kỳ Nam 1964, tr. 359.
- ↑ Hoa quân nhập Việt và mưu đồ "Diệt cộng cầm Hồ" Lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2015 tại Wayback Machine, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, 07 Tháng Tư 2014
- ↑ Marr 2013, tr. 422-423.
- 1 2 3 4 5 Marr 2013, tr. 422.
- ↑ Võ Nguyên Giáp 2009, tr. 274.
- 1 2 Việt Nam, một thế kỷ qua, Chương 30, Nguyễn Tường Bách, Nhà xuất bản Thạch Ngữ, California, 1998
- ↑ Bộ trưởng Nguyễn Tường Tam, Trang web Bộ Ngoại giao
- 1 2 3 Marr 2013, tr. 423.
- ↑ Currey 1999, tr. 196-197.
- 1 2 3 4 Marr 2013, tr. 424.
- 1 2 Nguyễn Trọng Khuê (chủ biên), Những trang sử vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam (1945-2005) Nhà Xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, trang 14-16.
- ↑ "Con trai "ông tiên thuốc nam" phá vụ án Ôn Như Hầu". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
- 1 2 Võ Nguyên Giáp 2009, tr. 290.
- ↑ Phạm Văn Quyền (chủ biên), 60 năm Công an nhân dân Việt Nam, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân. Hà Nội, 2006, trang 105-107.
- 1 2 Marr 2013, tr. 427.
- ↑ Marr 2013, tr. 426.
- ↑ Đỗ Công Ngôn (ngày 10 tháng 10 năm 1947). "[Editorial] Ý kiến Ngày Mới: Con ngựa trắng không phải là ngựa". Ngày Mới. Số 54. Hà Nội.
- ↑ Marr 2013, tr. 426-427.
- ↑ Tucker 2000, tr. 443.
- ↑ Jamieson 1995, tr. 215.
- ↑ Marr 2013, tr. 406-407.
- ↑ TIỂU SỬ ĐẢNG TRƯỞNG
- ↑ Hà Thúc Ký. tr 113
- ↑ "Đại Việt Quốc dân Đảng, Lịch sử Đảng". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Marr 2013, tr. 407-408.
- 1 2 Vụ án phố Ôn Như Hầu, Thiếu tướng Lê Hữu Qua, Báo Nhân dân, ngày 19/8/2005.
- 1 2 "Con trai "ông tiên thuốc nam" phá vụ án Ôn Như Hầu, PHÁP LÝ Online". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
- ↑ Penniman, Howard R. Elections in South Vietnam. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, 1972, tr. 166.
- ↑ Nguyễn Tố Uyên, Công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân ở Việt Nam trong những năm 1945-1946, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1999, tr. 213-214.
- 1 2 3 "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình (1929 – 2010), Chương 3". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012.
- ↑ "Một ổ Việt-gian bị trừ-diệt". Cứu Quốc. Số 41. Hanoi: Tổng bộ Việt Minh. ngày 12 tháng 9 năm 1945. tr. 1.
- ↑ Spencer C. Tucker The Encyclopedia of the Vietnam War : A Political, Social, ... 2011 - tr. 253 "These included the Dai Viet Duy Dan, well known among Vietnamese intellectuals for its nhan chu duy dan (“people's populism”) theory. Its founder, Ly Dong A, was also kidnapped and disappeared. Another such party was the Dai Viet Dan...
- ↑ "Tiểu sử Thái Dịch Lý Đông A và Hoạt động của Đảng Đại Việt Duy Dân". ngày 7 tháng 4 năm 2025 [ngày 30 tháng 4 năm 2016].
- ↑ Võ Nguyên Giáp 2009, tr. 33-36.
- ↑ Võ Nguyên Giáp 2009, tr. 35.
- ↑ Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 3, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2007, trang 10.
- ↑ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Quảng Ninh
- ↑ Giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám tại khu vực miền Đông tỉnh Quảng Ninh
- 1 2 Marr 2013, tr. 411.
- ↑ "Hành động mờ ám của Việt Nam Cách mạng Đồng Minh hội". Báo Cứu Quốc. ngày 5 tháng 9 năm 1945.
- ↑ Patti 2008, tr. 544-545.
- ↑ Hoàng Tường 1982, tr. 75.
- 1 2 Marr 2013, tr. 412-413.
- ↑ Vì nước, Số 8, 19 Tháng Mười Hai 1945
- ↑ Thủ đô Hà Nội trong cuộc Tổng tuyển cử
- ↑ "Bài 1: Những công việc quốc gia trọng đại trước và sau tổng tuyển cử". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Marr 2013, tr. 412.
- 1 2 Marr 2013, tr. 413-414.
- ↑ Dommen, Arthur J. (2001). The Indochinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Indiana University Press. ISBN 0-253-33854-9.
- ↑ Trần Văn Giàu 2011, tr. 188.
- ↑ Lịch sử Nam Bộ kháng chiến(1945-1954), Nhà xuất bản Sự Thật, trang 50
- ↑ Trần Văn Giàu 2011, tr. 182-183.
- ↑ Patti 1980, tr. 460, 461, 490.
- ↑ Báo Cứu quốc, ngày 10 tháng 9 năm 1945, tr.2
- ↑ Patti 1980, tr. 490.
- ↑ Nguyễn Kỳ Nam 1964, tr. 261-264.
- ↑ Nguyễn Kỳ Nam 1964, tr. 294-302.
- 1 2 Hồi Ký 1925 - 1964, tập I, Nguyễn Kỳ Nam, trang 49-51, Nhựt Báo Dân Chủ Mới, 1964.
- ↑ Jessica M. Chapman Cauldron of Resistance: Ngô Đình Diệm, the United States, and 1950s Southern Vietnam 2013 p28 "On August 17, a group of non–Viet Minh parties and organizations in the south, including the Trotskyists, the politico-religious organizations, Catholics, .."
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 196.
- ↑ "Những điều chưa biết mới về Phan Văn Hùm", Trần Nguơn Phiêu.
- ↑ "Cochinchina returned to Vietnamese rule". End of Empire. NIAS Press. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Sài Gòn số 17009, 18 tháng Tám 1945.
- ↑ Sài Gòn số 17013, 23 tháng Tám 1945.
- ↑ Sài Gòn số 17012, ngày 22 tháng 8 năm 1945.
- 1 2 3 Chieu 1986, tr. 312-313.
- ↑ Hoàng Văn Đào Việt Nam Quốc Dân Đảng: A Contemporary History of a National ... 2008 "The Advanced Guard Youth was under the leader of Dr. Phạm Ngọc Thạch. This organization adhered to the United National Front (Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất) at first, but when Thạch heard of the abdication of the Emperor Bảo Đại,"
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 198.
- ↑ Patti 1980, tr. 330-334.
- ↑ "Communist-led forces seize power in southern Vietnam". End of Empire. NIAS Press. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
- ↑ Declassified per Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316
- ↑ Patti 1980, tr. 430-431.
- ↑ Patti 1980, tr. 459.
- 1 2 "Tạ Thu Thâu". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Ta Thu Thau: Vietnamese Trotskyist Leader, www.marxists.org.
- ↑ Martin, Patrick (2020). "Seventy-five years since the Stalinist murder of Vietnamese Trotskyist leader Ta Thu Thau". World Socialist Web Site (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 205-208.
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 205.
- ↑ Patti 1980, tr. 459-460.
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 208.
- ↑ Trần Văn Giàu 2011, tr. 317.
- ↑ Rosie, George; Borum, Bradley (1986). Operation Masterdom: Britain's Secret War in Vietnam. Mainstream. ISBN 9781851580002.
- ↑ Xuyet, Ngo Van (1968). "On Vietnam: 1. The La Lutte Group and the Workers' and Peasants' Movement (1933-37)". marxists.org. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Patti 1980, tr. 520.
- ↑ Jacques Valette, La Guerre d'Indochine 1945-1954, Armand Colin, 1994, tr. 45.
- ↑ Ngô Văn 200, tr. 211.
- 1 2 3 "Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình và vụ án Ba Nhỏ cuối năm 1945". Công An Nhân Dân. Lê Văn. ngày 12 tháng 12 năm 2006.
- ↑ Félixine 1959, tr. 74-76
- ↑ Wise, Edward Taylor (1991). Vietnam in turmoil : the Japanese coup, the OSS, and the August revolution in 1945 (Luận văn). University of Richmond. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 8: Việt Minh Cộng sản Sát Hại Các Lãnh Tụ Quốc gia, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
- ↑ Theo sách Người Bình Xuyên và Nguyễn Bình: huyền thoại và sự thật của nhà văn Nguyên Hùng, thì: Kiều Đắc Thắng là công nhân quê miền Trung, trước năm 1945 vô Sài Gòn sinh sống đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Bản chất ông vốn là người háo thắng. Không rõ nguyên nhân gì mà Kiều Đắc Thắng bị Tây bắt đày ra khám Vũng Tàu (có tài liệu nói là ăn cướp). Nhờ Năm Bé là một tay anh chị Xóm Chiếu giúp đỡ, Kiều Đắc Thắng vượt ngục về Lái Thiêu. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Kiều Đắc Thắng tự xưng là chỉ huy trưởng Trung đoàn kháng chiến miền Đông đóng quân ở Bưng Cầu (tài liệu khác nói Thắng tự xưng tư lệnh miền Đông). Kiều Đắc Thắng đã xung công nhiều nhà máy, và gán cho nhiều người là Việt gian, trong đó có Phan Văn Hùm. Các hành động quân phiệt của Kiều Đắc Thắng chấm dứt khi đặc phái viên Trung ương là tướng Nguyễn Bình vào Nam thống nhất lại các tổ chức vũ trang. Nhà văn Thiếu Sơn cũng cho rằng ông Hùm bị Kiều Đắc Thắng giết chết (Bài học Phan Văn Hùm, Nhà xuất bản Thông tin, Hà Nội, 2000).
- ↑ Daniel Bensaïd. Trotskismos. Editorial El Viejo Topo, 2007. ISBN 849683106X. Trang 149.
- ↑ Van Ngo. Revolutionaries They Could Not Break: The Fight for the Fourth International in Indochina 1930-1945. Index Books, 1995. ISBN 1871518075. Trang 92
- ↑ Robert J. Alexander (1991). International Trotskyism 1929-1985: A Documented Analysis of the Movement. Duke University Press. tr. 971.
- ↑ Ngô Văn 2000, tr. 218.
- ↑ Pirani, Simon (1986). "1945: Vietnam's August Revolution". Workers Press [Encyclopaedia of Trotskyism On-Line (marxists.org) 2013].
- ↑ Marr 2013, tr. 409-410.
- ↑ Marr 2013, tr. 409.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954), Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, 2010.
- ↑ Patti 1980, tr. 459, 460, 461, 490.
- ↑ Fall 1963, tr. 151–153.
- 1 2 McAlister 1969, tr. 95.
- ↑ Tai 2013, tr. 139.
- ↑ Kiernan 2017, tr. 384–385.
- ↑ Tai 2013, tr. 140.
- ↑ Elliott 2003, tr. 73.
- 1 2 Haseman 1976, tr. 378.
- 1 2 Savani, A. M. Visage et Images du Sud Viet-Nam. Saigon: Impremerie Française d'Outre-mer, trang 90, 1955
- ↑ "Bộ đội Nguyễn Trung Trực". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
- 1 2 Tai 2013, tr. 143–144.
- ↑ Arthur J. Dommen, The Indochinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam, page 186, Indiana University Press, 2001
- ↑ Minh Võ, Hồ Chí Minh, nhân định tổng hợp, trang 282, Falls Church, VA: Tiếng Quê hương, 2003.
- 1 2 McHale, Shawn F., biên tập (2021), "The Double Fracture of the Mekong Delta", The First Vietnam War, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 94–128, ISBN 978-1-108-83744-6, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025
- ↑ Bourdeaux 2018, tr. 588.
- ↑ Kiernan, Ben (2017). Viet Nam: A History from Earliest Times to the Present. Oxford University Press. tr. 386. ISBN 9780195160765.
- ↑ Moyar 2009, tr. 21.
- ↑ Fall 1955, tr. 247.
- ↑ Buttinger 1967, tr. 409–411.
- ↑ Từ điển nghiệp vụ phổ thông, trang 574, Viện nghiên cứu Khoa học Công an, Bộ Nội vụ, 1977, Hà Nội
- ↑ Tai 2013, tr. 161.
- ↑ Marr 1984, tr. 509.
- ↑ Elliott 2003, tr. 74.
- ↑ Quân sử 4, Tài liệu Khối Quân sử/Phòng 5/Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH.
- ↑ Kiernan 2017, tr. 375.
- ↑ Tai 2013, tr. 164.
- ↑ Vu 2019, tr. 50–51.
- ↑ Chapman 2010, tr. 42–43.
- ↑ Phương, Trần (ngày 3 tháng 8 năm 2019). "Lịch sử thăng trầm và đầy bi kịch của Phật giáo Hòa Hảo".
- ↑ "4 vạn quân Hòa Hảo đánh nhau với Việt Minh ở Nam Bộ". Ngày Mới. Số 49. Hanoi. ngày 4 tháng 10 năm 1947. tr. 1.
Quân đội Hòa-hảo có 4 vạn người, có đủ khí-giới và do Năm-Lửa làm nguyên-súy, thề quyết trả thù cho giáo chủ Huỳnh-phú-Sổ đã bị V. M. lập mưu giết chết.
- ↑ "Quân đội Cao Đài" (PDF). www.daotam.info.
- ↑ "Bản Cải án Cao Đài, 3 tháng 5 năm 1982, Các chức sắc Cao Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh, 10/4/1982".[liên kết hỏng]
- ↑ Serguei A. Blagov Caodaism: Vietnamese Traditionalism and Its Leap Into Modernity 2001 "On October 9, 1945, the Việt Minh detained Trần Quang Vinh, yet he managed to escape on January 20, 1946. On 17 February 1946 Vinh arrived in Saigon, and he had to hide in Chợ Lớn. However, on May 8 the French arrested him."
- ↑ Phối Sư Thượng Vinh Thanh, Hồi ký Trần Quang Vinh.
- ↑ "Tìm hiểu các cuộc vận động thống nhất đạo Cao Đài trước năm 1975" (PDF).
- ↑ Louaas, Irvin (2015). "The Franco-Caodaist collaboration at the beginning of the Indochina War (1948-1948) : A "deal with the devil" ?". 41 (1). Bulletin de l'Institut Pierre Renouvin: 75. doi:10.3917/bipr.041.0075.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần|journal=(trợ giúp) - 1 2 "Bản tuyên dương công nghiệp ông Nguyễn Văn Thành", Tòa Thánh Tây Ninh, 24-11-1972.
- ↑ Nguyen, Vincente (ngày 23 tháng 2 năm 2023). "Phạm Công Tắc và những tư tưởng tranh đấu của đạo Cao Đài".
- ↑ Кolotov 2001.
- ↑ "Giới thiệu đạo Cao Đài ở Việt Nam - Giới thiệu các tổ chức tôn giáo đã được công nhận | Ban Tôn giáo Chính Phủ". BTGCP. ngày 21 tháng 12 năm 2021.
- 1 2 "Người thủ lĩnh Bình Xuyên đi theo cách mạng". ngày 1 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Huỳnh Kim Khánh, "Background of the Vietnamese August Revolution", The Journal of Asia Studies, vol. 25, no. 4 (August 1971), pp. 771-772
- ↑ "Trung tướng Nguyễn Bình và 'phiên tòa' đặc biệt". Báo Đồng Nai. Lam Hà. ngày 29 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "Vụ án chấn động Nam Kỳ cuối năm 1945". Tri thức & Cuộc sống. Vũ Tiến Đức. ngày 28 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Nguyễn Long Thành Nam,Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 12: Những mẩu chuyện trong chiến khu, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, Chương 10, Những Mẩu Chuyện Trong Chiến Khu, Nguyễn Long Thành Nam, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991
- ↑ Hồ Sơn Đài, 2008 & chương 7.
- ↑ "The Pentagon Papers, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2009.
- 1 2 3 4 "Catholics in Vietnam and the War". The Indochina War (1945–1956): An Interdisciplinary Tool. Université du Québec à Montréal.
- 1 2 3 4 Trần Thị Liên (2005). "The Catholic Question in North Vietnam: From Polish Sources, 1954–56". Cold War History. Quyển 5 số 4. Routledge. tr. 427–449.
- ↑ "Lê Hữu Từ". The Indochina War (1945–1956): An Interdisciplinary Tool. Université du Québec à Montréal.
- ↑ Nguyễn Ngọc Phúc (2014). "Quá trình hình thành đường hướng 'Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào' của Hội đồng Giám mục Việt Nam". Nghiên cứu Tôn giáo. Số 128. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. tr. 35–50.
- ↑ Trần Thị Liên (September 2014). "H-Diplo Article Reviews No. 485 "Phát Diệm Nationalism, Religion and Identity in the Franco-Việt Minh War"".
- 1 2 3 Vũ, Ryan (2020). "Tinh thần độc lập dân tộc của người Công giáo Việt Nam: một giáo hội đứng trước thực dân và cộng sản".
- 1 2 3 "Vatican". The Indochina War (1945–1956): An Interdisciplinary Tool. Université du Québec à Montréal.
- ↑ Thrower, James (1983). Marxist-Leninist "Scientific Atheism" and the Study of Religion and Atheism in the USSR. Walter de Gruyter. ISBN 9789027930606.
- ↑ Lettre commune des ordinaires réunis à Hanoi. Thư chung các giám mục Đông Dương. Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 1951.
- ↑ "Công giáo Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)" (PDF).
- ↑ Ngô Quốc, Đông (ngày 22 tháng 12 năm 2019). "Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ (1948-1954)".
- ↑ Nguyễn Lang (ngày 15 tháng 11 năm 2020). "Chương 36 : Thế đứng của Phật giáo Việt Nam – Làng Mai".
- ↑ Cousin-Thorez, G. (2021). "The General Buddhist Association of Vietnam 1951–1964 (Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam): A Forgotten Step Towards the 1964 Buddhist Church". Russian Journal of Vietnamese Studies. Quyển 5 số 1S. tr. 103–113. doi:10.54631/VS.2021.S-103-113.
- 1 2 "Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của đạo tin lành ở Việt Nam". vusta.vn. ngày 22 tháng 11 năm 2011.
- ↑ Miller, Edward (2004). "Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Đình Diệm, 1945–54". Journal of Southeast Asian Studies. 35 (3): 433–458. doi:10.1017/S0022463404000220.
- ↑ Goscha, Christopher E. (2011). "Attentisme". Historical Dictionary of the Indochina War (1945–1954): An International and Interdisciplinary Approach. NIAS Press. ISBN 9788776940638.
- ↑ Tran 2022, tr. 27.
- ↑ Kort 2017, tr. 85.
- 1 2 Asselin, Pierre (2024). Vietnam's American War: A New History. Cambridge University Press. ISBN 9781009229302.
- ↑ Ngô Quốc, Đông (ngày 15 tháng 11 năm 2020). "Người Công giáo Việt Nam với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) qua một số nghiên cứu".
- ↑ Goscha 2016, tr. 238–241.
- ↑ Duiker, William (ngày 1 tháng 7 năm 1994). U.S. Containment Policy and the Conflict in Indochina (bằng tiếng Anh). Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-6581-7.
- ↑ "Mặt trận Liên Việt và đóng góp to lớn của nhân dân cho Chiến thắng Ðiện Biên Phủ - Báo và Đài Phát thanh Truyền hình Lạng Sơn". baolangson.vn.
- ↑ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
Thư mục
Sách
Tiếng Việt
- Trần Văn Giàu (2011). Hồi ký 1940-1945 (PDF). Tạp Chí Thời Đại Mới. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013.
- Võ Nguyên Giáp (2009). Những năm tháng không thể nào quên. Nhà xuất bản Trẻ.
- Hồ Sơn Đài (2008). Bộ Đội Bình Xuyên. Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh.
- Hoàng Tường (1982). Việt Nam đấu tranh 1930-54. Westminster, CA: Van Khoa.
- Nguyễn Kỳ Nam (1964). Hồi Ký 1925 - 1964, tập I. Nhựt Báo Dân Chủ Mới.
- Ngô Văn (2000). Việt Nam 1920-1945: Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân. Bản dịch tiếng Việt của Viet-nam 1920-1945: Révolution et contre-révolution sous la domination coloniale) (PDF). Houston: L'insomniaque.
- Nguyễn Kiến Giang (1961). Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám : (Tháng Tám năm 1945 – Tháng Chạp năm 1946). Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. ISBN 9786045454503.
Tiếng Anh
- Goscha, Christopher (2016). Vietnam: A New History. Basic Books. ISBN 9780465094370.
- Guillemot, François (2003). "Vietnamese Nationalist Revolutionaries and the Japanese Occupation: The Case of the Dai Viet Parties (1936–1946)". Trong Narangoa, Li; Cribb, Robert (biên tập). Imperial Japan and National Identities in Asia, 1895–1945. RoutledgeCurzon. tr. 221–248. ISBN 9780700714827.
- Holcombe, Alec (2020). Mass Mobilization in the Democratic Republic of Vietnam, 1945–1960. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824884475. JSTOR j.ctv105bb0z.
- Kort, Michael G. (2017). The Vietnam War Reexamined. Cambridge University Press. ISBN 9781107110199.
- Marr, David G. (2013). Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946). University of California Press. ISBN 9780520954977.
- McHale, Shawn F. (2021). The First Vietnam War: Violence, Sovereignty, and the Fracture of the South, 1945–1956. Cambridge University Press. ISBN 9781108936002.
- Tran, Nu-Anh (2022). Disunion: Anticommunist Nationalism and the Making of the Republic of Vietnam. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824887865.
- Tran, Nu-Anh; Vu, Tuong (2022). "Introduction: Rethinking Vietnamese Republicanism". Trong Tran, Nu-Anh; Vu, Tuong (biên tập). Building a Republican Nation in Vietnam, 1920–1963. University of Hawaiʻi Press. tr. 1–25. ISBN 9780824892111.
- Patti, Archimedes (1980). Why Viet Nam? Prelude to America's Albatross. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0520047839..
- Hammer, Ellen J. (1955). The Struggle for Indochina, 1940–1955. Stanford, California: Stanford University Press.
- Currey, Cecil B. (1999). Victory at Any Cost: The genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap. Washington, DC: Brassey. ISBN 1-57488-194-9.
- Jamieson, Neil L. (1995). Understanding Vietnam. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 0-520-20157-4.
- Barkan, Elliott Robert, biên tập (2013). Immigrants in American History: Arrival, Adaptation, and Integration. ABC-Clio. ISBN 9781598842197.
- Tai, Hue-Tam Ho (2013). Millenarianism and Peasant Politics in Vietnam. Harvard University Press. ISBN 978-0674433694.
- Bourdeaux, Pascal (2018). Pokorny, Lukas; Winter, Franz (biên tập). Handbook of East Asian New Religious Movements. Brill Handbooks on Contemporary Religion. Brill Publishers. ISBN 978-9004362055.
- Moyar, Mark (2009). Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965. Cambridge University Press. ISBN 978-0521757638.
- Fall, Bernard B. (1963). The Two Viet-Nams: A Political and Military Analysis. New York City: Praeger Publishers. ISBN 0999141791.
- Buttinger, Joseph (1967). Vietnam: A Dragon Embattled. New York City: Praeger Publishers.
- Elliott, David W. P. (2003). The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta, 1930–1975. Armonk, New York: M. E. Sharpe. ISBN 0-7656-0602-X.
- McAlister, John T. Jr (1969). Vietnam, The Origins of Revolution. New York City: Alfred A. Knopf for the Center of International Studies, Prince University. LCCN 69010690.
Tiếng Pháp
- Guillemot, François (2004). "Au coeur de la fracture vietnamienne : l'élimination de l'opposition nationaliste et anticolonialiste dans le Nord du Vietnam (1945–1946)". Trong Goscha, Christopher E.; de Tréglodé, Benoît (biên tập). Naissance d'un État-Parti: Le Viêt Nam depuis 1945. Paris: Les Indes savantes. tr. 175–216. ISBN 9782846540643.
- Guillemot, François (2012). Dai Viêt, indépendance et révolution au Viêt-Nam: L'échec de la troisième voie (1938–1955). Paris: Les Indes savantes. ISBN 9782846542807.
- Félixine, Lucien (1959). L'Indochine livrée aux bourreaux (bằng tiếng Pháp). Nouvelles Editions Latines.
Tiếng Nga
- Кolotov, Vladimir Nikolayevich (2001). Сайгонские режимы: религия и политика в Южном Вьетнаме, 1945-1963. Saint Peterburg: Đại học Tổng hợp Sankt-Peterburg.
Tạp chí nghiên cứu
Tiếng Anh
- Asselin, Pierre (2023). "The Indochinese Communist Party's Unfinished Revolution of 1945 and the Origins of Vietnam's 30-Year Civil War". Journal of Cold War Studies. 25 (1): 4–45. doi:10.1162/jcws_a_01120.
- Guillemot, François (2010). "Autopsy of a Massacre On a Political Purge in the Early Days of the Indochina War (Nam Bo 1947)". European Journal of East Asian Studies. 9 (2): 225–265. doi:10.1163/156805810X548757.
- Guillemot, François (2019). "The Lessons of Yên Bái, or the "Fascist" Temptation: How the Đại Việt Parties Rethought Anticolonial Nationalist Revolutionary Action, 1932–1945". Journal of Vietnamese Studies. 14 (3): 43–78. doi:10.1525/vs.2019.14.3.43.
- Marr, David G. (tháng 4 năm 1984). "Hue-Tam Ho Tai. Milllnarianism and Peasant Politics in Vietnam. (Harvard East Asian Series, number 99.) Cambridge: Harvard University Press. 1983. Pp. xii, 220. $30.00". The American Historical Review. 89 (2): 508–509. doi:10.1086/ahr/89.2.508-a.
- Thomas, Martin; Asselin, Pierre (2022). "French Decolonisation and Civil War: The Dynamics of Violence in the Early Phases of Anticolonial War in Vietnam and Algeria, 1940–1956". Journal of Modern European History. 20 (4): 513–535. doi:10.1177/16118944221130231.
- Haseman, John B. (July–August 1976). "The Hoa Hao: A Half-Century of Conflict". Asian Affairs: An American Review. 3 (6). Taylor & Francis, Ltd. doi:10.1080/00927678.1976.10554207.
- Chieu, Vu Ngu (1986). "The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March–August 1945)". The Journal of Asian Studies. 45 (2): 293–328. doi:10.2307/2055845. JSTOR 2055845. S2CID 161998265.
- Fall, Bernard B. (tháng 9 năm 1955). "The Political-Religious Sects of Viet-Nam". Pacific Affairs. 28 (3): 235–253. doi:10.2307/3035404. JSTOR 3035404.
- Chapman, Jessica M. (tháng 9 năm 2006). "Staging Democracy: South Vietnam's 1955 Referendum to Depose Bao Dai". Diplomatic History. 30 (4). Oxford University Press: 671–703. doi:10.1111/j.1467-7709.2006.00573.x.
Tiếng Pháp
- Guillemot, François (2012a) [2009]. "Penser le nationalisme révolutionnaire au Việt Nam : Identités politiques et itinéraires singuliers à la recherche d'une hypothétique « Troisième voie »". Moussons (13–14) : 174–184. doi:10.4000/moussons.1043.
Luận án
- Trương Thị Bích Hạnh (2015). "SỰ VẬN ĐỘNG TƯ TƯỞNG TRONG CÁC ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ CẬN ĐẠI". Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Bài báo hội nghị
- Reilly, Brett (2017). Before the First Indochina War: Redefining the Origin of Vietnam's Civil War. Association for Asian Studies, Annual Conference.
Reilly, Brett (ngày 31 tháng 1 năm 2018). "The True Origin of the Term 'Viet Cong'". The Diplomat.
Liên kết ngoài
- "Đảng phái quốc gia Việt Nam, 1945–1954: Lời kể của nhân chứng", Đại học Oregon.
- "Cộng sản và các đảng phái quốc gia, Nguyễn Đức Cung, Liên lạc Nhân văn số tháng 5 năm 2009.
- Nguyễn Khắc Ngữ (1991b). Bảo-Đại, các Đảng-phái Quốc-gia và sự Thành-lập Chính-quyền Quốc-gia. Montréal, Canada: Nhóm Nghiên-cứu Sử Địa. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - "Pentagon Papers [Hồ sơ Lầu Năm Góc]". Hoa Kỳ: National Archives and Records Administration. 2011 [1969].
- Việt Nam thập niên 1940
- Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945–1975
- Nội chiến
- Việt Minh
- Chiến tranh liên quan tới Việt Nam
- Lịch sử quân sự Việt Nam
- Chiến tranh Đông Dương
- Phi thực dân hóa
- Chiến tranh Lạnh
- Xung đột thập niên 1940
- Phong trào độc lập Việt Nam
- Chiến tranh liên quan tới Pháp
- Chiến tranh liên quan tới Trung Quốc