Huỳnh Phú Sổ
Bài viết này đang bị thiếu thông tin về tiểu sử. |
Huỳnh Phú Sổ | |
|---|---|
![]() Đức Huỳnh Giáo chủ | |
| Sinh | Huỳnh Phú Sổ 15 tháng 1 năm 1920 Làng Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Đốc, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 16 tháng 4, 1947 (27 tuổi) Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Nguyên nhân mất | Bị ám sát và thủ tiêu bởi Việt Minh (tranh cãi) |
| Quốc tịch | |
| Dân tộc | Kinh |
| Nổi tiếng vì | Sáng lập Phật giáo Hòa Hảo Lãnh tụ Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng |
| Quê quán | An Giang, Việt Nam |
| Đảng phái chính trị | |
| Tôn giáo | Phật giáo Hòa Hảo |
| Cha mẹ |
|
Huỳnh Phú Sổ (15 tháng 1 năm 1920 - 16 tháng 4 năm 1947) là người sáng lập đạo Phật giáo Hòa Hảo, và đồng sáng lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng. Ông được các tín đồ gọi là "Đức Thầy", "Đức Huỳnh Giáo chủ" hay "Đức Tôn Sư". Thư tịch đương thời còn ghi Huỳnh Phú Sổ được gọi là Ông đạo Xẻn.
Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Phú Sổ bị thủ tiêu khi từ chiến khu 8 đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười. Một số thông tin cho rằng ông bị Lâm ủy Hành chính Nam Bộ hoặc Việt Minh hành quyết vì những quan điểm chính trị đối lập.
Thiếu thời

Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15 tháng 1 năm 1920, nhằm ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang);[1] là con thứ tư và là con trai trưởng của ông Huỳnh Công Bộ (Hương Cả Bộ) và bà Lê Thị Nhậm.[2][3] Sau khi học hết bằng sơ học yếu lược Pháp - Việt nhưng hay bị đau ốm nên đành bỏ dở việc học.[3]
Từ thuở bé, Huỳnh Phú Sổ đã có căn tính của một người tu hành, ông không thích đàn địch, ca hát, cười giỡn như các bạn cùng trang lứa, lúc nào ông cũng trầm tư, tĩnh mặc, thích ở nơi thanh vắng, yên tĩnh. Mỗi khi được bàn đến chuyện cưới hỏi thì ông đều cự tuyệt và có ý lẩn tránh.[cần dẫn nguồn]
Bệnh tình của ông ngày càng trở nặng, được người nhà đưa đi chữa trị khắp nơi, gặp nhiều danh y trong vùng nhưng họ cũng đành chịu thua. Sau khi trở về từ một lần đi viếng cảnh núi Tà Lơn (Campuchia) và vùng Thất Sơn (An Giang) cùng thân phụ của ông, những chứng bệnh của ông dần thuyên giảm.[cần dẫn nguồn]
Khai đạo

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, tức ngày 4 tháng 7 năm 1939, Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ "Đền linh Khứu Sơn trung thọ mạng", khai đạo tại tư gia, sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo, lấy tên theo làng Hòa Hảo, nơi ông sinh ra, vừa có ý nghĩa là "hiếu hòa" và "giao hảo". Từ đó, ông đi chữa bệnh, tiên tri, thuyết pháp và sáng tác thơ văn, kệ giảng. Văn chương của ông bình dân nên dễ đi vào lòng người. Ông được tín đồ suy tôn là “Thầy tổ”, và được gọi “Đức Tôn Sư”, “Đức Thầy”, "Đức Huỳnh Giáo chủ".[3]
Chỉ trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của ông càng ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến Thực dân Pháp lo ngại.[cần dẫn nguồn]
Ngày 18 tháng 8 năm 1940, Thực dân Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ đi quản thúc tại Sa Đéc.[cần dẫn nguồn]
Ngày 23 tháng 5 năm 1940, Thực dân Pháp chuyển ông sang quản thúc ở làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ nhưng cả hai nơi này đều được đông đảo quần chúng đến xin nghe thuyết pháp và quy y Phật giáo Hòa Hảo.[cần dẫn nguồn]
Vì vậy ngày 28 tháng 7 năm 1940, nhà cầm quyền Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ vào bệnh viện Cần Thơ và sau đó chuyển lên nhà thương điên Chợ Quán tại Sài Gòn.[cần dẫn nguồn]
Tháng 6 năm 1941, Huỳnh Phú Sổ bị đưa đi quản thúc ở Bạc Liêu. Tại đây ông không được phép trị bệnh và thuyết pháp.[cần dẫn nguồn]
Tháng 10 năm 1942, trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu ông đem về Sài Gòn.[cần dẫn nguồn]
Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ đi thuyết pháp và khuyến nông tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.[cần dẫn nguồn]
Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng một số trí thức có khuynh hướng dân tộc, dân chủ thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng (còn gọi là Dân Xã đảng).[4]
Tham gia hoạt động Chính trị
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ cùng Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Thạch...đã thành công liên kết tất cả đảng phái và thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Một ngày sau, Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại với trên 200.000 người tham dự, nhưng những người lãnh đạo đã không tuyên bố Việt Nam độc lập và cũng không cướp chính quyền..
Một ngày sau, ngày 22 tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội sau một cuộc biểu tình trước Nhà hát Lớn Hà Nội. Đến ngày 23 tháng 8, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị và trao quyền lãnh đạo cho Việt Minh. Ngày 24/8/1945 Tổng Bộ Việt Minh phái vào Nam Bộ Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh.
Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.
Ngày 7 tháng 10 năm 1945, những người Phật giáo Hòa Hảo cầm đầu biểu tình như Huỳnh Thạnh Mậu (em ruột Huỳnh Phú Sổ),Trần Ngọc Hoành (con ông Trần Văn Soái - tức Năm Lửa), Nguyễn Xuân Thiếp (tức nhà thơ Việt Châu - Anh chú bác với học giả Nguyễn Hiến Lê) bị cho là âm mưu cướp chính quyền và đưa ra xử tử hình tại sân vận động Cần Thơ.
Ngày 26 tháng 10 năm 1945, Pháp tái chiếm Cần Thơ. Tín đồ Hòa Hảo lùng bắt Việt Minh.
Sau Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Minh cải thiện quan hệ với Hòa Hảo. Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ (do Việt Minh lãnh đạo) với chức vụ Ủy viên Đặc biệt.
Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ và một số trí thức thiên tả có khuynh hướng dân tộc, dân chủ thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã đảng.
Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh tụ các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân Đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam.
Cái chết
Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo.
Theo nghiên cứu của McHale (2021) thì có hai khả năng cho cái chết của Huỳnh Phú Sổ: một là Ủy ban Hành chính Nam Bộ đã lần lượt bắt giữ, tuyên án và hành quyết Huỳnh Phú Sổ sau ngày 16 tháng 4; hai là ông đã bị Việt Minh thủ tiêu trong khoảng từ ngày 15 đến 23 tháng 4 năm 1947 rồi mới dựng lên quá trình pháp lý để hợp thức hoá việc này.[5] Theo đó, ngày 20 tháng 4, Ủy ban Hành chính Nam Bộ tuyên bố giải tán Dân xã Đảng do Huỳnh Phú Sổ lãnh đạo và đưa ông ra xét xử trước một tòa án quân sự. Tại phiên tòa ngày 25 tháng 4, Ủy ban Hành chính Nam Bộ tuyên án tử hình đối với Huỳnh Phú Sổ. Trung tướng Nguyễn Bình - Khu trưởng Khu 7 Nam Bộ công bố việc hành quyết vào ngày 20 tháng 5 năm 1947, nhưng tin đồn về việc này đã được lan truyền trước đó từ lâu.[5]
Theo tài liệu của Viện nghiên cứu Khoa học Công an, Huỳnh Phú Sổ bị bắt và xử tử vào ngày 22 tháng 12 năm 1947 bởi Việt Minh tại Long Xuyên.[6]
Chú thích
- ↑ "Hạt giống yêu thương: Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đức Huỳnh Phú Sổ". SBS Language. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
- ↑ Phật Giáo Hòa Hảo. "Đức Huỳnh Giáo Chủ - Phật Giáo Hòa Hảo". hoahao.org. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
- 1 2 3 "Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo - Giới thiệu các tổ chức tôn giáo đã được công nhận | Ban Tôn giáo Chính Phủ". Ban Tôn giáo Chính phủ. ngày 15 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
- ↑ Pham, Huong (ngày 28 tháng 9 năm 2023). "Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng kỷ niệm 77 năm Đức Huỳnh Thủ Lãnh thành lập". Nguoi Viet Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
- 1 2 McHale, Shawn F., biên tập (2021), "The Double Fracture of the Mekong Delta", The First Vietnam War, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 94–128, ISBN 978-1-108-83744-6, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025
- ↑ Từ điển nghiệp vụ phổ thông, trang 574, Viện nghiên cứu Khoa học Công an, Bộ Nội vụ, 1977, Hà Nội
Xem thêm
| Các ông đạo ở Nam Bộ, Việt Nam |
|---|
| Đoàn Minh Huyên • Ngô Lợi • Phật Trùm • Sư Vãi Bán Khoai • Huỳnh Phú Sổ • Đạo Tưởng • Tăng Chủ • Cử Đa • Đình Tây |
