Bước tới nội dung

Nội chiến Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội chiến Nga
Một phần của Cách mạng Nga và hậu quả của Thế chiến thứ nhất

Theo chiều kim đồng hồ từ trên bên trái:
  • Binh lính Lục quân Don
  • Binh lính Lục quân Siberia
  • Hồng quân trấn áp binh biến Kronstadt
  • Lục quân Hoa Kỳ đổ bộ Vladivostok
  • Thi thể nạn nhân của Khủng bố Đỏ tại Krym
  • Công nhân Yekaterinoslav bị quân Áo treo cổ
  • Hồng quân duyệt binh tại Moskva
Thời gian7 tháng 11 năm 191716 tháng 6 năm 1923[a][1]:3,230[2]
(5 năm, 7 tháng, 1 tuần và 2 ngày)
Các hòa ước
  • Hiệp ước Brest-Litovsk
    Ký ngày 3 tháng 3 năm 1918
    (3 tháng, 3 tuần và 3 ngày)
  • Hiệp ước Tartu (Nga – Estonia)
    Ký ngày 2 tháng 2 năm 1920
    (2 năm, 2 tháng, 3 tuần và 5 ngày)
  • Hòa ước Xô viết – Litva
    Ký ngày 12 tháng 7 năm 1920
    (2 năm, 8 tháng và 5 ngày)
  • Hiệp ước Tartu (Nga – Phần Lan)
    Ký ngày 14 tháng 10 năm 1920
    (2 năm, 11 tháng và 1 tuần)
  • Hòa ước Latvia – Xô viết
    Ký ngày 11 tháng 8 năm 1920
    (2 năm, 9 tháng và 4 ngày)
  • Hòa ước Riga
    Ký ngày 17 tháng 12 năm 1921
    (3 năm, 10 tháng, 1 tuần và 3 ngày)
  • Hiệp ước Kars
    Ký ngày 13 tháng 10 năm 1921
    (3 năm, 10 tháng và 6 ngày)
Địa điểm
Lãnh thổ cũ của Đế quốc Nga, Galicia, Mông Cổ, Tuva, Ba Tư
Kết quả

Phe Bolshevik chiến thắng:

Chiến thắng một phần cho một số phe ly khai thành công:

không lâu sau độc lập
Tham chiến
Cũng gồm:


Cũng gồm:
  • Chính phủ Địa phương Lâm thời khu vực Ural
    (1918)
  • Chính phủ Siberia ở Omsk
    (1918)
  • Chính phủ Siberia ở Vladivostok
    (1918)
  • Komuch
    (1918)
  • Bắc Nga
    (1918, 1918–20)
  • Tây Bắc Nga (1918–19)
  • Krym
    (1918–19)
  • Cộng hòa Don Cộng hòa Don
    (1918–20)
  • Cộng hòa Kuban
    (1918–20)

Cũng gồm:
  • Belarus
    (1918–20)
  • Tây Ukraina
    (1918–19)
  • Trung Litva
    (1920–22)
  • Moldavia
    (1917–18)
  • Ngoại Kavkaz
    (1918)
  • Cộng hòa Dân chủ Gruzia Gruzia
    (1918–21)
  • Armenia
    (1918–20; 1921)
  • Turkestan
    (1917–18)
  • Trung Caspi
    (1918)
  • Aras
    (1918–19)
  • Tiểu quốc Hồi giáo Kavkaz
    (1919–20)
  • Azerbaijan
    (1918–20)
  • Bắc Kavkaz
    (1917–21)
  • Ukraina Lục
    (1918–22)
  • Buryat-Mongolia
    (1917–21)
  • Yakut
    (1918)
  • Altay
    (1917–20; 1921–22)
  • Karelia
    (1918–20; 1920; 1920–23)
  • Bắc Ingria
    (1919–20)
  • Basmachi
    (1918–22)
  • Bukhara
    (1920)
  • Khiva
    (1918–20)

Cũng gồm:
Hiệp đồng:
Chỉ huy và lãnh đạo
Vladimir Lenin
Lev Trotsky
Jukums Vācietis
Yakov Sverdlov
Sergey Kamenev
Nikolai Podvoisky
Iosif Stalin
Yukhym Medvedev
Vilhelm Knorin
Alexander Krasnoshchyokov
Alexander Kerensky Đầu hàng
Alexander Kolchak Hành quyết
Lavr Kornilov 
Anton Denikin
Pyotr Wrangel
Nikolai Yudenich
Grigory Semyonov
Yevgeny Miller
Cộng hòa Don Pyotr Krasnov
R. von Ungern Hành quyết
Ba Lan Józef Piłsudski
C.G.E. Mannerheim
Symon Petliura
Konstantin Päts
Jānis Čakste
Antanas Smetona
S. Tikhonov
Cộng hòa Dân chủ Gruzia Noe Zhordania
A. Khatisian
Nasib Yusifbeyli
Vladimir Volsky
Maria Spiridonova
Nykyfor Hryhoriv 
Nestor Makhno
Stepan Petrichenko
và nhiều nhân vật khác
Otani Kikuzo
Edmund Ironside
William S. Graves
Tiệp Khắc Radola Gajda
Maurice Janin
và nhiều nhân vật khác
Đế quốc Đức H. von Eichhorn 
Đế quốc Ottoman Nuri Pasha
Jan Sierada
Pavlo Skoropadskyi
P. Bermondt-Avalov
và nhiều nhân vật khác
Lực lượng

Ở từng địa phương:
  • AFSR: 270.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Siberia: 60.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Komuch: 30.000 (đỉnh điểm)
  • Đạo quân Tây Bắc: 18.500 (đỉnh điểm)
  • Đạo quân Bắc: 54.700 (đỉnh điểm)
  • Đạo quân Tây: 48.000 (đỉnh điểm)
  • Đạo quân Orenburg: 25.000 (đỉnh điểm)
  • Đạo quân Ural: 17.200 (đỉnh điểm)

  • Lục quân Nhật: 70.000 (đỉnh điểm)
  • Binh đoàn Tiệp Khắc: 50.000 (đỉnh điểm)
Cũng gồm:
  • Hoa Kỳ AEF, Siberia:
    7.950
  • Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lục quân Anh:
    57.636[5]
  • Vương quốc România Lục quân Rumani:
    50.000
  • Pháp Lục quân Pháp:
    15.600
  •  Lục quân Hy Lạp:
    23.000
  • Canada CSEF:
    ~5.000
  • Hoa Kỳ AEF, Bắc Nga:
    5.000
  • Legione Redenta:
    2.500
  • Quân Bắc Dương:
    2.300
  • Vương quốc Serbia Lục quân Serbia:
    2.000
  • Lục quân Ấn Độ thuộc Anh:
    950
  • Lục quân Úc:
    150
  • Lục quân Ba Lan: ~1.000.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Phần Lan:
    90.000 (đỉnh điểm)
Cũng gồm:
  • Lục quân Ukraina: 100.000 (đỉnh điểm)

    Hỗ trợ bởi:

  • Lục quân Hungary:
    30.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Latvia:
    69.232 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Estonia:
    86.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Litva:
    20.000 (đỉnh điểm)
  • Tình nguyên quân Phần Lan:
    8.000 (đỉnh điểm)
  • Quân du kích trong rừng:
    2.000 (đỉnh điểm)
  • Lữ đoàn Thụy Điển:
    1.000 (đỉnh điểm)

Cũng gồm:
  • Lính tình nguyện Saxon:
    10.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Kavkaz:
    20.000 (đỉnh điểm)
  • Lục quân Thổ Nhĩ Kỳ:
    20,000 (đỉnh điểm)
  • Sư đoàn Sắt:
    14.000 (đỉnh điểm)
  • Landeswehr:
    10.500 (đỉnh điểm)
  • Bermontia:
    50.000 (đỉnh điểm)

Nội chiến Nga (tiếng Nga: Гражданская война в России; Grazhdanskaya voyna v Rossii) là một cuộc nội chiến đa bên trên lãnh thổ Đế Quốc Nga cũ được khơi mào bởi việc lật đổ Chính Quyền lâm thời Nga trong Cách mạng tháng 10[6] kéo dài từ ngày 7 tháng 11 (25 tháng 10 theo lịch Nga cũ) năm 1917 đến tháng 10 năm 1922, nhiều bên tranh giành nhau để định đoạt số phận của nền chính trị Nga, dẫn đến sự thành lập của Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên Bang Nga và sau này là Liên Xô trên đa số lãnh thổ cũ, đánh dấu sự kết thúc của Cách mạng Nga, là một trong những sự kiện mấu chốt trong thế kỉ 20.

Chế độ quân chủ Nga chấm dứt khi Sa hoàng Nikolai II thoái vị trong Cách mạng Tháng Hai, và nước Nga rơi vào trạng thái biến động chính trị. Một mùa hè căng thẳng đã lên tới đỉnh điểm trong Cách mạng Tháng Mười, khi phe Bolshevik lật đổ chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa Nga mới. Việc Bolshevik giành chính quyền không được chấp nhận rộng rãi, và đất nước trượt vào một cuộc xung đột rồi phát triển thành nội chiến toàn diện vào khoảng tháng 5 – tháng 6 năm 1918.[7][8][9] Hai lực lượng tham chiến lớn nhất là Hồng quân, chiến đấu nhằm thiết lập một nhà nước xã hội chủ nghĩa do Bolshevik lãnh đạo dưới sự đứng đầu của Vladimir Lenin, và các lực lượng được gọi là Phong trào Bạch vệ (cùng Bạch quân), chủ yếu do các sĩ quan có xu hướng cánh hữu của Đế quốc Nga lãnh đạo, tập hợp quanh nhân vật Alexander Kolchak. Ngoài ra, các lực lượng xã hội chủ nghĩa vũ trang đối địch khác—đáng chú ý là phe vô chính phủ Ukraine của Makhnovshchina và phái Xã hội Cách mạng cánh Tả—cũng tham gia giao tranh chống lại Bolshevik. Những lực lượng này, cùng với các "quân xanh" không mang tính ý thức hệ rõ rệt, chống lại Bolshevik, chống lại Bạch vệ và chống lại các lực lượng can thiệp từ nước ngoài.[10] Có mười ba quốc gia nước ngoài can thiệp chống Hồng quân, nổi bật là cuộc can thiệp của phe Hiệp Ước, với mục tiêu chính là tái lập Mặt trận phía Đông của Thế chiến I. Ba quốc gia thuộc phe Liên minh Trung tâm cũng can thiệp, đối trọng với phe Hiệp Ước, với mục tiêu chính là giữ lại các lãnh thổ mà họ đã giành được theo Hiệp ước Brest-Litovsk ký với nước Nga Xô viết.

Ban đầu, Bolshevik củng cố quyền kiểm soát đối với phần lớn lãnh thổ của đế quốc cũ. Hiệp ước Brest-Litovsk là một thỏa thuận hòa bình "chữa cháy" với Đế quốc Đức, quốc gia đã chiếm những vùng lãnh thổ rộng lớn của Nga trong bối cảnh hỗn loạn do cách mạng. Tháng 5 năm 1918, Quân đoàn Tiệp Khắc tại Nga nổi dậy ở Siberia. Đáp lại, phe Hiệp Ước bắt đầu can thiệp ở Bắc Nga và Siberia. Điều đó, cùng với việc thành lập Chính phủ Lâm thời Toàn Nga, khiến phạm vi lãnh thổ do Bolshevik kiểm soát bị thu hẹp còn chủ yếu là phần lớn Nga thuộc châu Âu và một phần Trung Á. Năm 1919, Bạch quân mở một loạt cuộc tấn công: từ phía Đông vào tháng 3, từ phía Nam vào tháng 7, và từ phía Tây vào tháng 10. Tuy nhiên, các đợt tiến công sau đó bị chặn lại bởi cuộc phản công ở Mặt trận phía Đông, cuộc phản công ở Mặt trận phía Nam, và việc Đạo quân Tây Bắc bị đánh bại.

Đến năm 1919, các đạo quân Bạch vệ đã ở thế rút lui, và đến đầu năm 1920 thì bị đánh bại trên cả ba mặt trận.[11] Dù Bolshevik giành thắng lợi, phạm vi lãnh thổ của nhà nước Nga đã thu hẹp, vì nhiều nhóm sắc tộc không phải người Nga đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn để thúc đẩy độc lập dân tộc.[12] Tháng 3 năm 1921, trong một cuộc chiến có liên quan với Ba Lan, Hòa ước Riga được ký kết, chia các vùng lãnh thổ tranh chấp ở Belarus và Ukraine giữa Cộng hòa Ba Lan và Nga Xô viết cùng Ukraine Xô viết. Nga Xô viết đã xâm lược tất cả các quốc gia mới độc lập từ đế quốc cũ hoặc hậu thuẫn các lực lượng Bolshevik và xã hội chủ nghĩa tại đó, dù mức độ thành công của các cuộc xâm lược này là hạn chế. Estonia, LatviaLithuania đều đẩy lùi các cuộc xâm lược của Liên Xô; Ukraine và Belarus bị chia cắt (hệ quả của Chiến tranh Ba Lan–Xô viết), còn Armenia, Azerbaijan và Georgia bị Hồng quân chiếm đóng.[13][14] Đến năm 1921, Bolshevik đã đánh bại các phong trào dân tộc ở Ukraine và vùng Caucasus, dù các cuộc nổi dậy chống Bolshevik ở Trung Á kéo dài đến cuối những năm 1920.[15]

Các đạo quân dưới quyền Kolchak cuối cùng bị buộc phải rút lui hàng loạt về phía đông. Lực lượng Bolshevik tiến quân về phía đông dù vấp phải kháng cự ở Chita, Yakut và Mông Cổ. Không lâu sau, Hồng quân chia cắt các đạo quân Don và Tình nguyện, buộc họ phải di tản ở Novorossiysk vào tháng 3, và ở Crimea vào tháng 11 năm 1920. Sau đó, giao tranh diễn ra lẻ tẻ cho tới khi chiến tranh kết thúc với việc chiếm Vladivostok vào tháng 10 năm 1922, tuy nhiên sự kháng cự chống Bolshevik vẫn tiếp diễn thông qua phong trào Basmachi của người Hồi giáo ở Trung Á và tại Khabarovsk Krai cho đến năm 1934. Ước tính có khoảng 7 đến 12 triệu thương vong trong chiến tranh, chủ yếu là dân thường.[16]

Bối cảnh

Từ Thế chiến I đến cuộc Cách mạng Nga

Đế quốc Nga tham chiến trong Thế chiến I từ năm 1914, cùng với Pháp và Vương quốc Anh (khối Hiệp ước) chống lại Đức, Áo-HungĐế quốc Ottoman (khối Liên minh Trung tâm).

Cách mạng Tháng Hai năm 1917 dẫn đến việc Hoàng đế Nikolai II của Nga thoái vị. Kết quả là Chính phủ Lâm thời Nga, được thành lập bởi một liên minh các đảng phái trung dung,[17][18] ra đời; đồng thời các xô-viết (các hội đồng do công nhân, binh lính và nông dân bầu ra) được tổ chức khắp cả nước, tạo nên tình trạng "hai chính quyền". Cộng hòa Nga được tuyên bố vào tháng 9 cùng năm.

Cách mạng Tháng Mười

Chính phủ Lâm thời do chính trị gia Alexander Kerensky của Đảng Xã hội Cách mạng lãnh đạo đã không thể giải quyết những vấn đề cấp bách nhất của đất nước, quan trọng nhất là kết thúc cuộc chiến với phe Liên minh Trung tâm. Một cuộc đảo chính quân sự thất bại do Tướng Lavr Kornilov tiến hành vào tháng 9 năm 1917 khiến sự ủng hộ dành cho Bolshevik tăng vọt; họ giành quyền kiểm soát các xô-viết, vốn trước đó do Đảng Xã hội Cách mạng nắm giữ. Với lời hứa chấm dứt chiến tranh và khẩu hiệu "tất cả quyền lực về tay các Xô-viết", Bolshevik đã kết thúc tình trạng song quyền bằng cách lật đổ Chính phủ Lâm thời vào cuối tháng 10, ngay trước thềm Đại hội Toàn Nga lần thứ hai của các Xô-viết đại biểu công nhân và binh lính—đây sẽ trở thành cuộc cách mạng thứ hai của năm 1917. Giai đoạn đầu của Cách mạng Tháng Mười, bao gồm cuộc tấn công vào Petrograd, phần lớn diễn ra hầu như không có thương vong về người.[19][20][21] Dù Bolshevik giành chính quyền, họ lại thua Đảng Xã hội Cách mạng trong cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến Nga năm 1917, và Quốc hội Lập hiến đã bị Bolshevik giải tán để trả đũa. Bolshevik cũng sớm mất sự ủng hộ của các đồng minh cực tả khác, như phái Xã hội Cách mạng cánh Tả, sau khi họ chấp nhận các điều khoản của Hiệp ước Brest-Litovsk do Đế quốc Đức đưa ra.[22] Ngược lại, một số nhân vật nổi bật của phái Xã hội Cách mạng cánh Tả đã đảm nhiệm các vị trí trong chính phủ của Lenin và lãnh đạo một số ủy dân ủy ở nhiều lĩnh vực: nông nghiệp (Kolegaevv), tài sản (Karelin), tư pháp (Steinberg), bưu điện và điện báo (Proshian) và chính quyền địa phương (Trutovsky).[23] Bolshevik cũng dành lại một số ghế trống trong các Xô-viết và trong Ủy ban Chấp hành Trung ương cho đảng Menshevik và phái Xã hội Cách mạng cánh Tả theo tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ phiếu của họ tại Đại hội.[24] Việc giải tán Quốc hội Lập hiến cũng được phái Xã hội Cách mạng cánh Tả và các nhóm vô chính phủ ủng hộ; cả hai đều thiên về một nền dân chủ cấp tiến hơn.[25]

Thành lập Hồng quân

Từ giữa năm 1917 trở đi, Quân đội Nga, tổ chức kế thừa của Quân đội Đế quốc Nga cũ bắt đầu tan rã[26] Bolshevik sử dụng lực lượng Hồng vệ binh dựa trên tình nguyện làm lực lượng quân sự chủ lực, đồng thời tăng cường thêm bằng một bộ phận vũ trang của Cheka (cơ quan mật vụ của nhà nước Bolshevik). Tháng 1 năm 1918, sau những thất bại đáng kể của Bolshevik trên chiến trường, Leon Trotsky, người sau này giữ chức Dân ủy Nhân dân phụ trách Quân sự và Hải quân đứng ra lãnh đạo việc tổ chức lại Hồng vệ binh thành Hồng quân Công–Nông nhằm tạo ra một lực lượng chiến đấu hiệu quả hơn. Bolshevik bổ nhiệm chính ủy cho từng đơn vị Hồng quân để duy trì tinh thần chiến đấu và bảo đảm lòng trung thành.

Tháng 6 năm 1918, khi đã rõ rằng một quân đội cách mạng chỉ gồm công nhân thì không đủ, Trotsky triển khai chế độ động viên bắt buộc đối với nông dân ở nông thôn để bổ sung vào Hồng quân[27] Bolshevik vượt qua sự phản đối của người dân nông thôn đối với việc nhập ngũ bằng cách bắt con tin và bắn khi cần thiết để ép buộc tuân thủ.[28] Chiến dịch cưỡng bách nhập ngũ này cho kết quả lẫn lộn: nó giúp tạo ra một quân đội lớn hơn lực lượng Bạch vệ, nhưng nhiều người tham gia lại thờ ơ với hệ tư tưởng cộng sản.[22]

Hồng quân cũng sử dụng các sĩ quan thời Sa hoàng làm "chuyên gia quân sự" (voenspetsy);[29] đôi khi gia đình của họ bị giữ làm con tin để bảo đảm lòng trung thành.[30]Khi nội chiến bắt đầu, các sĩ quan cũ thời Sa hoàng chiếm ba phần tư đội ngũ sĩ quan của Hồng quân.[30] Đến khi chiến tranh kết thúc, 83% chỉ huy cấp sư đoàn và quân đoàn của Hồng quân là cựu sĩ quan từ thời Sa hoàng.[29]

Phe đối lập ủng hộ Quốc hội Lập hiến

Giải tán Quốc hội Lập hiến và các cuộc nổi dậy đầu tiên liên quan đến Quốc hội Lập hiến

Viktor Chernov
Maria Spiridonova

Quốc hội Lập hiến Nga từng là một yêu cầu của phe Bolshevik nhằm chống lại Chính phủ Lâm thời, nhưng Chính phủ Lâm thời liên tục trì hoãn việc triệu tập cơ quan này. Sau Cách mạng Tháng Mười, cuộc bầu cử được tổ chức bởi cơ quan do Chính phủ Lâm thời trước đó bổ nhiệm. Việc bầu cử dựa trên phổ thông đầu phiếu, nhưng lại dùng danh sách đảng phái được lập từ trước khi đảng Xã hội Cách mạng (SR) tách thành cánh Tả và cánh Hữu. Phe SR cánh Hữu chống Bolshevik thắng cử với đa số ghế,[31] sau đó trong Luận cương về Quốc hội Lập hiến của Lenin đăng trên Pravda, ông lập luận rằng nền dân chủ hình thức là không thể vì mâu thuẫn giai cấp, xung đột với Ukraine và cuộc nổi dậy Kadet–Kaledin. Ông cho rằng Quốc hội Lập hiến phải chấp nhận vô điều kiện chủ quyền của chính quyền Xô viết, nếu không sẽ bị xử lý "bằng biện pháp cách mạng".[32]

Ngày 30 tháng 12 năm 1917, Nikolai Avksentiev và một số người ủng hộ bị bắt vì tổ chức một âm mưu. Đây là lần đầu tiên Bolshevik sử dụng kiểu đàn áp này đối với một đảng xã hội chủ nghĩa. Izvestia nói rằng vụ bắt giữ không liên quan đến tư cách của ông trong Quốc hội Lập hiến.[33]

Ngày 4 tháng 1 năm 1918, Ủy ban Chấp hành Trung ương Toàn Nga thông qua một nghị quyết, cho rằng khẩu hiệu "toàn bộ quyền lực thuộc về Quốc hội Lập hiến là phản cách mạng và tương đương với "đả đảo các Xô viết".[34]

Quốc hội Lập hiến họp ngày 18 tháng 1 năm 1918. SR cánh Hữu Viktor Chernov được bầu làm chủ tịch, đánh bại ứng viên được Bolshevik ủng hộ là SR cánh Tả Maria Spiridonova (về sau bà cắt đứt với Bolshevik và sau nhiều thập kỷ trong hệ thống gulag, bà bị xử bắn theo lệnh của Stalin vào năm 1941). Sau đó, Bolshevik giải tán Quốc hội Lập hiến và tiến hành cai trị đất nước như một nhà nước độc đảng, đến năm 1921 thì mọi đảng đối lập đều bị đặt ngoài vòng pháp luật.[35][36] Một cuộc biểu tình ủng hộ Quốc hội Lập hiến diễn ra đồng thời đã bị giải tán bằng vũ lực, nhưng về sau gần như không có phản đối đáng kể.[37]

Đợt đàn áp lớn đầu tiên của Cheka có liên quan đến việc giết các nhà xã hội chủ nghĩa tự do ở Petrograd bắt đầu vào tháng 4 năm 1918. Ngày 1 tháng 5 năm 1918, tại Moskva đã xảy ra một trận đụng độ ác liệt giữa phe vô chính phủ và cảnh sát Bolshevik.[38]

Cuộc nổi dậy Quốc hội Lập hiến

Liên minh Tái sinh được thành lập ở Moskva vào tháng 4 năm 1918 như một tổ chức hoạt động bí mật của "kháng cự dân chủ" chống Bolshevik, gồm những người thuộc phái Xã hội Nhân dân và các "đại diện cá nhân" của SR cánh Hữu, Kadet và phe "Defensists", cùng những thành phần khác. Mục tiêu của họ là chống lưng cho các lực lượng chống Bolshevik và tạo ra một hệ thống nhà nước Nga dựa trên "ý thức nhà nước, lòng yêu nước và các quyền tự do dân sự", với mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách "Đức–Bolshevik"[39][40][41]

Ngày 7 tháng 5 năm 1918, Hội đồng Đảng lần thứ Tám của Đảng Xã hội Cách mạng khai mạc ở Moskva và công nhận vai trò lãnh đạo của Liên minh này, tạm gác khác biệt về hệ tư tưởng và giai cấp vì mục tiêu cứu nước Nga. Họ quyết định khởi nghĩa chống Bolshevik với mục tiêu triệu tập lại Quốc hội Lập hiến Nga.[39] Trong lúc chuẩn bị, các Quân đoàn Tiệp Khắc lật đổ quyền kiểm soát của Bolshevik ở Siberia, dãy Ural và vùng Volga vào cuối tháng 5 – đầu tháng 6 năm 1918, khiến trung tâm hoạt động của SR chuyển sang các khu vực đó. Ngày 8 tháng 6 năm 1918, năm thành viên của Quốc hội Lập hiến lập ra Ủy ban Toàn Nga của các thành viên Quốc hội Lập hiến (Komuch) tại Samara và tuyên bố đây là cơ quan quyền lực tối cao mới của đất nước.Chính phủ Lâm thời Xã hội Cách mạng của Siberia Tự trị lên nắm quyền ngày 29 tháng 6 năm 1918, sau cuộc nổi dậy ở Vladivostok.

Diễn biến

Chú thích

  1. Giai đoạn chính kết thúc ngày 25 tháng 10 năm 1922. Các cuộc nổi dậy chống Bolshevik tiếp diễn ở Trung Á và ở Viễn Đông xuyên suốt thập niên 20 và 30.
  2. Chiến tranh Xô viết-Ba Lan.
  3. Nội chiến Phần Lan
  4. Chiến tranh Ba Lan-Xô viết
  5. Phong trào Basmachi
  6. Liên kết với Bolshevik cho tới Tháng 3 năm 1918 nhưng chia tách sau khi Hiệp ước Brest-Litovsk được ký kết. Hầu hết đảng viên SR tả khuynh chống lại phái Bolshevik sau đó, song một số ít vẫn theo Bolshevik.
  7. Liên minh với phái Bolshevik cho tới năm 1919; về sau chống lại.
  8. Liên minh với phái Bolshevik cho tới năm 1920; về sau chống lại.
  9. Nhật Bản đóng quân tại Bắc Sakhalin cho tới năm 1925.
  10. Liên minh chính thức với Quốc gia Nga và không chính thức với Đế quốc Đức

Tham khảo

  1. Mawdsley, Evan (2007). The Russian Civil War. New York: Pegasus Books. ISBN 9781681770093.
  2. Последние бои на Дальнем Востоке. М., Центрполиграф, 2005.
  3. Erickson 1984, tr. 763.
  4. Belash, Victor & Belash, Aleksandr, Dorogi Nestora Makhno, p. 340
  5. Mawdsley, pp. 3, 230
  6. "Russian Civil War". Encyclopædia Britannica. ngày 10 tháng 5 năm 2024.
  7. Moss, Walter G. (tháng 10 năm 2004). A History of Russia Volume 2: Since 1855. Anthem Press. tr. 207, 211. ISBN 978-0-8572-8739-7. OL 39239712M. Although full-scale civil war did not break out until 1918, opposition to the Bolshevik government appeared already in the first week after the November revolution... The corps' rebellion soon merged with local opposition and the Allied interventionists and marked the emergence of full-scale civil war in Russia.
  8. А. В. Шубин (2019). 1918 год. Революция, кровью омытая (bằng tiếng Nga). Akademicheskiĭ proekt. ISBN 978-5-8291-2317-8.
  9. "Russian Civil War". Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  10. Leggett 1981, tr. 184; Service 2000, tr. 402; Read 2005, tr. 206.
  11. Hall 2015, tr. 83.
  12. Lee 2003, tr. 84, 88.
  13. Goldstein 2013, tr. 50.
  14. Hall 2015, tr. 84.
  15. Mawdsley 2007, tr. 287.
  16. The Russian Revolution, 1917. Cambridge University Press. ngày 21 tháng 4 năm 2005. ISBN 978-0-5218-4155-9.
  17. Thatcher, Ian D. (2020). "The 'broad centrist' political parties and the first provisional government, 3 march – 5 may 1917". Revolutionary Russia. 33 (2): 197–220. doi:10.1080/09546545.2020.1808318.
  18. Shukman, Harold (ngày 5 tháng 12 năm 1994). The Blackwell Encyclopedia of the Russian Revolution (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 343. ISBN 978-0-6311-9525-2.
  19. Bergman, Jay (2019). The French Revolutionary Tradition in Russian and Soviet Politics, Political Thought, and Culture (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 224. ISBN 978-0-1988-4270-5.
  20. McMeekin, Sean (ngày 30 tháng 5 năm 2017). The Russian Revolution: A New History (bằng tiếng Anh). Basic Books. tr. 1–496. ISBN 978-0-4650-9497-4.
  21. 1 2 Stone, David R. (2011). "Russian Civil War (1917–1920)". Trong Martel, Gordon (biên tập). The Encyclopedia of War (bằng tiếng Anh). Blackwell Publishing. doi:10.1002/9781444338232.wbeow533. ISBN 978-1-4051-9037-4. S2CID 153317860.
  22. Abramovitch, Raphael R. (1985). The Soviet Revolution, 1917–1939 (bằng tiếng Anh). International Universities Press. tr. 130.
  23. Deutscher, Isaac (1954). The Prophet Armed Trotsky 1879–1921 (1954). Oxford University Press. tr. 330–336.
  24. Liebman, Marcel (1975). Leninism under Lenin. London : J. Cape. tr. 237. ISBN 978-0-2240-1072-6.
  25. Calder 1976, tr. 166 "[...] the Russian Army disintegrated after the failure of the Galician offensive in July 1917."
  26. Read 1996, tr. 237 By 1920, 77% of the Red Army's enlisted ranks were peasant conscripts.
  27. Williams 1987: "Typically, men of military age (17 to 40 years old) in a village would vanish when Red Army draft-units approached. The taking of hostages and a few summary executions usually brought the men back."
  28. 1 2 Overy 2004, tr. 446 By the end of the civil war, one-third of all Red Army officers were ex-Tsarist voenspetsy"
  29. 1 2 Williams 1987.
  30. Carr 1985, tr. 111–112.
  31. Carr 1985, tr. 113–115.
  32. Carr 1985, tr. 115.
  33. Carr 1985, tr. 115–116.
  34. Яковлев, Максим Владимирович (2014). "Концепция социалистической демократии: опыт реализации в СССР и современные перспективы в СНГ" [The concept of socialist democracy: experience of implementation in the USSR and modern prospects in the CIS]. CyberLeninka (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  35. Ulam, Adam Bruno (1998). The Bolsheviks: the intellectual and political history of the triumph of communism in Russia. Harvard University Press. tr. 397.
  36. Carr 1985, tr. 120–121.
  37. Berkman, Alexander; Goldman, Emma (tháng 1 năm 1922). "Bolsheviks Shooting Anarchists". Freedom. 36 (391): 4. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2023.
  38. 1 2 Pereira, Norman G. O. (1996). White Siberia: the politics of civil war. McGill-Queen's University Press. tr. 65. ISBN 978-0-7735-1349-5.
  39. Lazarski, Christopher (2008). The lost opportunity: attempts at unification of the anti-Bolsheviks, 1917–1919 – Moscow, Kiev, Jassy, Odessa. Lanham: University Press of America. tr. 42–43. ISBN 978-0-7618-4120-3.
  40. Brovkin, Vladimir N. (1991). Dear comrades: Menshevik reports on the Bolshevik revolution and the civil war. Hoover Press. tr. 135. ISBN 978-0-8179-8981-1.

Thư mục

Liên kết ngoài