Bộ Giáo dục và Đào tạo
| Bộ Giáo dục và Đào tạo | |
|---|---|
| Chính phủ Việt Nam | |
Trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, 35 Đại Cồ Việt, Hà Nội. | |
| Bộ trưởng đương nhiệm | |
| PGS.TS. Hoàng Minh Sơn | |
| từ 8 tháng 4 năm 2026 | |
| Bổ nhiệm bởi | Chủ tịch nước |
| Nhiệm kỳ | 5 năm |
| Thành lập | 28 tháng 8 năm 1945 |
| Bộ trưởng đầu tiên | Vũ Đình Hoè (Bộ Quốc gia Giáo dục) |
| Ngân sách2024 | |
| Thứ trưởng | |
| Địa chỉ | 35 Phố Đại Cồ Việt, Phường Bạch Mai, Hà Nội |
| Điện thoại | 024.38695144 |
| Fax | 024.38694085 |
| bogddt@moet.gov.vn | |
| Website | http://www.moet.gov.vn/ |
| Chính trị và chính phủ Việt Nam |
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lí nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên; phát triển kỹ năng nghề; quản lý nhà nước về tiếng Việt và tiếng các dân tộc; quản lí nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lí nhà nước của bộ.[2][3]
Lịch sử
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Bộ Quốc gia Giáo dục là một trong những Bộ – thành viên Chính phủ – được thành lập. Bộ trưởng đầu tiên là Vũ Đình Hòe. Ngày 2/3/1946, trong kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, Bộ đổi tên thành Bộ Giáo dục và Đặng Thai Mai được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục (thay Vũ Đình Hòe sang làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Chính phủ ký sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, chống nạn mù chữ. Cùng với việc chống nạn mù chữ, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia.[4]
Tháng 11/1946, trong kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 1, Nguyễn Văn Huyên được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục. Bộ Quốc gia giáo dục gồm Văn phòng Bộ và các nha: Đại học vụ, Trung học vụ, Tiểu học vụ và Nha Bình dân học vụ. Trong kháng chiến toàn quốc, Bộ sơ tán và di chuyển cơ quan từ Thủ đô về nông thôn, từ Hà Đông, Phú Thọ đến Tuyên Quang và An toàn khu. Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục. Cuộc cải cách này quyết định thực hiện hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới. Giai đoạn này cũng đánh dấu việc thành lập Công đoàn Giáo dục Việt Nam (tháng 7/1951). Trong Chiến tranh Đông Dương, sự nghiệp giáo dục từ phổ thông đến đại học được duy trì, phát triển và có sự biến đổi về chất. Các trường từ giáo dục phổ thông đến đại học đều giảng dạy bằng tiếng Việt. Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 đến 1954 thay đổi cơ bản nền giáo dục thực dân cũ, xây dựng nền tảng cho một nền giáo dục mới: dân tộc, khoa học, đại chúng.[4]
Năm 1954, cơ quan Bộ Giáo dục chuyển từ xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về huyện Đại Từ, Thái Nguyên để chuẩn bị về Hà Nội. Bộ chỉ đạo các trường trực thuộc và các địa phương có vùng mới giải phóng chuẩn bị các điều kiện cần thiết ban đầu để nhanh chóng phục hồi trường lớp. Một số công việc được Bộ chú trọng triển khai thực hiện trong giai đoạn này: mở các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc để đón nhận học sinh miền Nam ra Bắc học tập; tiến hành cải cách giáo dục năm 1956 đặt cơ sở cho việc hình thành Hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm gồm 3 cấp học.[4]
Tháng 10/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định phê chuẩn việc thành lập Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, tách khỏi Bộ Giáo dục và bổ nhiệm Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng. Sau những năm phát triển giáo dục trong điều kiện hòa bình, lúc này trên toàn miền Bắc nạn mù chữ đã được thanh toán. Trong giai đoạn này, phong trào thi đua "Hai tốt", "Cờ Ba nhất", "Sóng Duyên hải", "Gió đại phong", và "Ba sẵn sàng" phát triển với mô hình tiêu biểu là trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (Hà Nam), trường Tiểu học Cẩm Bình (Hà Tĩnh), phong trào giáo dục xã Ngổ Luống (Hà Đông, Hà Nội). Hệ thống trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao động được phát triển. Ở miền Bắc, mỗi ngày hàng triệu học sinh, sinh viên, các giáo viên đội mũ rơm, khắc phục khó khăn đến trường học tập, giảng dạy. Loạt trường trung học chuyên nghiệp mới được mở ra ở trung ương và địa phương. Mạng lưới các trường đại học và quy mô đào tạo được mở rộng. Tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục thuộc Trung ương cục miền Nam được thành lập. Miền Bắc đã chi viện 3000 cán bộ và tài liệu sách giáo khoa tạo điều kiện để phong trào giáo dục miền Nam lúc này có những bước chuyển biến mới.[4]
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau khi Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên qua đời (10/1975), Thứ trưởng Hồ Trúc kiêm Bí thư Đảng đoàn phụ trách công việc chung của Bộ. Tháng 7/1976, Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Năm 1976, GS, PGS Nguyễn Đình Tứ, Thứ trưởng, Ủy viên dự khuyết TW Đảng khóa IV được cử làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thay Bộ trưởng Tạ Quang Bửu nghỉ hưu. Tháng 1/1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục. Việc cải cách bắt đầu từ giáo dục phổ thông, song song với việc tiến hành bồi dưỡng giáo viên, theo hướng cải cách giáo dục, từng bước cải cách sư phạm. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Chủ trương của ngành trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục đã được triển khai.[4]
Năm 1987, theo quyết định của Nhà nước, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trung ương được sáp nhập vào Bộ Giáo dục; nhà trẻ, mẫu giáo hợp nhất lại thành ngành học Mầm non. Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời kỳ này là GS, Viện sĩ Phạm Minh Hạc. Năm 1988, sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học, Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề. Năm 1990, Chính phủ quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục, Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học. GS.TS Trần Hồng Quân, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 7 được bầu giữ chức bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.[4]
Từ năm 1996, Bộ Giáo dục và Đào tạo lần lượt qua các thời kỳ lãnh đạo của các Bộ trưởng: Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn và từ ngày 8 tháng 4 năm 2026 là Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn. Giáo dục trong giai đoạn này thực hiện các mục tiêu trong Chiến lược phát triển giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập tăng lên của người dân và nâng cao trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động. Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có những tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn. Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm và từng bước hiện đại hóa. Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được thúc đẩy.[4]
Chức năng và nhiệm vụ
Bộ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định 37/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ. Bộ cũng thực hiện nhiệm vụ quy định mục tiêu giáo dục, đào tạo phù hợp với các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; ban hành, cập nhật và hướng dẫn danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy chế đào tạo và liên kết đào tạo.[3][5][6]
Bộ có nhiệm vụ quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đối với các trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài.[3]
Về sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu, Bộ quy định việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt tài liệu được phép sử dụng; hướng dẫn việc lựa chọn tài liệu trong các cơ sở giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông.[3]
Quy định việc tổ chức biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tổ chức biên soạn giáo trình các môn lý luận chính trị, quốc phòng và an ninh để làm tài liệu sử dụng thống nhất trong giảng dạy, học tập trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.[3]
Bộ còn có nhiệm vụ ban hành chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ theo khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia Việt Nam; hướng dẫn chi tiết thực hiện phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng; điều kiện đảm bảo chất lượng tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo.[3]
Lãnh đạo
- Bộ trưởng: Hoàng Minh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ
- Thứ trưởng:
- Phạm Ngọc Thưởng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Thường trực
- Lê Quân[7]
- Nguyễn Thị Quyên Thanh[8]
Cơ cấu tổ chức
Đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Điều 3, Nghị định số 37/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ và Khoản 6, Điều 4, Nghị định số 109/2025/NĐ-CP ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ:[9][10]
Đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước
- Văn phòng Bộ
- Vụ Tổ chức cán bộ
- Vụ Kế hoạch - Tài chính
- Vụ Giáo dục Mầm non
- Vụ Giáo dục Phổ thông
- Vụ Giáo dục Đại học
- Vụ Giáo dục Quốc phòng và An ninh
- Vụ Học sinh, sinh viên
- Vụ Pháp chế
- Cục Quản lý chất lượng
- Cục Hợp tác quốc tế
- Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục
- Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin
- Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên
Đơn vị sự nghiệp công lập
- Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
- Báo Giáo dục và Thời đại
- Tạp chí Giáo dục
Đơn vị sự nghiệp công lập khác
Theo Quyết định số 1723/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ:[11]
- Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại học Đà Nẵng
- Đại học Huế
- Đại học Thái Nguyên
- Đại học Bách khoa Hà Nội
- Đại học Cần Thơ
- Đại học Kinh tế Quốc dân
- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Đà Lạt
- Trường Đại học Đồng Tháp
- Trường Đại học Giao thông Vận tải
- Trường Đại học Hà Nội
- Trường Đại học Kiên Giang
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Mỏ - Địa chất
- Trường Đại học Mở Hà Nội
- Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp
- Trường Đại học Ngoại thương
- Trường Đại học Nha Trang
- Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Quy Nhơn
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
- Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
- Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh
- Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
- Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội
- Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Đại học Tây Bắc
- Trường Đại học Tây Nguyên
- Trường Đại học Thương mại
- Trường Đại học Việt Đức
- Trường Đại học Vinh
- Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
- Học viện Quản lý giáo dục
- Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương
- Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang
- Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ
- Trường Cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất
- Trường Cao đẳng Kỹ nghệ II
- Trường Cao đẳng Xây dựng số 1
- Trường Cao đẳng Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định
- Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình đô thị
- Trường Cao đẳng nghề Việt - Xô số 1
- Trường Cao đẳng Công nghệ Quốc tế Lilama 2
- Trường Cao đẳng Cơ giới Xây dựng
- Trường Cao đẳng Xây dựng và Công nghệ - Xã hội
- Trường Cao đẳng Kỹ thuật và Nghiệp vụ Hà Nội
- Trường Trung cấp nghề Cơ khí xây dựng
- Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh
- Trường Hữu nghị 80
- Trường Hữu nghị T78
- Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán
- Viện Nghiên cứu Thiết kế trường học
- Trung tâm Đào tạo khu vực của SEAMEO tại Việt Nam
- Trung tâm khu vực về học tập suốt đời của tổ chức SEAMEO tại Việt Nam
- Ban Quản lý các dự án Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đơn vị hữu quan
Có:[12]
- Công đoàn Giáo dục Việt Nam
- Hội đồng Giáo sư Nhà nước
- Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển Nhân lực
- Hội Khuyến học Việt Nam
- Hội Cựu Giáo chức Việt Nam
- Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam
Tham khảo
- ↑ "Công bố công khai dự toán ngân sách nhà nước năm 2024". chinhphu.vn.
- ↑ "Bộ Giáo dục và Đào tạo". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 3 4 5 6 "Nghị định số 69/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ".
- 1 2 3 4 5 6 7 "Tóm lược Lịch sử phát triển Giáo dục và Đào tạo Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2017.
- ↑ dulieuphapluat.vn. "Thông tư 11/2022/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về liên kết tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài". dulieuphapluat. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2022.
- ↑ dulieuphapluat.vn. "Nghị định 86/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo". dulieuphapluat. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2022.
- ↑ "Ông Lê Quân làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo".
- ↑ Hiếu Nguyễn (ngày 11 tháng 3 năm 2026). "Thủ tướng bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Quyên Thanh giữ chức Thứ trưởng Bộ GD&ĐT". Báo Giáo dục và Thời đại. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Nghị định số 37/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Nghị định số 109/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Danh sách 65 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo". Báo Điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Đơn vị hữu quan". Bộ Giáo dục và Đào tạo. ngày 18 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2026.