Bước tới nội dung

U-860 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-180, một chiếc Type IXD tiêu biểu
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-860
Đặt hàng5 tháng 6, 1941
Xưởng đóng tàuDeSchiMAG AG Weser, Bremen
Số hiệu xưởng đóng tàu1066
Đặt lườn15 tháng 6, 1942
Hạ thủy23 tháng 3, 1943
Nhập biên chế12 tháng 8, 1943
Tình trạngBị máy bay từ tàu sân bay hộ tống Hoa Kỳ USS Solomons đánh chìm trong Đại Tây Dương, 15 tháng 6, 1944[1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàuTàu ngầm Type IXD
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 87,58 m (287 ft 4 in) (chung) [2]
  • 68,50 m (224 ft 9 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 7,50 m (24 ft 7 in) (chung) [2]
  • 4,40 m (14 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao10,20 m (33 ft 6 in) [2]
Mớn nước5,35 m (17 ft 7 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 9.000 PS (6.600 kW; 8.900 shp) (diesel) [2]
  • 1.000 PS (740 kW; 990 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 23.700 hải lý (43.900 km; 27.300 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 213 hải lý (394 km; 245 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm230 m (750 ft) [2]
Thủy thủ đoàn tối đa55 - 63
Hệ thống cảm biến và xử lýGruppenhorchgerät
Vũ khí
  • 6 × ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in) [2]
    • (4 × trước mũi, 2 × phía đuôi)
    • 24 × ngư lôi
  • 1 × Hải pháo 10,5 cm SK C/32, với 180 quả đạn [2]
  • 1 × pháo phòng không 3,7 cm SK C/30
  • 2 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 nòng đôi [2]
Thành tích phục vụ[1][3]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 4
  • 12 tháng 8, 1943 – 31 tháng 3, 1944
  • Chi hạm đội U-boat 12
  • 1 tháng 4 – 15 tháng 6, 1944
Mã nhận diện:M 54 813
Chỉ huy:
  • Thiếu tá / Trung tá Paul Büchel
  • 12 tháng 8, 1943 – 15 tháng 6, 1944
Chiến dịch:
  • 1 chuyến tuần tra:
  • 11 tháng 4 – 15 tháng 6, 1944
Chiến thắng:Không

U-860 là một tàu ngầm tuần dương Lớp Type IX thuộc phân lớp Type IXD được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị máy bay ném bom-ngư lôi TBF Avengermáy bay tiêm kích F4F Wildcat xuất phát từ tàu sân bay hộ tống USS Solomons của Hải quân Hoa Kỳ đánh chìm trong Nam Đại Tây Dương vào ngày 15 tháng 6, 1944.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Thiết kế của tàu ngầm Type IXD là một phiên bản mở rộng hơn đáng kể so với phân lớp Type IXC/40 dẫn trước, có tốc độ nhanh hơn nhưng kém cơ động hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 1.610 t (1.580 tấn Anh) khi nổi và 1.799 t (1.771 tấn Anh) khi lặn.[4] Con tàu có chiều dài chung 87,58 m (287 ft 4 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 68,70 m (225 ft 5 in), mạn tàu rộng 7,50 m (24 ft 7 in), chiều cao 10,20 m (33 ft 6 in) và mớn nước 5,35 m (17 ft 7 in).[4]

Chúng trang bị hai động cơ diesel MAN M 9 V 40/46 siêu tăng áp 9-xy lanh 4 thì cùng hai động cơ MWM RS34.5S 6-xy lanh 4 thì để đi đường trường, cung cấp tổng công suất 9.000 PS (6.600 kW; 8.900 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,90 m (6,2 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 20,8 kn (38,5 km/h), và tầm hoạt động tối đa 23.700 nmi (43.900 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h).[4] Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Siemens-Schuckert 2 GU 345/34 tổng công suất 1.000 PS (740 kW; 990 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 6,9 kn (12,8 km/h), và tầm hoạt động 121 nmi (224 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h).[4] Con tàu có khả năng lặn sâu đến 200 m (660 ft).[4]

Vũ khí trang bị có sáu ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và hai ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 24 quả ngư lôi 53,3 cm (21 in). Tàu ngầm Type IXD trang bị một hải pháo 10,5 cm (4,1 in) SK C/32 với 150 quả đạn, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) SK C/30 với 2575 quả đạn và hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 với 8100 quả đạn . Thủy thủ đoàn bao gồm 55 sĩ quan và thủy thủ.[4]

Chế tạo

U-860 được đặt hàng vào ngày 5 tháng 6, 1941,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu AG Weser của hãng DeSchiMAG ở Bremen vào ngày 15 tháng 6, 1942.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 23 tháng 3, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 12 tháng 8, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Paul Büchel.[1]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 4, U-860 được điều sang Chi hạm đội U-boat 12 từ ngày 1 tháng 4, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1][5]

U-860 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 11 tháng 4, 1944 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua phía Bắc quần đảo Anh, và tiếp tục hướng xuống vùng biển Nam Đại Tây Dương.[6] Chỉ mười ngày sau khi khởi hành, ở vị trí về phía Đông Nam Iceland vào ngày 21 tháng 4, chiếc tàu ngầm bị bất ngờ bởi một máy bay đối phương xuất hiện. Nó buộc phải lặn khẩn cấp để né tránh và thoát được, nhưng hai thủy thủ đã bị cuốn trôi xuống biển do không kịp quay trở vào tàu khi nó lặn xuống.[1]

Tại Nam Đại Tây Dương vào ngày 15 tháng 6, ở vị trí khoảng 575 hải lý (1.065 kilômét) về phía Nam đảo Saint Helena, U-860 bị một máy bay ném bom-ngư lôi TBF Avenger thuộc Liên đội VC-9 xuất phát từ tàu sân bay hộ tống USS Solomons của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện và tấn công lúc 12 giờ 21 phút. Chiếc Avenger bị bắn rơi, nhưng đã kịp báo cáo tọa độ mục tiêu cho Solomons.[1]

Đến 19 giờ 22 phút, một chiếc Avenger khác cùng xuất phát từ Solomons tìm thấy chiếc tàu ngầm, và sau đó có thêm nhiều chiếc Avenger khác, được những máy bay tiêm kích F4F Wildcat hỗ trợ, đã bắn rocket và thả mìn sâu tấn công, đánh chìm U-860 tại tọa độ 25°27′N 05°30′T / 25,45°N 5,5°T / -25.450; -5.500.[1] Khoảng 30 đến 40 người đã thoát ra khỏi chiếc tàu ngầm khi nó đắm, nhưng khi các tàu hộ tống khu trục USS StraubUSS Herzog thuộc đội tìm-diệt tàu ngầm của Solomons đi đến hiện trường, họ chỉ cứu vớt và bắt làm tù binh chiến tranh hai mươi người, bao gồm Trung tá Paul Büchel hạm trưởng.[1]

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Helgason, Guðmundur. "The Type IXD2 U-boat U-860". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type IXD". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  3. Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-860". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  4. 1 2 3 4 5 6 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 74-75.
  5. Busch & Röll 1997, tr. 384.
  6. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-860 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.

Thư mục

  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1997). Der U-Boot-Krieg, 1939-1945: Die deutschen U-Boot-Kommandanten (bằng tiếng Đức). Quyển II. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0509-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type IXD2 boat U-860". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 860". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.