Bước tới nội dung

Tứ trụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ trụ là thuật ngữ không chính thức được sử dụng để chỉ bốn vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, gồm: Tổng Bí thư kiêm nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hộiThường trực Ban Bí thư . Một cách chính thống hơn, bốn vị trí này được gọi là Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.[1] Chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước là chức vụ lãnh đạo cao nhất của Đảng và cũng là nguyên thủ quốc gia; Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu chính phủ; Chủ tịch Quốc hội là người đứng đầu Quốc hội Việt NamUỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam; Thường trực Ban Bí thư là người lãnh đạo, chủ trì công việc thường ngày của Ban Bí thư.

Nguyên gốc của thuật ngữ này xuất phát từ thời kỳ quân chủ tại Việt Nam, dùng để chỉ bốn vị quan "trụ cột" của triều đình, được sử dụng phổ biến dưới thời nhà Đinhnhà Nguyễn. Hiện nay, thuật ngữ Tứ trụ hiện nay chủ yếu được dư luận, một số cơ quan báo chí, tổ chức truyền thông, các nhà phân tích độc lập cũng như các tiếng nói không chính thống ở Việt Nam sử dụng.

Từ ngày 8 tháng 9 năm 2025 đến 7 tháng 4 năm 2026, thuật ngữ "Tứ trụ" đã trở thành thành "Ngũ trụ" sau khi Bộ Chính trị ban hành quy định các chức danh trong đó Thường trực Ban Bí thư được trở thành lãnh đạo chủ chốt thứ năm của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, sau khi Tổng Bí thư Tô Lâm đươc bầu nắm giữ chức Chủ tịch nước vào ngày 7 tháng 4 năm 2026, trên thực tế là nhất thể hóa chức danh Tổng Bí Thư và Chủ tịch nước thành một,[2] thuật ngữ Tứ trụ đã được sử dụng lại để chỉ 4 lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.

Các khái niệm Tứ trụ thời phong kiến

Thời nhà Đinh

Đền Tứ trụ ở Tràng An thờ 4 vị tứ trụ triều Đinh

Tứ trụ triều Đinh là 4 vị tướng của vua là Tể tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thượng thư Trịnh Tú, Thái sư Lưu Cơ. Bốn vị này là những vị quan trong triều nhà Đinh được hậu thế tôn vinh là tứ trụ triều đình. Trong quần thể di sản thế giới Tràng An hiện nay có đền Tứ Trụ thờ 4 vị đại quan nói trên. Tại đền Vua Đinh Tiên Hoàngquần thể di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) cũng có tòa thiêu hương thờ Tứ trụ triều đình.

Sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Sử chép rằng Vua phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Đinh Điền là Ngoại giáp, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, Lưu Cơ làm Đô hộ Phủ Sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được làm Sùng chân Uy nghi và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương. Danh xưng Tứ trụ triều Đinh là do đời sau tôn vinh.

Thời Nguyễn

Dưới thời Nguyễn, tứ trụ triều đình còn được hiểu là Tứ trụ Đại học sĩ là 4 chức quan Đại học sĩ cao cấp thời quân chủ Việt Nam:

  1. Cần Chánh điện Đại học sĩ
  2. Văn Minh điện Đại học sĩ
  3. Võ Hiển điện Đại học sĩ
  4. Đông Các Đại học sĩ

Bốn vị quan này đều hàm Chính nhất phẩm, cao hơn cả Thượng thư (hàm Chính nhị phẩm, tương đương Bộ trưởng thời nay) và Tổng đốc. Bình thường, vua chọn 4 viên quan cao cấp này để làm cố vấn và là thành viên Viện Cơ mật [cần dẫn nguồn]. Khi có biến, 4 viên quan đó ("Tứ trụ triều đình") mặc nhiên trở thành Phụ chính Đại thần và lập ra Hội đồng Phụ chính [cần dẫn nguồn]. Hội đồng Phụ chính là tổ chức cao cấp trong triều đình phong kiến [cần dẫn nguồn], chỉ hình thành khi vua vắng mặt hoặc còn nhỏ tuổi, để điều hành công việc đất nước. Giúp việc cho 4 Đại học sĩ này là Hiệp biện Đại học sĩ.

Cơ cấu lãnh đạo từ 1945 đến 1991

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Các vị trí Chủ tịch nước và Chủ tịch Chính phủ (tức Thủ tướng) được thành lập và Hồ Chí Minh kiêm nhiệm cả hai vị trí. Hai vị trí này được hợp thức hóa bằng Hiến pháp 1946, cùng năm chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tức Chủ tịch Quốc hội) chính thức được thành lập.

Từ thời điểm đó đến năm 1991 (trừ giai đoạn 1960 – 1969), 4 vị trí này chưa bao giờ cùng tham gia Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực nhất Đảng Cộng sản Việt Nam. Vị trí Tổng Bí thư và Thủ tướng là 2 vị trí luôn tham gia Bộ Chính trị từ ngày đầu thành lập. Trong khi đó, Chủ tịch nước giai đoạn 1969 – 1981, Chủ tịch Quốc hội giai đoạn 1946 – 1960 và 1981 – 1992 không tham gia Bộ Chính trị. Ngoài ra, trong giai đoạn 1951 – 1969 còn tồn tại vị trí Chủ tịch Đảng – vị trí quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cả 4 vị trí nói trên. Do đó, hệ thống Tứ trụ chưa thực sự hình thành trong suốt giai đoạn này.

Sau 1992

Tứ trụ tại Đại hội Đảng lần thứ XIII

Năm 1969, chức vị Chủ tịch Đảng bị bãi bỏ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đưa Tổng Bí thư trở thành vị trí quyền lực nhất hệ thống chính trị. Tuy nhiên phải đến tận Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 khi lần đầu tiên sau 22 năm, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội cùng tham gia Bộ Chính trị, thì hệ thống Tứ trụ mới thực sự hình thành, trở thành những nhân vật quyền lực nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Danh sách Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước từ năm 1992

Trần Thanh MẫnVương Đình HuệNguyễn Thị Kim NgânNguyễn Sinh HùngNguyễn Phú TrọngNguyễn Văn AnNông Đức MạnhPhạm Minh ChínhNguyễn Xuân PhúcNguyễn Tấn DũngPhan Văn KhảiVõ Văn KiệtLương CườngTô LâmVõ Văn ThưởngNguyễn Xuân PhúcNguyễn Phú TrọngTrần Đại QuangTrương Tấn SangNguyễn Minh TriếtTrần Đức LươngLê Đức AnhTô LâmNguyễn Phú TrọngNông Đức MạnhLê Khả PhiêuĐỗ Mười
Mốc thời giankhông khung

Tổng Bí thư
Đảng Cộng sản Việt Nam

không khung

Chủ tịch nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

không khung

Thủ tướng Chính Phủ
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

không khung

Chủ tịch Quốc hội
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

23 tháng 9,1992

– 23 tháng 9, 1997

không khungĐỗ Mười

(1917 – 2018)

không khungLê Đức Anh

(1920 – 2019)

không khungVõ Văn Kiệt

(1922 – 2008)

không khungNông Đức Mạnh

(Sinh năm 1940)

24 tháng 9, 1997

– 25 tháng 9, 1997

không khungTrần Đức Lương

(1937 – 2025)

25 tháng 9, 1997

– 26 tháng 12, 1997

không khungPhan Văn Khải

(1933 – 2018)

26 tháng 12, 1997

22 tháng 4, 2001

không khungLê Khả Phiêu

(1931 – 2020)

22 tháng 4, 2001

– 27 tháng 6, 2001

không khungNông Đức Mạnh

(Sinh năm 1940)

27 tháng 6, 2001

– 26 tháng 6, 2006

không khungNguyễn Văn An

(Sinh năm 1937)

26 tháng 6, 2006

– 27 tháng 6, 2006

không khungNguyễn Phú Trọng

(1944 – 2024)

27 tháng 6, 2006

19 tháng 1, 2011

không khungNguyễn Minh Triết

(Sinh năm 1942)

không khungNguyễn Tấn Dũng

(Sinh năm 1949)

19 tháng 1, 2011

– 23 tháng 7, 2011

không khungNguyễn Phú Trọng

(1944 – 2024)

23 tháng 7, 2011

– 25 tháng 7, 2011

không khungNguyễn Sinh Hùng

(Sinh năm 1946)

25 tháng 7, 2011

– 31 tháng 3, 2016

không khungTrương Tấn Sang

(Sinh năm 1949)

31 tháng 3, 2016

– 2 tháng 4, 2016

không khungNguyễn Thị

Kim Ngân

(Sinh năm 1954)

2 tháng 4, 2016

– 6 tháng 4, 2016

không khungTrần Đại Quang

(1956 – 2018)

7 tháng 4, 2016

21 tháng 9, 2018

không khungNguyễn Xuân Phúc

(Sinh năm 1954)

21 tháng 9, 2018

– 23 tháng 10, 2018

Đương chức không

tham gia Bộ Chính trị[a]

23 tháng 10, 2018

– 31 tháng 3, 2021

không khungNguyễn Phú Trọng

(1944 – 2024)

31 tháng 3, 2021

– 5 tháng 4, 2021

không khungVương Đình Huệ

(Sinh năm 1957)

5 tháng 4, 2021

18 tháng 1, 2023

không khungNguyễn Xuân Phúc

(Sinh năm 1954)

không khungPhạm Minh Chính

(Sinh năm 1958)

18 tháng 1, 2023

– 2 tháng 3, 2023

Đương chức không

tham gia Bộ Chính trị[b]

2 tháng 3, 2023

21 tháng 3, 2024

không khungVõ Văn Thưởng

(Sinh năm 1970)

21 tháng 3, 2024

2 tháng 5, 2024

Đương chức không

tham gia Bộ Chính trị[c]

2 tháng 5, 2024

20 tháng 5, 2024

Văn phòng bỏ trống[d]
20 tháng 5, 2024

– 22 tháng 5, 2024

không khungTrần Thanh Mẫn

(Sinh năm 1962)

22 tháng 5, 2024

19 tháng 7, 2024

không khungTô Lâm

(Sinh năm 1957)

19 tháng 7, 2024

– 03 tháng 8, 2024

Văn phòng bỏ trống[e]
03 tháng 8, 2024

– 21 tháng 10, 2024

không khungTô Lâm

(Sinh năm 1957)

21 tháng 10, 2024

– 7 tháng 4, 2026

Lương Cường

(Sinh năm 1957)

7 tháng 4, 2026

– nay

không khungTô Lâm

(Sinh năm 1957)

không khungLê Minh Hưng

(Sinh năm 1970)

Xem thêm

Ghi chú

  1. Ngày 21 tháng 9 năm 2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Thịnh không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
  2. Ngày 18 tháng 1 năm 2023, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc từ chức. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Xuân không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
  3. Ngày 21 tháng 3 năm 2024, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng từ chức. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân được giao quyền Chủ tịch nước. Do bà Xuân không tham gia Bộ Chính trị và chỉ giữ Quyền Chủ tịch nước nên không được coi là một Tứ trụ chính thức.
  4. Ngày 2 tháng 5 năm 2024, sau khi Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ từ chức, không có cá nhân nào được bầu để kế nhiệm ông. Thay vào đó, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn được phân công điều hành hoạt động của Quốc hộiỦy ban Thường vụ Quốc hội cho đến khi ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội vào ngày 20 tháng 5.
  5. Ngày 19 tháng 7 năm 2024, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần, không có cá nhân nào ngay lập tức được bầu để kế nhiệm ông. Thay vào đó, Chủ tịch nước Tô Lâm được phân công điều hành công việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trịBan Bí thư cho đến khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bản thân ông làm Tổng Bí thư mới.

Tham khảo

  1. "Kết luận số 35-KL/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở". Tư liệu - Văn kiện. Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 5 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022.
  2. "Nhất thể hóa: Hợp nhất quyền lực để guồng máy hành động vì dân". vov.gov.vn. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2026.