Chính phủ Việt Nam
| Ban lãnh đạo đương nhiệm Khoá XVI (2026 - 2031) | |
| Thủ tướng | Lê Minh Hưng |
|---|---|
| Phó Thủ tướng Thường trực | Phạm Gia Túc |
| Phó Thủ tướng | Phan Văn Giang Phạm Thị Thanh Trà Hồ Quốc Dũng Nguyễn Văn Thắng Lê Tiến Châu |
| Cơ cấu tổ chức | |
| Cơ quan chủ quản | Quốc hội Việt Nam |
| Cấp hành chính | Trung ương |
| Văn bản Ủy quyền | Hiến pháp 2013 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 |
| Phương thức liên hệ | |
| Trụ sở | |
| Địa chỉ | Văn phòng Chính phủ |
| Trang web | chinhphu.vn |
| Lịch sử | |
| Thành lập | 28 tháng 8 năm 1945 (Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) |
| Chính trị và chính phủ Việt Nam |
Chính phủ Việt Nam (tên chính thức Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là cơ quan hành pháp của Quốc hội Việt Nam. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.[1]
Lịch sử
Nội các đầu tiên của Việt Nam là Nội các Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam, thành lập sau khi Viện Cơ mật của triều Nguyễn bị người Nhật giải tán.[2] Trước đây trong triều Nguyễn cũng có một cơ quan tên Nội các, cơ quan này đảm nhận việc phụ tá nhà vua và giải quyết các công việc về văn thư, giấy tờ còn việc cố vấn quốc sự được giao cho Viện Cơ mật.[3]
Sau khi Bảo Đại thoái vị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Sau đó, dưới các điều kiện chiến tranh và chính trị mà các chính phủ khác nhau được thành lập dưới trướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội các trong Chính phủ lần đầu được quy định trong Hiến pháp 1946, với Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ, Nội các là cơ quan hỗ trợ do Thủ tướng đứng đầu.[4]
Sau Hiệp định Genève, chính phủ không đối lập đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức Chính phủ mở rộng, được thành lập. Nội các của các chính phủ kế thừa từ đây chỉ bao gồm thành viên các đảng phái thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ sau khi Hiến pháp 1959 có hiệu lực, Nội các được đổi tên thành Hội đồng Chính phủ, với lãnh đạo là Thủ tướng thay vì Chủ tịch nước như bản Hiến pháp 1946.[5]
Sau cuộc Trưng cầu dân ý năm 1955, Ngô Đình Diệm đã thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa kế thừa Quốc gia Việt Nam, với ngành hành pháp do Tổng thống đứng đầu cùng Nội các hỗ trợ dựa theo Hiến pháp 1956.[6]
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng hòa, đồng thời Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập từ năm 1969 sẽ kế thừa Nội các cũ, đến tháng 7/1976 thì thống nhất với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để lập ra Hội đồng Chính phủ Phạm Văn Đồng lần 5, nội các chính phủ đầu tiên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau đó, Hội đồng Chính phủ đã đổi tên theo Hiến pháp 1980 thành Hội đồng Bộ trưởng và Hiến pháp 1992 thành Chính phủ.
Nhiệm kì
Hiến pháp 2013, Điều 97 quy định:
"Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phủ".
Trong đó, Điều 71 quy định nhiệm kì của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm.
Thành phần
Hiến pháp 2013, Điều 95 Mục 1 có quy định:
"Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định.Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số."
Nhiệm vụ và quyền hạn
Hiến pháp 2013, Điều 96 quy định:
"Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;
- Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;
- Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
- Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
- Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình."
Trách nhiệm
Chính phủ chịu sự giám sát của Chủ tịch nước và Quốc hội. Chính phủ phải chấp hành:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
Chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, cách thức hoạt động của Chính phủ được quy định tại Chương VII Hiến pháp 2013,[7] Luật Tổ chức Chính phủ 2015 (sửa đổi 2019),[8] và Nghị định Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ 2016.[9]
Cơ quan
Sau cuộc sắp xếp và tinh gọn bộ máy năm 2025, Chính phủ có 14 Bộ, và 3 cơ quan ngang Bộ.[10][11][12]
- Các Bộ:
- Bộ Quốc phòng
- Bộ Công an
- Bộ Ngoại giao
- Bộ Tư pháp
- Bộ Tài chính
- Bộ Nội vụ
- Bộ Khoa học và Công nghệ
- Bộ Xây dựng
- Bộ Công Thương
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường
- Bộ Y tế
- Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Bộ Dân tộc và Tôn giáo
- Các Cơ quan ngang Bộ:
Chính phủ Việt Nam còn tổ chức các Ủy ban Quốc gia theo lĩnh vực.[13] Có 9 Ủy ban Quốc gia:
- Ủy ban Quốc gia Đổi mới Giáo dục và Đào tạo
- Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số
- Ủy ban Quốc gia về Biến đổi Khí hậu
- Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia
- Ủy ban Quốc gia Phòng chống AIDS, Ma túy, Mại dâm
- Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn
- Ủy ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia
- Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi
- Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế
Đảng ủy Chính phủ
Xem thêm: Đảng bộ Chính phủ Việt Nam
Hình thức hoạt động
Hình thức hoạt động tập thể của Chính phủ là các phiên họp.[14]
Theo Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam, trước đây, Chính phủ Việt Nam hầu như chỉ trình các báo cáo lên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trước mà không trình Quốc hội Việt Nam. Sau khi Bộ Chính trị kết luận thì báo cáo được trình Quốc hội. Trong vài khóa Quốc hội Việt Nam trước khóa XIV, Bộ Chính trị cho phép Đảng đoàn Quốc hội hoặc Ủy ban kinh tế của Quốc hội có ý kiến trước đối với những vấn đề liên quan.[15]
Tham khảo
- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua các thời kỳ Lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại Wayback Machine
- ↑ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, điều 94
- ↑ Nguyễn Kỳ Nam. Hồi ký 1925-1964. Tập 2, trang 166-169.
- ↑ Từ điển chức quan Việt Nam, Đỗ Văn Ninh, 2002, trang 462 mục 902. Nội các
- ↑ Hiến pháp năm 1946
- ↑ Hiến pháp năm 1959
- ↑ Duncanson, Dennis J. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford University Press, 1968. tr. 228.
- ↑ "HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM". CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP.
- ↑ "Luật số 47/2019/QH14 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương". CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ.
- ↑ "NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CHÍNH PHỦ". THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
- ↑ https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/sau-sap-xep-chinh-phu-co-14-bo-3-co-quan-ngang-bo-816204
- ↑ https://vtv.vn/chinh-tri/chinh-thuc-chinh-phu-gom-25-thanh-vien-co-14-bo-va-3-co-quan-ngang-bo-20250218165913003.htm
- ↑ https://www.vietnamplus.vn/14-bo-3-co-quan-ngang-bo-va-5-co-quan-truc-thuoc-chinh-phu-co-chuc-nang-gi-post1015071.vnp
- ↑ http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/cactochucphoihopliennganh?governmentId=2856&organizationTypeId=11
- ↑ dulieuphapluat.vn. "Nghị quyết 111/NQ-CP của Chính phủ về phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2022". dulieuphapluat. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Tư Giang/Thời báo Kinh tế Sài Gòn (ngày 7 tháng 4 năm 2016). "Quan hệ giữa Đảng và Quốc hội: Đã có thay đổi". VOV. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018.
{{Chú thích web}}:|ngày lưu trữ=cần|url lưu trữ=(trợ giúp)
Liên kết ngoài
- Trang chủ của Chính phủ Việt NamLưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2006 tại Wayback Machine
- Hệ thống văn bản - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
- Chính phủ nhiệm kỳ quốc hội khóa xiii (2011-2016) Lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2014 tại Wayback Machine