Hòa ước Versailles
Tên đầy đủ:
| |
|---|---|
Bìa bản tiếng Anh của Hòa ước Versailles. | |
| Ngày kí | 28 tháng 6 năm 1919[1] |
| Nơi kí | Phòng Gương tại Cung điện Versailles, Versailles, Pháp[2] |
| Ngày đưa vào hiệu lực | 10 tháng 1 năm 1920[3] |
| Điều kiện | Đức và ba quốc gia Khối Đồng Minh, quốc gia liên kết chính phê chuẩn[n. 2] |
| Bên tham gia | Quốc gia Khối Đồng Minh và quốc gia liên kết chính[n. 1]
Quốc gia Khối Đồng Minh và quốc gia liên kết[n. 1]
|
| Người gửi lưu giữ | Chính phủ Pháp[n. 2] |
| Ngôn ngữ | Tiếng Pháp và Tiếng Anh[n. 2] |
Hòa ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–1918) được ký giữa nền Cộng hòa Weimar của Đức và các quốc gia thuộc phe Hiệp ước. Nội dung Hòa ước được soạn thảo bởi Georges Clemenceau, Thủ tướng Pháp, cùng với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – ba nước thắng trận.
Sau nhiều trận đánh đẫm máu từ năm 1914 cho đến giữa năm 1918, quân đội Pháp đã khánh kiệt. Tuy nhiên, nhờ có sự hỗ trợ của quân đội Anh và Hoa Kỳ, Pháp đã tiếp tục nỗ lực chiến tranh của mình. Cuối cùng, khi tình hình nước Đức trở nên rối loạn, nước Pháp ăn mừng chiến thắng và mong ước có một hội nghị hòa bình nhằm xóa bỏ hoàn toàn mối đe dọa từ phía nước này đồng thời có được khoản bồi thường chiến phí.[4]
Hoà ước này đặt ra những điều khoản khắt khe lên nước Đức bại trận. Nó có thể được so sánh với Hòa ước Tilsit mà Napoléon Bonaparte áp đặt lên Vương quốc Phổ vào năm 1807, hoặc là Hòa ước Brest-Litovsk do Đế quốc Đức áp đặt lên nước Nga Xô Viết vào đầu năm 1918.[5] Sau khi Nhà nước Đức Quốc xã được thành lập với sự lãnh đạo của Adolf Hitler, hoà ước đã bị Hitler lách luật ở 1 số điều khoản của hoà ước rồi cuối cùng Hitler đã xoá bỏ vào thập niên 1930.[6]
Bối cảnh
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ sau cuộc Khủng hoảng tháng Bảy năm 1914. Đế quốc Áo-Hung tuyên chiến với Serbia, ngay sau đó Đức tuyên chiến với Nga vào ngày 1 tháng 8, và tuyên chiến với Bỉ cùng Pháp vào ngày 3 tháng 8. Việc Đức xâm lược Bỉ vào ngày 3 tháng 8 đã dẫn đến việc Anh tuyên chiến với Đức vào ngày 4 tháng 8, khơi mào cho cuộc xung đột sau này trở thành Thế chiến thứ nhất.[7] Hai liên minh đối đầu nhau: Liên minh Trung tâm (do Đức dẫn đầu) và Khối Hiệp ước (do Anh, Pháp và Nga dẫn đầu). Nhiều quốc gia khác cũng tham chiến khi chiến tranh lan rộng khắp châu Âu, cũng như Trung Đông, châu Phi và châu Á.
Sau khi chứng kiến sự sụp đổ của chế độ Nga hoàng trong Cách mạng Tháng Hai và chính phủ Kerensky trong Cách mạng Tháng Mười, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga non trẻ dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenin đã ký Hòa ước Brest-Litovsk vào tháng 3 năm 1918. Động thái này tương đương với một sự đầu hàng và mang lại nhiều lợi thế lớn cho Đức. Nhận thấy cơ hội chiến thắng trước khi Lực lượng Viễn chinh Mỹ kịp sẵn sàng tham chiến, Đức đã chuyển quân sang Mặt trận phía Tây và cố gắng nhanh chóng đánh bại quân Đồng minh. Tuy nhiên, nỗ lực này của họ đã thất bại. Thay vào đó, quân Đồng minh đã giành chiến thắng quyết định trên chiến trường, đánh bại các đồng minh Thổ Nhĩ Kỳ, Áo và Bulgaria của Đức, buộc Đức phải chấp nhận đình chiến vào tháng 11 năm 1918, một kết cục không khác gì một sự đầu hàng vô điều kiện.[8]
Vai trò của Mười bốn Điểm
Hoa Kỳ tham chiến chống lại phe Liên minh Trung tâm vào năm 1917, và Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình các điều khoản hòa bình. Mục tiêu mà ông tuyên bố là tách biệt cuộc chiến ra khỏi những tranh chấp và tham vọng mang tính chất dân tộc chủ nghĩa. Vào ngày 8 tháng 1 năm 1918, Wilson công bố một chương trình được gọi là Mười bốn Điểm. Bản tuyên bố này phác thảo một chính sách về tự do thương mại, các thỏa thuận công khai và nền dân chủ. Tuy thuật ngữ cụ thể không được nhắc đến, nhưng quyền dân tộc tự quyết được xem là nguyên tắc nền tảng của tuyên bố này. Bản tuyên bố cũng kêu gọi kết thúc chiến tranh thông qua đàm phán, giải trừ quân bị quốc tế, yêu cầu Liên minh Trung tâm rút quân khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng, thành lập một nhà nước Ba Lan, vẽ lại biên giới châu Âu dựa trên ranh giới sắc tộc, và thành lập Hội Quốc liên để bảo đảm độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ cho tất cả các quốc gia trên thế giới.[9][n. 3]
Tuyên bố này kêu gọi một nền hòa bình công bằng và dân chủ, không bị thỏa hiệp bởi các hành động sáp nhập lãnh thổ. Mười bốn Điểm được xây dựng dựa trên nghiên cứu của The Inquiry (Nhóm Nghiên cứu), một đội ngũ gồm khoảng 150 cố vấn do cố vấn chính sách đối ngoại Edward M. House dẫn đầu, nhằm tìm hiểu về các chủ đề có khả năng nảy sinh trong hội nghị hòa bình dự kiến.[10]
Đình chiến

Vào mùa thu năm 1918, phe Liên minh Trung tâm do Đức cầm đầu bắt đầu sụp đổ.[11] Tỷ lệ đào ngũ trong quân đội Đức ngày càng gia tăng, còn các cuộc đình công của dân thường Đức đã làm suy yếu nghiêm trọng năng lực sản xuất thời chiến của nước này.[12][13] Tại Mặt trận phía Tây, lực lượng Đồng minh đã phát động cuộc Tổng tấn công Một trăm ngày và đánh bại hoàn toàn các đạo quân phía tây của Đức.[14] Các thủy thủ của Hải quân Đế quốc Đức tại Kiel đã nổi loạn để phản đối quân lệnh hải quân ngày 24 tháng 10 năm 1918. Hành động này đã châm ngòi cho các cuộc nổi dậy lan rộng khắp nước Đức, về sau được gọi là cuộc Cách mạng Đức.[15][16] Chính phủ Đức đã cố gắng đạt được một thỏa thuận hòa bình với phe Đồng minh dựa trên tuyên bố Mười bốn Điểm của Wilson và khẳng định rằng họ sẽ chỉ đầu hàng dựa trên cơ sở này. Sau các cuộc đàm phán, phe Đồng minh và Đức cuối cùng đã ký kết một hiệp định đình chiến, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 11 tháng 11, trong khi đó các lực lượng Đức vẫn còn đang đóng quân tại Pháp và Bỉ.[17][18][19]
Nhiều khía cạnh của hòa ước Versailles sau này bị chỉ trích thực chất đã được thỏa thuận từ trước bởi hai phe trong hiệp định đình chiến ngày 11 tháng 11, ngay khi cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra. Các điều khoản này bao gồm việc quân Đức phải rút khỏi các vùng lãnh thổ mà họ đang chiếm đóng tại Pháp, Bỉ, Luxembourg, Alsace-Lorraine và tả ngạn sông Rhein (tất cả các khu vực này sẽ do quân Đồng minh quản lý theo thỏa thuận đình chiến); Đức phải giao nộp một lượng lớn khí tài chiến tranh; và Đức cũng phải chấp thuận chi trả "bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra".[20]
Các lực lượng Đức đã rút khỏi các vùng chiếm đóng tại Pháp, Bỉ và Luxembourg trong vòng mười lăm ngày theo yêu cầu của thỏa thuận đình chiến.[21] Đến cuối năm 1918, quân đội Đồng minh đã tiến vào lãnh thổ Đức và bắt đầu chiếm đóng vùng Rheinland theo thỏa thuận. Trong quá trình đó, họ đã thiết lập các đầu cầu bên kia sông Rhein tại Cologne, Koblenz và Mainz để đề phòng chiến sự tái diễn. [22][23]
Phong tỏa
Cả Đức và Anh đều phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu lương thực và nguyên liệu thô, hầu hết phải được vận chuyển qua Đại Tây Dương. Cuộc Phong tỏa Đức là một chiến dịch hải quân do phe Đồng minh thực hiện nhằm cắt đứt nguồn cung cấp nguyên liệu và lương thực cho phe Liên minh Trung tâm. Hải quân Đế quốc Đức (Kaiserliche Marine) chủ yếu bị kìm chân tại Vịnh Đức và phải sử dụng tàu cướp tàu buôn cùng chiến tranh tàu ngầm không hạn chế để phản phong tỏa. Vào tháng 12 năm 1918, Cục Y tế Công cộng Đức tuyên bố rằng 763.000 thường dân Đức đã chết trong thời gian bị Đồng minh áp đặt lệnh phong tỏa, mặc dù một nghiên cứu học thuật năm 1928 đưa ra con số tử vong là 424.000 người.[24]
Lệnh phong tỏa vẫn được duy trì trong tám tháng sau khi Hiệp định đình chiến được ký vào tháng 11 năm 1918 và kéo dài sang tận năm 1919. Việc nhập khẩu lương thực vào Đức bị phe Đồng minh kiểm soát chặt chẽ kể từ sau Hiệp định đình chiến với Đức cho đến khi Đức ký Hòa ước Versailles vào tháng 6 năm 1919.[25] Tháng 3 năm 1919, Winston Churchill thông báo trước Hạ viện Anh rằng cuộc phong tỏa đang diễn ra là một thành công và "nước Đức đang cận kề nạn đói."[26] Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1919, Đức khước từ yêu cầu của Đồng minh về việc giao nộp các tàu buôn của mình tại các cảng của Đồng minh để vận chuyển nguồn cung cấp thực phẩm. Một số người Đức coi hiệp định đình chiến chỉ là sự tạm ngừng chiến tranh và biết rằng nếu giao tranh nổ ra lần nữa, tàu bè của họ sẽ bị tịch thu.[27] Suốt mùa đông năm 1919, tình hình trở nên tuyệt vọng và Đức cuối cùng đã đồng ý giao nộp hạm đội của mình vào tháng 3.[28] Sau đó, phe Đồng minh đã cho phép Đức nhập khẩu 270.000 tấn thực phẩm.[28]
Nhiều quan sát viên, bao gồm cả người Đức và người nước ngoài, lập luận rằng đây là những tháng tàn khốc nhất của cuộc phong tỏa đối với thường dân Đức,[29] mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về mức độ nghiêm trọng và ai là người thực sự phải chịu trách nhiệm.[30][31][32][33][34] Theo Max Rubner, 100.000 thường dân Đức đã chết do việc duy trì phong tỏa sau hiệp định đình chiến.[35] Tại Anh, một thành viên Công đảng và là nhà hoạt động phản chiến Robert Smillie đã đưa ra một tuyên bố vào tháng 6 năm 1919 lên án việc tiếp tục phong tỏa, cho rằng hậu quả của hành động này đã khiến ít nhất 100.000 thường dân Đức thiệt mạng.[36][37]
Đàm phán

Các cuộc thảo luận giữa phe Đồng minh nhằm thống nhất lập trường đàm phán chung bắt đầu vào ngày 18 tháng 1 năm 1919, tại Salle de l'Horloge (Phòng Đồng hồ) thuộc Bộ Ngoại giao Pháp trên bến Quai d'Orsay ở thủ đô Paris.[38] Ban đầu, 70 đại biểu đến từ 27 quốc gia đã tham gia vào quá trình đàm phán.[39] Nga đã bị gạt ra ngoài do họ đã ký một hòa ước riêng rẽ (Hòa ước Brest-Litovsk) với Đức và rút khỏi cuộc chiến từ sớm. Ngoài ra, các nhà đàm phán Đức cũng không được phép tham dự để ngăn chặn nguy cơ họ chia rẽ phe Đồng minh trên mặt trận ngoại giao.[40]
Lúc đầu, một "Hội đồng Mười" (bao gồm hai đại biểu từ mỗi nước: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Ý và Nhật Bản) đã họp chính thức để quyết định các điều khoản hòa bình. Hội đồng này sau đó được thay thế bằng "Hội đồng Năm", bao gồm ngoại trưởng của các nước trên, để thảo luận về các vấn đề ít quan trọng hơn. Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau, Thủ tướng Ý Vittorio Emanuele Orlando, Thủ tướng Anh David Lloyd George và Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã tạo nên nhóm "Bộ tứ" (có thời điểm trở thành "Bộ ba" sau khi ông Orlando tạm thời rút lui). Bốn nhân vật quyền lực này đã gặp nhau trong 145 phiên họp kín để đưa ra tất cả các quyết sách quan trọng, những quyết định này sau đó được toàn thể hội nghị phê chuẩn. Các nước nhỏ hơn tham dự "Hội nghị Toàn thể" hàng tuần để thảo luận các vấn đề trong một diễn đàn chung nhưng không có quyền đưa ra quyết định. Các thành viên này đã thành lập hơn 50 ủy ban để đưa ra nhiều khuyến nghị khác nhau, phần lớn trong số đó đã được đưa vào văn bản cuối cùng của hòa ước.[41][42][43]
Lập trường của Pháp
Nước Pháp đã mất tổng cộng hơn 1,3 triệu binh sĩ trong cuộc chiến, bao gồm 25% nam giới trong độ tuổi 18–30, cùng với 400.000 thường dân. Pháp cũng là quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất về cơ sở vật chất trong số các nước tham chiến; cái gọi là zone rouge (Vùng Đỏ), vốn là khu vực công nghiệp phát triển nhất của Pháp và là nguồn cung cấp than và quặng sắt chủ yếu ở phía đông bắc nước này đã bị tàn phá hoàn toàn. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, các hầm mỏ tại Pháp bị làm ngập nước, còn vô số đường sắt, cầu cống và nhà máy đã bị phá hủy.[44]
Thủ tướng Clemenceau quyết tâm đảm bảo an ninh lâu dài cho nước Pháp bằng cách làm suy yếu nước Đức trên các phương diện kinh tế, quân sự, lãnh thổ và soán ngôi Đức để trở thành nhà sản xuất thép hàng đầu châu Âu.[44][45][46] Nhà kinh tế học người Anh và đàm phán viên tại Versailles là John Maynard Keynes, đã tóm tắt lập trường này là một nỗ lực nhằm "quay ngược kim đồng hồ và xóa bỏ đi những bước tiến mà nước Đức đã đạt được kể từ năm 1870."[47]
Clemenceau đã nói với Tổng thống Mỹ Wilson rằng: "Nước Mỹ ở xa xôi, được đại dương bảo vệ. Ngay cả Napoléon cũng không thể chạm tới nước Anh. Cả hai ngài đều có nơi che chắn; còn chúng tôi thì không".[48] Người Pháp muốn thiết lập biên giới trên dòng sông Rhein để bảo vệ Pháp khỏi một cuộc xâm lược từ Đức và bù đắp cho sự thua kém về nhân khẩu học và kinh tế của mình.[49][50] Các đại diện của Mỹ và Anh đã từ chối yêu sách này. Sau hai tháng đàm phán, người Pháp chấp nhận cam kết của Anh về việc thiết lập một liên minh ngay lập tức với Pháp nếu Đức tấn công lần nữa, và Wilson đồng ý trình một đề xuất tương tự lên Thượng viện. Trước đó, vào tháng 12 năm 1918, Clemenceau đã nói với Hạ viện Pháp rằng mục tiêu của ông là duy trì liên minh với cả Anh và Mỹ. Clemenceau chấp nhận lời đề nghị của Anh và Mỹ, đổi lại là việc Pháp sẽ chiếm đóng vùng Rheinland của Đức trong mười lăm năm và Đức cũng phải phi quân sự hóa vùng Rheinland.[51]
Các nhà đàm phán Pháp yêu cầu Đức phải bồi thường chiến phí để bắt Đức phải trả giá cho sự tàn phá mà nước này đã gây ra trong suốt cuộc chiến, đồng thời cũng là để làm suy giảm sức mạnh của Đức.[44] Người Pháp cũng muốn sáp nhập các mỏ quặng sắt và than của Thung lũng Saar từ Đức vào lãnh thổ Pháp.[52] Họ sẵn sàng chấp nhận số tiền bồi thường chiến tranh ít hơn mức mà người Mỹ đề xuất, và Clemenceau sẵn lòng thảo luận với phái đoàn Đức về khả năng chi trả của Đức trước khi soạn thảo một thỏa thuận cuối cùng. Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1919, Pháp và Đức đã tổ chức các cuộc đàm phán riêng về những thỏa thuận có thể chấp nhận được đối với cả hai bên về các vấn đề như bồi thường, tái thiết và hợp tác công nghiệp. Pháp, cùng với các Lãnh thổ tự trị của Anh và Bỉ, phản đối việc thực thi chế độ Ủy trị của Hội Quốc liên và ủng hộ việc sáp nhập hoàn toàn các thuộc địa cũ của Đức.[53]
Người Pháp, vốn chịu nhiều đau thương tại các khu vực bị Đức chiếm đóng trong chiến tranh, ủng hộ việc xét xử các tội phạm chiến tranh Đức, bao gồm cả Hoàng đế (Kaiser). Trước sự phản đối của Mỹ rằng không có luật hiện hành nào phù hợp để xét xử Kaiser, Clemenceau giữ quan điểm rằng "luật về trách nhiệm" quan trọng hơn tất cả các luật khác và việc đưa Kaiser ra tòa sẽ tạo cơ hội để thiết lập điều này như một tiền lệ quốc tế.[54]
Lập trường của Anh
Nước Anh phải gánh chịu những tổn thất vô cùng nặng nề về tài chính, nhưng thiệt hại về vật chất của nước này trong chiến tranh lại không đáng kể.[55] Dư luận Anh mong muốn bắt Đức phải trả giá cho cuộc chiến.[56] Công chúng ủng hộ một nền "hòa bình công lý", buộc Đức phải bồi thường chiến phí và khiến cho Đức không còn khả năng tái diễn hành động xâm lược như năm 1914. Tuy nhiên, một số người có tư tưởng "tự do và tiến bộ" lại chia sẻ lý tưởng của Wilson về một nền hòa bình mang tính hòa giải.[17] Về mặt riêng tư, Thủ tướng Lloyd George phản đối việc trả thù nước Đức. Ông cố gắng tìm kiếm sự dung hòa giữa các yêu sách gay gắt của Clemenceau và Tuyên bố Mười bốn Điểm của Wilson, bởi ông tin rằng châu Âu sớm muộn cũng sẽ phải hòa giải với Đức.[57] Lloyd George muốn các điều khoản bồi thường không được làm tê liệt nền kinh tế của Đức, để nước này vẫn có thể duy trì vị thế là một cường quốc kinh tế và một đối tác thương mại khả thi.[58][57][55] Bằng lập luận rằng lương hưu thời chiến và trợ cấp cho quả phụ của Anh cũng phải được tính vào khoản bồi thường của Đức, Lloyd George đã đảm bảo rằng một phần lớn số tiền này sẽ chảy về túi của Đế quốc Anh.[59]
Lloyd George cũng chủ trương duy trì sự cân bằng quyền lực tại châu Âu nhằm ngăn chặn tham vọng trở thành cường quốc thống trị châu lục của Pháp. Một nước Đức được vực dậy sẽ đóng vai trò đối trọng với Pháp và là lá chắn ngăn chặn nước Nga Bolshevik. Lloyd George cũng muốn vô hiệu hóa hải quân Đức để giữ vững vị thế bá chủ đại dương của Hải quân Hoàng gia Anh. Ông còn muốn xóa bỏ hệ thống thuộc địa của Đức: một số lãnh thổ sẽ được nhượng lại cho Anh, số khác sẽ trở thành vùng Ủy trị của Hội Quốc liên – một quan điểm vấp phải sự phản đối từ các Lãnh thổ tự trị.[57]
Cùng với người Pháp, phía Anh ủng hộ việc xét xử các tội phạm chiến tranh người Đức, bao gồm cả Hoàng đế Đức (Kaiser). Ngay từ năm 1916, Herbert Asquith đã tuyên bố ý định "đưa tội phạm ra trước công lý, bất kể chúng là ai hay ở địa vị nào", và một nghị quyết của nội các chiến tranh năm 1918 đã tái khẳng định quyết tâm này.[60] Lloyd George tuyên bố rằng người dân Anh sẽ không chấp nhận một hiệp ước thiếu các điều khoản về vấn đề này, mặc dù cá nhân ông chỉ muốn giới hạn các cáo buộc vào việc vi phạm hiệp ước năm 1839 về bảo đảm sự trung lập của Bỉ.[61] Phía Anh cũng thừa hiểu rằng việc Kaiser đã tị nạn tại Hà Lan đồng nghĩa với việc khó có thể tổ chức một phiên tòa xét xử ông ta, và do đó, bất kỳ điều khoản nào yêu cầu việc này cũng chỉ mang tính hình thức mà thôi.[62]
Lập trường của Hoa Kỳ
Trước khi Hoa Kỳ tham chiến trong Thế chiến thứ nhất, Tổng thống Wilson từng đề cập đến một "nền hòa bình không có kẻ thắng người thua".[63] Tuy nhiên, lập trường này đã thay đổi sau khi Mỹ chính thức can dự vào cuộc chiến. Ông bắt đầu lên án những kẻ xâm lược Đức và cho rằng không thể có một nền hòa bình thỏa hiệp với những kẻ này.[64]Tuy nhiên, vào ngày 8 tháng 1 năm 1918, Wilson đã có bài phát biểu quan trọng (được biết đến với tên gọi Mười bốn Điểm), trong đó ông công bố các mục tiêu hòa bình của Hoa Kỳ là: tái thiết nền kinh tế châu Âu, trao quyền tự quyết cho các dân tộc ở châu Âu và Trung Đông, thúc đẩy tự do thương mại, thiết lập các chế độ ủy trị phù hợp cho các thuộc địa cũ, và quan trọng nhất là thành lập một Hội Quốc Liên hùng mạnh để bảo đảm nền hòa bình thế giới.[65]
Wilson đã đưa các trí thức hàng đầu đi cùng làm cố vấn cho phái đoàn hòa bình Hoa Kỳ, và quan điểm chung của Mỹ phản ánh tinh thần của Mười bốn Điểm. Wilson kiên quyết phản đối việc trừng phạt nước Đức một cách quá khắc nghiệt.[65] Trong khi Anh và Pháp muốn sáp nhập phần lớn hệ thống thuộc địa của Đức vào lãnh thổ của họ, Wilson lại coi đó là hành vi vi phạm các nguyên tắc cơ bản về công lý và nhân quyền của người dân thuộc địa. Ông ủng hộ việc trao cho người dân thuộc địa quyền tự quyết thông qua việc thiết lập các chế độ ủy trị. Ý tưởng này kêu gọi các cường quốc đóng vai trò là những người bảo trợ không vụ lợi đối với một khu vực, hỗ trợ người dân thuộc địa cho đến khi họ có thể tự cai trị.[66] Mặc dù giữ lập trường như vậy, nhưng để đảm bảo Nhật Bản không từ chối gia nhập Hội Quốc Liên, Wilson lại ủng hộ việc chuyển giao thuộc địa cũ của Đức tại Sơn Đông (miền Đông Trung Quốc) cho Đế quốc Nhật Bản thay vì trao trả lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Trung Hoa Dân Quốc.[67]
Một yếu tố nữa làm khó phái đoàn Mỹ chính là tình hình chính trị đảng phái trong nước. Vào tháng 11 năm 1918, Đảng Cộng hòa đã giành chiến thắng sít sao trong cuộc bầu cử Thượng viện. Wilson, một người thuộc Đảng Dân chủ, đã từ chối đưa các thành viên Đảng Cộng hòa nổi bật vào phái đoàn Mỹ. Điều này khiến những nỗ lực đảm bảo nền hòa bình của ông mang nặng tính đảng phái và góp phần dẫn đến nguy cơ thất bại chính trị ngay tại quê nhà.[65]
Về vấn đề tội phạm chiến tranh, người Mỹ có quan điểm khác biệt so với Anh và Pháp. Wilson đề xuất rằng bất kỳ phiên tòa nào xét xử Kaiser (Hoàng đế Đức) chỉ nên là một vấn đề chính trị và đạo đức, chứ không phải là trách nhiệm hình sự, đồng nghĩa với việc loại trừ phương án thi hành án tử hình.[68] Quan điểm này dựa trên nhận định của phía Mỹ, đặc biệt là của Robert Lansing,[60] rằng không có luật hiện hành nào phù hợp để xét xử Kaiser.[54] Ngoài ra, người Mỹ ủng hộ việc xét xử các tội phạm chiến tranh Đức khác ở các tòa án quân sự thay vì ở một tòa án quốc tế, với các cáo buộc chỉ giới hạn ở "vi phạm luật lệ và tập quán chiến tranh", đồng thời phản đối mọi hình thức phiên tòa được thiết lập dựa trên các vi phạm đối với cái gọi là "luật nhân đạo".[68]
Lập trường của Ý
Thủ tướng Vittorio Emanuele Orlando và Bộ trưởng Ngoại giao Sidney Sonnino (một người theo Anh giáo có gốc gác Anh) chủ yếu mong muốn hòa ước sẽ tập trung vào việc chia cắt Đế quốc Habsburg. Thái độ của họ đối với Đức không quá thù địch. Nhìn chung, quan điểm của Sonnino khá tương đồng với lập trường của Anh, trong khi Orlando lại thiên về một giải pháp dung hòa giữa quan điểm của Thủ tướng Pháp Clemenceau và Tổng thống Mỹ Wilson.
Trong khuôn khổ đàm phán Hòa ước Versailles, Orlando đã đạt được một số thành quả nhất định, chẳng hạn như ghế ủy viên thường trực cho Ý trong Hội đồng Bảo an của Hội Quốc liên. Ngoài ra, ông cũng nhận được cam kết về việc chuyển giao vùng Jubaland của Anh và dải Aozou của Pháp cho các thuộc địa của Ý tại Somalia và Libya. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa dân tộc Ý lại coi cuộc chiến là một "chiến thắng bị đánh cắp" (hay "chiến thắng không trọn vẹn"). Họ cho rằng những lợi ích lãnh thổ mà Ý đạt được trong các hiệp ước liên quan trực tiếp đến biên giới nước này là quá ít ỏi. Rốt cuộc, Orlando buộc phải rời bỏ hội nghị và từ chức. Mặc dù vậy, ông kiên quyết không xem Thế chiến I là một chiến thắng không trọn vẹn. Đáp lại những lời kêu gọi bành trướng lãnh thổ của phe dân tộc chủ nghĩa, ông nói: "Nước Ý ngày nay là một quốc gia vĩ đại... ngang hàng với các cường quốc vĩ đại trong lịch sử và đương đại. Đối với tôi, đây mới là sự bành trướng quan trọng và cốt lõi nhất." Francesco Saverio Nitti sau đó đã thay thế Orlando để đặt bút ký vào bản Hòa ước Versailles.[69]
Giới lãnh đạo Ý bị chia rẽ về vấn đề xét xử Kaiser (Hoàng đế Đức). Sonnino cho rằng việc đưa Kaiser ra tòa có thể biến ông ta thành một "vị tử đạo yêu nước". Ngược lại, Orlando tuyên bố rằng "cựu hoàng phải đền tội giống như những tên tội phạm khác", nhưng ông lại băn khoăn liệu nên xét xử Kaiser như một tội phạm hình sự hay chỉ nên đưa ra một phán quyết chính trị đối với ông ta. Orlando cũng nhận định rằng "vấn đề thành lập Tòa án xét xử Kaiser chắc chắn sẽ vấp phải những rào cản gần như không thể nào vượt qua".[70]
Ký kết

Tháng 6 năm 1919, Khối Đồng Minh tuyên bố sẽ tiếp tục chiến sự nếu chính phủ Đức không ký hòa ước. Nội các của Thủ tướng Philipp Scheidemann không thống nhất được lập trường về hòa ước và bản thân Scheidemann từ chức thay vì đồng ý ký hòa ước. Gustav Bauer, người kế nhiệm Scheidemann, gửi một bức điện tín đến Khối Đồng Minh thông báo sẽ ký hòa ước với điệu kiện loại bỏ một số điều khoản, bao gồm Điều 227 đến Điều 231.[71][ii] Khối Đồng Minh ra tối hậu thư rằng sẽ vượt sông Rhein nếu Đức không ký hòa ước trong vòng 24 tiếng. Ngày 23 tháng 6, Bauer gửi một bức điện tín thứ hai xác nhận rằng Đức sẽ cử một phái đoàn đến Paris để ký hòa ước.[72] Ngày 28 tháng 6 năm 1919, tròn năm năm kể từ vụ ám sát Đại vương công Franz Ferdinand, Hòa ước Versailles được ký kết.[1]
Nội dung
Thay đổi lãnh thổ

Đức mất 65.000 km2 (25.000 dặm vuông Anh) lãnh thổ và bảy triệu người theo Hòa ước Versailles và buộc phải từ bỏ những lãnh thổ được sáp nhập theo Hòa ước Brest-Litovsk, đồng thời trao độc lập cho những xứ bảo hộ mới được thành lập.[73]
Ở Tây Âu, Đức buộc phải công nhận chủ quyền của Bỉ đối với Moresnet và nhường quyền kiểm soát khu vực Eupen-Malmedy. Chậm nhất là sáu tháng sau ngày chuyển giao, Bỉ phải trưng cầu ý dân về việc khu vực chấp nhận chủ quyền của Bỉ hoặc gia nhập lại Đức, thông báo kết quả cho Hội Quốc Liên và tuân thủ quyết định của Hội Quốc Liên.[n. 4] Chính quyền chuyển tiếp Bỉ do Cao ủy, Tướng Herman Baltia đứng đầu chịu trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân giữa tháng 1 và tháng 6 năm 1920. Tuy nhiên, cuộc trưng cầu ý dân không thực hiện bỏ phiếu kín và cử tri phản đối sáp nhập vào Bỉ phải ký tên công khai trên một danh sách. Sau cùng, chỉ 271 trong số 33.726 cử tri ký tên trên danh sách phản đối, trong đó 202 là công chức Đức. Hội Quốc Liên xác nhận kết quả trưng cầu ý dân vào ngày 20 tháng 9 năm 1920 và phân định biên giới Đức-Bỉ vào năm 1922.[74] Để bồi thường cho việc phá hủy những mỏ than của Pháp, Đức buộc phải giao sản lượng than của các mỏ than trên sông Saar cho Pháp và nhường quyền kiểm soát lãnh thổ Lưu vực sông Saar cho Hội Quốc Liên trong thời hạn 15 năm, sau đó chủ quyền đối với khu vực được quyết định thông qua trưng cầu ý dân.[n. 5]
Pháp khôi phục chủ quyền đối với Alsace-Lorraine và hủy bỏ những điều khoản có liên quan trong Hiệp ước Versailles và Hiệp ước Frankfurt năm 1871.[n. 6] Pháp lập luận rằng Alsace-Lorraine là một phần của Pháp chứ không phải của Đức bằng cách công bố một bức thư của Quốc vương Phổ Wilhelm I gửi Hoàng hậu Pháp Eugenia xứ Montijo do Eugénie cung cấp, trong đó Wilhelm I giải thích rằng Đức yêu cầu lãnh thổ Alsace-Lorraine chỉ vì mục đích quốc phòng chứ không phải để mở rộng lãnh thổ.[75] Vấn đề chủ quyền đối với Schleswig-Holstein được quyết định thông qua trưng cầu ý dân.[76]
Ở Trung Âu, Đức buộc phải công nhận nền độc lập của Tiệp Khắc và nhường một phần Thượng Silesia cho Tiệp Khắc.[n. 7] Đức buộc phải công nhận nền độc lập của Ba Lan và từ bỏ "tất cả quyền lợi, quyền sở hữu" đối với lãnh thổ Ba Lan. Một phần Thượng Silesia được nhường cho Ba Lan, trong khi chủ quyền đối với những phần còn lại được quyết định thông qua trưng cầu ý dân. Biên giới được phân định tùy theo kết quả trưng cầu ý dân và địa lý, kinh tế của mỗi khu vực.[n. 8] Tỉnh Posen (hiện tại là Poznań), vốn do Ba Lan kiểm soát sau cuộc khởi nghĩa Đại Ba Lan, cũng được nhường cho Ba Lan.[77][78] Pomerania (Đông Pomerania) được chuyển giao cho Ba Lan trên cơ sở lịch sử, thành phần dân tộc nhằm cho phép Ba Lan tiếp cận biển, được gọi là Hành lang Ba Lan.[79] Chủ quyền đối với phía nam của Đông Phổ được quyết định thông qua trưng cầu ý dân, trong khi khu vực Soldau của Đông Phổ nằm trên tuyến đường sắt giữa Warszawa và Danzig được chuyển giao cho Ba Lan.[n. 9][80] Một khu vực với diện tích 51.800 kilômét vuông (20.000 dặm vuông Anh) được chuyển giao cho Ba Lan theo thỏa thuận.[81] Lãnh thổ Memel được nhường cho Khối Đồng Minh tùy nghi xử lý.[n. 10] Đức buộc phải giao thành phố Danzig và những vùng nội địa, bao gồm đồng bằng sông Wisła trên Biển Baltic, cho Hội Quốc Liên thành lập Thành phố tự do Danzig.[n. 11]
Từ bỏ thuộc địa
Đức buộc phải chuyển giao các thuộc địa của mình cho Hội Quốc Liên thành lập các lãnh thổ ủy trị Hội Quốc Liên dưới sự kiểm soát của các quốc gia Khối Đồng Minh.[n. 12] Togoland và Cameroon thuộc Đức được cắt cho Pháp và Anh. Ruanda-Urundi được cắt cho Bỉ, Tây Nam Phi thuộc Đức được cắt cho Nam Phi, Đông Phi thuộc Đức được cắt cho Anh.[82][83][84] Để bồi thường cho Bồ Đào Nha, Bồ Đào Nha được giao Tam giác Kionga, một phần của Đông Phi thuộc Đức ở phía bắc Mozambique.[85] Các nhượng địa của Đức ở Sơn Đông, Trung Quốc được cắt cho Nhật Bản. Nhật Bản tiếp quản những nhượng địa của Đức ở Thái Bình Dương về phía bắc xích đạo, Úc tiếp quản những nhượng địa về phía nam xích đạo, Samoa thuộc Đức được giao cho New Zealand.[83][n. 13]
Hạn chế quân sự
Hòa ước giới hạn toàn diện Reichswehr nhằm tiêu diệt năng lực tấn công của quân đội Đức và thúc đẩy giải trừ quân bị quốc tế.[86][87] Chậm nhất là ngày 31 tháng 3 năm 1920, lục quân phải giải ngũ xuống còn tối đa 100.000 quân nhân, được tổ chức thành tối đa bảy sư đoàn bộ binh và ba sư đoàn kỵ binh. Bộ Tổng tham mưu Đức bị giải tán.[88] Mỗi quân chủng chỉ được tổ chức một trường sĩ quan và chế độ quân dịch bị bãi bỏ. Quân nhân và hạ sĩ quan phải phục vụ ít nhất 12 năm, sĩ quan phải phục vụ ít nhất 25 năm. Cựu sĩ quan bị cấm tham gia tập trận. Số lượng quân nhân được phép xuất ngũ sớm bị giới hạn.[89]
Bồi thường
Điều 231 yêu cầu Đức chịu trách nhiệm về những thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, "là hậu quả của ... hành vi xâm lược của Đức và các đồng minh của Đức."[n. 14][iii] Đức buộc phải bồi thường cho các quốc gia Khối Đồng Minh và một Ủy ban Bồi thường của Khối Đồng Minh được giao quyết định số tiền bồi thường, hình thức bồi thường. Ủy ban Bồi thường phải "cho Chính phủ Đức cơ hội công bằng được bày tỏ ý kiến" và nộp kết luận trước ngày 1 tháng 5 năm 1921. Ngoài ra, Đức buộc phải bồi thường 20 tỷ mác (5 tỷ đô la Mỹ) bằng vàng, hàng hóa, tàu thuyền, chứng khoán hoặc hình thức khác. Tiền bồi thường được dùng để chi trả cho chi phí chiếm đóng Đức của Khối Đồng Minh và mua thực phẩm, nguyên liệu cho Đức.[90][n. 19]
Bảo đảm
Tổ chức quốc tế
Giống với những hiệp ước khác được ký tại Hội nghị hòa bình Paris,[iv] Phần I Hòa ước Versailles là Hiệp ước Hội Quốc Liên, một tổ chức có nhiệm vụ giải quyết xung đột quốc tế.[n. 20] Phần XIII quy định việc thành lập Văn phòng Lao động Quốc tế, tiền thân của Tổ chức Lao động Quốc tế.[n. 21] Hòa ước cũng kêu gọi các bên ký hoặc phê chuẩn Công ước quốc tế về thuốc phiện thứ nhất.[n. 22]
Tội phạm chiến tranh
Đức được yêu cầu phải giao nộp cựu hoàng Wilhelm II để đưa ra xét xử "vì tội vi phạm nghiêm trọng các hiệp ước quốc tế" trước một tòa án gồm năm thẩm phán thuộc Khối Đồng Minh – một người Anh, một người Mỹ, một người Pháp, một người Ý và một người Nhật Bản. Tòa án có quyền quyết định bất cứ hình phạt nào mà tòa án cho là thích hợp,[91] bao gồm tử hình.[68] Ngoài ra, Đức phải giao nộp tội phạm chiến tranh theo yêu cầu của Khối Đồng Minh để đưa ra xét xử trước tòa án binh vì tội vi phạm luật chiến tranh và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan làm chứng cứ cho phiên tòa.[92]
Phản ứng
Anh

Các đại biểu của Khối thịnh vượng chung và Chính phủ Anh có những luồng ý kiến trái chiều về hiệp ước. Một số người coi các điều kiện của Pháp trong Hiệp ước là tham lam và đầy tính thù hằn.[93][94] Thủ tướng Lloyd George và thư ký riêng của ông, Philip Kerr thì bày tỏ sự tin tưởng của họ vào hiệp ước này, mặc dù họ cũng lo ngại rằng người Pháp sẽ khiến châu Âu rơi vào tình trạng bất ổn triền miên khi cố gắng thực thi các điều khoản áp đặt.[93]
Đại biểu Harold Nicolson tự vấn rằng: "Liệu chúng ta có đang tạo ra một nền hòa bình tốt đẹp hay không?". Trong khi đó, Tướng Jan Smuts (thành viên phái đoàn Nam Phi) đã viết thư cho Lloyd George trước lễ ký kết, cho rằng hiệp ước này thiếu tính ổn định và thốt lên rằng: "Chúng ta đang tỉnh táo hay đang mê sảng vì dư chấn chiến tranh đây? Mười bốn điểm của Wilson đã đi về đâu rồi?". Ông muốn người Đức không bị ép phải ký kết hiệp ước "dưới mũi súng".[95][96] Tướng Smuts đã đưa ra một tuyên bố lên án hiệp ước và bày tỏ sự tiếc nuối rằng những lời hứa về "một trật tự quốc tế mới và một thế giới công bằng hơn, tốt đẹp hơn đã không được ghi nhận trong hiệp ước này". Lord Robert Cecil cho biết nhiều người trong Bộ Ngoại giao cũng thất vọng về kết quả đạt được.[95] Tuy nhiên, hiệp ước lại nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ công chúng Anh. Bernadotte Schmitt viết rằng "người Anh bình thường... nghĩ rằng nước Đức đã nhận những gì họ xứng đáng phải chịu" từ hiệp ước này,[97] nhưng dư luận đã dần thay đổi khi những lời oán thán từ phía Đức ngày càng nhiều.[98]
Cựu Thủ tướng Anh thời chiến H. H. Asquith và phe đối lập Tự do Độc lập tại Nghị viện Anh sau cuộc tổng tuyển cử năm 1918 tin rằng hiệp ước mang tính trừng phạt quá mức. Asquith đã vận động chống lại Hiệp ước khi tranh cử một ghế tại Hạ viện trong cuộc bầu cử bổ sung tại Paisley năm 1920.[99] Thủ tướng Ramsay MacDonald, sau sự kiện Đức tái quân sự hóa vùng Rheinland vào năm 1936, đã tuyên bố rằng ông "hài lòng" khi thấy hiệp ước đang "tan biến", và bày tỏ hy vọng rằng người Pháp đã học được một "bài học nhớ đời".[94]
Vị thế của các Lãnh thổ tự trị thuộc Anh
Hiệp ước Versailles là một bước ngoặt quan trọng đối với vị thế của các Lãnh thổ tự trị thuộc Anh theo luật pháp quốc tế. Úc, Canada, New Zealand và Nam Phi đều đã có những đóng góp to lớn cho nỗ lực chiến tranh của Anh, nhưng với tư cách là những quốc gia riêng biệt chứ không phải với tư cách là thuộc địa của Anh. Ấn Độ cũng đóng góp một lượng quân đáng kể, mặc dù vẫn chịu sự kiểm soát trực tiếp của Anh, không giống như các Lãnh thổ tự trị.
Bốn Lãnh thổ tự trị và Ấn Độ đều ký Hiệp ước một cách riêng biệt với Anh,[n. 2] đây là sự công nhận rõ ràng của cộng đồng quốc tế rằng các Lãnh thổ tự trị không còn là thuộc địa của Anh nữa. "Vị thế của họ nằm ngoài các phân tích chính xác của cả luật sư quốc tế và luật sư hiến pháp, nhưng rõ ràng là họ không còn được coi đơn thuần là thuộc địa của Anh nữa."[100] Bằng việc ký kết Hiệp ước một cách độc lập, bốn Lãnh thổ tự trị và Ấn Độ cũng trở thành những thành viên sáng lập của Hội Quốc liên theo đúng tư cách của mình, thay vì chỉ là một phần của Đế quốc Anh.
Pháp
Việc ký kết hiệp ước đã được đám đông bên ngoài Cung điện Versailles chào đón bằng những tiếng reo hò tán thưởng, tiếng hát ca và những điệu nhảy ăn mừng. Ngay tại thủ đô Paris, người dân hân hoan trước sự kết thúc chính thức của chiến tranh,[101] sự trở về của vùng Alsace và Lorraine với nước Pháp, và việc Đức đã chấp nhận bồi thường chiến phí .[102]
Mặc dù Pháp đã phê chuẩn hiệp ước và tham gia tích cực vào Hội Quốc Liên, nhưng bầu không khí hân hoan nhanh chóng nhường chỗ cho một làn sóng phản ứng chính trị dữ dội đối với Thủ tướng Clemenceau. Phe Cánh hữu Pháp coi hiệp ước là quá khoan dung và đã thất bại trong mục tiêu đạt được tất cả các yêu sách của Pháp. Trong khi đó, các chính trị gia cánh tả lại tấn công hiệp ước và Clemenceau vì tính chất quá khắc nghiệt của nó (thậm chí đến tận tháng 8 năm 1939, việc lên án hiệp ước này vẫn là một "nghi thức" quen thuộc của các chính trị gia khi bàn về chính sách đối ngoại của Pháp). Thống chế Ferdinand Foch đã tuyên bố một câu nổi tiếng: "Đây không phải là hòa bình. Đây chỉ là một hiệp định đình chiến kéo dài trong hai mươi năm." Lời chỉ trích này nhắm vào thất bại trong việc sáp nhập vùng Rheinland của Đức vào lãnh thổ Pháp và việc đánh đổi an ninh của Pháp vì lợi ích của Hoa Kỳ và Anh.[103][97][98][102][104][105][106] Hệ quả là khi Clemenceau ra tranh cử Tổng thống Pháp vào tháng 1 năm 1920, ông đã bị đánh bại một cách dễ dàng.[106]
Ý
Phản ứng tại Vương quốc Ý đối với bản hòa ước là vô cùng tiêu cực. Dù đã phải gánh chịu những tổn thất nhân mạng nặng nề, nhưng Ý lại thất bại trong việc hiện thực hóa phần lớn các mục tiêu tham chiến chủ chốt, đặc biệt là quyền kiểm soát bờ biển Dalmatia và thành phố Fiume. Tổng thống Wilson đã thẳng thừng bác bỏ các yêu sách lãnh thổ của Ý dựa trên nguyên tắc "quyền dân tộc tự quyết".
Về phía Anh và Pháp – những cường quốc từng buộc phải điều chuyển quân sang mặt trận Ý trong giai đoạn cuối của cuộc chiến để cứu đồng minh khỏi cảnh sụp đổ – cũng tỏ ra không mặn mà trong việc ủng hộ lập trường của Ý tại hội nghị hòa bình. Những bất đồng về chiến lược đàm phán giữa Thủ tướng Vittorio Orlando và Ngoại trưởng Sidney Sonnino càng làm xói mòn thêm vị thế của nước Ý trên bàn hội nghị. Trong cơn phẫn nộ, Vittorio Orlando đã bị suy sụp tinh thần và có lúc đã bỏ ngang hội nghị (dù sau đó ông có quay lại). Ông bị phế truất khỏi ghế Thủ tướng chỉ một tuần trước thời điểm ký kết hòa ước, sự kiện này cũng đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp chính trị của ông. Làn sóng phẫn nộ và nỗi thất vọng ê chề trước các điều khoản của hòa ước đã góp phần dọn đường cho sự thiết lập chế độ độc tài Phát xít do Benito Mussolini lãnh đạo chỉ ba năm sau đó.
Hoa Kỳ

Sau hội nghị Versailles, Tổng thống Dân chủ Woodrow Wilson tuyên bố đầy tự hào: "Cuối cùng thì thế giới cũng biết đến nước Mỹ như một vị cứu tinh của nhân loại!"[v] Tuy nhiên, Wilson đã phạm phải một sai lầm chiến lược khi từ chối mời bất kỳ thành viên chủ chốt nào của Đảng Cộng hòa, đứng đầu là Henry Cabot Lodge, tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình. Đảng Cộng hòa đã nắm quyền kiểm soát Thượng viện Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử năm 1918 và vô cùng phẫn nộ trước việc Wilson gạt họ ra khỏi các cuộc thảo luận về chiến tranh. Các thượng nghị sĩ bị chia rẽ thành nhiều phe phái xoay quanh vấn đề Versailles. Việc xây dựng một liên minh đa số là khả thi, nhưng để đạt được siêu đa số hai phần ba cần thiết để thông qua hòa ước lại là nhiệm vụ bất khả thi.[107]
Một khối bất mãn gồm 12–18 người thuộc phe "Không khoan nhượng" (Irreconcilables), chủ yếu là đảng viên Cộng hòa cùng đại diện của nhóm Dân chủ gốc Ireland và Đức, đã phản đối hiệp ước một cách kịch liệt. Trong nội bộ Đảng Dân chủ, có một nhóm ủng hộ mạnh mẽ Hòa ước Versailles, ngay cả khi có thêm các điều khoản bảo lưu do Lodge đề xuất. Nhóm Dân chủ thứ hai cũng ủng hộ hòa ước nhưng tuân theo chỉ đạo của Wilson là phản đối bất kỳ sự sửa đổi hay bảo lưu nào. Khối lớn nhất, do Thượng nghị sĩ Lodge dẫn đầu,[108] bao gồm đa số các thành viên thuộc Đảng Cộng hòa. Nhóm này muốn một hiệp ước kèm theo các "điều khoản bảo lưu" (reservations), đặc biệt là đối với Điều 10, để đảm bảo Hội Quốc Liên không thể kéo nước Mỹ vào chiến tranh nếu không có sự đồng ý của Quốc hội Hoa Kỳ.[109] Tất cả các thành viên phe "Không khoan nhượng" đều là những kẻ thù chính trị của Tổng thống Wilson. Mùa hè năm 1919, Wilson đã thực hiện chuyến công du diễn thuyết toàn quốc để phản bác lại các luận điệu của họ. Tuy nhiên, chuyến đi đứt gánh giữa đường khi ông bị một cơn đột quỵ nghiêm trọng.[110]
Cơ hội thông qua hòa ước đến gần nhất vào ngày 19 tháng 11 năm 1919, khi Lodge và các thành viên Cộng hòa của ông lập liên minh với nhóm Dân chủ ủng hộ hòa ước. Họ đã tiến rất gần đến đa số hai phần ba cho một Hòa ước kèm theo các điều khoản bảo lưu. Tuy nhiên, Wilson kiên quyết bác bỏ sự nhượng bộ này và đủ số nghị sĩ Dân chủ đã nghe theo ông, đặt dấu chấm hết vĩnh viễn cho cơ hội phê chuẩn hiệp ước. Trong công chúng Mỹ nói chung, người Công giáo Ireland và người Mỹ gốc Đức kịch liệt phản đối hiệp ước vì họ cho rằng nó quá thiên vị người Anh.[111]
Sau nhiệm kỳ của Wilson, người kế nhiệm thuộc Đảng Cộng hòa là Tổng thống Warren G. Harding tiếp tục duy trì quan điểm phản đối việc Mỹ gia nhập Hội Quốc liên. Quốc hội sau đó đã thông qua Nghị quyết Knox–Porter, chính thức chấm dứt tình trạng thù địch giữa Hoa Kỳ và Liên minh Trung tâm. Tổng thống Harding đã ký ban hành luật này vào ngày 2 tháng 7 năm 1921.[112][113] Không lâu sau, Hiệp ước hòa bình Mỹ – Đức năm 1921 được ký kết tại Berlin vào ngày 25 tháng 8 năm 1921. Điều 1 của hiệp ước này buộc chính phủ Đức phải trao cho chính phủ Mỹ mọi quyền lợi và đặc quyền mà các nước Đồng minh khác (những nước đã phê chuẩn Hòa ước Versailles) được hưởng. Hai hiệp ước tương tự cũng được ký kết với Áo và Hungary lần lượt vào ngày 24 và 29 tháng 8 năm 1921 tại Vienna và Budapest.
Quan điểm của Edward House
Người bạn cũ của Tổng thống Wilson, Edward Mandell House, người đã trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán, đã ghi lại trong nhật ký ngày 29 tháng 6 năm 1919 như sau:
Tôi rời Paris, sau tám tháng định mệnh, với những cảm xúc ngổn ngang. Nhìn lại hội nghị, có nhiều điều đáng tán thành nhưng cũng lắm điều đáng tiếc nuối. Nói về những gì lẽ ra nên làm thì dễ, nhưng tìm ra cách để thực hiện điều đó lại khó hơn nhiều. Với những ai nói rằng hiệp ước này tồi tệ, lẽ ra không nên được ký kết và việc thực thi nó sẽ đẩy châu Âu vào muôn vàn khó khăn, tôi cảm thấy mình phải thừa nhận điều đó. Nhưng tôi cũng muốn đáp lại rằng, không thể đập tan các đế chế và dựng lên những quốc gia mới trên đống tro tàn ấy mà không gây ra sự xáo trộn. Vẽ lại biên giới mới là tạo ra những rắc rối mới. Cái này kéo theo cái kia. Dù tôi mong muốn một nền hòa bình kiểu khác, tôi rất nghi ngờ liệu điều đó có thể thực hiện được hay không, bởi lẽ những "nguyên liệu" cần thiết cho một nền hòa bình như tôi mong đợi đã hoàn toàn vắng bóng tại Paris.[114]
Trung Quốc
Nhiều người Trung Quốc cảm thấy bị phản bội nặng nề khi các lãnh thổ và quyền lợi của Đức tại nước này bị chuyển giao cho Nhật Bản thay vì được trao trả về lại cho họ. Nhà ngoại giao Cố Duy Quân đã kiên quyết từ chối đặt bút ký vào bản Hòa ước. Kết quả là, tại buổi lễ ký kết chính thức, phái đoàn Trung Quốc trở thành đại diện quốc gia duy nhất không tham gia ký vào Hòa ước Versailles. Nỗi uất ức này đã bùng nổ thành những cuộc biểu tình rầm rộ trên khắp cả nước, tiêu biểu là Phong trào Ngũ Tứ. Làn sóng phẫn nộ dâng cao nhắm vào chính phủ của Đoàn Kỳ Thụy, bởi chính quyền này đã "đi đêm" đàm phán bí mật việc trao lãnh thổ cho người Nhật để đổi lấy các khoản vay từ Nhật nhằm chi trả cho các chiến dịch quân sự chống lại miền Nam.
Trước sức ép dữ dội, vào ngày 12 tháng 6 năm 1919, nội các Trung Quốc buộc phải từ chức và chỉ thị cho phái đoàn tại Versailles tuyệt đối không ký vào hòa ước.[115][116] Hệ quả là mối quan hệ giữa Trung Quốc và phương Tây đã trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết.[117]
Nhật Bản

Thế giới của những dân tộc "phi da trắng", vốn thường bị tước đoạt quyền lợi và chịu kiếp thuộc địa, đã đặt kỳ vọng lớn lao rằng trật tự mới sẽ mở ra một cơ hội chưa từng có để nguyên tắc bình đẳng chủng tộc được các cường quốc hàng đầu thế giới công nhận.[118] Nền ngoại giao Nhật Bản vẫn mang nặng những ký ức cay đắng về luận điệu "Họa da vàng" (Yellow Peril) và sự ngạo mạn bắt nguồn từ tư tưởng "Gánh nặng của người da trắng" (White Man's Burden). Những ký ức này càng thêm nhức nhối bởi sự gia tăng nạn phân biệt chủng tộc nhắm vào giới doanh nhân Nhật, các quy định hạn chế nhập cư hà khắc đối với người châu Á, và những phán quyết bất lợi của tòa án phương Tây đối với công dân của họ.[118] Dẫn đầu phái đoàn Nhật Bản là Nguyên lão Saionji Kinmochi, cùng với các đại diện toàn quyền như Nam tước Makino và Đại sứ Chinda Sutemi.
Versailles được xem là cơ hội để lật ngược vị thế thấp kém bị áp đặt đối với người da vàng nói chung và người Nhật nói riêng, vốn đã trở nên căng thẳng đặc biệt trong quan hệ Nhật – Mỹ suốt Thế chiến I.[118] Với niềm tin vào sức mạnh công nghiệp đang trỗi dậy, chiến tích chiếm đoạt các thuộc địa Viễn Đông của Đức , cùng lòng trung thành đã được kiểm chứng đối với phe Hiệp ước, người Nhật tin rằng cuối cùng họ cũng sẽ giành được vị thế xứng đáng giữa các Cường quốc phe chiến thắng.[118] Họ đặc biệt tìm kiếm sự ủng hộ từ phái đoàn Mỹ để nguyên tắc bình đẳng chủng tộc được công nhận tại Ủy ban Hội Quốc liên. Tuy nhiên, các đề xuất này liên tục bị các nhà ngoại giao Anh, Pháp, Mỹ và Úc gạt bỏ do lo ngại về áp lực chính trị trong nước. Bản thân Tổng thống Mỹ Wilson là người thực thi các chính sách phân biệt chủng tộc tại Mỹ; Clemenceau công khai chế nhạo ý tưởng này; Arthur Balfour coi người châu Phi thấp kém hơn người châu Âu (cho rằng bình đẳng chỉ áp dụng cho những người dân trong cùng một quốc gia); trong khi William Hughes với thái độ "bài Nhật" ra mặt, là người bảo vệ kịch liệt cho chính sách Nước Úc da trắng.[118]
Nỗ lực của Nhật Bản, được hỗ trợ bởi đại diện Trung Quốc Cố Duy Quân và những người khác nhằm đưa Đề xuất Bình đẳng Chủng tộc vào hiệp ước, tuy nhận được sự ủng hộ rộng rãi nhưng rốt cuộc đã thất bại do sự phủ quyết của Mỹ, Anh và Úc,[118] bất chấp bài phát biểu đầy sức thuyết phục của Makino:
"Mục đích toàn diện của hội này," Makino mở đầu, là "để điều chỉnh hành vi của các quốc gia và dân tộc đối với nhau, theo một tiêu chuẩn đạo đức cao hơn so với quá khứ, và thực thi công lý trên toàn thế giới." Về phương diện này, những sai trái của nạn phân biệt chủng tộc đã và đang là nguồn cơn của "sự oán giận sâu sắc trong một bộ phận lớn nhân loại", ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và lòng tự tôn của họ. Ông nói, nhiều quốc gia đã chiến đấu trong cuộc chiến vừa qua để kiến tạo một trật tự quốc tế mới, và hy vọng của người dân họ giờ đây đã dâng cao cùng với chiến thắng. Với các mục tiêu của hội, những sai lầm trong quá khứ và khát vọng tương lai, Makino tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo thế giới tề tựu tại Paris nên công khai tuyên bố ủng hộ ít nhất là "nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia và đối xử công bằng với công dân của họ" (Lauren 1978, tr. 270).
Đức

Dư luận Đức kịch liệt phản đối hòa ước, đặc biệt lên án Điều 231 là xúc phạm danh dự quốc gia vì quy kết Đức phát động Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những điều khoản yêu cầu Đức giao nộp tội phạm chiến tranh cũng bị phản đối vì những người bị giao nộp được coi là anh hùng trong khi những tội ác chiến tranh của Khối Đồng Minh dường như không bị truy tố.[119][120] Hòa ước bị gọi là "Diktat" vì bị áp đặt lên Đức.[121] Philipp Scheidemann, thủ tướng dân cử đầu tiên của Đức, từ chức thay vì ký hòa ước. Trong một bài phát biểu đầy cảm xúc trước Quốc hội vào ngày 12 tháng 5 năm 1919, ông lên án Hòa ước Versailles là một "chiếc búa phù thủy khủng khiếp, hung tàn"[122] và kêu lên:
Bàn tay nào sẽ không quăn lại khi tự trói buộc mình và chúng ta như vậy?[123][122]
Thực thi
Bồi thường
Vào ngày 5 tháng 5 năm 1921, Ủy ban Bồi thường đã thiết lập Lịch trình Thanh toán London và chốt lại tổng số tiền bồi thường là 132 tỷ mác vàng, yêu cầu tất cả các nước thuộc Liên minh Trung tâm phải gánh vác trách nhiệm chi trả số tiền này.Tuy nhiên, Ủy ban cũng thừa nhận thực tế rằng các nước khác trong Liên minh Trung tâm có khả năng chi trả rất hạn chế, do đó gánh nặng chính sẽ đổ lên vai nước Đức. Kết quả là, khoản tiền này được chia thành nhiều hạng mục, trong đó Đức thực chất chỉ phải trả 50 tỷ mác vàng (tương đương 12,5 tỷ USD). Đây mới là con số thực tế mà Ủy ban đánh giá rằng Đức có thể chi trả, còn con số khổng lồ được công bố kia chủ yếu giúp phe Đồng minh giữ thể diện trước công chúng nước họ. Ngoài ra, các khoản thanh toán được thực hiện từ năm 1919 đến 1921 trị giá khoảng 8 tỷ mác – chủ yếu là giá trị tài sản nhà nước (ví dụ: đường sắt nhà nước Đức tại hành lang Danzig) được chuyển giao cho các nước Đồng minh – đã được khấu trừ, giảm tổng số tiền phải trả xuống còn 41 tỷ mác vàng.
Để đáp ứng khoản nợ này, Đức có thể thanh toán bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật, bao gồm: than đá, gỗ, thuốc nhuộm hóa học, dược phẩm, gia súc, máy móc nông nghiệp, vật liệu xây dựng và máy móc công nghiệp. Việc Đức hỗ trợ khôi phục thư viện đại học Leuven, công trình vốn bị quân Đức phá hủy vào ngày 25 tháng 8 năm 1914, cũng được tính vào khoản bồi thường. Những thiệt hại kinh tế từ việc mất lãnh thổ do hiệp ước áp đặt cũng được cân nhắc trong các tính toán này.
Lịch trình thanh toán yêu cầu Đức phải trả 250 triệu USD trong vòng 25 ngày đầu tiên, sau đó là 500 triệu USD mỗi năm, cộng thêm 26% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Đức. Chính phủ Đức buộc phải phát hành trái phiếu với lãi suất 5% và lập một quỹ trả nợ để hỗ trợ việc chi trả bồi thường.[90]
Thay đổi lãnh thổ

Vào tháng 2 và tháng 3 năm 1920, các cuộc trưng cầu dân ý tại Schleswig đã được tổ chức. Người dân Schleswig chỉ có hai lựa chọn dành cho họ: thuộc về chủ quyền của Đan Mạch hay của Đức. Kết quả là khu vực phía bắc nói tiếng Đan Mạch đã bỏ phiếu gia nhập Đan Mạch, trong khi khu vực phía nam nói tiếng Đức chọn ở lại với Đức, dẫn đến việc tỉnh này bị chia cắt.[76]
Cuộc trưng cầu dân ý ở vùng Đông Phổ diễn ra vào ngày 11 tháng 7 năm 1920. Với tỷ lệ cử tri đi bầu lên tới 90%, kết quả cho thấy 99,3% dân số mong muốn ở lại với nước Đức. Các cuộc trưng cầu dân ý tiếp theo được tổ chức tại Eupen-Malmedy và Neutral Moresnet. Vào ngày 20 tháng 9 năm 1920, Hội Quốc Liên đã quyết định giao các vùng lãnh thổ này cho Bỉ. Sau đó, một ủy ban biên giới đã được thành lập vào năm 1922, và đến ngày 15 tháng 12 năm 1923, Chính phủ Đức chính thức công nhận đường biên giới mới giữa Bỉ và Đức.[124]
Việc chuyển giao khu vực Hultschin thuộc Silesia cho Tiệp Khắc được hoàn tất vào ngày 3 tháng 2 năm 1921.[125]
Sau khi hiệp ước Versailles được thực thi, vùng Thượng Silesia ban đầu được đặt dưới sự cai quản của Anh, Pháp và Ý.[126] Từ năm 1919 đến 1921, ba đợt bùng phát bạo lực lớn đã nổ ra giữa thường dân Đức và Ba Lan tại vùng lãnh thổ này, kéo theo sự can thiệp của lực lượng quân sự hai bên.[126][127] Vào tháng 3 năm 1921, Ủy ban Liên Đồng minh đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý Thượng Silesia. Trái ngược với tình trạng bạo lực trước đó, cuộc bỏ phiếu diễn ra trong hòa bình. Kết quả cho thấy khoảng 60% dân số bỏ phiếu muốn tỉnh này tiếp tục là một phần của Đức.[128] Sau cuộc bỏ phiếu, Hội Quốc liên đã thảo luận về tương lai của tỉnh này.[129] Năm 1922, Thượng Silesia chính thức bị chia cắt: Oppeln ở phía tây bắc vẫn thuộc về Đức, trong khi Tỉnh Silesia ở phía đông nam được chuyển giao cho Ba Lan.[126]
Vùng Memel vẫn nằm dưới quyền quản lý của Hội Quốc Liên với sự đồn trú của Lực lượng vũ trang Pháp cho đến tháng 1 năm 1923.[130] Vào ngày 9 tháng 1 năm 1923, Quân đội Litva đã tiến quân xâm chiếm lãnh thổ này trong cuộc Nổi dậy Klaipėda.[131] Sau khi quân đồn trú Pháp rút lui, vào tháng 2, phe Đồng minh đã đồng ý để Memel trở thành một phần của Litva dưới dạng 'lãnh thổ tự trị'.[130] Ngày 8 tháng 5 năm 1924, sau các cuộc đàm phán giữa Chính phủ Litva và Hội nghị các Đại sứ, cùng sự can thiệp của Hội Quốc Liên, việc sáp nhập Memel vào Litva đã được phê chuẩn.[131]
Vào ngày 13 tháng 1 năm 1935, tức tròn 15 năm sau khi Lưu vực sông Saar được đặt dưới sự bảo hộ của Hội Quốc Liên, một cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức để định đoạt tương lai của khu vực. Tổng cộng 528.105 phiếu đã được kiểm, với 477.119 phiếu (chiếm 90%) ủng hộ việc sáp nhập vào Đức; 46.613 phiếu chọn giữ nguyên hiện trạng, và chỉ có 2.124 phiếu muốn sáp nhập vào Pháp. Khu vực này đã trở về dưới chủ quyền của Đức vào ngày 1 tháng 3 năm 1935. Khi kết quả được công bố, 4.100 người, bao gồm 800 người tị nạn từ Đức, đã bỏ trốn sang Pháp.[n. 5][132]
Vi phạm
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. |
Bồi thường
Tháng 6 năm 1921, Đức chi trả 1 tỷ mác vàng tiền mặt bồi thường theo Lịch trình thanh toán Luân Đôn, là lần duy nhất Đức thanh toán tiền mặt đầy đủ. Cho đến khi kế hoạch Dawes được triển khai vào cuối năm 1924, Đức chỉ chi trả những khoản tiền mặt nhỏ. Năm 1922, Đức chỉ trả bồi thường bằng hiện vật như than và gỗ, nhưng chưa bao giờ thanh toán đầy đủ. Tháng 12 năm 1922, Ủy ban Bồi thường tuyên bố Đức vi phạm nghĩa vụ giao gỗ, đại diện của Anh là bên duy nhất biểu quyết chống. Ngày 9 tháng 1 năm 1923, sau khi Đức không thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ giao than 34 lần trong vòng 36 tháng, Ủy ban Bồi thường cũng tuyên bố Đức vi phạm nghĩa vụ giao than và cho phép quân Đồng Minh chiếm đóng các mỏ than tại Ruhr nhằm đảm bảo việc giao than, đại diện của Anh lại là bên duy nhất biểu quyết chống.[133]
Quân sự

Năm 1920, Hans von Seeckt, lãnh đạo Reichswehr, ra lệnh mở rộng Truppenamt (Văn phòng Quân nhân), chính thức thì là cơ quan nhân sự của lục quân, nhưng thực chất là nhằm bí mật tái lập Bộ Tổng tham mưu.[134][135] Tháng 3 năm 1920, 18.000 quân Đức tiến vào Rheinland dưới vỏ bọc dập tắt bất ổn do Đảng Cộng sản Đức gây ra, vi phạm quy chế phi quân sự. Pháp đáp trả bằng cách tiến quân sâu hơn vào Đức cho đến khi quân Đức rút lui.[136]
Đánh giá
Văn phong và cách dùng từ trong bài hoặc đoạn này không bách khoa. (21 tháng 5 2023) |
Ngay trong ngày ký kết Hòa ước, tờ báo Deutsche Zeitung ghi nhận:[137]
| “ | Hôm nay tại Nhà Kính ở Versailles một Hòa ước đáng hổ thẹn đã được ký kết. Không bao giờ tha thứ cho nó! Chính tại nơi này, vào năm 1871 huy hoàng, Đế quốc Đức ra đời trong mọi niềm vinh quang của mình, hôm nay danh dự của nước Đức đã bị chôn xuống mồ. Không bao giờ tha thứ cho nó! Sẽ có sự báo thù cho nỗi nhục năm 1919. | ” |
| — Tờ báo Deutsche Zeitung | ||
Thống chế Pháp Ferdinand Foch phản đối Clemenceau và không bằng lòng với những điều khoản của hòa ước Versailles đối với Đức. Ông suýt nữa thì không cam chịu hội nghị hòa bình này. Foch cho rằng hội nghị quá mềm dẻo, không bắt thiết lập đầu cầu ở sông Rhine. Đồng thời, ông ta cũng nhận thấy những điềm báo về sự thất bại của hội nghị. Vào ngày 21 tháng 6, Foch cho rằng Đức vẫn tiếp tục "xảo trá" khi ông chứng kiến cảnh họ tự hủy hoại hạm đội của mình không rơi vào tay Pháp. Chưa kể, Foch còn trở nên nổi cáu khi quần chúng nhân dân Đức đốt cháy mọi lá cờ Pháp mà quân đội Phổ giành lấy được trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, nhằm ngăn cản việc trao trả những lá cờ này cho Pháp. Ông ta gửi thư cho vợ mình: "Bọn họ nhạo báng chúng ta. Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo. Ấy là công trình của Clemenceau".[138] Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết bản hòa ước 28 tháng 6 năm 1919 tại Versailles. Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nên đúng:[138][139]
| “ | Đây không phải là một hội nghị hòa bình. Đây là một thỏa ước ngừng bắn trong vòng 20 năm. | ” |
| — Ferdinand Foch | ||
Bất chấp những nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này đã thất bại trong việc thay đổi sự bất cân bằng chiến lược giữa nước Đức và Pháp: Đức vẫn còn đông dân hơn nhiều và có nền công nghiệp phát triển vượt trội Pháp. Quân đội Pháp thì quá yếu để có thể hủy diệt sức mạnh quân sự của Đức, và nhìn chung là Pháp không thể gây ảnh hưởng lớn trong khối Hiệp Ước để thuyết phục đồng minh của mình phân chia nước Đức.[140] Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản hòa ước này vào tháng 1 năm 1920, và liên minh giữa Anh và Pháp bắt đầu suy sụp. Thống chế Foch trở nên chán ghét lời đề nghị một liên minh quân sự giữa Pháp, Anh và Hoa Kỳ - cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn.[141] Tổng quan, không những thắng lợi của Pháp năm 1918 hoàn toàn là một chiến thắng kiểu Pyrros, mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.[142]
Ghi chú
- ↑ Hoa Kỳ ký hòa ước riêng với Đức (Hòa ước Hoa Kỳ – Đức (1921)).
- ↑ Xem phần Bồi thường.
- ↑ Similar wording was used in the treaties signed by the other defeated nations of the Central Powers: Article 177 of the Treaty of Saint-Germain-en-Laye with Austria; Article 161 of the Treaty of Trianon with Hungary; Article 121 of the Treaty Areas of Neuilly-sur-Seine with Bulgaria; and Article 231 of the Treaty of Sevres with Turkey.[n. 15][n. 16][n. 17][n. 18]
- ↑ xem Hòa ước Saint-Germain-en-Laye, Hòa ước Trianon, Hòa ước Neuilly và Hòa ước Sèvres.
- ↑ Tổng thống Woodrow Wilson phát biểu về Hội Quốc liên trước khán giả tại bữa trưa ở Portland, OR. Quốc hội khóa 66, kỳ họp thứ 1. Tài liệu Thượng viện: Các bài phát biểu của Tổng thống Wilson (tháng 5 - tháng 11 năm 1919), tập 11, số 120, tr. 206.
Tham khảo
- 1 2 Slavicek 2010, tr. 114.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 107.
- ↑ Boyer và đồng nghiệp 2009, tr. 153.
- ↑ Robert A. Doughty, Pyrrhic victory: French strategy and operations in the Great War, trang 512
- ↑ Walter C. Clemens, Dynamics of international relations: conflict and mutual gain in an era of global interdependence, trang 68
- ↑ Louis Leo Snyder, The Weimar Republic: a history of Germany from Ebert to Hitler, trang 166
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 1078.
- ↑ Wiest 2012, tr. 126, 168, 200.
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 429.
- ↑ Cooper 2011, tr. 422–424.
- ↑ Beller 2007, tr. 182–195.
- ↑ Bessel 1993, tr. 47–48.
- ↑ Hardach 1987, tr. 183–184.
- ↑ Simkins 2002, tr. 71.
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 638.
- ↑ Schmitt 1960, tr. 101.
- 1 2 Schmitt 1960, tr. 102.
- ↑ Weinberg 1994, tr. 8.
- ↑ Boyer và đồng nghiệp 2009, tr. 526.
- ↑ Gilbert 1974, tr. 270–273.
- ↑ Edmonds 1943, tr. 1.
- ↑ Martel 1999, tr. 18.
- ↑ Barnes & Ebertowski 2011, tr. 14.
- ↑ Grebler 1940, tr. 78.
- ↑ Mowat 1968, tr. 213.
- ↑ Fuller 1993.
- ↑ Marks 2013, tr. 650.
- 1 2 March 1919 Brussels agreement.
- ↑ Paul 1985, tr. 145.
- ↑ Marks 2013, tr. 651.
- ↑ Proceedings of the National Assembly 1919, tr. 631–635.
- ↑ Deutsche Allgemeine Zeitung 1919.
- ↑ Roerkohl 1991, tr. 348.
- ↑ Rudloff 1998, tr. 184.
- ↑ Rubner 1919, tr. 15.
- ↑ Common Sense 5 July 1919.
- ↑ Bane 1942, tr. 791.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 37.
- ↑ Lentin 1985, tr. 84.
- ↑ Weinberg 1994, tr. 12.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 40–41.
- ↑ Venzon 1999, tr. 439.
- ↑ Lentin 2012, tr. 22.
- 1 2 3 Slavicek 2010, tr. 43.
- ↑ Lentin 2012, tr. 21.
- ↑ Layne 1996, tr. 187.
- ↑ Keynes 1920, tr. 34.
- ↑ Keylor 1998, tr. 43.
- ↑ Keylor 1998, tr. 34.
- ↑ Lentin 1992, tr. 28.
- ↑ Lentin 1992, tr. 28–32.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 43–44.
- ↑ Trachtenberg 1982, tr. 499.
- 1 2 Bassiouni 2002, tr. 269.
- 1 2 Thomson 1970, tr. 605.
- ↑ Henig 1995, tr. 2–3.
- 1 2 3 Brezina 2006, tr. 21.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 44.
- ↑ Yearwood 2009, tr. 127.
- 1 2 Kim 2000, tr. 52–53.
- ↑ Bassiouni 2002, tr. 269–270.
- ↑ Bassiouni 2002, tr. 272.
- ↑ Wilson 1917.
- ↑ Trachtenberg 1982, tr. 490.
- 1 2 3 Cooper 2011, tr. 454–505.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 46–47.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 65.
- 1 2 3 Bassiouni 2002, tr. 271.
- ↑ da Atti Parlamentari, Camera dei Deputati, Discussioni
- ↑ Schabas 2018, tr. 61–62.
- ↑ Bassiouni 2002, tr. 278–279.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 73.
- ↑ Truitt 2010, tr. 114.
- ↑ Brüll 2014.
- ↑ Reinach 1920, tr. 193.
- 1 2 Peckham 2003, tr. 107.
- ↑ Frucht 2004, tr. 24.
- ↑ Martin 2007, tr. lii.
- ↑ Boemeke, Feldman & Glaser 1998, tr. 325.
- ↑ Ingrao & Szabo 2007, tr. 261.
- ↑ Brezina 2006, tr. 34.
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 437.
- 1 2 Benians, Butler & Carrington 1959, tr. 658.
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 1224.
- ↑ Roberts 1986, tr. 496.
- ↑ Shuster 2006, tr. 74.
- ↑ Part V preamble
- ↑ Articles 159, 160, 163 and Table 1
- ↑ Articles 173, 174, 175 and 176
- 1 2 Martel 2010, tr. 156.
- ↑ Gilbert 1974, tr. 276.
- ↑ Bassiouni 2002, tr. 274.
- 1 2 Lovin 1997, tr. 9, 96.
- 1 2 Stevenson 1998, tr. 10.
- 1 2 Lentin 2012, tr. 26.
- ↑ Bell 1997, tr. 26.
- 1 2 Schmitt 1960, tr. 104.
- 1 2 Bell 1997, tr. 22.
- ↑ Campbell 2010, tr. 181.
- ↑ Scott 1944, tr. 34–49.
- ↑ Slavicek 2010, tr. 75.
- 1 2 Sontag 1971, tr. 22.
- ↑ Tucker & Roberts 2005, tr. 426.
- ↑ Tucker 1999, tr. 191.
- ↑ Ripsman 2004, tr. 110.
- 1 2 Henig 1995, tr. 52.
- ↑ Bailey 1945.
- ↑ Widenor 1980.
- ↑ Stone 1973.
- ↑ Cooper 2011, ch 22–23.
- ↑ Duff 1968, tr. 582–598.
- ↑ Wimer & Wimer 1967, tr. 13–24.
- ↑ The New York Times 1921.
- ↑ Schiff 1996.
- ↑ Dreyer 2015, tr. 60.
- ↑ EB: May Fourth Movement.
- ↑ Arnander & Wood 2016.
- 1 2 3 4 5 6 Lauren 1978, tr. 257–278.
- ↑ De Zayas 1989, tr. 5.
- ↑ Bassiouni 2002, tr. 281.
- ↑ Château de Versailles 2016.
- 1 2 Probst 2019.
- ↑ W-R: "shrivelled hand" speech.
- ↑ Martin 2007, tr. xiii.
- ↑ Martin 2007, tr. xii.
- 1 2 3 Ther & Siljak 2001, tr. 123.
- ↑ Bartov & Weitz 2013, tr. 490.
- ↑ Bullivant, Giles & Pape 1999, tr. 43–44.
- ↑ Albrecht-Carrie 1940, tr. 9.
- 1 2 Steiner 2007, tr. 75.
- 1 2 Lemkin, Schabas & Power 2008, tr. 198.
- ↑ Russell 1951, tr. 103–106.
- ↑ Marks 1978.
- ↑ Zaloga 2002, tr. 13.
- ↑ Geyer 1984.
- ↑ Shuster 2006, tr. 112, 114.
- ↑ Louis Leo Snyder, The Weimar Republic: a history of Germany from Ebert to Hitler, trang 138
- 1 2 Michael S. Neiberg, Foch: Supreme Allied Commander in the Great War
- ↑ Benjamin Frankel, Dennis E. Showalter, History in Dispute: World War I, first series, trang 281
- ↑ Robert A. Doughty, Pyrrhic victory: French strategy and operations in the Great War, trang 512
- ↑ Michael S. Neiberg, Foch: Supreme Allied Commander in the Great War, trang 104
- ↑ Benjamin F. Martin, France in 1938, trang 19
- 1 2 3 4 Preamble
- 1 2 3 4 5 Signatures and Protocol
- ↑ Bài phát biểu "Mười bốn Điểm" của Tổng thống Wilson
- ↑ Articles 33 and 34.
- 1 2 Articles 45 and 49
- ↑ Section V preamble and Article 51
- ↑ Articles 81 and 83
- ↑ Article 88 and annex
- ↑ Article 94
- ↑ Article 99
- ↑ Articles 100–104
- ↑ Article 22 and Article 119
- ↑ Article 156
- ↑ Article 231
- ↑ Treaty of Saint-Germain-en-Laye, Article 177
- ↑ Treaty of Trianon, Article 161
- ↑ Treaty of Neuilly-sur-Seine, Article 121
- ↑ Treaty of Sèvres, Article 231
- ↑ Articles 232–235
- ↑ Part I
- ↑ Constitution of the International Labour Office Part XIII preamble and Article 388
- ↑ Article 295
Thư mục
- Albrecht-Carrie, Rene (1940). "Versailles Twenty Years After". Political Science Quarterly. 55 (1): 1–24. doi:10.2307/2143772. ISSN 0032-3195. JSTOR 2143772.
- Altic, Mirela (2016). "The Peace Treaty of Versailles: The Role of Maps in Reshaping the Balkans in the Aftermath of WWI". Trong Liebenberg, Elri; Demhardt, Imre & Vervust, Soetkin (biên tập). History of Military Cartography. Cham: Springer. tr. 179–198. ISBN 978-3-319-25244-5.
- Appiah, Anthony & Gates, Henry Louis, biên tập (2005). Africana: The Encyclopedia of the African and African American Experience (ấn bản thứ 2). Oxford University Press. tr. 781. ISBN 978-0-19-517055-9.
- Arnander, Christopher & Wood, Frances (2016). "Introduction". The Betrayed Ally, China in the Great War. Pen and Sword. ISBN 978-1-4738-7501-2.
- Bailey, Thomas A. (1945). "Woodrow Wilson and the Great Betrayal". New York: The Macmillan Company – qua Internet Archive.
- Baker, Anni (2004). American Soldiers Overseas: The Global Military Presence. Perspectives on the Twentieth Century . Praeger. ISBN 978-0-275-97354-4 – qua Internet Archive.
- Bane, S.L. (1942). The Blockade of Germany after the Armistice. Stanford University Press. tr. 791.
- Barnes, Alexander & Ebertowski, James (tháng 4 năm 2011). "Peace in peril in May-June 1919". Defense Transportation Journal. 67 (2): 12–26. JSTOR 44123331.
- Barnett, Correlli (1986). The Collapse of British Power. Prometheus Books. ISBN 978-039103-439-6.
- Barnett, Correlli (2002). The Collapse of British Power. "Pride and Fall" sequence. London: Pan. tr. 392. ISBN 978-0-330-49181-5.
- Bartov, Omer & Weitz, Eric D., biên tập (2013). Shatterzone of Empires: Coexistence and Violence in the German, Habsburg, Russian and Ottoman Borderlands. Indiana University Press. ISBN 978-0-253-00635-6.
- Bassiouni, M. Cherif (tháng 1 năm 2002). "World War I: The War to End All Wars and the Birth of a Handicapped International Criminal Justice System". Denver Journal of International Law and Policy. 30 (3): 244–291.
- Bell, P.M.H. (1997) [First published 1986]. The Origins of the Second World War in Europe (ấn bản thứ 2). Pearson. ISBN 978-058230-470-3 – qua Internet Archive.
- Beller, Steven (2007). A Concise History of Austria. Cambridge Concise Histories. Cambridge University Press. ISBN 978-052147-886-1 – qua Internet Archive.
- Benians, Ernest Alfred; Butler, James & Carrington, C. E., biên tập (1959). Cambridge History of the British Empire Volume 3, The Empire Commonwealth 1870–1919 (volume 3). Cambridge University Press. ISBN 978-052104-512-4.
- Bessel, Richard (1993). Germany After the First World War. Oxford University Press, US. ISBN 978-019821-938-5.
- Blakemore, Erin (ngày 27 tháng 6 năm 2019). "Germany's World War I Debt Was So Crushing It Took 92 Years to Pay Off". History. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2024.
- Boemeke, Manfred F.; Feldman, Gerald D. & Glaser, Elisabeth, biên tập (1998). Versailles: A Reassessment after 75 Years. Publications of the German Historical Institute. Cambridge University Press. ISBN 978-052162-132-8.
- Boyer, Paul S.; Clark, Clifford E.; Hawley, Sandra; Kett, Joseph F & Rieser, Andrew (2009). The Enduring Vision: A History of the American People, Volume 2: From 1865. Cengage Learning. ISBN 978-054722-278-3.
- Brezina, Corona (2006). The Treaty of Versailles, 1919: A Primary Source Examination of the Treaty That Ended World War I. Primary Sources of American Treaties. Rosen Central. ISBN 978-140420-442-3 – qua Internet Archive.
- Brüll, Christoph (ngày 8 tháng 10 năm 2014). "Eupen-Malmedy". Trong Daniel, Ute; Gatrell, Peter; Janz, Oliver; Jones, Heather; Keene, Jennifer; Kramer, Alan & Nasson, Bill (biên tập). 1914–1918 Online International Encyclopedia of the First World War. Berlin: Freie Universität Berlin. doi:10.15463/ie1418.10212.
- Bullivant, Keith; Giles, Geoffrey & Pape, Walter, biên tập (1999). Germany and Eastern Europe: Cultural Identities and Cultural Differences. Yearbook of European Studies. Rodopi Bv Editions. ISBN 978-90-420-0688-1.
- Campbell, John (2010). Pistols at Dawn: Two Hundred Years of Political Rivalry from Pitt and Fox to Blair and Brown. London: Vintage. tr. 181. ISBN 978-1-84595-091-0. OCLC 489636152 – qua Internet Archive.
- "Clemenceau an Deutschland: "Die Stunde der Abrechnung ist da."" [Clemenceau to Germany: "The day of reckoning is here"]. Die Weimarer Republik: Deutschlands erste Demokratie (bằng tiếng Đức). Weimarer Republik e.V. ngày 7 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2021.
- Collar, Peter (2012). The Propaganda War in the Rhineland: Weimar Germany, Race and Occupation after World War I. London: I.B. Tauris. tr. 78. ISBN 978-1-84885-946-3.
- Cooper, John Milton (2011). Woodrow Wilson: A Biography. Vintage Books. tr. 422–424. ISBN 978-0-307-27790-9.
- Corrigan, Gordon (2011). The Second World War: A Military History. Thomas Dunne Books. ISBN 978-031-257709-4 – qua Internet Archive.
- Davies, Norman (2007). Europe at War 1939-1945: No Simple Victory. Pan Books. ISBN 978-033035-212-3.
- Davis, Robert T., biên tập (2010). U.S. Foreign Policy and National Security: Chronology and Index for the 20th Century. Quyển 1. Santa Barbara, California: Praeger Security International. tr. 49. ISBN 978-0-313-38385-4.
- De Zayas, Alfred M. (1989). The Wehrmacht War Crimes Bureau, 1939-1945. University of Nebraska Press. tr. 5. ISBN 0-8032-1680-7. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024 – qua Internet Archive.
- Debo, Richard K. (1992). Survival and Consolidation: The Foreign Policy of Soviet Russia, 1918–1921. Mcgill Queens University Press, First Edition. ISBN 978-0-7735-0828-6.
- "Die Finanzierung des Lebensmittels" [Paying for food imports]. Deutsche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). ngày 2 tháng 2 năm 1919.
- Dreyer, June Teufel (2015). China's Political System. Routledge. tr. 60. ISBN 978-1-317-34964-8.
- Duff, John B. (1968), "The Versailles Treaty and the Irish-Americans", The Journal of American History, 55 (3): 582–598, doi:10.2307/1891015, JSTOR 1891015
- Edmonds, J.E. (1987) [First published 1943]. The Occupation of the Rhineland 1918–29. HMSO. ISBN 978-0-11-290454-0.
- Evans, Richard J. (1989). In Hitler's Shadow: West German Historians and the Attempt to Escape from the Nazi Past . Pantheon Books. ISBN 978-067972-348-6 – qua Internet Archive.
- Ferguson, Niall (1998). The Pity of War: Explaining World War I. Allen Lane. ISBN 978-0-713-99246-5.
- Fischer, Klaus P. (1995). Nazi Germany: A New History. Constable. tr. 408. ISBN 978-0-09-474910-8.
- Folly, Martin & Palmer, Niall (2010). Historical Dictionary of U.S. Diplomacy from World War I through World War II. Historical Dictionaries of Diplomacy and Foreign Relations. Scarecrow Press. ISBN 978-081085-606-6.
- Frucht, Richard, biên tập (2004). Eastern Europe: An Introduction to the People, Lands, and Culture. ABC-CLIO. ISBN 978-157607-800-6 – qua Internet Archive.
- Fuller, J.F.C. (1993). The Second World War, 1939–45 A Strategical And Tactical History. Da Capo Press. ISBN 978-0-306-80506-6.
- Geyer, Michael (1984). Deutsche Rüstungspolitik 1860 bis 1980 (bằng tiếng Đức). Frankfurt: Suhrkamp. ISBN 978-3-518-11246-5.
- Gilbert, Martin (1974). Taylor, AJP (biên tập). History of World War 1. Octopus Books. tr. 276. ISBN 0-7064-0398-3.
- "The Great War 1914 to 1918". The National Archives. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2020.
- Grebler, Leo (1940). The Cost of the World War to Germany and Austria-Hungary. Yale University Press. tr. 78.
- Groppe, Pater Lothar (ngày 28 tháng 8 năm 2004). "Die "Jagd auf Deutsche" im Osten: Die Verfolgung begann nicht erst mit dem "Bromberger Blutsonntag" vor 50 Jahren". Preußische Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010.
'Von 1.058.000 Deutschen, die noch 1921 in Posen und Westpreußen lebten', ist bei Cartier zu lesen, 'waren bis 1926 unter polnischem Druck 758.867 abgewandert. Nach weiterer Drangsal wurde das volksdeutsche Bevölkerungselement vom Warschauer Innenministerium am 15. Juli 1939 auf weniger als 300.000 Menschen geschätzt.'
- Haigh, Christopher, biên tập (1990). The Cambridge Historical Encyclopedia of Great Britain and Ireland. Cambridge University Press. ISBN 978-052139-552-6 – qua Internet Archive.
- Hantke, Max & Spoerer, Mark (2010), "The imposed gift of Versailles: the fiscal effects of restricting the size of Germany's armed forces, 1924–9" (PDF), Economic History Review, 63 (4): 849–864, doi:10.1111/j.1468-0289.2009.00512.x, S2CID 91180171, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022, truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2019 – qua MPRA: Munich Personal RePEc Archive
- Hardach, Gerd (1987). The First World War, 1914–1918. Penguin. ISBN 978-014022-679-9.
- "Harding Ends War; Signs Peace Decree at Senator's Home. Thirty Persons Witness Momentous Act in Frelinghuysen Living Room at Raritan". The New York Times. ngày 3 tháng 7 năm 1921. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017.
- Henig, Ruth (1995) [First published 1984]. Versailles and After: 1919–1933. London: Routledge. ISBN 978-0-415-12710-3 – qua Internet Archive.
- Hirschfeld, Gerhard; Krumeich, Gerd (2013). Deutschland im Ersten Weltkrieg [Germany in the First World War] (bằng tiếng Đức) . Frankfurt: Fischer E-Books. ISBN 978-3-104-02489-9.
- Ingrao, Charles & Szabo, Franz A.J., biên tập (2007). The Germans and the East. Purdue University Press. ISBN 978-155753-443-9.
- Jacobson, Jon (1972). Locarno Diplomacy: Germany and the West, 1925–1929. Princeton University Press. tr. 135. ISBN 0-691-05190-9.
- Kawamura, Noriko (tháng 11 năm 1997). "Wilsonian Idealism and Japanese Claims at the Paris Peace Conference". Pacific Historical Review. 66 (4): 503–526. doi:10.2307/3642235. JSTOR 3642235. S2CID 154956368.
- Kent, Alexander (2019). "A Picture and an Argument: Mapping for Peace with a Cartography of Hope". The Cartographic Journal. 56 (4): 275–279. Bibcode:2019CartJ..56..275K. doi:10.1080/00087041.2019.1694804.
- Keylor, William R. (1998). The Legacy of the Great War: Peacemaking, 1919. Boston and New York: Houghton Mifflin. tr. 34. ISBN 0-669-41711-4. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013.
- Keynes, John Maynard (1919). "Europe after the treaty". The Economic Consequences of the Peace. tr. 226–251 – qua Internet Archive.
- Keynes, John Maynard (1920). The Economic Consequences of the Peace. Harcourt Brace and Howe.
- Kim, Henry H. (2000). War crimes: a historical overview. Greenhaven Press. tr. 52–53. ISBN 0-7377-0171-4. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024 – qua Internet Archive.
- Kirby, William C. (1984). German and Republican China. Stanford University Press. ISBN 978-080471-209-5.
- Kramer, Alan (2008). Dynamic of Destruction: Culture and Mass Killing in the First World War. The Making of the Modern World. Penguin. ISBN 978-1-846-14013-6.
- Lauren, Paul Gordon (Summer 1978). "Human Rights in History: Diplomacy and Racial Equality at the Paris Peace Conference". Diplomatic History. 2 (3): 257–278. doi:10.1111/j.1467-7709.1978.tb00435.x. JSTOR 24909920. S2CID 154765654.
- Layne, Christopher (1996). "Kant or Cant: The Myth of the Democratic Peace". Trong Brown, Michael E.; Lynn-Jones, Sean M. & Miller, Steve E. (biên tập). Debating the Democratic Peace. International Security Readers. MIT Press. ISBN 978-026252-213-7.
- "Lebensmittelabkommen in Brüssel" (bằng tiếng Đức). Das Bundesarchiv. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2016.
- Lemkin, Raphael; Schabas, William A. & Power, Samantha (2008). Axis Rule in Occupied Europe: Laws of Occupation, Analysis of Government, Proposals for Redress. Foundations of the Laws of War. The Lawbook Exchange, Lrd 2 edition. ISBN 978-158477-901-8.
- Lentin, Antony (1985) [First published 1984]. Guilt at Versailles: Lloyd George and the Pre-history of Appeasement. Routledge. tr. 84. ISBN 978-0-416-41130-0.
- Lentin, Antony (1992), "Trick or Treat? The Anglo-French Alliance, 1919", History Today, quyển 42 số 12, tr. 28–32, ProQuest 1299048769
- Lentin, Antony (2012), "Germany: a New Carthage?", History Today, quyển 62 số 1, tr. 20–27, Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2015
- Liverman, Peter (1996). Does Conquest Pay?: The Exploitation of Occupied Industrial Societies. Princeton University Press. tr. 92. ISBN 0-691-02986-5.
- Lovin, Clifford R. (1997). A School for Diplomats: the Paris Peace Conference of 1919. University Press of America. ISBN 978-076180-755-1.
- Marks, Sally (1978), "The Myths of Reparations", Central European History, 11 (3): 231–255, doi:10.1017/S0008938900018707, JSTOR 4545835, S2CID 144072556
- Marks, Sally (2013). "Mistakes and Myths: The Allies, Germany, and the Versailles Treaty, 1918–1921". Journal of Modern History. 85 (3): 632–659. doi:10.1086/670825. JSTOR 10.1086/670825. S2CID 154166326. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2018.
- Markwell, Donald (2006). John Maynard Keynes and International Relations: Economic Paths to War and Peace. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-829236-4.
- Martel, Gordon, biên tập (1999). Origins of the Second World War Reconsidered (ấn bản thứ 2). London: Routledge. ISBN 978-0-415-16325-5 – qua Internet Archive.
- Martel, Gordon, biên tập (2010). A Companion to Europe 1900–1945. Hoboken NJ: Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-444-33840-9.
- Martin, Lawrence (2007) [First published 1924]. The Treaties of Peace, 1919–1923. The Lawbook Exchange. ISBN 978-158477-708-3.
- "May Fourth Movement". Encyclopaedia Britannica. ngày 22 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2019.
- McDougall, Walter A (1978). France's Rhineland Policy, 1914–1924: The Last Bid for a Balance of Power in Europe. Princeton Legacy Library. Princeton University Press. tr. 155. ISBN 978-0-691-05268-7.
- McDougall, Walter A. (1979), "Political Economy versus National Sovereignty: French Structures for German Economic Integration after Versailles", The Journal of Modern History, 51 (1): 4–23, doi:10.1086/241846, JSTOR 1877866, S2CID 144670397
- de Meneses, Filipe Ribeiro (ngày 7 tháng 4 năm 2026). "Post-war Settlement (Portugal)". Trong Rollo, Maria Fernanda & Pires, Ana Paula (biên tập). 1914–1918 Online. International Encyclopedia of the First World War. doi:10.15463/ie1418.10521.
- Mommsen, Hans & Foster, Elborg (1988). The Rise and Fall of Weimar Democracy. University of North Carolina Press. ISBN 978-0-8078-4721-3.
- Mowat, C. L., biên tập (1968). Volume XII: The Shifting Balance of World Forces 1898-1945. The New Cambridge Modern History. Cambridge University Press. ISBN 978-052104-551-3.
- Mullins, Claude (1921). The Leipzeig trials; an account of the war criminals' trials and a study of German mentality (sic). H.F. & G. Weatherby. tr. 8–9. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024 – qua Internet Archive.
- Nelson, Keith L. (1975). Victors divided: America and the Allies in Germany, 1918–1923. University of California Press.
- Paul, C. (1985). The politics of hunger: the allied blockade of Germany, 1915–1919. Athens, Ohio: Ohio University Press. tr. 145. ISBN 978-0-8214-0831-5.
- Pawley, Margaret (2008). The Watch on the Rhine: The Military Occupation of the Rhineland. I.B. Tauris. ISBN 978-1-84511-457-2.
- Peckham, Robert Shannan, biên tập (2003). Rethinking Heritage: Cultures and Politics in Europe. I.B. Tauris. ISBN 978-186064-796-3.
- Peukert, Detlev (1992). The Weimar Republic: The Crisis of Classical Modernity. Translated by Richard Deveson. Hill & Wang. tr. 278. ISBN 978-0-8090-9674-9.
- Pinson, Koppel S. (1964). Modern Germany: Its History and Civilization (ấn bản thứ 13). New York: Macmillan. tr. 397 ff. ISBN 0-88133-434-0.
- Probst, Robert (ngày 28 tháng 6 năm 2019). "'Wir kennen die Wucht des Hasses'" [We can feel the strength of hatred]. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
- "PUNISHING WAR CRIMINALS: Holland Refuses Extradition of ex-Kaiser—Allies Agree to Trial of 890 Others at Leipsic (sic)". Current History. 11 (3). University of California Press: 373–380. ngày 18 tháng 2 năm 1920. JSTOR 45325166.
- Reinach, Joseph (1920). "Le rôle de l'impératrice Eugénie en septembre et octobre 1870". Revue d'Histoire du XIXe siècle – 1848 (bằng tiếng Pháp). 17 (85). Société d'Histoire de la Révolution de 1848: 193. doi:10.3406/r1848.1920.1652. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
- Reynolds, David (ngày 20 tháng 2 năm 1994). "Review of "A World at Arms: A Global History of World War II"". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017.
- Ripsman, Norrin M. (2004). Peacemaking by Democracies: The Effect of State Autonomy on the Post-World War Settlements. Pennsylvania State University Press. ISBN 978-027102-398-4.
- Roberts, A.D., biên tập (1986). The Cambridge History of Africa: Volume 7 c. 1905–c. 1940. Cambridge University Press. ISBN 978-052122-505-2.
- Roerkohl, Anne (1991). Hungerblockade und Heimatfront: Die kommunale Lebensmittelversorgung in Westfalen während des Ersten Weltkrieges [The hunger blockade and the home front: communal food supply in Westphalia during World War I] (bằng tiếng Đức). Stuttgart: Franz Steiner. tr. 348. ISBN 978-3-515-05661-8.
- Rubner, Max (ngày 10 tháng 4 năm 1919). "Von der Blockde und Aehlichen". Deutsche Medizinische Wochenschrift. 45 (15). Berlin: 15. doi:10.1055/s-0028-1137673. S2CID 72845627.
- Rudloff, Wilfried (1998). Die Wohlfahrtsstadt: Kommunale Ernährungs-, Fürsorge, und Wohnungspolitik am Beispiel Münchens 1910–1933. Schriftenreihe der Historischen Kommission bei der Bayerischen Akademie der Wissenschaften, Bd. 63 (bằng tiếng Đức). Göttingen: Vandenhooeck & Ruprecht. tr. 184. ISBN 3-525-36056-8.
- "Ruhr occupation". Encyclopaedia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2019.
- Russell, Frank M. (1951). The Saar: Battleground and Pawn . Stanford University Press.
- Schabas, William A. (2018). The Trial of the Kaiser. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-187244-0.
- "Scheidemann: "Welche Hand müßte nicht verdorren, die sich und uns in diese Fesseln legt?"" [Scheidemann: "Which hand would not shrivel, that shackled itself and us in such a way?"]. Die Weimarer Republik: Deutschlands erste Demokratie (bằng tiếng Đức). Weimarer Republik e.V. ngày 7 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2021.
- Schiff, Judith Ann (ngày 1 tháng 8 năm 1996). "Bibliographical Introduction to "Diary, Reminiscences and Memories of Colonel Edward M. House"". Yale University Library and Social Science Statistical Laboratory. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2009.
- Schmitt, Bernadotte (1960), "The Peace Treaties of 1919–1920", Proceedings of the American Philosophical Society, 104 (1): 101–110, JSTOR 985606
- Scott, F. R. (tháng 1 năm 1944). "The End of Dominion Status". The American Journal of International Law. 38 (1): 34–49. doi:10.2307/2192530. JSTOR 2192530. S2CID 147122057.
- Shuster, Richard (2006). German Disarmament After World War I: The Diplomacy of International Arms Inspection 1912–1931. Strategy and History. Routledge. ISBN 978-0-415-35808-8.
- Simkins, Peter (2002). The First World War: Volume 3 The Western Front 1917–1918. Osprey Publishing. ISBN 978-184176-348-4.
- Simkins, Peter; Jukes, Geoffrey & Hickey, Michael (2003). The First World War: The War to End All Wars. Osprey Publishing. ISBN 978-184176-738-3.
- Slavicek, Louise Chipley (2010). The Treaty of Versailles. Milestones in Modern World History. Chelsea House Publications. ISBN 978-160413-277-9.
- Sontag, Richard (1971). A Broken World, 1919-1939. Michigan: Harper and Row. ISBN 978-0-06-131651-7 – qua Internet Archive.
- Steiner, Barry H. (2007). Collective Preventive Diplomacy: A Study in International Conflict Management. Suny Series in Global Politics. State University of New York Press. ISBN 978-0-7914-5988-1.
- Stevenson, David (1998). "France at the Paris Peace Conference: Addressing the Dilemmas of Security". French Foreign and Defence Policy, 1918–1940: The Decline and Fall of a Great Power. Routledge Studies in Modern European History. New York: Routledge. ISBN 978-0-415-15039-2.
- Stone, Ralph A. (1973). The Irreconcilables: The Fight Against the League of Nations. W.W. Norton & Co. ISBN 978-0-393-00671-1.
- Tampke, Jürgen (2017). A Perfidious Distortion of History. Melbourne: Scribe. tr. vii, xii. ISBN 978-192532-1-944.
- Ther, Philipp & Siljak, Ana, biên tập (2001). Redrawing Nations: Ethnic Cleansing in East-Central Europe, 1944–1948. The Harvard Cold War Studies Book Series. Rowman & Littlefield s. ISBN 978-0-7425-1094-4.
- Thompson, Ewa (ngày 7 tháng 4 năm 2026). "The Surrogate Hegemon in Polish Postcolonial Discourse" (PDF). Rice University. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
- Thomson, David (1970). Europe Since Napoleon. Penguin Books. tr. 605.
- Tooze, Adam (2007) [First published 2006]. The Wages of Destruction: The Making and Breaking of the Nazi Economy. Penguin Books. ISBN 978-0-14-100348-1.
- Trachtenberg, Marc (1982), "Versailles after Sixty Years", Journal of Contemporary History, 17 (3): 487–506, doi:10.1177/002200948201700305, JSTOR 260557, S2CID 154283533
- "The Treaty of Versailles, 1919". Château de Versailles. ngày 22 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2021.
- Truitt, Wesley B. (2010). Power and Policy: Lessons for Leaders in Government and Business. Praeger. ISBN 978-031338-240-6.
- Tucker, Spencer C., biên tập (1999) [First published 1996]. European Powers in the First World War: An Encyclopedia. Garland Reference Library of the Humanities. Routledge. ISBN 978-081533-351-7.
- Tucker, Spencer C. & Roberts, Priscilla (2005). The Encyclopedia of World War I: A Political, Social, and Military History. ABC=CLIO. ISBN 978-185109-420-2.
- Venzon, Anne Cipriano, biên tập (1999). The United States in the First World War: An Encyclopedia. Military History of the United States. Routledge. ISBN 978-081533-353-1.
- Verhandlung der verfassungsgebenden Nationalversammlung: Stenographische Berichte und Drucksachen. Quyển 24. German National Assembly. 1919. tr. 631–635.
- Weinberg, Gerhard L. (1994). A World at Arms: A Global History of World War II. Cambridge University Press. ISBN 0-52144-317-2 – qua Internet Archive.
- Weinberg, Gerhard L. (2008) [First published 1995]. Germany, Hitler, and World War II: Essays in Modern German and World History. Cambridge University Press. tr. 16. ISBN 978-0-521-56626-1.
- "Why the Nazis achieved power". BBC Bitesize. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2019.
- "Why was the Zimmermann Telegram important?". BBC History Magazine. ngày 17 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- Widenor, William C. (1980). Henry Cabot Lodge and the Search for an American Foreign Policy. University of California Press. ISBN 0-520-04962-4.
- Wiest, Andrew (2012). The Western Front 1917–1918: From Vimy Ridge to Amiens and the Armistice. Amber Books. tr. 126, 168, 200. ISBN 978-1-906626-13-6.
- Wilde, Robert (ngày 29 tháng 1 năm 2020). "How the Treaty of Versailles Contributed to Hitler's Rise". ThoughtCo. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
- Williamson, David G (2017). The British in Interwar Germany: The Reluctant Occupiers, 1918–30 (ấn bản thứ 2). New York: Bloomsbury Academic. tr. 19, 245. ISBN 978-1-4725-9582-9.
- Wilson, Woodrow (ngày 22 tháng 1 năm 1917). "Peace Without Victory (speech to Senate)". Digital History. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2019.
- Wimer, Kurt & Wimer, Sarah (1967). "The Harding Administration, the League of Nations, and the Separate Peace Treaty". The Review of Politics. 29 (1): 13–24. doi:10.1017/S0034670500023706. JSTOR 1405810. S2CID 145794771.
- Woods, Alan (ngày 27 tháng 6 năm 2019). The First World War – A Marxist Analysis of the Great Slaughter. Wellred Books. tr. 18. ISBN 978-1-913026-13-4.
- Yearwood, Peter J. (2009). Guarantee of Peace: The League of Nations in British Policy 1914–1925. Oxford University Press. ISBN 978-019922-673-3.
- Zaloga, Steven (2002). Poland 1939: The Birth of Blitzkrieg. Campaign. Illustrated by Howard Gerrard. Osprey Publishing. ISBN 978-1-84176-408-5.
Đọc thêm
- The Treaty of Versailles: A Reassessment After 75 Years, Boemeke, Manfred F., Gerald D. Feldman, and Elisabeth Gläser, editors. Washington, DC: German Historical Institute, 1998.
Liên kết ngoài
- Photographs of the document Lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine
- The consequences of the Treaty of Versailles for today's world
- Text of Protest by Germany and Acceptance of Fair Peace Treaty
- My 1919—A film from the Chinese point of view, the only country that did not sign the treaty
- "Versailles Revisted" Lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2006 tại Wayback Machine (Review of Manfred Boemeke, Gerald Feldman and Elisabeth Glaser, The Treaty of Versailles: A Reassessment after 75 Years. Cambridge, UK: German History Institute, Washington, and Cambridge University Press, 1998), Strategic Studies 9:2 (Spring 2000), 191–205
- Hiệp ước Versailles
- Pháp năm 1919
- Hiệp ước kiểm soát vũ trang
- Quan hệ Đức-Pháp
- Quan hệ Đức-Ý
- Quan hệ Đức-Nhật Bản
- Quan hệ Vương quốc Liên hiệp Anh-Đức
- Quan hệ Đức-Hoa Kỳ
- Quan hệ quốc tế
- Hội nghị hòa bình Paris, 1919
- Hòa ước của Pháp
- Hòa ước của Đức
- Hòa ước của Ý
- Hiệp ước hòa bình Nhật Bản
- Hòa ước của Vương quốc Liên hiệp Anh
- Hòa ước của Hoa Kỳ
- Hiệp ước được ký năm 1919
- Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1920
- Hiệp ước của Đế quốc Nhật Bản
- Hiệp ước của Đệ Tam Cộng hòa Pháp
- Hiệp ước của Đế quốc Đức
- Hiệp ước của Vương quốc Ý
- Hiệp ước của Vương quốc Liên hiệp Anh (1801–1922)
- Hiệp ước Thế chiến thứ nhất
- Hiệp ước kiểm soát vũ khí