Bước tới nội dung

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2025

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Bão Co-may (2025))
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2025
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành11 tháng 2 năm 2025
Lần cuối cùng tan9 tháng 12 năm 2025
Bão mạnh nhấtRagasa – 905 hPa (mbar), 205 km/h (125 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới39 (1 không chính thức)
Tổng số bão27 (1 không chính thức)
Bão cuồng phong13
Siêu bão cuồng phong1
Số người chết763+
Thiệt hại> $13 tỉ (USD 2025)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2023, 2024, 2025, 2026, 2027
Bài liên quan

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2025 là một sự kiện diễn ra trong chu kỳ hình thành Xoáy thuận nhiệt đới hàng năm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương. Mùa sẽ kéo dài trong suốt năm 2025, nhưng hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới thường phát triển trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 10. Phạm vi của bài viết này chỉ giới hạn ở phía Bắc đường xích đaọ, từ 100°Đ và phía Tây của kinh tuyến 180°. Trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, có hai cơ quan riêng biệt đặt tên cho các xoáy thuận nhiệt đới, điều này thường dẫn đến một xoáy thuận có hai tên. Cục Khí tượng Nhật Bản (JMA) sẽ đặt tên và nậng cấp thành bão cho một xoáy thuận nếu nó có tốc độ gió duy trì trong 10 phút ít nhất là 65 km/h (40 mph) ở bất kỳ nơi nào trong lưu vực. Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sẽ đặt tên cho các xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào hoặc hình thành dưới dạng áp thấp nhiệt đới trong Khu vực trách nhiệm của Philippines (PAR) nằm giữa 135°Đ và 115°Đ và giữa 5°B–25°B, bất kể xoáy thuận nhiệt đới đó đã được JMA đặt tên hay chưa. Áp thấp nhiệt đới cũng sẽ được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) gán một số có hậu tố "W"; W nghĩa là phía Tây (West), ám chỉ khu vực phía Tây Thái Bình Dương.

Khái quát chung về mùa bão

Dự báo mùa bão

Trong một năm (hoặc một mùa bão) một số cơ quan khoa học và cơ quan khí tượng dự báo có bao nhiêu xoáy thuận nhiệt đới (một số cơ quan dự báo có dự báo số lượng xoáy thuận nhiệt đới theo độ mạnh) sẽ hình thành trong một mùa và có bao nhiêu cơn bão nhiệt đới sẽ ảnh hưởng đến một quốc gia cụ thể. Các cơ quan này bao gồm Hiệp hội Rủi ro Bão nhiệt đới (TSR) của Đại học College London, PAGASA, Cục Thời tiết Trung ương Đài Loan (CWA). Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia (NCHMF) cũng dự báo số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông.

Dự báo mùa bão 2025
Ngày dự báo của
TSR
Tropical Storm
( Bão nhiệt đới)
Typhoon
(Bão cuồng phong/bão rất mạnh)
Intense Typhoon
(Bão cuồng phong dữ dội)
ACE
(Năng lượng lốc xoáy tích lũy)
Ref.
(Chú thích)
Trung bình (1991–2020)25,516,09,3301-
7 tháng 5, 202525158266-
Thời gian công bố
dự báo
Trung tâm
dự báo
Khoảng thời gian
Khu vực
dự báo
Số lượng xoáy thuận
Tham khảo
23 tháng 1, 2025PAGASATháng 1-3-0-3 XTNĐ-
23 tháng 1, 2025PAGASATháng 4-6-2-5 XTNĐ-
NCHMFTháng 6-11-11-13 XTNĐ-

Tính trên toàn khu vực

Thang bão Nhật Bản (JMA)
Bão Senyar (2025)Bão Koto (2025)Fung-wong (2025)Bão Kalmaegi (2025)Bão Fengshen (2025)Bão Halong (2025)Bão Matmo (2025)Bão Bualoi (2025)Bão Neoguri (2025)Bão Ragasa (2025)Bão Mitag (2025)Bão Tapah (2025)Bão Peipah (2025)Bão Nongfa (2025)Bão Kajiki (2025)Bão Lingling (2025)Bão Podul (2025)Bão Co-may (2025)Bão Wipha (2025)Bão Danas (2025)Bão Wutip (2025)
Thang bão Saffir-Simpson
Bão Senyar (2025)Bão Koto (2025)Bão Kalmaegi (2025)Bão Fengshen (2025)Bão Halong (2025)Bão Matmo (2025)Bão Bualoi (2025)Bão Neoguri (2025)Bão Ragasa (2025)Bão Mitag (2025)Bão Tapah (2025)Bão Peipah (2025)Bão Nongfa (2025)Bão Kajiki (2025)Bão Lingling (2025)Bão Podul (2025)Bão Co-may (2025)Bão Wipha (2025)Bão Danas (2025)Bão Wutip (2025)

Trên biển Đông và đất liền Việt Nam

Những mùa bão có số lượng bão và áp thấp nhiệt đới nhiều nhất ở biển Đông
Mùa bãoSố lượngNguồn
BãoATNĐTổng
202515621[1]
201716420[2]
196416319[3]
201315419[4][a]
1961--18[5]
1973--18[5]
1974--18[5]
198512618[6]
199513518[7][b]
197815217[8][9]
198912517[10]
199910717[11]
201610717[12]

Kể từ năm 2021, phân loại bão và áp thấp nhiệt đới ở Việt Nam được thực hiện Quyết định số 18/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 22 tháng 4 năm 2021. Theo đó bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ở Việt Nam gồm 05 cấp: Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) (cấp 6-7), Bão (bão thường, cấp 8-9), Bão mạnh (cấp 10-11), Bão rất mạnh (cấp 12-15), Siêu bão (từ cấp 16 trở lên). Cũng theo quyết định này, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia dùng thang sức gió Beaufort mở rộng đến cấp 17 để đánh giá tốc độ gió bão và Việt Nam xác định sức gió mạnh nhất trong xoáy thuận nhiệt đới được tính trung bình trong 2 phút.[13]

Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, việc xác định địa phương đổ bộ của bão và áp thấp nhiệt đới tại Việt Nam được thực hiện theo danh sách 34 tỉnh thành mới theo Nghị quyết 202 của Quốc hội Việt Nam ngày 12 tháng 6 năm 2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó có 21 tỉnh thành Việt Nam giáp biển gồm:[14]

  • Bắc Bộ: Quảng Ninh, Hải Phòng (sáp nhập với Hải Dương cũ), Hưng Yên (sáp nhập từ Hưng Yên và Thái Bình cũ), Ninh Bình (sáp nhập từ Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình cũ)
  • Trung Bộ:
    • Bắc Trung Bộ: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
    • Trung Trung Bộ: Quảng Trị (sáp nhập với tỉnh Quảng Bình cũ), Huế (từ tỉnh Thừa Thiên-Huế cũ), Đà Nẵng (sáp nhập với Quảng Nam cũ), Quảng Ngãi (sáp nhập với Kon Tum cũ)
    • Nam Trung Bộ: Gia Lai (sáp nhập từ Gia Lai và Bình Định cũ), Đắk Lắk (sáp nhập từ Đắk Lắk và Phú Yên cũ), Khánh Hoà (sáp nhập với Ninh Thuận cũ), Lâm Đồng (sáp nhập từ Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận cũ)
  • Nam Bộ: Thành phố Hồ Chí Minh (sáp nhập từ Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ), Đồng Tháp (sáp nhập từ Đồng Tháp với Tiền Giang cũ), Vĩnh Long (sáp nhập từ Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh cũ), Cần Thơ (sáp nhập từ Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng cũ), Cà Mau (sáp nhập từ Cà Mau và Bạc Liêu cũ), An Giang (sáp nhập từ An Giang và Kiên Giang cũ).

Việc thực hiện xác định vị trí đổ bộ được xác định đến cấp xã, do bỏ đơn vị hành chính cấp huyện.[15] Tỉnh ven biển đầu tiên mà tâm bão đi qua tại Việt Nam (căn cứ theo tọa độ của Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương) được tính là nơi đổ bộ chính thức của bão ở nước ta.

Bảng 1. Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông năm 2025
Phân loạiSố lượng bão và ATNĐ theo thángTổng
Tháng 2Tháng 3–5Tháng 6Tháng 7Tháng 8Tháng 9Tháng 10Tháng 11Tháng 12
ATNĐ

(cấp 6-7)

1010201106
Bão (bão thường)

(cấp 8-9)

0000110002
Bão mạnh

(cấp 10-11)

0011011004
Bão rất mạnh

(cấp 12-15)

0002111308
Siêu bão

(≥ cấp 16)

0000010001
Tổng10234434021
Bảng 2. Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông năm 2025
Bão sốTên
quốc tế
Khu vực
đổ bộ
Tâm bão đi qua (Việt Nam)Thời gian
vào bờ
tại Việt Nam
Cấp gió
lúc đổ bộ vào
Việt Nam
Cấp gió
mạnh nhất trên
biển Đông[c]
Các khu vực
ảnh hưởng
Ghi chú
TỉnhTrạm khí
tượng/thủy
văn gần
bão nhất
1WutipNam Trung Quốc----Cấp 11Ảnh hưởng gián tiếp:

Bắc Bộ (gió mạnh cấp 6 ven biển)
Trung Trung Bộ (mưa lũ diện rộng)

[16][17]
2DanasĐài Loan, Chiết Giang----Cấp 12-Ra khỏi biển Đông
3WiphaBắc BộNinh BìnhVăn Lý
(phía Bắc trạm)
10h sáng ngày 22 tháng 7Cấp 8–9Cấp 12Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ[18][d]
4Co-mayBắc đảo Lu Dông----Cấp 10-Ra khỏi biển Đông
5KajikiBắc Trung BộHà TĩnhCẩm Nhượng
(phía Bắc trạm)
17h30 ngày 25 tháng 8Cấp 10–11Cấp 14Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ[19]
6NongfaBắc Trung BộHà TĩnhHoành Sơn15-16h ngày 30 tháng 8Cấp 8Cấp 8Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ-
7TapahNam Trung Quốc----Cấp 10–11--
8MitagNam Trung Quốc----Cấp 9--
9RagasaBắc BộQuảng NinhMóng Cái12h trưa ngày 25 tháng 9Cấp 6Cấp 17Bắc Bộ[20]
10BualoiBắc Trung BộHà TĩnhHoành Sơn0h30 ngày 29 tháng 9Cấp 11–12Cấp 12Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ,
Trung Trung Bộ
[21][22][e][23]
11MatmoNam Trung Quốc----Cấp 12Bắc BộTâm bão đổ bộ vào Phòng Thành (Quảng Tây) cách Móng Cái (Quảng Ninh) khoảng 50 km. Sau đó, bão di chuyển đến vùng biên giới Việt-Trung và suy yếu thành vùng thấp[24][25]
Biên giới giữa Lạng Sơn (Việt Nam)–Quảng Tây (Trung Quốc)13h ngày 6 tháng 10Dưới cấp 6
12Fengshen-----Cấp 10Ảnh hưởng gián tiếp:

Trung Trung Bộ (mưa lũ lịch sử)Nam Trung Bộ (mưa lũ)

Yếu thành vùng thấp ở vùng biển ven bờ Huế–Đà Nẵng[26]
13KalmaegiNam Trung BộĐắk LắkSông Cầu19h ngày 6 tháng 11Cấp 11–12Cấp 15Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ[27][28]
14Fung-wongĐài Loan----Cấp 13-Ngoài khơi Philippines bão mạnh cấp 15-16
Ra khỏi biển Đông
15KotoNam Trung BộKhánh HòaNinh Hòa19h ngày 3 tháng 12Dưới cấp 6Cấp 12Ảnh hưởng gián tiếp:

Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ (mưa lũ, lũ lịch sử Lâm Đồng)

Hầu như không gây gió mạnh trên đất liền.
Nguồn:[29][30]
ATNĐ
ATNĐ tháng 2------Cấp 6-Tan ở Nam biển Đông
ATNĐ tháng 603W
Số hiệu JTWC
Nam Trung Quốc----Cấp 6–7-[31]
ATNĐ ngày 8 tháng 8Fabian
Tên địa phương Philippines
-----Cấp 6-Tan ở Bắc biển Đông
ATNĐ ngày 16 tháng 817W
Số hiệu JTWC
Bắc BộQuảng NinhCửa Ông4h sáng ngày 19 tháng 8Cấp 6Cấp 6–7Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ-
ATNĐ tháng 10Salome
Tên địa phương Philippines
-----Cấp 6-Tan ở Bắc biển Đông
Ngoài khơi Philippines mạnh cấp 7
ATNĐ tháng 11Senyar-----Cấp 7-Tan ở Nam Biển Đông
Bão hình thành từ Ấn Độ Dương, vào biển Đông chỉ còn là áp thấp nhiệt đới và tồn tại 9 giờ

*Ghi chú

  1. Trên thực tế Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương chỉ ghi nhận 14 cơn bão và 5 áp thấp nhiệt đới. Tuy nhiên, các văn bản tổng kết của Tổng cục Phòng chống thiên tai (cũ) đã tính áp thấp nhiệt đới tháng 11 (31W) là bão số 13, nên trong bảng tính chung là 15 cơn bão để đồng bộ với các báo cáo và cơ sở dữ liệu chung.[3]
  2. Bão Kent không được cấp số trên biển Đông do chỉ tồn tại trên biển Đông trong 18 giờ. Tuy nhiên Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia vẫn tính là một cơn bão trên biển Đông.
  3. Lấy theo sức gió được Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Việt Nam công bố khi đi vào biển Đông
  4. Ban đầu, Cửa Ông có gió cấp 10 giật cấp 12, Tiên Yên gió cấp 10 giật cấp 14. Số liệu trong báo cáo gửi Ủy ban Bão điều chỉnh: Cửa Ông cấp 9, giật cấp 12; Tiên Yên cấp 7 giật cấp 9.
  5. Vũng Áng gió cấp 12
Tóm tắt mùa bão 2025 tại biển Đông và đất liền Việt Nam
Năm có thiệt hại thiên tai lớn nhất ở Việt Nam
Thứ tựNămThiệt hạiNguồn
VNDUSD (năm
tham
chiếu)
USD (tháng
12 năm
2025)
12025104.733 tỷ4,17 tỷ4,17 tỷ[32]
2202491.622 tỷ3,77 tỷ3,87 tỷ[33]
3201759.960 tỷ2,67 tỷ3,51 tỷ[34]
4201639.726 tỷ1,79 tỷ2,40 tỷ[35]
5202039.962 tỷ1,73 tỷ2,15 tỷ[36]
6200923.667 tỷ1,32 tỷ1,97 tỷ[37]
7200618.565 tỷ1,16 tỷ1,85 tỷ[38]
8201327.852 tỷ1,32 tỷ1,84 tỷ[39]
919967.981 tỷ724 triệu1,47 tỷ[40]
1019977.793 tỷ634 triệu1,26 tỷ[41]
Nguồn: Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Tổng hợp

Trong năm 2025, trên biển Đông đã xuất hiện 15 cơn bão và 6 áp thấp nhiệt đới hoạt động, vượt qua năm 2017 trở thành năm kỷ lục về tổng số bão và áp thấp nhiệt đới (tính từ khi có số liệu đầy đủ năm 1961),[42] đồng thời cũng nhiều hơn trung bình khoảng 8 đến 9 cơn. Trong đó 20/21 cơn xuất hiện dồn dập trong khoảng thời gian từ 10 tháng 6 đến 10 tháng 12 (6 tháng), trung bình xuất hiện 3,5 cơn bão/30 ngày liên tục. Đỉnh của mùa bão năm 2025 rơi vào tháng 8 và tháng 9 với mỗi tháng 4 cơn bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện. Trong số các cơn bão hoạt động trên biển Đông, có 9/15 cơn bão có cường độ từ cấp 12 trở lên trên biển Đông (chiếm tỷ lệ 60%). Cơn bão có cường độ mạnh nhất hoạt động trên biển Đông trong năm 2025 là siêu bão Ragasa, có cường độ đạt cấp 17, đồng thời vượt qua siêu bão Yagi năm 2024 để trở thành cơn bão có cấp gió mạnh nhất lịch sử trên biển Đông theo ghi nhận của ngành khí tượng Việt Nam.[43]

Phần lớn các cơn bão trên biển Đông năm 2025 có hướng di chuyển tương đối đồng nhất là Tây Tây Bắc và hoạt động nhiều ở khu vực Bắc Biển Đông. Trong số 15 cơn bão, có 07 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam là bão số 3 (Wipha), số 5 (Kajiki), số 6 (Nongfa), số 9 (Ragasa), số 10 (Bualoi), số 11 (Matmo), số 13 (Kalmaegi); có 03 cơn ảnh hưởng gián tiếp gây mưa lớn, lũ, gió mạnh là bão số 1 (Wutip), bão số 12 (Fengshen), bão số 15 (Koto). Trong số 06 áp thấp nhiệt đới có ATNĐ tháng 8 ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta. Số lượng 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam là nhiều hơn so với trung bình nhiều năm. Có 02 cơn bão (số 3, số 9), 01 áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Bắc Bộ, 01 cơn bão đi vào vùng biên giới Việt - Trung (số 11); 03 cơn bão (số 5, số 6, số 10) đổ bộ vào Bắc Trung Bộ; 01 cơn bão (số 13) đổ bộ vào khu vực Nam Trung Bộ, ngoài ra cơn bão số 15 cũng đi vào khu vực này nhưng chỉ ở cường độ vùng áp thấp (theo bảng 2). Đáng chú ý, vào cuối tháng 11 năm 2025, xuất hiện áp thấp nhiệt đới (vốn suy yếu từ bão Senyar) đi từ Ấn Độ Dương vào Thái Bình Dương cũng như biển Đông lần đầu tiên trong lịch sử, được Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia và truyền thông Việt Nam cho là "độc lạ", chưa từng xảy ra trong quá khứ, đồng thời cũng đánh dấu năm 2025 lập kỷ lục về tổng số bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông.[44][45][46]

Năm 2025, ngoại trừ cơn bão số 1 (Wutip) gián tiếp gây mưa lũ trái mùa ở miền Trung và cơn bão số 3 (Wipha) đổ bộ vào vùng đồng bằng Bắc Bộ cuối tháng 7, cơn bão số 15 (Koto) suy yếu thành vùng áp thấp trên đất liền các tỉnh từ Đắk Lắk đến Khánh Hòa, các cơn bão và ATNĐ còn lại đổ bộ và ảnh hưởng đến Việt Nam theo từng khoảng thời gian tập trung, dồn dập, gây nên những tác động mang tính tổ hợp, đa thiên tai và kéo dài nhiều ngày. Đó là các khoảng thời gian: nửa cuối tháng 8 (ATNĐ ở Quảng Ninh, bão số 5 (Kajiki) và bão số 6 (Nongfa) ở Hà Tĩnh), từ 25 tháng 9 đến 7 tháng 10 (bão số 9 (Ragasa) đổ bộ Quảng Ninh, bão số 10 (Bualoi) vào Hà Tĩnh và bão số 11 (Matmo) đi vào vùng biên giới Việt-Trung) và từ 23 tháng 10 đến 6 tháng 11 (bão số 12 (Fengshen) suy yếu ở vùng biển gần bờ Trung Trung Bộ và bão số 13 (Kalmaegi) vào Đắk Lắk). Các chuỗi thiên tai bão lụt nối tiếp, được cho là "hầu như không có khoảng nghỉ đủ dài để khắc phục hậu quả".[47] 03 cơn bão mạnh đổ bộ vào miền Trung (bão số 5 Kajiki, bão số 10 Bualoi, bão số 13 Kalmaegi) và đặc biệt, 5 cơn bão liên tục từ số 9 đến số 13 đổ bộ và ảnh hưởng, kết hợp một số hình thái thời tiết khác, đã liên tiếp gây ra 02 đợt lũ lụt lịch sử ở miền Bắc và miền Trung gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Ước tính thiệt hại do thiên tai trong năm 2025 tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2025 lên đến khoảng 104.733 tỷ đồng (khoảng 4,17 tỷ USD), trở thành năm có thiệt hại do thiên tai lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.[48][49]

Các hệ thống xoáy thuận

Áp thấp nhiệt đới tháng 2 trên biển Đông

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại11 tháng 2 – 17 tháng 2
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1006 hPa (mbar)

Vào 19:00 ngày 11 tháng 2, JMA ghi nhận một áp thấp nhiệt đới đã hình thành ở biển Đông, vùng phía Tây quần đảo Trường Sa.[50] Rãnh áp thấp nối với áp thấp nhiệt đới này là nguyên nhân gây ra đợt mưa trái mùa lịch sử tại Nam Bộ.[51] NCHMF cho biết áp thấp nhiệt đới đã suy yếu thành vùng áp thấp vào lúc 10:00 ngày 14 tháng 2.[52] JMA ghi nhận áp thấp nhiệt đới suy yếu thành vùng áp thấp vào ngày 16,[53] nhưng sau đó lại cho rằng nó mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới và tiếp tục theo dõi vào cùng ngày.[54] Cuối cùng, JMA đã ngừng theo dõi áp thấp nhiệt đới vào chiều ngày hôm sau.[55]

Bão Wutip - Bão số 1

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại10 tháng 6 – 15 tháng 6
Cường độ cực đại100 km/h (65 mph) (10 phút)  980 hPa (mbar)

Tối ngày 9 tháng 6, JMA công nhận một áp thấp nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía Đông quần đảo Hoàng Sa.[56] Sáng ngày 10 tháng 6, NCHMF công nhận vùng áp thấp trên biển Đông mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới[57] và JMA dự báo áp thấp nhiệt đới có khả năng cao mạnh lên thành bão nhiệt đới trong 24 giờ tới.[58] Chiều ngày 10 tháng 6: NCHMF cho biết sức gió mạnh nhất của áp thấp nhiệt đới mạnh lên cấp 7 và dự báo có khả năng mạnh lên thành bão trong 24 giờ tới[59] và JTWC nhận định hình thái này (số hiệu JTWC là 92W) có khả năng cao trở thành một xoáy thuận nhiệt đới trong 24 giờ tới.[60] Tối ngày 10 tháng 6, JTWC cho biết hình thái đã trở thành một áp thấp nhiệt đới và thay đổi định danh cho hình thái này là 01W.[61] Sáng ngày 11 tháng 6, JMA và NCHMF đều cho biết áp thấp nhiệt đới đã mạnh lên thành một cơn bão. JMA đặt tên cho cơn bão là Wutip, NCHMF định danh đây là bão số 1.[62][63] Đầu ngày 13 tháng 6, JMA phân tích cường độ gió bão lên 50 kn (95 km/h), tương ứng với cấp bão nhiệt đới mạnh (STS, severe tropical storm).[64] NCHMF nhận định bão mạnh lên cấp 10 vào lúc 04:00 ngày 13 tháng 6.[65] Trưa ngày 13 tháng 6, NCHMF phát tin bão khẩn cấp và nhận định bão mạnh lên cấp 11.[66] Sáng ngày 14 tháng 6, JTWC nhận định cường độ bão đạt 65 kn (120 km/h), tương ứng với bão cấp 1 trên thang bão Saffir–Simpson, khi bão ở trên vịnh Bắc Bộ.[67] Theo Trung tâm Khí tượng Quốc gia trực thuộc Cục Khí tượng Trung Quốc (CMA), cơn bão đổ bộ vào Hải Nam và Trạm Giang với cường độ 30 m/s (110 km/h).[68][69] Kể từ bản tin lúc 14:00 ngày 14 tháng 6, NCHMF không còn phát "tin bão khẩn cấp" về bão số 1.[70] Cũng trong buổi chiều cùng ngày, JTWC phát tin cuối cùng về bão sau khi bão đi vào đất liền Lôi Châu, cho biết bão suy yếu thành bão nhiệt đới thường (tropical storm).[71] NCHMF phát tin cuối cùng về bão vào tối ngày 14 tháng 6, cho biết bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới sau khi đi vào đất liền Quảng Đông.[3] JMA cũng phát khuyến cáo cuối cùng về cơn bão vào đầu ngày hôm sau khi cho rằng bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới.[72]

Theo dữ liệu Best Track (dữ liệu diễn biến bão được điều chỉnh) của JMA, Wutip hình thành lúc 19:00 ngày 10 tháng 6, đạt cường độ cực đại đạt 55 kn (100 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 980hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 01:00 ngày 15 và suy yếu thành vùng áp thấp lúc 19:00 ngày 15.[73]

Ở Philippines, vùng áp thấp tiền thân của Wutip, cùng với gió mùa Tây Nam, khiến ít nhất ba người chết, một người bị thương, 790 ngôi nhà bị hư hại và hai thành phố mất điện.[74] Trên đảo Hải Nam, gió giật ở vùng ven biển quanh đảo phổ biến đạt cấp 9 đến cấp 11, một số nơi có gió giật đạt cấp 12 trở lên, gió giật đạt 36,1 m/s (130 km/h)–tương ứng với cấp 12, tại Cát Dương, tại Thiên Nhai đã ghi nhận gió giật 37,8 m/s (136 km/h)–tương ứng với cấp 13 và tổng lượng mưa từ 08:00 ngày 10 đến 16:00 ngày 14 (giờ CST) đạt 667,9mm .[75][76] Gió giật tại trấn Bắc Hoà (Lôi Châu, Trạm Giang) và trấn Nam Thuỷ (Kim Loan, Châu Hải) đều đạt 32,6 m/s (117 km/h)–tương ứng với cấp 11.[77] Tổng lượng mưa tại Sa Pha (Lục Xuyên, Quảng Tây) đạt 371,2mm từ sáng ngày 12 đến sáng ngày 15.[78] Có 3 người chết ở Lục Xuyên và 2 người chết ở Sầm Khê, tất cả đều do bị vùi lấp bởi sự cố lở đất.[79][80] Một số đảo của Việt Nam ghi nhận gió mạnh như đảo Bạch Long Vĩ ghi nhận gió cấp 8 giật cấp 9, đảo Cồn Cỏ và đảo Hòn Ngư đã ghi nhận gió mạnh cấp 7, Cô Tô ghi nhận gió cấp 6. Trên đất liền Việt Nam, Bãi Cháy ghi nhận gió cấp 7, Cửa Ông (Quảng Ninh) ghi nhận gió mạnh cấp 6 giật cấp 7.[3] Cơn bão cũng gây ra một đợt mưa lớn trên diện rộng hiếm gặp vào giữa mùa hè ở miền Trung.[81] Lượng mưa trong vòng 24 giờ (tính từ 14:00 ngày 11 đến 14:00 ngày 12) tại Bạch Mã (Huế) đạt 743,8mm; Suối Đá (Đà Nẵng) đạt 478,8mm.[82] Theo thống kê tới ngày 14 tháng 6, mưa lũ làm 11 người chết ở Huế, Quảng Trị (bao gồm tỉnh Quảng Bình cũ).[83]

Áp thấp nhiệt đới Auring

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại11 tháng 6 – 13 tháng 6
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1002 hPa (mbar)

Vào ngày 11 tháng 6, JMA thông báo một áp thấp nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía Đông Philippines.[84]

Tại Đài Loan, lượng mưa lớn được ghi nhận ở quận Đại Liêu là 205,5mm.[85] Ít nhất một người đã thiệt mạng và bốn người khác bị thương do cơn bão.[86] Tại Philippines, Auring đã gây ra mưa với lượng mưa từ mức trung bình đến lớn và giông tại các tỉnh BatanesCagayan.[87]

Bão Sepat

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 6 – 26 tháng 6
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  1004 hPa (mbar)

JMA báo cáo một áp thấp nhiệt đới đã hình thành vào lúc 01:00 ngày 22 tháng 6 ở vùng biển phía Đông Bắc quần đảo Mariana.[88][89] Chiều ngày 22 tháng 6, JTWC công nhận áp thấp nhiệt đới hình thành và định danh cho nó là 02W.[90]

Theo dữ liệu Best Track (dữ liệu diễn biến bão được điều chỉnh) của JMA, Sepat hình thành lúc 13:00 ngày 21 tháng 6, cường độ cực đại đạt 35 kn (65 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 1004hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 19:00 ngày 24 và thời điểm hoạt động cuối cùng được ghi nhận là 19:00 ngày 26.[91]

ATNĐ tháng 6 trên biển Đông (03W, bão theo CMA)

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại24 tháng 6 – 27 tháng 6
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1002 hPa (mbar)

Sáng ngày 24 tháng 6, JMA báo cáo một áp thấp nhiệt đới hình thành ở biển Đông, vùng phía Tây Philippines.[92]

Chiều ngày 24 tháng 6, NCHMF thông báo vùng áp thấp trên biển Đông mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới.[93]

Chiều ngày 25 tháng 6, JTWC công nhận hình thái là áp thấp nhiệt đới và định danh cho hình thái là 03W.[94]

Đầu ngày 27 tháng 6, NCHMF cho biết áp thấp nhiệt đới suy yếu thành một vùng áp thấp.[95]

Một số nơi trên đảo Hải Nam ghi nhận gió mạnh và mưa to do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới. Một trạm thời tiết ở Mộc Lan (Phô Tiền, Văn Xương) đã ghi nhận tốc độ gió trung bình trong 10 phút đạt 23,4 m/s (84 km/h), gió giật đạt 29,6 m/s (107 km/h)–tương ứng với gió mạnh cấp 9 giật cấp 11.[96][5] Lượng mưa tại tại một số nơi trên đảo này vượt 200mm, cao nhất là 242,8mm ghi nhận tại Cẩm Sơn (Văn Xương).[5]

Tại thành phố Trạm Giang (Quảng Đông), gió giật phổ biến tại đây chủ yếu đạt cấp 8–9, một trạm thời tiết ở Nam Tam (khu Pha Đầu) ghi nhận gió giật 22,7 m/s (82 km/h)–tương ứng với cấp 9, cá biệt có một trạm ở huyện Từ Văn ghi nhận tốc độ gió trung bình 27,3 m/s (98 km/h) và gió giật 30,6 m/s (110 km/h), tương ứng với gió mạnh cấp 10 giật cấp 11.[97][98]

CMA đã công nhận xoáy thuận này là bão nhiệt đới, với cường độ khi đạt cực đại là 23 m/s (85 km/h), tương đương với cấp 9. [99]

Bão Mun

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại1 tháng 7 – 8 tháng 7
Cường độ cực đại95 km/h (60 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Vào ngày 1 tháng 7, JMA thông báo rằng một áp thấp nhiệt đới mới đã phát triển gần Quần đảo Bắc Mariana.[cần dẫn nguồn] Sau đó trong ngày, JTWC đã chỉ định hệ thống này là áp thấp nhiệt đới, do đó đặt tên là 04W.[100] Mặc dù ban đầu hoàn lưu của nó bị lộ ra, nhưng đến ngày 2 tháng 7, cơn bão đã mạnh lên thành bão nhiệt đới,[101] và nó được đặt tên là Mun vào cuối ngày hôm đó.[102] Sáng sớm ngày 3 tháng 7, đối lưu của Mun suy yếu khi không khí khô bị phá vỡ  cơn bão,[103] mặc dù nó bắt đầu phục hồi vào cuối ngày hôm đó khi đối lưu sâu quay trở lại.[104][105] Sau đó, Mun di chuyển qua các điều kiện bất lợi, với lý do là môi trường không khí khô, dòng chảy yếu hướng về xích đạo ở trên cao, gió đứt đông bắc mạnh, góp phần làm suy yếu trở lại thành bão nhiệt đới vào ngày 7 tháng 7.[106] JTWC sau đó đã ngừng cảnh báo về bão Mun vào ngày 8 tháng 7 khi nó bắt đầu di chuyển qua vùng nước lạnh hơn, khiến lớp đối lưu sâu của nó sụp đổ.Theo dữ liệu Best Track của JMA, Mun hình thành lúc 07:00 ngày 1 tháng 7, cường độ cực đại đạt 50 kn (95 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 990hPa, trở thành thành một xoáy thấp vào lúc 07:00 ngày 8 tháng 7.[107]

Bão Danas (Bising) - Bão số 2

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại3 tháng 7 – 11 tháng 7
Cường độ cực đại140 km/h (85 mph) (10 phút)  965 hPa (mbar)

Cơn bão đổ bộ vào huyện Gia Nghĩa, Đài Loan vào lúc 23:40 ngày 6 tháng 7 theo giờ địa phương.[35] Trên đảo Đài Loan đã xuất hiện một số nơi có gió giật mạnh từ cấp 16 trở lên. Ở thành phố Đài Nam, tốc độ gió duy trì 44,4 m/s (160 km/h) và gió giật lên tới 54,6 m/s (197 km/h)–tương ứng với gió mạnh cấp 14 giật cấp 16 đã được ghi nhận tại Bắc Môn; gió giật mạnh nhất ghi nhận tại Thất Cổ đạt 55,4 m/s (199 km/h)–tương ứng với gió giật cấp 16.[35][108] Gió giật tại Khẩu Hồ, Vân Lâm đạt 61,7 m/s (222 km/h)–tương ứng với gió giật trên cấp 17.[108] Lượng mưa từ ngày 5 đến chiều ngày 7 ghi nhận tại Mẫu Đơn, Bình Đông đạt 643mm; tại Đạt Nhân, Đài Đông là 580,5mm.[109] Hoàn lưu còn sót lại của Danas cùng với gió mùa Tây Nam cũng khiến khiến cho Đài Loan chịu mưa lớn trên diện rộng vào ngày 10 tháng 7, với lượng mưa ghi nhận trong khoảng thời gian từ 00:00 đến 13:30 ngày 10 tháng 7 theo giờ địa phương tại Đại Vũ, Đài Đông là 451,5mm; tại Mã Gia, Bình Đông là 421mm.[110] Theo một số báo cáo tại Đài Loan, có 2 người chết và 726 người bị thương do bão gây ra, ngoài ra có 2 người chết và 1 người mất tích do các tai nạn hoặc sự cố trong bão nhưng không được tính là do bão gây ra.[111]

Tại Chiết Giang, gió giật đạt 33,2 m/s (120 km/h) ghi nhận tại đảo Tây Môn zhLộ Kiều, lượng mưa tại Phượng Dương,Thương Nam đạt 404mm từ 20:00 ngày 6 đến 08:00 ngày 10 theo giờ địa phương.[112] Tại Hồ Nam, gió giật đạt 27,3 m/s (98 km/h) đã được ghi nhận tại một hồ chứa nước ở quận Quân Sơn.[113]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Danas hình thành lúc 07:00 ngày 3 tháng 7, cường độ cực đại đạt 75 kn (140 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 965hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 07:00 ngày 9 tháng 7 và thời điểm hoạt động cuối cùng được ghi nhận là 07:00 ngày 11.[114]

Bão Nari

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại11 tháng 7 – 15 tháng 7
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Một nhiễu động hình thành cách Iwo Jima 100 km về phía tây vào ngày 11 tháng 7 và được JTWC đặt tên là 06W. Cùng ngày, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản cũng làm theo và chỉ định nó là áp thấp nhiệt đới. Vào ngày 12 tháng 7, 06W sau đó mạnh lên thành bão nhiệt đới, được JMA đặt tên là Nari. Hình ảnh vệ tinh cho thấy Nari bị che khuất một phần, với luồng đối lưu sâu đang phát triển ở phía đông tâm bão.[115] Nari đã được nâng cấp thành bão nhiệt đới dữ dội vào ngày 13 tháng 7 khi nó mạnh lên. Tuy nhiên, một hình ảnh vệ tinh khác cho thấy các dải mây xoắn ốc xung quanh và trở nên nông hơn. Đối lưu sâu của nó cũng bị phá vỡ do nhiệt độ bề mặt nước biển thấp gần rìa Dòng hải lưu Kuroshio.[116]

Nari đã chuyển đổi thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới vào ngày 15 tháng 7 khi nó di chuyển theo hướng đông-đông bắc hướng tới Hokkaido. Vào lúc 02:00 ngày hôm đó, cơn bão đổ bộ gần Mũi Erimo ở mũi phía nam của hòn đảo, lần đầu tiên một xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào tỉnh này kể từ Bão nhiệt đới Conson năm 2016 và là cơn bão đầu tiên được ghi nhận vào tháng 7 kể từ năm 1951.[117][118] Cơn bão tan vào ngày 15 tháng 7, khiến JTWC phải đưa ra khuyến cáo cuối cùng vào ngày hôm đó.

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Nari hình thành lúc 01:00 ngày 11 tháng 7, cường độ cực đại đạt 45 kn (85 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 990 hPa, chuyển đổi thành một xoáy thấp vào lúc 07:00 ngày 15.[119]

Gió giật, sóng lớn và mưa lớn đã được báo cáo. Lượng mưa 144 mm (5,67 in) đã rơi xuống Tỉnh Mie. Thiệt hại lên tới hơn US$1 triệu.[120]

Áp thấp nhiệt đới 07W

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp cận nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại11 tháng 7 – 14 tháng 7
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  992 hPa (mbar)

JTWC đã ghi nhận một vùng thấp hình thành trên Biển Hoa Đông, cách Thượng Hải 328 km về phía đông vào ngày 11 tháng 7. Sau đó, JMA đã nâng cấp nó lên áp thấp nhiệt đới vào buổi trưa. Ngày hôm sau, JTWC đã ban hành cảnh báo về hệ thống mặc dù nó là áp thấp cận nhiệt đới , chỉ định nó là 07W . Trong vài ngày tiếp theo, cơn bão di chuyển về phía đông và đổ bộ vào Kyūshū vào ngày 13 tháng 7.

Bão Wipha (Crising) - Bão số 3

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại16 tháng 7 – 23 tháng 7
Cường độ cực đại110 km/h (70 mph) (10 phút)  975 hPa (mbar)

Một vùng áp thấp hình thành bên trong PAR cách Philippines 1.040 km về phía đông vào ngày 15 tháng 7.[121] Vào lúc 08:00 PHT (00:00 UTC) ngày 16 tháng 7, hệ thống đã phát triển thành áp thấp nhiệt đới, được PAGASA đặt tên là Crising.[122] JTWC đã phân loại Crising là áp thấp gió mùa do hoàn lưu lớn trước khi ban hành TCFA khi cơn bão này tiếp tục hình thành thêm nhiều đỉnh mây.[123] Vào lúc 23:00 PHT (15:00 UTC) ngày hôm đó, PAGASA bắt đầu phát tín hiệu bão ở một số khu vực  Luzon.[124] Vào lúc 02:00 PHT (18:00 UTC) ngày 18 tháng 7, Crising đã được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới và đặt tên là Wipha.  Sau đó, cơn bão di chuyển về phía tây bắc, đi qua Santa Ana, Cagayan và sau đó đi qua Quần đảo Babuyan và tiếp tục mạnh lên.[125] Vào ngày 19 tháng 7, JTWC cũng làm theo, chỉ định tên gọi là 09W.

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Wipha hình thành lúc 13:00 ngày 6 tháng 7, cường độ cực đại đạt 60 kn (110 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 975 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 19:00 ngày 22 tháng 7 và thời điểm hoạt động cuối cùng được ghi nhận là 01:00 ngày 23.[126]

Wipha đã giúp tăng cường gió mùa Tây Nam, gây lũ lụt ở Philippines[127] và làm 37 người tử vong.[128] Các lớp học ở một số khu vực của đất nước đã bị tạm dừng vào ngày 18 tháng 7.[129]

Sức gió duy trì ghi nhận tại Ngong Ping (Hồng Kông) là 171 km/h (cấp 15), tại đảo Quế Sơn (Châu Hải) là 159 km/h (cấp 14).[130][131] Gió giật ghi nhận tại Ngong Ping là 234 km/h (trên cấp 17),[130] tại đảo Quế Sơn là 204 km/h (cấp 17), tại Đại Bằng (Thâm Quyến) là 168 km/h (cấp 15).[131][132] Tổng lượng mưa do bão là 427,4 mm tại trấn Mại Trần (Từ Văn, Quảng Đông)[133] và 450,9mm tại trấn Lâm Thành (Lâm Cao, Hải Nam).[134] Có tổng cộng 33 người bị thương trong cơn bão và phải đi điều trị tại Hồng Kông.[135]

Ảnh hưởng của bão Wipha tại các đảo trên vịnh Bắc Bộ, gió giật 38,2 m/s (138 km/h) hay gió giật cấp 13 đã được ghi nhận tại đảo Vi Châu (Quảng Tây);[136] các đảo của Việt Nam cũng đã ghi nhận gió mạnh như đảo Bạch Long Vĩ gió mạnh cấp 10 giật cấp 12, đảo Cô Tô và Hòn Dấu gió mạnh cấp 9.[137][138]

Gió mạnh đã được ghi nhận tại một số nơi trên đất liền Việt Nam. Gió mạnh cấp 10 giật từ cấp 12 đến cấp 14 đã được ghi nhận tại một số nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như Cửa Ông và Tiên Yên.[138] Tính từ 04:00 ngày 22 tháng 7 đến 04:00 ngày 23 tháng 7 (giờ Việt Nam), lượng mưa trên 100mm đã được ghi nhận tại một số nơi trên địa bàn các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An.[139] Hoàn lưu bão gây mưa lớn trên diện rộng tại Nghệ An từ đêm ngày 21 đến ngày 25 tháng 7 dẫn đến hiện tượng lở đất và lũ quét làm 4 người chết trên địa bàn tỉnh.[140] Tại thời điểm đổ bộ, Wipha mạnh cấp 9, cấp 10,[18][138] sau khi đổ bộ suy yếu còn cấp 8.[18] Tâm bão đi qua tỉnh Ninh Bình, thuộc địa bàn huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định cũ (phía Bắc trạm Văn Lý, khu vực các xã Hải Hưng, Hải Quang và Hải Tiến hiện nay). Khí áp thấp nhất ghi nhận do bão trên đất liền Việt Nam ghi nhận tại Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là 981,8 hPa ngày 22 tháng 7; trên vùng biển ven bờ tại Cô Tô và Hòn Dấu khí áp thấp nhất đo được là 980,8 hPa.[141]

Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia cho biết trận siêu dông xuất hiện ngày 19 tháng 7 gây ra vụ lật tàu ở Quảng Ninh khiến 39 người thiệt mạng không liên quan tới cơn bão.[142][143]

Bão Francisco (Dante)

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 7 – 26 tháng 7
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Một vùng áp thấp hình thành ở phía nam-tây nam của Căn cứ Không quân Kadena lần đầu tiên được JTWC ghi nhận vào ngày 21 tháng 7. Vào ngày 22 tháng 7, JMA đã phân loại hệ thống này là áp thấp nhiệt đới. Cả JTWC và PAGASA đều làm theo, với PAGASA đặt tên cho hệ thống là Dante, trong khi JTWC ban hành TCWS lúc đầu[144] trước khi chỉ định nó là Áp thấp nhiệt đới 10W .[145] Ngày hôm sau, cả JTWC và JMA đều nâng cấp thành bão nhiệt đới.

Ngày hôm sau, cả JTWC và JMA đều nâng cấp 10W thành bão nhiệt đới, được JMA đặt tên là Francisco khi nó di chuyển theo hướng bắc-tây bắc.

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Francisco hình thành lúc 13:00 ngày 22 tháng 7, cường độ cực đại đạt 40 kn (75 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 990 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 13:00 ngày 25 tháng 7 và thời điểm hoạt động cuối cùng được ghi nhận là 19:00 ngày 26 tháng 7.[146]

Bão Co-May (Emong) - Bão số 4

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại23 tháng 7 – 3 tháng 8
Cường độ cực đại110 km/h (70 mph) (10 phút)  975 hPa (mbar)

Vào ngày 23 tháng 7, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã ban hành Cảnh báo Hình thành Bão Nhiệt đới (TCFA) đối với vùng nhiễu động 99W gần khu vực phía Bắc Luzon và sau đó đặt tên là bão số 11W. Trong khi đó, PAGASA cũng làm theo và cũng nâng cấp hệ thống này thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên là Emong. Hệ thống này đang nhanh chóng củng cố. Cuối ngày hôm đó, JTWC và PAGASA đã nâng cấp ''11W'' thành bão nhiệt đới. Vào lúc 12:00 UTC, JMA cũng làm theo và đổi tên thành ''Co-may''. Do hiệu ứng Fujiwhara sắp xảy ra với Francisco, Co-may di chuyển theo hướng tây-tây nam trước khi vòng về phía đông bắc hướng tới Vùng Ilocos.[147]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Co-may hình thành lúc 07:00 ngày 22 tháng 7, cường độ cực đại lần đạt 60 kn (110 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 975 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới lần thứ nhất vào lúc 01:00 ngày 26 tháng 7, mạnh trở lại thành bão lúc 13:00 ngày 27 tháng 7, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới lần thứ hai vào lúc 07:00 ngày 31 tháng 7 và thời điểm hoạt động cuối cùng được ghi nhận là 13:00 ngày 3 tháng 8.[148]

Về đợt mưa lớn ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Hà Bắc, theo báo Tân Kinh, cơn bão có tác động tới cường độ và sự phân bố mưa của đợt mưa và bão được coi là yếu tố tác động gián tiếp, không phải là yếu tố trực tiếp gây ra đợt mưa lớn này.[149] Về thương vong của đợt mưa lớn, có 44 người chết và 9 người mất tích ở thủ đô Bắc Kinh;[150] tại thành phố Thừa Đức (tỉnh Hà Bắc), 8 người chết và 4 người mất tích do sạt lở đất ở huyện Loan Bình, 8 người chết và 18 người mất tích ở huyện Hưng Long.[151][152]

Bão Krosa

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại23 tháng 7 – 4 tháng 8
Cường độ cực đại140 km/h (85 mph) (10 phút)  965 hPa (mbar)

Vào ngày 21 tháng 7, JTWC bắt đầu theo dõi một nhiễu động hình thành gần Guam trong điều kiện môi trường tương đối thuận lợi. Hệ thống dần dần củng cố trong những ngày tiếp theo. Vào ngày 23 tháng 7, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới cho hệ thống, và vài giờ sau, nó được chỉ định là Áp thấp Nhiệt đới 12W. Đầu ngày hôm sau, JMA công nhận 12W là một áp thấp nhiệt đới. Đến 10:00 cùng ngày, JMA đã đặt tên cho cơn bão là Krosa. Đối lưu của nó bắt đầu được tổ chức lại, JMA đã nâng cấp Krosa lên thành bão nhiệt đới dữ dội. Ngày 27 tháng 7, JMA đã nâng cấp Krosa lên thành bão cuồng phong, Sau đó, JTWC cũng tiếp tục theo dõi hệ thống; tuy nhiên, nó đã suy yếu thành bão nhiệt đới mạnh vào ngày 28 tháng 7, rồi tiếp tục suy yếu thành bão nhiệt đới vào ngày 30 tháng 7, trước khi mạnh lên trở lại thành bão nhiệt đới mạnh vào ngày hôm sau.[153] Krosa duy trì được cường độ của mình nhờ các điều kiện môi trường chỉ vừa đủ thuận lợi, mặc dù hoàn lưu cấp thấp bị lộ rõ và có cấu trúc rời rạc, không tổ chức.[154] Krosa suy yếu trở lại thành bão nhiệt đới lần thứ hai vào ngày 3 tháng 8 do chịu ảnh hưởng của độ đứt gió theo chiều thẳng đứng gia tăng và nhiệt độ nước biển mát hơn. Đến ngày 4 tháng 8, Krosa bắt đầu quá trình chuyển đổi thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới khi nó di chuyển vào vùng đới khí quyển baroclinic ở phía bắc.

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Francisco hình thành lúc 19:00 ngày 23 tháng 7, cường độ cực đại đạt 75 kn (140 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 965 hPa, chuyển đổi thành vùng áp suất thấp vào lúc 13:00 ngày 4 tháng 8.[155]

Bão Bailu

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại1 tháng 8 – 5 tháng 8
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  996 hPa (mbar)

Một áp thấp nhiệt đới hình thành ở đông nam Đảo Okinawa vào ngày 31 tháng 7.[156] JTWC đã đánh dấu một vùng áp thấp cận nhiệt đới và được chỉ định là Invest 93W.[157] Vào ngày 1 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) cho hệ thống này, dự báo khả năng hình thành xoáy thuận nhiệt đới trong vài ngày tới. Ngày hôm sau, hệ thống được JTWC phân loại là Áp thấp nhiệt đới 13W. Vào rạng sáng ngày 3 tháng 8, cả Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) và JTWC đều nâng cấp 13W thành bão nhiệt đới, trong đó JMA đã đặt tên cho bão là Bailu.[158] Hình ảnh vệ tinh cho thấy một hoàn lưu cấp thấp (LLCC) đang hình thành chậm, với hệ thống vẫn còn bất đối xứng. Nhiều xoáy nhỏ hơn cũng đang hợp nhất, trong khi các vùng đối lưu mới bùng phát dọc theo rìa ngoài của cơn bão. Bailu cũng nằm trong một môi trường chỉ vừa đủ thuận lợi, với độ ẩm khí quyển cao, nhiệt độ bề mặt biển ấm từ 27–28 °C, độ đứt gió theo chiều thẳng đứng thấp (5–10 hải lý/giờ), và dòng thoát khí hướng cực ở mức trung bình.[159] Sau đó, Bailu chuyển hướng về phía đông khi nó gặp khó khăn trong việc phát triển đối lưu do điều kiện môi trường, khiến nó suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 4 tháng 8 khi tiếp tục di chuyển xa hơn về phía đông. Đến 07:00 ngày 6 tháng 8, nó trở thành một vùng áp thấp ngoại nhiệt đới khi vượt qua vùng đới nhiệt – đới ôn (baroclinic zone).

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Bailu hình thành lúc 01:00 ngày 1 tháng 8, cường độ cực đại đạt 35 kn (65 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 996 hPa, chuyển đổi thành vùng áp suất thấp vào lúc 19:00 ngày 5 tháng 8.[160]

Áp thấp nhiệt đới Iona

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại2 tháng 8 (Đi vào khu vực) – 4 tháng 8
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1008 hPa (mbar)

Cơn bão Iona đang suy yếu, có nguồn gốc từ khu vực Trung Thái Bình Dương vào ngày 24 tháng 7, đã vượt qua Đường đổi ngày quốc tế vào đầu ngày 2 tháng 8 dưới dạng một áp thấp nhiệt đới. Khi tiến vào khu vực Tây Thái Bình Dương, hệ thống này được cả Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) và Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) giám sát và bắt đầu phát hành các bản tin cảnh báo tương ứng. Mặc dù đã chuyển sang lưu vực mới, hệ thống tiếp tục suy yếu do khối không khí khô và gió cắt thẳng đứng kéo dài, cản trở khả năng mạnh lên trở lại. Do đó, JTWC nhanh chóng ngừng phát hành các cảnh báo không lâu sau khi Iona đi vào khu vực này. Tuy nhiên, JMA vẫn tiếp tục theo dõi tàn dư của hệ thống trong vài ngày tiếp theo và đưa ra các cập nhật không thường xuyên cho đến khi nó được ghi nhận lần cuối vào ngày 4 tháng 8.[161]

Áp thấp nhiệt đới 14W

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
 
Thời gian tồn tại2 tháng 8 – 4 tháng 8
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1010 hPa (mbar)

Một áp thấp nhiệt đới hình thành ở phía bắc Đảo Wake vào ngày 2 tháng 8.[162] Hai ngày sau, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA), cho thấy một hoàn lưu cấp thấp (LLCC) hoàn toàn lộ rõ đang từ từ nhưng ổn định mạnh lên mặc dù nằm trong môi trường biên giới (không lý tưởng). Vào cuối ngày hôm đó, hệ thống này đã được JTWC phân loại là Áp thấp nhiệt đới 14W.[163] Hình ảnh vệ tinh cho thấy hoàn lưu cấp thấp (LLCC) của áp thấp nhiệt đới 14W đang nằm trong điều kiện bất lợi, với gió đứt mạnh từ hướng đông bắc và không khí khô hiện diện ở khu vực Thái Bình Dương, do đó cản trở sự phát triển tiếp theo của hệ thống này. Hệ thống đã tan vào cuối ngày 4 tháng 8 và hợp nhất với một nhiễu động khác ở ngay phía nam đảo Wake.[164]

Áp thấp nhiệt đới 15W

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại5 tháng 8 – 7 tháng 8
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1006 hPa (mbar)

Một áp thấp nhiệt đới đã hình thành ở phía tây bắc đảo Wake vào đầu ngày 5 tháng 8, cũng ở phía nam tàn dư của bão số 14W.[164] Ban đầu, áp thấp chỉ có khả năng phát triển thấp do điều kiện môi trường không thuận lợi. Tuy nhiên, khả năng phát triển đã tăng lên vào ngày hôm sau khi hệ thống tiếp tục tổ chức lại mặc dù môi trường hiện tại vẫn còn hạn chế. Đến đầu ngày tiếp theo, JTWC cũng đã theo sát và đặt tên cho hệ thống là 15W. JMA theo dõi áp thấp nhiệt đới lần cuối cùng vào đầu ngày 7 tháng 8 (18:00 UTC ngày 6 tháng 8).[165][166]

Bão Podul (Gorio)

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại6 tháng 8 – 15 tháng 8
Cường độ cực đại150 km/h (90 mph) (10 phút)  960 hPa (mbar)

Vào ngày 6 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu theo dõi một vùng đối lưu hình thành cách Saipan khoảng 230 hải lý (430 km) về phía đông bắc. Sau đó trong ngày, JMA cũng bắt đầu giám sát hệ thống này và phân loại nó là một áp thấp nhiệt đới. Ngày hôm sau, JTWC bắt đầu phát hành các bản khuyến cáo về hệ thống, đánh giá khả năng hình thành bão cao và ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA), lưu ý rằng các điều kiện môi trường thuận lợi cho quá trình hình thành xoáy thuận nhiệt đới.[167] Vào 07:00, JTWC định danh áp thấp nhiệt đới này là 16W.[168] Rạng sáng ngày 8 tháng 8, 16W mạnh lên thành bão nhiệt đới và được JMA đặt tên là Podul.[169] Mặc dù đã mạnh lên, tâm hoàn lưu gió thấp (LLCC) của Podul ban đầu vẫn lộ rõ do chịu tác động của gió cắt thẳng đứng từ đông bắc kéo dài; tuy nhiên, trong 24 giờ tiếp theo, hệ thống đã dần được tổ chức chặt chẽ hơn.[170]

Về độ chính xác dự báo đường đi bão Podul của các mô hình dự báo thời tiết, Đài Thiên văn Hồng Kông (HKO) nhận định mô hình dự báo có sử dung trí tuệ nhân tạo (AI) dự báo chính xác hơn mô hình dự báo số truyền thống. Trong khi vào ngày 8 tháng 8, các mô hình truyền thống dự báo cơn bão sẽ di chuyển về phía quần đảo Ryukyu và tan dần thì các mô hình sử dụng AI dự báo bão hướng tây hơn và hướng đến miền nam Đài Loan (thực tế thì tương đối đúng như vậy, cơn bão đổ bộ vào Thái Ma Lý (Đài Đông, Đài Loan) vào khoảng 13:00 ngày 13 theo giờ địa phương).[171] Mặc dù vậy HKO cho rằng mô hình sử dụng AI vẫn còn một số hạn chế trong việc dự báo cường độ và lượng mưa do bão.[172]

Gió giật trên cấp 17 đã được ghi nhận tại hai hòn đảo nhỏ gần Đài Loan: gió giật 228 km/h tại Lục Đảo, gió giật 225 km/h tại Lan Tự. Gió giật quan trắc được trên đảo Đài Loan tại Phú Cương, Đài Đông là 178 km/h (cấp 15), tại Mỹ Hoà, Thái Ma Lý là 156 km/h (cấp 14).[171] Tại vùng ven biển miền Trung và miền Nam Phúc Kiến, gió mạnh từ cấp 8 đến cấp 11 và giật từ cấp 12 đến cấp 14 đã được ghi nhận, gió giật cao nhất trên đất liền Phúc Kiến là 153 km/h (cấp 14) tại trấn Nam Nhật, huyện Tú Tự.[173]

Áp thấp nhiệt đới Fabian (ATNĐ ngày 8 tháng 8 trên biển Đông)

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại7 tháng 8 – 9 tháng 8
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1006 hPa (mbar)

Vào ngày 7 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã xác định một vùng đối lưu hình thành ở phía tây Luzon, Philippines. Sau đó, nó đi qua phía bắc Luzon. Đầu ngày 8 tháng 8, JMA phân loại hình thái là áp thấp nhiệt đới.[174] Lúc 08:00 PHT (07:00 ICT), PAGASA cũng đã nâng cấp hệ thống lên áp thấp nhiệt đới, đặt tên là Fabian.[175] Vào ngày 9 tháng 8, PAGASA hạ cấp hệ thống xuống thành vùng áp thấp trước khi nó tan dần vào cuối ngày hôm đó.[176] Cũng vào buổi chiều ngày hôm đó, JMA đã không còn công nhận áp thấp là áp thấp nhiệt đới.

Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF) cũng công nhận hình thái là áp thấp nhiệt đới.[177]

Áp thấp nhiệt đới 17W (ATNĐ ngày 16 tháng 8 trên biển Đông)

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại17 tháng 8 – 19 tháng 8
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1000 hPa (mbar)

Tối ngày 16 tháng 8, NCHMF nhận định vùng áp thấp ở vùng biển phía Nam quần đảo Hoàng Sa mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới.[178] Đến sáng ngày 17 tháng 8, JMA cũng nhận định một áp thấp nhiệt đới hình thành gần quần đảo này ở toạ độ 17oN 111oE.[179] Sáng ngày 18, JTWC phát tin TCFA về vùng áp thấp (JTWC định danh là Invest 91W), nhận đinh rằng một vùng mây đối lưu sâu đang phát triển mạnh mẽ trên hoàn lưu xoáy tầng thấp (LLCC), với các dải mây cong ở phía Đông Nam, trường gió của hình thế đang thu hẹp cho thấy quá trình chuyển đổi từ áp thấp gió mùa sang áp thấp nhiệt đới.[180] Đến chiều cùng ngày họ công nhận Invest 91W là áp thấp nhiệt đới.[181] Sáng ngày 19, áp thấp nhiệt đới đi vào đất liền khu vực các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng (tâm áp thấp nhiệt đới đi qua Cửa Ông) và trưa cùng ngày, NCHMF nhận định áp thấp nhiệt đới suy yếu thành một vùng áp thấp.[182][183] Khí áp thấp nhất đo được tại Cửa Ông là 1000,6 hPa.[184]

Ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới đã gây gió giật 125 km/h (cấp 12) tại trấn Xuyên Đảo (Đài Sơn),[185] gió giật 100 km/h (cấp 10) tại quần đảo Thất Châu (gần đảo Hải Nam),[186] gió giật 103 km/h (cấp 11) tại trấn Giang Sơn (Phòng Thành),[187] gió giật 101 km/h (cấp 10) tại trấn Xí Sa (Cảng Khẩu),[188] gió mạnh cấp 7 giật cấp 8 tại đảo Bạch Long Vĩ, gió mạnh cấp 6 giật cấp 9 tại Quảng Hà (Quảng Ninh).[183]

Bão Lingling (Huaning)

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại17 tháng 8 – 23 tháng 8
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  1000 hPa (mbar)

Ngày 16 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) bắt đầu theo dõi một vùng đối lưu nằm cách Căn cứ Không quân Kadena khoảng 305 hải lý (565 km) về phía đông nam, lưu ý rằng nhiễu động này đang ở mức phát triển cận biên cho quá trình hình thành xoáy thuận nhiệt đới.[189] Ngày hôm sau, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã phân loại hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới.[190] Vào lúc 02:00 PHT ngày 18 tháng 8, (PAGASA) cũng nâng cấp vùng áp thấp này thành một áp thấp nhiệt đới và đặt tên là Huaning.[191] Cùng ngày, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) khi hình ảnh hồng ngoại cho thấy tâm hoàn lưu gió tầng thấp (LLCC) một phần lộ ra đang được củng cố trong rãnh gió mùa xoay ngược.[192] Sự phát triển ban đầu bị cản trở bởi gió cắt thẳng đứng từ hướng tây nam kéo dài ở tầng trên và không khí khô ở tầng giữa dọc theo sườn tây của hệ thống,[193] nhưng Huaning dần được tổ chức ổn định, và vào lúc 13:00, JTWC đã định danh nó là 18W. Vào ngày 20 tháng 8, hệ thống này được JTWC phân loại là một bão nhiệt đới,[194] tiếp theo là JMA vào lúc 07:00 ngày 21 tháng 8, và đặt tên cho nó là Lingling. Hình ảnh vệ tinh sau đó cho thấy Lingling đã tái tổ chức với các dải đối lưu quấn quanh một tâm hoàn lưu gió thấp (LLCC) gọn, trong điều kiện thuận lợi bao gồm dòng ra mạnh ở tầng trên, gió cắt từ thấp đến vừa phải, và nhiệt độ bề mặt biển ấm 29–30 °C (84–86 °F).[195] Lingling đã đổ bộ gần Hioki, Kagoshima vào lúc 17:00 giờ Nhật Bản trước khi suy yếu thành một áp thấp nhiệt đới sau đó.[196] Mặc dù hệ thống này không ảnh hưởng trực tiếp đến Philippines, các lớp học tại một số khu vực của Cavite và Cebu đã bị hoãn do mưa lớn liên quan đến cơn bão và gió mùa tây nam.[197] Tại Nhật Bản, các dịch vụ tàu cao tốc Shinkansen ở Kyushu cũng bị ngưng trệ do mưa lớn liên quan đến bão Lingling.[198]

Bão Kajiki (Isang) - Bão số 5

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 8 – 27 tháng 8
Cường độ cực đại150 km/h (90 mph) (10 phút)  950 hPa (mbar)

Ngày 20 tháng 8, một vùng áp thấp đi vào khu vực PAR ở phía đông nam đảo Luzon.[199] Vào ngày 22 tháng 8, PAGASA bắt đầu phát hành các bản tin về một áp thấp nhiệt đới ở phía đông tỉnh Aurora và đặt tên địa phương cho nó là Isang.[200] Sau đó, vào lúc 01:10 UTC, JMA cũng phân loại hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới, trong khi JTWC ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA), cho rằng các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong những ngày tới.[201] Sau đó cùng ngày, Isang đã đổ bộ vào Casiguran, Aurora vào khoảng 09:50 giờ Philippines.[202] Tối ngày 22, JTWC cũng nâng cấp Isang thành áp thấp nhiệt đới, định danh là 19W khi nó tiến vào biển Đông.[203] Sáng ngày 23, JMA nhận định áp thấp nhiệt đới mạnh lên thành cơn bão, với tên quốc tế là Kajiki,[204] NCHMF và JTWC cũng nhận định tương tự và NCHMF gọi bão là bão số 5.[205] Tại thời điểm này, mặc dù một phần các dải mây ở tầng thấp ở phía Đông của tâm bão bị lộ do độ đứt gió (chênh lệch tốc độ gió giữa các tầng khí quyển) có độ lớn trung bình nhưng hình ảnh vệ tinh hồng ngoại tăng cường cho thấy các đỉnh mây đang lạnh đi là dấu hiệu cho thấy bão mạnh lên.[206] Do áp cao cận nhiệt đới ở phía Bắc cơn bão là hình thế dẫn đường cho bão, dự báo đường đi của bão nhìn chung sẽ có xu hướng đi về hướng Tây, hướng đến đảo Hải Nam và đất liền Việt Nam, cùng với độ đứt gió có xu hướng giảm, nhiệt độ nước biển ở bề mặt khoảng 29 °C đến 30 °C, năng lượng nhiệt tích tụ ở đại dương cao (trước khi vượt qua kinh tuyến 110°Đ) và dòng khí quyển thoát ra mạnh về phía hướng Tây thì nhìn chung đây là các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của bão.[206][207] Tối ngày 23, JMA đã nâng cấp Kajiki thành một bão nhiệt đới dữ dội khi nó liên tục mạnh lên trong khi di chuyển về phía Tây dọc theo rìa phía Nam của áp cao cận nhiệt đới.[208] Một bản tin nhanh về bão trong ngày 25, NCHMF xác định tâm bão nằm trên đất liền khu vực ven biển Nghệ An - Hà Tĩnh, cường độ bão mạnh cấp 11 đến cấp 12.[209] Trong bản tin dự báo thời tiết thời hạn tháng, NCHMF giảm cường độ bão khi đổ bộ vào đất liền xuống còn cấp 10, cấp 11.[19] Qua quan trắc radar xác định tâm bão đi qua huyện Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh cũ (lần điều chỉnh cuối cùng năm 2024; hiện nay là địa giới các xã Lộc Hà, Thạch Khê, Thạch Lạc và Đồng Tiến sau sáp nhập năm 2025).

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Kajiki hình thành lúc 13:00 ngày 21 tháng 8, đạt cường độ cực đại đạt 80 kn (150 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 950hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào lúc 13:00 ngày 26 và thời điểm ghi nhận lần cuối cùng là 01:00 ngày 27 tháng 8.[210]

Trong bản tin đầu tiên lúc 11:00 giờ Philippines, PAGASA đã phát cảnh báo Tín hiệu gió bão nhiệt đới số 1 cho toàn bộ các tỉnh thuộc thung lũng Cagayan, Khu hành chính Cordillera, vùng Ilocos, cùng một phần của Nueva Ecija và Aurora.[211] Cơn bão, cùng với gió mùa tây nam, đã gây ra ngập lụt trên diện rộng tại Metro Manila.[212] HKO cũng đã ban hành Tín hiệu chờ số 1 lúc 21:40 giờ Hồng Kông ngày 22 tháng 8 cho toàn lãnh thổ.[213][214][215] Cùng tín hiệu này cũng được treo tại Ma Cao vào lúc 01:00 giờ Ma Cao ngày 23 tháng 8.[216][217][218] Cục Khí tượng Trung Quốc (CMA) và Cục Khí tượng Thuỷ văn Việt Nam (VMHA) đã tiến hành trao đổi thông tin về diễn biến cơn bão với mục đích phòng chống ảnh hưởng của bão.[219]

Hoàn lưu gió mạnh của cơn bão đã gây gió giật 127 km/h (cấp 12) ở đảo Phú Lâm, gió giật 199 km/h (cấp 16) tại một trạm khí tượng ở quận Hải Đường (thuộc Tam Á, Hải Nam).[220] Bão Kajiki cũng gây gió mạnh từ cấp 7 đến cấp 10 tại các trạm ở ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Cụ thể, gió mạnh 20 m/s (72 km/h) (cấp 8) đã được ghi nhận tại Cô Tô (Quảng Ninh), 17 m/s (61 km/h) (cấp 7) tại Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), 24 m/s (86 km/h) (cấp 9) tại Văn Lý (Ninh Bình), 13 m/s (47 km/h) (cấp 6) tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), 23 m/s (83 km/h) (cấp 9) tại Hòn Ngư (Nghệ An), 26,7 m/s (96 km/h) (cấp 10) tại Diễn Châu (Nghệ An), 20 m/s (72 km/h) (cấp 8) tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh) và 17 m/s (61 km/h) (cấp 6) tại Cồn Cỏ (Quảng Trị). Khí áp thấp nhất quan trắc được tại trạm Hà Tĩnh là 979,4 hPa lúc 17:59 ngày 25 tháng 8 năm 2025.[221] Tổng cộng 6 người chết và 2 người mất tích do ảnh hưởng của bão và mưa lớn, lũ, dông lốc tại Việt Nam.[222]

Bão Nongfa (Jacinto) - Bão số 6

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại27 tháng 8 – 31 tháng 8
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  996 hPa (mbar)

Ngày 23 tháng 8, (PAGASA) bắt đầu theo dõi một hệ thống hình thành từ một vùng áp thấp ngay phía đông Surigao del Sur.[223][224][225] Ngày 27 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu theo dõi cùng hệ thống này, xác định nó là một áp thấp nhiệt đới nằm cách bờ tây bắc đảo Luzon khoảng 106 hải lý (196 km). (PAGASA) đã ban hành cảnh báo mưa lớn do tác động kết hợp của vùng áp thấp và gió mùa tây nam.[226][227] Trong khi đó, vào ngày 27 tháng 8, Đài Thiên văn Hồng Kông (HKO) thông báo rằng Tín hiệu chờ số 1 có thể sẽ được ban hành vào buổi tối cùng ngày hoặc sáng hôm sau.[228]

Ngày 30 tháng 8, áp thấp nhiệt đới mạnh lên thành bão, có tên quốc tế là Nongfa. Chiều 30 tháng 8, bão Nongfa đổ bộ vào Hà Tĩnh và Bắc Quảng Trị với cường độ cấp 8 (tâm bão đi qua sát đèo Ngang về phía Bắc, thuộc địa phận thị xã Kỳ Anh cũ, nay là các phường Hoành Sơn và Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh). Tàn dư sau bão đi xa về phía Tây qua địa phận Lào, Thái Lan, Myanmar sang vịnh Bengal và ghi nhận lần cuối ở Ấn Độ, theo JTWC. Khí áp thấp nhất đo được tại Hà Tĩnh 998hPa.[229]

Do ảnh hưởng từ hoàn lưu cơn bão, gió giật mạnh cấp 10 đã được ghi nhận tại quận Hải Đường (trên đảo Hải Nam).[230] Gió mạnh cấp 5 đến cấp 7, giật cấp 6 đến cấp 9 đã được ghi nhận tại một số vị trí ở Việt Nam. Đặc biệt, Quỳnh Lưu ghi nhận gió mạnh 14 m/s (50 km/h) (cấp 7) giật 18 m/s (65 km/h) (cấp 8); Cồn Cỏ ghi nhận gió mạnh 14 m/s (50 km/h) (cấp 7) giật 19 m/s (68 km/h) (cấp 8); Hòn Ngư ghi nhận gió mạnh 16 m/s (58 km/h) (cấp 7) giật 21 m/s (76 km/h) (cấp 9); Sầm Sơn ghi nhận gió mạnh 17 m/s (61 km/h) (cấp 7) giật 17 m/s (61 km/h) (cấp 7).[141]

Bão Peipah (Kiko)

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại2 tháng 9 – 5 tháng 9
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10 phút)  992 hPa (mbar)

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Peihah hình thành lúc 19:00 ngày 2 tháng 9, đạt cường độ cực đại đạt 45 kn (85 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 992 hPa, chuyển đổi thành vùng áp suất thấp lúc 01:00 ngày 6 tháng 9.[231]

Bão Tapah (Lannie) - Bão số 7

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại6 tháng 9 – 9 tháng 9
Cường độ cực đại110 km/h (70 mph) (10 phút)  980 hPa (mbar)

Ngày 5 tháng 9, NCHMF báo cáo sự hình thành của một áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông.[232] NCHMF đã phát đi cảnh báo đầu tiên vào lúc 21:00, trong khi Đài Thiên văn Hồng Kông (HKO) ban hành Tín hiệu chờ số 1 do có một áp thấp nhiệt đới nằm trong phạm vi 800 km tính từ lãnh thổ.[233] Cơ quan Khí tượng và Địa vật lý Ma Cao (SMG) cũng thông báo kế hoạch ban hành cùng tín hiệu này ngay sau nửa đêm.[234] Đài Thiên văn Hồng Kông (HKO) đã ban hành Tín hiệu chờ số 1.[nb 1] vào lúc 22:20 HKT (14:00 UTC) ngày 5 tháng 9.[235] Cùng tín hiệu này cũng được SMG treo vào lúc 00:30 MST ngày 6 tháng 9 (16:30 UTC).[236][237][238]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Tapah hình thành lúc 01:00 ngày 6 tháng 9, đạt cường độ cực đại 60 kn (110 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 980 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới lúc 19:00 ngày 8 tháng 9 và thời điểm ghi nhận là xoáy thuận nhiệt đới lần cuối cùng là 01:00 ngày 9 tháng 9.[239]

Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão Tapah, có 6 trạm khí tượng ghi nhận gió mạnh (gió duy trì) từ cấp 10 trở lên. Sức gió duy trì 138 km/h (cấp 13) và gió giật 150 km/h (cấp 14) đã được ghi nhận tại trấn Xuyên Đảo, thành phố Đài Sơn, Giang Môn, sức gió duy trì 116 km/h (cấp 11) và gió giật 140 km/h (cấp 13) đã được ghi nhận tại trấn Nam Thủy thuộc quận Kim Loan, thành phố Châu Hải, sức gió duy trì 99 km/h (cấp 10) và gió giật 126 km/h (cấp 12) đã được ghi nhận trấn Đông Bình thuộc quận Dương Đông, thành phố Dương Giang.[240]

Bão Mitag (Mirasol) - Bão số 8

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại15 tháng 9 – 21 tháng 9
Cường độ cực đại95 km/h (60 mph) (10 phút)  992 hPa (mbar)

Ngày 15 tháng 9, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) báo cáo một vùng áp thấp hình thành cách Legazpi, Albay khoảng 90 hải lý (167 km) về phía đông-đông bắc. Nhiễu động này cũng nằm trong môi trường tương đối thuận lợi, đặc trưng bởi nhiệt độ bề mặt biển ấm (30 °C), dòng ra hướng xích đạo ở tầng cao ở mức vừa phải, và gió cắt thẳng đứng thấp (10–15 hải lý/giờ, tương đương 19–28 km/giờ, 12–17 dặm/giờ).[241] Ngày hôm sau, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) cũng bắt đầu phát hành khuyến cáo và đánh dấu cùng hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới vào lúc 15:00 JST (06:00 UTC). Vào lúc 14:00 PHT (10:00 UTC), PAGASA đã định danh nhiễu động này là một áp thấp nhiệt đới và đặt tên là Mirasol.[242] Sau đó, vào lúc 03:30 UTC, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA), khi hệ thống được đánh giá có khả năng hình thành cao, thể hiện một tâm hoàn lưu gió thấp (LLCC) đang được củng cố với các dải mây đối lưu quấn quanh.[243]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Mitag hình thành lúc 19:00 ngày 15 tháng 9, đạt cường độ cực đại 50 kn (95 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 992 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới lúc 01:00 ngày 20 tháng 9 và thời điểm ghi nhận là xoáy thuận nhiệt đới lần cuối cùng là 01:00 ngày 21 tháng 9.[244]

Ảnh hưởng của bão đã gây gió mạnh cấp 11 tại một số nơi ở huyện Huệ Lai, địa cấp thị Yết Dương: Tốc độ gió duy trì 104 km/h và gió giật 124 km/h (gió mạnh cấp 11 giật cấp 12) đã được ghi nhận tại trấn Tĩnh Hải (trước khi bão đổ bộ, có kết hợp với ảnh hưởng của dông),[245] tốc độ gió duy trì 112 km/h và gió giật 128 km/h (gió mạnh cấp 11 giật cấp 12) đã được ghi nhận tại trấn Thần Tuyền.[246] Lượng mưa tại hương Lương Điền, huyện Yết Tây, địa cấp thị Yết Dương do ảnh hưởng của bão từ ngày 18 lên tới 439,6mm.[246]

Siêu bão Ragasa (Nando) - Bão số 9

Siêu bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại17 tháng 9 – 25 tháng 9
Cường độ cực đại205 km/h (125 mph) (10 phút)  905 hPa (mbar)

Vào ngày 16 tháng 9, một vùng đối lưu đã được JTWC ghi nhận lần đầu tiên ở khoảng 617 km về phía bắc của Yap.[247] Phân tích môi trường cho thấy các điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành xoáy thuận nhiệt đới, được đặc trưng bởi độ đứt gió thẳng đứng thấp, sự thoát khí hướng xích đạo được cải thiện, và nhiệt độ bề mặt biển ấm. JMA cũng bắt đầu đưa ra các khuyến cáo khi họ công nhận nhiễu động này là một áp thấp nhiệt đới vào ngày hôm sau.[248] Tuy nhiên, các điều kiện sau đó trở nên từ cận biên đến thuận lợi vào thời điểm đó, với một trung tâm hoàn lưu rộng kém tổ chức và mây đối lưu trung tâm đang tan dần.[249] Hệ thống này đã đi vào PAR vào khoảng 20:00 PHT (12:00 UTC), nơi nó được PAGASA phân loại là một áp thấp nhiệt đới và được gọi là Nando.[250] Khi đi vào Biển Philippines, Nando đã gặp điều kiện rất thuận lợi khi nó di chuyển về phía tây bắc. Sáng sớm ngày hôm sau lúc 03:00 JST, JMA đã nâng cấp Ragasa lên thành một cơn bão nhiệt đới dữ dội,[251] với hình ảnh vệ tinh mô tả một khu vực đối lưu sâu dai dẳng gần trung tâm xoáy tầng thấp (LLCC).[252] Vào lúc 04:00, JTWC đã nâng cấp Ragasa lên mức bão cuồng phong (typhoon) vì nó vẫn ở trong môi trường rất thuận lợi, với đặc điểm giống như mắt bắt đầu hình thành .JMA sau đó đã làm theo vào lúc 15:00 JST, nâng cấp Ragasa thành bão khi hệ thống này nhanh chóng mạnh lên.[253] Hình ảnh vệ tinh cho thấy các dải đối lưu đối xứng bao quanh rìa phía bắc và phía nam của cơn bão thành một mắt bão lởm chởm.[254] Sau đó, Ragasa chuyển sang đường đi về phía tây bắc và JTWC đã báo cáo.[cần dẫn nguồn] [255]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Ragasa hình thành lúc 01:00 ngày 17 tháng 9, đạt cường độ cực đại 110 kn (205 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 905 hPa, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới lúc 13:00 ngày 25 tháng 9 và thời điểm ghi nhận là xoáy thuận nhiệt đới lần cuối cùng là 19:00 ngày 25 tháng 9.[256]

Giàn khoan dầu Huệ Châu đo được tốc độ gió duy trì 182 km/h và gió giật 225 km/h (tương ứng với gió mạnh cấp 15 giật trên cấp 17). Tốc độ gió duy trì 172 km/h và gió giật 211 km/h (gió mạnh cấp 15 giật cấp 17) được ghi nhận tại đảo Đảm Can, Châu Hải.[257] Tại đảo Thượng Xuyên bản đồ thuộc huyện cấp thị Đài Sơn, trạm khí tượng quốc gia trên đảo này ở độ cao 21,9m so với mực nước biển quan trắc được tốc độ gió duy trì 171 km/h và gió giật 234 km/h (gió mạnh cấp 15 giật trên cấp 17, phá kỉ lục lịch sử về trị số gió giật lớn nhất mà một trạm khí tượng cấp quốc gia tại Quảng Đông quan trắc được), một trạm khác ở độ cao 260m so với mực nước biển đo được tốc độ gió duy trì 165 km/h gió giật 241 km/h (gió mạnh cấp 14 giật trên cấp 17).[258][259] Trên đất liền Quảng Đông, tốc độ gió duy trì 143 km/h và gió giật 181 km/h (gió mạnh cấp 13 giật cấp 15) ghi nhận tại Đại Bằng, Thâm Quyến,[257] gió giật 196 km/h (cấp 16) được đo tại trạm khí tượng quốc gia ở Dương Giang,[260] gió mạnh cấp 10 đã được ghi nhận tại các trấn Cảng Môn (huyện Toại Khê),[261] Tân Đồng (địa cấp thị Cao Châu).[262]

Theo NCHMF, sáng ngày 25 tháng 9, bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới sau khi đi vào vùng biển Quảng Ninh; lúc 10 giờ (03:00 UTC), áp thấp nhiệt đới mạnh cấp 7, giật cấp 9,[263][264][265] lúc 12 giờ (05:00 UTC) cùng ngày, áp thấp nhiệt đới suy yếu từ cơn bão đã đổ bộ vào tỉnh Quảng Ninh,[266] tâm áp thấp nhiệt đới đi qua khu vực thành phố Móng Cái cũ (nay là các phường Móng Cái 1, Móng Cái 2, Móng Cái 3).[267] Tại Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) ghi nhận gió mạnh cấp 7, giật cấp 8, sóng cao 2m; Quảng Hà (Quảng Ninh) ghi nhận gió mạnh cấp 6, giật cấp 8; Cửa Ông (Quảng Ninh) có gió mạnh cấp 6; Móng Cái (Quảng Ninh), Phù Liễn (Hải Phòng), Văn Lý (Ninh Bình) và Vũ Ninh (Hưng Yên) có gió giật cấp 6.[264] Khí áp thấp nhất được ghi nhận tại Móng Cái (Quảng Ninh), áng chừng trong khoảng 1000 đến 1003 hPa, ghi nhận vào sáng ngày 25 tháng 9 (căn cứ theo giá trị khí áp hiển thị tại phiên dự báo lúc 10 giờ ngày 25 tháng 9 của ngành khí tượng Việt Nam).[264] Sau khi đi vào đất liền tỉnh Quảng Ninh, áp thấp nhiệt đới tiếp tục suy yếu thêm thành một vùng áp thấp và bản tin cuối cùng về bão số 9 cũng đã được thông báo vào 14 giờ cùng ngày.[268] Bão làm 21 nhà tốc mái, 142 ha lúa và hoa màu bị ngập (chủ yếu tại Quảng Ninh).[269] Tuy nhiên, hoàn lưu bão gây mưa lớn tại miền Bắc và nối tiếp sau đó bởi hai cơn bão số 10, 11 (Bualoi và Matmo), đã gây lũ lụt lịch sử trên một số sông ở Bắc Bộ.

Siêu bão Neoguri

Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại17 tháng 9 – 28 tháng 9
Cường độ cực đại185 km/h (115 mph) (10 phút)  925 hPa (mbar)

Vào ngày 17 tháng 9, một vùng đối lưu đã hình thành ở cách 406 km so với Đảo Wake, với ảnh đa phổ cho thấy một LLCC mờ nhạt và các dải mây đối lưu bùng phát quấn quanh rìa phía tây.[270] JMA cũng bắt đầu phát hành các bản tin về cùng hệ thống này, công nhận nó là một áp thấp nhiệt đới lúc 21:00 JST.[271]

Theo dữ liệu Best Track của JMA, Neoguri hình thành lúc 19:00 ngày 17 tháng 9, đạt cường độ cực đại 100 kn (185 km/h), trị số áp suất mực biển tối thiểu trong bão lúc thấp nhất là 925 hPa, thời điểm ghi nhận là xoáy thuận nhiệt đới lần cuối cùng là 01:00 ngày 28 tháng 9.[272]

Bão Bualoi (Opong) - Bão số 10

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 9 – 29 tháng 9
Cường độ cực đại120 km/h (75 mph) (10 phút)  975 hPa (mbar)

Vào ngày 22 tháng 9, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng nhiễu động hình thành cách khoảng 152 km về phía đông bắc Yap. Ảnh vệ tinh đa phổ cho thấy một vùng đối lưu rộng, rời rạc, bùng phát từng đợt, với sự hội tụ gió tầng thấp ở mức vừa phải dọc theo rìa phía tây bắc. Vào thời điểm đó, nhiễu động nằm trong môi trường biên, đặc trưng bởi độ đứt gió đứng cao, dòng thoát khí hướng cực ở mức trung bình, và nhiệt độ bề mặt biển ấm.[273]Ngày hôm sau, lúc 03:00 giờ JST (18:00 UTC), JMA cũng bắt đầu ban hành các bản tin về hệ thống này, đánh dấu nó là một áp thấp nhiệt đới.[274]Sau đó, nhiễu động dần có tổ chức hơn trong điều kiện môi trường thuận lợi, và JTWC đã ban hành một cảnh báo hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới vào lúc 02:00 UTC, với khả năng phát triển cao.[275]Cùng ngày, lúc 16:00 PHT (08:00 UTC), nhiễu động đi vào PAR và được PAGASA đặt tên địa phương là Opong.[276] Rạng sáng ngày 24 tháng 9, JTWC chỉ định hệ thống này là 26W, trong khi JMA đặt tên cho nó là Bualoi vào lúc 03:00 JST (18:00 UTC).[277] Đêm 28 tháng 9, bão đổ bộ vào khu vực Hà Tĩnh - Bắc Quảng Trị với cường độ cấp 11 giật cấp 14 theo NCHMF.[22] Tâm bão được xác định đi vào khu vực huyện Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh cũ của tỉnh Hà Tĩnh (nay là các phường Hoành Sơn, Vũng Áng, Hải Ninh, các xã Kỳ Khang, Kỳ Anh) ở khoảng 18,2 độ vĩ Bắc, 106,2 độ kinh Đông khoảng 0-1h ngày 29 tháng 9.[21] JTWC ban hành khuyến cáo cuối cùng vào ngày 29 tháng 9 khi cơn bão di chuyển vào đất liền qua Lào.[278]

Do ảnh hưởng của bão, một số trạm đã ghi nhận gió mạnh cấp 11 như trạm Diễn Châu (Nghệ An), trạm Hoành Sơn (Hà Tĩnh);[279] trạm Bắc Trạch (trạm di động đặt tại thôn Tiền Phong, xã Bắc Trạch, Quảng Trị) ghi nhận gió mạnh 90 km/h (cấp 10) giật 141 km/h (cấp 13),[141][280] gió mạnh 101 km/h (cấp 10) giật 115 km/h (cấp 11) đã được ghi nhận tại trạm Văn Lý[281][282] (xã Hải Tiến, Ninh Bình); trạm Hòn Ngư (Nghệ An) 123 km/h (cấp 12) giật 151 km/h (cấp 14),[141] và trạm Kỳ Anh (Hà Tĩnh) ghi nhận gió mạnh cấp 10.[279] Cá biệt, trạm Cảng Vũng Áng ghi nhận gió mạnh 127 km/h (cấp 12) giật 174 km/h (cấp 15).[283] Khí áp thấp nhất do bão trên đất liền Việt Nam ghi nhận tại Hoành Sơn (Hà Tĩnh) là 975,5 hPa.[141] Tính tới ngày 3 tháng 10, đã có 53 người chết, 14 người mất tích tại Việt Nam do các loại hình thiên tai khác nhau từ bão Bualoi. Thiệt hại kinh tế hơn 16,6 nghìn tỉ đồng (trên 659,7 triệu USD) được ghi nhận theo ước tính sơ bộ, trong đó Hà Tĩnh thiệt hại 6.000 tỉ đồng, Nghệ An thiệt hại 2.136 tỉ đồng, Lào Cai thiệt hại 2.750 tỉ đồng, Tuyên Quang thiệt hại 3.000 tỉ đồng.[284] Vì thiệt hại nghiêm trọng do bão, Cục Khí tượng thủy văn đã đề xuất loại tên Bualoi ra khỏi danh sách đặt tên luân phiên.[285]

Bão Matmo (Paolo) - Bão số 11

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại1 tháng 10 – 9 tháng 10
Cường độ cực đại130 km/h (80 mph) (10 phút)  975 hPa (mbar)

Vào ngày 29 tháng 9, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã ghi nhận một vùng áp thấp nằm cách khoảng 241 hải lý (446 km) về phía bắc-đông bắc của đảo Yap. Ảnh vệ tinh cho thấy vùng xoáy yếu với hoạt động đối lưu rời rạc, chủ yếu tập trung dọc theo rìa phía tây của hệ thống.[286] Nhiễu động sau đó đi vào PAR và được PAGASA đặt tên là Paolo vào khoảng 08:00 (PHT) ngày 1 tháng 10 (00:00 UTC). Cùng ngày, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) cũng bắt đầu phát hành các bản tin, phân loại hệ thống này là áp thấp nhiệt đới.[287][288] JTWC cũng đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) vào cuối ngày hôm đó, dự báo khả năng hình thành.[289]

Tới sáng ngày 02 tháng 10, JTWC đã nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới với tên quốc tế là Matmo.[cần dẫn nguồn] Đến chiều tối ngày 3 tháng 10, Matmo đi vào Biển Đông và trở thành cơn bão số 11.

Một số nơi vùng ven biển và vùng biển tỉnh Quảng Đông đã ghi nhận gió mạnh cấp 14 như sức gió duy trì 152 km/h và gió giật 205 km/h –tương ứng với gió mạnh cấp 14 giật cấp 17 đã được ghi nhận tại quận Pha Đầu, địa cấp thị Trạm Giang; sức gió duy trì 158 km/h và gió giật 202 km/h –tương ứng với gió mạnh cấp 14 đã được ghi nhận tại một trạm trên biển ở độ cao 37m so với mực nước biển.[290] Tính đến 22:00 giờ địa phương ngày 8 tháng 10, trên địa bàn thành phố (địa cấp thị) Trạm Giang có khoảng 1,9573 triệu người bị ảnh hưởng, tổng thiệt hại kinh tế do bão trực tiếp gây ra là khoảng 11,11 tỷ nhân dân tệ trên toàn thành phố.[291] Gió giật cấp 17 đã được ghi nhận quần đảo Thất Châu, huyện cấp thị Văn Xương, tỉnh Hải Nam với trị số gió giật là 206 km/h.[292] Tại Quảng Tây, vùng biển của khu tự trị này (ở Bắc Vịnh Bắc Bộ) có gió mạnh cấp 11–15 và gió giật cấp 14–16, sức gió duy trì 172 km/h và gió giật 192 km/h –tương ứng với gió mạnh cấp 15 giật cấp 16 đã được ghi nhận tại đảo Tà Dương (bản đồ) nằm trên vịnh Bắc Bộ, vùng ven biển Quảng Tây nhìn chung có gió mạnh cấp 8–10 và giật cấp 12–13.[293][294]

Bão Matmo đổ bộ vào Phòng Thành, Quảng Tây, Trung Quốc rạng sáng 6 tháng 10. Tại Việt Nam, trạm Bạch Long Vĩ đã có gió mạnh 18 m/s (65 km/h) (cấp 8), giật 23 m/s (83 km/h) (cấp 9); trạm Mẫu Sơn (Lạng Sơn) có gió mạnh cấp 8, giật cấp 9 (tuy nhiên trong bản báo cáo của Việt Nam tại Ủy ban Bão Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP/WMO Typhoon Committee) nhằm phục vụ Hội thảo lần thứ 20, con số tại trạm này nhỏ hơn, với gió duy trì mạnh 14 m/s (50 km/h) (cấp 7) giật 19 m/s (68 km/h) (cấp 8));[141][295] trạm Đông Xuyên (Hải Phòng) có gió mạnh cấp 6, giật cấp 7.[295] Một số trạm ở Quảng Ninh ghi nhận gió mạnh cấp 6. Khí áp thấp nhất đo được ở Móng Cái (Quảng Ninh) 993,9 hPa ngày 6 tháng 10.[296] Chiều 6 tháng 10 bão suy yếu thành vùng áp thấp trên khu vực biên giới giữa tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) và phía Nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).[24] Hoàn lưu sau bão đã gây ra mưa lớn trên diện rộng tại miền Bắc Việt Nam, với tổng lượng mưa tính từ 19:00 ngày 6 tháng 10 đến 16:00 ngày 7 tháng 10 vượt 500mm tại một số nơi tại tỉnh Thái Nguyên như Hóa Thượng 564mm; Gia Bảy 541mm,[297] dẫn đến trận lũ lụt được coi là lịch sử tại địa bàn tỉnh.[298] Mực nước trên sông Cầu tại trạm Gia Bảy vượt mức báo động 3 và cao hơn 1,09m so với mực nước lũ do bão Yagi năm 2024 gây ra.[299] Khoảng 200.000 nhà ở Thái Nguyên bị ngập, bùn non và rác thải tràn lan trên các tuyến phố sau lũ.[298] Bão và mưa lũ sau bão đã khiến 16 người chết và 2 người mất tích tại Việt Nam, trong đó 7 người chết và 1 người mất tích ghi nhận tại tỉnh Thái Nguyên và tổng thiệt hại kinh tế lên tới trên 16.920 tỷ đồng (trên 673,7 triệu USD).[300]

Siêu bão Halong

Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại4 tháng 10 – 10 tháng 10
Cường độ cực đại185 km/h (115 mph) (10 phút)  935 hPa (mbar)

Vào ngày 3 tháng 10, một vùng đối lưu rộng hình thành cách đảo Iwo Jima khoảng 264 hải lý (489 km) về phía đông nam, với các vùng mây đối lưu phát triển mạnh dọc theo rìa phía đông, nhưng chưa có trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) rõ ràng. Tại thời điểm đó, hệ thống nằm trong môi trường chỉ hơi thuận lợi, được đặc trưng bởi độ đứt gió thấp đến trung bình (15–20 hải lý/giờ), nhiệt độ mặt biển ấm (28–29 °C), và sự thoát khí ở tầng cao ở mức trung bình.[301] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) sau đó cũng làm theo vào sáng sớm ngày hôm sau, phân loại hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới.[302] Trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) của hệ thống sau đó bị che khuất, do các vùng đối lưu mạnh liên tục hình thành ngay phía trên trung tâm.[303] Bão Halong khiến cho hai người mất tích và một người thiệt mạng ở Alaska.[304]

Bão Nakri (Quedan)

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại6 tháng 10 – 14 tháng 10
Cường độ cực đại130 km/h (80 mph) (10 phút)  970 hPa (mbar)

Vào ngày 6 tháng 10, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) phát hiện một vùng áp thấp có cấu trúc rời rạc hình thành cách phía đông nam đảo Guam khoảng 205 hải lý, với ảnh vệ tinh cho thấy một vùng đối lưu mạnh kéo dài nằm ở phần rìa phía nam của hệ thống. Phân tích môi trường cho thấy nhiễu động này nằm trong điều kiện chỉ hơi thuận lợi, được đặc trưng bởi độ đứt gió trung bình (15–20 hải lý/giờ), sự thoát khí ở tầng cao hướng nam ở mức trung bình, và nhiệt độ mặt biển ấm (29–30 °C).[305] Cuối ngày hôm đó, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã phân loại nhiễu động này thành một áp thấp nhiệt đới, nằm tại khu vực 13°B 147°Đ / 13°B 147°Đ / 13; 147.[306] Sau đó, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) vào lúc 03:00 UTC, cho biết khả năng hình thành bão là rất cao.[307] Cả JMA và JTWC đều nâng cấp hệ thống này lên thành bão nhiệt đới vào cuối ngày 8 tháng 10, với JMA đặt tên là Nakri và JTWC chỉ định mã hiệu là 29W, khi cơn bão tiếp tục mạnh lên dần trong điều kiện môi trường thuận lợi.[308][309][310] Vào lúc 12:40 giờ (PHT) ngày 9 tháng 10 (04:40 UTC), hệ thống đã đi vào Khu vực Trách nhiệm của Philippines (PAR) và được PAGASA đặt tên là Quedan.[311] Mặc dù ở trên vùng biển ấm, độ đứt gió thẳng đứng và môi trường không khí khô đã ngăn cản bão Nakri mạnh lên thêm vào thời điểm đó, khi nó gần như đứng yên gần quần đảo Ryukyu.[312] Vào khoảng 03:00 giờ (JST) ngày 12 tháng 10 (18:00 UTC ngày 11 tháng 10), JMA đã nâng cấp Nakri lên thành bão nhiệt đới mạnh, khi nó di chuyển chậm theo hướng bắc - đông bắc.[313] Sau đó, Nakri di chuyển về phía đông - đông bắc, hướng đến khu vực phía nam của Trại Fuji (Camp Fuji), và dần mạnh lên thành bão cấp 1 theo thang phân loại của JTWC vào tối hôm đó.JMA cũng theo sau và nâng cấp Nakri lên thành bão vào sáng sớm ngày 13 tháng 10.[314][315] Sự suy yếu dần dần diễn ra vào cuối ngày hôm đó khi cơn bão đi vào vùng có điều kiện thời tiết bất lợi.[316] Khi di chuyển qua vùng áp suất baroclinic vào ngày 15 tháng 10, JTWC đã ngừng phát hành các bản tin về Nakri khi cơn bão bắt đầu quá trình chuyển đổi thành xoáy thuận ngoài nhiệt đới.[317]Khi Nakri đi gần đảo Hachijō-jima, tốc độ gió duy trì được ghi nhận đạt 153,7 km/giờ (95,5 dặm/giờ), trong khi lượng mưa đạt hơn 130 milimét (5,1 inch) trong vòng 12 giờ.[318]

Bão Fengshen (Ramil) - Bão số 12

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại12 tháng 10 – 23 tháng 10
Cường độ cực đại100 km/h (65 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Vào ngày 13 tháng 10, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu theo dõi một áp thấp nhiệt đới hình thành tại khu vực khoảng 05°B 148°Đ / 5°B 148°Đ / 5; 148[319] Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) sau đó cũng theo dõi hệ thống vào cuối ngày hôm đó, ghi nhận rằng vùng đối lưu còn tổ chức kém dọc theo rìa phía nam. Áp thấp nhiệt đới này nằm trong một môi trường tương đối thuận lợi, được đặc trưng bởi nhiệt độ mặt biển rất ấm, sự thoát khí hướng xích đạo ở mức trung bình, và độ đứt gió thẳng đứng thấp.[320] Sau vài giờ, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) tuyên bố rằng hệ thống đã suy yếu thành một vùng áp thấp và ngừng phát hành các bản tin cảnh báo vào ngày 15 tháng 10. Trong khi đó,JTWC vẫn tiếp tục theo dõi nhiễu động này khi nó di chuyển về phía nam đảo Guam, với ảnh vệ tinh cho thấy cấu trúc dạng sóng và không có trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) rõ ràng, mặc dù nằm trong môi trường khí quyển thuận lợi.[321] Vào ngày 16 tháng 10, JMA phát hành lại các bản tin cảnh báo và bắt đầu theo dõi hệ thống này một lần nữa khi nó di chuyển về phía tây, hướng đến vùng biển phía đông Philippines.[322] Sau đó, nhiễu động đi vào Khu vực Trách nhiệm của Philippines (PAR) vào lúc 15:00 giờ chuẩn Philippines (PHT) ngày 16 tháng 10 (07:00 UTC),[323] và được đặt tên là Ramil vào sáng sớm ngày hôm sau.[324] Ảnh vệ tinh cũng cho thấy một trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) rộng đang dần được củng cố, nằm bên trong vùng đối lưu mạnh và kéo dài liên tục.[325] Ramil được ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) vào lúc 03:00 UTC, cho thấy khả năng hình thành bão là rất cao.[326] Khi hệ thống tiếp tục được củng cố ổn định, JMA đã đặt tên cho vùng nhiễu động này vào lúc 04:40 JST (19:40 UTC) ngày 18 tháng 10, với tên gọi Fengshen.[327] Sau đó, vào lúc 03:00 UTC, JTWC cũng làm theo, đặt tên Fengshen là áp thấp nhiệt đới 30W.

Vào ngày 17 tháng 10, Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) bắt đầu ban hành Cảnh báo Gió Cấp độ số 1 (Wind Signal No. 1) cho toàn bộ các khu vực gồm: Albay, đảo Burias, Camarines Norte, Camarines Sur, Catanduanes, Northern Samar, quần đảo Polillo, Sorsogon, cùng phía đông và nam của tỉnh Quezon, và phía bắc của Eastern Samar và Samar.[328]

Do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão kết hợp với không khí lạnh: gió giật 192 km/h (cấp 16) ghi nhận tại Đá Bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa, gió giật 126 km/h tại trấn Bảo Thành, huyện Bảo Đình trên đảo Hải Nam (Trung Quốc), tổng lượng mưa từ ngày 20 đến ngày 22 cao nhất ghi nhận trên đảo Hải Nam (Trung Quốc) đạt 393,3mm đo tại trấn Đông Úc, huyện cấp thị Vạn Ninh.[329]

Áp thấp nhiệt đới Salome (ATNĐ tháng 10 trên biển Đông)

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại20 tháng 10 – 23 tháng 10
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1004 hPa (mbar)

Vào lúc 18:00 UTC ngày 20 tháng 10, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu theo dõi một áp thấp nhiệt đới yếu. Đến ngày 21 tháng 10, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) cũng bắt đầu giám sát hệ thống này như một nhiễu động nhiệt đới, nằm cách khoảng 20 hải lý (37 km) về phía đông nam đảo Ishigakijima. Ảnh vệ tinh cho thấy một vùng đối lưu bùng phát nhưng chưa có tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) rõ ràng, nằm trong điều kiện biên giới không quá thuận lợi.[330] Vào lúc 00:00 UTC ngày hôm sau, PAGASA cũng làm theo và đặt tên cho áp thấp nhiệt đới này là Salome.[331] Rạng sáng ngày 23 tháng 10, PAGASA đã nâng cấp Salome thành bão nhiệt đới, mặc dù các cơ quan khác không công nhận cường độ này.[332] Tuy nhiên, PAGASA sau đó đã hạ cấp Salome trở lại thành một áp thấp nhiệt đới.[333] Và sau đó cùng ngày, PAGASA đã phân loại lại Salome thành một vùng áp thấp, trong khi JMA cũng ngừng phát hành các bản tin về hệ thống này.[334]Vào ngày 22 tháng 10, Cảnh báo tín hiệu bão số 2 được ban hành cho toàn bộ tỉnh Batanes, trong khi Cảnh báo tín hiệu số 1 được ban hành cho khu vực phía tây quần đảo Babuyan và phía tây bắc tỉnh Ilocos Norte.[335]

Bão Kalmaegi (Tino) - Bão số 13

Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại31 tháng 10 – 7 tháng 11
Cường độ cực đại165 km/h (105 mph) (10 phút)  950 hPa (mbar)

Một vùng đối lưu hình thành vào ngày 30 tháng 10, nằm cách Yap khoảng 313 hải lý (580 km) về phía đông đông nam, với hình ảnh vệ tinh cho thấy hoạt động đối lưu mạnh đang luân chuyển quanh một tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) còn yếu và tổ chức kém. Hệ thống này nằm trong môi trường thuận lợi cho sự hình thành xoáy thuận nhiệt đới.[336] Vào ngày hôm sau, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) phân loại hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới. Sau đó, vào khoảng 02:00 UTC ngày 1 tháng 11, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) ban hành Cảnh báo hình thành xoáy thuận nhiệt đới (TCFA), cho biết khả năng hình thành bão là cao khi hệ thống di chuyển về phía tây tây bắc.[337] Bảy giờ sau, hệ thống được chỉ định là 31W khi nó tiếp tục tổ chức dọc theo rìa tây nam của dải áp cao cận nhiệt đới.[338] Sau đó, 31W mạnh lên thành bão vào khoảng 22:30 JST (13:30 UTC) khi vùng đối lưu sâu tiếp tục tập trung chặt lại, với khối mây dày đặc trung tâm (CDO) đối xứng che khuất tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) và được JMA đặt tên là Kalmaegi.[339][340]Lúc 19 giờ ngày 6 tháng 11, bão đổ bộ vào đất liền tỉnh Đắk Lắk - Gia Lai với cường độ cấp 11, 12, tâm bão đi vào phía Bắc khu vực thị xã Sông Cầu cũ (Phú Yên, nay thuộc Đắk Lắk).[341] Do ảnh hưởng của bão, một số trạm trạm đã ghi nhận gió mạnh từ cấp 8 trở lên, một số trạm của tỉnh Gia Lai đo được các cơn gió từ cấp 9 đến cấp 11 như trạm Quy Nhơn đo được gió mạnh 108 km/h (cấp 11) và gió giật 144 km/h (cấp 13), trạm An Nhơn đo được gió mạnh 108 km/h (cấp 11) và gió giật cao nhất trong lịch sử của trạm là 158 km/h (cấp 14), trạm Ayunpa đo được gió mạnh 94 km/h (cấp 10) và gió giật 108 km/h (cấp 11); trạm An Khê đo được gió mạnh 79 km/h (cấp 9) và gió giật 90 km/h (cấp 10),[342] trạm Phù Cát đo được gió cấp 9,[27] gió mạnh cấp 8 được ghi nhận tại một số trạm khác như Lý Sơn (Quảng Ngãi), Hội An (Đà Nẵng), Dung Quất (Đà Nẵng), Hoài Nhơn (Gia Lai).[27] Khí áp thấp nhất ghi nhận trong cơn bão trên đất liền Việt Nam tại Quy Nhơn là 967 hPa lúc 19h05.[141] Ở khu vực từ Huế đến Khánh Hòa đã có mưa to, một số trạm ghi nhận mưa trên 170mm như: trạm Xuân Sơn Nam (Đắk Lắk) 243mm, Đắk Pling (Gia Lai) 185mm, Trà Thanh (Quảng Ngãi) 203mm.[341] Bão Kalmaegi làm 6 người chết và tổng thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 12.769 tỷ đồng, bao gồm: Gia Lai: 10.132 tỷ đồng,[343] Đắk Lắk 2.299 tỷ đồng,[344] Quảng Ngãi 306,65 tỷ đồng,[344] Lâm Đồng 31,7 tỷ đồng.[344]

Siêu bão Fung-wong (Uwan) - Bão số 14

Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại3 tháng 11 – 13 tháng 11
Cường độ cực đại175 km/h (110 mph) (10 phút)  935 hPa (mbar)

Vào ngày 3 tháng 11, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng đối lưu hình thành ở khoảng 300 hải lý (556 km) về phía đông bắc của Chuuk, với hình ảnh vệ tinh cho thấy một tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) kém rõ ràng cùng những đợt đối lưu cục bộ tập trung ở phía nam của hệ thống. Tuy nhiên, vùng nhiễu động này nằm trong một môi trường thuận lợi, được đặc trưng bởi độ đứt gió thẳng đứng thấp (5–19 hải lý/giờ), thoát khí tầng cao trung bình theo hướng cực, và nhiệt độ bề mặt biển ấm từ 29–30 °C (84–86 °F).[345] Sau đó trong cùng ngày, JMA cũng theo dõi và phân loại vùng nhiễu động này thành một áp thấp nhiệt đới. Vào ngày 6 tháng 11, 32W được công nhận là bão và được JMA đặt tên là Fung-wong.[346]

Vào lúc 16:00 (9:00 UTC) ngày 7 tháng 11, bão đi vào Khu vực Trách nhiệm của Philippines (PAR), và được PAGASA đặt tên là Uwan.[347]

Khi đến Biển Đông, bão đổi hướng, vòng về phía Đông Bắc, hướng tới Đài Loan.[348]

Bão gây ra lũ lụt và lở đất ở Philippines làm 27 người chết, 36 người bị thương và 2 người mất tích.[349] Bão còn làm 95 người bị thương

Bão Koto (Verbena) - Bão số 15

Bão cuồng phong mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại23 tháng 11 – 3 tháng 12
Cường độ cực đại140 km/h (85 mph) (10 phút)  965 hPa (mbar)

Ngày 23 tháng 11 năm 2025, một vùng áp thấp hình thành cách 317 km về phía tây tây bắc của Palau, với đối lưu bùng phát quanh vùng hoàn lưu rộng và các dải mây hình thành ở phía nam hệ thống.[350] Vào lúc 07:00 (00:00 UTC), Cục Quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) đánh giá hệ thống có xác suất cao hình thành xoáy thuận nhiệt đới. Sáng hôm sau, cơ quan này nâng cấp hệ thống thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên là Verbena.[351] Đến 12:30 (05:30 UTC) ngày 24 tháng 11, Verbena đổ bộ vào Bayabas, tỉnh Surigao del Sur ở miền Nam Philippines. Ngày 25 tháng 11, Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp (JTWC) nâng cấp hệ thống thành bão nhiệt đới và đổi định danh từ 92W sang 33W.[352] Vào lúc 22:00 giờ UTC+7 (15:00 UTC) cùng ngày, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) chính thức công nhận hệ thống là bão nhiệt đới và đặt tên quốc tế là Koto.[353] Đồng thời, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia Việt Nam (NCHMF) phân loại đây là Bão số 15 trong năm 2025.[354]

Ngày 27 tháng 11, Koto kết hợp với rãnh áp thấp gây ra lũ lụt và sạt lở đất khiến hai người mất tích tại Philippines, làm trầm trọng thêm những ảnh hưởng còn lại từ các cơn bão gần đây là Kalmaegi và Fung-wong.[355] Đến tối ngày 3 tháng 12, áp thấp nhiệt đới suy yếu từ Koto đã đi vào đất liền ven biển Đắk Lắk - Khánh Hòa và suy yếu ngay thành một vùng áp thấp.[356] Hoàn lưu áp thấp nhiệt đới gây ra mưa lớn tại các tỉnh Nam Trung Bộ, trong đó tại Lâm Đồng mưa lớn gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng.[357] Đỉnh lũ sông Lũy tại trạm Sông Lũy (Bình Thuận cũ nay thuộc Lâm Đồng) lên 29,15m rạng sáng 4 tháng 12.[358] Đỉnh lũ trên sông Cam Ly tại trạm Thanh Bình (tỉnh Lâm Đồng) đạt 834,36m lúc 12 giờ ngày 4 tháng 12, vượt 0,11m so với mức lũ lịch sử năm 2019.[359]

Áp thấp nhiệt đới 34W (Senyar) (ATNĐ tháng 11 trên biển Đông)

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại25 tháng 11 (hình thành); 27 tháng 11(vào khu vực) – 30 tháng 11
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1008 hPa (mbar)

Ngày 27 tháng 11, bão Senyar từ khu vực Bắc Ấn Độ Dương di chuyển đến tọa độ 100ºE qua eo biển Malacca và vào khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương. Khi vào khu vực, Senyar được JMA xác định là một áp thấp nhiệt đới.

Áp thấp nhiệt đới Wilma

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại1 tháng 12 – 9 tháng 12
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1004 hPa (mbar)

Vào ngày 1 tháng 12, JTWC lần đầu ghi nhận sự hình thành của một vùng áp thấp cách Yap 172 hải lý (319 km) về phía bắc.[360] JMA sau đó cũng làm theo vào cuối ngày hôm đó, xác định cùng hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới. Vào lúc 07:00 ngày 2 tháng 12 (00:00 UTC), PAGASA cũng làm theo, đặt tên cho hệ thống này là Wilma.[361]

Xoáy thuận khác

Đường đi theo JTWC và ảnh vệ tinh của hình thái 08W
Đường đi và ảnh vệ tinh của hình thái 15W
Đường đi và ảnh vệ tinh của hình thái cận nhiệt đới 92W
  • Đầu ngày 15 tháng 7, JTWC ban hành bản tin TCFA xoáy thuận nhiệt đới sắp hình thành) cho một nhiễu động mà họ [353][353] định danh là Invest 95W ở vùng biển ngoài khơi cách khoảng 935 km về phía Nam của Tokyo.[362] Vài giờ sau, họ công nhận đây là một cơn bão nhiệt đới và thay đổi định danh thành 08W.[363] Đến tối cùng ngày, hình thái di chuyển vào vùng biển ven bờ phía Đông Nhật Bản qua mũi Inubō.[364] Tuy nhiên JMA không công nhận hình thái này là xoáy thuận nhiệt đới mà chỉ ban hành bản tin cảnh báo gió mạnh cho vùng biển phía Đông Nhật Bản.[365] JTWC phát bản tin cảnh báo cuối cùng về 08W vào đầu ngày 16, cho biết nó suy yếu thành áp thấp nhiệt đới trên bề mặt đất ở phía Đông Bắc đảo Honshu.[366]
  • Vào ngày 30 tháng 7, JTWC ghi nhận một áp thấp cận nhiệt đới phía đông Nhật Bản và đặt tên mã là Invest 92W. Hệ thống này tan sau vài giờ mà không được Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) công nhận.
  • Sáng ngày 1 tháng 8, JMA cho biết một áp thấp nhiệt đới hình thành trên vịnh Bắc Bộ và tan vào tối cùng ngày.[367][368] NCHMF công nhận đây là một vùng áp thấp.[369] Chỉ khoảng 6 giờ sau, đến đầu ngày 2 tháng 8, JMA phát tin áp thấp hình thành trên đất liền tỉnh Quảng Tây, sau đó đã dừng cảnh báo khi nó biến mất.
  • Vào ngày 13 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) ghi nhận một áp thấp cận nhiệt đới gần Đường đổi ngày quốc tế và định danh nó là Invest 99W. Hệ thống này tan vào ngày 14 tháng 8 mà không được Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) công nhận.
  • Vào 20 tháng 12,một xoáy thuận ngoài nhiệt đới hình thành.

Mùa bão và tên bão

Tên quốc tế

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực (RSMC) ở Tokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến cường độ bão nhiệt đới.[370] Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó.[371] Sau đây là các tên gọi dự kiến sẽ đặt tên cho các cơn bão năm 2025:

  • Wutip (2501)
  • Sepat (2502)
  • Mun (2503)
  • Danas (2504)
  • Nari (2505)
  • Wipha (2506)
  • Francisco (2507)

Tên địa phương của Philippines

Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sử dụng danh sách tên bão riêng của họ để đặt cho một xoáy thuận nhiệt đới khi nó đi vào khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và những xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nếu danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, và danh sách tên bão sẽ được đưa ra trước khi mùa bão bắt đầu. Tên còn lặp lại (chưa bị khai tử) từ danh sách này sẽ được sử dụng một lần nữa trong mùa bão năm 2029. Đây là danh sách tương tự được sử dụng trong mùa bão 2021, với ngoại lệ có Jacinto, MirasolOpong thay thế Jolina, MaringOdette.[372]

  • Uwan (2526)
  • Verbena (2527)
  • Wilma
  • Yasmin (chưa sử dụng)
  • Zoraida (chưa sử dụng)
Danh sách phụ trợ
  • Alamid (chưa sử dụng)
  • Bruno (chưa sử dụng)
  • Conching (chưa sử dụng)
  • Dolor (chưa sử dụng)
  • Ernie (chưa sử dụng)
  • Florante (chưa sử dụng)
  • Gerardo (chưa sử dụng)
  • Hernan (chưa sử dụng)
  • Isko (chưa sử dụng)
  • Jerome (chưa sử dụng)

Số hiệu cơn bão tại Việt Nam

Danh sách bão được cấp số hiệu tại Việt Nam năm 2025
Bão số 1 (2501)Bão số 2 (2504)Bão số 3 (2506)
Bão số 4 (2508)Bão số 5 (2513)Bão số 6 (2514)
Bão số 7 (2516)Bão số 8 (2517)Bão số 9 (2518)
Bão số 10 (2520)Bão số 11 (2521)Bão số 12 (2524)
Bão số 13 (2525)Bão số 14 (2526)Bão số 15 (2527)

Ở Việt Nam một cơn bão được đặt số hiệu khi nó đi vào vùng thuộc phạm vi theo dõi của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia Việt Nam được xác định trên biển Đông phía Tây kinh tuyến 120 độ kinh Đông và vĩ tuyến 5–23 độ vĩ Bắc. Số hiệu của bão được đặt theo số thứ tự xuất hiện của nó trong năm ví dụ: Bão số 1, bão số 2,...

Tổng quan mùa bão

Đây là bảng của tất cả các cơn bão đã hình thành trong mùa bão năm 2025 ở Tây Bắc Thái Bình Dương. Nó bao gồm tên, ngày tháng, sức gió, áp suất, khu vực đổ bộ, thiệt hại và số người chết được biểu thị bằng chữ in đậm. Cái chết trong ngoặc đơn thường là bổ sung hoặc gián tiếp (một ví dụ về cái chết gián tiếp là một tai nạn giao thông), nhưng vẫn sẽ liên quan đến cơn bão đó. Thiệt hại và tử vong bao gồm tổng số người bị tai nạn, sóng hoặc lũ lụt... và tất cả các con số thiệt hại là vào năm 2025 được tính bằng USD (những sức gió dưới đây được tính bằng sức gió 10 phút của JMA):

Tên bãoThời gian
hoạt động
Cấp độ cao nhấtSức gió
duy trì
Áp suấtKhu vực tác độngTổn thất
(USD)
Số người chếtTham khảo
TD (ATNĐ 01)11 tháng 2 - 17 tháng 2Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1006 hPa (29,71 inHg)Việt Nam, Malaysia, Singapore, PhilippinesKhông cóKhông có
Wutip (Bão số 1)9 tháng 6 - 15 tháng 6Bão nhiệt đới dữ dội100 km/h (65 mph)980 hPa (28,94 inHg)Việt Nam, Philippines, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Hong Kong, Macau&0000000255510000.000000$256 triệu21
Auring11 tháng 6 - 13 tháng 6Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1002 hPa (29,59 inHg)Philippines, Đài Loan, Trung QuốcKhông đáng kể1
Sepat21 tháng 6 - 26 tháng 6Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)1004 hPa (29,65 inHg)Nhật BảnKhông cóKhông có
03W (ATNĐ 02)24 tháng 6 - 27 tháng 6Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1002 hPa (29,59 inHg)Philippines, Trung Quốc, Hong Kong, Macau, Việt NamKhông xác định6
Mun1 tháng 7 - 8 tháng 7Bão nhiệt đới dữ dội95 km/h (60 mph)990 hPa (29,23 inHg)Không cóKhông cóKhông có
Danas (Bising) (Bão số 2)3 tháng 7 - 11 tháng 7Bão cuồng phong mạnh140 km/h (85 mph)965 hPa (28,50 inHg)Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Macau>&0000000243000000.000000$243 triệu10
Nari11 tháng 7 - 15 tháng 7Bão nhiệt đới dữ dội95 km/h (60 mph)985 hPa (29,09 inHg)Nhật Bản, Alaska, Quần đảo Kuril&0000000001000000.000000$1 triệuKhông có
07W11 tháng 7 - 16 tháng 7Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)992 hPa (29,29 inHg)Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung QuốcKhông đáng kểKhông có
08W15 tháng 7 Bão nhiệt đới [nb 2]85 km/h (50 mph)1001 hPa (29,56 inHg)Nhật Bản, Quần đảo KurilKhông đáng kểKhông có
Wipha (Crising) (Bão số 3)16 tháng 7 – 23 tháng 7Bão nhiệt đới dữ dội110 km/h (70 mph)970 hPa (28,64 inHg)Philippines, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Hồng Kông, Macau, Thái Lan, Lào, Myanmar, Campuchia>&0000001140000000.000000$1,14 tỷ60
Francisco (Dante)22 tháng 7 – 27 tháng 7Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)990 hPa (29,23 inHg)Philippines, Nhật Bản, Đài Loan, Trung QuốcKhông xác địnhKhông có
Co-May (Emong) (Bão số 4)23 tháng 7 – 3 tháng 8Bão cuồng phong mạnh120 km/h (75 mph)975 hPa (28,79 inHg)Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc&0000000042000000.000000$42 triệu55
Krosa24 tháng 7 – 4 tháng 8Bão cuồng phong mạnh140 km/h (85 mph)965 hPa (28,50 inHg)Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Nhật BảnKhông đáng kểKhông có
Bailu31 tháng 7 – 6 tháng 8Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)994 hPa (29,35 inHg)Nhật Bản, AlaskaKhông đáng kểKhông có
TD1 tháng 8 - 2 tháng 8Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định996 hPa (29,41 inHg)Không xác địnhKhông đáng kểKhông có
Iona2 tháng 8 – 4 tháng 8Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1008 hPa (29,77 inHg)Không cóKhông cóKhông có
14W2 tháng 8 - 4 tháng 8Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1010 hPa (29,83 inHg)Không cóKhông cóKhông có
15W5 tháng 8 - 7 tháng 8Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1006 hPa (29,71 inHg)Không cóKhông cóKhông có
Podul (Gorio)6 tháng 8 - 15 tháng 8Bão cuồng phong mạnh150 km/h (90 mph)960 hPa (28,35 inHg)Quần đảo Bắc Mariana, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Hồng Kông, Macau, Việt Nam>&0000000331500000.000000$332 triệu2
Fabian (ATNĐ 03)7 tháng 8 - 9 tháng 8Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1006 hPa (29,71 inHg)PhilippinesKhông đáng kểKhông có
17W (ATNĐ 04)17 tháng 8 – 19 tháng 8Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1000 hPa (29,53 inHg)Việt Nam, Trung Quốc, Hồng Kông, MacauKhông đáng kểKhông có
Lingling (Huaning)17 tháng 8 – 23 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)1000 hPa (29,53 inHg)Nhật BảnKhông đáng kểKhông có
Bão Kajiki (Isang) (Bão số 5)22 tháng 8 – 26 tháng 8Bão cuồng phong mạnh150 km/h (90 mph)950 hPa (28,05 inHg)Philippines, Trung Quốc, Hồng Kông, Macau, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar&0000000187500000.000000$188 triệu17
Nongfa (Jacinto) (Bão số 6)27 tháng 8 – 31 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)996 hPa (29,41 inHg)Philippines, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar&0000000000012076.000000$12,1 nghìnKhông có
Peipah (Kiko)2 tháng 9 – 5 tháng 9Bão nhiệt đới85 km/h (50 mph)992 hPa (29,29 inHg)Nhật Bản&0000000150000000.000000$150 triệu1
Tapah (Lannie) (Bão số 7)5 tháng 9 – 9 tháng 9Bão cuồng phong mạnh120 km/h (75 mph)975 hPa (28,79 inHg)Philippines, Trung Quốc, Hồng Kông, MacauKhông xác địnhKhông có
Mitag (Mirasol) (Bão số 8)16 tháng 9 – 20 tháng 9Bão nhiệt đới85 km/h (50 mph)996 hPa (29,41 inHg)Philippines, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, MacauKhông đáng kể3
Ragasa (Nando) (Bão số 9)17 tháng 9 – 25 tháng 9Bão cuồng phong dữ dội205 km/h (125 mph)905 hPa (26,72 inHg)Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông, Macau, Việt Nam>&0000001640000000.000000$1,64 tỷ29
Neoguri17 tháng 9 – 28 tháng 9Bão cuồng phong dữ dội195 km/h (120 mph)920 hPa (27,17 inHg)Đảo Wake, Quần đảo AleutKhông đáng kểKhông có
Bualoi (Opong) (Bão số 10)22 tháng 9 – 29 tháng 9Bão cuồng phong mạnh140 km/h (85 mph)965 hPa (28,50 inHg)Quần đảo Caroline, Philippines, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar&0000001056000000.000000$1,06 tỷ93
Matmo (Paolo) (Bão số 11)1 tháng 10 – 9 tháng 10Bão cuồng phong mạnh130 km/h (80 mph)970 hPa (28,64 inHg)Philippines, Hồng Kông, Trung Quốc, Macau, Việt Nam&0000003857500000.000000$3,86 tỷ39
Halong4 tháng 10 - 10 tháng 10Bão cuồng phong rất mạnh185 km/h (115 mph)935 hPa (27,61 inHg)Nhật BảnKhông xác định2
Nakri (Quedan)6 tháng 10 -14 tháng 10Bão cuồng phong mạnh130 km/h (80 mph)970 hPa (28,64 inHg)Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Nhật BảnKhông đáng kểKhông có
Fengshen (Ramil) (Bão số 12)12 tháng 10 – 23 tháng 10Bão nhiệt đới dữ dội100 km/h (65 mph)990 hPa (29,23 inHg)Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Philippines, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam&0000000360000000.000000$360 triệu54
Salome (ATNĐ 05)20 tháng 10 –23 tháng 10Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1004 hPa (29,65 inHg)Đài Loan, Nhật Bản, PhilippinesKhông đáng kểKhông có
Kalmaegi (Tino) (Bão số 13)31 tháng 10 – 7 tháng 11Bão cuồng phong rất mạnh175 km/h (110 mph)935 hPa (27,61 inHg)Quần đảo Caroline, Philippines, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan&0000000521260000.000000$521 triệu288+
Fung-wong (Uwan) (Bão số 14)3 tháng 11 – 13 tháng 11Bão cuồng phong rất mạnh155 km/h (100 mph)950 hPa (28,05 inHg)Quần đảo Caroline, Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Philippines, Đài Loan>&0000000099890000.000000$99,9 triệu34+
Koto (Verbena) (Bão số 15)23 tháng 11 – 3 tháng 12Bão cuồng phong mạnh130 km/h (80 mph)985 hPa (29,09 inHg)PhilippinesKhông xác địnhKhông có
34W (Senyar)27 tháng 11 – 30 tháng 11Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1008 hPa (29,77 inHg)Thái Lan, Malaysia, Indonesia&0000003080000000.000000$3,08 tỷ47+
ATNĐ Willma1 tháng 12 - 9 tháng 12Áp thấp nhiệt đới
Tổng tỷ số mùa bão
41 xoáy thuận (Ragasa mạnh nhất)11 tháng 2 –9 tháng 12205 km/h (125 mph)905 hPa (26,72 inHg)>&0000012973172076.000000$13 tỷ763+

Ghi chú

  1. Tín hiệu này được treo khi một hệ thống nhiệt đới nằm trong phạm vi 800 km (430 hải lý; 500 dặm) tính từ Hồng Kông hoặc Ma Cao và được dự báo sẽ ảnh hưởng đến lãnh thổ tương ứng.
  2. Hệ thống này được chỉ định ở trung tâm cảnh báo cơn bão nhận được.

Tham khảo

  1. ""2025 là năm thiên tai dị thường nhất lịch sử"". vov.vn. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  2. ONLINE, TUOI TRE (ngày 29 tháng 12 năm 2017). "16 cơn bão vào Biển Đông, năm 2017 ghi kỷ lục về thiên tai". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 Nhiều tác giả (2014), Đặc điểm khí tượng thủy văn năm 2013, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, tr. 3 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":0" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  4. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai năm 2013 (PDF), Tổng cục Phòng chống thiên tai, truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025
  5. 1 2 3 4 5 Nguyễn Đức Ngữ (1999), Bão và Phòng chống bão (PDF), Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, tr. 37 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":1" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  6. Nhiều tác giả (2014), Đặc điểm khí tượng thủy văn năm 2013, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, tr. 3
  7. "Đặc điểm khí tượng thủy văn 1995" (PDF). dacdiemkttv_1995. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. tr. 9. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015.
  8. "Nhìn lại thời tiết thế giới năm 1978". Nhân Dân, Số 8991. ngày 19 tháng 1 năm 1979. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  9. Nguyễn Văn Khánh. "Hoạt động hằng năm của bão ở biển Đông và Việt Nam" (PDF). Tạp chí KTTV. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  10. Nguyễn Ngọc Thực (1990). "Một vài đặc điểm về mưa vừa và mưa lớn năm 1989". Tạp chí KTTV. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  11. Nhiều tác giả (2014), Đặc điểm khí tượng thủy văn năm 2013, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, tr. 3
  12. Phong, Báo điện tử Tiền (ngày 17 tháng 4 năm 2017). "Thiên tai gây thiệt hại gần 40.000 tỷ đồng". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  13. Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 22/04/2021 của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký.
  14. Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh
  15. Phương án dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn theo bản đồ hành chính mới Báo Nông nghiệp Môi trường 30/6/2025
  16. "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 01)". Đài KTTV tỉnh Ninh Bình. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  17. "Diễn biến bão số 1 (WUTIP), mưa lớn, lũ và công tác dự báo phục vụ". Cục KTTV. ngày 17 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  18. 1 2 3 "Bản tin dự báo khí hậu thời hạn tháng - tháng 8/2025" (PDF). Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia. ngày 1 tháng 8 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
  19. 1 2 "BẢN TIN DỰ BÁO KHÍ HẬU THỜI HẠN THÁNG TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC (Tháng 9/2025)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  20. TIN NHANH VỀ ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI SUY YẾU TỪ CƠN BÃO SỐ 9 (lúc 12 giờ ngày 25/9)
  21. 1 2 "Tin nhanh về bão số 10 (lúc 01 giờ ngày 29/9)". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
  22. 1 2 "Bản tin dự báo khí hậu thờI hạn tháng trên phạm vi toàn quốc (tháng 10/2025)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
  23. Vì sao bão Bualoi gây thiệt hại lớn?
  24. 1 2 "Tin cuối cùng về cơn bão số 11" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  25. "Tin bão trên đất liền (Cơn bão số 11) 4 giờ ngày 6/10" (PDF). Đài KTTV tỉnh Ninh Bình. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  26. "Tin cuối cùng về cơn bão số 12". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 23 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  27. 1 2 3 "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 13)". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 6 tháng 11 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2025.
  28. "QUYẾT ĐỊNH Về việc công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai do bão và lũ" (PDF). UBND tỉnh Gia Lai. ngày 27 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  29. "Tin cuối cùng về cơn bão số 15" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 3 tháng 12 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  30. "BẢN TIN DỰ BÁO KHÍ HẬU THỜI HẠN THÁNG TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC (Từ ngày 11/12/2025-10/01/2026)" (PDF). Trung tâm Dự báo KTTVQG. ngày 11 tháng 12 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2025.
  31. Trần Thị Chúc (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "BẢN TIN DỰ BÁO KHÍ HẬU THỜI HẠN THÁNG TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
  32. "Thiên tai năm 2025 làm gần hơn 480 người chết và mất tích, thiệt hại gần 105.000 tỷ đồng". Báo An Ninh Thủ Đô. ngày 1 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
  33. "TỔNG HỢP THIỆT HẠI DO THIÊN TAI TỪ NĂM 2024" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng, chống thiên tai. ngày 30 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  34. "TỔNG HỢP THIỆT HẠI DO THIÊN TAI NĂM 2017" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng chống thiên tai.
  35. 1 2 3 "Tổng hợp thiệt hại năm 2016" (PDF). Cục Quản lí Đê điều và Phòng chống Thiên tai. ngày 31 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":02" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  36. "TỔNG HỢP THIỆT HẠI DO THIÊN TAI NĂM 2020" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng, chống thiên tai.
  37. "TỔNG HỢP THIỆT HẠI NĂM 2009" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng chống Thiên tai.
  38. "THIỆT HẠI DO THIÊN TAI GÂY RA NĂM 2006" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng, chống Thiên tai.
  39. "TỔNG HỢP THIỆT HẠI DO THIÊN TAI NĂM 2013" (PDF). Cục Quản lí đê điều và Phòng, chống thiên tai.
  40. "Đặc điểm KTTV 1996" (PDF). cục KTTV. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
  41. "Đặc điểm KTTV 1997" (PDF). cục KTTV. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015.
  42. "Áp thấp nhiệt đới từ Ấn Độ Dương vào Biển Đông". Vnexpress. ngày 29 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  43. "Vượt qua Yagi, siêu bão Ragasa (bão số 9) là cơn bão mạnh nhất lịch sử trên Biển Đông". congdankhuyenhoc.vn. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  44. ONLINE, TUOI TRE (ngày 29 tháng 11 năm 2025). "Áp thấp nhiệt đới 'lạ chưa từng có' bất ngờ suy yếu sớm hơn dự báo". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  45. thanhnien.vn (ngày 29 tháng 11 năm 2025). "Áp thấp nhiệt đới 'độc lạ nhất lịch sử' vào Biển Đông, bão số 15 'đi chậm'". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  46. "Áp thấp nhiệt đới suy yếu, bão Koto giữ cấp 9". vnexpress.
  47. Dương, Tùng (ngày 7 tháng 10 năm 2025). "Thiên tai, mưa bão tại Việt Nam diễn biến phức tạp, bất thường và có xu hướng cực đoan hơn". VnEconomy. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  48. tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 27 tháng 12 năm 2025). "Huy động kịp thời nguồn lực quốc tế hỗ trợ người dân vùng thiên tai". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2025.
  49. Tô Hội (ngày 1 tháng 4 năm 2026). "Gần 500 người chết do thiên tai năm 2025, thiệt hại hơn 100 tỷ đồng". suckhoedoisong.vn. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
  50. Cảnh báo và tóm tắt 111200 (Báo cáo). Tokyo, Nhật Bản: Cục Khí tượng Nhật Bản (JMA). 11 tháng 2, 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2025. Truy cập 11 tháng 2, 2025.
  51. Đình Huy (ngày 14 tháng 2 năm 2025). "Vì sao xuất hiện mưa trái mùa lịch sử ở Nam bộ?". ThanhNiên. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  52. "Áp thấp nhiệt đới suy yếu thành vùng áp thấp". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 14 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  53. "WARNING AND SUMMARY 160000". JMA. Tokyo, Nhật Bản. ngày 16 tháng 2 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2025.
  54. Warning and Summary 161200 (Báo cáo). Tokyo, Nhật Bản: JMA. ngày 16 tháng 2 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  55. Warning and Summary 170600 (Báo cáo). Tokyo, Nhật Bản: JMA. ngày 17 tháng 2 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2025.
  56. "WWJP27 RJTD 091200". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 9 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2025.
  57. Lê Phan (ngày 10 tháng 6 năm 2025). "Áp thấp nhiệt đới có xu hướng mạnh lên thành bão số 1, đi lên phía bắc". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  58. "WTPQ50 RJTD 100000". Tokyo, Nhật Bản: Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 10 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  59. "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG" (PDF). Hà Nội, Việt Nam: Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn Quốc gia. ngày 10 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  60. "TROPICAL CYCLONE FORMATION ALERT (INVEST 92W)". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 10 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  61. "PROGNOSTIC REASONING FOR TROPICAL DEPRESSION 01W (ONE) WARNING NR 001". Trung tâm Cảnh bão Bão Liên hợp. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2025.
  62. Mai Văn Khiêm. "TIN BÃO TRÊN BIỂN ĐÔNG (Cơn bão số 01)" (PDF). Hà Nội, Việt Nam: Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2025.
  63. "RSMC TROPICAL CYCLONE PROGNOSTIC REASONING REASONING NO. 5 FOR TS 2501 WUTIP (2501)". Tokyo, Nhật Bản: Cục Khí tượng Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2025.
  64. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME STS 2501 WUTIP (2501) UPGRADED FROM TS (Báo cáo). Tokyo, Nhật Bản: Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 12 tháng 6 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  65. Bảo Tiên (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "Bão số 1 mạnh lên cấp 10, giật cấp 13, gây mưa to tại miền trung, sóng cao 6m". Báo Nhân Dân điện tử (dẫn lại bản tin từ Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  66. Mai Văn Khiêm (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 01)" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  67. "PROGNOSTIC REASONING FOR TYPHOON 01W (WUTIP) WARNING NR 015". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  68. "今年第1号台风"蝴蝶"在海南省东方市登陆". Trung Quốc Tân Văn xã. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  69. "台风"蝴蝶"已再次登陆广东雷州 华南江南暴雨灾害风险高华北内蒙古等地有强降雨和强对流天气". Bắc Kinh, Trung Quốc: Trung tâm Khí tượng Quốc gia. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  70. Hoàng Phúc Lâm (ngày 14 tháng 6 năm 2025). "TIN BÃO TRÊN ĐẤT LIỀN (Cơn bão số 01)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  71. "TROPICAL STORM 01W (WUTIP) WARNING NR 016". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  72. "RSMC TROPICAL CYCLONE PROGNOSTIC REASONING REASONING NO.20 FOR TD LOCATED AT 23N 111E". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  73. "AXPQ20 RJTD 120400". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  74. Situational Report No. 2 for the Combined Effects of Southwest Monsoon and Low Pressure Area (LPA) (2025) (PDF) (Báo cáo). Quezon City, Philippines: National Disaster Risk Reduction and Management Council. ngày 11 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2025.
  75. ""蝴蝶"昨夜登陆东方 中午前后将再次登陆粤桂沿海 今天海南岛西北半部地区仍有暴雨到大暴雨天气". Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  76. "天气快递(风雨实况)". Weibo Đài Khí tượng Hải Nam. Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 14 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  77. ""蝴蝶"已减弱为热带低压,未来几天广东仍有强降水". Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 15 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  78. "台风"蝴蝶"已减弱为热带低压 对我区影响结束". Trang dự báo thời tiết Quảng Tây của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 15 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  79. "强风吹倒树木诱发表土塌方 广西岑溪一处民房受损2人死亡". Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2025.
  80. "受台风"蝴蝶"影响 广西陆川发生山体滑坡致三人遇难" [Affected by Typhoon Butterfly, a landslide occurred in Luchuan, Guangxi, killing three people]. www.zaobao.com.sg (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  81. An An (ngày 14 tháng 6 năm 2025). "Mưa lũ cực hiếm ở miền Trung giữa mùa hè, cao nhất trong 30 năm qua". Báo Lao Động. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  82. Ngô Hà Hoàng (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "TIN CẢNH BÁO LŨ QUÉT, SẠT LỞ ĐẤT, SỤT LÚN ĐẤT DO MƯA LŨ HOẶC DÒNG CHẢY TRÊN KHU VỰC CÁC TỈNH TỪ HÀ TĨNH ĐẾN QUẢNG NGÃI VÀ KON TUM" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  83. Võ Thạnh (ngày 14 tháng 6 năm 2025). "11 người chết do mưa lũ miền Trung". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2025.
  84. Warning and Summary 110600 (Báo cáo). Tokyo, Nhật Bản: Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 11 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2025.
  85. "Torrential rain shuts down schools, offices, highways in Kaohsiung - Taipei Times". www.taipeitimes.com. ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  86. 中央通訊社 (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "逢甲大學老榕樹倒下 1學生送醫搶救不治 | 社會". 中央社 CNA (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  87. Arceo, Acor (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Tropical Depression Auring weakens into LPA, exits PAR". RAPPLER (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  88. "WARNING AND SUMMARY 211200". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 21 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2025.
  89. "WWJP27 RJTD 211800". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 21 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025. {{Chú thích web}}: dấu thời gian |ngày lưu trữ= / |url lưu trữ= không khớp; đề xuất ngày 22 tháng 6 năm 2025 (trợ giúp)
  90. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 02W (Two) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. ngày 22 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  91. "AXPQ20 RJTD 010400". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  92. "WARNING AND SUMMARY 240000". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 24 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
  93. "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG". Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. ngày 24 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
  94. "PROGNOSTIC REASONING FOR TROPICAL DEPRESSION 03W (THREE) WARNING NR 001". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 25 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  95. "TIN CUỐI CÙNG VỀ ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  96. "南海#热带低压# 登陆地附近". Weibo. ngày 26 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  97. "热带低压在徐闻县沿海二次登陆 湛江局地降暴雨至大暴雨" [Lần đổ bộ thứ hai, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào bờ biển huyện Từ Văn, Trạm Giang, cục bộ có mưa to đến rất to.]. 湛江新闻网. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
  98. "【热带低压二次登陆】". Weibo. ngày 26 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
  99. "CH2025BST.txt". CMA Tropical Cyclone Data Center. ngày 1 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2026.
  100. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. ngày 1 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  101. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 4". Joint Typhoon Warning Center. ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  102. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 5". Joint Typhoon Warning Center. ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  103. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 6". Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  104. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 8". Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  105. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Four) Warning No. 9". Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  106. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 04W (Mun) Warning No. 22". Joint Typhoon Warning Center. ngày 7 tháng 7 năm 2025. Truy cập 7 tháng 7  2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp); no-break space character trong |access-date= tại ký tự số 10 (trợ giúp)
  107. "AXPQ20 RJTD 090400". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 9 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  108. 1 2 "元晶推即時供貨換修 搶颱風過後太陽能修復商機". 中央通訊社 (Hãng Thông tấn Trung ương). ngày 7 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2025.
  109. "丹娜絲颱風解除海上警報 中南部雨量狂飆 多處風速破紀錄" [Cảnh báo bão Danas trên biển đã được dỡ bỏ: Lượng mưa ở miền Trung và miền Nam tăng vọt, nhiều nơi tốc độ gió phá kỷ lục.] (bằng tiếng Trung). TVBS. ngày 7 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2025.
  110. "高屏、台東豪雨紫爆!降雨「飆破451.5mm」 全台雨量排行一次看 | 生活" (bằng tiếng Trung). 今日新聞. ngày 10 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
  111. "颱風丹娜絲嘉義登陸創120年紀錄 釀2死726傷【不斷更新】". Yahoo News (bằng tiếng Trung). ngày 11 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
  112. "停止编报!历史罕见!404毫米!就在这天,浙江大范围晴热高温来袭!" (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Chiết Giang của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 10 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
  113. "【每日天气】未来三天湘南仍有较强降雨 并伴有强对流天气" (bằng tiếng Trung). Đài Khí tượng Hồ Nam. ngày 11 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
  114. "AXPQ20 RJTD 090500". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 9 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  115. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 06W (Nari) Warning No. 9". Joint Typhoon Warning Center. ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  116. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 06W (Nari) Warning No. 13". Joint Typhoon Warning Center. ngày 14 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  117. "Bão Nari đổ bộ vào Hokkaido của Nhật Bản, lần đầu tiên kể từ năm 2016". Kyodo News. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  118. "Bão Nari đổ bộ vào Hokkaido của Nhật Bản, lần đầu tiên kể từ 2016". Mainichi Daily News (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  119. "AXPQ20 RJTD 290000". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 29 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  120. "Báo cáo hàng tuần về hoạt động thảm họa toàn cầu ngày 18 tháng 7 năm 2025" (PDF). ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  121. "PAGASA cảnh báo về mưa từ LPA mới, gió mùa tây nam trong những ngày tới". Rappler. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  122. "LPA phát triển thành áp thấp nhiệt đới Crising". Rappler. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  123. Cảnh báo hình thành xoáy thuận nhiệt đới (Invest 96W) (Báo cáo). Trung tâm Cảnh báo Bão chung. ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  124. "Áp thấp nhiệt đới Crising mạnh lên nhẹ trên vùng biển phía đông Bicol". Rappler. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  125. "'Crising' duy trì cường độ khi đi qua gần Santa Ana, Cagayan". Philippine News Agency (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  126. "AXPQ20 RJTD 290100". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 29 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  127. {{cite news |date=17 tháng 7 năm 2025 |title=Ilang parte ng Bicol binaha dahil sa habagat na pinalakas ng Bagyong Crising  |url=https://www.abs-cbn.com/news/weather-traffic/2025/7/17/ilang-parte-ng-bicol-binaha-dahil-sa-habagat-na-pinalakas-ng-bagyong-crising-1531 |trans-title=Một số khu vực ở Bicol bị ngập do gió mùa mạnh của cơn bão Crising |access-date=17 tháng 7 năm 2025  |publisher=ABS-CBN|lang=tl}
  128. "Habagat, cyclone death toll hits 37: NDRRMC". ABS-CBN. ngày 31 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
  129. "Các lớp học bị tạm dừng vào thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2025". GMA News. ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
  130. 1 2 "颱風韋帕|八號風球信號、黃雨警告生效 天文台考慮晚上 7 至 9 時改發三號強風信號|Yahoo". Yahoo News (bằng tiếng Trung). ngày 20 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
  131. 1 2 "台风"韦帕"将在越南再次登陆,中国使馆提醒勿参与水上游览活动" [Bão Wipha sẽ đổ bộ vào Việt Nam lần nữa. Đại sứ quán Trung Quốc khuyến cáo người dân không nên tham gia các tour du lịch đường thủy.]. 新浪财经 (bằng tiếng Trung). 界面新闻. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
  132. ""韦帕"严重影响广东!非登陆地也危险!有风暴增水!最新情况" [Bão "Wipha" ảnh hưởng nghiêm trọng đến Quảng Đông! Các khu vực không đổ bộ cũng nguy hiểm! Có sóng lớn! Tình hình mới nhất]. Weixin. 南方都市报. ngày 20 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
  133. ""韦帕"虽渐远 广东南部仍有明显降水". Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 21 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
  134. ""韦帕"7月22日上午已再次登陆越南 未来三天海南岛多阵雨或雷阵雨 局地有暴雨". Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
  135. "Typhoon Wipha roundup". The Government of the Hong Kong Special Administrative Region. ngày 20 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  136. "台风"韦帕"登陆越南北部沿海 今天沿海及桂西南仍有较强风雨" [Bão "Wipha" đã đổ bộ vào bờ biển phía Bắc Việt Nam. Hôm nay, gió mạnh và mưa lớn vẫn còn ở các vùng ven biển và Tây Nam Quảng Tây.] (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Tây của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
  137. Mai Văn Khiêm (ngày 21 tháng 7 năm 2025). "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 3)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
  138. 1 2 3 "TIN BÃO TRÊN ĐẤT LIỀN (Cơn bão số 3)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
  139. "Áp thấp (suy yếu từ bão số 3) gây mưa lớn, đề phòng lũ quét". Đài Tiếng nói Việt Nam. ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
  140. Đức Ngọc (ngày 29 tháng 7 năm 2025). "Mưa lũ khiến 4 người chết, 7.439 ngôi nhà bị hư hỏng". Báo Người Lao Động. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
  141. 1 2 3 4 5 6 7 "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 qua Typhoon Committee.
  142. "Trận giông kinh hoàng trên Vịnh Hạ Long không phải do bão số 3". Báo An ninh Thủ đô. ngày 20 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
  143. Đình Việt (ngày 21 tháng 7 năm 2025). "Vụ lật tàu Vịnh Xanh 58 ở Quảng Ninh khiến 35 người tử vong dưới góc nhìn pháp lý". Báo Dân Việt. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
  144. JTWC, Trung tâm Cảnh báo Bão chung (ngày 22 tháng 7 năm 2025). "Cảnh báo hình thành xoáy thuận nhiệt đới (Đầu tư 97W)". Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
  145. "Prognostic Reasoning for Tropical Disturbance 10W (Ten) Warning No. 01". Joint Typhoon Warning Center. ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  146. "AXPQ20 RJTD 290200". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 29 tháng 10 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  147. "Hiệu ứng Fujiwhara được quan sát thấy khi các xoáy thuận Dante và Emong tương tác trong PAR". Bombo Radyo (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
  148. "AXPQ20 RJTD 290300". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 29 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
  149. "京津冀此轮极端强降雨是如何产生的? — 新京报". Tân Kinh (báo). ngày 29 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  150. "北京全市因灾死亡44人 失踪失联9人". Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  151. "河北滦平山体滑坡已致8人死亡4人失联-新华网". Tân Hoa Xã. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  152. "河北省兴隆县强降雨已致8人遇难、18人失联-新华网". Tân Hoa Xã. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  153. https://www.data.jma.go.jp/multi/cyclone/cyclone_detail.html?id=62&lang=en
  154. https://www.metoc.navy.mil/jtwc/products/wp1225prog.txt
  155. "AXPQ20 RJTD 290400". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 29 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
  156. "WWJP27 RJTD 310000". Japan Meteorological Agency. ngày 31 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
  157. https://www.metoc.navy.mil/jtwc/products/abpwsair.jpg
  158. "High Seas Forecast". NOAA. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  159. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 13W (Bailu) Warning No. 6". Joint Typhoon Warning Center. United States Navy. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  160. "AXPQ20 RJTD 180400". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 18 tháng 11 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
  161. "WWJP27 RJTD Tropical Cyclone Advisory". NOAA. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  162. "WWJP27 RJTD 021200". Japan Meteorological Agency. ngày 2 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
  163. "WTPN33 PGTW 040300". Joint Typhoon Warning Center. ngày 4 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
  164. 1 2 "WWJP27 RJTD 041800". Japan Meteorological Agency. ngày 4 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
  165. "WWJP27 RJTD 061800". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 6 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  166. "WWJP27 RJTD 070000". Cục Khí tựong Nhật Bản. ngày 7 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  167. JTWC, Joint Typhoon Warning Center (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 98W)". Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  168. "Tropical Depression 16W (Sixteen) Warning No. 1". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  169. "LPA develops into Tropical Depression Fabian, but already moving away". Rappler. ngày 8 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  170. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 16W (Podul) Warning No. 8". United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 9 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  171. 1 2 TVBS. "楊柳颱風通過蘭嶼綠島「掃17級⭡強陣風」 氣象署曝數據│TVBS新聞網". TVBS (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  172. "隨楊柳而來的黑雨" [Mưa đen đến cùng với cây liễu (tên bão Podul nghĩa là cây liễu)] (bằng tiếng Trung). Đài Thiên văn Hồng Kông. ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
  173. Thái Tú Minh (ngày 14 tháng 8 năm 2025). "今日闽南地区仍有大雨到暴雨 漳州地区部分路段及收费站仍实施管制" (bằng tiếng Trung). Đông Nam Mạng. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
  174. "WWJP27 RJTD 071800". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 7 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2025.
  175. "LPA develops into Tropical Depression 'Fabian' as 'Podul' forecast to enter PAR as typhoon". Philstar. ngày 8 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  176. ""Tropical Depression Fabian exits PAR, weakens into LPA". Rappler. ngày 9 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  177. Mai Văn Khiêm (ngày 8 tháng 8 năm 2025). "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  178. Mai Văn Khiêm. "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  179. "WWJP27 RJTD 170000". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 17 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  180. "WTPN22 PGTW 180030". Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp. ngày 18 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  181. "WTPN31 PGTW 180900". Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  182. "TIN CUỐI CÙNG VỀ ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Quốc gia. ngày 19 tháng 8 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  183. 1 2 "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN ĐẤT LIỀN" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. ngày 19 tháng 8 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  184. "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 qua Typhoon Committee.
  185. "18-19日粤西和珠三角仍有大雨到暴雨" (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  186. "热带低压将移入北部湾北部海面 18日海南省大部分海域风力仍较大". Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  187. "南海热带低压已移入北部湾海面 今明两天北部湾海面及桂南桂西有较强风雨". Trang dự báo thời tiết Quảng Tây của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  188. "今天北部湾海面、桂西及沿海地区仍有较强风雨". Trang dự báo thời tiết Quảng Tây của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 19 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  189. https://www.metoc.navy.mil/jtwc/products/abpwweb.txt
  190. https://tgftp.nws.noaa.gov/data/raw/ww/wwjp27.rjtd..txt
  191. "LPA inside PAR is now Tropical Depression Huaning". GMA News. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  192. Joint Typhoon Warning Center (ngày 17 tháng 8 năm 2025). "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 92W)". Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  193. Joint Typhoon Warning Center (ngày 18 tháng 8 năm 2025). "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 92W)". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  194. Joint Typhoon Warning Center (ngày 21 tháng 8 năm 2025). "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 18W (Lingling) No. 7". Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  195. Joint Typhoon Warning Center (ngày 21 tháng 8 năm 2025). "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 18W (Lingling) No. 8". Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  196. "Tropical Storm Lingling makes landfall on Kagoshima, southwestern Japan". NHK World. ngày 21 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  197. "LIST: Class suspensions on Monday, Aug. 18". Philippine Daily Inquirer. ngày 18 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  198. "Shinkansen services in southwest Japan halted as typhoon makes landfall". Kyodo News. ngày 21 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  199. "New LPA enters, may intensify – PAGASA". The Philippine Star. ngày 21 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  200. ""LPA east of Aurora develops into Tropical Depression Isang"". Philippine Daily Inquirer. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  201. "WTPN21 PGTW 212230". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  202. "Tropical Depression Isang now over West PH Sea". ABS-CBN. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  203. "WDPN31 PGTW 221500". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  204. "WTPQ31 RJTD 230000". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 23 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  205. Vũ Anh Tuấn (ngày 23 tháng 8 năm 2025). "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 5)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  206. 1 2 "WDPN31 PGTW 230300". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 23 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  207. "WDPN31 PGTW 230900". Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp. ngày 23 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  208. "WTPQ31 RJTD 231200". Cục Khí tượng Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  209. "Cập nhật lúc 17h". Facebook. Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. ngày 25 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2025.
  210. "AXPQ20 RJTD 030400". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 3 tháng 12 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  211. "Signal No. 1 up over 17 areas as Isang to traverse Northern Luzon". GMA News. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  212. "Isang drenches Luzon; Metro Manila flooded anew". The Philippine Star. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  213. "T1 signal likely to go up on Friday night: Observatory". RTHK. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  214. "天文台將於晚上9時40分發出一號戒備信號". ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  215. "天文台發出一號戒備信號". ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  216. "Sinal 1 deve ser içado este Sábado por causa de depressão tropical". Teledifusão de Macau. ngày 22 tháng 8 năm 2025.
  217. "Direcção dos Serviços Meteorológicos e Geofísicos (SMG)". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  218. "Previsões apontam para chuvas intensas durante o fim-de-semana". TDM Canal Macau.
  219. "台风"剑鱼"是否会登陆?需关注哪些风险?气象专家分析". Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương. ngày 24 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
  220. "未来三天海南岛大部分地区多云有阵雨或雷阵雨 28日前后南海中东部海面可能有热带低压生成" [Hầu hết các khu vực trên đảo Hải Nam sẽ có mây, có mưa rào hoặc dông trong ba ngày tới. Một áp thấp nhiệt đới có thể hình thành ở khu vực trung tâm và phía đông Biển Đông vào khoảng ngày 28.] (bằng tiếng Trung). Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 26 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
  221. "Quan trắc và mô phỏng số trị hiện tượng nước dâng do bão Kajiki (8/2025)". VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences. Quyển 41. ngày 30 tháng 10 năm 2025. tr. 18. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  222. "Báo cáo nhanh công tác trực ban PCTT ngày 27/8/2025". Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai. ngày 28 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2025.
  223. "Pagasa: LPA within PAR now has 'high' chance of becoming cyclone".
  224. "LPA east of Surigao del Sur may intensify, will be called Jacinto —PAGASA".
  225. https://www.abs-cbn.com/news/weather-traffic/2025/8/24/lpa-east-of-mindanao-has-high-potential-to-become-tropical-cyclone-pagasa-1936
  226. https://www.abs-cbn.com/news/weather-traffic/2025/8/24/rainy-week-expected-with-potential-jacinto-habagat-0016
  227. "PAGASA warns of heavy rains from LPA, Southwest Monsoon".
  228. "T1 possible during Weds night or Thurs morning - RTHK".
  229. "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 qua Typhoon Committee.
  230. "今年第14号台风"蓝湖"30日下午已登陆越南 8月31日~9月5日海南岛多阵雨或雷阵雨". Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 31 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  231. "AXPQ20 RJTD 170600". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 17 tháng 12 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  232. "Áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên Biển Đông, mạnh thành bão số 7 trong 24 giờ tới". Vietnam.net. ngày 16 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
  233. https://news.rthk.hk/rthk/en/component/k2/1821421-20250905.htm
  234. https://archive.today/20250905144614/https://www.smg.gov.mo/pt
  235. "Observatory issues T1, ponders need for higher signal". RTHK. ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025.
  236. "Clima em Macau - Direcção dos Serviços Meteorológicos e Geofísicos". ngày 5 tháng 9 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  237. "The weather bureau reports a low-pressure system near the central South China Sea is expected to develop into a tropical cyclone by 6th September". TDM Canal Macau. ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025.
  238. "Sinal 1 de tempestade tropical está em vigor - O sinal número 1 de tempestade tropical está em vigor desde as 00h30 devido à influência de uma depressão tropical que se localiza a menos de 800 km de Macau". Teledifusão de Macau. ngày 6 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  239. "AXPQ20 RJTD 170700". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 17 tháng 12 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  240. "【大风实况】过去3小时(8日7时到10时),受#台风#"塔巴"影响,我省中西部沿海和陆地风力较大。" [[Tình hình gió mạnh thực tế] Trong 3 giờ qua (từ 7 giờ đến 10 giờ ngày 8), do ảnh hưởng của bão "Tapah", khu vực ven biển và đất liền ở miền Trung và miền Tây của tỉnh ta đã ghi nhận gió mạnh.]. Weibo (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2025.
  241. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 16 September 2025". United States Joint Typhoon Warning Center. (Report). ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
  242. "LPA east of Infanta, Quezon now Tropical Depression Mirasol". GMA News. ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
  243. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 99W)". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 6 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  244. "AXPQ20 RJTD 180500". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 18 tháng 12 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  245. "19-20日台风米娜给广东带来明显风雨" [Bão Mitag đã mang theo gió và mưa lớn đến Quảng Đông vào các ngày 19 và 20] (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 19 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
  246. 1 2 "台风"米娜"已停编 今明广东仍需防强降雨" [Cơn bão Mitag đã được ngừng đánh số, nhưng trong hôm nay và ngày mai, Quảng Đông vẫn cần đề phòng mưa lớn.] (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 20 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  247. "Product type not specified.". Joint Typhoon Warning Center. ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  248. "WWJP27 RJTD 170000". Japan Meteorological Agency. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
  249. "Product type not specified.". Joint Typhoon Warning Center. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  250. "Nando joins Mirasol as 2 tropical depressions in PAR". GMA News. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
  251. "WWJP27 RJTD 191800". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  252. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 24W (Ragasa) Warning No. 6". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 9 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  253. "WWJP27 RJTD 200600". Japan Meteorological Agency. ngày 20 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  254. "Prognostic Reasoning for Typhoon 24W (Ragasa) Warning No. 8". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 20 tháng 9 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
  255. "Product type not specified.". Joint Typhoon Warning Center. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  256. "AXPQ20 RJTD 180600". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 28 tháng 12 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  257. 1 2 ""桦加沙"24日已严重影响广东并将登陆" [Bão Ragasa đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Quảng Đông và sẽ đổ bộ vào đất liền vào ngày 24] (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2025.
  258. ""桦加沙"给广东带来17级以上阵风,有记录以来国家级站点最大" [Bão Ragasa đã gây ra những cơn gió giật mạnh trên cấp 17 tại Quảng Đông, phá kỉ lục trị số gió giật lớn nhất từng được ghi nhận tại một trạm khí tượng cấp quốc gia (tại Quảng Đông).]. Weixin (bằng tiếng Trung). Quảng Châu nhật báo. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2025.
  259. "第1现场|65.1米/秒!台风"桦加沙"创广东最强阵风纪录" (bằng tiếng Trung). The Paper. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  260. "打破"黑格比"纪录!"桦加沙"影响阳江的12级大风持续10小时" [Phá kỷ lục của bão Hagupit! Cơn gió cấp 12 do bão Ragasa ảnh hưởng đến Dương Giang kéo dài suốt 10 giờ] (bằng tiếng Trung). Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  261. "台风消息:"桦加沙"进入湛江". Weibo (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  262. "【风力实况】据气象监测,24日20时到24日21时风力实况。". Weibo. Trang dự báo thời tiết Quảng Đông của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  263. "Cơn bão số 9 - Ragasa". Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  264. 1 2 3 "Tin áp thấp nhiệt đới khẩn cấp (11h00)" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia. ngày 25 tháng 9 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  265. "Bản tin dự báo khí hậu thời hạn tháng trên phạm vi toàn quốc" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  266. "Tin nhanh về áp thấp nhiệt đới suy yếu từ cơn bão số 9 (lúc 12 giờ ngày 25/9)". Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  267. Không ghi nhận thiệt hại sau bão số 9 (Ragasa) tại Quảng Ninh, vov.vn, archive 26/9/25
  268. "Tin cuối cùng về cơn bão số 9" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
  269. Trí, Dân (ngày 5 tháng 12 năm 2025). "Những "kỷ lục" thiên tai khốc liệt năm 2025". Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
  270. "Product type not specified.". Joint Typhoon Warning Center. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  271. "WWJP27 RJTD 171800". Japan Meteorological Agency. ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
  272. "AXPQ20 RJTD 180700". Tokyo Global Information System Centre. Cục Khí tượng Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  273. "Product type not specified.". Joint Typhoon Warning Center. 22 tháng 9, 2025. Truy cập 22 tháng 9, 2025. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  274. "Warning and Summary 221800". Japan Meteorological Agency. 23 tháng 9, 2025. Truy cập 22 tháng 9, 2025.
  275. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 92W)". Joint Typhoon Warning Center. 23 tháng 9, 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập 23 tháng 9, 2025.
  276. Serquiña, Mariel Celine (23 tháng 9, 2025). "Tropical Depression Opong enters PAR". GMA News. Truy cập 23 tháng 9, 2025.
  277. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 26W (Bualoi) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 23 tháng 9, 2025. Truy cập 24 tháng 9, 2025.
  278. "Typhoon 26W (Bualoi) Warning No. 22". Joint Typhoon Warning Center. ngày 29 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
  279. 1 2 Hoàng Phúc Lâm (ngày 29 tháng 9 năm 2025). "TIN BÃO TRÊN ĐẤT LIỀN (Cơn bão số 10)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
  280. "CÔNG TÁC THEO DÕI VÀ TRUYỀN TIN CƠN BÃO SỐ 10 NĂM 2025". Trung tâm Điều tra khảo sát, Công nghệ và dịch vụ khí tượng thủy văn (Trang facebook). ngày 29 tháng 9 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
  281. "TIN CUỐI CÙNG VỀ CƠN BÃO SỐ 10" (PDF). Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình. ngày 29 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
  282. "Tin bão trên đất liền (Cơn bão số 10)" (PDF). Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Ninh Bình. ngày 29 tháng 9 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
  283. "Cảng Vũng Áng". Hệ thống giám sát khí tượng thủy văn tự động. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025. Theo trích xuất dữ liệu ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  284. "Số người thương vong, mất tích do bão Bualoi tăng lên 235". Tiền Phong. ngày 4 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
  285. Bạch An (ngày 3 tháng 10 năm 2025). "Đề xuất "xóa sổ" tên bão Bualoi do gây thiệt hại nặng nề ở Việt Nam". Dân Trí. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
  286. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 29 September 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 29 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
  287. "LPA east of Catanduanes now tropical depression Paolo". GMA News. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  288. "Warning and Summary 010000". Japan Meteorological Agency. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  289. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 93W)". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.[liên kết hỏng]
  290. "一起来盘一盘台风"麦德姆"对广东的影响" [Cùng điểm qua ảnh hưởng của bão "Matmo" đối với Quảng Đông.]. Nam Phương nhật báo (bằng tiếng Trung). ngày 6 tháng 10 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  291. "湛江各界全力推进台风"麦德姆"灾后恢复重建工作" [Toàn thể thành phố Trạm Giang dốc sức cho công tác phục hồi và tái thiết sau bão Matmo] (bằng tiếng Trung). China Daily. ngày 10 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2025.
  292. ""麦德姆"已经在广东省湛江市徐闻县东部沿海登陆 今天下午到夜间海南岛西北半部地区仍有强风雨天气" [Bão Matmo đã đổ bộ vào vùng ven biển phía đông huyện Từ Văn, thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông. Chiều và tối nay, khu vực phía tây bắc đảo Hải Nam vẫn còn có gió mạnh và mưa to.] (bằng tiếng Trung). Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 5 tháng 10 năm 2025.
  293. ""麦德姆"今天中午将移出广西 桂南桂西风大雨强需注意防范" [Bão Matmo sẽ di chuyển ra khỏi Quảng Tây vào trưa nay. Hãy lưu ý gió mạnh và mưa lớn ở phía Nam và phía Tây Quảng Tây.] (bằng tiếng Trung). Quảng Tây Tân Văn Võng. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  294. ""麦德姆"今天中午将移出广西 桂西桂南仍有强风雨天气" (bằng tiếng Trung). Trang dự báo thời tiết Quảng Tây của Mạng lưới Thời tiết Trung Quốc. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  295. 1 2 "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN ĐẤT LIỀN (Suy yếu từ cơn bão số 11)" (PDF). Trung tâm DBKTTVQG. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  296. "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 qua Typhoon Committee.
  297. "7 người chết và mất tích do bão Matmo, lũ kỷ lục trên sông Cầu". Tiền Phong. ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  298. 1 2 Nguyễn Hoàn (ngày 9 tháng 10 năm 2025). "Phố núi Thái Nguyên tan hoang sau lũ lịch sử". Lao Động. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  299. "Lũ đặc biệt lớn trên sông Cầu ở Thái Nguyên, vượt đỉnh lịch sử hơn 1m". VietNamNet. ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  300. Mai Hà; Phan Hậu (ngày 15 tháng 10 năm 2025). "Bộ NN-MT thừa nhận chưa dự báo sớm được mưa, lũ cực đoan". Thanh Niên. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  301. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 15Z 3 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
  302. "Warning and Summary 040000". Japan Meteorological Agency. ngày 4 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
  303. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 03Z 4 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 4 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2024.
  304. Press, Associated (ngày 14 tháng 10 năm 2025). "One dead and two missing after typhoon remnants lash western Alaska". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2026.
  305. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 6 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  306. "ASAS JMH 061200 UTC Oct 2025 Surface Analysis" (PDF)" (PDF). Japan Meteorological Agency. ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
  307. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 95W)". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 7 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025.
  308. "Warning and Summary 080600". (Report)apan Meteorological Agency. ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  309. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 29W (Nakri) Warning No. 1". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  310. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 29W (Nakri) Warning No. 2". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
  311. "Tropical Storm Quedan now in PARGMA News". GMA News. ngày 9 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  312. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 29W (Nakri) Warning No. 13". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 11 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2025.
  313. "Warning and Summary 111800". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 11 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  314. "Prognostic Reasoning for Tropical Storm 29W (Nakri) Warning No. 19". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 12 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  315. "Warning and Summary 121800". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 12 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  316. "Prognostic Reasoning for Typhoon 29W (Nakri) Warning No. 21". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 13 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  317. "Typhoon 29W (Nakri) Warning No. 26". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 14 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  318. Aakane Tachihara (ngày 14 tháng 10 năm 2025). "Typhoon Nakri Causes Further Damage to Hachijojima Island, South of Tokyo". Yomiuri Shimbun. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  319. "Warning and Summary 121800". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 12 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2025.
  320. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 13 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 13 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  321. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 15 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 15 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  322. "Warning and Summary 160000". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 16 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  323. "LPA enters Philippine area, may develop into Ramil (Report). ABS-CBN News". (Report). ABS-CBN News. ngày 16 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  324. "LPA now Tropical Depression Ramil; easterlies still bringing rain". (Report). Rappler. ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  325. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 19Z 16 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 16 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  326. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 96W)". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 17 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  327. "Warning and Summary 171800". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2025.
  328. "Tropical Cyclone Bulletin No. 2 for Tropical Depression Ramil" (PDF). PAGASA. ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  329. ""风神"已减弱为热带低压 即将登陆越南 23日、25日夜间至31日海南岛局地有大到暴雨" (bằng tiếng Trung). Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 23 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  330. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 21Z 21 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 21 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2025.
  331. "LPA develops into Tropical Depression SalomeInquirer.net". Inquirer.net. ngày 22 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  332. "Tropical Cyclone Bulletin No. 6 for Tropical Storm Salome" (PDF). (Report). PAGASA. ngày 23 tháng 10 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
  333. "Salome weakens back into tropical depression". Rappler. ngày 22 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  334. "Tropical Depression Salome weakens into LPA; scattered rain still possible". Rappler. ngày 22 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  335. "Tropical Cyclone Bulletin No. 1 for Tropical Depression Salome" (PDF). PAGASA. ngày 22 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  336. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 30 October 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  337. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 98W)". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
  338. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 31W (Thirty-one) Warning No. 1". (Report). Joint Typhoon Warning Center. November. ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
  339. "Warning and Summary 012100". (Report). Tokyo, Japan: Japan Meteorological Agency. ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
  340. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 31W (Kalmaegi) Warning No. 2". (Report). Joint Typhoon Warning Center. ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
  341. 1 2 TIN BÃO TRÊN ĐẤT LIỀN (Cơn bão số 13)
  342. "QUYẾT ĐỊNH Về việc công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai" (PDF). UBND tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 11 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  343. "Bão lũ gây thiệt hại nặng nề, Gia Lai công bố tình huống khẩn cấp". PL TPHCM. ngày 28 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  344. 1 2 3 "Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cứu trợ khẩn cấp người dân bị ảnh hưởng bởi bão số 13". VTV. ngày 10 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  345. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 3 November 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2025.
  346. "Index of /data/raw". tgftp.nws.noaa.gov. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2025.
  347.  Tropical Cyclone Bulletin No. 1 for Severe Tropical Storm Uwan (Fung-wong) (PDF) (Report). PAGASA.
  348. metoc.navy.mil/jtwc/products/wp3225web.txt
  349. https://www.abs-cbn.com/news/nation/2025/11/12/uwan-death-toll-jumps-to-25-ndrrmc-0022
  350. "LPA east of Mindanao enters PAR and may develop into 'Verbena'". Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025.
  351. News, GMA Integrated (ngày 24 tháng 11 năm 2025). "LPA off Hinatuan, Surigao del Sur now a tropical depression". GMA News Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)
  352. Interactive, Neave (ngày 25 tháng 11 năm 2025). "Tropical Storm 33W (Verbena) LIVE Tracker, Updates & Forecast". Zoom Earth (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
  353. 1 2 3 "Tropical Storm Koto Tracker | Weather Underground". www.wunderground.com. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
  354. kttv.gov.vn. "Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia". Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  355. News, JOVILAND RITA, GMA Integrated (ngày 26 tháng 11 năm 2025). "2 missing in Negros Island Region amid Verbena, shear line —NDRRMC". GMA News Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  356. "Tin cuối cùng về cơn bão số 15" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 3 tháng 12 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  357. "Mưa lớn gây ngập diện rộng, nhiều địa phương thiệt hại hàng chục tỷ đồng". Báo Lâm Đồng.
  358. tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 4 tháng 12 năm 2025). "Lâm Đồng: Hơn 2.000 nhà bị ngập, gần 250 tàu cá hư hỏng". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2025.
  359. "Mưa lớn gây lũ, ngập lụt nghiêm trọng tại Lâm Đồng, 1 người thiệt mạng". Báo Nhân dân. ngày 4 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2025.
  360. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 22Z 1 December 2025". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 1 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
  361. Clores, Keith (ngày 4 tháng 12 năm 2025). "LPA develops into Tropical Depression Wilma — Pagasa". INQUIRER.net (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
  362. "TROPICAL CYCLONE FORMATION ALERT (INVEST 95W)". Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp. ngày 14 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  363. "TROPICAL STORM 08W (EIGHT) WARNING NR 001". Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  364. "PROGNOSTIC REASONING FOR TROPICAL STORM 08W (EIGHT) WARNING NR 003". Trung tâm Cảnh bão bão Liên hợp. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  365. "WARNING AND SUMMARY 151200". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
  366. "TROPICAL DEPRESSION 08W (EIGHT) WARNING NR 004". Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025. {{Chú thích web}}: dấu thời gian |ngày lưu trữ= / |url lưu trữ= không khớp; đề xuất ngày 16 tháng 7 năm 2025 (trợ giúp)
  367. "WWJP27 RJTD 010000". Japan Meteorological Agency. ngày 1 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  368. "WWJP27 RJTD 011200". Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 1 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  369. "TIN THỜI TIẾT NGUY HIỂN TRÊN BIỂN VÀ TIN DỰ BÁO GIÓ MẠNH, SÓNG LỚN VÀ MƯA DÔNG TRÊN BIỂN" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia. ngày 1 tháng 8 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  370. Padgett, Gary. "Monthly Tropical Cyclone Summary December 1999". Australian Severe Weather. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013.
  371. "Tropical Cyclone names". JMA. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  372. "Philippine Tropical Cyclone Names". Philippine Atmospheric, Geophysical and Astronomical Services Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2015.

Liên kết ngoài