Bước tới nội dung

Tô Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tô Châu
苏州市
Soochow
  Địa cấp thị  
Thành phố Tô Châu
Đông Phương chi Môn tại Khu Công nghiệp Tô Châu
Nghệ Phố
Tân thành đường sắt cao tốc Tô Châu
Vị trí của Tô Châu
Vị trí của Tô Châu tại Giang Tô
Vị trí của Tô Châu tại Giang Tô
Tô Châu trên bản đồ Trung Quốc
Tô Châu
Tô Châu
Quốc giaTrung Quốc
TỉnhGiang Tô
Huyện11
Thành lập514 TCN
Trung tâm hành chínhCô Tô
Chính quyền
  KiểuĐịa cấp thị
  Bí thư Thành ủyLiu Xiaotao
  Thị trưởngWu Qingwen
Diện tích
  Địa cấp thị8.657,32 km2 (334,261 mi2)
  Đất liền6.093,92 km2 (235,288 mi2)
  Mặt nước2.394,5 km2 (9,245 mi2)
  Đô thị2.742,52 km2 (105,889 mi2)
  Vùng đô thị12.493 km2 (4,824 mi2)
Dân số (2020)
  Địa cấp thị12.748.252
  Mật độ15/km2 (38/mi2)
  Đô thị6.715.559
  Mật độ đô thị24/km2 (63/mi2)
Tên cư dânNgười Tô Châu
GDP[1]
  Địa cấp thị2.672 nghìn tỷ nhân dân tệ
372,2 tỷ đô la Mỹ
  Bình quân đầu người209.652 nhân dân tệ
29.205 đô la Mỹ
Múi giờUTC+8
Mã bưu chính215000
Mã điện thoại512
 ISO 3166CN-JS-05
Thành phố kết nghĩaVenezia, Victoria, Ikeda, Kanazawa, Portland, Hạt Tulcea, Jeonju, Kameoka, Riga, Ismailia, Grenoble, Nijmegen, Higashimurayama, Esbjerg, Konstanz, Taupo, Nabari, Porto Alegre, Jacksonville, Riihimäki, Taebaek, Nowy Sącz, Kyiv, Zaporizhia, Logan City, Antananarivo, Santiago del Estero, Vina del Mar, Yeongju, Daisen, Riesa, Santa Lucija, Hirokawa, Portland, Eiheiji, Marugame, Ayabe, Satsumasendai, Ipatinga, Whittier, Brest, South El Monte, Grootfontein, Tahara, Tottori, Rosolina, Uchinada, Ishikawa, Bourgoin-Jallieu, Chiba, Hwaseong, Nago, León
HDI (2015)0,868 – rất cao[2]
Hoa thành phốChi Mộc tê
Cây thành phốCây long não
Phương ngữ địa phươngTiếng Ngô: phương ngữ Tô Châu
Đầu biển số xe苏E and 苏U[3]
Websitewww.suzhou.gov.cn
Tô Châu
"Tô Châu" trong chữ Hán giản thể (trên) và chữ Hán phồn thể (dưới)
Giản thể苏州
Phồn thể蘇州

Tô Châu (giản thể: 苏州市; phồn thể: 蘇州市; bính âm: Sūzhōu Shì, âm Hán-Việt: Tô Châu thị) là một địa cấp thị thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nằm ở hạ lưu sông Trường Giang và trên bờ đông Thái Hồ, thành phố này nổi tiếng với những cầu đá đẹp, chùa và các khu vườn (viên lâm) được thiết kế tỉ mỉ, mà ngày nay chúng đã trở thành những điểm thu hút khách du lịch. Tô Châu cũng đã từng là một trung tâm quan trọng của công nghiệp sản xuất tơ lụa Trung Hoa kể từ thời kỳ nhà Tống (9601279) cũng như tiếp tục nắm giữ vị trí nổi tiếng này trong thời gian gần đây. Thành phố này là một phần của Tam giác vàng thuộc Trung Quốc. Thành phố này đặc biệt nổi tiếng vì những khu vườn. Một số vườn cây cảnh cổ điển đã được UNESCO xếp loại là di sản thế giới. Diện tích của thành phố là 8.488,42 km²,[4] dân số năm 2020 là 12.748.252 người (trong đó dân số nội thị 6.715.559 người). GDP trên đầu người của thành phố này là ¥178,207 (khoảng US$27,629) vào năm 2021, đứng hàng thứ năm trong số 659 thành phố tại Trung Quốc.

Nguồn gốc tên gọi

Lịch sử

Tô Châu, các tên gọi cổ là Câu Ngô, Ngô, Cối Kê (giản thể: 会稽; phồn thể: 會稽; bính âm: Kuàijī), Ngô Châu, Ngô Quận, Bình Giang Đẳng. Tô Châu còn có biệt danh là Ngô Đô, Ngô Hội, Ngô Môn, Đông Ngô, Ngô Trung, Ngô Hạ, Cô Tô, Trường Châu, Mậu Uyển Đẳng.

Tô Châu, cái nôi của văn hóa Ngô, là một trong những đô thị cổ nhất trong lưu vực sông Dương Tử. Khoảng 2.500 năm trước, các bộ lạc bản địa, tự gọi mình là "Câu Ngô" vào cuối thời kỳ nhà Thương đã sinh sống trong khu vực mà sau này gọi là Tô Châu.

Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, Thái Bá đã đến đây để lập ra nước Ngô, đóng kinh đô tại đây và gọi nó là Ngô thành. Năm 514 TCN, trong thời kỳ Xuân Thu, vua Hạp Lư (giản thể: 阖闾; phồn thể: 闔閭; bính âm: Hélǘ) của nước Ngô đã sai Ngũ Tử Tư xây dựng "Hạp Lư thành" (giới học giả cho là thuộc Tô Châu ngày nay) làm kinh đô của mình. Nước Ngô trọng dụng Tôn Vũ để phát triển quân đội, tiến đánh nước Tề ở phương bắc, xưng bá trung nguyên. Năm 496 TCN, Hạp Lư đã được mai táng tại Hổ Khâu (tiếng Trung: 虎丘; bính âm: Hǔ Qiū).

Chuyết Chính viên

Năm 473 TCN, nước Ngô bị nước Việt của Việt vương Câu Tiễn đánh bại. Tô Châu trở thành kinh đô của nước Việt. Năm 306 TCN, nước Việt lại bị nước Sở sát nhập. Thời kỳ hoàng kim của Tô Châu đã qua đi. Các di tích của nền văn hóa này bao gồm các phần còn sót lại của các tường thành và cổng thành có niên đại 2.500 năm tuổi tại Bàn Môn (giản thể: 盘门; phồn thể: 盤門; bính âm: Pán Mén).

Vào thời kỳ nhà Tần, thành phố này được biết dưới tên gọi Ngô huyện. Hạng Vũ (giản thể: 项羽; phồn thể: 項羽; bính âm: Xiàng Yǔ) đã bắt đầu sự nổi dậy lịch sử của mình tại đây vào năm 209 TCN và nó đã góp phần vào sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tần.

Vào thời kỳ nhà Tùy, thành phố này đã được đổi tên thành Tô Châu vào năm 589.

Khi Đại Vận Hà được hoàn thành, Tô Châu nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược trên hành trình thương mại chính. Trong suốt lịch sử Trung Hoa nó đã là thủ phủ chính yếu của công nghiệpthương mại ở khu vực ven biển thuộc miền đông nam Trung Quốc.

Trong thời kỳ nhà Đường, năm 825 nhà thơ lớn Bạch Cư Dị (tiếng Trung: 白居易; bính âm: Bái Jūyì) đã cho xây dựng Sơn Đường nhai (tiếng Trung: 山塘街; bính âm: Shāntáng Jiē) để nối thành phố này với Hổ Khâu phục vụ cho du khách. Thời kỳ nhà Tống (960-1279), tại Tô Châu đặt Bình Giang phủ, cai quản Chiết Giang tây đạo. Năm 1035, nhà thơ, nhà văn lớn kiêm chính trị gia Phạm Trọng Yêm (tiếng Trung: 范仲淹; bính âm: Fàn Zhòngyān) đã cho xây dựng Khổng miếu tại đây. Nó đã trở thành nơi để diễn ra các cuộc thi tuyển chọn quan lại cho triều đình.

Tháng Hai năm 1130, quân đội nhà Kim (11151234 tiến xuống phía nam đã phá hủy và thảm sát thành phố này. Năm 1275 quân đội nhà Nguyên (1271-1368) cũng đã tiến tới đây và đổi tên Tô Châu thành Bình Giang lộ. Cuối thời nhà Nguyên, Trương Sĩ Thành nổi dậy, tự xưng là Ngô vương, đổi Bình Giang lộ thành Long Bình phủ, lấy Tô Châu làm kinh đô. Năm 1367, quân đội của Chu Nguyên Chương công phá Tô Châu, phá hủy hoàng thành của Trương Sĩ Thành. Trương Sĩ Thành đầu hàng. Nhà Minh (1367-1644) đổi Long Bình phủ thành Tô Châu phủ, cho trực thuộc Nam Kinh. Thời kỳ nhà Thanh (1644-1911), Tô Châu là nơi đặt trụ sở của tuần phủ và bố chánh sứ Giang Tô.

Trong thời kỳ hai triều Minh-Thanh, thành phố này đã có nhiều thời kỳ thịnh vượng. Nhiều khu vườn nổi tiếng của các tư nhân đã được các tầng lớp quan lại và người giàu có xây dựng. Tuy nhiên, thành phố này cũng đã phải gánh chịu thảm họa vào năm 1860 khi binh lính của Thái Bình thiên quốc tiến vào chiếm giữ thành phố. Tháng 11 năm 1863, thường thắng quân dưới sự chỉ huy của Charles Gordon đã tái chiếm thành phố này từ tay Thái Bình thiên quốc.

Hình ảnh chụp gần của Chuyết Chính viên tại Tô Châu

Khủng hoảng tiếp theo mà thành phố này vấp phải là sự xâm chiếm của người Nhật năm 1937. Nhiều khu vườn đã bị phá hủy vào cuối cuộc chiến. Đầu thập niên 1950, công việc khôi phục đã được tiến hành đối với Chuyết Chính viên, Đông viên và các khu vườn khác để đua chúng trở lại với cuộc sống.

Năm 1981, thành phố cổ này đã được Quốc vụ viện Cộng hòa nhân dân Trung Hoa liệt kê như là một trong bốn thành phố mà sự bảo vệ các di sản lịch sử và văn hóa cũng như cảnh quan thiên nhiên phải được đặt lên hàng đầu (các thành phố khác là Bắc Kinh, Hàng ChâuQuế Lâm). Kể từ đó, với các công trình kinh tế ở ngoại ô, Tô Châu đã phát triển thành một trong những thành phố thịnh vượng nhất ở Trung Quốc.

Các khu vườn cổ điển của Tô Châu đã được liệt kê trong danh sách di sản thế giới của UNESCO vào các năm 19972000.

Phân chia hành chính

Là một trong những thành phố thịnh vượng nhất của Trung Quốc, sự phát triển của Tô Châu có sự liên quan trực tiếp với sự lớn mạnh của các thành thị vệ tinh, đáng chú ý nhất là Côn Sơn, Thái ThươngTrương Gia Cảng. Các khu vực thuộc quyền quản lý hành chính của Tô Châu cũng là nơi có nhiều nhà máy, xí nghiệp công nghệ cao.

Tô Châu được chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm:

Bản đồ địa cấp thị Tô Châu
Tên đơn vị hành chínhChữ Hán giản thểBính âm Hán ngữDân số (2020)[5]Diện tích (km²)Mật độ (/km²)
Vùng đô thị
Cô Tô姑苏区Gūsū Qū2.058.0103725.532,28
Vùng ngoại ô
Hổ Khâu虎丘区Hǔqiū Qū832.4992583.226,74
Ngô Trung吴中区Wúzhōng Qū1.388.9726722.066,92
Tương Thành相城区Xiāngchéng Qū891.0554162.141,95
Ngô Giang吴江区Wújiāng Qū1.545.0231.0931.413,56
Thành phố cấp huyện
Thường Thục常熟市Chángshú Shì1.677.0501.0941.532,95
Thái Thương太仓市Tàicāng Shì831.1136201.340,5
Côn Sơn昆山市Kūnshān Shì2.092.4968652.419,07
Trương Gia Cảng张家港市Zhāngjiāgǎng Shì1.432.0447721.854,97
Tổng12.748.2528.4881.501,84
Không phải đơn vị hành chính chính thức – Khu công nghiệp Tô Châu & quận mới Tô Châu
Các quận đã giải thể – Thương Lãng, Bình Giang, & Kim Xương

Phong cảnh đặc sắc

Từ thời cổ đại đã có nhiều nhà thơ viết về phong cảnh Tô Châu. Nổi tiếng nhất trong số đó có lẽ là Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế với

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Lối vào một trong những khu vườn cổ tại Tô Châu

Các khu vực đáng chú ý có:

  • Bàn Môn có 2.500 năm tuổi, được xây dựng trong thời kỳ nước Ngô. Nó được biết đến vì kiến trúc xây dựng độc đáo duy nhất cũng như là sự kết hợp hài hòa của nước và cổng đất.
  • Hổ Khâu.
  • Huyền Diệu quan (xây dựng năm 276, xây dựng lại năm 1584)
  • Hổ Khâu tự (xây dựng năm 327, xây dựng lại năm 1871)
  • Hàn Sơn tự (Xây dựng năm 503, bị phá hủy và được xây dựng lại nhiều lần, lần tái thiết cuối cùng năm 1896).
  • Bảo Đái kiều (cầu đai báu – xây dựng lần đầu năm 816, xây dựng lại năm 1442)
  • Sơn Đường nhai (xây dựng năm 825)
  • Vân Nham tự (xây dựng năm 961)
  • Tháp Thụy Quang (xây dựng năm 1009)
  • Lưu viên(xây dựng năm 1525, xây dựng lại năm 1953)
  • Võng Sư viên (xây dựng thời kỳ nhà Tống)
  • Thương Lang đình (xây dựng năm 1696)
  • Hoàn Tú sơn trang
  • Sư Tử lâm viên (xây dựng năm 1342)
  • Nghệ phố
  • Ngẫu viên (giản thể: 藕园; phồn thể: 藕園; bính âm: Ǒu Yuán)
  • Ngẫu viên (giản thể: 耦园; phồn thể: 耦園; bính âm: Ǒu Yuán)
  • Thoái Tư viên
  • Di viên
  • Chuyết Chính viên (xây dựng năm 1513, xây dựng lại năm 1860)
  • Đông môn, tòa nhà cao nhất thành phố, hoàn thành trong năm 2007

Giao thông

Tháp Hổ Khâu của Vân Nham tự. Đây là một tháp nghiêng. Nó là ngọn tháp nổi tiếng nhất ở miền đông Trung Quốc

Tô Châu nằm ở vị trí thuận tiện trên tuyến đường sắt Kinh Hồ nối liền Thượng HảiNam Kinh, thủ phủ của tỉnh, với thời gian đi tới cả hai thành phố này chỉ khoảng trên dưới 1 giờ tàu chạy. Ga đường sắt Tô Châu là một trong những nhà ga bận rộn nhất tại Trung Quốc, với 139 tàu khách dừng tại đây mỗi ngày. Các tàu hỏa chỉ mất 45 phút tới Thượng Hải và khoảng 1,5 giờ tới Nam Kinh. Các đường bộ có thể chọn lựa là đường cao tốc Giang Tô-Thượng Hải, đường cao tốc ven sông Dương Tử, đường cao tốc Tô Châu-Gia Hưng-Hàng Châu. Năm 2005, đường vành đai mới đã hoàn thành, liên kết các huyện cấp thị ở ngoại vi như Thái Thương, Côn Sơn và Thường Thục. Theo đường thủy, Tô Châu được nối với Trương Gia Cảng, Lộ Trực (Phủ Lý), Thường Châu.

Mặc dù sân bay Quang Phúc phục vụ như là sân bay nối hai đô thị (Tô Châu-Bắc Kinh, Tô Châu-Phật Sơn, Quảng Đông) và Quốc vụ viện đã phê chuẩn việc xây dựng một sân bay chỉ phục vụ cho Tô Châu vào năm 2003, nhưng vận tải hàng không từ Tô Châu vẫn tiếp tục được thực hiện chủ yếu tại sân bay Hồng Kiều và sân bay quốc tế Phố Đông ở Thượng Hải.

Văn hóa

  • Nhạc kịch Trung Hoa: Côn khúc bắt nguồn từ khu vực Côn Sơn, Tô Châu vào khoảng thế kỷ 14–15, cũng như muộn hơn là nhạc kịch Tô Châu. Tô Châu bình đàn là một dạng kể chuyện bao gồm cả các đoạn hát với các đoạn nói.
  • Tơ lụa
  • Hàng thủ công mỹ nghệ: Các mặt hàng như tơ lụa thêu Tô Châu, quạt, nhạc cụ dân tộc, đèn lồng, đồ gỗ gụ, chạm khắc ngọc bích, thảm lụa thêu, các chất liệu màu hội họa truyền thống, các tranh in ván gỗ năm mới.
  • Hội họa
  • Thư pháp
  • Ẩm thực: Cua lớn hồ Dương Trừng, khiếm thực, tì bà, đông nhưỡng tửu, tương áp, tương trấp nhục v.v,...

Giáo dục

Tại Tô Châu có một số trường đại học và cao đẳng như:

Những người nổi tiếng

Nói về Tô Châu

Triển lãm bonsai/bồn cảnh trong một khu vườn tại Tô Châu.
Một thành phố lớn và quý phái... Nó có 1.600 cầu đá mà dưới đó thuyền bè có thể qua lại. - Marco Polo
Kinh đô tơ lụa, Venezia phương Đông, Nôi của nền văn hóa NgôThế giới vườn – các cách nói khác về Tô Châu.

Ngạn ngữ Trung Hoa

giản thể: ="上有天堂,下有苏杭"; phồn thể: "上有天堂,下有蘇杭" ("Thượng có thiên đường, hạ có Tô Hàng")
giản thể: "生在苏州,住在杭州,食在广州,死在柳州"; phồn thể: "生在蘇州,住在杭州,食在廣州,死在柳州" ("Sinh tại Tô Châu, trú tại Hàng Châu, thực tại Quảng Châu, tử tại Liễu Châu")
giản thể: "美不美太湖水,亲不亲故乡人"; phồn thể: "美不美太湖水,親不親故郷人" ("Đẹp hay không đẹp, cũng là nước Thái Hồ. Quen hay không quen, cũng là đồng hương")

Xem thêm

Tham khảo

  1. "Official data released recently by the Suzhou government". Suzhou Government.
  2. Calculated using data from Suzhou Statistics Bureau. Life Expectancy Index = 0.9672, Education Index = 0.8244, Income Index = 0.868. Refs:
  3. 苏U号牌来了!苏州将成江苏首个启用双号牌的城市. 交汇点. ngày 24 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
  4. "Table showing land area and population". Suzhou People's Government. 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2007.
  5. "苏州市第七次全国人口普查公报(第二号) – 苏州市统计局". tjj.suzhou.gov.cn. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.

Liên kết ngoài