Bước tới nội dung

Kỷ lục và thống kê các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang này liệt kê chi tiết thống kê chung về các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA, tính từ khi Cúp C1 châu Âu thành lập vào mùa giải 1955–56 đến nay.

Các đội bóng

Real Madrid đang nắm giữ kỷ lục với tổng số danh hiệu nhiều nhất (26), đồng thời là đội giành nhiều Siêu cúp châu Âu nhất (6 lần).[1] Đội bóng đến từ thủ đô Madrid của Tây Ban Nha này cũng đang giữ kỷ lục với 15 danh hiệu tại UEFA Champions League và các phiên bản tiền thân của giải đấu này.[2] Barcelona giữ kỷ lục với 4 lần vô địch Cúp C2 châu Âu cũ (UEFA Cup Winners’ Cup),[3] trong khi Sevilla là đội thành công nhất tại đấu trường UEFA Cup và UEFA Europa League với 7 chức vô địch. Các đội bóng Roma, West Ham United, Olympiacos và Chelsea đều đã một lần đăng quang tại UEFA Conference League. Các đội bóng Đức gồm Hamburger SV, Schalke 04 và VfB Stuttgart, cùng với Villarreal của Tây Ban Nha, là những đội giữ kỷ lục tại UEFA Intertoto Cup với 2 danh hiệu mỗi đội.

Xếp hạng các nhà vô địch những giải đấu lớn của châu Âu theo tỷ lệ chiến thắng

Bảng xếp hạng này tổng hợp các đội bóng từng giành chức vô địch ở một trong ba giải đấu cấp câu lạc bộ hàng đầu châu Âu (dù còn tồn tại hay đã bị bãi bỏ).

Bayern München là đội duy nhất từng kết thúc một giải đấu châu lục với thành tích toàn thắng 100%. Họ đạt được cột mốc này vào năm 2020 trong một phiên bản thi đấu đặc biệt, với các lượt trận từ tứ kết, bán kết và chung kết gồm 8 đội diễn ra tại địa điểm trung lập, theo thể thức loại trực tiếp một trận duy nhất do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 tại châu Âu.

Các trận đấu ở vòng sơ loại và vòng loại không được tính, cũng như các trận play-off; kết quả loạt sút luân lưu được ghi nhận theo tỷ số trước đó (bao gồm cả hiệp phụ).

Table key
  Đội vô địch Cúp C1 châu Âu / UEFA Champions League có thứ hạng cao nhất
  Đội vô địch Cúp C2 châu Âu cũ (UEFA Cup Winners' Cup) có thứ hạng cao nhất
  Đội vô địch UEFA Cup / UEFA Europa League có thứ hạng cao nhất
  Đội vô địch UEFA Europa Conference League / UEFA Conference League có thứ hạng cao nhất
HạngCâu lạc bộGiải đấuMùa giảiSTTBTBBHSTỷ lệ chiến thắng (%)
1.Đức Bayern MünchenChampions League2019–201111438+35100%
2.Anh ChelseaConference League2024–2513124210+3292.31%
Anh West Ham UnitedEuropa Conference League2022–231312298+2192.31%
4.Liên Xô Dynamo KyivCup Winners' Cup1974–7598175+1288.88%
Pháp Paris Saint-GermainCup Winners' Cup1995–9698164+1288.88%
6.Tây Ban Nha Atlético MadridEuropa League2011–1215133310+2386.67%
7.Tây Ban Nha Real MadridEuropean Cup1959–60763110+2185.71%
8.Anh Tottenham HotspurCup Winners' Cup1962–6376249+1585.71%
9.Hà Lan AjaxEuropean Cup1972–7376154+1185.71%
10.Ý Inter MilanEuropean Cup1963–6476155+1085.71%
11.Tây Ban Nha Real MadridChampions League2013–1413114110+3184.61%
12.Tây Ban Nha BarcelonaChampions League2014–1513113111+2084.61%
13.Ý JuventusUEFA Cup1992–931210316+2583.33%
14.Đức Borussia MönchengladbachUEFA Cup1974–751210329+2383.33%
15.Đức Bayern MünchenUEFA Cup1995–9612103210+2283.33%

Các đội bóng đã giành tất cả các cúp châu Âu cấp câu lạc bộ

4 chiếc cúp châu Âu cấp cấp lạc bộ

Vào năm 2025, Chelsea trở thành câu lạc bộ đầu tiên giành chức vô địch ở cả bốn giải đấu cấp câu lạc bộ chính thức của UEFA: Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, Cúp C2 châu Âu/UEFA Cup Winners' Cup, UEFA Cup/UEFA Europa League và UEFA Conference League.[4] Họ cũng là đội bóng duy nhất từng vô địch cả ba giải đấu lớn của UEFA trước năm 1999 nhiều hơn một lần mỗi giải: Cúp C2 châu Âu vào các mùa 1970–71 và 1997–98, UEFA Europa League vào các mùa 2012–13 và 2018–19, và UEFA Champions League vào các mùa 2011–12 và 2020–21.[a]

Câu lạc bộDanh hiệu thứ nhấtDanh hiệu thứ haiDanh hiệu thứ baDanh hiệu thứ tư
Anh ChelseaEuropean Cup Winners' Cup 1970–71UEFA Champions League 2011–12UEFA Europa League 2012–13UEFA Conference League 2024–25

Chỉ có lần đầu tiên giành chức vô địch được hiển thị cho bất kỳ câu lạc bộ nào có nhiều chức vô địch trong cùng một giải đấu.Bốn câu lạc bộ khác cũng đã từng giành danh hiệu bô địch ở ba giải đấu lớn của UEFA trước năm 1999 — được gọi là "cú ăn ba châu Âu" — bao gồm: Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, Cúp C2 châu Âu (cũ)/UEFA Cup Winners’ Cup và UEFA Cup/UEFA Europa League.[5][6][7]

Mặc dù UEFA Cup Winners’ Cup hiện không còn tồn tại, vẫn còn 27 đội từng vô địch giải đấu này có cơ hội giành thêm danh hiệu ở hai giải đấu còn lại để hoàn tất "cú ăn ba UEFA". Trong số đó, có 10 đội chỉ còn thiếu một danh hiệu nữa, bao gồm Barcelona và Milan — hai đội đã nhiều lần vô địch Champions League và Cúp C2, hiện chỉ còn thiếu danh hiệu Europa League để hoàn tất bộ ba danh hiệu UEFA.[8][9] Các đội bóng khác cũng chỉ còn thiếu danh hiệu Europa League để đạt được cú ăn ba này gồm có Hamburg, Borussia Dortmund và Manchester City — những đội đã từng một lần giành cả Cúp C1 và Cúp C2 trong quá khứ.

Năm câu lạc bộ còn lại cần giành chức vô địch Champions League để hoàn tất cú ăn ba gồm: Atlético Madrid, Tottenham Hotspur, Anderlecht, Valencia và Parma.

Ngoài ra, vẫn còn cơ hội cho 31 đội từng vô địch UEFA Cup Winners' Cup có thể giành thêm Europa League và Conference League để trở thành những câu lạc bộ giành trọn cả bốn danh hiệu chính của UEFA. Bất kỳ câu lạc bộ hiện tại nào cũng có thể hướng tới cú ăn ba UEFA hiện đại trong tương lai, tức là vô địch cả ba giải: Champions League, Europa League và Conference League.

Câu lạc bộDanh hiệu thứ nhấtDanh hiệu thứ haiDanh hiệu thứ ba
Ý JuventusUEFA Cup 1976–77European Cup Winners' Cup 1983–84European Cup 1984–85
Hà Lan AjaxEuropean Cup 1970–71European Cup Winners' Cup 1986–87UEFA Cup 1991–92
Đức Bayern MünchenEuropean Cup Winners' Cup 1966–67European Cup 1973–74UEFA Cup 1995–96
Anh Manchester UnitedEuropean Cup 1967–68European Cup Winners' Cup 1990–91UEFA Europa League 2016–17

Chỉ có lần đầu tiên giành chức vô địch được hiển thị cho bất kỳ câu lạc bộ nào có nhiều chức vô địch trong cùng một giải đấu.Juventus đã nhận được Biểu tượng UEFA từ liên đoàn vào năm 1988, để ghi nhận là đội đầu tiên trong lịch sử bóng đá châu Âu vô địch ở cả ba giải đấu câu lạc bộ lớn của UEFA,[10][11] và là đội duy nhất đạt được điều đó trong một nhiệm kỳ huấn luyện viên duy nhất (Giovanni Trapattoni). Họ đã hoàn thành cú ăn ba châu Âu trong khoảng thời gian ngắn nhất (tám năm), trong khi Manchester United đạt được điều đó trong thời gian dài nhất (49 năm).[12]

Hamburg, Fiorentina, Ajax, Arsenal, và Liverpool là những câu lạc bộ đã trở thành á quân ở cả ba giải đấu này.[13] Sau khi Conference League ra đời vào mùa giải 2021–22, Fiorentina trở thành câu lạc bộ đầu tiên để thua ở trận chung kết ở cả bốn giải đấu lớn cấp câu lạc bộ (theo mùa) ở châu Âu, sau khi để thua trận chung kết Europa Conference League 2023.

Danh sách các đội đã vô địch tất cả các giải đấu câu lạc bộ UEFA trước năm 1999

Cho đến trận chung kết Conference League đầu tiên vào năm 2022, Juventus là câu lạc bộ duy nhất trong lịch sử UEFA đã giành tất cả các danh hiệu chính thức đối với cấp câu lạc bộ của nam do UEFA tổ chức (bao gồm cả các danh hiệu chỉ được quyết định bằng một trận đấu).[14]

Câu lạc bộDanh hiệu thứ nhấtDanh hiệu thứ haiDanh hiệu thứ baDanh hiệu thứ tưDanh hiệu thứ nămDanh hiệu thứ sáu
Ý JuventusUEFA Cup 1976–77European Cup Winners' Cup 1983–84Siêu cúp châu Âu 1984European Cup 1984–85Cúp Liên lục địa 1985UEFA Intertoto Cup 1999

Chỉ có lần đầu tiên giành chức vô địch được hiển thị cho bất kỳ câu lạc bộ nào có nhiều chức vô địch trong cùng một giải đấu.Đội bóng Đức Hamburg là câu lạc bộ duy nhất giành ngôi á quân ở cả sáu giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA diễn ra cho đến năm 2021.[13] Câu lạc bộ đã thua trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1968, Siêu cúp châu Âu năm 1977 và 1983, trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1980, trận chung kết Cúp UEFA năm 1982, Cúp Liên lục địa năm 1983 và trận chung kết Cúp UEFA Intertoto năm 1999.

Tất cả các đội vào chung kết đều đến từ một quốc gia

Mùa giải 2018–19 là lần đầu tiên tất cả các trận chung kết châu Âu chỉ có đại diện đến từ một quốc gia (Anh). Trong trận chung kết Champions League, Liverpool đã đánh bại Tottenham Hotspur, trong khi Chelsea đánh bại Arsenal trong trận chung kết Europa League.[15][16][17][18]

Mùa giảiGiải đấuVô địchÁ quân
2018–19UEFA Champions LeagueAnh LiverpoolAnh Tottenham Hotspur
UEFA Europa LeagueAnh ChelseaAnh Arsenal

Các đội vô địch từ một quốc gia

Trước khi Cúp C2 châu Âu (UEFA Cup Winners' Cup) bị bãi bỏ vào năm 1999 và sau khi UEFA Conference League được khởi tranh vào năm 2021, chỉ có một lần ba câu lạc bộ từ cùng một quốc gia — Italia vào mùa giải 1989–90 — giành chiến thắng ở cả ba giải đấu lớn của UEFA trong cùng một mùa giải.[19] Trong khoảng thời gian giữa đó, các câu lạc bộ từ cùng một quốc gia đã giành cả hai danh hiệu còn lại (Champions League và Europa League) trong cùng một mùa giải tổng cộng sáu lần: hai đội bóng Tây Ban Nha vào các mùa 2005–06, 2013–14, 2014–15, 2015–16, và 2017–18, cùng hai đội bóng Anh vào mùa giải 2018–19.

Mùa giảiĐấu trườngNhà vô địch
1989–90European CupÝ Milan
European Cup Winners' CupÝ Sampdoria
UEFA CupÝ Juventus
2005–06UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Barcelona
UEFA CupTây Ban Nha Sevilla
2013–14UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real Madrid
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha Sevilla
2014–15UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Barcelona
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha Sevilla
2015–16UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real Madrid
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha Sevilla
2017–18UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real Madrid
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha Atlético Madrid
2018–19UEFA Champions LeagueAnh Liverpool
UEFA Europa LeagueAnh Chelsea

Các đội á quân từ cùng một hiệp hội/liên đoàn

Mùa giải 2022–23 đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá châu Âu, ba đội bóng khác nhau từ cùng một hiệp hội (Liên đoàn bóng đá Italia - FIGC) đều thất bại ở cả ba giải đấu UEFA: Inter Milan thua trong trận chung kết Champions League, Roma thua trong trận chung kết Europa League, và Fiorentina thất bại trong trận chung kết Europa Conference League.[20][21]

Mùa giảiĐấu trườngVô địchÁ quân
2001–02UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real MadridĐức Bayer Leverkusen
UEFA CupHà Lan FeyenoordĐức Borussia Dortmund
2003–04UEFA Champions LeagueBồ Đào Nha PortoPháp Monaco[b]
UEFA CupTây Ban Nha ValenciaPháp Marseille
2005–06UEFA Champions LeagueTây Ban Nha BarcelonaAnh Arsenal
UEFA CupTây Ban Nha SevillaAnh Middlesbrough
2018–19UEFA Champions LeagueAnh LiverpoolAnh Tottenham Hotspur
UEFA Europa LeagueAnh ChelseaAnh Arsenal
2020–21UEFA Champions LeagueAnh ChelseaAnh Manchester City
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha VillarrealAnh Manchester United
2022–23UEFA Champions LeagueAnh Manchester CityÝ Inter Milan
UEFA Europa LeagueTây Ban Nha SevillaÝ Roma
UEFA Europa Conference LeagueAnh West Ham UnitedÝ Fiorentina

Các đội vào chung kết từ cùng một quốc gia

Trước năm 1997, UEFA Cup là giải đấu duy nhất ở châu Âu có quy định thường xuyên cử nhiều đội bóng từ một quốc gia tham dự. Điều này đã dẫn đến việc có một số trận chung kết với sự góp mặt của hai đội bóng từ cùng một quốc gia, điều này trái ngược với các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA trước thời điểm đó.[22]

Tổng cộng, đã có 11 lần ở UEFA Cup/Europa League, 8 lần ở UEFA Champions League và 8 lần ở UEFA Super Cup, các trận chung kết của các giải đấu này có sự tham gia của hai đội bóng đến từ cùng một quốc gia.[23][24] Điều này tạo nên tổng cộng 27 trận chung kết giữa các đội bóng từ cùng một quốc gia trong tất cả các giải đấu trên (10 trận chung kết toàn Tây Ban Nha, 7 trận chung kết toàn Italia, 7 trận chung kết toàn Anh, 2 trận chung kết toàn Đức và 1 trận chung kết toàn Bồ Đào Nha).

NămGiải đấuQuốc giaVô địchTỷ sốÁ quân
1972UEFA Cup AnhTottenham Hotspur3–2 (tts)Wolverhampton Wanderers
1980UEFA Cup Tây ĐứcEintracht Frankfurt3–3 (a)Borussia Mönchengladbach
1990UEFA Cup ÝJuventus3–1 (tts)Fiorentina
1990European Super Cup ÝMilan3–1 (tts)Sampdoria
1991UEFA Cup ÝInter Milan2–1 (tts)Roma
1993European Super Cup ÝParma2–1 (tts)Milan
1995UEFA Cup ÝParma2–1 (tts)Juventus
1998UEFA Cup ÝInter Milan3–0Lazio
2000UEFA Champions League Tây Ban NhaReal Madrid3–0Valencia
2003UEFA Champions League ÝMilan0–0 (3–2 p)Juventus
2006UEFA Super Cup Tây Ban NhaSevilla3–0Barcelona
2007UEFA Cup Tây Ban NhaSevilla2–2 (3–1 p)Espanyol
2008UEFA Champions League AnhManchester United1–1 (6–5 p)Chelsea
2011UEFA Europa League Bồ Đào NhaPorto1–0Braga
2012UEFA Europa League Tây Ban NhaAtlético Madrid3–0Athletic Bilbao
2013UEFA Champions League ĐứcBayern München2–1Borussia Dortmund
2014UEFA Champions League Tây Ban NhaReal Madrid4–1 (s.h.p.)Atlético Madrid
2014UEFA Super Cup Tây Ban NhaReal Madrid2–0Sevilla
2015UEFA Super Cup Tây Ban NhaBarcelona5–4 (s.h.p.)Sevilla
2016UEFA Super Cup Tây Ban NhaReal Madrid3–2 (s.h.p.)Sevilla
2016UEFA Champions League Tây Ban NhaReal Madrid1–1 (5–3 p)Atlético Madrid
2018UEFA Super Cup Tây Ban NhaAtlético Madrid4–2 (s.h.p.)Real Madrid
2019UEFA Europa League AnhChelsea4–1Arsenal
2019UEFA Champions League AnhLiverpool2–0Tottenham Hotspur
2019UEFA Super Cup AnhLiverpool2–2 (5–4 p)Chelsea
2021UEFA Champions League AnhChelsea1–0Manchester City
2025UEFA Europa League AnhTottenham Hotspur1–0Manchester United

Các đội vào chung kết từ cùng một thành phố

Các câu lạc bộ đến từ cùng một thành phố đã đối đầu nhau trong trận chung kết vào bốn lần. Chỉ có các câu lạc bộ từ Madrid và London là đạt được thành tích hiếm hoi này.

NămGiảiVô địchÁ quân
2013–14UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real MadridTây Ban Nha Atlético Madrid
2015–16UEFA Champions LeagueTây Ban Nha Real MadridTây Ban Nha Atlético Madrid
2018UEFA Super CupTây Ban Nha Atlético MadridTây Ban Nha Real Madrid
2018–19UEFA Europa LeagueAnh ChelseaAnh Arsenal

Các kỷ lục khác

  • Milan là đội thua nhiều trận chung kết các giải đấu cấp câu lạc bộ do UEFA tổ chức nhất, với tổng cộng 11 lần thất bại: 4 lần ở Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, 4 lần ở Cúp Liên lục địa (cùng với đội bóng Argentina Independiente), 1 lần ở Cúp C2 châu Âu, và 2 lần ở Siêu cúp châu Âu.[25]
  • Real Madrid là đội đã tham gia (611 trận) và giành chiến thắng (359 trận) nhiều hơn bất kỳ đội nào khác tại châu Âu, đồng thời cũng nắm giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được (1,296 bàn) và số bàn thua phải nhận (670 bàn) tính đến ngày 16 tháng 4 năm 2025.[25]
  • Barcelona là đội có số trận hòa nhiều nhất (122 trận) tính đến ngày 6 tháng 5 năm 2025.[25]
  • Anderlecht là đội thua nhiều trận nhất trong các giải đấu của liên đoàn (152 trận) tính đến ngày 20 tháng 2 năm 2025.[25]
  • Jeunesse Esch là đội có hiệu số bàn thắng – bàn thua tệ nhất trong các trận đấu của UEFA (−183 sau 81 trận) tính đến tháng 6 năm 2020.[25]

Cầu thủ

Cầu thủ đã vô địch ở cả ba giải đấu lớn cấp câu lạc bộ của UEFA

Bảng dưới đây liệt kê mười cầu thủ đã vô địch ở cả ba giải đấu lớn cấp câu lạc bộ của UEFA, bao gồm các giải đấu cũ và hiện tại (theo thứ tự thời gian).[26][27]

Cầu thủDanh hiệu thứ nhấtDanh hiệu thứ haiDanh hiệu thứ ba
Ý Antonio CabriniUEFA Cup 1976–77 (Juventus)European Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)
Ý Gaetano ScireaUEFA Cup 1976–77 (Juventus)European Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)
Ý Marco TardelliUEFA Cup 1976–77 (Juventus)European Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)
Hà Lan Arnold MührenEuropean Cup 1972–73 (Ajax)UEFA Cup 1980–81 (Ipswich Town)European Cup Winners' Cup 1986–87 (Ajax)
Ý Sergio BrioEuropean Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)UEFA Cup 1989–90 (Juventus)
Ý Stefano TacconiEuropean Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)UEFA Cup 1989–90 (Juventus)
Hà Lan Danny BlindEuropean Cup Winners' Cup 1986–87 (Ajax)UEFA Cup 1991–92 (Ajax)UEFA Champions League 1994–95 (Ajax)
Ý Gianluca VialliEuropean Cup Winners' Cup 1989–90 (Sampdoria)UEFA Cup 1992–93 (Juventus)UEFA Champions League 1995–96 (Juventus)
Bồ Đào Nha Vítor BaíaUEFA Cup Winners' Cup 1996–97 (Barcelona)UEFA Cup 2002–03 (Porto)UEFA Champions League 2003–04 (Porto)
Ý Emerson PalmieriUEFA Europa League 2018–19 (Chelsea)UEFA Champions League 2020–21 (Chelsea)UEFA Europa Conference League 2022–23 (West Ham United)

Chỉ có lần đầu tiên giành chức vô địch được hiển thị cho bất kỳ câu lạc bộ nào có nhiều chức vô địch trong cùng một giải đấu.

Các cầu thủ đã giành danh hiệu ở các giải cấp câu lạc bộ khác nhau do UEFA tổ chức

Mặc dù chưa có cầu thủ nào vô địch ở tất cả sáu giải đấu, bảng dưới đây liệt kê sáu cầu thủ đã vô địch ở năm giải đấu quốc tế khác nhau do UEFA tổ chức,[27] bao gồm ba giải đấu theo mùa, trước khi UEFA Conference League ra mắt vào mùa giải 2021–22 (theo thứ tự thời gian).

Cầu thủEuropean Cup/
Champions League
UEFA Cup/
Europa League
[27]
UEFA Cup Winners' CupUEFA Super CupIntercontinental Cup
Ý Gaetano Scirea1985 – Juventus1977 – Juventus1984 – Juventus1984 – Juventus1985 – Juventus
Ý Antonio Cabrini
Hà Lan Arnold Mühren1973 – Ajax1981 – Ipswich Town1987 – Ajax1973 – Ajax1972 – Ajax
Ý Stefano Tacconi1985 – Juventus1990 – Juventus1984 – Juventus1984 – Juventus1985 – Juventus
Ý Sergio Brio
Hà Lan Danny Blind1995 – Ajax1992 – Ajax1987 – Ajax1995 – Ajax1995 – Ajax

Số lần xuất hiện nhiều nhất trong các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA

Tính đến 28 tháng 5 năm 2025[28]

Bao gồm UEFA Champions League (UCL), UEFA Cup Winners' Cup (UCWC), UEFA Europa League (UEL), UEFA Conference League (UECL), UEFA Intertoto Cup (UIC), UEFA Super Cup (USC), Intercontinental Cup (IC)

HạngCầu thủSTRa mắt
ở châu Âu
Giải nghệCác CLB
1Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo1972002Sporting CP
Manchester United
Real Madrid
Juventus
2Tây Ban Nha Pepe Reina19220002025Barcelona
Villarreal
Liverpool
Napoli
Milan
Lazio
3Tây Ban Nha Iker Casillas18819992019Real Madrid
Porto
4Ý Paolo Maldini17419852009Milan
5Croatia Luka Modrić1732006Dinamo Zagreb
Tottenham Hotspur
Real Madrid
Tây Ban Nha Xavi17319992019Barcelona
7Ý Gianluigi Buffon16719952023Parma
Juventus
Paris Saint-Germain
Argentina Lionel Messi1672004Barcelona
Paris Saint-Germain
Đức Thomas Müller1672009Bayern München
10Đức Toni Kroos16420072024Bayern München
Real Madrid

Im đậm = Đang thi đấu
In nghiêng = Đang thi đấu nhưng không thi đấu tại các liên đoàn thuộc UEFA

Cầu thủ ghi bàn

Tính đến 28 tháng 5 năm 2025[29]

Bao gồm UEFA Champions League (UCL), UEFA Cup Winners' Cup (UCWC), UEFA Europa League (UEL), UEFA Conference League (UECL), UEFA Intertoto Cup (UIC), UEFA Super Cup (USC), Intercontinental Cup (IC)

HạngCầu thủBàn thắngSTTỷ lệRa mắt
ở châu Âu
Giải nghệCác CLB
1Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo1451970.742002Sporting CP
Manchester United
Real Madrid
Juventus
2Argentina Lionel Messi1321670.792004Barcelona
Paris Saint-Germain
3Ba Lan Robert Lewandowski1131600.712008Lech Poznań
Borussia Dortmund
Bayern München
Barcelona
4Pháp Karim Benzema921570.592005Lyon
Real Madrid
5Tây Ban Nha Raúl771610.4819952012Real Madrid
Schalke 04
6Ý Filippo Inzaghi701140.61Parma
Juventus
Milan
7Ukraina Andriy Shevchenko671430.471994Dynamo Kyiv
Milan
Chelsea
8Bosna và Hercegovina Edin Džeko651530.422008Wolfsburg
Manchester City
Roma
Inter Milan
Fenerbahçe
9Anh Harry Kane641000.642011Tottenham Hotspur
Bayern München
10Argentina Sergio Agüero631090.5820072021Atlético Madrid
Manchester City
Barcelona

In đậm = Đang thi đấu
In nghiêng = Đang thi đấu nhưng ở các liên đoàn không thuộc UEFA

Kỷ lục khác

  • Vào tháng 9 năm 2021, Harry Kane trở thành cầu thủ đầu tiên ghi được hat-trick ở cả ba giải đấu: Champions League, Europa League và Conference League.[30]
  • Paolo Maldini là cầu thủ có số lần ra sân nhiều nhất tại các giải đấu châu Âu cho một câu lạc bộ duy nhất (174 lần cho Milan).
  • Vào tháng 3 năm 2023, Gift Orban trở thành cầu thủ ghi hat-trick nhanh nhất trong lịch sử các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA.[31]

Huấn luyện viên

Danh sách các huấn luyện viên đã giành chiến thắng ở cả ba giải đấu lớn cấp câu lạc bộ của UEFA

Bảng dưới đây đề cập 3 huấn luyện viên đã giành cả 3 cúp châu Âu.[27]

ManagerFirst titleSecond titleTreble title
Đức Udo LattekEuropean Cup 1973–74 (Bayern München)UEFA Cup 1978–79 (Borussia Mönchengladbach)European Cup Winners' Cup 1981–82 (Barcelona)
Ý Giovanni TrapattoniUEFA Cup 1976–77 (Juventus)European Cup Winners' Cup 1983–84 (Juventus)European Cup 1984–85 (Juventus)
Bồ Đào Nha José MourinhoUEFA Cup 2002–03 (Porto)UEFA Champions League 2003–04 (Porto)UEFA Europa Conference League 2021–22 (Roma)

Chỉ tính lần đầu tiên đoạt danh hiệu.

Huấn luyện viên người Pháp Arsène Wenger là huấn luyện viên duy nhất từng về nhì ở ba giải đấu lớn cấp câu lạc bộ của UEFA.[27] Ông đã về nhì ở Cúp C2 châu Âu 1991–92 cùng Monaco, và ở UEFA Cup 1999–2000 và UEFA Champions League 2005–06 cùng Arsenal.

Huấn luyện viên giành danh hiệu ở tất cả các giải đấu quốc tế cấp câu lạc bộ do UEFA tổ chức

Mặc dù chưa có huấn luyện viên nào giành chiến thắng ở cả bảy giải đấu, Giovanni Trapattoni đã giành chiến thắng ở năm giải đấu quốc tế khác nhau do UEFA tổ chức,[27] bao gồm ba giải đấu theo mùa, trước khi UEFA Conference League ra mắt vào mùa giải 2021–22.

Huấn luyện viênEuropean Cup/
Champions League
UEFA Cup/
Europa League
[27]
UEFA Cup Winners' CupUEFA Super CupIntercontinental Cup
Ý Giovanni Trapattoni1985 – Juventus1977 – Juventus1984 – Juventus1984 – Juventus1985 – Juventus

Chỉ tính lần đầu tiên đoạt danh hiệu.

Số lượng khán giả

HạngTrậnNgàyGiảiSân và thành phốSố khán giảChú thích
1Scotland Celtic 2–1 Anh Leeds United15 April 1970European CupHampden Park, Glasgow, Scotland136.505 (số liệu chính thức)[32]

Xem thêm

Chú thích

Ghi chú
  1. Chelsea giành 2 danh hiệu UEFA Super Cup vào năm 1998 và 2021
  2. Monaco là một câu lạc bộ đến từ quốc gia có chủ quyền Monaco nhưng đang chơi ở hệ thống giải bóng đá chuyên nghiệp của Pháp.
Nguồn tham khảo
  1. "Competition format". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 1 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2008.
  2. "Final facts and figures". UEFA.com. Union of European Football Associations. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008.
  3. "Competition format". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 13 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008.
  4. "Chelsea complete set of UEFA club trophies". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 28 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  5. "Stats: Mourinho takes place among coaching greats". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2023.
  6. "Chelsea join illustrious trio". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 15 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2018.
  7. "Tottenham eye rare European clean sweep". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 30 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2023.
  8. "Un dilema histórico". El Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2003.
  9. "El Barça, gran atracción del sorteo". El Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 16 tháng 7 năm 1992. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  10. "Giovanni Trapattoni". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 31 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
  11. Giorgio Viglino (ngày 13 tháng 7 năm 1988). "Boniperti e Futre, è la volta buona". La Stampa (bằng tiếng Ý). tr. 22. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010.
  12. "Tottenham eye rare European clean sweep". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 30 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025. [...] 49 years separated United's first European title and the UEFA Europa League trophy that completed the set.
  13. 1 2 Roberto Di Maggio (ngày 18 tháng 2 năm 2021). "International Finalists". Record Sport Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  14. Xem các nguồn:
  15. "Has one country ever had all European finalists before?". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 9 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2019.
  16. "Champions League & Europa League: English clubs make history by taking four final places". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2019.
  17. Meaney, Jonathan (ngày 9 tháng 5 năm 2019). "England makes history with four clubs in both European finals". Diario AS. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  18. "Four English clubs are through to the Champions League quarter-finals". OneFootball. ngày 13 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  19. "1989/90: Rijkaard seals Milan triumph". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 23 tháng 5 năm 1990. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015.
  20. Prisco, Antonio (ngày 11 tháng 6 năm 2023). "Zero vittorie su tre finali europee: il flop "record" delle italiane in coppa". Il Giornale (bằng tiếng Ý). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  21. Arellano, Bryan (ngày 12 tháng 6 năm 2023). "Italy lose four finals | Champions League, Europa League, Conference League and U-20 World Cup". Diario AS. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  22. Berlin, Peter (ngày 19 tháng 9 năm 1997). "European Soccer: Fans Aren't Cheering Champions League". New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  23. "The Most European Finals Between Teams From the Same Country". TheAnalyst.com. Opta Analyst. ngày 14 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
  24. Stokkermans, Karel (ngày 11 tháng 8 năm 2022). "European Super Cup". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.
  25. 1 2 3 4 5 "Which teams have played the most UEFA games?". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 1 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  26. "Treble chance for Vítor Baía". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 21 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012.
  27. 1 2 3 4 5 6 7 The Inter-Cities Fairs Cup (1958–1971) is not included in this list because is not recognised as official European competition by UEFA. The Intertoto Cup, competition per clubs recognised by the main football organisation in Europe since 1995, is also not included in this list. See "Legend: UEFA club competitions" (PDF). UEFA.com. Union of European Football Associations: 23. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2006.
  28. "Who has made the most UEFA club competition appearances?". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 19 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  29. "UEFA club competition all-time top scorers: Cristiano Ronaldo and Lionel Messi clear". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 19 tháng 9 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
  30. "Tottenham 5–1 NS Mura: Harry Kane comes off bench to score hat-trick". BBC Sport. ngày 30 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  31. "Orban scores fastest ever UEFA club competition hat-trick". UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 16 tháng 3 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
  32. "Celtic's Battles of Britain". BBC News. British Broadcasting Corporation. ngày 7 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2013.

Liên kết ngoài