Danh sách nhà vô địch bóng đá Việt Nam
| Danh sách nhà vô địch bóng đá Việt Nam | |
|---|---|
| Giải bóng đá A1 toàn quốc (1980–1989) Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc (1990–1996) Giải bóng đá hạng Nhất Quốc gia (1997–2000) Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Chuyên nghiệp (2000–2003) Giải bóng đá Vô địch Quốc gia (2004–nay) | |
| Quốc gia | |
| Thành lập | |
| 1980 | |
| Số đội từng vô địch | |
| 15 đội | |
| Đương kim vô địch | |
| Thép Xanh Nam Định (lần thứ 3, 2024–25) | |
| Vô địch nhiều nhất | |
| Hà Nội (2006) và Thể Công (6 lần) |
Các nhà vô địch bóng đá Việt Nam là những nhà vô địch hàng năm của giải đấu hàng đầu trong hệ thống giải đấu bóng đá Việt Nam.[2] Sau quá trình chuẩn bị, vào năm 1989, Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) đã được thành lập với tư cách là tổ chức quản lý các hoạt động bóng đá trong nước, trong đó có các giải bóng đá cấp quốc gia.[3] Đến năm 2011, sau những mâu thuẫn giữa một nhóm câu lạc bộ với VFF, Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) đã ra đời, thay thế vai trò của VFF trong việc tổ chức và điều hành các giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia.[4][5]
Trước đó, bóng đá Việt Nam đã có lịch sử trải dài từ năm 1896, khi môn thể thao này được người Pháp du nhập đầu tiên vào Sài Gòn, sau đó dần được lan rộng ra các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Từ sau năm 1954, do tình hình chia cắt đất nước, nền bóng đá Việt Nam bị phân tách thành hai miền với hai hệ thống bóng đá cùng tồn tại độc lập với nhau. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu tổ chức giải vô địch bóng đá đầu tiên với tên gọi Giải bóng đá Hòa Bình vào năm 1955, sau đó một năm đổi tên thành Giải bóng đá hạng A miền Bắc.[6] Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa được ghi nhận cũng có giải đấu quốc nội riêng, với các trận đấu đã bắt đầu ít nhất từ năm 1961.[7] Sau khi đất nước thống nhất trở lại vào năm 1975, các giải vô địch bóng đá trong nước đã được phân hoạch theo ba khu vực và diễn ra trong giai đoạn từ 1976 đến 1979, bao gồm giải Hồng Hà ở miền Bắc, giải Trường Sơn ở miền Trung và giải Cửu Long ở miền Nam. Trên cơ sở đó, Tổng cục Thể dục thể thao đã đi đến quyết định tổ chức một giải bóng đá trên quy mô toàn quốc, bắt đầu từ năm 1980 với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc; đây được xem là cột mốc đánh dấu sự ra đời của Giải bóng đá Vô địch Quốc gia (V.League 1) hiện nay.[8][9] Nhà vô địch đầu tiên của giải đấu là Tổng cục Đường sắt, đội đã kết thúc mùa giải với thành tích bất bại.[10]
Số lượng đội bóng tham gia giải đấu tăng dần cho đến năm 1989, khi có tới 32 đội bước vào mùa giải phân hạng nhằm chọn ra 18 đội đạt đẳng cấp "đội mạnh", làm tiền đề cho sự hình thành của Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc vào năm 1990 (được biết đến với tên Giải bóng đá hạng Nhất quốc gia từ năm 1997).[11][12] Sau một mùa giải không được tổ chức và được thay thế bằng giải tập huấn vào năm 1999, mùa giải 1999–00 trở thành mùa giải hạng Nhất cuối cùng trước khi 10 đội bóng đứng đầu được tách ra và thi đấu ở một hạng đấu mới theo mô hình chuyên nghiệp.[9]
Thống kê theo mùa giải
Các đội đoạt huy chương
| * | Đội vô địch với thành tích bất bại |
| Đội giành cú đúp quốc nội[b] | |
| ‡ | Đội giành cú ăn ba quốc nội[c] |
Bảng tổng sắp huy chương
| Đội đang tham dự giải Vô địch Quốc gia | |
| Đội đang tham dự giải hạng Nhất Quốc gia | |
| Đội đang tham dự giải hạng Nhì Quốc gia | |
| Đội đang tham dự giải hạng Ba Quốc gia | |
| Đội đã giải thể |
Thống kê theo số danh hiệu
Đã có 15 câu lạc bộ từng giành được danh hiệu ở cấp độ cao nhất của bóng đá Việt Nam, 11 trong số đó từng đoạt ngôi vô địch ở kỷ nguyên V.League (2000–nay). Đội gần đây nhất được thêm vào danh sách này là Quảng Nam (nhà vô địch mùa giải 2017), trước đó là các đội Hà Nội (2006) (vô địch lần đầu tiên vào năm 2010 với phiên hiệu Hà Nội T&T) và Bình Dương (vô địch lần đầu tiên vào năm 2007 với phiên hiệu Becamex Bình Dương).
Có 6 đội đã từng kết thúc mùa giải ở vị trí á quân mà chưa từng vô địch gồm Quân khu Thủ đô (1981–82), Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (1985), Huế (1995, với phiên hiệu Thừa Thiên – Huế), Hải Phòng (2016 và 2022), Thanh Hóa (2017 và 2018, đều với phiên hiệu FLC Thanh Hóa) và Bình Định (2023–24, với phiên hiệu MerryLand Quy Nhơn Bình Định). Trong số này, Hải Phòng là đội tiến gần nhất đến chức vô địch quốc gia khi họ bằng điểm và bằng kết quả đối đầu với nhà vô địch mùa giải 2016 là Hà Nội (2006) (phiên hiệu khi đó là Hà Nội T&T) nhưng lại kém hơn đối thủ về hiệu số bàn thắng bại.[13]
| Hạng | Câu lạc bộ | Vô địch | |
|---|---|---|---|
| Số lần | Các mùa giải | ||
| 1 | Hà Nội (2006) | 6 | 2010, 2013, 2016, 2018, 2019, 2022 |
| Thể Công | 1981–82, 1982–83, 1987, 1990, 1998, 2020 | ||
| 3 | Bình Dương | 4 | 2007, 2008, 2014, 2015 |
| Thành phố Hồ Chí Minh | 1986, 1993–94, 1997, 2001–02 | ||
| 5 | Đà Nẵng | 3 | 1992, 2009, 2012 |
| Sông Lam Nghệ An | 1999–00, 2000–01, 2011 | ||
| Nam Định | 1985, 2023–24, 2024–25 | ||
| 8 | Long An | 2 | 2005, 2006 |
| Công an Hà Nội | 1984, 2023 | ||
| Gia Lai | 2003, 2004 | ||
| Đồng Tháp | 1989, 1996 | ||
| 12 | Công an Thành phố Hồ Chí Minh | 1 | 1995 |
| Hải quan | 1991 | ||
| Hà Nội (1956) | 1980 | ||
| Quảng Nam | 2017 | ||
Theo khu vực
| Vùng | Số lần vô địch | |
|---|---|---|
| Chi tiết | Tổng thể | |
| Đồng bằng sông Hồng | Hà Nội (2006) (6) | 18 |
| Thể Công (6) | ||
| Nam Định (3) | ||
| Công an Hà Nội (2) | ||
| Hà Nội (1956) (1) | ||
| Đông Nam Bộ | Bình Dương (4) | 12 |
| Thành phố Hồ Chí Minh (4) | ||
| Long An (2) | ||
| Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1) | ||
| Hải quan (1) | ||
| Nam Trung Bộ (Duyên hải Nam Trung Bộ & Tây Nguyên) | Đà Nẵng (3) | 6 |
| Gia Lai (2) | ||
| Quảng Nam (1) | ||
| Bắc Trung Bộ | Sông Lam Nghệ An (3) | 3 |
| Đồng bằng sông Cửu Long | Đồng Tháp (2) | 2 |
| Tây Bắc Bộ | 0 | |
| Đông Bắc Bộ | 0 | |
Theo địa phương
| Tỉnh/Thành phố | Số lần vô địch | |
|---|---|---|
| Chi tiết | Tổng thể | |
| Hà Nội | Hà Nội (2006) (6) | 15 |
| Thể Công (6) | ||
| Công an Hà Nội (2) | ||
| Hà Nội (1956) (1) | ||
| Thành phố Hồ Chí Minh | Bình Dương (4) | 10 |
| Thành phố Hồ Chí Minh (4) | ||
| Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1) | ||
| Hải quan (1) | ||
| Đà Nẵng | Đà Nẵng (3) | 4 |
| Quảng Nam (1) | ||
| Ninh Bình | Nam Định (3) | 3 |
| Nghệ An | Sông Lam Nghệ An (3) | |
| Tây Ninh | Long An (2) | 2 |
| Gia Lai | Gia Lai (2) | |
| Đồng Tháp | Đồng Tháp (2) | |
Xem thêm
Chú thích
Ghi chú
- ↑ Ảnh được chụp trước khi trận đấu giữa Sông Lam Nghệ An và Hà Nội T&T ở vòng đấu cuối cùng diễn ra. Trận đấu kết thúc với tỷ số 1–1, qua đó giúp đội chủ nhà lên ngôi vô địch quốc gia lần thứ 3 trong lịch sử.[1]
- ↑ Vô địch Quốc gia và Cúp Quốc gia, hoặc Vô địch Quốc gia và Siêu cúp Quốc gia, hoặc Cúp Quốc gia và Siêu cúp Quốc gia.
- ↑ Vô địch Quốc gia, Cúp Quốc gia và Siêu cúp Quốc gia.
Tham khảo
- ↑ Khoa Nguyễn. "Sông Lam Nghệ An vô địch V-League sau 10 năm". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Minh Hải (ngày 18 tháng 7 năm 2005). "Gạch Đồng Tâm lần đầu tiên vô địch bóng đá VN". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Minh Hùng (ngày 31 tháng 5 năm 2005). "15 năm nhìn lại". Sài Gòn Giải Phóng Thể thao. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Đơn Ca (ngày 5 tháng 9 năm 2021). "10 năm đi vòng tròn của VPF". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Minh Trang (ngày 9 tháng 9 năm 2011). ""Bầu" Kiên gây sốc ở Lễ tổng kết V-League 2011". Báo điện tử VTV. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Phong Vũ; Nguyễn Huy (ngày 30 tháng 5 năm 2025). "Bóng đá ở miền bắc 1954-1975: Giữa lửa đạn chiến tranh, song hành công cuộc kiến quốc". Báo Nhân Dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Neil Morrison. "South Vietnam 1961/62". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Thanh Hải (ngày 3 tháng 5 năm 2025). "Chuyện ít biết về giải Vô địch Quốc gia đầu tiên và bóng đá Việt thời gian khó". Báo điện tử Tiền Phong. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Trần Tuấn (ngày 1 tháng 2 năm 2023). "Từ A1 đến V-League: Chưa bao giờ là ổn". Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Quang Minh (ngày 30 tháng 4 năm 2024). "Chuyện về những người đi "mở đường"". Dân sinh. Báo điện tử Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Trần Duy Long (ngày 26 tháng 4 năm 2016). "Đội bóng xứ Sen hồng". Quân đội nhân dân Cuối tuần. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Viết Thành (ngày 13 tháng 6 năm 2023). "V-League không có trên Google (phần 3): CLB Đồng Tháp xứng danh là... Leicester Việt Nam". Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Mạnh Nguyễn (ngày 18 tháng 9 năm 2016). "V-League 2016: Hà Nội T&T vô địch sau cuộc đua "nghẹt thở" với Hải Phòng". Báo Công lý. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
Liên kết ngoài
- "Ngược dòng lịch sử giải Vô địch quốc gia Việt Nam". Liên đoàn bóng đá Việt Nam. ngày 6 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
- Sơn Tùng (ngày 30 tháng 1 năm 2023). "Những đội bóng vô địch V-League nhiều nhất". Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
- "Vietnam – List of Champions". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
- Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam
- Nhà vô địch bóng đá quốc gia