Dòng tâm thức
Dòng tâm thức (tiếng Anh: mindstream) hay tâm tương tục (chữ Hán: 心相續, tiếng Pali: citta-santāna, tiếng Phạn: citta-saṃtāna, tiếng Tây Tạng: sems-rgyud) trong triết học Phật giáo là sự liên tục nối tiếp nhau từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác của các ấn tượng giác quan và các hiện tượng tâm lý (cái Tâm/citta),[1] vốn cũng được mô tả là tiếp diễn từ đời này sang đời khác. Thường được mô tả như một "dòng chảy của tâm trí" hay "sự liên tục của tâm lý", dòng tâm thức không phải là một thực thể tĩnh tại mà là một dòng chảy liên tục của các hiện tượng tâm lý sinh ra và diệt đi, được dùng để chỉ một chuỗi các khoảnh khắc trôi qua xảy ra trong cùng một kiếp sống hoặc trong giai đoạn chuyển tiếp giữa kiếp sống này và kiếp sống khác.[2][3] Citta-saṃtāna (tiếng Phạn), theo nghĩa đen là "dòng chảy của tâm trí",[4] là sự liên tục, sự kế tiếp, hoặc dòng chảy của các khoảnh khắc tiếp nối nhau của tâm trí hoặc sự nhận thức. Citta có nghĩa là "cái có ý thức".[5] Citta thường được dịch là sems trong tiếng Tây Tạng và saṃtāna tương ứng với rgyud. Do đó, Citta-saṃtāna được dịch là sems rgyud. Rgyud là thuật ngữ mà các dịch giả Tây Tạng (tiếng Tây Tạng: lotsawa) sử dụng để dịch thuật ngữ tiếng Phạn "tantra".[6]
Giải nghĩa
Citta có hai khía cạnh: "Hai khía cạnh của nó là chú ý đến và thu thập các ấn tượng hoặc dấu vết (tiếng Phạn: vāsanā) so sánh với vijñāna."[5] Saṃtāna hoặc santāna (tiếng Phạn) có nghĩa là "vĩnh hằng", "sự liên tục", "một chuỗi các sự kiện khoảnh khắc" hoặc "dòng sự sống".[7] Thuật ngữ tương đồng trong tiếng Trung của citta-saṃtāna (tiếng Phạn) và sems-kyi rgyud (tiếng Tây Tạng) ("dòng tâm thức") là tâm tương tục (giản thể: 心相续; phồn thể: 心相續; bính âm: xīn xiāngxù; Wade–Giles: hsin hsiang-hsü). Theo Từ điển Điện tử Phật giáo (Digital Dictionary of Buddhism), xīn xiāngxù có nghĩa là "sự tiếp diễn của dòng tâm trí" (từ tiếng Phạn citta-saṃtāna hoặc citta-saṃtati), trái ngược với wú xiàngxù 無相續 (vô tương tục) "không có sự liên tục của dòng tâm trí" (từ asaṃtāna hoặc asaṃdhi) và shì xiāngxù 識相續 (thức tương tục) "dòng ý thức" (từ vijñāna-saṃtāna). Hợp từ này kết hợp xin/心 (tâm) "trái tim; tâm trí; suy nghĩ; lương tâm; cốt lõi" và xiangxu "nối tiếp nhau", với xiang/相 (tương) "hình thức, diện mạo, sắc mặt, hiện tượng" và xu/續 hoặc 续 (tục) "tiếp tục; tiến hành; kế vị". Vì vậy nó có nghĩa là "sự liên tục của tâm trí và các hiện tượng". Tâm tương thức/Xin xiangxu được phát âm trong tiếng Hàn là sim sangsok và trong tiếng Nhật là shin sōzoku.
Tương tự như vậy, dòng tâm thức là dòng chảy liên tục của kinh nghiệm ý thức, mặc dù mỗi khoảnh khắc ý thức riêng lẻ sẽ chấm dứt khi khoảnh khắc tiếp theo phát sinh. Dòng tâm thức cung cấp sự liên tục của hoạt động tâm trí trong trường hợp không có một "cái tôi" thường hằng (ātman - ngã), điều mà Phật giáo phủ nhận. Dòng tâm thức cung cấp một sự liên tục từ đời này sang đời khác, giống như ngọn lửa của một ngọn nến có thể được truyền từ ngọn nến này sang ngọn nến khác:[8][9][a] William Waldron viết rằng "Các Phật tử Ấn Độ coi sự 'tiến hóa' của tâm trí xét theo khía cạnh sự liên tục của các dòng tâm thức cá nhân từ kiếp này sang kiếp khác, với nghiệp (karma) là cơ chế nhân quả cơ bản mà qua đó các sự chuyển hóa được truyền từ đời này sang đời khác".[10] Theo Waldron, "Theo thời gian, dòng tâm trí (santāna) dần dần tăng lên từ những phiền não tâm lý (kleśa - kiết sử) và bởi những hành động (karma - nghiệp), và lại đi đến thế giới tiếp theo. Theo cách này, vòng luân hồi tồn tại là không có khởi đầu".[11] Các tập khí (vāsanā) "những dấu ấn của nghiệp" cung cấp sự liên tục của nghiệp giữa các kiếp sống và giữa các khoảnh khắc.[12] Theo Lusthaus, những tập khí này quyết định cách một người "thực sự nhìn nhận và trải nghiệm thế giới theo những cách nhất định, và một người thực sự trở thành một kiểu người nhất định, hiện thân cho những lý thuyết nhất định vốn ngay lập tức định hình nên cách thức mà chúng ta trải nghiệm".[12]
Luận thuyết
Các Phật tử ở Ấn Độ coi khái niệm citta-santāna được phát triển trong tư tưởng Duy thức tông (Yogacara) thời kỳ sau, nơi citta-santāna thay thế cho khái niệm ālayavijñāna,[13] tức kho chứa ý thức nơi lưu trữ các hạt giống nghiệp. Điều này có nghĩa là nghiệp (karma) và phiền não (kleshas - các trạng thái dằn vặt về tinh thần) đều hoạt động để truyền sự chuyển hóa của chúng ta sang kiếp sau không phải là một "thực thể luân hồi, thường hằng, không thay đổi", giống như ngã (atman), mà là một chuỗi các ý thức trong khoảnh khắc.[14] Lusthaus mô tả sự phát triển và các mối quan hệ về mặt giáo lý của tàng thức (ālaya-vijñāna) và Phật tính (tathāgatagarbha) trong Duy thức tông (Yogācāra). Để tránh việc vật hóa (reification) ālaya-vijñāna, cánh logic-nhận thức luận một phần đã né tránh sự chỉ trích bằng cách sử dụng thuật ngữ citta-santāna, "dòng tâm thức", thay vì ālaya-vijñāna, cho những gì gần như mang cùng một ý tưởng. Việc phủ nhận rằng một "dòng chảy" đại diện cho một cái tôi được vật hóa là dễ dàng hơn.[15] Dharmakīrti (Pháp Xứng, hoạt động vào thế kỷ thứ VII) đã viết một luận thuyết về bản chất của dòng tâm thức trong tác phẩm Sự chứng minh của các dòng tâm thức Khác (Saṃtãnãntarasiddhi) của ông.[16] Theo Pháp Xứng, dòng tâm thức là chuỗi thời gian không có điểm bắt đầu.[17] Khái niệm dòng tâm thức được phát triển xa hơn trong Vajrayāna (Phật giáo mật tông), nơi "dòng tâm thức" (sems-rgyud) có thể được hiểu là một luồng gồm các khoảnh khắc kế tiếp nhau,[18] trong phạm vi một kiếp sống, nhưng cũng ở giữa các kiếp sống. Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 cho rằng nó là một sự liên tục của ý thức, kéo dài qua các kiếp sống kế tiếp nhau, mặc dù không có một cái tôi hay linh hồn.[19]
Xem thêm
- Tịnh quang tâm
- Huyễn thân (Illusory body)
- Vô thường
- Luân hồi
- Tự tính
- Tam thân
- Xuất hồn (Astral projection)
- Giấc mơ sáng suốt
- Thể dĩ thái
- Thể vi tế
- Thể tinh thần
- Thế giới tinh thần
- Siêu nhận thức
- Chánh niệm
- Bản sắc cá nhân
- Đầu thai
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Hãy so sánh với những sự loại suy trong cuốn Milinda Panha.
Chú thích
- ↑ Karunamuni 2015.
- ↑ Bodhi 1999, tr. [cần số trang].
- ↑ Buswell, Robert E; Lopez, Donald S. The Princeton Dictionary of Buddhism, p. 196. Princeton University Press, Nov 24, 2013.
- ↑ Keown 2003, tr. 62.
- 1 2 Anon n.d.e, entry for citta.
- ↑ Berzin n.d.e.
- ↑ Anon n.d.e, entry for santāna.
- ↑ Kyimo 2007, tr. 118.
- ↑ Panjvani 2013, tr. 181.
- ↑ Waldron n.d.e.
- ↑ Waldron 2003, tr. 178.
- 1 2 Lusthaus 2002, tr. 473.
- ↑ Lusthaus 2014, tr. 7.
- ↑ Davids 1903.
- ↑ Lusthaus n.d.e.
- ↑ Sharma 1985.
- ↑ Dunne 2004, tr. 1.
- ↑ Wangyal 2002, tr. 82.
- ↑ Dalai Lama 1997, tr. [cần số trang].
Nguồn
- Anon (n.d.e). "Glossary of Buddhist and Western Terms for the Practice of Buddhist Yoga". DharmaFellowship.org. Dharma Fellowship. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007.
- Berzin, Alexander (n.d.e). "Making Sense of Tantra". StudyBuddhism.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2021.
- Bodhi, Bhikkhu (1999). The Noble Eightfold Path: The Way to the End of Suffering (PDF) . Buddhist Publication Society.
- Dalai Lama (1997). Healing Anger: The Power of Patience from a Buddhist Perspective. Geshe Thupten Jinpa biên dịch. Snow Lion Publications.
- Davids, C.A.F. Rhys (1903). "The Soul-Theory in Buddhism". The Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland: 587–588. doi:10.1017/S0035869X00030902. S2CID 162761652. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.
- Dunne, John D. (2004). Foundations of Dharmakirti's Philosophy. Wisdom Publications. ISBN 978-0-86171-184-0.
- Karunamuni, n.d.e (ngày 12 tháng 5 năm 2015). "The Five-Aggregate Model of the Mind". SAGE Open. 5 (2). doi:10.1177/2158244015583860.
- Keown, Damien, biên tập (2003). A Dictionary of Buddhism. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-860560-9.
- Kyimo (2007). The Easy Buddha. Paragon Publishing.
- Lusthaus, Dan (2002). Buddhist Phenomenology: A Philosophical Investigation of Yogācāra Buddhism and the Chʼeng Wei-shih Lun. Psychology Press. ISBN 978-0-7007-1186-4.
- Lusthaus, Dan (2014). Buddhist Phenomenology: A Philosophical Investigation of Yogacara Buddhism and the Ch'eng Wei-shih Lun. Routledge.
- Lusthaus, Dan (n.d.e). "What is and isn't Yogācāra". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016.
- Panjvani, Cyrus (2013). Buddhism: A Philosophical Approach. Broadview Press.
- Sharma, Ramesh Kumar (1985). "Dharmakirta On The Existence of Other Minds". Journal of Indian Philosophy. 13: 55–71. doi:10.1007/BF00208527. S2CID 170313612.
- Tsadra Foundation Research Department (ngày 30 tháng 5 năm 2021). "thugs rgyud". Dharma Dictionary. Tsadra Foundation. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2021.
- Waldron, William S. (2003). "Common Ground, Common Cause: Buddhism and Science on the Afflictions of Identity". Trong Wallace, B. Alan (biên tập). Buddhism & Science: Breaking New Ground. New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-12335-3.
- Waldron, William S. (n.d.e). "Buddhist Steps to an Ecology of Mind: Thinking about 'Thoughts without a Thinker'". PurifyMind.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2007.
- Wangyal, Tenzin (2002). Healing with Form, Energy, and Light. Ithaca, New York: Snow Lion Publications. ISBN 1-55939-176-6.
- Waldron, William S. (1995). "How Innovative is the Ālayavijñāna? The ālayavijñāna in the context of canonical and Abhidharma vijñāna theory" (PDF). GampoAbbey.org. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2012.
- Welwood, John (2000). "The Play of the Mind: Form, Emptiness, and Beyond". PurifyMind.com. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2007.
- Mindstream article at Internet Archive by Beauford. A. Stenberg Source: https://archive.org/details/mindstream-1 (accessed: Thursday September 21, 2023)
Liên kết ngoài
- Rebirth: what happens to the body and mind at death?, pháp thoại của Thubten Chodron
- Reincarnation, pháp thoại của Đạt-lai Lạt-ma thứ 14