Bước tới nội dung

Địa lý Ethiopia

Địa lý Ethiopia
VùngSừng châu Phi
Đông Phi
Tọa độ8°00′B 38°00′Đ / 8°B 38°Đ / 8.000; 38.000
Diện tích
  Đất99.3%
  Nước0.7%
Biên giớiTổng chiều dài: 5.925 km
Djibouti: 342 km
Eritrea: 1.033 km
Kenya: 867 km
Somalia: 1.640 km
Nam Sudan: 1.299 km
Sudan: 744 km
Điểm cao nhấtRas Dashen, 4.543 m
Điểm thấp nhấtVùng trũng Danakil, −125 m
Địa hìnhCao nguyên khổng lồ bị cắt xẻ bởi Thung lũng Nứt gãy lớn, các nếp đứt gãy sụt lún sâu, và những hoang mạc trũng thấp.
Thiên taiCác đợt hạn hán nghiêm trọng mang tính chu kỳ, động đất và hoạt động núi lửa tại Thung lũng Nứt gãy.

Địa lý Ethiopia chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi vị trí nằm tại khu vực Sừng châu Phi. Ethiopia có chung đường biên giới với Eritrea ở phía bắc, Djibouti và Somalia ở phía đông, Sudan và Nam Sudan ở phía tây, cùng với Kenya án ngữ ở phía nam. Quốc gia này nổi bật với một khối cao nguyên trung tâm đồ sộ, được gọi là Cao nguyên Ethiopia (hay Cao nguyên Abyssinia), với độ cao dao động từ 1.290 đến 3.000 mét (4.232 đến 9.843 ft) so với mực nước biển. Tại đây mọc lên khoảng 25 ngọn núi có đỉnh vượt mốc 4.000 mét (13.200 ft), trong đó đỉnh cao nhất là Ras Dashen đạt tới 4.543 mét (14.538 ft).[1]

Từ trên xuống dưới, theo chiều kim đồng hồ: Vách đá gần Addis Zemen; Vườn quốc gia Dãy núi Simien; Dãy núi Gere-alta ở Hawzen; Dallol; Hồ miệng núi lửa nhiễm mặn El Sod ở Vườn quốc gia Borana; Vườn quốc gia Abijatta-Shalla.

Mức độ dâng cao của địa hình thường đạt đỉnh ngay trước khi sụt xuống Đại Thung lũng Tách giãn – khe nứt vĩ đại chẻ đôi cao nguyên theo một đường chéo. Vô số các dòng sông lớn đã cắt ngang qua cao nguyên này; đáng chú ý nhất là dòng Nin Xanh tuôn trào từ Hồ Tana. Vùng cao nguyên dần dần dốc xuống các vùng đất thấp của Sudan ở mạn tây và các bình nguyên phủ đầy người dân gốc Somali ở mạn đông. Vị trí cực tây của Ethiopia là Sông Pibor, nằm đối diện với ngôi làng Denjok của Sudan. Vị trí cực đông của nước này nằm dọc theo biên giới phía đông của Vùng Dollo, tiếp giáp trực tiếp với các tiểu bang Puntland và Galmudug của Somalia.

Đặc điểm tự nhiên Địa lý Ethiopia

Địa hình học

Bản đồ địa hình của Ethiopia, thể hiện rõ Thung lũng Nứt gãy chia cắt Cao nguyên Ethiopia.
Ảnh vệ tinh của Ethiopia chụp từ không gian.

Nằm kẹp giữa thung lũng Sông Nin ở thượng lưu và đường biên giới với Sudan cùng Nam Sudan là một vùng bình nguyên nhô cao. Từ vùng bình nguyên này, hàng loạt các dãy bàn thạch (tableland) và núi non trỗi dậy, hợp lại thành cấu trúc khổng lồ mang tên Cao nguyên Ethiopia. Ở gần như mọi hướng, các vách tường của cao nguyên đều dựng đứng một cách đột ngột từ dưới các vùng đồng bằng thấp, tạo thành những chuỗi núi viền ngoài chắc chắn. Vì vậy, vùng cao nguyên này là một khu vực địa lý mang ranh giới vô cùng phân minh. Tại Eritrea, bức tường phía đông của cao nguyên chạy song song với bờ Biển Đỏ từ Ras Kasar (vĩ độ 18° B) đến Vịnh Annesley (vĩ độ 15° B). Từ đây, nó bẻ ngoặt về phía nam tiến vào Ethiopia và bám sát theo đường kinh tuyến 40° Đông trong khoảng 600 km (373 mi).[2]

Đến khoảng vĩ độ 9° Bắc, bức tường này bị đứt đoạn, tạo thành khe hở cho dòng sông Awash chảy xuyên qua để đổ về hướng đông. Dãy núi chính tại điểm này chuyển hướng tây nam. Ở phía nam của Thung lũng Awash (nơi có độ sâu thấp hơn đỉnh núi khoảng 1.000 m), một khối núi khác lại nhô lên tạo thành một đường thẳng chạy về phương nam. Khối núi thứ hai này tỏa ra một dải núi phụ (Dãy Ahmar) hướng về phía đông tiến thẳng đến Vịnh Aden.[3]

Hai dải núi chính ở phía đông duy trì hướng chạy song song theo hướng nam lệch tây, kẹp giữa chúng là một thung lũng vùng cao rộng lớn chứa hàng loạt các hồ nước ngọt. Bức tường này tiếp tục duy trì đến khoảng vĩ tuyến 3° Bắc. Đoạn vách đá phía nam của cao nguyên cực kỳ lởm chởm và nham nhở, nhưng mang hướng chạy chung từ tây bắc xuống đông nam (từ 6° B đến 3° B). Nó nhìn bao quát xuống một vùng trũng nơi chứa Hồ Turkana và phần phía nam của Vùng Debub Omo.[4]

Bức tường phía tây của cao nguyên (kéo dài từ 6° B đến 11° B) mang đường nét rõ rệt và dốc đứng. Phía trên vĩ độ 11° Bắc, các sườn đồi bẻ ngoặt về hướng đông và hạ thấp dần xuống các vùng đồng bằng Xavan Đông Sudan nằm dưới chân núi. Trên mặt sườn phía bắc, cao nguyên tạo thành các bậc thang đổ dần xuống mức độ cao của khu vực miền đông Sudan.

Quang cảnh Thung lũng sông Awash.

Vách đá phía đông là dải núi ngoại vi được định hình rõ nét nhất. Nó sở hữu chiều cao trung bình từ 2.100 đến 2.400 m (6.890 đến 7.874 ft), và ở nhiều đoạn, nó dựng đứng gần như vuông góc thẳng lên từ mặt đồng bằng. Những khe nứt sâu thẳm hẹp vút – nơi các thác nước từ đỉnh núi trút xuống và biến mất vào lớp đất cát của vùng duyên hải Eritrea – cung cấp những lối mòn để tiến lên vùng cao nguyên (nếu không, du khách có thể đi theo con đường dễ dàng hơn qua Thung lũng Awash). Khi vượt qua được bức tường đá này, người lữ hành sẽ nhận ra rằng rặng núi bao quanh thực chất chỉ cao hơn một chút so với mặt bằng chung của toàn bộ vùng cao nguyên.[4]

Hình dạng vật lý của cao nguyên Ethiopia thực sự gây choáng ngợp. Cấu trúc phía bắc nằm chủ yếu giữa vĩ độ 10° và 15° Bắc, được tạo nên từ một khối đá Tiền Cambri khổng lồ với độ cao trung bình từ 2.000 đến 2.200 m, và bị làm ngập bởi vùng trũng trung tâm sâu thẳm chứa nước Hồ Tana. Phía trên cao nguyên này lại mọc lên nhiều dãy núi lởm chởm và thường không rõ ràng, đạt các độ cao từ 3.700 m đến xấp xỉ 4.600 m. Rất nhiều ngọn núi mang hình thù vô cùng độc dị.[4]

Đặc điểm điển hình của vùng đất này là những khe đứt gãy vĩ đại chẻ đôi cao nguyên, vốn được hình thành qua hàng triệu năm bởi sự bào mòn của các dòng nước. Chúng chính là thung lũng của những dòng sông khởi nguồn từ đồi cao, kiên trì đục đẽo đường đi xuống vùng đất thấp xung quanh. Có những thung lũng sở hữu bề rộng đáng kể; nhưng cũng có những trường hợp các bức vách của hẻm núi chỉ cách nhau hai đến ba trăm mét, lại đổ ập thẳng đứng hàng ngàn mét, minh chứng cho sự ăn mòn của hàng trăm ngàn mét khối đá cứng cường độ cao. Một hệ quả của sự xói mòn này là sự hình thành vô số những ngọn đồi cô lập hoặc cao nguyên nhỏ với mặt trên bằng phẳng, vách dựng đứng, được gọi là amba.[4]

Những đỉnh núi vươn cao nhất tập trung ở các dãy Semien và Bale. Dãy núi Semien nằm ở đông bắc Hồ Tana và lên đến đỉnh điểm tại chóp núi phủ đầy tuyết trắng của Ras Dashen (cao 4.550 m / 14.928 ft). Nằm cách vài kilomet về hướng đông và bắc của Ras Dashen là Núi Biuat và Abba Yared, những đỉnh núi có độ cao chỉ thua Ras Dashen chưa tới 100 mét.[4]

Dãy núi Bale bị chia cắt khỏi phần lớn cao nguyên Ethiopia bởi sự cắt ngang của Thung lũng Nứt gãy Lớn, một trong những rãnh nứt dài nhất và sâu nhất ở Ethiopia. Các đỉnh núi chọc trời của dãy này bao gồm Tullu Demtu (ngọn núi cao thứ hai Ethiopia với 4.377 m), Batu (4.307 m), Chilalo (4.036 m) và Núi Kaka (3.820 m).

Chạy song song với dốc đứng phía đông là các đỉnh Biala (3.810 m), Núi Abuna Yosef (4.190 m) và Kollo (4.300 m). Nằm giữa Hồ Tana và dải đồi phía đông là Núi Guna (4.210 m) và Uara Sahia (3.960 m).[4] Tại Dãy núi Choqa thuộc vùng Misraq Gojjam, Núi Choqa (còn gọi là Núi Birhan) vươn tới độ cao 4.154 m (13.629 ft).

Về phía nam của vĩ tuyến 10° Bắc, cao nguyên phía nam có nhiều bàn thạch mở rộng hơn và ít các đỉnh núi chọc trời hơn. Mặc dù vẫn xuất hiện một số mỏm cao từ 3.000 đến 4.000 mét, phần lớn không vượt qua ngưỡng 2.400 mét. Tuy nhiên, tính chất chung của miền nam vẫn y hệt như miền bắc: một dải cao nguyên đồi núi bị cắt xẻ dữ dội.[4]

Phía đông của khối cao nguyên, hướng về phía Biển Đỏ là một dải đất thấp bán sa mạc, được gọi là khu vực đồng cỏ và cây bụi xeric Ethiopia.

Thủy văn

Bản đồ địa chất thủy văn của Ethiopia.

Phần lớn các vùng đất nhô cao của Ethiopia mang độ nghiêng dốc rõ rệt về hướng tây bắc. Do đó, gần như tất cả các con sông lớn đều phải xuôi dòng theo hướng này để hòa vào hệ thống sông Nin, đóng góp tới 85% tổng lượng nước cho dòng Nin. Những con sông này bao gồm sông Tekezé ở miền bắc, sông Abay ở miền trung và sông Sobat ở miền nam. Khoảng bốn phần năm tổng khối lượng nước thoát của toàn quốc được xả qua ba động mạch chính này.

Một dòng sông đồ sộ khác là sông Omo chảy về phương nam (chiếm 14% lượng nước thoát). Đây là dòng sông lớn nhất nằm ngoài ba huyết mạch kể trên không đổ về phía tây, mà là nguồn cung cấp nước duy nhất cho bồn địa nội lưu Turkana cùng Hồ Turkana. Phần nước dư thừa còn lại được dẫn đi bởi sông Awash (chảy ra vùng hồ nhiễm mặn sát biên giới Djibouti); và bởi các sông Shebelle và Jubba (chảy về phía đông nam xuyên qua Somalia, mặc dù sông Shebelle thường cạn kiệt trước khi kịp chạm đến Ấn Độ Dương).[4]

Sông Tekezé (là thượng nguồn thực sự của dòng sông Atbarah) bắt nguồn từ khu vực bàn thạch trung tâm; nó đổ dốc từ độ cao khoảng 2.100 xuống 750 mét bên trong một hẻm núi khổng lồ. Con sông này quét về hướng tây, sau đó hướng bắc (đóng vai trò làm ranh giới với Eritrea), rồi lại quặt về tây để đổ xuống các bậc thang phía tây, chuyển từ Ethiopia vào lãnh thổ Sudan. Vào mùa mưa, nước sông Tekezé dâng cao tới 5 m (16,4 ft) so với mức bình thường, biến thành một dải ngăn cách không thể vượt qua giữa các vùng miền bắc và miền trung. Ở vùng hạ lưu, con sông này được biết đến với tên gọi tiếng Ả Rập là sông Setit.[4]

Bản đồ lưu vực sông Jubba và sông Shebelle.

Tại Sudan, sông Setit hợp lưu cùng sông Atbarah (một con sông được hình thành từ nhiều dòng suối bắt nguồn tại vùng núi tây và tây bắc Hồ Tana). Sông Gash (hoặc sông Mareb), tạo thành một đoạn biên giới với Eritrea, là con sông vùng cao vươn xa nhất về mạn bắc của Ethiopia có chảy về thung lũng sông Nin. Nó bắt nguồn từ mặt hướng nội của vách đá phía đông, chỉ cách Vịnh Annesley trên Biển Đỏ chừng 80 km. Nó chạm đến các đồng bằng của Sudan ở gần Kassala, và sau đó toàn bộ nước sông tan biến vào lớp đất cát. Sông Mareb cạn trơ đáy trong phần lớn thời gian của năm, nhưng tương tự như Tekezé, nó luôn bị đe dọa bởi những đợt lũ quét cực đoan trong mùa mưa. Chỉ có bờ trái ở phần thượng nguồn của con sông này là nằm trên lãnh thổ Ethiopia.[4]

Sông Abay – tức phần thượng nguồn của sông Nin Xanh – có ngọn nguồn nằm gần Núi Denguiza thuộc dãy Choqa. Nó bắt đầu hành trình bằng việc chảy ngược lên hướng bắc trong 110 km để đổ vào bờ nam của Hồ Tana. Hồ Tana nằm sâu từ 750 đến 1.000 mét dưới mức mặt bằng chung của cao nguyên, mang hình dạng vật lý giống như một miệng núi lửa khổng lồ bị ngập nước. Diện tích hồ ước đạt 2.800 km² và độ sâu nhiều nơi lên đến 75 m. Tại góc đông nam của hồ, vành miệng núi lửa như bị xé toạc bởi một khe nứt sâu hoắm, tạo lối thoát cho dòng Abay trốn thoát. Từ đây, dòng sông tạo thành một cung uốn lượn hình bán nguyệt khổng lồ (giống như Tekezé nhưng ngược chiều – đông, nam rồi tây bắc) để đổ xuống các đồng bằng Sennar, nơi nó chính thức lấy tên gọi là sông Nin Xanh (Bahr-el-Azrak).[4]

Bản đồ lưu vực Sông Awash.

Sông Abay thu nhận nước từ vô số phụ lưu. Dòng Bashilo (bắt nguồn gần Magdala) thoát nước cho vùng đông Amhara; dòng Jamma (bắt nguồn gần Ankober) thoát nước cho vùng bắc Shoa; dòng Muger thoát nước cho vùng tây nam Shoa; dòng Didessa (phụ lưu vĩ đại nhất của Abay) khởi nguồn từ các vùng đồi Kaffa và mang hướng chảy chung từ nam lên bắc; dòng Dabus thì men theo rìa tây của vách đá cao nguyên. Đây đều là những dòng sông duy trì dòng chảy quanh năm. Trái lại, các phụ lưu bên hữu ngạn (đa số bắt nguồn từ sườn tây của cao nguyên) có độ dốc kinh hoàng và thường chỉ là những dòng lũ quét tàn bạo. Bù lại, sông Beles chảy quanh năm, cùng các sông Rahad và Dinder là những hệ thống cực kỳ quan trọng trong thời kỳ lũ lụt.[4]

Nằm giữa những dãy núi và cao nguyên của vùng Gambela và Kaffa ở tây nam Ethiopia, các dòng sông Baro, Gelo, Akobo cùng nhiều phụ lưu khác đã hội tụ lại để tạo thành sông Sobat (phụ lưu của sông Nin). Sông Akobo gặp sông Pibor, sau đó Pibor lại hội ngộ cùng sông Baro, và dòng chảy sau ngã ba này chính thức mang tên Sobat. Những con sông này đổ ập xuống từ vùng núi cao bằng những thác nước cuồn cuộn hùng vĩ, và (giống như mọi con sông khác ở Ethiopia) không thể điều hướng tàu thuyền ở phần thượng nguồn. Thế nhưng khi sông Baro chạm đến vùng đồng bằng, nó lại hóa thân thành một tuyến đường thủy tĩnh lặng mở lối tiến thẳng ra dòng sông Nin. Các sông Baro, Pibor và Akobo tạo thành một dải biên giới tự nhiên dài 400 km dọc theo mặt tây và tây nam Ethiopia.[4]

Con sông lớn nhất của Ethiopia chảy về hướng đông là sông Awash (hoặc Awasi). Nó xuất phát từ cao nguyên Shewa, tạo thành một cung uốn lượn về phía đông nam rồi ngoặt sang đông bắc. Nó xuyên thủng vào Vùng trũng Afar qua một kẽ hở khổng lồ trên dốc đứng phía đông của cao nguyên, nhận thêm nước từ phụ lưu Germama ở tả ngạn, rồi tiếp tục uốn lượn hướng về Vịnh Tadjoura. Tại đây, Awash là một dòng sông đồ sộ rộng gần 60 m và sâu 1,2 m ngay cả trong mùa khô cạn nhất. Vào mùa lũ, nước sông có thể dâng cao từ 15 đến 20 m so với mực nước thấp nhất, nhấn chìm hàng kilomet các vùng đồng bằng trải dọc hai bên bờ.[4]

Đàn hồng hạc ven Hồ Abbe.

Sau một hành trình ngoằn ngoèo trải dài 800 km, vùng hạ lưu của sông Awash chảy xuyên qua một loạt các đầm phá (badd) trước khi đổ vào Hồ Abbe (hay Abhe Bid) ngay sát ranh giới với Djibouti. Sông Awash tan biến hoàn toàn vào trong hồ này. Hiện tượng kỳ lạ này được lý giải bởi việc Hồ Abbe nằm lọt thỏm ngay tâm điểm của một vùng bồn địa muối sâu hàng trăm mét dưới mực nước biển. Trong khi đa số các đầm phá khác bị nhiễm mặn nghiêm trọng (với các lớp vỏ muối đóng cục dày cộm quanh bờ), Hồ Abbe lại giữ được sự ngọt ngào quanh năm nhờ vào lượng nước ngọt khổng lồ mà dòng sông Awash xả vào nó.[5]

Một vùng hồ nước khác lại trải dài từ các mỏm cao Shoan chạy chếch về hướng tây nam nối tới bồn địa Samburu (Hồ Turkana). Đây là một chuỗi ngọc quy tụ những hồ nước vùng cao cực kỳ thơ mộng – có hồ nước ngọt, có hồ nước lợ, một số hoàn toàn khép kín, một số khác lại được kết nối bằng các kênh rạch ngắn. Chạy từ bắc xuống nam, hệ thống này bao gồm: Hồ Zway (giao tiếp ở phía nam với hồ Hara và Lamina, tất cả đều nằm trong khu vực Arsi); tiếp đến là Hồ Abijatta mang theo một đường thoát nước hẹp nối sang các khu vực Baroda và Gamo.

Địa chất Địa lý Ethiopia

Dải nền móng của Ethiopia chủ yếu là các tảng đá biến chất có niên đại từ Liên đại Tiền Cambri, lộ thiên ở các hẻm núi sâu dọc vùng Tigre và sông Nin Xanh. Đá phiến mica, đá phiến sừng và đá felspat phân bổ dày đặc.

Tại khu vực Adigrat, tầng đá biến chất luôn bị phủ lấp bởi một lớp đá sa thạch (không chứa hóa thạch) màu trắng và nâu, độ dày có nơi lên tới 300 mét. Che đậy lớp sa thạch này là các tầng đá vôi mang hóa thạch thuộc nhóm Antalo. Xung quanh các khu vực Chelga và Adigrat lại xuất hiện các tầng đất chứa than. Các khối đá núi lửa (chủ yếu là đá bazan và đá dolerite) phun trào trong Kỷ Đệ Tam và được biết đến với tên gọi là "Bẫy Ethiopia" đã phủ lợp hàng ngàn mét khối nham thạch lên một diện tích vô cùng rộng lớn. Tại khu vực miền nam Ethiopia, các đợt phun trào núi lửa gần đây mang nhiều đặc trưng của đá bazan kiềm.[6]

Khí hậu Địa lý Ethiopia

Bản đồ phân loại đới khí hậu Köppen tại Ethiopia.

Khí hậu của Ethiopia và các vùng lãnh thổ trực thuộc biến thiên cực kỳ phức tạp. Thời tiết mát mẻ và ôn hòa trên các đỉnh cao nguyên, nhưng lại nóng như thiêu đốt dưới các vùng đất thấp. Mặc dù toàn bộ đất nước đều nằm lọt thỏm trong vành đai nhiệt đới, nhưng sự gần gũi với xích đạo của nó đã bị làm cho bão hòa hoàn toàn bởi yếu tố độ cao địa hình.

Addis Ababa
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
13
 
 
24
8
 
 
30
 
 
24
9
 
 
58
 
 
25
10
 
 
82
 
 
24
11
 
 
84
 
 
25
11
 
 
138
 
 
23
10
 
 
280
 
 
21
10
 
 
290
 
 
21
10
 
 
149
 
 
22
10
 
 
27
 
 
24
9
 
 
7
 
 
23
7
 
 
7
 
 
23
7
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới[7] & Deutscher Wetterdienst[8]
Météo Climat (kỷ lục nhiệt độ)[9]

Hệ thực vật và động vật Địa lý Ethiopia

Hệ thực vật

Hoa Kniphofia foliosa mọc dại tại Vườn quốc gia Dãy núi Bale.

Khí hậu khắc nghiệt ở miền bắc chỉ nuôi sống được các loài cây chịu hạn, trong khi ở miền nam nhiều mưa hơn, thảm thực vật vùng cao dồi dào và xanh tốt hơn hẳn. Các loài cây phổ biến bao gồm chà là, mimosa, ô liu dại, các loài sung khổng lồ, bách xù, nguyệt quế, mộc dược và nhiều loại cây cho nhựa. Các cánh rừng thông (đặc biệt là loài thông vàng Natal có khả năng chống lại sự tấn công của mối mọt) phát triển rất mạnh. Các loại cây ăn quả như cam, chanh, lựu, đào, mơ, chuối cũng rất phổ biến. Có nhiều khu rừng lấy gỗ có giá trị khổng lồ ở phía nam. Đặc biệt, cây cà phê được coi là sinh vật bản địa tự nhiên tại vùng Kaffa, và cái tên của khu vực này chính là nguồn gốc của từ "coffee" (cà phê).[10]

Hệ động vật

Khu hệ động vật của Ethiopia vô cùng trù phú. Voi thường xuất hiện ở một số vùng trũng thấp, đặc biệt là quanh lưu vực sông Sobat. Các con sông chảy về hướng tây là mái nhà của vô số hà mã và cá sấu. Những đàn sư tử đông đúc bủa vây các vùng đất thấp, nhưng lại dần biến mất ở khu vực trung tâm (chỉ thỉnh thoảng xuất hiện dưới thung lũng sông).[11]

Các loài báo (cả báo đốm lẫn báo đen) cực kỳ phổ biến và có kích thước khổng lồ. Linh cẩu xuất hiện ở khắp mọi nơi, rất lỳ lợm và hung dữ. Những loài ăn thịt khác như linh miêu, chó sói châu Phi, chó hoang và chó rừng cũng được tìm thấy. Nhóm động vật ăn cỏ bao gồm hươu cao cổ ở miền tây, và lợn rừng cùng lửng chó rải rác. Các cao nguyên thấp ở miền bắc là lãnh thổ của bầy ngựa vằn và lừa dại. Nơi đây quy tụ vô số các đàn trâu rừng khổng lồ và linh dương (gazelle).[11]

Hệ côn trùng cũng rất đa dạng với các quần thể ong mang lại mật ong – một nguyên liệu cực kỳ quan trọng trong khẩu phần ăn của người dân địa phương. Đáng sợ nhất là các bầy châu chấu. Ethiopia cũng có hàng ngàn loài bướm và côn trùng khác. Các loài rắn không xuất hiện quá nhiều nhưng một vài loài trong số đó là các giống kịch độc.[11]

Tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất Địa lý Ethiopia

Ethiopia nắm giữ một lượng nhỏ các nguồn dự trữ khoáng sản quý giá như vàng, bạch kim, đồng, kali cacbonat, và khí tự nhiên.[12] Đặc biệt, nhờ vào đặc thù địa hình chênh lệch lớn, nước này sở hữu một tiềm năng khổng lồ về phát triển thủy điện.[12]

Chỉ khoảng 20 phần trăm tổng diện tích đất liền hiện đang được cày cấy, mặc dù quỹ đất có khả năng canh tác còn rộng lớn hơn rất nhiều.[12] Do hậu quả thê thảm của nạn chặt phá rừng trong 30 năm qua, chỉ còn lại từ 10 đến 15 phần trăm diện tích đất đai là còn rừng bao phủ.[12] Phần diện tích còn lại đa số được tận dụng làm đồng cỏ chăn nuôi. Một lượng lớn diện tích là các khu vực quá lởm chởm, quá khô cằn hoặc quá bạc màu để có thể phát triển nông nghiệp hay bất kỳ mục đích nào khác.[12]

Tranh chấp biên giới Địa lý Ethiopia

Với Eritrea

Đường biên giới chung giữa Ethiopia và Eritrea từng là mồi lửa của rất nhiều cuộc xung đột quân sự dai dẳng.[12] Đỉnh điểm là vào năm 1998 - 2000, một cuộc chiến tranh tàn khốc đã nổ ra chỉ vì tranh chấp các vùng lãnh thổ nội khu siêu nhỏ nằm dọc ranh giới phía bắc, bao gồm ngôi làng nhỏ bé Badme và vùng đất của người Irob.[12] Vào năm 2002, một Ủy ban Ranh giới quốc tế đã tiến hành phân định lại biên giới.[12] Dù ban đầu hai bên hứa sẽ chấp nhận phán quyết, Ethiopia sau đó đã "lật kèo" từ chối một số kết quả, gây ra sự phẫn nộ tột độ cho chính quyền Eritrea.[12] Tình trạng bế tắc kéo dài suốt 16 năm tiếp theo, và chỉ thực sự khép lại sau Hội nghị Thượng đỉnh Eritrea - Ethiopia năm 2018. Chính quyền Ethiopia đã quyết định từ bỏ chính sách cố thủ trước đây, chấp nhận giao trả các vùng lãnh thổ tranh chấp nhằm chấm dứt sự thù địch.[13]

Với Somalia

Phân đoạn trung tâm của đường biên giới giáp với Somalia chưa bao giờ được cắm mốc hoàn chỉnh, và hiện tại chỉ được coi là đường ranh giới tạm thời.[12] Trước năm 1950, đường ranh giới giữa hai nước được quy định bởi Đường Công ước 1908 (hay còn gọi là Đường Feerfeer-Dharkayn Geenyo).[14]

Ngoài ra, vẫn còn một số dấu hỏi nhỏ liên quan đến vị trí chính xác của vài bưu kiện đất hẹp dọc theo đường biên giới với Sudan.[12]

Thống kê Địa lý Ethiopia

  • Quốc gia không giáp biển – Toàn bộ đường bờ biển dọc theo Biển Đỏ đã bị mất trắng sau khi Eritrea chính thức giành được độc lập vào ngày 24 tháng 5 năm 1993.

Xem thêm Địa lý Ethiopia

Tham khảo Địa lý Ethiopia

  1. "Overview About Ethiopia". Embassy of Ethiopia in the UK. ngày 25 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2023.
  2. Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 83.
  3. Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 83–84.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 84.
  5. Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 84–85.
  6. Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 85.
  7. "World Weather Information Service – Addis Ababa". World Meteorological Organisation. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2019.
  8. "Klimatafel von Addis Abeba (Adis Ababa ) / Äthiopien" (PDF) (bằng tiếng Đức). Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2019.
  9. "Station Addis Abeba" (bằng tiếng Pháp). Météo Climat. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2019.
  10. Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 85–86.
  11. 1 2 3 Cana, Frank Richardson (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Abyssinia. Quyển 1. tr. 86.
  12. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Ethiopia: A country study. Library of Congress.
  13. "Ethiopia and Eritrea declare war 'over'". BBC News. ngày 9 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
  14. Brown, D.J. Latham (1956). The Ethiopia-Somaliland Frontier Dispute. Quyển 5. The International and Comparative Law Quarterly. tr. 245–264.

Liên kết ngoài Địa lý Ethiopia