Bước tới nội dung

Địa lý Bénin

Địa lý Bénin


Lục địaChâu Phi
VùngTây Phi
Châu Phi cận Sahara
Tọa độ9°30′B 2°15′Đ / 9,5°B 2,25°Đ / 9.500; 2.250
Biên giớiTổng chiều dài: 2.123 km
Togo: 651 km
Nigeria: 809 km
Burkina Faso: 386 km
Niger: 277 km
Địa hìnhĐồng bằng bằng phẳng đến nhấp nhô; lác đác đồi và núi thấp
Bản đồ chi tiết Bénin, có thể phóng to

Địa lý Bénin mang nhiều đặc trưng của một quốc gia Tây Phi. Bénin (Benin) là một dải đất hẹp có hình dáng như một chiếc chìa khóa chạy theo trục bắc - nam, tọa lạc giữa Xích đạoChí tuyến Bắc. Vĩ độ của quốc gia này dao động trong khoảng từ 6°30′B đến 12°30′B, và kinh độ từ 1°Đ đến 3°40′Đ. Lãnh thổ Bénin bị kẹp giữa Togo ở phía tây, Burkina FasoNiger ở mạn bắc, Nigeria ở phía đông, trong khi phía nam vươn ra Vịnh Benin (thuộc Đại Tây Dương).

Với tổng diện tích 112.622 km2 (43.484 dặm vuông Anh), Bénin có quy mô nhỉnh hơn một chút so với Bulgaria. Nước này kéo dài từ Sông Niger ở phía bắc xuống tận mép nước đại dương ở phía nam với khoảng cách lên tới 700 km. Mặc dù đường bờ biển khá khiêm tốn chỉ dài 121 km, bề ngang của quốc gia này tại điểm rộng nhất có thể lên tới khoảng 325 km.

Xét trong khu vực Tây Phi, Bénin là một trong những quốc gia có diện tích nhỏ hơn cả, chỉ bằng khoảng một phần tám so với nước láng giềng khổng lồ Nigeria ở phía đông. Mặc dù vậy, lãnh thổ của nó vẫn rộng gấp đôi so với Togo. Nhìn trên bản đồ địa hình, Bénin không có sự phân hóa độ cao quá lớn, với cao độ trung bình toàn quốc chỉ rơi vào khoảng 200 m so với mực nước biển.

Đặc điểm địa hình và địa lý sinh học Địa lý Bénin

Bản đồ địa hình Bénin

Từ nam lên bắc, lãnh thổ quốc gia này có thể được chia thành bốn vùng địa hình sinh thái phân biệt rõ rệt.

Đầu tiên là dải đồng bằng duyên hải nhiều cát và trũng thấp, với độ cao tối đa chỉ đạt 10 m và bề rộng nhiều nhất là 10 km. Khu vực này mang đặc trưng lầy lội, điểm xuyết bằng vô số hồ nước cũng như đầm phá đan xen nối liền ra đại dương.

Tiến sâu hơn vào đất liền là các vùng cao nguyên ở miền nam Bénin (độ cao từ 20 đến 200 m). Địa hình nơi đây bị chia cắt bởi những thung lũng chạy theo hướng bắc - nam, men theo dòng chảy của các con sông như Couffo, Zou và Ouémé. Vùng sinh thái này đã được Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) xếp loại vào hệ Khảm rừng-xavan Guinea.

Kế tiếp là một bình nguyên bằng phẳng rải rác những ngọn đồi đá vây quanh các khu vực Nikki và Savè, độ cao của vùng này hiếm khi vượt quá ngưỡng 400 m. Cuối cùng, án ngữ dọc theo biên giới phía tây bắc và kéo dài sang tận Togo là dãy núi Atacora, tự hào sở hữu điểm nhô cao nhất đất nước là đỉnh Mont Sokbaro (658 m).

Về mặt sinh thái, Bénin sở hữu nhiều vùng đất bỏ hoang, rừng ngập mặn và những tàn tích của các khu rừng thiêng rộng lớn. Mức độ che phủ rừng chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất liền, tương đương khoảng 3.135.150 hecta (ha) vào năm 2020. Dù vậy, con số này đã sụt giảm đáng kể so với mức 4.835.150 ha vào năm 1990. Trong năm 2020, diện tích rừng tái sinh tự nhiên bao phủ 3.112.150 ha, trong khi rừng trồng chỉ chiếm khoảng 23.000 ha.[1][2]

Ở phần còn lại của đất nước, cảnh quan xavan bị thống trị bởi các loại cây bụi có gai và lác đác những cây baobab khổng lồ. Dọc theo hai bờ của các con sông, thỉnh thoảng người ta có thể bắt gặp những dải rừng ven sông nguyên sơ. Tại khu vực miền bắc và tây bắc, Khu bảo tồn W của Niger và Vườn quốc gia Pendjari nổi lên như những điểm sáng thu hút khách du lịch khao khát chiêm ngưỡng các loài hoang dã như voi, sư tử, linh dương, hà mãkhỉ. Nước này trước đây từng là môi trường sinh sống của loài Chó hoang châu Phi (Lycaon pictus) đang có nguy cơ tuyệt chủng, dù vậy phân loài này hiện được cho là đã tuyệt diệt ở Bénin do sự bành trướng khu vực định cư của con người. Theo ước tính, diện tích rừng thưa chiếm khoảng 31% lãnh thổ Bénin.[3]

Khí hậu Địa lý Bénin

Bénin mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Lượng mưa hàng năm ở dải ven biển trung bình đạt 1.360 mm, một con số không quá cao nếu so sánh với mặt bằng chung của khu vực duyên hải Tây Phi.

Quốc gia này trải qua hai mùa mưa và hai mùa khô rõ rệt. Mùa mưa chính bắt đầu từ tháng 4 đến cuối tháng 7, tiếp nối bằng một đợt mưa ngắn và ít dữ dội hơn từ cuối tháng 9 đến tháng 11. Trái lại, mùa khô chính kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4, đan xen là một đợt khô mát mẻ hơn diễn ra từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 9.

Nhiệt độ và độ ẩm luôn duy trì ở mức cao dọc theo vùng bờ biển. Ở Cotonou, nhiệt độ tối đa trung bình là khoảng 31 °C, trong khi mức tối thiểu là 24 °C. Biên độ nhiệt độ càng mở rộng khi di chuyển ngược lên phía bắc, đi qua các khu vực xavan và cao nguyên để tiến về vùng Sahel. Một loại gió khô cằn mang tên harmattan thổi từ Sa mạc Sahara xuống sẽ hoạt động mạnh từ tháng 12 đến tháng 3. Loại gió này làm cỏ cây khô héo, thảm thực vật chuyển sang màu nâu đỏ, đồng thời giăng một bức màn bụi mịn lên bầu trời, khiến không gian trở nên u ám. Đây cũng là thời điểm nông dân địa phương thường tiến hành đốt bụi rậm trên các cánh đồng để dọn đất canh tác.

Biểu đồ khí hậu các thành phố tiêu biểu

Cotonou
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
9.2
 
 
31
24
 
 
37
 
 
32
25
 
 
74
 
 
32
26
 
 
137
 
 
32
26
 
 
197
 
 
31
25
 
 
356
 
 
29
24
 
 
147
 
 
28
24
 
 
65
 
 
28
23
 
 
99
 
 
28
24
 
 
127
 
 
30
24
 
 
41
 
 
31
24
 
 
20
 
 
31
24
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: NOAA[4] & Deutscher Wetterdienst[5]
Parakou
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
3.8
 
 
34
19
 
 
9.2
 
 
36
21
 
 
39
 
 
36
23
 
 
86
 
 
35
23
 
 
131
 
 
33
22
 
 
172
 
 
31
21
 
 
190
 
 
29
21
 
 
209
 
 
29
21
 
 
206
 
 
30
21
 
 
91
 
 
32
21
 
 
6.3
 
 
34
20
 
 
6.6
 
 
34
19
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: NOAA[6]

Rừng và mức độ che phủ Địa lý Bénin

Tổ chức Global Forest Watch thường xuyên công bố các báo cáo ước tính hàng năm về mức độ mất đi của lớp phủ cây xanh, dựa trên phân tích chuỗi thời gian từ hình ảnh vệ tinh Landsat.[1][2] Trong khuôn khổ này, "lớp phủ cây" dùng để chỉ các thảm thực vật cao trên 5 m (bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng). Thuật ngữ "mất lớp phủ cây" được định nghĩa là sự biến mất hoàn toàn của tán cây trong một năm nhất định, bất kể nguyên nhân do đâu.

Đối với Bénin, các số liệu thống kê quốc gia ghi nhận mức mất đi lũy kế của lớp phủ cây xanh là 47.919 ha (tương đương 479,19 km²) trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2024. Con số này xấp xỉ khoảng 28,5% so với tổng diện tích che phủ cây xanh vào năm 2000. Đối với những khu vực có mật độ tán cây lớn hơn 30%, số liệu cho thấy diện tích che phủ vào năm 2000 đạt mức 168.201 ha (1.682,01 km²).[1]

Điểm cực Địa lý Bénin

Dưới đây là các vị trí địa lý vươn xa nhất trên bản đồ của lãnh thổ Bénin:

  • Điểm cực Bắc: Giao điểm của đường biên giới giáp với Niger và dòng sông Mékrou, thuộc địa phận Tỉnh Alibori.
  • Điểm cực Nam: Nằm ngay tại nơi bờ biển tiếp giáp với Togo trên Đại Tây Dương, thuộc Tỉnh Mono.
  • Điểm cực Đông: Nằm tại giao điểm phân định biên giới với Nigeria trên dòng sông Niger, thuộc địa phận tỉnh Alibori.
  • Điểm cực Tây: Một đoạn ranh giới không có tên gọi cụ thể nằm trên đường biên giới với Togo, thuộc Tỉnh Donga.

Xem thêm Địa lý Bénin

Tham khảo Địa lý Bénin

  1. 1 2 3 "Benin Deforestation Rates & Statistics". Global Forest Watch.
  2. 1 2 Hansen, Matthew C.; Potapov, Peter V.; Moore, Rebecca (2013). "High-Resolution Global Maps of 21st-Century Forest Cover Change". Science. Quyển 342 số 6160. tr. 850–853. doi:10.1126/science.1244693.
  3. Kormos, Rebecca; Boesch, Christophe (2003). West African chimpanzees: status survey and conservation action plan. IUCN/SSC Primate Specialist Group. tr. 219. ISBN 978-2-8317-0733-4.
  4. "Cotonou Climate Normals 1961–1990". NOAA.
  5. "Klimatafel von Cotonou, Prov. Cotonou / Benin" (PDF). Baseline climate means (1961–1990) from stations all over the world (bằng tiếng Đức). Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  6. "Parakou Climate Normals 1961–1990". NOAA.

Liên kết ngoài Địa lý Bénin