Thợ săn quỷ Kpop
Thợ săn quỷ Kpop | |
|---|---|
Áp phích quảng bá phim | |
| Đạo diễn |
|
| Biên kịch |
|
| Cốt truyện | Maggie Kang[1] |
| Sản xuất | Michelle Wong |
| Diễn viên |
|
| Quay phim | Gary H. Lee[2] |
| Dựng phim | Nathan Schauf[3] |
| Âm nhạc | Marcelo Zarvos[1] |
| Hãng sản xuất | |
| Phát hành | Netflix[1] |
Công chiếu |
|
Thời lượng | 95 phút[5] |
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
| Ngôn ngữ | Tiếng Anh |
| Kinh phí | > 100 triệu USD[6] |
| Doanh thu | 24,7 triệu USD[7][8] |
Thợ săn quỷ Kpop (tựa gốc: KPop Demon Hunters) là một bộ phim hoạt hình nhạc kịch giả tưởng đô thị[9][10] của Mỹ năm 2025 do Maggie Kang và Chris Appelhans đồng biên kịch và đạo diễn, được sản xuất dành cho Netflix bởi Sony Pictures Animation và hoạt hình hóa bởi Sony Pictures Imageworks. Phim có sự tham gia lồng tiếng của Arden Cho, Ahn Hyo-seop, May Hong, Ji-young Yoo, Yunjin Kim, Daniel Dae Kim, Ken Jeong và Lee Byung-hun. Câu chuyện xoay quanh một nhóm nhạc nữ K-pop mang tên Huntrix[a] trong đó các thành viên đồng thời là thợ săn quỷ; họ phải đối đầu với nhóm nhạc nam Saja Boys, với các thành viên thực chất là quỷ đội lốt người.
Kang muốn tạo ra một câu chuyện lấy cảm hứng từ di sản Hàn Quốc của mình, kết hợp các yếu tố thần thoại, ma quỷ học và K-pop để tạo nên một bộ phim vừa có phong cách hình ảnh độc đáo vừa đậm bản sắc văn hóa. Quá trình sản xuất bắt đầu vào tháng 3 năm 2021, với đầy đủ ê kíp sáng tạo tham gia. Hình ảnh chịu ảnh hưởng từ ánh sáng sân khấu, nhiếp ảnh báo chí, video âm nhạc, anime và phim truyện Hàn Quốc. Nhạc phim gồm các bài hát gốc của nhiều nhạc sĩ cùng với phần nhạc nền do Marcelo Zarvos sáng tác.
Thợ săn quỷ Kpop được phát hành vào ngày 20 tháng 6 năm 2025 trên Netflix và trở thành tác phẩm được xem nhiều nhất trong lịch sử của Netflix với hơn 500 triệu lượt xem. Phiên bản sing-along của bộ phim được phát hành tại một số rạp phim trong các ngày 23 – 24 tháng 8 và 31 tháng 10 – 2 tháng 11. Bộ phim có suất phát hành rạp rộng nhất trong số các phim của Netflix, và là bộ phim đầu tiên của hãng đứng đầu phòng vé tại Hoa Kỳ. Nhạc phim là nhạc phim điện ảnh đầu tiên có bốn ca khúc cùng lúc lọt vào top 10 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và được chứng nhận bạch kim kép tại Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2025.
Thợ săn quỷ Kpop nhận được nhiều lời khen ngợi về hoạt hình, phong cách hình ảnh, diễn xuất lồng tiếng, cốt truyện và âm nhạc. Tác phẩm đã gặt hái nhiều giải thưởng danh giá, nổi bật là Phim hoạt hình xuất sắc nhất và Bài hát gốc hay nhất ("Golden") tại giải Quả cầu vàng lần thứ 83 cũng như giải Oscar lần thứ 98. Phần tiếp theo hiện đang được phát triển.
Nội dung
Ngày xưa, ác quỷ săn đuổi con người và đánh cắp linh hồn của họ cho kẻ cai trị Gwi-Ma. Một nhóm ba người phụ nữ về sau nổi lên là những thợ săn quỷ và phong ấn lũ quỷ khỏi thế giới loài người bằng cách tạo ra một rào chắn ma thuật được gọi là Honmoon.[b] Di sản của họ được lưu truyền qua nhiều thế hệ, với mỗi bộ ba mới sử dụng giọng hát của mình để duy trì kết giới này cho đến khi trở thành kết giới Honmoon Hoàng Kim – một phong ấn với mục đích trục xuất vĩnh viễn lũ quỷ khỏi thế giới.
Vào thời điểm hiện tại, nhóm nhạc nữ K-pop Huntrix – gồm ba thành viên Rumi, Mira và Zoey – là những thợ săn quỷ dưới sự dẫn dắt của Celine, một thợ săn tiền nhiệm và là người đã nuôi dưỡng Rumi từ nhỏ. Sau khi hoàn thành chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới, Huntrix phát hành và chuẩn bị cho buổi biểu diễn trực tiếp đầu tiên của đĩa đơn mới mang tên "Golden" cho đến khi Rumi bắt đầu mất giọng vì cô là người lai quỷ, một bí mật mà chỉ Celine biết. Khi còn nhỏ, Celine từng nói với Rumi rằng việc hoàn thiện kết giới Honmoon có thể sẽ xóa bỏ dấu ấn quỷ của cô.
Ở thế giới quỷ, quỷ vương Gwi-Ma tỏ ra giận dữ trước sự thất bại của lũ quỷ tay sai. Trong lúc này, một con quỷ tên Jinu đã đề xuất một chiến lược mới là thành lập một nhóm nhạc nam K-pop mang tên Saja Boys nhằm giành người hâm mộ từ Huntrix và làm suy yếu kết giới Honmoon, đổi lại Gwi-Ma sẽ xóa ký ức của hắn khi còn là người. Khi theo dõi buổi ra mắt của nhóm, Huntrix nhanh chóng phát hiện ra bản chất quỷ dữ của Saja Boys và sau đó tấn công họ. Trong lúc giao chiến, Jinu thấy dấu vết quỷ của Rumi, nhưng lại giúp cô che chúng khỏi các thành viên cùng nhóm. Trong một cuộc gặp riêng, Jinu tiết lộ với Rumi rằng cảm giác hổ thẹn chính là thứ giam hãm loài quỷ thông qua những lời nói vọng ra từ Gwi-Ma. Anh chia sẻ rằng 400 năm về trước, Gwi-Ma đã ban cho anh danh vọng và sự công nhận – những thứ giúp gia đình anh thoát khỏi cảnh nghèo khó – nhưng sau đó anh bị đày anh xuống thế giới quỷ; giờ đây, Jinu phải sống cùng nỗi dằn vặt về sự suy tàn của gia đình mình.
Khi nhóm Saja Boys ngày càng nổi tiếng, kết giới Honmoon dần suy yếu, tạo điều kiện cho nhiều đợt tấn công từ phía quỷ dữ hơn. Trong bối cảnh Lễ trao giải Idol Awards đang cận kề, Huntrix nhanh chóng viết một bài hát mới mang tên "Takedown" nhằm vạch trần Saja Boys. Sự bất an của Rumi trước ca từ gay gắt, đầy rẫy sự căm ghét quỷ dữ trong bài hát đã làm căng thẳng mối quan hệ giữa cô với Mira và Zoey. Rumi đề xuất một kế hoạch với Jinu: nếu anh giúp Huntrix giành chiến thắng tại Giải Idol Awards nhằm củng cố kết giới Honmoon, đổi lại thì anh có thể tự do ở lại thế giới loài người. Sau đó, Rumi tâm sự với Jinu rằng chính nỗi mặc cảm về dòng máu quỷ dữ trong người đã làm suy yếu giọng hát của cô, nhưng nhờ những cuộc trò chuyện cùng cậu mà giọng hát ấy đã được chữa lành. Jinu chia sẻ rằng nhờ Rumi mà anh không còn nghe thấy những tiếng nói ám ảnh trong đầu nữa và đồng ý phá hoại nhóm Saja Boys. Gwi-Ma triệu tập Jinu và nhắc nhở sự thật rằng anh đã ruồng bỏ gia đình để chạy theo một cuộc sống giàu sang và an nhàn, đồng thời đe dọa sẽ khuếch đại những tiếng nói hành hạ tâm trí lên gấp bội nếu anh dám bội ước.
Tại Lễ trao giải Idol Awards, nhóm Huntrix trình diễn ca khúc "Golden" sau khi quyết định gác lại bài "Takedown" do những mâu thuẫn mà nó gây ra giữa các thành viên. Tuy nhiên, những con quỷ giả mạo do Jinu phái đến đã tách Mira và Zoey khỏi Rumi; cùng lúc đó, hai con quỷ khác lại giả dạng chính họ để lừa Rumi trình diễn bài "Takedown", đồng thời làm lộ hoa văn quỷ trên cơ thể cô. Cô hoảng loạn bỏ chạy khỏi sân khấu và chạm trán với Mira và Zoey thật; cả hai cảm thấy bị phản bội khi biết chuyện Rumi đã che giấu bản chất quỷ của mình cũng như việc cấu kết với Jinu. Rumi đối chất với Jinu vì đã lừa dối cô và anh thừa nhận đã nói dối về quá khứ của mình. Sau khi Gwi-ma trở nên mạnh hơn nhờ nguồn năng lượng từ vô số linh hồn bị nuốt chửng cùng sự suy tàn của kết giới Honmoon, hắn xâm nhập vào thế giới loài người và thi triển một loại bùa mê lên toàn bộ công chúng, bao gồm cả Mira và Zoey, và lôi kéo họ đến xem buổi biểu diễn của nhóm Saja Boys nhằm thu nạp thêm linh hồn cho hắn. Rumi tìm Celine trong sự tuyệt vọng và nhờ bà giết mình. Celine từ chối và nghĩ ra cách khôi phục lại trạng thái như trước. Rumi nổi giận, trách Celine vì chưa bao giờ thực sự yêu thương cô một cách trọn vẹn, đồng thời đoạn tuyệt với kết giới Honmoon đã bị phá hủy trước khi đột ngột bỏ đi.
Rumi bất ngờ cắt ngang buổi biểu diễn của nhóm Saja Boys bằng một ca khúc ngẫu hứng mới, bày tỏ nỗi hổ thẹn và sự chấp nhận bản thân; ca khúc này đã giúp Mira và Zoey thoát khỏi bùa mê của Gwi-Ma. Sau khi tái hợp, nhóm Huntrix cùng phản công và giải cứu đám đông. Jinu, với sự ăn năn hối cải, đã hy sinh để cứu Rumi khỏi đòn tấn công của Gwi-Ma, đồng thời gửi cô linh hồn của mình để tiếp sức cho cô. Được tiếp sức, Huntrix đánh bại Gwi-Ma cùng những thành viên còn lại của Saja Boys, phong ấn trở lại lũ quỷ dữ và tạo một kết giới Honmoon cầu vồng hoàn toàn mới. Không còn cảm thấy hổ thẹn về những hoa văn quỷ trên cơ thể mình, Rumi cùng Mira và Zoey ăn mừng tại một nhà tắm công cộng, nơi họ vui mừng đến phát khóc. Họ sau đó xuất hiện trước công chúng và giao lưu với người hâm mộ của nhóm.
Diễn viên lồng tiếng
- Arden Cho trong vai Rumi, người hát dẫn dắt và trưởng nhóm Huntrix; cô sử dụng thanh kiếm saingeom khi chiến đấu.[16][17] Cô có cha là quỷ và mẹ quá cố là một thợ săn quỷ tiền nhiệm.[18][13]
- May Hong trong vai Mira, visual và nhảy chính của Huntrix;[13] cô dùng giáo "gokdo" khi chiến đấu.[16][17] Mira xuất thân trong một gia đình giàu có và bị coi là "cừu đen" trong gia đình vì tính nổi loạn của cô.
- Audrey Nuna là giọng ca của Mira.[13]
- Ji-young Yoo trong vai Zoey, rapper chính và maknae của Huntrix;[13] cô dùng dao sinkal khi chiến đấu.[16][17] Zoey là người Mỹ gốc Hàn lớn lên ở Burbank, California.[13][1]
- Rei Ami là giọng ca của Zoey.[13]
- Ahn Hyo-seop trong vai Jinu, trưởng nhóm của Saja Boys và là một con quỷ bị quá khứ ám ảnh. Anh đi cùng một con hổ xanh và một con chim ác với sáu mắt.[20]
- Andrew Choi là giọng ca của Jinu.[13]
- Yunjin Kim trong vai Celine, một thợ săn quỷ tiền nhiệm nuôi nấng Rumi.[13]
- Lea Salonga là giọng ca của Celine.[21]
- Joel Kim Booster trong vai Romance Saja.[13]
- Samuil Lee là giọng ca của Romance Saja.[13]
- Alan Lee trong vai Mystery Saja.[13][22]
- Kevin Woo là giọng ca của Mystery Saja.[13]
- SungWon Cho trong vai Abby Saja.[13][23][c]
- Neckwav là giọng ca của Abs Saja.
- Danny Chung là giọng ca của Baby Saja.[13]
- Daniel Dae Kim trong vai bác sĩ Han, một bác sĩ lập dị.[13][1]
- Ken Jeong trong vai Bobby, quản lý và đại diện của Huntrix.[13][1]
- Lee Byung-hun trong vai Gwi-Ma, vua của loài quỷ, với hình hài một cái miệng khổng lồ bốc lửa.[13] Lee đóng lại vai này trong bản lồng tiếng Hàn của bộ phim.[25][26]
Liza Koshy trong vai người dẫn chương trình phỏng vấn Huntrix.[1] Maggie Kang, Nathan Schauf và Charlene Ramos lồng tiếng cho các nhân vật phụ.[19]
Sản xuất
Phát triển

Đạo diễn Maggie Kang lần đầu tiên trình bày ý tưởng mà về sau sẽ trở thành bộ phim Thợ săn quỷ Kpop cho nhà sản xuất phim Aron Warner vào năm 2018, khi ông đang tham gia sản xuất bộ phim Ước nguyện thần long (2021) cho Sony Pictures Animation.[27] Vào ngày 8 tháng 3 năm 2021, có thông tin cho rằng một bộ phim có tựa đề tạm thời là K-Pop: Demon Hunters đang được Sony Pictures Animation thực hiện. Bộ phim sẽ được Maggie Kang và Chris Appelhans đạo diễn, Hannah McMechan và Danya Jimenez biên kịch, còn Aron Warner và Michelle LM Wong đảm nhiệm việc sản xuất.[4][28][29] Mingjue Helen Chen và Ami Thompson lần lượt được công bố là nhà thiết kế sản xuất và giám đốc mảng nghệ thuật của bộ phim.[4]
Bộ phim được hình thành từ ý tưởng của Kang với mong muốn tạo ra một tác phẩm về văn hóa Hàn Quốc; cô đã “đào sâu vào thần thoại và quỷ học để tìm ra ý tưởng có thể tạo sự độc đáo về mặt hình ảnh” so với truyền thông đại chúng.[30] Cô cũng gọi bộ phim là thư tình dành cho K-Pop và gốc gác Hàn Quốc của mình.[4] Kang giải thích rằng trong quá trình xây dựng bối cảnh lịch sử của các thợ săn quỷ, ê-kíp đã quyết định khai thác yếu tố shaman giáo Hàn Quốc, đặc biệt là việc sử dụng ca hát và vũ đạo trong các nghi lễ của những nữ pháp sư Hàn Quốc trong lịch sử.[31] Về thiết kế nhân vật, Kang nhấn mạnh mong muốn tạo sự khác biệt với "các nữ siêu anh hùng Marvel chỉ gợi cảm và ngầu" và thay vào đó là "những cô gái bụng phệ, hay ợ hơi, thô lỗ, ngớ ngẩn và vui nhộn" từ đó tạo ra " một thứ bao hàm tất cả các yếu tố đó".[32] Cô cũng chịu ảnh hưởng từ các bộ phim của Bong Joon-ho, vốn kết hợp nhiều sắc thái khác nhau theo cách mà, theo Kang, mang lại cảm giác giống như phim hoạt hình.[33] Cô và Appelhans đặc biệt nhắc đến bộ phim Quái vật sông Hàn (2006) của Bong như một nguồn cảm hứng cho việc pha trộn các thể loại và tâm trạng.[34][35] Appelhans tham gia sau khi Kang kể với anh ý tưởng ban đầu của cô cho bộ phim; anh dự định sẽ nghỉ ngơi một thời gian dài sau khi đạo diễn Ước nguyện thần long (2021).[33] Appelhans nói rằng anh "luôn muốn làm một bộ phim về sức mạnh của âm nhạc – để gắn kết con người, mang lại niềm vui và xây dựng cộng đồng."[4] McMechan và Jimenez được Nicole Perlman mời tham gia viết kịch bản cho bộ phim; trả lời Variety, McMechan nói rằng mặc dù cả hai "chưa từng biên kịch cho phim hoạt hình" và không biết gì về Kpop, nhưng họ "chính là những người [đồng đạo diễn] Maggie [Kang] đang tìm đến, nhờ tình bạn của chúng tôi và việc chúng tôi là những cô gái trẻ".[36]
Thiết kế nhân vật
Tên gọi Huntrix là sự kết hợp giữa từ "hunter" (thợ săn) và hậu tố hậu tố chỉ tác nhân giống cái tiếng Latin "-trix" nhằm gợi lên hình ảnh nữ chiến binh.[37] Ba thành viên của Huntrix được mô phỏng theo các nhóm nhạc K-pop nữ như Itzy, Blackpink, Twice và 2NE1.[38][39] Thời trang và trang điểm của các nhân vật lấy cảm hứng từ Givenchy, Jean Paul Gaultier, and Alexander McQueen, tập trung vào việc "kết hợp các yếu tố truyền thống của Hàn Quốc với phong cách haute couture".[40]Nhân vật Rumi ban đầu được Kang và chồng cô, Radford Sechrist, tạo ra cho truyện tranh Plastic Walrus của ông, trước khi được Kang chỉnh sửa và định hình lại cho Thợ săn quỷ Kpop.[41][20] Nhân vật Mira được lấy cảm hứng từ người mẫu Hàn Quốc Ahn So-yeon (được biết đến với nghệ danh Ellis Ahn).[42][43][44][45] Saja Boys được lấy cảm hứng từ các nhóm nhạc nam Hàn Quốc như Tomorrow X Together, BTS, Stray Kids, Ateez, BigBang và Monsta X.[42][39] Nam diễn viên kiêm ca sĩ người Hàn Quốc Cha Eun-woo là người có ảnh hưởng quan trọng đối với trưởng nhóm Jinu.[46] Ngoại trừ Jinu, tên của các thành viên trong Saja Boys là các hình mẫu trong K-pop.[47] Thuật ngữ Saja mang hai ý nghĩa: thứ nhất là ám chỉ jeoseung saja (tiếng Hàn: 저승사자; Hanja: 저승使者), tức là tử thần trong văn hóa dân gian Hàn Quốc,[17] và thứ hai là từ tiếng Hàn cho sư tử, saja (사자; 獅子), với hình ảnh đầu sư tử được sử dụng làm logo của nhóm nhạc Saja Boys, và cộng đồng người hâm mộ của nhóm được gọi là "The Pride"[48][49][50] (tiếng Việt: Đàn sư tử)".[22]
Baek Byung-yeul của The Korea Times cho biết phong cách của cả hai nhóm đều liên quan đến "quá khứ và hiện tại của Hàn Quốc" – các thành viên của Huntrix "đeo dây chuyền 'norigae' tích hợp vào thời trang K-pop hiện đại, trong khi Saja Boys biểu diễn trong trang phục hanbok đen và mũ lông ngựa truyền thống cho bài hát 'Your Idol' của họ, gợi lên hình ảnh của jeoseung saja, tử thần trong văn hóa dân gian Hàn Quốc".[17][51] Ngoài ra, vũ khí mà Huntrix sử dụng có nguồn gốc từ "các vật thể truyền thống của Hàn Quốc".[17] Max Kim của Los Angeles Times đã để ý đến sự tôn vinh mang tính lịch sử dành cho các nghệ sĩ Hàn Quốc "được coi là những người tiên phong của K-pop đương đại" như Jeogori Sisters, The Kim Sisters và S.E.S.[52] Kang đã nhấn mạnh hành trình hình ảnh trong thiết kế nhân vật như Saja Boys bắt đầu bằng "hình ảnh kẹo cao su bong bóng ngọt ngào" và chuyển sang tối hơn cho đến khi họ "trông giống hình tượng Thần chết đội mũ".[53] Appelhans nhận xét về cách kể chuyện qua trang phục biểu diễn của Huntrix; những bộ trang phục mà Huntrix mặc khi biểu diễn bài hát "Golden" tượng trưng cho "giấc mơ kiểu MacGuffin" của họ, khao khát sự hoàn hảo không tì vết, và việc xé rách trang phục của Rumi ở cuối hồi thứ hai của bộ phim thể hiện sự tan vỡ của giấc mơ đó. [53] Appelhans cũng cho rằng việc sử dụng trang phục theo cách này là một phần trong nỗ lực nhằm phản ánh cách thức hoạt động của K-pop trong phim, đồng thời tích hợp chúng vào cốt truyện của phim.[53]
Tuyển vai
Quá trình tuyển diễn viên lồng tiếng và ca sĩ được thực hiện ở các mốc thời gian khác nhau, trong đó các ca sĩ được tuyển vai trước.[54] Ejae ban đầu được tuyển làm nhạc sĩ sáng tác bài hát, về sau được giao làm vai giọng hát của Rumi; trong một buổi phỏng vấn với Genius Korea, Ejae cho biết việc cô được chọn là do "các đạo diễn [đã] quen với việc nghe giọng hát [của cô] trong các bản demo".[54][55] Arden Cho, diễn viên lồng tiếng Rumi, ban đầu dự định thử vai Celine, sau đó thử vai Rumi nhờ sự khuyến khích của đồng đạo diễn Maggie Kang.[56] Park Jin-young ban đầu được chọn thủ vai Gwi-Ma, do nhân vật ban đầu được xây dựng với tính cách khoa trương và hài hước hơn. Tuy nhiên, Lee Byung-hun được chọn thay cho Park khi Gwi-Ma được phát triển thành một nhân vật đáng sợ hơn và theo truyền thống phản diện.[57] Vào tháng 4 năm 2025, có thông tin cho rằng Yoo Ji-young sẽ đóng vai Zoey trong bộ phim.[58][59] Phần còn lại của dàn diễn viên được công bố vào cuối tháng 4 cùng năm.[60]
Hoạt hình
Bộ phim được Sony Pictures Imageworks hoạt hình hóa tại hai cơ sở Vancouver và Montreal với Josh Beveridge là người đứng đầu mảng hoạt hình nhân vật.[33] Appelhans nhấn mạnh đến nguồn cảm hứng từ video ca nhạc, nhiếp ảnh biên tập, phim truyền hình Hàn Quốc, ánh sáng hòa nhạc và anime.[33] Kang nói rằng ê kíp hoạt hình đã thay đổi ý tưởng sau khi xem các bộ phim Spider-Verse của Sony, vốn được ca ngợi vì phong cách hoạt hình lai 2D và 3D. Thay vì kết hợp hai yếu tố này, đội ngũ tập trung vào phong cách hoạt hình 3D lấy cảm hứng từ khuôn mặt và biểu cảm trong anime.[33] Beveridge cũng chú ý tới "thẩm mỹ 2D nhưng với ngôn ngữ ba chiều" khiến cho bộ phim nhìn giống phim 3D CGI, và rằng bộ phim có thể có "hình ảnh đồ họa rất táo bạo".[33] Beveridge nói rằng việc thay đổi nét mặt của các nhân vật để phù hợp với sắc thái của bộ phim: lộng lẫy trong những khoảnh khắc chiến thắng, góc cạnh và giàu đường nét trong các phân cảnh hành động quyết liệt, và mang phong cách chibi trong những tình huống hài hước.[33] Phân cảnh chính đầu tiên được hoạt hình hóa là cuộc chạm trán ban đầu giữa Huntrix và nhóm Saja Boys; theo Beveridge, phân cảnh này là một minh chứng cho tính khả thi của thiết kế cho các nhân vật.[61] Kang cố gắng thể hiện chân thực bản sắc Hàn Quốc thông qua hoạt hình nhân vật, tập trung vào hình dạng miệng và mắt.[53] Mặc dù các nhân vật nói tiếng Anh, các họa sĩ hoạt hình đã thiết kế hình dạng miệng theo tiếng Hàn.[53] Về phân cảnh hành động, các nhà làm phim đã sử dụng hiệu ứng lấp lánh lấy cảm hứng từ bộ phim Hàn Quốc Ác nữ báo thù (2017); Beveridge cho rằng hiệu ứng này mang lại cho các cảnh quay cảm giác như đang khiêu vũ và chiến đấu, đồng thời cho rằng "sử dụng nhiều hiệu ứng lấp lánh có thể làm bộ phim nhìn bạo lực hơn."[61] Một lượng lớn chi tiết đã được hoạt hình hóa trong các cảnh quay xuyên suốt bộ phim để thể hiện các chi tiết văn hóa Hàn Quốc như tháp Namsan, ẩm thực Hàn Quốc, bức tường Naksan, kiếm ký hiệu, và họa tiết hổ truyền thống được khắc họa với độ chính xác cao để mô tả một cách chân thực.[9]

Viết cho Salon, Hanh Nguyen nhấn mạnh rằng con hổ và chim ác mà Jinu nuôi – mà đội ngũ sáng tạo gọi lần lượt là Derpy và Sussie[62][63] – được dựa trên minhwa, phong cách nghệ thuật dân gian Hàn Quốc phổ biến trong thời Joseon. Hình ảnh con hổ, chim ác là và cây tùng là trọng tâm của thể loại Hojak-do* trong phong cách minhwa; cách khắc họa các loài vật này đã chịu ảnh hưởng từ tính châm biếm và phản kháng quyền uy mà dòng tranh Hojak-do đã mang trong mình suốt thế kỷ XVII.[20][64] Park Han-sol của The Korea Times viết rằng minhwa thường "kỳ quặc" với "những chi tiết tinh nghịch" và hình tượng hổ và chim ác là thể hiện "một cú chọc ghẹo đối với những người nắm quyền". Cô bình luận rằng trò đùa của bộ phim về con chim ác là ăn trộm mũ của hổ "giống như một cái gật đầu trìu mến cho trò đùa hình ảnh dài tập".[64] Là họa sĩ truyện và người thiết kể chú hổ, Radford Sechrist giải thích rằng bộ lông màu xanh lam của chú hổ có thể xuất phát từ việc nhà thiết kế sản xuất Helen Mingjue Chen muốn tạo cho nhân vật này một cảm giác huyền ảo hơn.[20] Kang nhận xét rằng ban đầu Derpy không có vai trò rõ ràng, nhưng đội ngũ làm phim không muốn nhân vật này chỉ đơn thuần là một người bạn đồng hành phụ.[20] Nhóm làm phim lấy ý tưởng từ tranh vẽ bức tượng hổ đang biến thành hổ thật bên cạnh Jinu mặc áo sơ mi mở cúc của Chen. Điều này dẫn đến ý tưởng biến Derpy thành thú cưng của Jinu; sau đó, Derpy dần trở thành phương tiện liên lạc giữa Rumi và Jinu, “và rồi chú chim nhập hội.”[20] Kang nói rằng các loài động vật "sống giữa hai thế giới này" và bản chất của chúng vẫn còn là ẩn số.[65]
Biên đạo
Các phân đoạn nhảy trong phim được Jo Na-In từ Jam Republic, Leejung Lee từ The Black Label và nhóm K-Tigers biên đạo.[66] Jo, vũ công và biên đạo múa người Hàn Quốc, phụ trách phần vũ điệu cho "Golden" và "Takedown".[66][67] Lee đảm nhiệm phần biên đạo cho "How It's Done", còn Ha Seong-jin từ K-Tigers' đảm nhiệm phần biên đạo cho "Your Idol"; cả Lee và Ha phụ trách phần biên đạo cho "Soda Pop".[67][68] Trong một cuộc phỏng vấn, Jo cho biết cô được chính bài hát "Golden" truyền cảm hứng khi phát triển phần biên đạo cho bài hát, cho rằng "tôi tập trung vào việc truyền tải câu chuyện thông qua hoạt hình. Tôi cố gắng tập trung hơn vào việc thể hiện lời bài hát và cảm xúc."[67] Về khía cạnh hoạt họa, Jo giải thích rằng cô đã làm các động tác "lớn hơn và rộng hơn" đồng thời "để ý đến các chi tiết biểu cảm khuôn mặt và đầu ngón tay để đảm bảo chúng được thể hiện tốt trên màn ảnh."[66]
Phần biên đạo cảnh chiến đấu do các thành viên nhóm K-Tigers là Taemin – đạo diễn võ thuật của bộ phim – và Ha Seong-jin đóng góp.[68][69] Khi được phỏng vấn, Ha giải thích rằng anh "quyết định lồng ghép yếu tố taekwondo vào vũ đạo [của Saja Boys]. Bằng cách này, taekwondo không chỉ được thể hiện là một môn thể thao, mà còn là một thứ mang sức mạnh thẩm mỹ".[68] Khi thảo luận về biên đạo chiến đấu, Josh Beveridge nhận xét rằng các cảnh hành động mang đậm phong cách vũ đạo chiến đấu, giải thích rằng "một số biên đạo võ thuật đã trải qua một số khóa đào tạo idol, và giữa các động tác, họ sẽ làm một số cử chỉ nhỏ bé dễ thương. Cá tính của họ nằm ở đây."[61]
Âm nhạc

Khi so sánh các bài hát của Huntrix và Saja Boys, Appelhans giải thích rằng họ "muốn các ca khúc của Saja Boys phải cực kỳ hấp dẫn, nhưng hơi trống rỗng, như thể không có tâm hồn thực sự bên dưới" trái ngược với các bài hát "nhạy cảm và chân thật về mặt cảm xúc" của Huntrix – "ý tưởng là phần bề mặt trái tim ta có thể bị ám ảnh bởi các chàng trai, nhưng phần sâu hơn lại bị lay động bởi các cô gái".[38][70] Kang và Appelhans tìm đến sự hỗ trợ của các nhà sản xuất K-pop nổi tiếng để phát triển nhạc phim.[63] Các bài hát gốc của bộ phim được sáng tác bởi Danny Chung, Ido, Vince, Kush, Ejae, Jenna Andrews, Stephen Kirk, Lindgren, Mark Sonnenblick và Daniel Rojas; phần sản xuất được thực hiện bởi Teddy Park, 24, Ido, Dominsuk, Andrews, Kirk, Lindgren và Ian Eisendrath. Marcelo Zarvos là người soạn nhạc cho bộ phim. Agnes Lee, một nhà sản xuất tại Sony Pictures Animation, cho biết cô đã chủ động tìm đến Teddy Park thuộc The Black Label sau khi chợt nhớ tới âm nhạc của 2NE1 và Blackpink trong lúc đọc kịch bản.[71] Phần nhạc phim còn có sự góp giọng của Ejae, Audrey Nuna, Rei Ami, Andrew Choi, Kevin Woo, samUIL Lee, Neckwav và Lea Salonga. Nhạc phim được phát hành vào ngày 20 tháng 6 năm 2025, trong đó có đĩa đơn chính "Takedown" do Jeongyeon, Jihyo và Chaeyoung của Twice thể hiện.[59][72][73] Ngày 8 tháng 10 năm 2025, với doanh số vượt 1 triệu bản, đĩa nhạc của bộ phim đã được RIAA trao chứng nhận bạch kim.[74]
Tại Hoa Kỳ, album nhạc phim có màn ra mắt cao nhất trên bảng xếp hạng Billboard 200 đối với nhạc phim phát hành năm 2025 và là nhạc phim đầu tiên của năm 2025 lọt vào top 10.[75] Đây cũng là album nhạc phim hoạt hình có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng kể từ "Metro Boomin" trong Spider-Man: Across the Spider-Verse (2023) xếp hạng thứ bảy, và là nhạc phim đầu tiên của Netflix đạt vị trí số một trên Top Soundtracks kể từ Stranger Things: Soundtrack from the Netflix Series, Season 4 (2022).[76] Theo BBC, Huntrix và Saja Boys – với lần lượt các bài "Golden" và "Your Idol" – đứng đầu bảng xếp hạng Spotify của Hoa Kỳ với Huntrix đạt "vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng, vượt Blackpink để trở thành nhóm nhạc K-pop nữ có thứ hạng cao nhất", và Saja Boys đã vượt BTS để trở thành "nhóm nhạc K-pop nam có thứ hạng cao nhất trong lịch sử Spotify Hoa Kỳ".[77] Mặc dù hai ban nhạc trong bộ phim không phải là nhóm K-pop hư cấu trở nên nổi tiếng đầu tiên,[78] các kênh như Entertainment Weekly đã bình luận về tầm quan trọng khi Huntrix và Saja Boys đạt được sự nổi tiếng và thành công trên bảng xếp hạng ngang ngửa với các nghệ sĩ ngoài đời thực.[79] "Golden", đĩa đơn thứ hai của album, vươn lên vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Global 200,[80] trở thành bài hát quán quân tồn tại lâu nhất của một nghệ sĩ hư cấu trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ,[81][82][83] và đã trở thành bài hát thứ ba đạt được thành tích perfect all-kill năm 2025 trên các bảng xếp hạng của Hàn Quốc.[84] đồng thời phá kỷ lục để trở thành đĩa đơn có số lượng perfect all-kill mỗi giờ nhiều nhất mọi thời đại.[85][86][87] Ngoài ra, đây trở thành nhạc phim đầu tiên trong lịch sử Billboard Hot 100 có bốn bài hát lọt vào top mười, bao gồm "Golden", "Your Idol", "Soda Pop" và "How It's Done".[88] Đây là nhạc phim đầu tiên kể từ Waiting to Exhale (1995) có ít nhất ba bài hát nằm trong top 10.[89]
Chủ đề
Cốt truyện bộ phim khai thác sức mạnh của tình bạn và tính cộng đồng trong việc vượt qua những áp lực văn hóa. Arden Cho, người lồng tiếng cho nhân vật Rumi, chia sẻ: "Nếu không có Mira và Zoey, cô ấy [Rumi] đã chẳng thể nào vượt qua được." Theo các nhà làm phim, hành trình của Rumi có nét tương đồng sâu sắc với trải nghiệm "come out" (công khai bản thân), đặc biệt là trước những kỳ vọng của gia đình và xã hội. Đồng đạo diễn Maggie Kang cho biết hành trình của nhân vật được cố ý xây dựng để phản ánh quá trình sống thật với chính mình: "Câu chuyện của Rumi giống như việc cô ấy bước ra ánh sáng và thú nhận mọi chuyện với cha mẹ, những người luôn muốn cô trở thành một hình mẫu nào đó không phải là chính cô."[90] Kang bình luận rằng khi phát triển câu chuyện cho Rumi, họ đã "thảo luận rất nhiều về nỗi niềm của người mang hai dòng máu", cũng như về "bản dạng giới (queer), chuyện nghiện ngập và tái nghiện. Chúng tôi hình dung 'phần quỷ' ấy đại loại là những điều thầm kín nhất, là phần bản thân mà người ta luôn tìm cách che đậy trước ánh mắt người đời."[47]
Cả Stephen Thompson của đài NPR lẫn Taylor Henderson từ tạp chí Out đều có chung nhận định rằng câu chuyện của Rumi mang đậm màu sắc "queer coding" (ẩn ý về giới) và là một hình ảnh ẩn dụ cho cộng đồng queer.[91][92] Henderson viết rằng: "Mặc dù phim không có nhân vật nào công khai thuộc cộng đồng LGBTQ+, nhưng cuộc đấu tranh nội tâm của Rumi mang đậm màu sắc queer. Ngay từ nhỏ, cô đã bị [Celine] dạy phải giấu nhẹm phần đó đi. Sự che giấu ấy dần trở thành nỗi xấu hổ sâu sắc, khiến cô tự khinh miệt nửa phần quỷ trong chính mình."[92] Trên tờ Psychiatric News, Sulman Aziz Mirza nhấn mạnh trọng tâm của bộ phim là "nỗi xấu hổ, bản dạng và sự chữa lành". Cụ thể, việc Rumi giấu giếm nguồn gốc quỷ và những biểu hiện của mình đã "cô lập cô trong sự tủi hổ, buộc cô không thể tham gia các hoạt động gắn kết như đi nhà tắm công cộng, và rốt cuộc là bóp nghẹt tiếng nói của chính mình". Tuy nhiên, "Rumi và Jinu, hai tâm hồn cùng mang nặng nỗi mặc cảm, đã bắt đầu tìm thấy sự chữa lành thông qua âm nhạc." Mirza nhìn nhận xấu hổ là một trải nghiệm mang tính phổ quát, do đó "những dằn vặt của Rumi có thể tượng trưng cho bất cứ điều gì: từ trầm cảm, bản dạng queer, sang chấn tâm lý, sự đa dạng thần kinh, cho đến thân phận con lai"[93]
Viết trên tờ The Korean Herald, học giả Kim Seong-kon đã xác định ba chủ đề chính của bộ phim là: "1. Thế giới không phải là sự phân định rạch ròi giữa thiện và ác, hay giữa thiên thần và ác quỷ. 2. Đừng xấu hổ về những sự khác biệt. 3. Nguồn gốc lai là một thế mạnh, chứ không phải điểm yếu."[94] Hai học giả Putu Marvitta Adira Prastiwi và Nissa Puspitaning Adni đã phân tích sâu hơn về các chủ đề bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ hiện diện trong phim. Họ viết rằng: "tình đoàn kết và sự hỗ trợ tinh thần giữa các thành viên nhóm Huntrix tạo thành nền tảng thiết yếu để xây dựng một cộng đồng nữ giới tự chủ và mạnh mẽ, đồng thời phê phán những áp lực của chế độ phụ hệ vốn đòi hỏi phụ nữ phải che giấu những khiếm khuyết và sự yếu đuối của mình. Mâu thuẫn nội tâm của Rumi và việc cô khước từ yêu cầu phải che giấu con người thật đã nhấn mạnh sự cần thiết phải phá vỡ các hệ thống biểu tượng mang tính áp bức, để phụ nữ có thể thể hiện bản thân một cách trọn vẹn và chân thực."[95]
Ra mắt
Sony Pictures Animation công bố Thợ săn quỷ Kpop vào tháng 3 năm 2021 mà không ấn định lịch phát hành.[4] Vào tháng 4 năm 2022, lần đầu tiên có thông tin cho rằng Netflix đã nộp hồ sơ đăng ký chiếu bộ phim.[96][97] Giám đốc điều hành Sony Pictures Tom Rothman xác định bộ phim sẽ được ra mắt trên Netflix vào tháng 2 năm 2023 trong một cuộc phỏng vấn với Business Insider.[98] Việc Thợ săn quỷ Kpop được phát hành trên Netflix là kết quả của một thỏa thuận được ký kết vào năm 2021 giữa Netflix và Sony.[6][99][100] Theo Matthew Belloni từ Puck, thỏa thuận này quy định rằng Sony sẽ cho Netflix quyền "ưu tiên xem trước một số dự án phim người đóng và phim hoạt hình nhất định"; đổi lại, Netflix cam kết bật đèn xanh cho một số lượng dự án nhất định để cùng phát triển, đồng thời chịu trách nhiệm phát hành và nắm quyền kiểm soát đối với các dự án này.[6] Theo các điều khoản trong thỏa thuận này, Netflix sẽ trả Sony 125 triệu USD để chi cho cả ngân sách sản xuất Thợ săn quỷ Kpop lẫn một khoản phụ phí tương đương 25% ngân sách đó;[6][101] đổi lại, Netflix sở hữu toàn bộ bản quyền phim và không cần phải chia lợi nhuận.[6]
Vào tháng 6 năm 2024, có thông tin cho rằng phim sẽ ra mắt vào năm 2025.[102] Vào tháng 4 năm 2025, một họa sĩ hoạt hình đã tiết lộ rằng bộ phim sẽ được phát hành vào tháng 6, trong khi cuối tháng đó, ngày phát hành được ấn định là ngày 20 tháng 6 năm 2025.[1] Ngoài việc phát trực tuyến trên Netflix, Thợ săn quỷ Kpop còn được phát hành giới hạn tại một số rạp chiếu phim ở California và New York. Billboard cho rằng việc này là "vừa đủ để đáp ứng các điều kiện rất cụ thể của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh".[103] Một phiên bản sing-along của bộ phim dự kiến sẽ được công chiếu tại một số rạp chiếu phim giới hạn ở Bắc Mỹ, Anh, Úc và New Zealand từ ngày 23 đến 24 tháng 8 năm 2025.[104][105][106][107] Phiên bản sing-along sau đó được phát hành trên Netflix, tách biệt với phiên bản gốc.[108] Bộ phim sau đó đã có buổi công chiếu thứ hai tại rạp từ ngày 31 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11.[109]
Việc phát hành bộ phim tại rạp vào tháng 6 năm 2025 đã đủ để đáp ứng các điều kiện tham gia giải Oscar.[103] Các bản phát hành tại rạp tiếp theo không đáp ứng được các yêu cầu để bộ phim tham gia giải BAFTA, do bộ phim được phát hành tại rạp ở Anh hai tháng sau khi phát hành trực tuyến, cùng với việc không có đủ suất chiếu thương mại.[110][111] Viện Hàn lâm Anh Quốc đã bác bỏ đơn kháng cáo ngoại lệ của Netflix; theo Deadline, bộ phim sẽ đủ điều kiện nếu Netflix phát hành Thợ săn quỷ Kpop tại các rạp chiếu phim ở Anh và trên nền tảng phát trực tuyến của họ.[111]
Phát hành tại gia
Ngày 23 tháng 2 năm 2026, tạp chí Variety đưa tin rằng bộ phim sẽ được phát hành dưới dạng đĩa CD trong khuôn khổ The Criterion Collection.[112]
Đón nhận
Lượt xem
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, Netflix công bố rằng Thợ săn quỷ Kpop đã trở thành "phim hoạt hình gốc được xem nhiều nhất mọi thời đại" trên nền tảng này.[113][114] Ngày 26 tháng 8, Netflix cho biết bộ phim đã có 236 triệu lượt xem, vượt qua Lệnh truy nã đỏ (2021) để trở thành bộ phim được xem nhiều nhất trên nền tảng này.[115][116][117] Tờ The Hollywood Reporter công bố vào cuối tháng 8 rằng theo số liệu nội bộ của Netflix, bộ phim đã duy trì phong độ ổn định trong suốt mùa hè.[118] Ngày 3 tháng 9, Netflix công bố rằng bộ phim đã cán mốc 266 triệu lượt xem, vượt kỷ lục trước đó của mùa đầu tiên trong Trò chơi con mực (2021) để trở thành tác phẩm được xem nhiều nhất trên nền tảng này;[119] tính đến ngày 24 tháng 12 năm 2025, bộ phim đạt 500 triệu lượt xem.[120] Nielsen Media Research, đơn vị ghi nhận lượng người xem trực tuyến trên một số kênh truyền hình tại Mỹ, cho biết Thợ săn quỷ Kpop đã thu hút 20,5 tỷ phút xem trong năm 2025, trở thành bộ phim được xem trực tuyến nhiều nhất năm đó.[121][122]
Doanh thu phòng vé
Phiên bản sing-along của Thợ săn quỷ Kpop ra rap vào ngày 23 tháng 8 năm 2025.[123][124] Bộ phim được công chiếu tại 1.700 rạp, vượt xa con số 698 rạp phim khi Netflix cho ra rạp Glass Onion: Kẻ đâm lén (2022). Ban đầu, bộ phim được dự đoán sẽ thu về 18 đến 20 triệu USD trong tuần đầu công chiếu.[125] Đây là bộ phim có doanh thu phòng vé cao nhất của công ty, soán ngôi Glass Onion (13,1 triệu USD vào năm 2022)[126] và là bộ phim đầu tiên của Netflix đứng đầu bảng xếp hạng vào cuối tuần.[127] Netflix không báo cáo doanh thu của bộ phim này.[124] Tại Hoa Kỳ và Canada, Thợ săn quỷ Kpop thu về 19,2 triệu USD,[8][126] vượt xa con số của Weapons, dự kiến sẽ giữ nguyên vị trí đầu bảng trong tuần thứ ba.[126]
Jeremy Fuster từ TheWrap viết rằng buổi ra rạp của Thợ săn quỷ Kpop dự kiến sẽ mở màn cao hơn ba ngày cuối tuần khai mạc của Băng đảng quái kiệt 2 (22 triệu USD) và Elio (20,8 triệu USD); anh cho rằng bộ phim sẽ thu về 100 triệu USD tại phòng vé nội địa nếu bộ phim không được phát trực tuyến.[d][128] Matt Schimkowitz từ The A.V. Club viết rằng việc phát hành phim tại rạp đã thu hút nhiều khán giả có thể đã xem trước bộ phim trên Netflix.[125] Ben Fritz từ The Wall Street Journal để ý rằng sự thành công của bộ phim đã khiến Netflix cho ra rạp bộ phim, một điều hãng hiếm khi thực hiện.[127] Matthew Belloni từ Puck cho rằng vì thỏa thuận sản xuất giữa Netflix và Sony nên phần lớn lợi nhuận, bao gồm cả lợi nhuận từ bất kỳ thương hiệu mở rộng nào có thể ra đời sau này, sẽ thuộc về đơn vị phát hành Netflix thay vì Sony. Đối với Dan Lin, giám đốc sản xuất phim của Netflix, "đây là mơ ước của mọi chủ tịch hãng phim: một siêu phẩm ăn khách giá rẻ", đồng thời có lộ trình khai thác rõ ràng trên nhiều lĩnh vực kinh doanh; ngược lại, Tom Rothman, giám đốc sản xuất phim của Sony, "chắc phải tự trách mình vì điều này".[6]
Đánh giá chuyên môn
Thợ săn quỷ Kpop nhận được sự hoan nghênh rộng rãi từ giới phê bình và khán giả[129][130] về mặt hoạt hình, âm nhạc, lồng tiếng và cốt truyện của phim.[131] Trên trang web tổng hợp đánh giá Rotten Tomatoes, 96% trong số 90 bài phê bình được xác định là tích cực. Nhìn chung các nhà bình luận đều đồng thuận ở nội dung: "Được hoạt hình hóa với năng lượng sôi động và màu sắc rực rỡ, Thợ săn quỷ Kpop là một tác phẩm giải trí gia đình vui nhộn, đi kèm với phần nhạc phim tuyệt vời."[132] Trang Metacritic sử dụng công thức bình quân gia quyền, đã chấm bộ phim số điểm 77/100 dựa trên 9 nhà phê bình, cho thấy "nhìn chung là thuận lợi".[133]
Viết cho tờ The New York Times, Brandon Yu bình luận rằng Thợ săn quỷ Kpop "là một thế giới độc đáo, quyến rũ, hài hước và đầy nghệ thuật". Yu cũng thấy rằng bộ phim có cùng cách tiếp cận điện ảnh với các phim hoạt hình Spider-Verse, cũng do Sony Pictures Animation sản xuất, nhấn mạnh rằng cả hai đều sử dụng các pha hành động mượt mà, nghệ thuật ấn tượng và âm nhạc phục vụ cho việc kể chuyện một cách hiệu quả.[134] Tương tự, Toussaint Egan của IGN cũng so sánh Thợ săn quỷ Kpop với Spider-Verse, đồng thời nhấn mạnh các cảnh chiến đấu trong phim, được mô tả là có "vũ đạo hào nhoáng và sức sống mang phong cách anime".[135] Kelechi Ehenulo từ tờ Empire gọi bộ phim là "sự bổ sung thú vị và vô cùng độc đáo" vào danh mục phim của Netflix, cho rằng đây là sự giao thoa giữa Buffy the Vampire Slayer và Popstars: The Rivals, nhấn mạnh tới tính dễ xem, tính hài hước của phim và câu chuyện về sự xấu hổ, gánh nặng cảm xúc do thế hệ áp đặt và việc chấp nhận con người thật của bản thân.[136]
Matt Goldberg của TheWrap bình luận rằng cốt truyện sẽ "quá phức tạp nếu không có khiếu hài hước" xuyên suốt bộ phim.[137] Goldberg và Yu cùng bình luận rằn một số khoảnh khắc hài hước nhất của bộ phim đến từ việc chế giễu văn hóa và các ẩn dụ xung quanh K-pop, K-drama và các phương tiện truyền thông Hàn Quốc khác.[137][134] David Tizzard của tờ The Korea Times coi Thợ săn quỷ Kpop vừa là "một bức thư tình dành cho K-pop", vừa là một bài phê bình thẳng thắn về văn hóa K-pop. Anh cũng khen ngợi cách bộ phim tái hiện văn hóa Hàn Quốc, cho rằng bộ phim nắm bắt và thể hiện những khía cạnh của cuộc sống thường nhật ở Hàn Quốc "với sự gần gũi hiếm thấy trong các tác phẩm quốc tế".[138] Tizzard và Peter Debruge của Variety đều nhấn mạnh đến việc sử dụng con chim ác là và hổ trong phim,[138][139] trong đó Tizzard nhận xét rằng hai loài vật này được tái hiện gần gũi từ truyền thống Hàn Quốc.[138]
Isaiah Colbert từ Io9 khen ngợi bộ phim vì chất nhạc chân thực, đến mức ngay cả những khán giả không phải là fan K-pop cũng "nghiền ngẫm và ngân nga theo".[140] Debruge bình luận ràng vì bối cảnh của bộ phim và sự đắm chìm trong thế giới K-pop nên khán giả có thể không hoàn toàn nhận ra đây là một vở nhạc kịch.[139] Wilson Chapman từ IndieWire cho rằng khía cạnh ấn tượng nhất của âm nhạc trong phim là khía cạnh ấn tượng nhất của âm nhạc là cách dàn dựng đa dạng các bài hát trong phim như một cảnh chiến với quỷ trong "How It's Done", một video âm nhạc xa hoa cho "Golden", một đoạn phim dựng phim sáng tạo cho "Takedown" và một "bài nhảy sôi động" trong "Soda Pop". Chapman coi sự đa dạng và tính linh hoạt của dàn dựng là cách bộ phim biến các yếu tố K-pop thành "một thành phần trung tâm và quan trọng trong cách kể chuyện", thay vì chỉ là một mánh lời.[141] Tương tự, Tizzard nhấn mạnh tới sự kết hợp liền mạch giữa âm nhạc của bộ phim với cốt truyện, nhận xét rằng các bài hát "không phải là những giai điệu bỏ ngoài tai; chúng là những cao trào đầy cảm xúc."[138] Goldberg viết rằng các bài hát mặc dù có thể bắt tai, nhưng bên trong là cốt truyện giúp duy trì sự kịch tính xuyên suốt bộ phim.[137]
Angela Garcia của tạp chí SLUG cho rằng do thời lượng phim ngắn, Thợ săn quỷ Kpop sẽ "khiến bạn cảm thấy như bộ phim chỉ mới khám phá bề nổi của cả thế giới lẫn các nhân vật".[142] Chapman cũng nhấn mạnh đến thời lượng phim ngắn, cho rằng điều này đôi lúc có lợi cho bộ phim, nhưng đây cũng là khuyết điểm chính; do diễn biến nhanh, bộ phim thiếu chiều sâu ở một số chi tiết, chẳng hạn như việc Mira và Zoey không được cốt truyện để tâm, hay là việc bộ phim không đào sâu đủ vào sự oán giận mà Rumi dành cho Celine"; kết quả là một cao trào vội vã, không gây ấn tượng và mang lại cái kết quá dễ dãi cho bộ phim.[143] Goldberg cũng chỉ ra rằng bộ phim đôi lúc gặp phải sự chệch tông đột ngột, cho rằng cần có những cung bậc nhân vật mạnh mẽ hơn cho Zoey và Mira dẫn đến cao trào của phim nhằm thu hẹp khoảng cách giữa yếu tố hài hước và những khoảnh khắc xúc động.[144] Ehenulo cho biết, mặc dù bộ phim có vấn đề về tính dễ đoán và cái kết thúc, nhưng những sai sót này có thể bỏ qua, và bộ phim vẫn xứng đáng với thành công toàn cầu mà nó đạt được.[136]
Giải thưởng
Thợ săn quỷ Kpop đã thu về nhiều giải thưởng, đề cử và danh hiệu. Phim đã giành giải Phim hoạt hình hay nhất tại Giải Lựa chọn của Giới phê bình Điện ảnh lần thứ 31,[145] Giải Quả cầu vàng lần thứ 83[146] và Giải Oscar lần thứ 98,[147] đồng thời được tạp chí Time vinh danh là Tác phẩm Đột phá của năm 2025.[148] Bộ phim cũng nhận được mười đề cử tại Giải Annie lần thứ 53 và thắng cả mười hạng mục, bao gồm hạng mục Phim hoạt hình xuất sắc nhất.[149][150] Ca khúc "Golden" trích từ nhạc phim đã thắng giải Ca khúc trong phim hay nhất tại Giải Lựa chọn của Giới phê bình Điện ảnh,[145] Giải Quả cầu vàng[146] và Giải Oscar.[147] Ca khúc cũng đoạt giải Bài hát hay nhất được sáng tác cho phương tiện truyền thông hình ảnh tại Giải Grammy lần thứ 68,[151] trở thành bài hát K-pop đầu tiên đoạt giải Grammy,[152][153][154] đồng thời giành giải Nhạc phim hay nhất tại Giải thưởng Âm nhạc Melon 2025 và Giải thưởng MAMA 2025.[155][156] Ejae, Audrey Nuna và Rei Ami được vinh danh tại Billboard Women in Music năm 2026 với vai trò vai trò giọng ca của Huntrix, đánh dấu lần đầu tiên một nhóm được trao giải này.[157]
Tác động

Sự nổi tiếng của bộ phim đã tạo nhiều tác động lớn, thúc đẩy sự hiện diện và phổ biến của văn hóa Hàn Quốc như một phần của Làn sóng Hàn Quốc, đồng thời truyền cảm hứng cho một lượng người hâm mộ đông đảo. Sự thành công của bộ phim được mô tả là bất ngờ và nằm ngoài dự đoán;[158] sự thành công về lượt xem trực tuyến của bộ phim được Nate Jones từ Vulture so sánh với Encanto (2021) của Disney.[159] Drew Taylor từ TheWrap coi bộ phim là một hiện tượng lan rộng, lấy dẫn chứng từ độ nổi tiếng của album nhạc phim và việc của hàng chính thức của Netflix công bố một gian hàng cho bộ phim, trong đó áo phông và thú nhồi bông nằm trong danh sách 5 sản phẩm bán chạy nhất 2025.[160] Một số người gọi đây là "hiện tượng hoạt hình",[161] một "mỏ vàng tiềm năng" cho Netflix,[162] một "bộ phim thành công rực rỡ",[163] và "bộ phim Hollywood ăn khách nhất mùa hè."[164] Tờ The Cut nhận xét rằng nhân vật, cốt truyện và nhạc phim lý giải cho sự nổi tiếng của bộ phim, trong khi Yoohyun Jung từ The Boston Globe cho rằng việc bộ phim lồng ghép các yếu tố văn hóa Hàn Quốc vào câu chuyện cũng là một lý do khác khiến bộ phim được khán giả yêu thích.[165]
Cuối tháng 9, Luminate đã có bài thuyết trình tại hội nghị All That Matters ở Singapore nhằm phân tích thị trường âm nhạc toàn cầu và tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó họ cho rằng việc quảng bá đa phương tiện đã giúp bộ phim đạt được thành công, với hơn hai phần ba lượt nghe nhạc trực tuyến từ nhạc phim đến từ bên ngoài Hoa Kỳ. Luminate cũng gọi bộ phim là một "thành công đa phương tiện".[166] Sara Leila Sherman và Morton Sherman đã viết trên tạp chí Psychology Today rằng bộ phim "không đơn thuần là một hình thức giải trí", với các sự kiện sing along kết nối mọi người với nhau.[167] Ngày 12 tháng 9, Lars Brandle đưa tin trên Billboard rằng nhạc phim đã chiếm 7 trong số 20 bài hát trên ARIA Singles Chart, và đã dẫn đầu bảng trong 7 tuần liên tiếp.[168] Trong một bài viết được đăng tải cùng ngày trên Billboard, Thomas Smith tiết lộ rằng trong tuần thứ sáu liên tiếp, ca khúc "Golden" của bộ phim đã đứng đầu bảng xếp hạng đĩa đơn tại Anh, và là bài hát K-pop thứ hai đạt vị trí số một tại đây.[169]
Bộ phim cũng tạo được tiếng vang trong thể thao và các lĩnh vực văn hóa đại chúng khác. Ngày 2 tháng 9 tại Giải quần vợt Mỹ Mở rộng, sau khi thắng trận đấu với Taylor Fritz, tay vợt Novak Djokovic đã thực hiện một điệu nhảy lấy cảm hứng từ bài hát "Soda Pop".[170] Bộ phim cũng được nhắc đến trong một tiểu phẩm của chương trình Saturday Night Live trong tập đầu tiên của mùa phát sóng do Bad Bunny dẫn chương trình, và có sự xuất hiện của Ejae, Audrey Nuna và Rei Ami với những đoạn nhạc kéo dài 30 giây trích từ buổi trình diễn trực tiếp các bài hát "Golden" và "How It's Done", cùng với Bowen Yang thủ vai nhân vật Jinu và hát bài "Soda Pop".[171][172][173] Ngày 7 tháng 10, Ejae, Nuna và Rei Ami trình diễn ca khúc "Golden" trong một tập của chương trình The Tonight Show Starring Jimmy Fallon, đồng thời được người dẫn chương trình phỏng vấn.[174][175][176] Các ca sĩ đã trình diễn lại bài hát "Golden" trong Lễ diễu hành Ngày Lễ Tạ ơn Macy's lần thứ 99 tại thành phố New York vào ngày 27 tháng 11, cùng với một quả bóng bay được thiết kế theo chủ đề con hổ do Jinu nuôi.[177]
Làn sóng Hàn Quốc
Trong bối cảnh làn sóng Hàn Quốc, Thợ săn quỷ Kpop được coi là đã góp phần vào sự phổ biến toàn cầu của văn hóa và truyền thống Hàn Quốc; sự phổ biến ngày càng lớn này đã trở thành một dạng quyền lực mềm cho đất nước này.[14][178][179] Một số người, như học giả văn hóa Hàn Quốc Park Jihyon cho rằng sự nổi tiếng của bộ phim có thể đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử làn sóng Hàn Quốc.[180] Các nhà nghiên cứu như Xin Fan và Salas Supalakwatchana nhận xét rằng bộ phim này là "một sản phẩm văn hóa quan trọng trong bối cảnh quyền lực mềm của Hàn Quốc", và là minh chứng cho việc phương tiện hoạt hình "có khả năng kết hợp giải trí với việc quảng bá văn hóa một cách chiến lược".[178] Cho Jae-hyon từ Hankook Ilbo nhận định rằng Thợ săn quỷ Kpop đại diện cho một giai đoạn mới của làn sóng Hàn Quốc, trong đó nội dung mang chủ đề Hàn Quốc sẽ được sản xuất ở nước ngoài thay vì được xuất khẩu từ Hàn Quốc. Với Thợ săn quỷ Kpop, Cho nhấn mạnh rằng đa phần đội ngũ sản xuất phim không phải người Hàn Quốc.[181] Moon Dong-yeol từ The Hankyoreh cũng lập luận tương tự rằng Thợ săn quỷ Kpop thể hiện sự phi quốc gia hóa của làn sóng Hàn Quốc, giờ không còn giới hạn ở việc sản xuất chỉ trong Hàn Quốc.[182]
Cả Cho Jae-hyon và Min Seong-jae của tờ The Korea Times đều nhấn mạnh rằng giai đoạn mới này của Làn sóng Hàn Quốc cũng chịu ảnh hưởng từ những người sáng tạo gốc Hàn ở hải ngoại,[181][183] trong đó Cho nhận định rằng "Maggie Kang, một người Canada gốc Hàn, đã dựa vào những ký ức tuổi thơ về phim ảnh Hàn Quốc để tạo ra bộ phim."[181] Viết cho tạp chí Foreign Policy, Grace Kao nhận thấy sự hiện diện của nhiều nhạc sĩ và nghệ sĩ gốc Hàn Quốc sống ở nước ngoài trong quá trình sản xuất Thợ săn quỷ Kpop, so sánh điều này với sự đóng góp của người Hàn Quốc hải ngoại tham gia vào ngành công nghiệp âm nhạc của Hoa Kỳ, Canada và Úc đối với K-pop.[14] Kao cũng mô tả Thợ săn quỷ Kpop như một sự phản bác lại xu hướng bản địa hóa trong K-pop, nơi các yếu tố văn hóa địa phương được nhấn mạnh hơn so với các yếu tố thuần túy của Hàn Quốc.[14] Cô bình luận rằng bộ phim "cho thấy người tiêu dùng không tìm kiếm một sản phẩm trong đó các yếu tố văn hóa Hàn Quốc hoặc người Hàn Quốc bị loại trừ" và rằng phim ảnh không nhất thiết phải bắt chước văn hóa nhạc pop Mỹ để thành công.[14]
Viết cho tờ The Washington Post, Michelle Yee Hee Lee cho rằng tại Hàn Quốc, bộ phim đã được công chúng, doanh nghiệp và chính phủ đón nhận nồng nhiệt nhờ sức hấp dẫn rộng rãi của một bộ phim hoạt hình, với nhiều sản phẩm và các lớp học nghệ thuật xoay quanh chủ đề của bộ phim.[180] Lee Hae-rin của tờ The Korea Times viết rằng sự phố biến toàn cầu của bộ phim đã thúc đẩy ngành du lịch Hàn Quốc, trong đó nhiều người hâm mộ quan tâm đến văn hóa đại chúng Hàn Quốc đến thăm các phòng thu âm, cửa hàng bảo tàng, quán cà phê và các điểm tham quan khác, bao gồm cả những địa điểm xuất hiện trong phim như Namsan, Đường mòn pháo đài công viên Naksan và làng Hanok Bukchon. Một vài doanh nghiệp đã phát hành các sản phẩm liên quan đến bộ phim, trong khi người hâm mộ được cho là rất thích thú với những món ăn mà các nhân vật chính trong phim thưởng thức.[184] Bảo tàng quốc gia Hàn Quốc đã thu hút hơn 5 triệu lượt khách, một con số chưa từng có, sánh ngang với Bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan ở thành phố New York và Bảo tàng Anh ở Luân Đôn. Sư tăng trưởng này một phần được cho là nhờ sự nổi tiếng rộng rãi của Thợ săn quỷ Kpop.[185] Bảo tàng Nghệ thuật Leeum ở Seoul mở một triển lãm tập trung vào tranh dân gian minhwa minh họa hổ và chim ác là, bao gồm một bức tranh Hojak-do từ năm 1592 được coi là tác phẩm lâu đời nhất còn tồn tại theo phong cách này.[186][187] Seo Sookyung từ The Korea Economic Daily viết rằng nhờ một phần vào sự nổi tiếng của bộ phim, Seoul đã thu hút hơn 1,36 triệu khách du lịch quốc tế, tăng 23,1% so với cùng tháng năm 2024 và tăng 18% so với tháng 7 năm 2019, theo dữ liệu của Chính quyền thành phố Seoul; đây được cho là "số lượng khách du lịch hàng tháng lớn nhất từng được ghi nhận".[188]
Cộng đồng người hâm mộ

Nhiều phương tiện truyền thông đã đánh giá bộ phim là một hiện tượng văn hóa, trong đó nhiều tờ báo nhấn mạnh tới nhạc phim, các nhân vật và cốt truyện, cũng như những chi tiết tri ân anime và cách thể hiện cộng đồng người hâm mộ cũng như văn hóa châu Á.[189][190][191] Một số người khác nhận xét rằng sau khi bộ phim được phát hành, các đoạn vũ đạo trong phim đã lan truyền rộng rãi trên nền tảng mạng xã hội TikTok, và các bức vẽ của người hâm mộ về các nhân vật trong phim đã tràn ngập các trang mạng xã hội khác.[160] Tại Hàn Quốc, người hâm mộ gọi cộng đồng của họ là "KeDeHun".[180] Thành công của bộ phim cũng được xem là thành công trong việc đưa các nhân vật châu Á vào văn hóa đại chúng, giúp trẻ em không cần phải tìm đến "Pixar hay các nàng công chúa của Disney để tìm cảm hứng cho trang phục nữa".[192]
BBC News đưa tin về các lớp học nhảy theo chủ đề K-pop, đặc biệt là các bài hát trong bộ phim, tại Belfast, cho rằng K-pop đã trở nên phổ biến hơn nhờ thành công của bộ phim..[193] Alex Vadukul từ The New York Times viết rằng lượng người hâm mộ cuồng nhiệt đã hình thành xung quanh Huntrix và nhóm Saja Boys; May Hong, diễn viên lồng tiếng cho Mira, nhận xét rằng "thật điên rồ khi trở thành đối tượng được hâm mộ cuồng nhiệt như vậy."[194] Yvonne Kim từ The Atlantic viết rằng bộ phim biến tình yêu dành cho thần tượng "từ sở thích thành hành động sáng tạo". Cô cũng cho rằng bộ phim đã thừa nhận "mối quan hệ đôi lúc ký sinh giữa nghệ sĩ và người hâm mộ" và "quyền lực đơn phương" của những người biểu diễn, đồng thời nhận định người hâm mộ trong phim không khác gì người hâm mộ ngoài đời.[195]
Trên mạng đã xuất hiện một thử thách liên quan đến mì ăn liền, dựa trên cảnh Rumi, Zoey và Mira ăn mì ramyeon trong khi hát bài "How It's Done". Một số tờ báo đưa tin rằng việc này đã khiến một vài người hâm mộ bị bỏng nặng và phải nhập viện khi cố gắng tái hiện cảnh này, các bác sĩ và bệnh viện đã cảnh báo về sự nguy hiểm của việc ăn mì ăn liền với nước quá nóng, đồng thời khuyên mọi người nên cẩn trọng khi ăn mì.[196][197][198] Trong mùa Halloween 2025, các trang phục chủ đề Thợ săn quỷ Kpop trở nên vô cùng phổ biến, với các lượt tìm kiếm trên Google về trang phục của các nhân vật trong phim chiếm vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng tìm kiếm,[199][200][201] với trang phục từ các nhà bán lẻ lớn như Spirit Halloween nhanh chóng bán hết.[202][203] Báo chí địa phương khắp Hoa Kỳ cũng đã ghi nhận sự phổ biến cao của trang phục mang chủ đề Thợ săn quỷ Kpop.[204]
Tương lai
Phần tiếp theo
Trong một cuộc phỏng vấn với Screen Rant, đạo diễn Maggie Kang bày tỏ mong muốn làm phần tiếp theo và ngoại truyện để đa dạng hóa thế giới của bộ phim. Cô nói rằng nhiều câu hỏi mới chưa có lời giải thỏa đáng và "còn rất nhiều ngóc ngách mà chúng ta có thể khám phá",[31] chẳng hạn như câu chuyện của Mira và Zoey.[205] Đạo diễn Chris Appelhans nói với tờ People rằng "có rất nhiều câu hỏi chưa được trả lời, theo cách tích cực, và cũng có rất nhiều hướng đi mà có thể trở thành một câu chuyện riêng."[206] Matthew Belloni từ Puck viết rằng, trong thỏa thuận năm 2021 giữa Sony và Netflix, Sony bảo lưu "quyền sản xuất theo hợp đồng" các phần tiếp theo của Thợ săn quỷ Kpop; tuy nhiên, "các phần phim tiếp theo sẽ được phát hành trực tiếp trên Netflix, loại trừ hoàn toàn khả năng đồng giám đốc [của Netflix] Ted Sarandos bất ngờ xuất hiện trong các rạp phim".[6] Nhưng vào tháng 2 năm 2026, Chủ tịch Sony Pictures Animation là Kristine Belson cho rằng phần thứ hai có khả năng sẽ không hoàn thành trước năm 2029.[207][208] Tháng 3 năm 2026, có thông tin công bố rằng Kang và Appelhans sẽ trở lại với vai trò biên kịch và đạo diễn.[209][210]
Tháng 7 năm 2025, TheWrap đưa tin rằng, sau thành công của Thợ săn quỷ Kpop, Netflix đã cân nhắc một số dự án tiếp theo cho thương hiệu, trong đó gồm hai phần tiếp theo của bộ phim, một bộ phim truyền hình, một phim ngắn và một vở nhạc kịch sân khấu.[211] Chủ tịch Netflix Films, Dan Lin, nhận xét rằng công ty "rất hào hứng khám phá những gì có thể là cuộc phiêu lưu tiếp theo cho Huntrix", đồng thời khẳng định rằng sẽ cần thời gian để thực hiện tất cả các phần tiếp theo nhằm giữ gìn "nét tinh tế và độc đáo" của phần đầu tiên.[212] Tháng 8 năm 2025, Belloni đưa tin Sony đã bắt đầu đàm phán với Kang và Appelhans để cả hai cùng trở lại tham gia một dự án tiếp theo.[6] Ngày 26 tháng 8, Pamela McClintock từ The Hollywood Reporter thông báo rằng Sony Pictures đang đàm phán với Netflix để làm phần thứ hai của bộ phim.[101] Ngày 5 tháng 11 năm 2025, có thông tin cho rằng phần tiếp theo dự kiến sẽ ra mắt năm 2029.[213]
Phim ngắn
Ngày 29 tháng 3 năm 2023, Sony công bố rằng chương trình mentorship LENS của công ty sẽ sản xuất một bộ phim ngắn dựa trên Thợ săn quỷ Kpop after sau khi phim ngắn The Spider Within của Spider-Verse ra mắt.[214] Tháng 11 năm 2025, phim ngắn Debut: A KPop Demon Hunters Story được Hiệp hội điện ảnh Hoa Kỳ phân hạng độ tuổi PG.[215][216]
Phương tiện truyền thông khác
Các nhân vật Rumi, Mira và Zoey được thêm vào trò chơi điện tử Fortnite dưới dạng skin có thể mua được vào ngày 2 tháng 10 năm 2025.[217][218] Trong cùng tháng, có thông tin cho rằng Netflix đã cấp giấy phép sản xuất đồ chơi Thợ săn quỷ Kpop cho Hasbro và Mattel; đồ chơi dựa trên bộ phim dự kiến sẽ bắt đầu bày bán từ năm 2026.[219][220] Ngày 28 tháng 11, cuốn sách nghệ thuật về bộ phim đã được phát hành trên mạng; phiên bản in dự kiến sẽ xuất bản vào tháng 2 năm 2026.[221][222] Nhân dịp Spotify Wrapped năm 2025, một đoạn phim hoạt hình ngắn trong đó các thành viên của Huntrix cảm ơn người hâm mộ ngoài đời vì đã lắng nghe bài hát "Golden" đã được phát hành.[223] Vào tháng 2 năm 2026, có thông tin cho rằng một bộ truyện tranh chuyển thể từ bộ phim sẽ được phát hành vào tháng 3 năm 2026.[224]
Xem thêm
Ghi chú
Tham khảo
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Hatchett, Keisha (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Demon Hunters, Arriving This Summer, Unveils Full Voice Cast". Netflix.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "KPop Demon Hunters - Full Cast & Crew". TV Guide. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Nathan Schauf". Sony Pictures Animation. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
Nathan Schauf is a lead editor at Sony Pictures Animation, most recently working on the studio's highly anticipated feature film 'KPop Demon Hunters.'
- 1 2 3 4 5 6 Donnelly, Matt (ngày 8 tháng 3 năm 2021). "Animated Musical About Demon Hunting K-Pop Girl Group in the Works at Sony (EXCLUSIVE)". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "KPop Demon Hunters (2025)". Fandango (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Belloni, Matthew (ngày 15 tháng 8 năm 2025). "The Tragedy of 'KPop Demon Hunters'". Puck (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Thợ săn quỷ Kpop". Box Office Mojo. IMDb. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 "KPop Demon Hunters – Financial Information". The Numbers. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Kim, Jeong-eon (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "K-pop Idols Shine in Netflix's Animated Film 'K-Pop Demon Hunters'". ChosunBiz. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "New 'KPop Demon Hunters' film reportedly rated and ready for release". The Express Tribune (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Pasia, Nicole; Angela, Lim (ngày 15 tháng 7 năm 2025). "Why 'KPop Demon Hunters' Is the Pop-Culture Event of the Summer". The Seattle Times. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Branigin, Anne (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "Fictional K-pop Trio Hits No. 1 on Billboard Hot 100". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Bose, Pallabi (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "Meet the cast of KPop Demon Hunters: The voice actors and singers behind the animated hit". Prestige. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 Kao, Grace (ngày 19 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Leads the Wave Back to Korea". Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Seol, Rae-on (ngày 16 tháng 10 năm 2025). '케데헌, 핼러윈 혼문 "똑똑"'...전 세계 인기 코스튬 순위 '싹쓸이' ['KDH, Halloween Honmoon "Knock Knock"' ... Sweeping the Global Costume Rankings]. iNews24 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 3 Kha Ninh (ngày 8 tháng 7 năm 2025). "Giải mã cơn sốt 'KPop Demon Hunters' trên toàn cầu". Thế giới và Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Baek, Byung-yeul (ngày 23 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' takes world by storm, combining K-pop energy with Korean heritage". The Korea Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Myriam (ngày 3 tháng 7 năm 2025). "Glossaire complet des termes et mythologies coréennes de « KPop Demon Hunters » expliqué" [Complete Glossary of Korean Terms and Mythologies from "KPop Demon Hunters" Explained]. K-Sélection. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Dubey, Nivedita (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "KPop Demon Hunters Complete Voice Cast". Nerdveda. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Nguyen, Hanh (ngày 2 tháng 7 năm 2025). ""KPop Demon Hunters": Jinu's seriously derpy tiger origin story". Salon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Isaac, Raymund (ngày 22 tháng 6 năm 2025). "Lea Salonga credited in Netflix's 'KPop Demon Hunters' as singing voice of Celine". GMA News. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Cecil (ngày 25 tháng 6 năm 2025). "Nguyên mẫu cho SAJA BOYS và HUNTR/X, hai nhóm nhạc ảo từ phim KPop Demon Hunters". Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 DeGrushe, Allison (ngày 9 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' cast and character guide: Meet the voice actors bringing the singers and demons to life". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- ↑ SungWon Cho [@prozdishere.bsky.social] (Ngày 20 tháng 6 năm 2025). "I voice ABS SAJA (yes that's his name) of the SAJA BOYS in KPOP DEMON HUNTERS, the movie is out now on @netflix.com, this was a lot of fun to work on and the animation looks absolutely gorgeous" – trên Bluesky.
- ↑ Yu, Ji-hee (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "이병헌, 메인 빌런으로 변신...애니 '케이팝 데몬 헌터스' 더빙 참여" [Lee Byung-hun transforms into the main villain... Participates in dubbing for the animation 'KPop Demon Hunters']. Ilgan Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Park, Soo-yeon (ngày 3 tháng 7 năm 2025). "이병헌, '귀마'의 목소리..."영어 더빙, 어려웠지만" (케데헌)" [Lee Byung-hun, the voice of 'Gwi-Ma'... "English dubbing was tough" (KDH)]. Dispatch. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Kim, Regina (ngày 21 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Took 7 Years to Make but a Lifetime of Experience". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Film and TV Projects Going Into Production – K-Pop: Demon Hunters". Variety Insight. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "Three Producers Pull Back the Curtain on the Work They Did to Earn the Producers Mark" (PDF). On The Mark. Producers Guild of America. tháng 5 năm 2025. tr. 36–37. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Gaur, Ryan (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "The Directors of 'KPop: Demon Hunters' Take Us Backstage of Their Netflix/Sony Showstopper". Animation Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Hullender, Tatiana (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "KPop Demon Hunters Creators Tease Potential Sequel & Cast Reveal Their K-pop Biases". Screen Rant (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Romano, Nick (ngày 22 tháng 5 năm 2025). "KPop Demon Hunters trailer reveals a fiend-fighting girl group in pop-powered animated musical (exclusive)". Entertainment Weekly. Dotdash Meredith. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 Gaur, Ryan (ngày 13 tháng 6 năm 2025). "The Directors of 'KPop: Demon Hunters' Take Us Backstage of Their Netflix/Sony Showstopper". Animation Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Opie, David (ngày 22 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Director Maggie Kang on How Bong-Joon-ho Inspired the Netflix Hit". Screen International (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "'We All Have Inner Demons': Why KPop Demon Hunters Resonates Globally". The Indian Express (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 10 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Variety's Screenwriters to Watch for 2025 Include Scribes Behind 'Ma 2,' 'Supergirl' and 'KPop Demon Hunters'". Variety. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025 – qua AOL.com.
- ↑ [Full] Exclusive BTS talk w/ KPop Demon Hunters Maggie Kang & Ahn Hyo-seop [Eng Sub]. Netflix K-Content (bằng tiếng Hàn). Netflix. ngày 13 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025 – qua YouTube.
- 1 2 Bell, Crystal (ngày 9 tháng 7 năm 2025). "How 'K-pop Demon Hunters' became a love letter to K-pop and its fandom". Mashable (bằng tiếng Anh).
- 1 2 Kang, Maggie (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "Director Maggie Kang Reveals Who Inspired 'KPop Demon Hunters' Characters". Forbes (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên Laura Sirikul. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Ryzik, Melena (ngày 7 tháng 1 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Oral History: The Making of a Smash". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Byrne, Suzy (ngày 21 tháng 8 năm 2025). "Hairstyle of the Summer: How 'KPop Demon Hunters' Sparked a Beauty Craze". Yahoo Entertainment (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Cecil (ngày 25 tháng 6 năm 2025). "Nguyên mẫu cho SAJA BOYS và HUNTR/X, hai nhóm nhạc ảo từ phim KPop Demon Hunters". Harper's Bazaar Việt Nam. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Kim, Na-yeon (ngày 23 tháng 6 năm 2025). '케이팝 데몬 헌터스' 감독 '사자보이즈 진우, 차은우에 영감받아' ['Kpop Demon Hunters' Director: 'Saja Boys' Jinu inspired by Cha Eun-woo']. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2025 – qua Naver.
- ↑ Enriquez, Em (ngày 26 tháng 6 năm 2025). "Meet The Real-Life Korean Idols Who Inspired 'KPop Demon Hunters'". Cosmopolitan. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Kang, Shin-woo (ngày 8 tháng 9 năm 2025). '케데헌 미라 모티브' 안소연, 설현·정소민과 한솥밥 ['KDH Mira Inspiration' Ahn So-yeon Under the Same Roof as Seolhyun and Jung So-min]. Sports Kyunghyang. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Cốc Bơ (ngày 29 tháng 6 năm 2025). "Những idol được lấy cảm hứng cho KPop Demon Hunters: BTS, BLACKPINK và ai nữa?". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Nguyen, Hanh (ngày 29 tháng 6 năm 2025). "'Keeping you obsessed': Netflix's Demons vs. Hunters Movie Captures the Mystical Allure of K-pop". Salon.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Rudolph, Christopher (ngày 27 tháng 8 năm 2025). "Did You Notice These 9 KPop Demon Hunters Easter Eggs (Including the Creator's Funny Cameo)?". People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Jeong, Yu-cheol (ngày 12 tháng 8 năm 2025) [ngày 11 tháng 8 năm 2025]. '케이팝 데몬 헌터스', 왜 이 이야기가 통하는가 : 해외에서의 인기 의미 ['KPop Demon Hunters': Why This Story Resonates: What It Means to Be Popular Overseas]. K-Spirit (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Jung, Yoohyun (ngày 22 tháng 8 năm 2025). "I Was a Skeptic. But Now I'm Sold – Along with Millions of Kids. 'KPop Demon Hunters' Rocks". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Cecil (ngày 26 tháng 6 năm 2025). "Bạn đã hiểu hết những ý nghĩa trang phục, đạo cụ trong KPop Demon Hunters?". Harper's Bazaar Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Kim, Max (ngày 2 tháng 8 năm 2025). "South Koreans Are Obsessed with Netflix's 'K-pop Demon Hunters.' Here's Why". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 Bennett, Tara (ngày 21 tháng 6 năm 2025). "The Directors Of 'KPop Demon Hunters' Discuss The Unexpected Challenges Of Making An Animated K-Pop Film". Cartoon Brew (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Kang, Maggie; Appelhans, Chris (ngày 31 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Directors Talk Casting, Soundtrack And Success". Forbes (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên Kim, Regina. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Kim, Eun-jae (ngày 2 tháng 7 năm 2025). "EJAE on Writing the Hits and Singing for Rumi in KPop Demon Hunters" (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên ANC613; Syed, Saquib. Genius Korea. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "'Kpop Demon Hunter' Star Arden Cho Gets Candid About Her Characters; Reveals She Originally Auditioned for Celine and Not Rumi". The Times of India. ngày 16 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Bakshi, Peuli (ngày 17 tháng 7 năm 2025). "Not Lee Byung Hun but This K-pop Idol Was First Choice for KPop Demon Hunters' Gwi Ma Role, Director Reveals". Pinkvilla. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
- ↑ David S. Cohen; Paula Hendrickson; Karen Idelson; Nick Krewen; Todd Longwell; Stuart Miller (ngày 9 tháng 4 năm 2025). "Variety's Legal Impact Report 2025: Meet Hollywood's Top Entertainment Attorneys". Variety. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 Milligan, Mercedes (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Sony's 'KPop Demon Hunters' Cast, Music Roster & Netflix Premiere Date Revealed". Animation magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Hatchett, Keisha (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Demon Hunters, Arriving This Summer, Unveils Full Voice Cast". Netflix.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 3 Debruge, Peter (ngày 20 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Directors Break Down the Heart-Eyes Scene: 'Let's Objectify the Crap Out of These Guys'". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Kang, Maggie [@maggiemkang] (ngày 22 tháng 6 năm 2025). "And Might as Well Give You the Other One. The Magpie's Name is Sussie cuz It's Always Giving Sus Eyes. Derpy and Sussie" (Tweet). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025 – qua Twitter.
- 1 2 Yoonnyung Lee, Julie (ngày 16 tháng 7 năm 2025). "KPop Demon Hunters: How the Netflix Film Became a Global Sensation". BBC Culture (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Park, Han-sol (ngày 4 tháng 7 năm 2025). "From tigers to grim reapers: Korean folklore easter eggs in 'KPop Demon Hunters'". The Korea Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Kang, Maggie (ngày 26 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Director Thought About A Live-Action Version" (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên Laura Sirikul. Forbes. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 "'Golden' Choreographer Jo Na-In 'Stunned & Thrilled' that 'KPop Demon Hunters' Song Topped Hot 100, Wants to Work With Lady Gaga Next". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 Laubacher, Kyra (ngày 25 tháng 9 năm 2025). "Jo Na-In on Choreographing "Golden" and "Takedown" for "KPop Demon Hunters"". Dance Spirit (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 "Taekwondo Artist Brings Choreographies to KPop Demon Hunters". Honorary Reporters (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "K-Tigers' Taemi Joins 'K-Pop Demon Hunters' as Martial Arts Director for Action Sequences". Star News. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Thư Vĩ (ngày 21 tháng 7 năm 2025). "Nhạc phim 'Kpop Demon Hunters': Một hiện tượng văn hóa từ nhóm nhạc hư cấu". Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Jeong, So-jin (ngày 3 tháng 2 năm 2026). "K팝은 어디까지 갈 수 있을까? 그래미는 중요하지 않아!". Elle Korea (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Hatchett, Keisha (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "KPop Demon Hunters: Inside the Animated Film's Electrifying Original Songs". Tudum (Thông cáo báo chí). Netflix. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Zachary, Brandon (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "KPop Demon Hunters Soundtrack Guide: Every Song & When They Play". Screen Rant (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "American album certifications – KPop Demon Hunters Cast, Saja Boys, Huntr/x – Kpop Demon Hunters (Soundtrack From the Netflix Film)". Recording Industry Association of America. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Caulfield, Keith (ngày 29 tháng 6 năm 2025). "Morgan Wallen's 'I'm the Problem' Spends Sixth Week in a Row at No. 1 on Billboard 200". Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Grein, Paul (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Ends Hit Soundtrack Drought". Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Hoskins, Peter (ngày 4 tháng 7 năm 2025). "KPop Demon Hunters: Fictional K-pop bands beat BTS and Blackpink in US charts". BBC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Sudario, Erielle (ngày 26 tháng 6 năm 2025). "'Kpop Demon Hunters' Shows Fictional Idols Can Make Music That Rivals the Charts". Collider (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Romano, Nick (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "2 fictional K-pop groups are giving BTS a run for their money". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Trust, Gary (ngày 14 tháng 7 năm 2025). "Huntr/x's 'Golden,' From 'KPop Demon Hunters,' Hits No. 1 on Billboard Global Charts". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Trust, Gary (ngày 11 tháng 8 năm 2025). "Huntr/x's 'Golden' From 'KPop Demon Hunters' Hits No. 1 on Billboard Hot 100". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Molanphy, Chris (ngày 16 tháng 8 năm 2025). "America's New No. 1 Song Is by a Group That Doesn't Exist". Slate. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Trust, Gary (ngày 15 tháng 9 năm 2025). "Huntr/x's 'Golden' Leads Hot 100 for Fifth Week — the Most Ever for an Animated Act". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Dương Hương (ngày 15 tháng 7 năm 2025). "Nhóm nhạc ảo của phim Thợ săn quỷ Kpop san bằng thành tích với G-Dragon". Lao Động. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Pascual, Pauline Joyce (ngày 12 tháng 8 năm 2025). "Huntr/x's 'Golden' Tops Billboard Hot 100, Breaks Korea All-Kill Record". Daily Tribune (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "PAK (Perfect All Kill)". iChart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ iChart [@instiz_ichart] (ngày 10 tháng 8 năm 2025). "2025/8/11 10:30 (KST) [Link] iChart 퍼펙트 올킬(Perfect All Kill)을 축하해요! (9개 차트 올킬, iChart 주간/실시간 1위) 🎶Huntr/x - Golden (656 Times) [Image]" (Tweet) (bằng tiếng Hàn) – qua Twitter.
- ↑ O'Connor, Roisin (ngày 26 tháng 8 năm 2025). "KPop Demon Hunters Makes History on Billboard Hot 100". The Independent (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Willman, Chris (ngày 25 tháng 8 năm 2025). "As 'Golden' Remains at No. 1, 'KPop Demon Hunters' Now Has Four Songs in the Hot 100's Top 10 — a Historic First for a Soundtrack". Variety (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- ↑ McDaniel, Caitlynn (ngày 23 tháng 6 năm 2025). "How 'K-Pop Demon Hunters' Tackles Shame, Identity & Finding Your Truth". Gayety. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Thompson, Stephen; Barber, Regina; Kim, Jae-Ha (ngày 17 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is a Viral Smash that Crushes the Songs". Pop Culture Happy Hour (Podcast). NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Henderson, Taylor (ngày 9 tháng 7 năm 2025). "Netflix's K-Pop Demon Hunters Is Taking Over the World with a Powerful Queer Allegory". Out (magazine). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Mirza, Sulman Aziz (ngày 27 tháng 8 năm 2025). "The Burden of Shame and the Healing of Self in 'KPop Demon Hunters'". Psychiatric News. 60 (9) appi.pn.2025.09.9.8. doi:10.1176/appi.pn.2025.09.9.8. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Kim, Seong-kon (ngày 12 tháng 11 năm 2025). "What to Learn from 'KPop Demon Hunters'". The Korean Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Prastiwi, Putu Marvitta Adira; Adni, Nissa Puspitaning (tháng 8 năm 2025). "Postmodern Feminism in the Movie K-Pop Demon Hunters (2025)". Jurnal Riset Rumpun Ilmu Bahasa. 4 (2): 744–754. doi:10.55606/jurribah.v4i2.6415. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Moore, Kasey (ngày 17 tháng 2 năm 2023). "'K-Pop: Demon Hunters': Sony Animation Movie To Release Exclusively on Netflix". What's On Netflix. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Milligan, Mercedes (ngày 13 tháng 4 năm 2022). "News Bytes: 'City of Ghosts' Nominated for Peabody, Sony's 'K-Pop' Might Groove on Netflix, 'Sonic 2' Blasts the BO & More". Animation Magazine. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Atkinson, Claire (ngày 16 tháng 2 năm 2023). "Sony's movie chief talks China censorship, upcoming game adaptation 'Gran Turismo,' and how his studio is preparing for a potential Hollywood writers' strike". Business Insider. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Sperling, Nicole (ngày 8 tháng 4 năm 2021). "Sony Pictures enters a streaming deal with Netflix". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Donnelly, Matt; Littleton, Cynthia (ngày 8 tháng 4 năm 2021). "Sony Pictures Moves Movie Output Deal From Starz to Netflix in Rich Pact". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 McClintock, Pamela (ngày 26 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Sequel Moving Ahead As Sony and Netflix Engage In Deal Talks". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Grobar, Matt (ngày 6 tháng 6 năm 2024). "Maggie Kang & Chris Appelhans Directing Animated Feature 'K-Pop: Demon Hunters' For Netflix – First Look". Deadline Hollywood.
- 1 2 Grein, Paul (ngày 10 tháng 7 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is a Streaming Phenomenon, So How Is It Eligible for Oscars? Here's How". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Vlessing, Etan (ngày 12 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' to Hit Theaters as Sing-Along Event". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Hart, Aimee (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "US cities are getting at least 4 different versions of the KPop Demon Hunters sing-along screenings". Polygon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Badshah, Nadeem (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "UK cinemas to host KPop Demon Hunters sing-alongs". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Brandle, Lars (ngày 15 tháng 8 năm 2025). "HOYTS to Exclusively Screen 'K-Pop Demon Hunters' Sing-Alongs". Variety Australia (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Oganesyan, Natalie (ngày 24 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Sing-Along Version To Debut On Netflix". Deadline Hollywood (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Hatchett, Keisha (ngày 15 tháng 10 năm 2025). "KPop Demon Hunters Sing-Along Returns to Theaters for Halloween". Tudum. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Davis, Clayton (ngày 11 tháng 11 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Ruled Ineligible for BAFTAs — Here's Why It's Still Eligible for Oscars". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Tartaglione, Nancy (ngày 11 tháng 11 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Ineligible For BAFTA Film Awards Despite Netflix Appeal Over Theatrical Release After Pic's Streaming Launch". Deadline Hollywood (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Lang, Brent (ngày 23 tháng 2 năm 2026). "'KPop Demon Hunters,' Guillermo del Toro's 'Frankenstein' Joining Criterion Collection (EXCLUSIVE)". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Valdez, Nick (ngày 29 tháng 7 năm 2025). "Netflix Crowns Its New Most Watched Original Animated Movie of All Time". ComicBook.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Briscuso, Lex (ngày 30 tháng 7 năm 2025). "Happy Gilmore 2 Secures Biggest U.S. Opening Weekend of All Time for a Netflix Film, KPop Demon Hunters Now the Most Popular Netflix Animated Film of All Time". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Lang, Brent (ngày 26 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Breaks Record As Netflix's Most-Watched Movie Ever". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Roeloffs, Mary Whitfill (ngày 26 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Breaks Record As Netflix's Most-Watched Movie Ever". Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Hoskins, Peter (ngày 27 tháng 8 năm 2025). "Kpop Demon Hunters Becomes Netflix's Most Viewed Film Ever". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Porter, Rick (ngày 14 tháng 8 năm 2025). "Streaming Ratings: 'Untamed' Debuts at No. 1, 'Kpop Demon Hunters' Hits High". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Hwiseon, Yeon (ngày 3 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters Surpasses Squid Game in Netflix Viewership". The Chosun Ilbo. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Milligan, Mercedes (ngày 24 tháng 12 năm 2025). "KPop Demon Hunters Surpasses 500 Million Total Views on Netflix". Animation Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Shanfeld, Ethan (ngày 28 tháng 1 năm 2026). "'KPop Demon Hunters' Is Most-Streamed Movie of 2025 With 20.5 Billion Minutes Watched". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Porter, Rick (ngày 28 tháng 1 năm 2026). "'Bluey' Defeats 'Stranger Things,' Everything Else to Retain Title as Most Streamed Show in 2025". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Netflix's KPop Demon Hunters' Tops Box Office in Rare Event". Bloomberg News. ngày 24 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 Rubin, Rebecca (ngày 24 tháng 8 năm 2025). "Box Office: Netflix's 'Kpop Demon Hunters' Leads With Estimated $18 Million Debut, 'Weapons' Stays Strong With $15.6 Million". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 Schimkowitz, Matt (ngày 24 tháng 8 năm 2025). "Netflix Summons Its First Box Office Win With KPop Demon Hunters". The A.V. Club (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 3 D'Alessandro, Anthony (ngày 25 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Delivers Netflix First No. 1 Box Office Win With $19M+, But Streamer Doesn't Want To Officially Report – Monday AM Update". Deadline Hollywood (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 Fritz, Ben (ngày 24 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is Netflix's First No. 1 Box-Office Hit". The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Netflix's KPop Demon Hunters' Tops Box Office in Rare Event". Bloomberg News. ngày 24 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Simon, Scott (ngày 19 tháng 7 năm 2025). "A History of Fictional Bands From Movies With Hit Tunes". NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
The movie "KPop Demon Hunters" has not only received critical acclaim
- ↑ Delgado, Sara (ngày 1 tháng 8 năm 2025). "Is Kpop Demon Hunters Getting a Sequel Trilogy? Here's What We Know So Far". Teen Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
Not only is the movie achieving critical acclaim
- ↑ DeGrushe, Allison (ngày 15 tháng 7 năm 2025). "What We Know About the Netflix Hit's Future". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
The movie has skyrocketed in popularity, earning acclaim for its vibrant animation, catchy soundtrack, standout voice performances, and engaging storyline.
- ↑ "Thợ săn quỷ Kpop". Rotten Tomatoes. Fandango Media. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Thợ săn quỷ Kpop". Metacritic. Fandom, Inc. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Yu, Brandon (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Review: Singing, Slinging and Slashing". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Egan, Toussaint (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "KPop Demon Hunters Review". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Ehenulo, Kelechi (ngày 28 tháng 8 năm 2025). "KPop Demon Hunters Review". Empire. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 Goldberg, Matt (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Review: A Colorful Confection Reveling in Big Emotions". TheWrap (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 4 Tizzard, David (ngày 28 tháng 6 năm 2025). "Saja boys, shaman pop, and the ethics of self-sacrifice". The Korea Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Debruge, Peter (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "'K-Pop Demon Hunters' Review: High-Concept Toon Is as Catchy as the Korean Music Phenom That Inspired It". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Colbert, Isaiah (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is a Hilarious, Kaleidoscopic, Monster-Hunting Bop". Gizmodo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Chapman, Wilson (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "'Kpop Demon Hunters' Review: Netflix's Breakout Hit is a Total Crowdpleaser". IndieWire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Garcia, Angela (ngày 30 tháng 6 năm 2025). "Film Review: KPop Demon Hunters". SLUG Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Chapman, Wilson (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "'Kpop Demon Hunters' Review: Netflix's Breakout Hit is a Total Crowdpleaser". IndieWire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Goldberg, Matt (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Review: A Colorful Confection Reveling in Big Emotions". TheWrap (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 Lang, Brent (ngày 4 tháng 1 năm 2026). "Critics Choice Awards 2026: 'One Battle After Another' Wins Best Film, 'The Pitt,' 'Adolescence' and 'The Studio' Dominate TV Prizes". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 Nordyke, Kimberly (ngày 11 tháng 1 năm 2026). "Golden Globes: Winners List". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 Nordyke, Kimberly (ngày 16 tháng 3 năm 2026). "Oscars: Winners List (Updating Live)". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Berman, Eliza (ngày 9 tháng 12 năm 2025). "KPop Demon Hunters Is Time's 2025 Breakthrough of the Year". Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Lewis, Hilary (ngày 5 tháng 1 năm 2026). "2026 Annie Awards Nominations: 'Elio,' 'Kpop Demon Hunters' Lead Film Nods". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Roxborough, Scott (ngày 21 tháng 2 năm 2026). "'KPop Demon Hunters' Sweeps Annie Awards". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Shafiq, Saman (ngày 2 tháng 2 năm 2026). "'KPop Demon Hunters' Takes Home Trophy at 2026 Grammys". USA Today. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Ngọc Thanh (ngày 2 tháng 2 năm 2026). "Giọng ca 25 tuổi giành giải, K-Pop lập kỳ tích tại lễ trao giải Grammy 2026". VTC News. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Tangcay, Jazz (ngày 1 tháng 2 năm 2026). "'Golden' From 'KPop Demon Hunters' Becomes First K-Pop Grammy Winner Ever". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Yang, Angela; Acevedo, Nicole (ngày 1 tháng 2 năm 2026). "'KPop Demon Hunters' makes Grammys history". NBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Baek, Byung-yeul (ngày 21 tháng 12 năm 2025). "G-Dragon Sweeps 7 Trophies at Melon Music Awards 2025". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Kim, Yeon-ju (ngày 29 tháng 11 năm 2025). "'kedeheon', '2025 mama eowojeu' 2gwan-wang dalseong" '케데헌', '2025 마마 어워즈' 2관왕 달성 ['KDH' Achieves Two Awards at the '2025 MAMA Awards']. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Dailey, Hannah (ngày 11 tháng 3 năm 2026). "HUNTR/X Singers EJAE, AUDREY NUNA & REI AMI Are Billboard's 2026 Women of the Year". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Xem các nguồn:
- McClintock, Pamela (ngày 19 tháng 8 năm 2025). "Box Office: 'KPop Demon Hunters Sing-Along' Books Over 1,700 Cinemas, 1,000 Shows Sell Out". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
- Maxfield, Joe (ngày 3 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' A Golden Moment for Korean Culture". ABC 7. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- Deb, Sopan (ngày 22 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Has Everyone Bobbing Their Heads. Especially Parents". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- Chafkin, Max; Vanek Smith, Stacey (ngày 5 tháng 9 năm 2025). "Did KPop Demon Hunters Kill Hollywood or Save It". Bloomberg News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Jones, Nate (ngày 22 tháng 8 năm 2025). "Will Things Stay Golden for KPop Demon Hunters at the Oscars?". Vulture (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- 1 2 Taylor, Drew (ngày 14 tháng 7 năm 2025). "Original Animated Movies Aren't Dead, They've Just Moved to Streaming | Analysis". TheWrap (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Stephan, Katcy (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Stars on Making Goofy Girls 'Feel Seen' and Sequel Hopes: 'Rescue Jinu!'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Jie, Lim Hui; Baek, Blair (ngày 14 tháng 8 năm 2025). "Netflix Wanted to Beat Disney in Family Animation. 'KPop Demon Hunters' Is Its Best Chance". CNBC. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Maguire, Adam (ngày 8 tháng 9 năm 2025). "Golden Rule: How Netflix & Sony Were Caught Off-Guard by Their KPop Smash Hit". Raidió Teilifís Éireann. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Luna, Itzel; Coyle, Jake (ngày 24 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Gives Netflix Its First Box-Office Win". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Zhang, Cat (ngày 25 tháng 8 năm 2025). "Why Is KPop Demon Hunters So Popular?". The Cut. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Ramachandran, Naman (ngày 29 tháng 9 năm 2025). "'Kpop Demon Hunters' Case Study Anchors Luminate's APAC Music Insights at All That Matters". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Sherman, Sara Leila; Sherman, Morton (ngày 29 tháng 8 năm 2025). "Why Everyone's Singing Along to K-Pop Demon Hunters". Psychology Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Brandle, Lars (ngày 12 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Collects Another ARIA Chart Double". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Smith, Thomas (ngày 12 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Slay the Competition as 'Golden' Hits 6th Week as #1 Single in the UK". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Romano, Nick (ngày 5 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters Team React to Novak Djokovic Doing the 'Soda Pop' Dance at U.S. Open: 'It's just wild, man!' (Exclusive)". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Fell, Nicole (ngày 4 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Singers Make Surprise 'SNL' Appearance With First-Ever "Golden" Performance". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Andreeva, Nellie (ngày 4 tháng 10 năm 2025). "'SNL': 'KPop Demon Hunters' Singers Make Surprise Cameo In Skit Sending Up Popular Netflix Film". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Lanuza Sáenz, Lissete (ngày 5 tháng 10 năm 2025). "WATCH: KPop Demon Hunters Make Surprise Cameo During Bad Bunny Sketch on SNL". Remezcla. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Hailu, Selome (ngày 29 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Singers Set First-Ever Live Performance on 'Tonight Show Starring Jimmy Fallon'". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Demon-hunting Huntr/x to Debut Live Performance on 'The Tonight Show' Next Week". Associated Press. ngày 29 tháng 9 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Evans, Greg (ngày 29 tháng 9 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Singers Set Debut Live Performance on 'Tonight Show Starring Jimmy Fallon'". Deadline (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Peters, Mitchell (ngày 27 tháng 11 năm 2025). "Huntr/x Brings 'KPop Demon Hunters' to 2025 Macy's Thanksgiving Day Parade With 'Golden' Performance". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Fan, Xin; Supalakwatchana, Salas (ngày 30 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters: Cultural Representation in Contemporary Korean Animation". Asian Journal of Arts and Culture. 26 (1): e16. doi:10.48048/ajac.2026.16. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Yoo, Seung-Chul (ngày 6 tháng 11 năm 2025). "K-Pop Demon Hunters and Digital Cultural Diplomacy: Measuring Brand Identity-Image Convergence in Animated K-Content". Tourism and Hospitality. 6 (5): 236. doi:10.3390/tourhosp6050236.
- 1 2 3 Lee, Michelle Ye Hee (ngày 13 tháng 9 năm 2025). "South Korea Is Going Wild for 'KPop Demon Hunters,' Made in the U.S." The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 3 Cho, Jae-hyon (ngày 30 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Signals Rise of 'Next K' Era Beyond Borders". Hankook Ilbo (bằng tiếng Anh). ProQuest 3244932996. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Moon, Dong-yeol (ngày 17 tháng 8 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' and Hallyu's Shift From Export to Global Collaboration". The Hankyoreh (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Min, Seong-jae (ngày 1 tháng 9 năm 2025). "Hallyu from Korean diaspora". The Korea Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Lee, Hae-rin (ngày 31 tháng 8 năm 2025). "Global Popularity of 'KPop Demon Hunters' Reshapes Korea's Tourism Map". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Ables, Kelsey (ngày 20 tháng 11 năm 2025). "In Time For 'KPop Demon Hunters' Mania, A Major Korean Art Show Lands in the U.S.". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Park, Yuna (ngày 9 tháng 9 năm 2025). "Dress Up Like 'KPop Demon Hunters,' Discover Magpies, Tigers". The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Mesmer, Philippe (ngày 11 tháng 11 năm 2025). "The Tiger and the Magpie, from Korean Mythology to Netflix Screens". Le Monde (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Seo, Sookyung (ngày 3 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters' Fever Draws Record Foreign Visitors to Seoul". The Korea Economic Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Phillips, Maya (ngày 28 tháng 8 năm 2025). "The Overlooked Element to the 'KPop Demon Hunters' Phenomenon". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Ku, Yuna (ngày 29 tháng 8 năm 2025). "'The Details Were Almost Perfect': Kpop Demon Hunters Sparks Pride in Korea". BBC News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Mello-Klein, Cody (ngày 26 tháng 8 năm 2025). "How Did Netflix's 'KPop Demon Hunters' Take Over the World and Become a Global Phenomenon?". Northeastern Global News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Wang, Claire (ngày 12 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is a Top Halloween Costume, and Asian Kids Are Loving the Representation". NBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Murray, Amy; Baz, Zahra (ngày 1 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters Captures Spirit Of Our Fandom". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Vadukul, Alex (ngày 25 tháng 8 năm 2025). "K-Pop Fans Sing the Demons Away". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Kim, Yvonne (ngày 12 tháng 9 năm 2025). "The Fandom Fueling Netflix's Most Popular Movie Ever". The Atlantic. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Robertson, Rachael (ngày 3 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Ramen Noodle Challenge May Put Kids at Risk of Burns". MedPage Today. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Battiste, Nikki; Moniuszko, Nikki (ngày 1 tháng 10 năm 2025). "Ramen Trend Inspired By "KPop Demon Hunters" Causing Serious Burns, Doctors Warn". CBS News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Slurp With Care: 'KPop Demon Hunters' Instant Noodle Trend Can Cause Burn Injuries". NPR. ngày 3 tháng 10 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Snider, Mike (ngày 9 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters,' Labubu Among Google's Top-Searched-for Halloween Costumes". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Snelling, Grace (ngày 30 tháng 10 năm 2025) [ngày 13 tháng 10 năm 2025]. "'KPop Demon Hunters' Costumes Will Dominate Halloween This Year. Can Retailers Keep Up With Demand?". Fast Company. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Lopez, Gerrish (ngày 29 tháng 10 năm 2025). "Here Is This Year's Most Popular Halloween Costume According to Google". Time Out. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Ortiz, Aimee (ngày 30 tháng 10 năm 2025). "Good Luck Finding a 'KPop Demon Hunters' Costume This Halloween". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Thompson, Nicole (ngày 28 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' to Take Over the Streets This Halloween". The Canadian Press. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025 – qua Pique Newsmagazine.
- ↑ Xem các nguồn:
- Johnson, Marina; Hudnall, Hannah (ngày 10 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is Trending This Halloween. What Costumes Are Popular in Kentucky?". Louisville Courier Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Bolden, Bonnie (ngày 21 tháng 10 năm 2025). "What Are the Most Popular Halloween Costumes in Mississippi? 'KPop Demon Hunters' Top US". Clarion Ledger. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Neff, Emily (ngày 27 tháng 10 năm 2025). "What Utah and the U.S. Are Dressing as for Halloween 2025". Deseret. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Alexander, Jimmy (ngày 11 tháng 10 năm 2025). "Yes, 'KPop Demon Hunters' Halloween Costumes Are in DC". WTOP. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Rau, Nate; Brastead, Chelsea (ngày 29 tháng 10 năm 2025). "Nashville's Trendiest Halloween Costumes". Axios Nashville. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
Nashville is apparently obsessed with 'KPop Demon Hunters.'
- Pettigrew, Jashayla (ngày 26 tháng 10 năm 2025) [ngày 24 tháng 10 năm 2025]. "This Netflix Movie Took Over Portland's List of Popular Halloween Costumes". KOIN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Brastead, Chelsea (ngày 29 tháng 10 năm 2025). "New Orleans' Trendiest Halloween Costumes". Axios New Orleans. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Sauvageau, Carly (ngày 15 tháng 10 năm 2025). "Bride of Frankenstein to Wednesday: What Nevadans Are Dressing Up as for Halloween". Reno Gazette Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- Hudnall, Hannah; Foster, Samantha (ngày 10 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Is Trending This Halloween, but See What's Most Popular in Columbia". Columbia Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Stephan, Katcy (ngày 1 tháng 7 năm 2025). "Inside the Viral Success of 'KPop Demon Hunters': 'Fashion, Weird Girls and Great Pop Music'". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Stutsman, Samantha (ngày 12 tháng 7 năm 2025). "Will There Be a KPop Demon Hunters 2? All About the Hit Film's Future". People. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Gajewski, Ryan (ngày 12 tháng 2 năm 2026). "Sony Animation Bosses on 'KPop Demon Hunters 2,' 'Spider-Verse' Pressure and Betting on 'GOAT'". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Fell, Nicole (ngày 3 tháng 3 năm 2026). "'KPop Demon Hunters' Directors Maggie Kang and Chris Appelhans Are Bringing Their Crew to the Oscars". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Rubin, Rebecca (ngày 12 tháng 3 năm 2026). "KPop Demon Hunters 2 Confirmed by Netflix and Sony: 'This Is Only the Beginning'". Variety. Penske Media Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Lee, Benjamin (ngày 12 tháng 3 năm 2026). "KPop Demon Hunters sequel confirmed at Netflix: 'This is only the beginning'". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Taylor, Drew (ngày 1 tháng 8 năm 2025) [ngày 31 tháng 7 năm 2025]. "How 'KPop Demon Hunters' Became Netflix's 'Frozen' | Exclusive". TheWrap (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
- ↑ ""KPop Demon Hunters" sequel buzz: Everything we know". Newsweek (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 8 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Rubin, Rebecca (ngày 5 tháng 11 năm 2025). "KPop Demon Hunters 2 Aims for 2029 Release on Netflix". Variety. ISSN 0042-2738. OCLC 60626328. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Tangcay, Jazz (ngày 29 tháng 3 năm 2023). "Sony Pictures Animation and Imageworks to Release 'Spider-Verse' Short, Launch Mentorship Program (Exclusive)". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Awan, Salal (ngày 17 tháng 9 năm 2025). "KPop Demon Hunters Short Film Rated, Hints at Franchise Expansion". Twisted Voxel. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Hart, Aimee (ngày 17 tháng 9 năm 2025). "A New KPop Demon Hunters Film Is On The Way". Polygon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Mai Nguyệt (ngày 4 tháng 10 năm 2025). "K-pop Demon Hunters của Netflix chính thức đổ bộ tựa game Fortnite". Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Phillips, Tom (ngày 1 tháng 10 năm 2025). "KPop Demon Hunters Join Fortnite With Demon Rush Mode". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Spangler, Todd (ngày 21 tháng 10 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Toys, Dolls, Games and More Coming: Netflix Inks Unique Co-Master Deals With Mattel and Hasbro". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Thượng Khải (ngày 22 tháng 10 năm 2025). "Netflix ra mắt đồ chơi, búp bê và game ăn theo bom tấn K-pop Demon Hunters". Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Lang, Jamie (ngày 28 tháng 11 năm 2025). "Netflix Releases 142-Page 'KPop Demon Hunters' Digital Art Of Book, Physical Edition Coming In Early 2026". Cartoon Brew (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Carter, Justin (ngày 29 tháng 11 năm 2025). "'KPop Demon Hunters' Finally Has an Art Book It Deserves". Gizmodo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Milligan, Mercedes (ngày 3 tháng 12 năm 2025). "New Huntr/x Video Thanks 'KPop Demon Hunters' Fans for Spotify Success". Animation Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Johnston, Rich (ngày 1 tháng 2 năm 2026). "KPop Demon Hunters Graphic Novel Next Month, And Manhwa Next Year". Bleeding Cool (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.