Bước tới nội dung

Pháp và vũ khí hủy diệt hàng loạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Pháp
Location of Cộng hòa Pháp
Location of Cộng hòa Pháp
Ngày bắt đầu chương trình hạt nhân26 tháng 12 năm 1954
Thử nghiệm vũ khí hạt nhân lần đầu13 tháng 2 năm 1960
Thử nghiệm vũ khí hỗnh hợp lần đầu24 tháng 8 năm 1968
Vụ thử nghiệm cuối cùng27 tháng 1 năm 1996
Largest yield test2,6 Mt (24 tháng 8 năm 1968)
Tổng số vụ thử nghiệm210
Kho vũ khí lúc cao điểm540 (1992)
Kho vũ khí hiện tại~290 đầu đạn (2023)[1]
Tấm tên lửa tối đa~8.000–10.000km/5.000–6,250mi (SLBM M51)
Nước ký kết NPT{{{NPT_signatory}}}

Pháp là một trong năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân được công nhận theo Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Tính đến năm 2025, tổng số đầu đạn hạt nhân trong biên chế của lực lượng hạt nhân quốc gia – Lực lượng răn đe hạt nhân Pháp – được ước tính khoảng 290 đầu đạn đã triển khai,[2] đưa Pháp trở thành quốc gia đứng thứ tư thế giới về số lượng đầu đạn hạt nhân được xác nhận. Phương tiện mang phóng chủ yếu là các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo lớp Triomphant, cùng với ba phi đội tiêm kích mang tên lửa hành trình hạt nhân.[3][4] Pháp không được ghi nhận là sở hữu hoặc phát triển vũ khí hóa học hay vũ khí sinh học.[5][6] Pháp cũng là thành viên duy nhất của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương không tham gia Nhóm Hoạch định Hạt nhân.[4]

Pháp là quốc gia thứ tư trên thế giới thử nghiệm vũ khí hạt nhân (năm 1960), và đã thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch đầu tiên vào năm 1968. Tổng thống Charles de Gaulle có ảnh hưởng quan trọng đối với quyết định của quốc gia này trong việc phát triển cả vũ khí hạt nhân và lực lượng hạt nhân.Pháp cũng được cho là đã tiến hành thử nghiệm các thiết kế bom neutron. Các lực lượng này được phát triển vào cuối thập niên 1950 và trong thập niên 1960 nhằm giúp Pháp có khả năng tách khỏi sự phụ thuộc vào NATO trong khi vẫn duy trì năng lực răn đe đối với Liên Xô.[7] Pháp là quốc gia cuối cùng trong số năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân được công nhận theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) phê chuẩn hiệp ước này, vào năm 1992. Cũng trong năm đó, kho vũ khí của Pháp đạt đỉnh với 540 đầu đạn, và từng là nước có sức mạnh hạt nhân lớn thứ ba thế giới cho đến khi bị Trung Quốc vượt qua vào năm 2020.[8] Sự hợp tác của chương trình hạt nhân Pháp với chương trình vũ khí hạt nhân của Israel trong giai đoạn 1949–1966 được đánh giá là có ảnh hưởng quan trọng đến thành công của cả hai bên. Năm 2026, Tổng thống Emmanuel Macron đã công bố việc tăng số lượng đầu đạn hạt nhân lần đầu tiên kể từ năm 1992, đồng thời thảo luận về khả năng triển khai tạm thời các phi đội hạt nhân của Pháp tới tám quốc gia châu Âu.[a].[9][10]

Trong tổng số khoảng 290 đầu đạn hạt nhân của Pháp, với khoảng 240 đầu đạn được trang bị cho 48 tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm M51 có khả năng mang nhiều đầu đạn độc lập (MIRV), được triển khai trên bốn tàu ngầm lớp Triomphant. 50 đầu đạn còn lại được trang bị cho tiêm kích Dassault Rafale mang tên lửa hành trình phóng từ trên không ASMP-A. Trong số này có 40 đầu đạn được biên chế cho lực lượng tiêm kích Không quân Pháp và 10 đầu đạn được lưu trữ tập trung để có thể nhanh chóng triển khai trên tàu sân bay Charles de Gaulle.[4] Pháp có kế hoạch hiện đại hóa lực lượng hạt nhân bằng việc phát triển tên lửa hành trình siêu vượt âm phóng từ trên không ASN4G và các tàu ngầm hạt nhân thế hệ mới SNLE 3G. Trước đây, Pháp từng sở hữu các tên lửa đạn đạo tầm trung bố trí trên đất liền như tên lửa đạn đạo S2 và S3 trong giai đoạn 1971–1996, được triển khai trong các hầm phóng tại căn cứ không quân Apt-Saint-Christol.

Hiện nay, Pháp và Vương quốc Anh là hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân duy nhất không duy trì lực lượng hạt nhân trên bộ.[20]

Pháp đã tiến hành các loạt thử nghiệm hạt nhân RegganeIn Ekker tại Algérie trong giai đoạn 1960–1966. Pháp không ký Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân một phần năm 1963 và, cùng với Trung Quốc, tiếp tục tiến hành các vụ thử hạt nhân trong khí quyển. Các vụ thử này diễn ra tại các đảo san hô Moruroa Atoll và Fangataufa Atoll thuộc Polynésie thuộc Pháp từ năm 1966 đến 1974, trước khi chuyển sang thử nghiệm ngầm dưới lòng đất. Hoạt động thử nghiệm tại cả hai khu vực này gây nhiều tranh cãi, với cư dân địa phương yêu cầu bồi thường do bị phơi nhiễm phóng xạ. Pháp tiến hành vụ thử hạt nhân cuối cùng vào tháng 1/1996, ký Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện vào tháng 9/1996 và phê chuẩn vào năm 1998.[21]

Pháp không được cho là sở hữu vũ khí sinh học hoặc hóa học; nước này tham gia Công ước Vũ khí Sinh học năm 1984 và Công ước Vũ khí Hóa học năm 1995. Tuy nhiên, cùng với các bên tham chiến lớn khác, Pháp đã sử dụng vũ khí hóa học trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ban đầu là khí cay (tear gas) vào năm 1914, sau đó chuyển sang khí phosgene. Pháp đã phê chuẩn Nghị định thư Geneva năm 1926.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp sở hữu các kho dự trữ khí phosgene và khí mù tạt, nhưng không có chiến tranh hóa học diễn ra trên Mặt trận phía Tây. Pháp cũng có thể đã nghiên cứu chiến tranh côn trùng học (entomological warfare) sử dụng bọ cánh cứng hại khoai tây trong thời kỳ này. Sau chiến tranh, Pháp thu giữ chất độc thần kinh tabun từ Đức Quốc xã và tiến hành thử nghiệm tại một cơ sở ở Algeria thuộc Pháp. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Pháp duy trì kho dự trữ và cơ sở hạ tầng vũ khí hóa học. Trong Chiến tranh Algeria, Pháp đã sử dụng các tác nhân gây mất khả năng chiến đấu (incapacitating agents), bao gồm adamsite, trong không gian kín, gây tử vong cho người Algeria. Nhiều khả năng Pháp đã tiêu hủy toàn bộ kho vũ khí hóa học của mình trước năm 1989.

Lịch sử

Pháp là một trong những quốc gia tiên phong trong lĩnh vực hạt nhân, bắt nguồn từ các công trình nghiên cứu của Marie Skłodowska CurieHenri Becquerel. Giáo sư người Pháp Frédéric Joliot-Curie, Cao ủy Năng lượng Nguyên tử giai đoạn 1945-1950 và cũng là con rể của Curie, đã nói với tờ New York Herald Tribune rằng Smyth Report năm 1945 đã bỏ sót một cách không công bằng những đóng góp của các nhà khoa học Pháp.[22]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vị thế dẫn đầu trước đây của Pháp bị suy giảm nghiêm trọng do sự bất ổn của Đệ tứ Cộng hòa Pháp và tình trạng thiếu hụt tài chính.[23]

Trong chiến tranh, Bertrand Goldschmidt đã phát minh phương pháp tách plutoni hiện vẫn được sử dụng rộng rãi khi làm việc trong nhóm Anh/Canada tham gia Dự án Manhattan. Tuy nhiên, sau khi được giải phóng năm 1945, Pháp phải bắt đầu chương trình hạt nhân của mình gần như từ con số không.

Dẫu vậy, lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Pháp đạt trạng thái tới hạn vào năm 1948, và một lượng nhỏ plutoni đã được chiết xuất vào năm 1949. Vào thời điểm đó chưa có cam kết chính thức nào đối với chương trình vũ khí hạt nhân, mặc dù đã có kế hoạch xây dựng các lò phản ứng để sản xuất plutoni quy mô lớn.[24] Francis Perrin, Cao ủy Năng lượng Nguyên tử Pháp giai đoạn 1951–1970, cho biết từ năm 1949 các nhà khoa học Israel đã được mời tới Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Saclay; sự hợp tác này dẫn đến những nỗ lực chung, bao gồm chia sẻ kiến thức giữa các nhà khoa học Pháp và Israel, đặc biệt là những người có kinh nghiệm từ Dự án Manhattan.[25][26][27] Phía Pháp tin rằng hợp tác với Israel sẽ giúp họ tiếp cận mạng lưới các nhà khoa học hạt nhân Do Thái quốc tế.[28] Theo Trung tá Warner D. Farr trong một báo cáo gửi Trung tâm Chống phổ biến vũ khí của Không quân Hoa Kỳ, mặc dù Pháp từng là quốc gia dẫn đầu trong nghiên cứu hạt nhân, nhưng sau chiến tranh “Israel và Pháp có trình độ chuyên môn tương đương”, và các nhà khoa học Israel có thể đóng góp đáng kể cho nỗ lực của Pháp. Tiến bộ trong khoa học và công nghệ hạt nhân của hai nước gắn bó chặt chẽ trong đầu thập niên 1950. Farr cũng cho biết các nhà khoa học Israel có thể đã tham gia xây dựng lò phản ứng sản xuất plutoni G-1 và nhà máy tái chế UP-1 tại Marcoule.[29]

Tuy nhiên, trong thập niên 1950, một chương trình nghiên cứu hạt nhân dân sự đã được khởi động, với sản phẩm phụ là plutoni. Tháng 12/1954, Thủ tướng Pierre Mendès France họp nội các và phê chuẩn việc triển khai một chương trình nhằm phát triển vũ khí hạt nhân của Pháp.[24]

Năm 1956, một Ủy ban bí mật về Ứng dụng Quân sự của Năng lượng Nguyên tử được thành lập, đồng thời chương trình phát triển phương tiện mang phóng cũng được khởi động.

Sự can thiệp của Hoa Kỳ trong Khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956 được cho là đã thúc đẩy Pháp tăng tốc chương trình vũ khí hạt nhân nhằm duy trì vị thế cường quốc toàn cầu.[30]

Trong khuôn khổ liên minh quân sự trong cuộc khủng hoảng này, Pháp đã đồng ý bí mật xây dựng lò phản ứng hạt nhân Dimona tại Israel, và sau đó đồng ý xây dựng một nhà máy tái chế plutoni tại đây.

Năm 1957, ngay sau sự kiện Suez và căng thẳng ngoại giao với Liên Xô và Hoa Kỳ, Tổng thống Pháp René Coty đã quyết định thành lập C.S.E.M. tại khu vực Sahara thuộc Pháp, một cơ sở thử nghiệm hạt nhân mới thay thế cho CIEES.[31]

Năm 1957, Euratom được thành lập, và dưới vỏ bọc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, Pháp đã ký các thỏa thuận với Tây Đức và Ý để hợp tác phát triển vũ khí hạt nhân.[32] Thủ tướng Tây Đức Konrad Adenauer nói với nội các rằng ông “muốn đạt được, thông qua EURATOM, khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân của riêng mình càng sớm càng tốt”.[33] Tuy nhiên, ý tưởng này nhanh chóng bị hủy bỏ. Năm 1958, Charles de Gaulle trở thành tổng thống, và Đức cùng Ý bị loại khỏi chương trình hợp tác.[cần dẫn nguồn]

Khi Charles de Gaulle trở lại nắm quyền giữa cuộc khủng hoảng tháng 5 năm 1958, các quyết định cuối cùng về việc chế tạo bom nguyên tử đã được đưa ra, và một vụ thử thành công được tiến hành vào năm 1960, với sự tham gia quan sát của các nhà khoa học Israel và quyền tiếp cận không hạn chế đối với dữ liệu khoa học.[34] Sau các vụ thử, de Gaulle nhanh chóng tách chương trình hạt nhân của Pháp khỏi sự tham gia của Israel.[35] Kể từ đó, Pháp đã phát triển và duy trì lực lượng răn đe hạt nhân độc lập, nhằm bảo vệ đất nước ngay cả khi Hoa Kỳ từ chối mạo hiểm các thành phố của mình để hỗ trợ Tây Âu trong một cuộc chiến tranh hạt nhân.[36]

De Gaulle cũng muốn chấm dứt hợp tác hạt nhân Pháp–Israel và tuyên bố sẽ không cung cấp uranium cho Israel nếu cơ sở hạt nhân này không được mở cho thanh sát quốc tế, được tuyên bố là phục vụ mục đích hòa bình và không tái xử lý plutoni.[37] Sau một loạt đàm phán kéo dài, Shimon Peres cuối cùng đã đạt được thỏa hiệp với Bộ trưởng Ngoại giao Maurice Couve de Murville sau hai năm, theo đó các công ty Pháp có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và Israel sẽ tuyên bố dự án là hòa bình.[38] Do đó, sự hỗ trợ của Pháp chỉ chấm dứt hoàn toàn vào năm 1966.[39] Tuy nhiên, việc cung cấp nhiên liệu uranium đã bị dừng sớm hơn, vào năm 1963.[40] Dù vậy, một công ty uranium của Pháp có trụ sở tại Gabon có thể đã bán uranium cho Israel vào năm 1965. Chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra nhưng không thể xác nhận liệu giao dịch này có xảy ra hay không.[41]

Hoa Kỳ bắt đầu cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình hạt nhân của Pháp từ đầu những năm 1970 đến thập niên 1980. Sự hỗ trợ này được giữ bí mật, không giống như mối quan hệ công khai với chương trình hạt nhân của Anh. Chính quyền Richard Nixon, khác với các chính quyền trước đó, không phản đối việc các đồng minh sở hữu vũ khí hạt nhân, và cho rằng Liên Xô sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với nhiều đối thủ phương Tây có vũ khí hạt nhân. Do Atomic Energy Act of 1946 cấm chia sẻ thông tin về thiết kế vũ khí hạt nhân, một phương pháp gọi là “hướng dẫn tiêu cực” (negative guidance) hay “Hai mươi câu hỏi” đã được sử dụng: các nhà khoa học Pháp trình bày nghiên cứu của họ cho phía Mỹ và được thông báo liệu họ có đi đúng hướng hay không. Các lĩnh vực Pháp nhận được hỗ trợ bao gồm: đầu đạn phân hướng nhiều mục tiêu độc lập (MIRV), khả năng chống bức xạ, thiết kế tên lửa, tình báo về hệ thống phòng thủ tên lửa của Liên Xô, và công nghệ máy tính tiên tiến. Do chương trình hạt nhân Pháp thu hút “những bộ óc xuất sắc nhất”, Hoa Kỳ cũng được hưởng lợi từ các nghiên cứu của Pháp. Mối quan hệ này cũng cải thiện quan hệ quân sự giữa hai nước; mặc dù rút khỏi cơ cấu chỉ huy của NATO vào năm 1966, Pháp vẫn phát triển hai kế hoạch mục tiêu hạt nhân riêng biệt: một kế hoạch “quốc gia” cho lực lượng Force de Frappe như một lực lượng răn đe hoàn toàn độc lập, và một kế hoạch phối hợp với NATO.[36]

Pháp được cho là đã từng thử nghiệm bom neutron (bom bức xạ tăng cường), dường như dẫn đầu lĩnh vực này với một thử nghiệm sớm vào năm 1967[42] và một quả bom neutron “thực sự” vào năm 1980.[b]

Kho vũ khí hạt nhân của Pháp đạt đỉnh khoảng 540 đầu đạn vào các năm 1991–1992, trùng với sự kết thúc của chiến tranh Lạnh và “lợi tức hòa bình” sau đó. Kho vũ khí này đã vượt qua Vương quốc Anh để trở thành lớn thứ ba thế giới vào khoảng năm 1985, và duy trì vị trí này cho đến khi bị Trung Quốc vượt qua vào năm 2020.[8] Ngày 2 tháng 3 năm 2026, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố đã ra lệnh bắt đầu sản xuất thêm đầu đạn hạt nhân, đánh dấu lần tăng quy mô kho vũ khí đầu tiên kể từ năm 1992. Ông cũng công bố chiến lược mới cho phép triển khai tạm thời các máy bay mang vũ khí hạt nhân của Pháp tới các quốc gia đồng minh.[9][10]

Thử nghiệm hạt nhân

Tổng cộng đã có 210 vụ thử vũ khí hạt nhân của Pháp được tiến hành trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1996. Trong số này, 17 vụ thử được thực hiện tại khu vực Sa mạc Sahara thuộc Algérie trong khoảng thời gian 1960–1966, bắt đầu vào thời điểm giữa Chiến tranh Algérie. 193 vụ thử còn lại được tiến hành tại Polynésie thuộc Pháp.[44][45]

Trung tâm thử nghiệm hạt nhân Sahara (1960–66)

Sau khi nghiên cứu các địa điểm Réunion, New Caledonia, và Clipperton Island, Tướng Charles Ailleret, người đứng đầu Bộ phận Vũ khí Đặc biệt, đã đề xuất hai địa điểm thử hạt nhân khả dĩ cho Pháp trong một báo cáo tháng 1 năm 1957: Algérie thuộc Pháp ở sa mạc Sahara, và Polynésie thuộc Pháp. Mặc dù ông khuyến nghị không chọn Polynésie do khoảng cách xa và thiếu sân bay lớn, Ailleret cho rằng nên chọn Algérie “tạm thời”, một phần có lẽ do ảnh hưởng của Chiến tranh Algérie.[46]

Một loạt các vụ thử hạt nhân khí quyển đã được tiến hành bởi Centre Saharien d'Expérimentations Militaires (“Trung tâm Thử nghiệm Quân sự Sahara”) từ tháng 2 năm 1960 đến tháng 4 năm 1961. Vụ thử đầu tiên, mang tên Gerboise Bleue (“Chuột nhảy xanh”), diễn ra ngày 13 tháng 2 năm 1960 tại Algérie. Vụ nổ xảy ra cách căn cứ quân sự Hammoudia khoảng 40 km, gần Reggane – thị trấn cuối cùng trên tuyến đường Tanezrouft hướng xuống phía nam xuyên qua Sahara tới Mali, và cách Béchar khoảng 700 km về phía nam.[47] Thiết bị có sức nổ 70 kiloton. Mặc dù Algérie giành độc lập năm 1962, Pháp vẫn tiếp tục tiến hành các vụ thử hạt nhân ngầm tại đây cho đến năm 1966. Tướng Pierre Marie Gallois được mệnh danh là “cha đẻ của bom nguyên tử” (le père de la bombe A)..

Ba vụ thử khí quyển khác được tiến hành từ ngày 1 tháng 4 năm 1960 đến ngày 25 tháng 4 năm 1961 tại Hammoudia. Quân nhân, công nhân và cả cộng đồng du mục Touareg trong khu vực đều có mặt tại các bãi thử mà hầu như không có biện pháp bảo vệ đáng kể. Theo báo L'Humanité, nhiều người chỉ được yêu cầu tắm rửa sau mỗi vụ thử.[48] Vụ thử Gerboise Rouge (5 kiloton) – quả bom nguyên tử thứ ba, có sức nổ bằng một nửa quả Little Boy – phát nổ ngày 27 tháng 12 năm 1960, gây ra làn sóng phản đối từ Nhật Bản, Liên Xô, Ai Cập, Maroc, NigeriaGhana.[49]

Sau khi Algérie giành độc lập ngày 5 tháng 7 năm 1962, theo các Hiệp định Evian ký ngày 19 tháng 3 năm 1962, quân đội Pháp đã chuyển bãi thử tới một địa điểm khác trong Sahara Algérie, cách Tamanrasset khoảng 150 km về phía bắc, gần làng In Eker. Các vụ thử hạt nhân ngầm được tiến hành trong các đường hầm đào trong núi Taourirt Tan Afella, thuộc vùng núi granit Hoggar. Hiệp định Evian có một điều khoản bí mật cho phép “Algérie nhượng quyền… cho Pháp sử dụng một số căn cứ không quân, khu đất, địa điểm và cơ sở quân sự cần thiết” trong vòng 5 năm.

Do đó, C.S.E.M. được thay thế bằng Centre d'Expérimentations Militaires des Oasis ("Trung tâm Thử nghiệm Quân sự Oasis") – 1 cơ sở thử nghiệm hạt nhân dưới lòng đất. Tổng cộng 13 vụ thử ngầm được tiến hành tại In Eker từ ngày 7 tháng 11 năm 1961 đến ngày 16 tháng 2 năm 1966. Đến ngày 1 tháng 7 năm 1967, toàn bộ cơ sở của Pháp đã được rút khỏi khu vực.

Một tai nạn xảy ra ngày 1 tháng 5 năm 1962 trong vụ thử “Béryl”, có sức nổ mạnh gấp bốn lần vụ ném bom Hiroshima và được thiết kế là thử nghiệm ngầm trong giếng đứng.[50] Do việc bịt kín giếng không đúng cách, đá và bụi nhiễm phóng xạ bị phát tán ra khí quyển. Chín binh sĩ thuộc đơn vị 621st Groupe d'Armes Spéciales bị nhiễm xạ nặng.[51] Họ bị phơi nhiễm tới 600 mSv.

Bộ trưởng Lực lượng Vũ trang Pierre Messmer và Bộ trưởng Nghiên cứu Gaston Palewski có mặt tại hiện trường. Khoảng 100 người khác, bao gồm quan chức, binh sĩ và công nhân Algérie, bị phơi nhiễm ở mức thấp hơn (khoảng 50 mSv) khi đám mây phóng xạ bay qua sở chỉ huy do sự thay đổi hướng gió bất ngờ. Họ phải tự tìm cách thoát thân, thường không có bất kỳ bảo hộ nào.

Palewski qua đời năm 1984 vì bệnh bạch cầu, mà ông luôn cho là hậu quả của sự cố Béryl. Năm 2006, chuyên gia thử nghiệm hạt nhân Bruno Barrillot đo được mức bức xạ gamma tại khu vực là 93 microsievert/giờ, tương đương 1% liều phơi nhiễm tối đa hàng năm theo tiêu chuẩn.[48] Sự cố này được ghi lại trong bộ phim tài liệu–kịch năm 2006 “Vive La Bombe!”.[52]

Cơ sở thử nghiệm Sahara

  • CIEES (Centre Interarmées d'Essais d'Engins Spéciaux, "Trung tâm Thử nghiệm Phương tiện Đặc biệt Liên quân"): Hammaguir, cách Colomb-Béchar khoảng 12 km về phía tây nam được sử dụng để phóng tên lửa giai đoạn từ năm 1947 đến năm 1967.[53]
  • C.S.E.M. (Centre Saharien d'Expérimentations Militaires – “Trung tâm Thử nghiệm Quân sự Sahara”): Reggane, phía tây In Salah, vùng Tanezrouft, được sử dụng để thử nghiệm hạt nhân trong tầng khí quyển từ năm 1960 - 1961.
  • C.E.M.O. (Centre d'Expérimentations Militaires des Oasis – “Trung tâm Thử nghiệm Quân sự Oasis”): In Ekker, thuộc vùng núi Hoggar, cách Tamanrasset khoảng 150 km, tại Tan Afella là nơi thử nghiệm hạt nhân dưới lòng đất giai đoạn 1961 đến năm 1967.

Trung tâm thử nghiệm Thái Bình Dương (1966–1996)

Mặc dù ban đầu lựa chọn Algérie làm địa điểm thử hạt nhân, chính phủ Pháp đã quyết định xây dựng Sân bay quốc tế Faa'a tại Tahiti, với chi phí và nguồn lực vượt xa mức có thể biện minh bằng lý do chính thức là phục vụ du lịch.

Đến năm 1958, hai năm trước vụ thử đầu tiên tại Sahara, Pháp bắt đầu tìm kiếm lại địa điểm thử nghiệm mới do các rủi ro chính trị tiềm tàng tại Algérie và khả năng các vụ thử trên mặt đất bị cấm. Nhiều đảo hải ngoại của Pháp đã được nghiên cứu, cũng như phương án thử nghiệm ngầm tại dãy Alps, dãy Pyrenees hoặc Corsica; tuy nhiên, các kỹ sư đã gặp nhiều trở ngại tại hầu hết các địa điểm trong lãnh thổ chính quốc.[46]

Đến năm 1962, trong các cuộc đàm phán với phong trào độc lập Algérie, Pháp hy vọng giữ Sahara làm bãi thử đến năm 1968, nhưng đồng thời nhận thấy cần có khả năng tiến hành các vụ thử bom nhiệt hạch trên mặt đất, điều không thể thực hiện tại Algérie. Vì vậy, Mururoa và Fangataufa được lựa chọn trong cùng năm.

Tổng thống Charles de Gaulle công bố quyết định này ngày 3 tháng 1 năm 1963, cho rằng đây là một lợi ích đối với nền kinh tế còn yếu của Polynésie. Người dân và lãnh đạo Polynésie ban đầu phần lớn ủng hộ, mặc dù các vụ thử sau đó trở nên gây tranh cãi, đặc biệt trong các phong trào ly khai tại địa phương.[46]

Tổng cộng 193 vụ thử hạt nhân đã được tiến hành tại Polynésie trong giai đoạn 1966–1996.

Ngày 24 tháng 8 năm 1968, Pháp kích nổ vũ khí nhiệt hạch đầu tiên, mật danh Canopus, trên khu vực Fangataufa. Một thiết bị phân hạch đã kích hoạt tầng thứ cấp chứa lithium-6 deuteride bên trong lớp vỏ uranium làm giàu cao, tạo ra vụ nổ với đương lượng 2,6 megaton.[cần dẫn nguồn]

Thử nghiệm mô phỏng (1996–2012)

Gần đây hơn, Pháp đã sử dụng siêu máy tính để mô phỏng và nghiên cứu các vụ nổ hạt nhân.[cần dẫn nguồn]

Học thuyết hạt nhân

The French nuclear-powered aircraft carrier Charles de Gaulle and the American nuclear-powered carrier USS Enterprise (left), each of which carry nuclear-capable fighter aircraft

Học thuyết của Pháp yêu cầu ít nhất 1 trong 4 tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân luôn ở trạng thái tuần tra trên biển tại bất kỳ thời điểm nào, sẵn sàng thực hiện đòn phản công hạt nhân thứ hai (second strike) trong trường hợp bị tấn công, tương tự chính sách của Vương quốc Anh.[54] Học thuyết răn đe hạt nhân này đã được duy trì liên tục từ năm 1971.

Năm 2006, Tổng thống Jacques Chirac tuyên bố rằng Pháp xem xét khả năng sử dụng răn đe hạt nhân đối với một quốc gia tiến hành tấn công khủng bố nhằm vào Pháp. Ông nhấn mạnh rằng lực lượng hạt nhân Pháp đã được cấu hình để đáp ứng phương án này.[55]

Ngày 21 tháng 3 năm 2008, Tổng thống Nicolas Sarkozy thông báo Pháp sẽ cắt giảm một phần ba kho đầu đạn hạt nhân triển khai bằng đường không (khi đó gồm 60 đầu đạn TN 81), tương đương giảm 20 đầu đạn, đưa tổng số đầu đạn hạt nhân của Pháp xuống dưới 300.[56][57]

Ngày 21 tháng 3 năm 2008, Tổng thống Emmanuel Macron tuyên bố Pháp đã khởi động đàm phán với tám đồng minh châu Âu gồm Bỉ, Đan Mạch, Đức, Hy Lạp, Hà Lan, Ba Lan, Thụy Điển và Vương quốc Anh trong một khuôn khổ hợp tác mà ông gọi là “dissuasion avancée” (có thể hiểu là răn đe tiên phương hoặc răn đe mở rộng tiên tiến).[9] Khuôn khổ này có thể bao gồm:

  • Thảo luận về học thuyết hạt nhân
  • Sự tham gia của lực lượng thông thường đồng minh trong các cuộc diễn tập hạt nhân của Pháp

Chiến lược này cũng cho phép triển khai tạm thời máy bay mang vũ khí hạt nhân của Pháp, cụ thể là Dassault Rafale, tới lãnh thổ đồng minh trong các tình huống cực đoan, tuy nhiên vẫn đặt dưới quyền kiểm soát sử dụng hoàn toàn của Pháp.[9][10] Ông Macron đồng thời công bố việc tăng quy mô kho vũ khí hạt nhân của Pháp, nhưng không tiết lộ mức tăng cụ thể.[58]

Pháp (cũng như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc) đã quyết định không ký kết Hiệp ước của Liên Hợp Quốc về Cấm Vũ khí Hạt nhân, được Đại hội đồng thông qua năm 2017.[59]

Vũ khí hóa học và sinh học

Pháp tuyên bố hiện nay không sở hữu vũ khí hóa học. Quốc gia này đã phê chuẩn Công ước Vũ khí Hóa học (CWC) năm 1995, và gia nhập Công ước Vũ khí Sinh học và Độc tố (BWC) năm 1984. Pháp cũng đã phê chuẩn Nghị định thư Genève năm 1926.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, trái với quan niệm phổ biến cho rằng Đức là nước đầu tiên sử dụng vũ khí hóa học, thực tế chính Pháp mới là quốc gia sử dụng trước, dù đó là một cuộc tấn công bằng khí cay không gây chết người (xylyl bromide) tiến hành vào tháng 8 năm 1914 nhằm vào lực lượng Đức đang tiến công.

Khi chiến tranh chuyển sang chiến tranh chiến hào, và các bên tìm kiếm phương thức giành ưu thế mới, quân đội Đức đã tiến hành tấn công bằng khí clo nhằm vào quân đội Pháp tại Trận Ypres (1915) ngày 15 tháng 4 năm 1915, mở ra một phương thức tác chiến mới, nhưng đã không tận dụng được sự đột phá trên chiến tuyến Pháp trong ngày hôm đó.

Theo thời gian, khí phosgene có độc tính cao hơn đã thay thế clo và được sử dụng rộng rãi trên Mặt trận phía Tây, bao gồm cả bởi Pháp, gây ra thương vong lớn cho cả hai phía tham chiến. Khi chiến tranh kéo dài, tác động của vũ khí hóa học dần được giảm thiểu nhờ sự phát triển của trang bị bảo hộ và mặt nạ phòng độc.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp duy trì kho dự trữ lớn khí mù tạt và phosgene, nhưng không sử dụng chúng chống lại lực lượng Phe Trục xâm lược; đồng thời, các lực lượng Trục cũng không sử dụng vũ khí hóa học trên chiến trường Mặt trận phía Tây (Đức chỉ sử dụng vũ khí hóa học chống lại dân cư Liên Xô).[60]

Trong cuộc xâm lược Pháp, quân Đức đã chiếm được một cơ sở nghiên cứu sinh học của Pháp và được cho là phát hiện các kế hoạch sử dụng bọ khoai tây như một phương tiện chiến tranh sinh học nhằm vào Đức.[61]

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, quân đội Pháp bắt đầu thử nghiệm các tác nhân hóa học thu giữ từ Đức tại Algérie (khi đó là một tỉnh của Pháp), đặc biệt là chất độc thần kinh cực mạnh Tabun. Đến cuối thập niên 1940, việc thử nghiệm đạn dược chứa Tabun đã trở thành thông lệ, thường sử dụng gia súc để đánh giá tác động.[62] Các thử nghiệm vũ khí hóa học được tiến hành tại bãi thử sa mạc không có người ở B2-Namous, nằm cách biên giới Maroc khoảng 100 km về phía đông, ngoài ra còn có các địa điểm khác.[63][64] Một cơ sở sản xuất tồn tại tại Bouchet, gần Paris, có nhiệm vụ nghiên cứu vũ khí hóa học và duy trì năng lực khoa học – công nghệ trong lĩnh vực này.[65]

Trong Chiến tranh Algérie (1956–1962), lực lượng Pháp đã sử dụng khí độc trên quy mô lớn, bao gồm việc tấn công lực lượng của Quân Giải phóng Dân tộc Algérie hoạt động trong hang động và đường hầm ngầm.

Mặc dù trên lý thuyết đây là các tác nhân gây mất khả năng chiến đấu không gây chết người, nhưng trong không gian kín chúng trở nên gây chết người. Một loại khí được sử dụng có mật danh “CN2D”, chứa chất adamsite.

Tài liệu quân sự Pháp đã được công bố trong bộ phim tài liệu năm 2025 Algeria, special weapons section (dù việc phát sóng trên France 5 bị hủy). Bộ phim đưa ra lời chứng của cựu binh Pháp và các nạn nhân Algérie về một cuộc tấn công tháng 3 năm 1959 tại dãy Aurès. Một binh sĩ Pháp kể rằng sau cuộc tấn công, 10 người Algérie được phát hiện đã thiệt mạng. Lực lượng Pháp còn thực hiện nhiều hành vi tàn bạo khác trong cuộc chiến này.[66][67][68]

Đến năm 1985, Pháp được ước tính sở hữu khoảng 435 tấn vũ khí hóa học, là kho dự trữ lớn thứ hai trong NATO sau Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tại một hội nghị ở Paris năm 1989, Pháp tuyên bố không còn sở hữu vũ khí hóa học, nhưng vẫn duy trì năng lực công nghiệp để có thể nhanh chóng tái sản xuất nếu cần thiết.[69]

Xem thêm

Ghi chú

  1. These countries are Belgium, Denmark, Germany, Greece, Netherlands, Poland, Sweden, and the United Kingdom.
  2. UK parliamentary question on whether condemnation was considered by Thatcher government.[43]

Tham khảo

  1. "Nuclear Notebook: French nuclear weapons, 2023".
  2. "Status of World Nuclear Forces".
  3. Table of French Nuclear Forces (Natural Resources Defense Council, 2002)
  4. 1 2 3 Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight-Boyle, Mackenzie (ngày 4 tháng 7 năm 2025). "French nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). 81 (4): 313–326. doi:10.1080/00963402.2025.2524251. ISSN 0096-3402.
  5. "CNS - Chemical and Biological Weapons Possession and Programs Past and Present". Federation of American Scientists. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  6. "France and the Chemical Weapons Convention". French Ministry of Foreign and European Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  7. "UNODA Treaties Database". treaties.unoda.org. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
  8. 1 2 "Nuclear Notebook". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2026.
  9. 1 2 3 4 Schofield, Hugh (ngày 2 tháng 3 năm 2026). "France to boost nuclear arsenal and extend deterrence to European allies". BBC Home. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2026.
  10. 1 2 3 Petrequin, -Samuel; Petrequin, Associated Press Samuel; Press, Associated (ngày 2 tháng 3 năm 2026). "Macron says France will increase its nuclear arsenal, allow temporary deployment of nuclear-armed jets to European allies". PBS News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2026.
  11. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 2 tháng 1 năm 2025). "United States nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists. 81 (1): 53–79. doi:10.1080/00963402.2024.2441624. ISSN 0096-3402.
  12. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 4 tháng 5 năm 2025). "Russian nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists. 81 (3): 208–237. doi:10.1080/00963402.2025.2494386. ISSN 0096-3402. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
  13. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 1 tháng 11 năm 2024). "United Kingdom nuclear weapons, 2024". Bulletin of the Atomic Scientists. 80 (6): 394–407. doi:10.1080/00963402.2024.2420550. ISSN 0096-3402.
  14. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight-Boyle, Mackenzie (ngày 4 tháng 7 năm 2025). "French nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists. 81 (4): 313–326. doi:10.1080/00963402.2025.2524251. ISSN 0096-3402.
  15. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 4 tháng 3 năm 2025). "Chinese nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists. 81 (2): 135–160. doi:10.1080/00963402.2025.2467011. ISSN 0096-3402.
  16. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt (ngày 2 tháng 1 năm 2022). "Israeli nuclear weapons, 2021". Bulletin of the Atomic Scientists. 78 (1): 38–50. doi:10.1080/00963402.2021.2014239. ISSN 0096-3402.
  17. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 2 tháng 9 năm 2024). "Indian nuclear weapons, 2024". Bulletin of the Atomic Scientists. 80 (5): 326–342. doi:10.1080/00963402.2024.2388470. ISSN 0096-3402.
  18. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana (ngày 3 tháng 9 năm 2023). "Pakistan nuclear weapons, 2023". Bulletin of the Atomic Scientists. 79 (5): 329–345. doi:10.1080/00963402.2023.2245260. ISSN 0096-3402.
  19. Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 3 tháng 7 năm 2024). "North Korean nuclear weapons, 2024". Bulletin of the Atomic Scientists. 80 (4): 251–271. doi:10.1080/00963402.2024.2365013. ISSN 0096-3402.
  20. [11][12][13][14][15][16][17][18][19]
  21. "The Comprehensive Nuclear-Test-Ban Treaty (CTBT)". CTBTO (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
  22. "NEW YORK HERALD TRIBUNE, EUROPEAN EDITION, 'JOLIOT-CURIE RIPS AMERICA FOR ATOMIC ENERGY REPORT'". Woodrow Wilson International Center for Scholars.
  23. "Weapons of Mass Destruction (WMD): Nuclear Weapons". GlobalSecurity.org.
  24. 1 2 Origin of the Force de Frappe (Nuclear Weapon Archive)
  25. "Israel's Nuclear Weapons". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
  26. "Israel's Nuclear Weapon Capability: An Overview". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
  27. "Mohammed Omer Wins Norwegian PEN Prize - WRMEA". www.wrmea.org.
  28. Pinkus, Binyamin; Tlamim, Moshe (2002). "Atomic Power to Israel's Rescue: French-Israeli Nuclear Cooperation, 1949–1957". Israel Studies. 7 (1): 104–138. doi:10.2979/ISR.2002.7.1.104. JSTOR 30246784. S2CID 145456261.
  29. "Israel's Nuclear Weapons". www.au.af.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2000.
  30. Stuck in the Canal, Fromkin, David - Editorial in The New York Times, 28 October 2006
  31. "Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  32. Die Erinnerungen, Franz Josef Strauss - Berlin 1989, p. 314
  33. Germany, the NPT, and the European Option (WISE/NIRS Nuclear Monitor)
  34. Farr, Warner D (September 1999), The Third Temple's holy of holies: Israel's nuclear weapons, The Counterproliferation Papers, Future Warfare Series, 2, USAF Counterproliferation Center, Air War College, Air University, Maxwell Air Force Base, retrieved July 2, 2006 https://fas.org/nuke/guide/israel/nuke/farr.htm Lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2016 tại Wayback Machine
  35. "Nuclear Weapons - Israel".
  36. 1 2 Ullman, Richard H. (Summer 1989). "The Covert French Connection". Foreign Policy. 75 (75): 3–33. doi:10.2307/1148862. JSTOR 1148862.
  37. Cohen 1998, tr. 73–74.
  38. Cohen 1998, tr. 75.
  39. Hersh 1991, tr. 70.
  40. "The Israel-Argentina Yellowcake Connection". National Security Archive. George Washington University. ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2013.
  41. 'Argentina sold Israel yellowcake uranium in 1960s'The Jerusalem Post
  42. "BBC News - Sci/Tech - Neutron bomb: Why 'clean' is deadly". BBC News.
  43. "French Neutron Bomb". Parliamentary Debates (Hansard). ngày 16 tháng 7 năm 1980.
  44. Treize ans après le dernier des essais nucléaires français, l'indemnisation des victimes en marche. Hervé ASQUIN, AFP. 27 May 2009.
  45. Four decades of French nuclear testing Lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2010 tại Wayback Machine. Julien PEYRON, France24. Tuesday 24 March 2009.
  46. 1 2 3 Regnault, Jean-Mark (tháng 10 năm 2003). "France's Search for Nuclear Test Sites, 1957–1963". The Journal of Military History. 67 (4): 1223–1248. doi:10.1353/jmh.2003.0326. JSTOR 3396887. S2CID 154707737.
  47. "RAPPORT N 179 - L'EVALUATION DE LA RECHERCHE SUR LA GESTION DESDECHETS NUCLEAIRES A HAUTE ACTIVITE - TOME II LES DECHETS MILITAIRES". www.senat.fr.
  48. 1 2 La bombe atomique en héritage, L'Humanité, February 21, 2007 (bằng tiếng Pháp)
  49. 1960: France explodes third atomic bomb, BBC On This Day (bằng tiếng Anh)
  50. "France's Nuclear Weapons - Origin of the Force de Frappe". nuclearweaponarchive.org.
  51. Dossier de présentation des essais nucléaires et leur suivi au Sahara Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine
  52. "EcoVision Festival - Edizione 2007". ngày 23 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2009.
  53. "CIEES (Sahara)". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  54. "Nuclear submarines collide in Atlantic'". The Guardian, February 16th, 2009
  55. "France 'would use nuclear arms'". BBC News, Thursday 19 January 2006
  56. Nucléaire : Mise à l'eau du terrible devant Sarkozy - France - LCI Lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2009 tại Wayback Machine
  57. "France cuts its nuclear weapons by a third"[liên kết hỏng]. The Daily Telegraph (London).
  58. "Macron starts biggest European nuclear shift since Cold War". Politico. ngày 2 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  59. "122 countries adopt 'historic' UN treaty to ban nuclear weapons". CBC News. ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  60. Chris Bellamy, Absolute War: Soviet Russia in the Second World War (Knopf, 2008).
  61. Milton Leitenberg; Raymond A Zilinskas; Jens H Kuhn (ngày 29 tháng 6 năm 2012). The Soviet Biological Weapons Program: a history. Harvard University Press. tr. 442–. ISBN 978-0-674-06526-0.
  62. Jonathan Tucker (ngày 18 tháng 12 năm 2007). War of Nerves: Chemical Warfare from World War I to Al-Qaeda. Knopf Doubleday Publishing Group. tr. 120–123. ISBN 978-0-307-43010-6.
  63. "First World War.com - Weapons of War: Poison Gas". firstworldwar.com.
  64. "Chemical and Biological Weapons - France Nuclear Forces".
  65. "La France a testé des armes chimiques près de Paris". L'Obs (bằng tiếng Pháp). ngày 26 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
  66. FRANCE 24 (ngày 20 tháng 3 năm 2025). "Algérie, sections armes spéciales" : un documentaire sur les gaz toxiques en guerre d'indépendance. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026 qua YouTube.{{Chú thích video}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  67. "Guerre d'Algérie : France Télévisions revient sur sa décision de déprogrammer un documentaire sur l'usage des armes chimiques par la France - L'Humanité". L'Humanité (bằng tiếng Pháp). ngày 11 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
  68. "Guerre d'Algérie : révélations sur l'usage de gaz toxiques, « armes spéciales »" (bằng tiếng Pháp). ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
  69. Fredrik Wetterqvist (1990). French Security and Defence Policy: Current Developments and Future Prospects. DIANE Publishing. tr. 105–. ISBN 978-1-56806-347-8.

Thư mục

  • Cohen, Avner (1998), Israel and the Bomb, New York: Columbia University Press, ISBN 978-0-231-10482-1
  • Hersh, Seymour M. (1991), The Samson Option: Israel's Nuclear Arsenal and American Foreign Policy, New York: Random House, ISBN 978-0-394-57006-8
  • Kristensen, Hans M., and Matt Korda. "French nuclear forces, 2019." Bulletin of the Atomic Scientists 75.1 (2019): 51–55. 2019 online
  • Hymans, Jacques E.C. "Why Do States Acquire Nuclear Weapons? Comparing the Cases of India and France." in Nuclear India in the Twenty-First Century (2002). 139–160. online
  • Kohl, Wilfred L. French nuclear diplomacy (Princeton University Press, 2015).
  • Scheinman, Lawrence. Atomic energy policy in France under the Fourth Republic (Princeton University Press, 2015).
  • (bằng tiếng Pháp) Jean-Hugues Oppel, Réveillez le président, Éditions Payot et rivages, 2007 (ISBN 978-2-7436-1630-4). The book is a fiction about the nuclear weapons of France; the book also contains about ten chapters on true historical incidents involving nuclear weapons and strategy (during the second half of the twentieth century).

Đọc thêm

Liên kết ngoài