Bước tới nội dung

Vũ khí hạt nhân của Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
People's Republic of China
[[Image:Controlled territory of PRC|250px|center|Location of People's Republic of China]]
Thử nghiệm vũ khí hạt nhân lần đầuOctober 16, 1964
Thử nghiệm vũ khí hỗnh hợp lần đầuDecember 28, 1966
Vụ thử nghiệm cuối cùngJuly 29, 1996
Largest yield test4 Mt
  • Atmospheric – 4 Mt (November 17, 1976)
  • Underground – 660~1,000 kt (May 21, 1992)
Kho vũ khí lúc cao điểm{{{peak_stockpile}}}
Kho vũ khí hiện tại600 (estimated)[1][2][3]
Tấm tên lửa tối đa15,000 km[4]
Nước ký kết NPT{{{NPT_signatory}}}

Trung Quốc là quốc gia thứ năm đã tiến hành phát triển và thử nghiệm thành công Vũ khí hạt nhân. Theo ước tính kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc có 600 đầu đạn hạt nhân tính đến năm 2025,[a] lớn thứ ba trên thế giới. Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân lần đầu tiên vào năm 1964 và tiến hành thử nghiệm bom nhiệt hạch ở cấp độ đầy đủ[b] vào năm 1967. Trung Quốc là một trong số năm cường quốc hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), mà nước này tham gia vào năm 1992. Trước khi ký Hiệp ước Cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân vào năm 1996, Trung Quốc đã tiến hành 45 lần thử nghiệm hạt nhân[c].

Trung Quốc là nước duy nhất thuộc Hiệp ước NPT nhưng mở rộng đáng kể kho vũ khí hạt nhân của mình với dự kiến sẽ có từ 750 tới 1.500 đầu đạn hạt nhân vào năm 2035 dù nước này chưa khởi động lại việc sản xuất vật liệu phân hạch. So với kho vũ khí hạt nhân của Mỹ và Nga, người ta cho rằng chỉ một phần nhỏ đầu đạn hạt nhân được Trung Quốc triển khai, phần còn lại hiện đang được lưu trữ riêng biệt[d].

Từ năm 2020, quân đội Trung Quốc đã bắt đầu triển khai bộ ba răn đe hạt nhân[7]. Trong Số 600 đầu đạn, ước tính có 376 đầu đạn trực thuộc quyền quản lý của Lực lượng tên lửa chiến lước với tên lửa đạn đạo Dongfeng và tên lửa đạn đạo liên lục địa, 72 đầu đạn trực thuộc quản lý của Hải quân Trung Quốc với tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm JL-3 trang bị trên sáu tàu ngầm Type 094 (Tổng công trình sư Zhang Jinlin) và 20 đầu đạn sử dụng trong Không quân Trung Quốc với tên lửa đạn đạo Jinglei-1 phóng từ máy bay ném bom chiến lược Xi'an H-6N. Còn lại 132 đầu đạn được lưu trữ sẵn sàng trong kho. Hiện tại Trung Quốc đang tiến hành nâng cấp hơn nữa khả năng răn đe của mình với việc phát triển máy bay ném bom tàng hình Xi'an H-20 và tàu ngầm Type 096 và các căn cứ tên lửa chiến lược. Trung Quốc cũng trang bị phương tiện bay dạng tàu lượn siêu vượt âm có khả năng mang đầu đạn hạt nhân và thử nghiệm hệ thống ném bom quỹ đạo (fractional orbital bombardment system).[8][9] Về khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo, Trung Quốc cũng triển khai các hệ thống cảnh báo sớm bao gồm ít nhất là ba vệ tinh, và bốn radar mạng pha cỡ lớn. Trung Quốc cũng có hệ thống phòng không HQ-19S-400 có khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo ở giai đoạn cuối và tên lửa chống tên lửa đạn đạo tầm xa điều khiển bằng vệ tinh.

Trung Quốc duy trì chính sách không sử dụng vũ khí hạt nhân trước, và cũng vẫn động việc các nước không sử dụng vũ khí hạt nhân kể từ năm 1964[10][2][11][12]. Về chính thức, hệ thống chỉ huy và kiểm soát hạt nhân của Trung Quốc yêu cầu cả Bộ Chính trị và Ủy ban Quân sự Trung ương cùng hành động nếu muốn sử dụng vũ khí hạt nhân.[13] Một số lực lượng hạt nhân của Trung Quốc được cho là chuyển sang tư thế phóng vũ khí hạt nhân khi có cảnh báo từ những năm 2020.[14][15] Trung Quốc cũng luôn từ chối các đàm phán về kiểm soát vũ khí với Mỹ và Nga do vũ khí của nước này có dự trữ nhỏ hơn nhiều.

Đầu Chiến tranh lạnh, Trung Quốc coi Mỹ là đối thủ tác chiến chiến lược của mình. Trung Quốc cũng nhận được viện trợ, chuyển giao công nghệ và ô hạt nhân từ Liên Xô trong giai đoạn 1955-1960. Tuy nhiên sự chia rẽ Trung-Xô đã khiến Liên Xô rút viện trợ khỏi Trung Quốc. Sau khi xảy ra xung đột biên giới Trung Xô, Mỹ đã trở thành đồng minh và cung cấp ô hạt nhân cho Trung Quốc, Liên Xô trở thành mối đe dọa đối với Trung Quốc cho đến khi hai nước dần bình thường hóa quan hệ vào cuối Chiến tranh lạnh. Sau khi xảy ra Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ 3 và Đại sứ quán Trung Quốc bị ném bom tại Belgrade đã khiến mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ trở lại là đối thủ của nhau.[6]

Chương trình vũ khí hạt nhân của Trung Quốc do Tập đoàn Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc (CNNC), tiền thân là bộ chế tạo máy số 2 điều hành. Các vụ thử hạt nhân của Trung Quốc gồm 23 vụ thử trong bầu khí quyển và 22 vụ thử dưới lòng đất đều được tiến hành tại Bãi thử nghiệm hạt nhân Lop Nur. Trình độ hạt nhân của Trung Quốc tương đương với Hoa Kỳ dù cho thử nghiệm vũ khí hạt nhân ít hơn. Giống như các quốc gia khác tham gia Hiệp ước cấm thử nghiệm hạt nhân toàn diện, Trung Quốc sử dụng Siêu máy tính để mô phỏng phản ứng tổng hợp hạt nhân.[16][17]

Lịch sử

Những bước đầu tiên

Chủ tịch Đàng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông gọi vũ khí hạt nhân là hồ giấy, dù chúng không thể định đoạt kết quả của cuộc chiến. nhưng luôn được các cường quốc sử dụng để đe dọa và ép buộc.[18](tr44) Trong một cuộc phòng vấn với nhà báo người Mỹ Anne Louise Strong năm 1946, ông nói, "Bom nguyên tử là con hổ giấy mà "những kẻ phản động" Mỹ dùng để đe dọa mọi người. Nó trông thật khủng khiếp nhưng thực tế thì không phải vậy. Tất nhiên, bom nguyên tử là thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng kết quả của một cuộc chiến được quyết định bởi người dân chứ không phải một hoặc hai loại vũ khí mới."[19](tr)

Trong chiến tranh Triều Tiên, chính quyền Tổng thống Eisenhower theo đuổi chính sách Diện mạo mới, theo đó vũ khí hạt nhân sẽ được coi như một thứ vũ khí "gần như thông thường".[19](tr11) Vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ đã được triển khai tới Guam từ năm 1951, tại Nhật năm 1954, Philippine năm 1957 và Hàn Quốc, Đài Loan năm 1958. Năm 1962, vũ khí hạt nhân của Anh được triển khai tại Singapore.[20] Một số học giả đã cho rằng chính sách của chính quyền Tổng thống Eisenhower đưa ra khi xảy ra Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ Nhất về việc sử dụng vũ khí hạt nhân để tán công Phúc Kiến đã khiến Mao Trạch Đông khởi động chương trình hạt nhân của Trung Quốc.[21](tr89–90) Mao Trạch Đông ủng hộ việc Trung Quốc sở hữu vũ khí hạt nhân vì "Trong thế giới ngày nay, nếu chúng ta không muốn bị người khác bắt nạt, chúng ta nên có vũ khí nguyên tử bằng mọi giá."[18](tr44–45)

Thái độ của Mao Trạch Đông với vũ khí hạt nhân đôi khi đã làm căng thẳng mối quan hệ với Liên Xô, nước coi tuyên bố của ông là thiếu thận trọng nhất là phát biểu vào năm 1955:[19](tr11)

Người dân Trung Quốc không thể bị khuất phục bởi sự đe doạn hạt nhân của Mỹ. Đất nước chúng ta có dân số 600 triệu người và diện tích 9.600.000 km vuông. Hoa Kỳ không thể hủy diệt Trung Quốc bằng kho bom nguyên tử nhỏ bé của mình. Ngay cả khi bom nguyên tử của Mỹ mạnh đến mức, khi thả xuống Trung Quốc, chúng có thể tạo ra một lỗ xuyên thủng Trái đất, hoặc thậm chó làm nổ tung nó, thì điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với toàn bộ vũ trụ, mặc dù nó có thể là một sự kiện lớn đối với hệ mặt trời.

Chương trình hạt nhân và sự hỗ trợ của Liên Xô

Nhà máy làm giàu hạt nhân Lau Châu, ảnh chụp của vệ tinh KH-7 Gambit năm 1966.

Từ khi bắt đầu, chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên cao nhất cho chương trình hạt nhân nước này về vật liệu, tài chính và nhân lực.[6]

Tháng 7 năm 1954, một chuyên gia Liên Xô bắt đầu làm việc với người Trung Quốc về thăm dò quặng Urani.[22]

Ngày 15 tháng 1 năm 1955, Trung Quốc bắt đầu chương trình vũ khí hạt nhân của mình.[6]

Năm 1955, Liên Xô bắt đầu cấp thị thực cho sinh viên Trung Quốc sang học ngành vật lý hạt nhân. Qian Sanqiang, Jiang Nanxiang, và Yu Wen đã chọn ra 350 sinh viên sang Liên Xô và các nước trong khối Warsaw khác nhằm thúc đẩy nghiên cứu hạt nhân Trung Quốc. Từ năm 1955, Liên Xô và Trung Quốc ký kết các hiệp ước liên quan đến hạt nhân.[22]

Tháng 11 năm 1956, Trung Quốc thành lập Bộ chế tạo máy thứ ba, từ năm 1958 đổi thành Bộ chế tạo máy thứ hai để giám sát chương trình hạt nhân của mình.[6]

Do sự kiện Nhóm chống Đảng ở Liên Xô, vị thế của Nikita Khrushchev trong khối Đông Âu đã trở nên không an toàn trong một thời gian, và cần sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông. Đổi lại, Khrushchev sẽ chuyển cho Trung Quốc công nghệ vũ khí hạt nhân.[23] Tháng 10 năm 1957, Hiệp định Hợp tác Quân sự đã được ký kết theo đó Liên Xô chuyển giao công nghệ vũ khí hạt nhân trong đó có một mô hình bom nguyên tử và hai tên lửa đạn đạo tầm xa R-2.[22]

Khu vực lò phản ứng gần Tửu Tuyền đang sản xuất plutonium, ảnh từ vệ tinh KH-7 Gambit năm 1966.

Tháng 1 năm 1958, Trung Quốc thành lập Cục 9 chịu trách nhiệm nghiên cứu và thiết kế vũ khí hạt nhân.[6] Việc nghiên cứu và thiết kế vũ khí được thực hiện tại Căn cứ 221, sau là Nhà máy 221 tại Haiyan, Thanh Hải.[6] Tháng 7 năm 1958, Bộ chế tạo máy thứ Hai đã phê duyện việc triển khai thành lập viện nghiên cứu chuyển tiếp tại Bắc Kinh trong khi Căn cứ 221 vẫn đang được xây dựng.[6] Viện nghiên cứu sau này được đổi tên thành Viện 9 Bắc Kinh là nơi diễn ra hầu hết các công việc phát triển bom nguyên tử đầu tiên của Trung Quốc và là nơi tiếp nhận các công nghệ hạt nhân của Liên Xô chuyển giao.[6]

Việc xây dựng nhà máy tinh chế Urani ở Bao Đầu và nhà máy làm giàu Urani tại Lan Châu được bắt đầu vào năm 1958 và việc sản xuất plutonium được thực hiện tại Tửu Tuyền và bãi thử nghiệm hạt nhân Lop Nur vào năm 1960. Để hỗ trợ, Liên Xô đã cử các chuyên gia và cố vấn hạt nhân đến giúp đỡ tại các cơ sở sản xuất vật liệu phân hạch. Đổi lại, Trung Quốc xuất khẩu sang Liên Xô quặng Uranium thô.[24][25][26]

Học giả Jeffrey Lewis lưu ý rằng trong chuơng trình hạt nhân của Trung Quốc vào năm 1958, nước này định rõ vũ khí hạt nhân chủ yếu là công cụ chính trị, điều này đã ảnh hưởng tới việc hướng tới một kho vũ khí chiến lược tương đối nhỏ.[27]

Tháng 7 năm 1958, ba chuyên gia Liên Xô được cử đến Bắc Kinh để chia sẻ các chi tiết kỹ thuật (hạn chế) về vũ khí nguyên tử.[6] Vốn dự định là một bài giảng giới thiệu, các chuyên gia người Liên Xô đã không chia sẻ bất kỳ thông tin kỹ thuật nào mới hơn thời điểm năm 1951.[6] Chỉ có một cuộc gặp gỡ kiểu này trước khi Liên Xô ngừng tham gia Hiệp định Kỹ thuật Quốc phòng mới.[6]

Năm 1958, Khrushchev nói với Mao Trạch Đông rằng ông dự định thảo luận về việc kiểm soát vũ khí với Mỹ và Anh.[26] Trung Quốc đã phản đối chính sách chung sống hòa bình với các nước tư bản hậu Stalin của Khrushchev.[26] Dù cho Liên Xô đảm bảo với Trung Quốc sẽ bảo vệ nước này dưới ô hạt nhân của Liên Xô, nhưng những bất đồng đã làm gia tăng sự chia rẽ Trung-Xô.[26] Liên Xô đã không tuân thủ Hiệp định Kỹ thuật Quốc phòng mới với Trung Quốc và tháng 6 năm 1959 đã tuyên bố không cung cấp nguyên mẫu của bom hạt nhân.[6] Cùng thời điểm đó, hai nước quyết định chấm dứt thỏa thâunj hợp tác quân sự và kỹ thuật,[26] tháng 7 năm 1960, Liên Xô dừng toàn bộ hỗ trợ cho chương trình hạt nhân của Trung Quốc, và các chuyên gia Liên Xô đã bị rút về nước.[28] Trung Quốc nhận ra họ cần phải phát triển công nghệ bom nhiệt hạch mà không có Liên Xô giúp đỡ và sẽ cần phải bắt đầu chương trình ngay lập tức mà không đợi kết quả thành công từ việc thử nghiệm bom hạt nhân.[25]

Chương trình phát triển độc lập

Đám mây hình nấm từ vụ thử nghiệm Project 596, Lop Nur, 1964.
Lễ kỷ niệm vũ thử hạt nhân lần thứ tư của Trung Quốc, với việc Trung Quốc phóng thành công tên lửa Dongfeng-2 tại Quảng trường Thiên An Môn, tháng 10 năm 1966.

Các nhà khoa học Trung Quốc coi tháng 6 năm 1959 là thời điểm hồi sinh của chương trình hạt nhân, với Bộ thứ hai và Cục nghiên cứu số 9 kỷ niệm ngày Liên Xô rút chuyên gia về nước bằng mật danh cho dự án bom nguyên tử đầu tiên của Trung Quốcm, "596" nghĩa là tháng 6 năm 1959.[6]

Mùa xuân năm 1960, Viện nghiên cứu số 9 đã nghiên cứu kỹ thuật đảo ngược mô hình bom hạt nhân 1951 do các chuyên gia Liên Xô giới thiệu cho Trung Quốc năm 1958.[6] Mẫu vũ khí của Trung Quốc sử dụng lõi uranium-235 thay vì lõi plutonium trên vũ khí hạt nhân của Liên Xô.[6]

Tháng 7 năm 1960, các chuyên gia Liên Xô bị rút khỏi nhà máy làm giàu hạt nhân Lan Châu, là cơ sở duy nhất của Trung Quốc vào thời điểm đó có thể sản xuất vật liệu hạt nhân.[28]

Giữa năm 1961, một cuộc tranh luận đã xảy ra suýt chút nữa đã chấm dứt chương trình hạt nhân. Cuộc tranh luận là do nạn đói lớn ở Trung Quốc trong thời kỳ Đại nhảy vọt, việc rút các cố vấn Liên Xô, căng thẳng biên giới Trung-Ấn và việc tăng cường lực lượng Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Chống lại chủ trương phát triển vũ khí hạt nhân là Hạ Long (nguyên soái)La Thụy Khanh, với luận điểm cho rằng nên chấm dứt chương trình và chuyển hướng phần lớn chi phí phát triển vũ khí hạt nhân sang vũ khí thông thường. Một vấn đề then chốt là học thuyết quân sự của Mao Trạch Đông về chiến tranh nhân dân. Ủy ban Quân sự Trung ương đưa ra "vũ khí là yếu tố quan trọng của chiến tranh nhưng chúng không mang tính quyết định", và "bom nguyên tử vật chất rất quan trọng, nhưng bom nguyên tử tinh thần còn quan trọng hơn"[28]

Trong một loạt các cuộc họp lãnh đạo cấp cao, việc chế tạo vũ khí hạt nhân được đặt lên hàng đầu với việc đẩy nhanh tiến độ trước thời hạn. Nhiếp Vinh Trăn trình bày những thành tựu của chương trình hạt nhân, và Bộ trưởng ngoại giao Trần Nghị bổ sung "hiện tại tôi vẫn chưa có đủ sự hỗ trợ. Nếu các anh thành công trong việc sản xuất bom nguyên tử và tên lửa đạn đạo tôi mới có thể yên tâm."[28]

Năm 1961, Thủ tướng Chu Ân Lai đã trình bày lý lẽ của Trung Quốc về các chiến lược quân sự thông thường và hạt nhân, ông nói "Một khi chúng ta có tên lửa và vũ khí hạt nhân, thì chúng ta có thể ngăn chặn việc sử dụng tên lửa và vũ khí hạt nhân nhằm vào Trung Quốc, nếu chúng ta không có tên lửa, những kẻ đế quốc có thể sử dụng tên lửa nhằm vào chúng ta. Nhưng để đối mặt với chiến đấu, chúng ta vẫn cần vũ khí thông thường."[13](tr74)

Năm 1962, Tổng thống Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố thành lập Ủy ban Đặc biệt Trung ương để phối hợp các bộ phận có thẩm quyền chồng chéo liên quan đến vũ khí hạt nhân.[6] Chu Ân Lai được bổ nhiệm làm giám đốc của nhóm, cơ quan này đã trở thành có quyền giám sát tổng thể chương trình hạt nhân, bao gồm cả vũ khí hạt nhân của Trung Quốc.[6]

Theo giám đốc của Cơ quan Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ quân bị William Foster, chính phủ Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Kennedy và Johnson lo ngại về chương trình hạt nhân của Trung Quốc và đã nghiên cứu các cách để phá hoại hoặc tấn công các cơ sở phát triển vũ khí hạt nhân với sự trợ giúp của Đài Loan hoặc Liên Xô, nhưng Khrushchev tỏ ra không quan tâm.[24] Vào 1964, tin tình báo cho chính phủ Trung Quốc thông tin về việc Mỹ có thể tấn công các cơ sở hạt nhân khi Trung Quốc đang chuẩn bị cho thử nghiệm bom nguyên tử đầu tiên.[6] Những lo ngại này đã thúc đầy việc xem xét có nên trì hoãn cuộc thử nghiệm đầu tiên hay không, vì cuộc thử nghiệm sẽ báo cho Hoa Kỳ và Liên Xô biết về những tiến bộ trong công nghệ hạt nhân của Trung Quốc, nhưng Trung Quốc vẫn chưa thể triển khai các thiết bị hạt nhân để răn đe và chống lại một cuộc tấn công.[6] Vào tháng 9 năm 1964, Mao Trạch Đông đã quyết định rằng vẫn thử nghiệm theo kế hoạch vì "Thả bom nguyên tử là để đe dọa người khác. Nó không nhất thiết phải được sử dụng. Vì nó là để đe dọa, nên tốt hơn là nên phơi bày nó sớm."[6] Việc chuẩn bị thử nghiệm được tiến hành với sự bảo vệ bởi các khẩu đội phòng không bổ sung và an ninh chống phá hoại.[6]

Lần thử bom nguyên tử đầu tiên

Trung Quốc tiến hành vụ thử nghiệm bom hạt nhân đầu tiên mang mật danh 596 vào ngày 16 tháng 10 năm 1964.[26] Với thiết kế nổ từ bên trong, với lõi hình cầu chứa uranium được làm giàu cao[25] sản xuất tại nhà máy Lan Châu.[29][cần nguồn tốt hơn]

Ngày 20 tháng 3 năm 1965, Chu Ân Lai giải thích triết lý thử nghiệm của Trung Quốc: "Chúng tôi phản đối sự đe dọa hạt nhân, và chúng tôi không ủng hộ việc tiến hành hàng trăm vụ thử hạt nhân. Do đó Trung Quốc sẽ chỉ duy trì một số lượng bom hạt nhân hạn chế mang ý nghĩa biểu tượng hơn là chiến lược"[6]

Năm 1966, Trung Quốc thành lập Binh chủng Pháo binh thứ Hai vận hành tên lửa hạt nhân.[13](tr75)

Project 639, China's first megaton-range thermonuclear weapon test, June 1967.

Cuối năm 1965, các nhà vật lý Trung Quốc đã phát triển thiết kế bom nhiệt hạch dựa trên thiết kế bom của Teller-Ulam. Ngày 9 tháng 5 năm 1966, Trung Quốc tiến hành thành công vụ thử nghiệm 596L, thiết kế vũ khí phân hạch tăng cường. Vụ thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch dạng nhiều giai đoạn đầu tiên, "629", đã diễn ra ngày 28 tháng 12 năm 1966, với đương lượng nổ 120 kt.[25] Thời gian kể từ thử nghiệm vũ khí hạt nhân đến vũ khí nhiệt hạch của Trung Quốc ngắn hơn nhiều so với các nước khác.[6] Mao Trạch Đông nhấn mạnh bước tiến nhanh chóng của Trung Quốc từ bom phân hạch sang bom hydro, và theo ông nếu Trung Quốc có bom hydro và tên lửa đạn đạo, Trung Quốc sẽ không bị xâm lược và hòa bình sẽ được duy trì, đồng thời Trung Quốc chỉ duy trì số lượng bom không quá nhiều, mà chỉ nhằm mục đích răn đe là chủ yếu.[6]

Trung Quốc đã thử nghiệm một quả bom nhiệt hạch lớn hơn trong vụ thử thả từ máy bay, với đương lượng nổ 3,3 Mt trong cuộc thử nghiệm ngày 16 tháng 6 năm 1967 (Proroject 639).[25][30] Vụ thử nghiệm này được Nhân Dân nhật báo công bố và được quốc tế coi là cuộc thử nghiệm bom nhiệt hạch đầu tiên của Trung Quốc (dù trên thực tế Trung Quốc đã thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch đặt trên tháp vào ngày 28/12/1966 như ở trên đã viết).[31][32] Cuộc thử nghiệm ban đầu được lên lịch vào ngày 1 tháng 10 năm 1967 nhưng đã được đẩy lên sớm hơn do người đứng đầu dự án Peng Huanwu suy đoán rằng Pháp có thể thử nghiệm bom hydro trước thời điểm đó, do đó để vượt Pháp, Trung Quốc đã lắp ráp và thử quả bom sớm hơn.[31]

Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm bom thả từ máy bay đầu tiên vào năm 1965.[6] Tuy nhiên Trung Quốc đã ngừng phát triển các loại bom hạt nhân thả từ máy bay do máy bay ném bom của Trung Quốc có tầm bay ngắn và dễ bị tổn thương trước các hệ thống phòng không) và bắt đầu tập trung vào tên lửa mang đầu đạn hạt nhân.[6] Do đó Trung Quốc duy trì một số lượng bom hạt nhân thả từ trên không hạn chế, chủ yếu mang ý nghĩa biểu tượng hơn là chiến lược.[6]

Trung Quốc chuyển dần từ vũ khí Uranium sang Plutonium với vụ thử hạt nhân thứ 8 có mật danh "524", cũng với đương lượng nổ 3 Mt vào ngày 27 tháng 12 năm 1968.[33][34] Sau đó Trung Quốc tập trung vào việc thu nhỏ đầu đạn hạt nhân để có thể trang bị trên tên lửa đạn đạo và đã thả thành công bom nhiệt hạch từ máy bay cường kích Nanchang Q-5A thay vì máy bay ném bom.[35][36][37]

Chia rẽ Trung Xô đã khiến Trung Quốc coi Liên Xô là mối đe dọa lớn nhất của mình do đó tập trung vào việc phát triển vũ khí hạt nhân để chống lại Liên Xô.[6] Năm 1969, sau khi xung đột xảy ra trên đảo Trấn Bảo, Liên Xô đã cân nhắc một cuộc tấn công hạt nhân lớn vào Trung Quốc. Liên Xô đã thông báo cho các đồng minh và Hoa Kỳ về cuộc tấn công tiềm tàng này. Bản thân chính phủ Trung Quốc đã sơ tán khỏi Bắc Kinh trong khi Quân Giả phóng Nhân dân Trung Quốc được phân tán khỏi các căn cứ của mình. Cuộc khủng hoảng lắng xuống khi Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger thông báo với Liên Xô rằng một cuộc tấn công của Liên Xô vào Trung Quốc sẽ khơi mào Thế chiến 3 và sẽ bị đáp trả bằng một cuộc tấn công hạt nhân của Hoa Kỳ vào 130 thành phố của Liên Xô bởi lợi ích của Trung Quốc cũng gắn liền với lợi ích của Mỹ. Hơn nữa Mỹ cũng muốn duy trì Trung Quốc hùng mạnh để cân bằng với Liên Xô.[38][39][40] Dường như Tổng thống Nixon vẫn còn cay cú vì Liên Xô đã từ chối cùng Mỹ tấn công nền công nghiệp hạt nhân còn non trẻ của Trung Quốc 5 năm trước đó. Từ mối đe dọa này, Trung Quốc phát triển bom hạt nhân chiến thuật Kuangbiao-1, có kích cỡ và trọng lượng đủ để triển khai từ máy bay cường kích Nanchang Q-5A thay vì phải sử dụng máy bay ném bom Xian H-6.[35][36][37]

Hoàn thiện đầu đạn tên lửa chiến lược

Dù Hiệp định cấm thử nghiệm hạt nhân một phần được ký kết giữa Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô năm 1963, Trung Quốc và Pháp vẫn tiếp tục thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển vào những năm 1960 và 1970.[41] Năm 1969, Trung Quốc đã tiến hành vụ thử nghiệm hạt nhân dưới lòng đất đầu tiên.[41]

Cách mạng Văn hóa đã ảnh hưởng gây gián đoạn nghiên cứu vũ khí hạt nhân, gây thay đổi đáng kể trong ban lãnh đạo chương trình hạt nhân, năm 1969, Nhiếp Vinh Trăn đã bị gây áp lực và phải từ chức khỏi vị trí của mình tại NDSTC.[6]

Trung Quốc thử nghiêmj vũ khí hạt nhân nhiệt hạch phân hạch tăng cường trong lần thử nghiệm thứ 12 vào tháng 11 năm 1971, sử dụng plutonium với một lượng nhỏ uranium được làm giàu cao. Thư nghiệm này cùng bốn thử nghiệm tiếp theo đã giúp phát triển đầu đạn 3 Mt cho tên lửa đạn đạo tầm trung DF-3.[42]

Tháng 7 năm 1970, Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm tên lửa SLBM đầu tiên của nước này, JL-1, thí nghiệm thả tên lửa xuống nước từ cần cẩu trên cầu sông Dương Tử Nam Kinh. Ngày 7 tháng 10 năm 1982, lần đầu thử nghiệm phóng JL-1 thành công trên biển, phóng từ tàu ngầm lớp Golf, tên lửa gặp sự cố điều khiển tư thế, bắt buộc tự hủy.[43] Tàu ngầm Changzheng 6, được thiết kế là tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đầu tiên của Trung Quốc, được triển khai tới Căn cứ Hải quân Khương Các Trang, được cho là không có khả năng tuần tran với vũ khí hạt nhân trang bị trên tàu,[44] nhưng tàu đã phóng thử thành công tên lửa JL-1 vào ngày 27 tháng 9 năm 1988.[45][cần nguồn tốt hơn] Từ năm 1983 đến 1988, tàu ngầm Changzheng 6 đã tiến hành thử nghiệm lưu trữ 5 năm với tên lửa và đầu đạn JL-1, sau đó vũ khí đã được phê duyện và lô tên lửa đầu tiên được đặt hàng.[6][cần số trang]

Ngày 16 tháng 10 năm 1980, Trung Quốc tiến hành thử nghiệm đầu đạn hạt nhân trên tên lửa DF-21JL-1. Thiết bị này được thả từ máy bay ném bom H-6A với đương lượng nổ 700 kt.[6] Tính đến năm 2026, đây là vụ thử hạt nhân trong khí quyển gần nhất được biết tới.[46][47] Chính phủ Trung Quốc tuyên bố chấm dứt thử nghiệm bom hạt nhân trong khí quyển vào năm 1986.[6][cần số trang]

Chuyển sang thử nghiệm dưới lòng đất

Trung Quốc bắt đầu phát triển bom neutron vào tháng 9 năm 1977.[6] Các cuộc thử nghiệm diễn ra trong khoảng từ năm 1982 đến năm 1988, nhưng cuối cùng không được triển khai.[48] Trung Quốc bị cho là đã hoạt động gián điệp để có được thiết kế đầu đạn hạt nhân W88 cũng như công nghệ dẫn đường cho tên lửa đạn đạo.[49][50][51][52] Chi tiết về tình báo của Mý về vũ khí hạt nhân của Trung Quốc được công bố xung quanh Báo cáo Cox và phiên tòa bất thành của Wen Ho Lee.[42]

Năm 1982, Deng Xiaoping đã khởi xướng chuyển giao công nghệ vũ khí hạt nhân cho Pakistan, bao gồm cả thiết kế bom Uranium làm giàu cao "548". Thiết kế này đã được Trung Quốc thử nghiệm trong cuộc thử nghiệm lần thứ tư năm 1966 kết hợp với tên lửa Đông Phong 2. Một phiên bản của bom hạt nhân này đã được Pakistan chế tạo và thử nghiệm tại Trung Quốc vào năm 1990.[53]

Ngày 8 tháng 6 năm 1996, Trung Quốc tuyên bố thử nghiệm thêm lần nữa để đảm bảo an toàn cho vũ khí hạt nhân của mình.[6] Vụ thử hạt nhân cuối cùng của Trung Quốc diễn ra ngày 29 tháng 7 năm 1996.[54] Theo một số nhà khoa học hạt nhân Trung Quốc, ngày này được chọn để kỷ niệm mười năm ngày mất của Deng Jiaxian.[6] Tháng 9 năm 1996, Trung Quốc ký nhưng chưa phê chuẩn Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện, hiệp ước này vẫn chưa có hiệu lực.[55]

Những năm thập niên 2000

Sau khi Mỹ rút khỏi Hiệp định phòng thủ chống tên lửa đạn đạo với Nga năm 2001, Trung Quốc đã bổ sung khoang đa đầu đạn dẫn đường độc lập cho tên lửa đạn đạo DF-5B.[6][cần số trang]

Những năm thập niên 2010

ICBM DF-61 trong Duyệt binh Ngày Chiến thắng ở Trung Quốc năm 2025

Ngày 1 tháng 1 năm 2016, Quân đoàn Pháo binh số 2 được đổi tên thành Lực lượng tên lửa chiến lược Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.[56][57] Dường như lực lượng tên lửa chiến lược phóng từ tàu ngầm không nằm trong thẩm quyền quản lý của lực lượng này.[58][59]

Tháng 11 năm 2024, Trung Quốc đã tiến hành cuộc tuần tra chung đầu tiên giữa máy bay ném bom Xi'an H-6N có khả năng mang hạt nhân của mình và máy bay Tupolev Tu-95MS của Nga trên Biển Nhật Bản.[60] Trước đó, Trung Quốc đã tiến hành tám chuyến bay chung của máy bay ném bom chiến lược Xi'an H-6K không có khả năng mang hạt nhân với máy bay Tu-95 của Nga..[61][62]

Từ năm 2020 đến năm 2021, Trung Quốc bắt đầu xây dựng ba cơ sở phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa lớn gần thành phố Yumen ở tỉnh Cam Túc, Hami ở Tân Cương và thành phố Ordos ở Nội Mông.[63] Đến năm 2025, tổng số bãi phóng này được đánh giá là 320 giếng phóng cho tên lửa nhiên liệu rắn và 30 giếng phóng cho tên lửa nhiên liệu lỏng DF-5.[2] Đây là những giếng phóng đầu tiên của Trung Quốc dành cho tên lửa nhiên liệu rắn,[63] có khả năng duy trì sẵn sàng phóng và thời gian phản ứng nhanh hơn tên lửa nhiên liệu lỏng.[64]

ngày 25 tháng 9 năm 2024, Lực lượng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã thử nghiệm phóng một tên lửa đạn đạo liên lục địa Dong Feng-31. Tên lửa được phóng từ đảo Hải Nam và bay 11.700 km, điểm rơi của tên lửa là ngay phía Tây Polynésie thuộc Pháp với độ cao lớn nhất của quỹ đạo bay là 1.200 km. Đây là lần thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa đầu tiên của Trung Quốc ở Thái Bình Dương trong hơn 40 năm, thường thì Trung Quốc thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa ở độ cao cực đại rất cao trong phạm vi biên giới Trung Quốc.[65] Trung Quốc đã cảnh báo Mỹ, Anh, Pháp, Úc và New Zealand trước khi thử nghiệm.[66]

Vào tháng 12 năm 2024, Hoa Kỳ đã cập nhật đánh giá của mình về kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, đánh giá rằng Trung Quốc có 600 đầu đạn hạt nhân và sẽ có 1.000 đầu đạn vào năm 2030.[67]

Vào tháng 3 năm 2025, Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ đánh giá rằng Trung Quốc không còn duy trì kho dự trữ bom hạt nhân thả từ máy bay ném bom như H-6.[2]

Vào ngày 16 tháng 8 năm 2025, Trung Quốc đã vận chuyển một phương tiện dưới nước không người lái cỡ rất lớn (XLUUV) không có vỏ bọc bằng đường bộ ở Bắc Kinh trước cuộc duyệt binh Ngày Chiến thắng Trung Quốc năm 2025. Nó có số hiệu định danh "AJX002" và được phân tích là tương tự như UUV Poseidon của Nga , một loại vũ khí hạt nhân chạy bằng năng lượng hạt nhân được sử dụng cho các cuộc tấn công chiến lược vào các thành phố ven biển, tuy nhiên không rõ liệu nó có chạy bằng năng lượng hạt nhân hay được trang bị vũ khí hạt nhân hay không.[68] Cuộc duyệt binh cũng đánh dấu lần trưng bày công khai đầu tiên của tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ xe mang/phóng tự hành DF-61, là một phiên bản của tên lửa đạn đạo DF-41, cũng là lần đầu Trung Quốc công khai phiên bản tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-5C nhiên liệu lỏng phóng từ giếng phóng.[69]

Vào tháng 12 năm 2025, Báo cáo về sức mạnh quân sự của Trung Quốc của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho biết Trung Quốc đã trang bị 100 tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-31 với nhiên liệu rắn vào các hầm chứa gần biên giới với Mông Cổ.[70]

Kích cỡ kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc

Mô hình quả bom hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc.

Năm 2022, Bộ Tư lệnh Chiến lược Hoa Kỳ chỉ ra rằng Trung Quốc đã trang bị nhiều đầu đạn hạt nhân hơn trên tên lửa đạn đạo liên lục địa của mình so với Hoa Kỳ (550 theo hiệp ước New START).[71] Vào tháng 10 năm 2024, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ báo cáo rằng Trung Quốc có khoảng 300 giếng phóng và ước tính sẽ có ít nhất 1000 đầu đạn vào năm 2030.[9] Vào tháng 12 năm 2024, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ ước tính Trung Quốc sở hữu hơn 600 đầu đạn hạt nhân trực chiến.[1]

Sản xuất vật liệu phân hạch

Trung Quốc bắt đầu sản xuất vật liệu phân hạch cho vũ khí hạt nhân của mình từ năm 1964 và được cho là đã ngừng sản xuất uranium làm giàu cao vào năm 1987 và plutonium vào năm 1990. Aính đến năm 2018, tổng kho dự trữ của nước này (bao gồm cả việc sử dụng trong đầu đạn) được ước tính là 14 tấn uranium làm giàu cao và 2,9 tấn plutonium cấp vũ khí , là kho dự trữ vật liệu phân hạch nhỏ nhất trong số năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân được NPT công nhận.[72] Học giả Hui Zhang ước tính kho dự trữ này có thể sử dụng để chế tạo 730 đầu đạn nhiệt hạch.[2]

Chính sách hạt nhân của Trung Quốc

Đối thủ chiến lược

Mỹ

China's nuclear weapons program was originally initiated in 1955 to counter nuclear weapons threats from the United States. Accordingly, by 1965 its first series of missiles was intended to target US assets: the DF-2A for US bases in South Korea and Taiwan, the DF-3 for US bases in Japan and the Philippines, the DF-4 for the B-52 Stratofortress bomber base on Guam, and the DF-5 for the entire contiguous United States. However, in 1969, due to the Sino-Soviet border conflict, China began aligning with the United States, resulting in the 1972 visit by Richard Nixon to China.[6](tr210)

China first gained the ability to strike the contiguous US with the 1995 upgrade to the DF-5A. Following the dissolution of the Soviet Union, strategic relations between China and the United States were strained by events including the 1995–1996 Third Taiwan Strait Crisis, 1999 US bombing of the Chinese embassy in Belgrade and Cox Report, and 2001 Hainan Island incident military aircraft collision.[6](tr210) China especially began to perceive a nuclear threat from US missile defense following the 2001 US decision to withdraw from its Anti-Ballistic Missile Treaty with Russia.[6](tr210) China's feared the weakness of its only nuclear leverage against the US, as US policy permitted first use, and its DF-5s were vulnerable to a first strike being large, based in silos, requiring slow liquid fuelling before launch, and carrying a single-warhead missiles.[6](tr210-211) China first responded by adding multiple independently targetable reentry vehicle to the DF-5B missiles in 2001.[6](tr213) According to scholar Hui Zhang, China lacked a credible second strike capability against the US as recently as 2010, as its twenty silo-based DF-5As were unlikely to survive, and its approximately thirteen remaining deployed road-mobile DF-31 missiles would struggle to penetrate the Ground-Based Midcourse Defense.[6](tr214)

Liên Xô

Khi sự chia rẽ Trung-Xô ngày một gay gắt, Liên Xô bắt đầu trở thành mối đe dọa hạt nhân lớn hơn đối với Trung Quốc. Giữa những năm 1960, các nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc đã đưa ra các mục tiêu tấn công hạt nhân của cả Mỹ và Liên Xô. Các tên lửa đạn đạo ban đầu được Trung Quốc phát triển cũng được thiết kế để ngằm vào các thành phố và trung tâm công nghiệp của Liên Xô: tên lửa DF-2A nhằm vào vùng Viễn Đông của Liên Xô, DF-3 nhằm vào khu vực phía đông và trung tâm của Liên Xô, DF-4 nhắm vào Moskva và phía tây Liên Xô, và DF-5 cũng nhắm vào phía tây Liên Xô. Để đối phó với mối đe dọa từ Liên Xô, đầu đạn của tên lửa DF-3 được sản xuất hàng loạt từ năm 1969 trước khi được thử nghiệm lần đầu vào năm 1973. Đến năm 1972, đầu đạn "506" của DF-5 được thiết kế đặc biệt để xuyên thủng hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo ABM-1 Galosh bao quanh Moskva, bằng cách tăng cường khả năng chống chịu của đầu đạn trước bức xạ neutron của hệ thống này. DF-5 được hoàn thiện với tầm bắn 9.000 km, chỉ đủ để bao phủ Liên Xô nhưng không đủ để vươn tới Hoa Kỳ.[6][cần số trang]

Việc Trung Quốc phát triển bom neutron bị ảnh hưởng bởi nhận thức về mối đe dọa từ Liên Xô ở biên giới Trung Quốc.[6] Bom neutron được hình thành như một cơ chế để chặn hoặc ngăn chặn các tuyến đường xe tăng của Liên Xô qua biên giới Trung-Xô và Trung-Mông Cổ trong trường hợp bị xâm lược.[6]

Năm 1980, trong chuyến thăm Thượng Hải của phái đoàn Hoa Kỳ, Tướng Trương Ái Bình đã nói với George A. Keyworth II, người đứng đầu Bộ phận Vật lý của Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, rằng "Đối với các ông, bom neutron không có ích gì. Nhưng đối với chúng tôi... Chúng tôi cần ném bom neutron qua biên giới Liên Xô." Đến cuối những năm 1980, Trung Quốc cho rằng mối đe dọa từ Liên Xô đã giảm đáng kể.[6]

Hoạt động gián điệp

Từ Trung Quốc

Thông tin về công nghệ hạt nhân tiên tiến được thu thập thông qua hoạt động gián điệp, xem xét các ấn phẩm kỹ thuật và học thuật của Hoa Kỳ và tương tác với các nhà khoa học Hoa Kỳ. Trung Quốc thu thập thông tin tình báo nhằm phát triển vũ khí hạt nhân từ Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos (LANL), nơi vũ khí hạt nhân được phát triển lần đầu tiên vào những năm 1940, Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, Sandia và Oak Ridge. Trung Quốc cũng được cho là đã đánh cắp thông tin mật về đầu đạn W-56 trên tên lửa đạn đạo liên lục địa Minuteman II, đầu đạn W-62 cho tên lửa đạn đạo liên lục địa Minuteman III, đầu đạn W-70 cho tên lửa đạn đạo tầm ngắn Lance (SRBM), đầu đạn W-76 chotên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Trident C-4, đầu đạn W-78 cho tên lửa đạn đạo liên lục địa Minuteman III Mark 12A, đầu đạn W-87 cho tên lửa đạn đạo liên lục địa Peacekeeper và đầu đạn W-88 trên tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Trident D-5 cùng các khái niệm và tính năng thiết kế vũ khí.

Hoa Kỳ và Đài Loan

Sau khi Trung Quốc tiến hành vụ thử hạt nhân thứ ba vào tháng 5 năm 1966 (Project 596L), Hoa Kỳ rất muốn có được thông tin về chương trình hạt nhân của Trung Quốc. Một chương trình của CIA, có mật danh là Tabasco, đã phát triển một thiết bị cảm biến có thể được thả xuống Sa mạc Taklamakan, gần địa điểm thử hạt nhân Lop Nur. Thiết bị này sẽ triển khai một ăng-ten sau khi hạ cánh và gửi dữ liệu về trạm tình báo tín hiệu (SIGINT) của Hoa Kỳ tại Căn cứ Không quân Shu Lin Kou ở Đài Loan. Sau một năm thử nghiệm, thiết bị đã sẵn sàng. Hai phi công của Phi đội Mèo Đen đã được huấn luyện cách thả thiết bị. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1967, một chiếc U-2 của Không quân Đài Loan cất cánh từ Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Takhli với thiết bị cảm biến dưới cánh.[73][cần số trang] Máy bay đã thả các thiết bị xuống sa mạc, gần Lop Nur, nhưng không có dữ liệu nào được thu nhận. Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm nhiệt hạch quy mô lớn đầu tiên (Project 639) ngày 17 tháng 6 năm 1967. Phi đội Mèo Đen đã thực hiện nhiệm vụ bằng máy bay do thám U-2 thứ hai vào ngày 31 tháng 8 năm 1967, mang theo một máy ghi âm và một máy hỏi đáp để liên lạc với các khoang chứa, nhưng không thành công.[74]

Tiếp theo đó là chiến dịch Heavy Tea của Phi đội Dơi Đen, Không quân Đài Loan. CIA lại lên kế hoạch triển khai hai thùng cảm biến để giám sát Lop Nur. Một phi hành đoàn được huấn luyện tại Mỹ để lái máy bay C-130 Hercules. Phi hành đoàn gồm 12 người cất cánh từ Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Takhli trên một chiếc C-130E của Không quân Hoa Kỳ không có dấu hiệu nhận dạng vào ngày 17 tháng 5 năm 1969. Bay trong 13 phút ở độ cao thấp trong đêm tối, các thùng cảm biến được thả dù gần Qua Châu thuộc tỉnh Cam Túc, máy bay quay trở lại Takhli. Các cảm biến đã tải dữ liệu lên vệ tinh tình báo của Mỹ trong vòng sáu tháng, trước khi ngừng hoạt động do hết pin. Trung Quốc đã tiến hành hai vụ thử hạt nhân, vào ngày 22 tháng 9 năm 1969 và ngày 29 tháng 9 năm 1969 trong giai đoạn này. Một nhiệm vụ khác đến khu vực này được lên kế hoạch với tên gọi chiến dịch Golden Whip, nhưng sau đó đã bị hủy bỏ vào năm 1970.[74][cần số trang]

Nghiên cứu

Siêu máy tính Thiên Hà 2
Siêu máy tính Thiên Hà 2

Quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của Trung Quốc diễn ra nhanh chóng bất chấp nền tảng công nghệ yếu kém của nước này khi bắt đầu chương trình.[6] Trung Quốc đã đạt được trình độ thiết kế vũ khí tương đương với Hoa Kỳ và Liên Xô với số vụ thử hạt nhân ít hơn đáng kể.[6] Các cột mốc phát triển trong quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của Trung Quốc bao gồm: quả bom nguyên tử đầu tiên (1964), quả bom hydro đầu tiên (1966), bom neutron (cuối những năm 1970-1980), đầu đạn sơ cấp tăng áp khí cho đầu đạn thế hệ thứ hai (những năm 1980), đầu đạn sơ cấp tăng áp khí phi cầu cho đầu đạn thế hệ thứ hai tiên tiến (những năm 1990) và đầu đạn thứ cấp mới cho đầu đạn thế hệ thứ hai (những năm 1980-1990).[6]

Các nhà khoa học Trung Quốc mô tả việc thử nghiệm thành công bom hạt nhân thả từ trên không (1965), phát triển đầu đạn tên lửa (1966) và bom hydro (1967) là "bước nhảy vọt ba lần" sau lần thử nghiệm thiết bị hạt nhân đầu tiên của họ.[6]

Học viện Vật lý Kỹ thuật Trung Quốc (CAEP) là phòng thí nghiệm vũ khí hạt nhân của Trung Quốc.[6] Trụ sở chính đặt tại Miên Dương với các văn phòng và viện nghiên cứu ở những nơi khác bao gồm Bắc Kinh, Thượng Hải và Thành Đô.[6]

Năm 2007, Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ đã ngăn chặn việc xuất bản một cuốn sách dày 506 trang có tựa đề " Bên trong Chương trình Vũ khí Hạt nhân của Trung Quốc ", của cựu chuyên gia tình báo Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, Danny B. Stillman. Mặc dù Bộ Năng lượng đã phê duyệt việc xuất bản toàn bộ cuốn sách, nhưng Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ đã tuyên bố 23 đoạn, chiếm 15% cuốn sách, là thông tin mật. Cuốn sách "đã đề cập đến các cuộc thảo luận sâu rộng với các nhà khoa học, quan chức chính phủ và nhà thiết kế vũ khí hạt nhân Trung Quốc".[75]

Tính toán

Đặng Gia Tiên đã dẫn đầu nhóm lý thuyết thực hiện Chín Tính Toán, một cột mốc quan trọng trong chương trình vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, xác nhận một thông số thiết kế vũ khí quan trọng (áp suất trung tâm cần thiết để đạt đến trạng thái siêu tới hạn trong bom nguyên tử kiểu nổ sập).[6]

Trong giai đoạn chuẩn bị cho thử nghiệm nhiệt hạch Dự án 639 , vào cuối năm 1965, các nhà vật lý hạt nhân Trung Quốc do Vu Mẫn dẫn đầu đã dựa vào sự kết hợp giữa mô phỏng số bằng máy tính và tính toán bằng tay để phát triển một thiết kế tương tự Teller-Ulam.[76] Máy tính 119 và J501 đã được sử dụng trong quá trình tính toán.[77]

Giống như các nước tuân thủ Hiệp ước Cấm Thử Hạt nhân Toàn diện khác, Trung Quốc sử dụng siêu máy tính để xác minh thiết kế vũ khí hạt nhân thông qua mô phỏng các vụ nổ hạt nhân.[78] Năm 1997, Hoa Kỳ đưa CAEP vào Danh sách Thực thể, cấm xuất khẩu chip máy tính cho tổ chức này.[79] Trung tâm Siêu máy tính Quốc gia ở Quảng Châu đã được thêm vào Danh sách Thực thể vào năm 2015 sau khi có nghi ngờ rằng Trung Quốc sử dụng Thiên Hà 2 dựa trên chip Intel để mô phỏng hạt nhân.[78] Trong cuộc tranh cãi xung quanh Báo cáo Cox, cáo buộc Trung Quốc do thám các thiết kế vũ khí của Hoa Kỳ, một số nguồn tin cho rằng việc Trung Quốc mua siêu máy tính mới là lý do khiến Trung Quốc bắt kịp về mặt kỹ thuật với Hoa Kỳ. Ngược lại, cựu giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, Harold Agnew, lập luận rằng các nhà khoa học Mỹ đã đạt được trình độ kỹ thuật của họ mà không cần siêu máy tính và các nhà khoa học Trung Quốc cũng có thể làm được điều tương tự.[80]

Phản ứng tổng hợp hạt nhân giam giữ quán tính

Vương Cám Xương, trưởng nhóm khoa học phát triển ICF của Trung Quốc.
Vu Mẫn, nhà thiết kế bom hydro của Trung Quốc và người đóng góp vào sự phát triển của ICF.

Giống như các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân khác, Trung Quốc có chương trình inertial confinement fusion (ICF)-tổng hợp hạt nhân giam giữ quán tính. Một số nhà phân tích phương Tây và nhà báo Trung Quốc tin rằng điều này một phần nhằm nghiên cứu sự kích nổ của vũ khí nhiệt hạch.[81]

Các hệ thống vũ khí hạt nhân hiện tại và tương lai

Bộ ba răn đe hạt nhân của Trung Quốc – tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Type 094, tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-31 và máy bay ném bom chiến lược Xian H-6

Kể từ năm 2020, Trung Quốc đã vận hành một bộ ba hạt nhân. [7] Trong số 600 đầu đạn của nó, người ta ước tính 376 đầu đạn được sử dụng trên tên lửa đạn đạo liên lục địa và tầm trung Dongfeng, 72 đầu đạn cho tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Julang -3 trên tàu ngầm Type 094 và 20 đầu đạn cho tên lửa đạn đạo phóng từ máy bay Jinglei -1 trên máy bay ném bom Xi'an H-6N. 132 đầu đạn còn lại được niêm cất.[2]

Tên lửa hạt nhân phóng từ mặt đất

Trung Quốc sử dụng diện tích địa lý rộng lớn của đất nước như một chiến lược để bảo vệ lực lượng hạt nhân của mình trước một cuộc tấn công phủ đầu giả định vào nước này.[13](tr114) Các đơn vị tên lửa hạt nhân được phân tán và các lữ đoàn tên lửa không được đặt ở cùng một nơi với các căn cứ chỉ huy.[13](tr114) Hầu hết các lực lượng hạt nhân được chỉ huy bởi ba căn cứ tên lửa ở nội địa của đất nước (ở Hồ Nam, Hà Nam và Cam Túc).[13](tr114–115)

Trung Quốc cất giữ các tên lửa đạn đạo trong các hệ thống đường hầm khổng lồ; Đại diện Hoa Kỳ Michael Turner[82] đề cập đến các báo cáo truyền thông Trung Quốc năm 2009 cho biết "Mạng lưới đường hầm này có thể dài hơn 5.000 km (3.110 dặm) và được sử dụng để vận chuyển vũ khí và lực lượng hạt nhân."[83] Một tờ báo của Quân Giải phóng Nhân dân gọi hệ thống đường hầm này là Vạn Lý Trường Thành dưới lòng đất của Trung Quốc.[84] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo truyền thống tập trung nhiều hơn vào vũ khí hạt nhân trên đất liền hơn là các hệ thống vận chuyển khác vì chúng dễ kiểm soát hơn đối với giới lãnh đạo chính trị của đất nước.[85]

DF-5A/CSS-4 Mod 2

Tên lửa Dongfeng 5 (tiếng Trung giản thể: 东风-5; tiếng Trung phồn thể: 東風-5 ; bính âm: Dōng Fēng Wǔ; nghĩa đen : 'Gió Đông 5') hay DF-5 là tên lửa đạn đạo liên lục địa hai tầng thế hệ thứ hai của Trung Quốc. Nó có chiều dài 32,6 mét (107 ft) và đường kính 3,35 mét (11,0 ft). Khối lượng tên lửa 183.000 kg (403.000 lb) và có tầm bắn ước tính từ 13.000 đến 16.000 km (8.100 đến 9.900 mi). DF-5 thực hiện thử nghiệm lần đầu tiên vào năm 1971 và đi vào hoạt động 10 năm sau đó. Một trong những hạn chế của tên lửa là cần từ 30 đến 60 phút để nạp nhiên liệu lỏng (UDMH) và chất oxy hóa Dinitơ tetroxide.

DF-26

Tên lửa đạn đạo tầm trung-xa Dongfeng-26 hay DF-26 (tiếng Trung giản thể :东风-26; tiếng Trung phồn thể :東風-26; nghĩa đen là 'Gió Đông-26'; tên ký hiệu của NATO: CH-SS-18  ) là một tên lửa thuộc dòng Dongfeng được Lực lượng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc triển khai và được sản xuất bởi Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Hàng không Vũ trụ Trung Quốc (CASC).

Tên lửa IRBM DF-26.

DF-27/CSS-10

DF-27 (CH-SS-X-24) là một tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM), được trang bị đầu đạn dạng phương tiện lượn siêu thanh (HGV). Tên lửa đạn đạo này đang được phát triển vào năm 2021, với tầm bắn từ 5.000 km đến 8.000 km.

DF-31/CSS-10

Tên lửa Dong Feng 31 (hay CSS-10) là tên lửa đạn đạo liên lục địa ba tầng, tầm trung, sử dụng nhiên liệu rắn. Nó là một biến thể phóng từ mặt đất của tên lửa JL-2 phóng từ tàu ngầm.[86]

DF-41/CSS-X-10

DF-41 (hoặc CSS-X-10) là một tên lửa đạn đạo liên lục địa được cho là đang hoạt động. Nó được thiết kế để mang nhiều đầu đạn hạt nhân có thể nhắm mục tiêu độc lập (MIRV), mang theo nhiều đầu đạn hạt nhân.[4]

DF-61

Tên lửa Dongfeng-61 (tiếng Trung giản thể :东风-61; tiếng Trung phồn thể :東風-61; nghĩa đen là 'Gió Đông-61', DF-61 ), được công bố rộng rãi tại Duyệt binh Ngày Chiến thắng ở Trung Quốc năm 2025 vào ngày 3 tháng 9 năm 2025 tại Bắc Kinh. Thiết kế của nó rất giống với DF-41 trước đó , khiến các nhà phân tích suy đoán rằng nó có thể đóng vai trò là loại tên lửa kế nhiệm.

Vũ khí hạt nhân phóng từ biển

Phóng thử nghiệm tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Julang-2.

Tính đến năm 2025, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vận hành sáu tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Type 094. Nó có khả năng mang 12 tên lửa đạn đạo JL-3, với tầm bắn hơn 9.000 km. Chúng được đặt tại Căn cứ hải quân Du Lâm ở Hải Nam. Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ ước tính rằng do hạn chế về tầm bắn, để nhắm mục tiêu vào tây bắc Hoa Kỳ, các tàu ngầm sẽ cần phải di chuyển xa hơn về phía bắc, có thể đến Biển Bột Hải.[2]

Trung Quốc cũng đang phát triển tàu ngầm Type 096, được cho là có khả năng mang tới 24 tên lửa đạn đạo JL-3 mỗi chiếc. Một số nguồn tin của Trung Quốc cho biết tàu ngầm này đã đang được thử nghiệm.[87]

Vũ khí hạt nhân phóng từ máy bay

Trung Quốc duy trì phiên bản máy bay Xian H-6N có khả năng mang vũ khí hạt nhân nhằm làm nền tảng mang tên lửa JL-1.
Trung Quốc duy trì phiên bản máy bay Xian H-6N có khả năng mang vũ khí hạt nhân nhằm làm nền tảng mang tên lửa JL-1.
Tên lửa Jinglei-1, tên lửa đạn đạo phóng từ máy bay mang đầu đạn hạt nhân duy nhất của Trung Quốc, tại lễ Duyệt binh Ngày Chiến thắng ở Trung Quốc năm 2025 .

Trung Quốc có trong biên chế khoảng 20 máy bay ném bom Xi'an H-6N để mang tên lửa đạn đạo phóng từ trên không Jinglei-1, ký hiệu NATO CH-AS-X-13.[2]

Trung Quốc được cho là đang thử nghiệm máy bay ném bom tàng hình Xian H-20 tương tự như Northrop B-2 Spirit của Mỹ và Northrop Grumman B-21 Raider. Nó có thể được trang bị tên lửa hành trình phóng từ trên không mang đầu đạn hạt nhân mới.[2]

Các hệ thống vũ khí mang vũ khí hạt nhân

Phóng từ trên đất liền

Tên lửa đạn đạo tầm xa

Trung Quốc phân loại tên lửa đạn đạo tầm xa là những tên lửa có tầm bắn từ 3000 đến 8000 km.[88]:103

Trung Quốc "dự trữ hầu hết đầu đạn của mình tại một cơ sở lưu trữ trung tâm ở dãy núi Tần Lĩnh, mặc dù một số được giữ tại các cơ sở lưu trữ khu vực nhỏ hơn."[89]

DF-4/CSS-3

Tên lửa Dong Feng 4 hay DF-4 (còn được gọi là CSS-3) là một tên lửa đạn đạo tầm trung hai tầng tầm xa của Trung Quốc sử dụng nhiên liệu lỏng (axit nitric/UDMH). Người ta cho rằng nó được triển khai với số lượng hạn chế từ các giếng phóng bắt đầu từ năm 1980.[88]:67 DF-4 có lực đẩy cất cánh là 1.224 kN, trọng lượng cất cánh là 82.000 kg, đường kính 2,25 m, chiều dài 28,05 m và sải cánh 2,74 m. Nó được trang bị đầu đạn hạt nhân nặng 2.190 kg với sức công phá 3.300 kt, và tầm bắn là 5.500 km.[88]:68 Tên lửa sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính, dẫn đến CEP tương đối kém là 1.500 mét.[cần dẫn nguồn]

Tên lửa đạn đạo tầm trung

Khoảng 55% tên lửa của Trung Quốc thuộc loại tầm trung, nhắm vào các mục tiêu trong khu vực.[88]:61

DF-3A

DF-3A (NATO: CSS-2) là một tên lửa đạn đạo tầm trung có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, một tầng, sử dụng nhiên liệu lỏng. Nó được đưa vào phục vụ trong Lực lượng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào năm 1971, và các đơn vị của nó đã được chuyển đổi hoàn toàn sang DF-21 vào năm 2014.

DF-21

Tên lửa Đông Phong 21 (DF-21; tên gọi báo cáo của NATO là CSS-5) là một tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBM) hai tầng, nhiên liệu rắn, một đầu đạn duy nhất được phát triển bởi Học viện Công nghệ Cơ khí và Điện tử Trường Phong của Trung Quốc. Là một phần của dòng tên lửa Đông Phong, việc phát triển tên lửa DF-21 bắt đầu vào cuối những năm 1960 và hoàn thành vào khoảng năm 1985–86, nhưng không được triển khai cho đến năm 1991. Nó được phát triển từ tên lửa phóng từ tàu ngầm JL-1 và là tên lửa nhiên liệu rắn phóng từ mặt đất đầu tiên của Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ năm 2008 ước tính rằng Trung Quốc có 60-80 tên lửa DF-21 và 60 bệ phóng.[13](tr113)

Tên lửa hành trình chiến lược

DH-10

Tên lửa hành trình Đông Hải 10 (DH-10) là tên lửa hành trình tấn công mặt đất thế hệ thứ hai (LACM), có tầm bắn hơn 4.000 km, tích hợp hệ thống dẫn đường quán tính, GPS, hệ thống lập bản đồ địa hình và hệ thống dẫn đường đầu cuối khớp cảnh kỹ thuật số. Tên lửa này được ước tính có sai số vòng tròn xác suất (CEP) là 10 mét.

CJ-10

ChangJian-10 (Trường Kiếm 10) là một tên lửa hành trình do Trung Quốc phát triển, dựa trên dòng tên lửa Hongniao. Nó có tầm bắn 2.200 km. Mặc dù chưa được xác nhận, nhưng người ta nghi ngờ rằng CJ-10 có thể mang đầu đạn hạt nhân. Một biến thể phóng từ trên không (có tên CJ-20) cũng đã được phát triển.[90]

Dòng tên lửa Hồng Điểu

Có ba tên lửa trong dòng này: HN-1, HN-2 và HN-3. Được cho là dựa trên tên lửa Kh-SD/65, tên lửa Hồng Điểu (hay Chim Đỏ) là một trong những tên lửa hành trình có khả năng mang đầu đạn hạt nhân đầu tiên ở Trung Quốc. HN-1 có tầm bắn 600 km, HN-2 có tầm bắn 1.800 km và HN-3 có tầm bắn 3.000 km.[91]

Dòng tên lửa ChangFeng

Dòng tên lửa Chang Feng (hay Long Wind) gồm hai loại: CF-1 và CF-2. Đây là những tên lửa hành trình tầm xa đầu tiên do Trung Quốc tự phát triển. CF-1 có tầm bắn 400 km trong khi CF-2 có tầm bắn 800 km. Cả hai biến thể đều có thể mang đầu đạn hạt nhân 10 kt.[cần dẫn nguồn]

Tên lửa hành trình chiến thuật

CJ-10

CJ -10 (tiếng Trung giản thể: 长剑-10; tiếng Trung phồn thể: 長劍-10; bính âm: Cháng Jiàn 10; nghĩa đen là 'trường kiếm 10') là tên lửa hành trình tấn công mặt đất thế hệ thứ hai của Trung Quốc. Nó được phát triển từ tên lửa Kh-55. Theo báo cáo, nó được sản xuất bởi Học viện số 3 của Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Hàng không Vũ trụ Trung Quốc và Học viện Công nghệ Điện-Cơ khí Hải Anh Trung Quốc.

YJ-62

YJ -62 (Ưng kích 62) (tiếng Trung :鹰击-62; bính âm: yingji-62) là một tên lửa hành trình chống hạm và tấn công mặt đất cận âm của Trung Quốc. Nó được sản xuất bởi Học viện thứ ba của Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Hàng không Vũ trụ Trung Quốc.

Vũ khí hạt nhân phóng từ biển

Vũ khí hạt nhân phóng từ trên không

China's bomber force consists mostly of Chinese-made versions of Soviet aircraft. The People's Liberation Army Air Force has 120 H-6s (a variant of the Tupolev Tu-16). These bombers were outfitted to carry nuclear as well as conventional weapons. While the H-6 fleet is aging, it is not as old as the American B-52 Stratofortress.[88]:93–98 The Chinese have also produced the Xian JH-7 Flying Leopard fighter-bomber with a range and payload exceeding the F-111 (currently about 80 are in service) which were capable of delivering a nuclear strike. China has also bought the advanced Sukhoi Su-30 from Russia; currently, about 100 Su-30s (MKK and MK2 variants) have been purchased by China. In 2006, the Federation of American Scientists considered the Su-30MKK "a logical choice" for a regional tactical nuclear strike capability but it was not credited with one by any sources.[88]:102

Notes

  1. Estimations made by the think tanks Federation of American Scientists and Stockholm International Peace Research Institute.[2][3][5]
  2. China tested a small-scale multistage thermonuclear explosive in December 1966, see Project_639 § Thermonuclear_testing.
  3. According to the United Nations. China carried out 46 nuclear tests, including a 1979 test which produced no nuclear yield, and two simultaneous tests in June 1996. Scholars typically count 46 nuclear tests. See List of nuclear weapons tests of China.[6][cần số trang]
  4. About 24 warheads are estimated to be deployed.[2][3]

Tham khảo

  1. 1 2 McLeary, Paul (ngày 18 tháng 12 năm 2024). "Pentagon report: China boosts nuclear stockpile". Politico. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Kristensen, Hans M.; Korda, Matt; Johns, Eliana; Knight, Mackenzie (ngày 4 tháng 3 năm 2025). "Chinese nuclear weapons, 2025". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). 81 (2): 135–160. Bibcode:2025BuAtS..81b.135K. doi:10.1080/00963402.2025.2467011. ISSN 0096-3402.
  3. 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :4
  4. 1 2 "DF-41 (Dong Feng-41 / CSS-X-20)". Center for Strategic and International Studies (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
  5. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :25
  6. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 Zhang, Hui (2025). The Untold Story of China's Nuclear Weapon Development and Testing: A Technical History. Belfer Center Studies in International Security. Cambridge, Massachusetts: The MIT Press. ISBN 978-0-262-05182-8.
  7. 1 2 "How is China Modernizing its Nuclear Forces?". Center for Strategic and International Studies. ngày 10 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2024.
  8. Sevastopulo, Demetri; Hille, Kathrin (ngày 16 tháng 10 năm 2021). "China tests new space capability with hypersonic missile". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
  9. 1 2 Capaccio, Anthony (ngày 23 tháng 10 năm 2024). "China Speeds Nuclear-Weapons Buildout, US Defense Agency Says". Bloomberg News. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2024.
  10. "Nuclear Disarmament China". Nuclear Threat Initiative. ngày 11 tháng 9 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2024.
  11. Lague, David (ngày 19 tháng 8 năm 2025). "China's growing nuclear arsenal". Reuters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
  12. "No-first-use of Nuclear Weapons Initiative". Ministry of Foreign Affairs of the People's Republic of China. ngày 23 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2025.
  13. 1 2 3 4 5 6 7 Cunningham, Fiona S. (2025). Under the Nuclear Shadow: China's Information-Age Weapons in International Security. Princeton University Press. doi:10.2307/jj.16040335. ISBN 978-0-691-26103-4. JSTOR jj.16040335.
  14. Hiim, Henrik Stålhane; Fravel, M. Taylor; Trøan, Magnus Langset (ngày 4 tháng 1 năm 2023). "The Dynamics of an Entangled Security Dilemma: China's Changing Nuclear Posture". International Security (bằng tiếng Anh). 47 (4): 147–187. doi:10.1162/isec_a_00457. ISSN 0162-2889.
  15. "A missile test by China marks its growing nuclear ambitions". The Economist. ngày 27 tháng 9 năm 2024. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2024.
  16. "China". Nuclear Threat Initiative. ngày 13 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
  17. "China and Weapons of Mass Destruction: Implications for the United States". Federation of American Scientists. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  18. 1 2 Meyskens, Covell F. (2020). Mao's Third Front: The Militarization of Cold War China. Cambridge, United Kingdom: Cambridge University Press. doi:10.1017/9781108784788. ISBN 978-1-108-78478-8. OCLC 1145096137.
  19. 1 2 3 Cook, Alexander C., biên tập (2013). "Introduction". Mao's Little Red Book: A Global History (PDF). Cambridge: Cambridge University Press. doi:10.1017/CBO9781107298576. ISBN 978-1-107-05722-7.
  20. Kütt, Moritz; Mian, Zia (ngày 2 tháng 1 năm 2022). "Setting the Deadline for Nuclear Weapon Removal from Host States under the Treaty on the Prohibition of Nuclear Weapons". Journal for Peace and Nuclear Disarmament. 5 (1): 148–161. doi:10.1080/25751654.2022.2046405.
  21. Crean, Jeffrey (2024). The Fear of Chinese Power: an International History. New Approaches to International History series. London, UK: Bloomsbury Academic. ISBN 978-1-350-23394-2.
  22. 1 2 3 Liu, Yanqiong; Liu, Jifeng (2009). "Analysis of Soviet Technology Transfer in the Development of China's Nuclear Weapons". Comparative Technology Transfer and Society. 7 (1): 66–110. doi:10.1353/ctt.0.0023. ISSN 1543-3404.
  23. MacFarquhar, Roderick (1983). The Origins of the Cultural Revolution- 2. The Great Leap Forward, 1958-1960. New York, Published for the Royal Institute of International Affairs, the East Asian Institute of Columbia University, and the Research Institute on Communist Affairs of Columbia University by Columbia University Press. tr. 11–12.
  24. 1 2 Burr, W.; Richelson, J. T. (2000–2001). "Whether to "Strangle the Baby in the Cradle": The United States and the Chinese Nuclear Program, 1960–64". International Security. 25 (3): 54–99. doi:10.1162/016228800560525. JSTOR 2626706. S2CID 57560352.
  25. 1 2 3 4 5 Zhang, Hui (ngày 11 tháng 4 năm 2024). "The short march to China's hydrogen bomb". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2024.
  26. 1 2 3 4 5 6 Jersild, Austin (ngày 8 tháng 10 năm 2013). "Sharing the Bomb among Friends: The Dilemmas of Sino-Soviet Strategic Cooperation". Cold War International History Project, Wilson Center. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  27. Lewis, Jeffrey (ngày 3 tháng 4 năm 2014). "Chinese views of nuclear weapons". Adelphi Series (bằng tiếng Anh). 54 (446): 13–42. doi:10.1080/19445571.2014.995419. ISSN 1944-5571.
  28. 1 2 3 4 Lewis, John W.; Xue, Litai (ngày 1 tháng 8 năm 1988). China Builds the Bomb. Stanford University Press. doi:10.1515/9781503621473. ISBN 978-1-5036-2147-3.
  29. "【红色记忆】朱光亚与我国核武器的"三级跳"‖朱明远 陈如标 _红色文化_文化纵横_四川省情网" [[Red Memories] Zhu Guangya and my country's "Three-Stage Leap" in Nuclear Weapons]. Sichuan Provincial People's Government (bằng tiếng Trung). ngày 2 tháng 4 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  30. "French Cite Test's Timing". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 6 năm 1967. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2025.
  31. 1 2 "于敏:惊天事业,沉默人生" [Yu Min: A groundbreaking career, a life lived in silence]. Peking University. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
  32. "China says it fires H-bomb". United Press International (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 6 năm 1967. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  33. "防化兵忆中国原子弹爆炸现场:田鼠长得像狗一样大" [Chemical defense soldier recalls the scene of China's atomic bomb explosion: field mice grew as big as dogs]. People's Daily (bằng tiếng Trung). ngày 16 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
  34. "俄媒:中国新型战略核潜艇技术落后美俄三代" [Russian media: China's new strategic nuclear submarine technology lags behind the United States and Russia by three generations]. China News Service (bằng tiếng Trung). ngày 22 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
  35. 1 2 "《世纪伟人腾飞梦——周恩来与两弹一星》全国巡展亮点多 观众自发求延展" [The National Tour of "The Great Man of the Century's Dream of Soaring - Zhou Enlai and the Two Bombs and One Satellite" has many highlights, and the audience spontaneously asks for an extension]. People's Daily (bằng tiếng Trung). ngày 14 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2025.
  36. 1 2 "战术氢弹爆炸,这部电影细节严谨_澎湃号·媒体_澎湃新闻" [Tactical hydrogen bomb explosion, this movie has rigorous details]. The Paper (bằng tiếng Trung). ngày 8 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2025.
  37. 1 2 Bergin, Bob (ngày 15 tháng 11 năm 2013). "Recalling the H-Bomb that Almost Backfired". Smithsonian Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2025.
  38. Osborn, Andrew; Foster, Peter (ngày 13 tháng 5 năm 2010). "USSR planned nuclear attack on China in 1969". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  39. O'Neill, Mark (ngày 12 tháng 5 năm 2010). "Nixon intervention saved China from Soviet nuclear attack". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
  40. "Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XXXIV, National Security Policy, 1969–1972: 63. Memorandum of Conversation". United States Department of State. ngày 18 tháng 8 năm 1969. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2024.
  41. 1 2 Reed, Thomas C. (ngày 1 tháng 9 năm 2008). "The Chinese nuclear tests, 1964–1996" (PDF). Physics Today. 61 (9). AIP Publishing: 47–53. Bibcode:2008PhT....61i..47R. doi:10.1063/1.2982122. ISSN 0031-9228. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  42. 1 2 Lewis, Jeffrey (ngày 3 tháng 4 năm 2014). "Nuclear-weapons design and testing". Adelphi Series. 54 (446): 43–76. doi:10.1080/19445571.2014.995420. ISSN 1944-5571. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  43. Norris, Robert S.; Kristensen, Hans M. (ngày 1 tháng 11 năm 2003). "Chinese Nuclear Forces, 2003". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). 59 (6): 77–80. Bibcode:2003BuAtS..59f..77N. doi:10.2968/059006016. ISSN 0096-3402.
  44. "Does China Have an Effective Sea-based Nuclear Deterrent?". ChinaPower Project (bằng tiếng Anh). Center for Strategic and International Studies. ngày 28 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2025.
  45. "China's Nuclear Weapons". nuclearweaponarchive.org. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2025.
  46. Sanger, David E. (ngày 23 tháng 9 năm 2017). "Prospect of Atmospheric Nuclear Test by North Korea Raises Specter of…". archive.is. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  47. "China Conducts Atmospheric Nuclear Test | History | Research Starters | EBSCO Research". EBSCO (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  48. Ray, Jonathan (ngày 1 tháng 1 năm 2015). "Red China's Capitalist Bomb: Inside the Chinese Neutron Bomb Program". apps.dtic.mil. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  49. Broad, William J. (ngày 7 tháng 9 năm 1999). "Spies vs. Sweat: The Debate Over China's Nuclear Advance". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2024.
  50. "Intelligence Community Damage Assessment on Chinese Espionage". Federation of American Scientists. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2019.
  51. Gerth, Jeff (ngày 6 tháng 3 năm 2003). "2 Companies Pay Penalties For Improving China Rockets". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  52. "Arms Control Association: Arms Control Today: Why China Won't Build U.S. Warheads". Arms Control Association. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020.
  53. Reed, Thomas C. (ngày 1 tháng 9 năm 2008). "The Chinese nuclear tests, 1964–1996" (PDF). Physics Today. 61 (9). AIP Publishing: 47–53. Bibcode:2008PhT....61i..47R. doi:10.1063/1.2982122. ISSN 0031-9228. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  54. "CTBTO World Map". Preparatory Commission for the Comprehensive Nuclear-Test-Ban Treaty Organization. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  55. Borger, Julian (ngày 16 tháng 4 năm 2020). "China may have conducted low-level nuclear test, US claims". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  56. "China's nuclear policy, strategy consistent: spokesperson". Xinhua News Agency. ngày 1 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2019.
  57. Fisher, Richard D. Jr. (ngày 6 tháng 1 năm 2016). "China establishes new Rocket Force, Strategic Support Force". Jane's Defence Weekly. 53 (9). Surrey, England: Jane's Information Group. ISSN 0265-3818. This report also quotes Chinese expert Song Zhongping saying that the Rocket Force could incorporate 'PLA sea-based missile unit[s] and air-based missile unit[s]'.
  58. Medcalf, Rory (2020). The Future of the Undersea Deterrent: A Global Survey. Acton, ACT: National Security College, The Australian National University. tr. 26–27. ISBN 978-1-925084-14-6. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020.
  59. Logan, David C.; Center for the Study of Chinese Military Affairs (Institute for National Strategic Studies at National Defense University) (2016). "China's Future SSBN Command and Control Structure". Strategic Forum (bằng tiếng Anh) (299). Washington, D.C.: NDU Press: 2–3. OCLC 969995006. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020.
  60. D'Urso, Stefano (ngày 29 tháng 11 năm 2024). "China and Russia Hold New Joint Air Patrol Over the Sea of Japan". The Aviationist (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  61. "Joint Russian-Chinese Air Patrol Signifies New Level of Cooperation". Carnegie Endowment for International Peace (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  62. Williams, Heather; Bingen, Kari A.; MacKenzie, Lachlan (ngày 30 tháng 7 năm 2024). "Why Did China and Russia Stage a Joint Bomber Exercise near Alaska?". Center for Strategic and International Studies (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  63. 1 2 Kristensen, Hans M.; Korda, Matt (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "China's nuclear missile silo expansion: From minimum deterrence to medium deterrence". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  64. "A new nuclear arms race beckons". The Economist. ngày 3 tháng 2 năm 2026. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  65. "Geolocating China's Unprecedented Missile Launch". Federation of American Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  66. "China downplayed nuclear-capable missile test: Classified NZ govt papers". The Straits Times (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 6 năm 2025. ISSN 0585-3923. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2025.
  67. "China Military Power Report" (PDF). U.S. Department of Defense. 2024. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  68. Sutton, H. I. (ngày 16 tháng 8 năm 2025). "What The World Is About To Learn About China's Extra-Large Underwater Drones". Naval News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2025.
  69. Kristensen, Hans; Johns, Eliana; Korda, Matt; Knight-Boyle, Mackenzie (ngày 4 tháng 9 năm 2025). "Nuclear Weapons At China's 2025 Victory Day Parade". Federation of American Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  70. Ali, Idrees (ngày 22 tháng 12 năm 2025). "China likely loaded more than 100 ICBMs in silo fields, Pentagon report says". Reuters. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  71. "Chinese nukes real number". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
  72. Zhang, Hui (ngày 15 tháng 3 năm 2018). "Why China stopped making fissile material for nukes". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2025.
  73. Pocock, Chris (2005). 50 Years of the U-2: The Complete Illustrated History of the "Dragon Lady" (bằng tiếng Anh). Schiffer Military History. ISBN 978-0-7643-2346-1.
  74. 1 2 Pocock, Chris (2010). The Black Bats: CIA Spy Flights Over China from Taiwan, 1951-1969 (bằng tiếng Anh). Schiffer Military History. ISBN 978-0-7643-3513-6.
  75. "CIA Blocks Book on Chinese Nuclear Weapons". Federation of American Scientists (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026.
  76. Gaulkin, Thomas (ngày 11 tháng 4 năm 2024). "The short march to China's hydrogen bomb". Bulletin of the Atomic Scientists (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025.
  77. "1967----中国科学院" [1967 - Chinese Academy of Sciences]. Chinese Academy of Sciences (bằng tiếng Trung). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2025.
  78. 1 2 Mann, Tobias (ngày 31 tháng 1 năm 2023). "China used banned US chips to advance nuclear program". The Register. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  79. Lin, Liza; Strumpf, Dan (ngày 29 tháng 1 năm 2023). "China's Top Nuclear-Weapons Lab Used American Computer Chips Decades After Ban". The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). ISSN 0099-9660. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  80. Benke, Richard (ngày 29 tháng 5 năm 2001). "Government Holds Back Scientist's Book". Federation of American Scientists. Associated Press. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026.
  81. Doyle, Gerry (ngày 28 tháng 1 năm 2025). "Exclusive: Images show China building huge fusion research facility, analysts say". Reuters. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2025.
  82. "U.S. Lawmaker Warns of China's Nuclear Strategy". China Digital Times. ngày 17 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011.
  83. "US worries over China's underground nuclear network". www.spacewar.com. Agence France-Presse. ngày 14 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  84. Hsiao, Russell (ngày 16 tháng 12 năm 2009). "China's "Underground Great Wall" and Nuclear Deterrence". Jamestown Foundation (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  85. Kroenig, Matthew (ngày 18 tháng 9 năm 2025). "Are We Overestimating Autocracies?". Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
  86. "DF-31 (Dong Feng-31 / CSS-10)". Center for Strategic and International Studies (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2025.
  87. "Global Security Newswire". NTI. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010.
  88. 1 2 3 4 5 6 Kristensen, Hans M.; Norris, Robert S.; McKinzie, Matthew G. (2006). Chinese Nuclear Forces and U.S. Nuclear War Planning (Báo cáo). Federation of American Scientists. JSTOR resrep18927. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
  89. Kristensen, Hans; Korda, Matt (2020). "Chinese nuclear forces, 2020". Bulletin of the Atomic Scientists. 76 (6): 443–457. Bibcode:2020BuAtS..76f.443K. doi:10.1080/00963402.2020.1846432. S2CID 228097051.
  90. "China's new cruise missile programme 'racing ahead'". Jane's Defence Weekly. ngày 12 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2009.
  91. "HN-2". CSIS Missile Threat. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010.

Bản mẫu:Nuclear weapons program of China