Bước tới nội dung

Pyrénées

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dãy núi Pyrénées
tiếng Tây Ban Nha: Pirineos
tiếng Pháp: Pyrénées
tiếng Catalunya: Pirineus
tiếng Aragon: Pirineus
tiếng Occitan: Pirenèus
tiếng Basque: Pirinioak, Auñamendiak
Trung tâm dãy Pyrenees
Độ cao3.404 m (11.168 ft)
Vị trí
Tọa độ42°37′56″B 00°39′28″Đ / 42,63222°B 0,65778°Đ / 42.63222; 0.65778
Địa chất
Tuổi đá

Dãy Pyrénées[a], tên phiên âm tiếng Việt trong sách là Pyrênê[1] hoặc Phì Nhiêu. là một dãy núi phía tây nam châu Âu tạo thành đường biên giới tự nhiên giữa PhápTây Ban Nha. Dãy núi này cũng là ranh giới giữa Pháp với bán đảo Iberia. Chúng trải dài gần 500 km (310 mi) từ chỗ hợp lưu với dãy núi Cantabria đến Cap de Creus trên bờ biển Địa Trung Hải, đạt độ cao tối đa 3.404 mét (11.168 ft) tại đỉnh Aneto.[2]

Nhìn chung, đỉnh núi chính tạo thành ranh giới chính trị giữa Tây Ban Nha và Pháp, với tiểu quốc Andorra nằm giữa. Trong lịch sử, Vương quyền AragónVương quốc Navarra trải dài ở cả hai phía của dãy núi.[3][4]

Từ nguyên

Trong thần thoại Hy Lạp, Pyrene là một công chúa đặt tên cho dãy núi Pyrenees. nhà sử học Hy Lạp Herodotus nói Pyrene là tên của một thị trấn ở châu Âu Celtic.[5] Theo Silius Italicus,[6] nàng là con gái đồng trinh của Bebryx, một vị vua ở Gaul Địa Trung Hải, ông đã tiếp đón anh hùng Heracles trong chuyến đi đánh cắp đàn gia súc của Geryon,[b] một trong những kỳ công nổi tiếng của Hercules. Hercules, trong trạng thái say xỉn và dâm dục, đã vi phạm luật lệ thiêng liêng về lòng hiếu khách và cưỡng hiếp con gái của chủ nhà. Pyrene sinh ra một con rắn và bỏ trốn vào rừng do sợ cha cô sẽ nổi giận. Một mình, nàng tủi thân kể lại câu chuyện cho những cái cây nghe, thu hút sự chú ý của những con thú hoang và chúng xé xác nàng ra từng mảnh.

Sau chiến thắng Geryon, Hercules lại đi qua vương quốc Bebryx và tìm thấy hài cốt bị xé nát của cô gái. Như thường lệ trong những câu chuyện về người anh hùng này, Hercules tỉnh táo phản ứng với nỗi đau buồn và hối hận tột cùng trước những hành động xấu xa của bản ngã đen tối, rồi ân cần chôn cất Pyrene, yêu cầu toàn bộ vùng đất xung quanh cùng chung tay thương tiếc và giữ gìn tên tuổi của cô:[7] "Bị lay động bởi giọng nói hùng hồn của Hercules, các đỉnh núi rung chuyển ở các sườn núi; ông không ngừng kêu lên với tiếng kêu đau buồn 'Pyrene!' tất cả các vách đá và nơi trú ẩn của thú hoang đều vang vọng lại 'Pyrene!'... Những ngọn núi vẫn giữ mãi cái tên được khóc than ấy qua các thời đại." Pliny the Elder liên kết câu chuyện về Hercules và Pyrene với Lusitania, nhưng bác bỏ nó là fabulosa, mang tính hư cấu cao.[8]

Các nguồn cổ điển khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là lửa, tiếng Hy Lạp cổ: πῦρ (IPA: /pŷːr/).[9] Theo nhà sử học Hy Lạp Diodorus Siculus, "vào thời cổ đại, người ta kể rằng, một số người chăn gia súc đã đốt lửa và toàn bộ vùng núi bị thiêu rụi; và do ngọn lửa này cháy liên tục ngày này qua ngày khác, bề mặt trái đất cũng bị thiêu cháy và vì những gì đã xảy ra, dãy núi được gọi là Pyrenees."[10]

Địa lý

Phân chia chính trị

Dãy núi Pyrenees của Tây Ban Nha thuộc các tỉnh sau đây, từ đông sang tây: Girona, Barcelona, Lleida (tất cả thuộc Catalonia), Huesca (thuộc Aragon), Navarra (thuộc Navarre) và Gipuzkoa (thuộc Xứ Basque).

Pyrenees thuộc Pháp là một phần của départements sau, từ đông sang tây: Pyrénées-Orientales (còn được gọi là Bắc Catalonia), Aude, Ariège, Haute-Garonne, Hautes-Pyrénées, và Pyrénées-Atlantiques (hai khu vực sau bao gồm Vườn quốc gia Pyrenees).

Công quốc độc lập Andorra nằm kẹp giữa phần phía đông của dãy núi, giữa dãy Pyrenees của Tây Ban Nha và dãy Pyrenees của Pháp.

Ảnh vệ tinh tổng hợp của dãy núi Pyrenees (NASA)
Pico de Aneto, ngọn núi cao nhất của dãy Pyrenees, Aragon (Tây Ban NHa)
Pic de Bugatet trong Néouvielle massif
Pedraforca, Catalonia (Tây Ban Nha)
El Turbón, 2,492 m (Aragon)
Thung lũng Baretous và đồng bằng Piedmont, Pyrénées ở miền tây nước Pháp
Cirque de Gavarnie với thác nước cao 422 mét, Occitania (Pháp)
Hồ Sant Maurici ở Aigüestortes i Estany de Sant Maurici National Park, Catalonia (Tây Ban Nha)

Phân chia địa lý

Monte Perdido, Aragon (Tây Ban Nha)

Về mặt địa lý tự nhiên, dãy Pyrenees có thể được chia thành ba phần: Pyrenees Đại Tây Dương (hay phía Tây), Pyrenees Trung tâm và Pyrenees phía Đông. Cùng nhau, chúng tạo thành một vùng địa lý riêng biệt thuộc hệ thống núi cao Alpine rộng lớn hơn.

Ở Pyrenees phía Tây, từ dãy núi Basque gần vịnh Biscay thuộc Đại Tây Dương, độ cao trung bình tăng dần từ tây sang đông.

Pyrenees Trung tâm trải dài về phía đông từ đèo Somport đến thung lũng Aran, và bao gồm các đỉnh núi cao nhất của dãy núi này:[11]

  • Pico de Aneto 3.404 mét (11.168 ft) trên sườn núi Maladeta,[11]
  • Pico Posets 3.375 mét (11.073 ft),[11]
  • Monte Perdido 3.355 mét (11.007 ft).[11]

Ở phía Đông dãy Pyrenees, ngoại trừ một đoạn bị gián đoạn ở cực đông của dãy Pyrénées Ariégeoises thuộc khu vực Ariège, độ cao trung bình khá đồng đều cho đến khi giảm đột ngột ở phần cực đông của dãy núi, gọi là Albères.[11]

Ibón (hồ băng) Basa Mora, ở thung lũng Gistain, Aragon.
Hồ Llauset, Aragon

Tài nguyên thiên nhiên

Các quặng kim loại của dãy Pyrenees hiện nay nhìn chung không còn quan trọng lắm, mặc dù trước đây từng có các mỏ sắt ở một số địa điểm tại Andorra, cũng như tại Andorra, Vicdessos ở Ariège và chân núi Canigó ở Pyrénées-Orientales. Các mỏ than có thể khai thác có lợi nhuận chủ yếu nằm ở sườn phía Tây Ban Nha, nhưng phía Pháp lại có các lớp than nâu.[11] Mỏ lộ thiên Trimoun gần xã Luzenac (Ariège) là một trong những nguồn cung cấp bột talc lớn nhất ở châu Âu.

Các mẫu đá cẩm thạch Pyrenees khác nhau

Có rất nhiều mỏ đá cẩm thạch ở dãy Pyrenees, hầu hết được người La Mã khai thác từ thời cổ đại. Được khai thác không liên tục, chúng cung cấp các loại đá cẩm thạch danh giá như đá cẩm thạch Grand Antique (người La Mã sử ​​dụng ở Roma và Constantinople), đá cẩm thạch trắng dùng để tạc tượng cũng như các loại đá cẩm thạch màu được sử dụng để trang trí các cung điện hoàng gia LouvreVersailles ở Pháp và Cung điện Hoàng gia Madrid ở Tây Ban Nha.[12][13]

Suối khoáng rất phong phú và đáng chú ý, đặc biệt là các suối nước nóng. Các suối nước nóng, trong đó có thể kể đến suối Les Escaldes ở Andorra, PanticosaLles de Cerdanya ở Tây Ban Nha, Ax-les-Thermes, Bagnères-de-Luchon và Eaux-Chaudes ở Pháp, đều chứa lưu huỳnh và chủ yếu nằm ở vùng cao, gần nơi tiếp xúc giữa đá granit và các lớp đá. Các suối ở vùng thấp hơn, chẳng hạn như suối Bagnères-de-Bigorre (Hautes-Pyrénées), Rennes-les-Bains (Aude), và Campagne-sur-Aude (Aude), chủ yếu chứa selen và không nóng.[11]

Các cơ sở khoa học

Đài quan sát Pic du Midi

Đài quan sát trên Pic du Midi de Bigorre.

Đài quan sát Pic du Midi de Bigorre là một đài quan sát thiên văn nằm ở độ cao 2877 mét trên đỉnh Pic du Midi de Bigorre thuộc dãy núi Pyrenees của Pháp. Việc xây dựng đài quan sát bắt đầu vào năm 1878 và mái vòm cao 8 mét hoàn thành năm 1908.

Đài quan sát này có một kính phản xạ cơ học xích đạo mạnh mẽ, sử dụng vào năm 1909 để chính thức bác bỏ thuyết về kênh đào trên sao Hỏa. Một kính viễn vọng có đường kính 1,06 m được lắp đặt vào năm 1963, do NASA tài trợ và dùng để chụp ảnh chi tiết bề mặt Mặt Trăng nhằm chuẩn bị cho các sứ mệnh Apollo. Các nghiên cứu khác thực hiện vào năm 1965 đã cung cấp một phân tích chi tiết về thành phần khí quyển trên sao Hỏa và sao Kim, điều này đã làm cơ sở cho các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm sức đẩy Phản lực (Jet Propulsion Laboratory) dự đoán rằng những hành tinh này không có sự sống.[14]

Từ năm 1980, đài thiên văn này đã có kính viễn vọng 2 mét, là kính viễn vọng lớn nhất ở Pháp. Mặc dù bị các kính viễn vọng khổng lồ được xây dựng trong những thập kỷ gần đây vượt mặt, ngày nay đài thiên văn này mở cửa rộng rãi cho các nhà thiên văn nghiệp dư.

Lò sưởi năng lượng mặt trời Odeillo

Lò sưởi năng lượng mặt trời Odeillo.

Lò nung năng lượng mặt trời Odeillo là lò nung năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới,[15] nằm ở Font-Romeu-Odeillo-Via, thuộc tỉnh Pyrénées-Orientales, miền nam nước Pháp. Được xây dựng từ năm 1962 đến năm 1968, lò có chiều rộng 54 mét (177 ft)48 mét (157 ft), gồm 63 tấm gương phản xạ mặt trời. Địa điểm này được chọn vì lượng ánh nắng mặt trời dồi dào và chất lượng ánh sáng trực tiếp (hơn 2.500 giờ/năm) cùng với độ tinh khiết của không khí (độ cao lớn và độ ẩm trung bình thấp).

Lò nung này được sử dụng làm địa điểm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu các vật liệu ở nhiệt độ rất cao. Nhiệt độ trên 3.500 °C (6.330 °F) có thể đạt được chỉ trong vài giây; ngoài ra, nó còn tạo ra sự thay đổi nhiệt độ nhanh chóng, cho phép nghiên cứu tác động của sốc nhiệt.

Các đỉnh núi cao nhất

Dưới đây là danh sách đầy đủ các đỉnh núi thuộc dãy Pyrenees cao trên 3.000 mét:

  1. Aneto (3,404 m) (Aragon)
  2. Posets (3,375 m) (Aragon)
  3. Monte Perdido (3,355 m) (Aragon)
  4. Punta de Astorg (3,355 m) (Aragon)
  5. Pico Maldito (3,350 m) (Aragon)
  6. Espalda del Aneto (3,350 m) (Aragon)
  7. Pico del Medio (3,346 m) (Aragon)
  8. Espadas Peak (3,332 m) (Aragon)
  9. Cilindro de Marboré (3,325 m) (Aragon)
  10. Maladeta (3,312 m) (Aragon)
  11. Vignemale (3,298 m) (Aragon-France)
  12. Pico Coronas (3,293 m) (Aragon)
  13. Pico Tempestades (3,290 m) (Aragon)
  14. Clot de la Hount (3,289 m) (Aragon-France)
  15. Soum de Ramond (3,259 m) (Aragon)
  16. 1st Western Peak Maladeta (3,254 m) (Aragon)
  17. Pic de Marboré (3,252 m) (Aragon-France)
  18. Cerbillona (3,247 m) (Aragon-France)
  19. Perdiguero (3,221 m) (Aragon-France)
  20. 2nd Western Peak Maladeta (3,220 m) (Aragon)
  21. Pic de Montferrat (3,219 m) (Aragon-France)
  22. Pico Russell (3,205 m) (Aragon)
  23. Pointe Chausenque (3,204 m) (France)
  24. Piton Carré (3,197 m) (France)
  25. Pic Long (3,192 m) (France)
  26. 3rd Western Peak Maladeta (3,185 m) (Aragon)
  27. Pic Schrader (3,177 m) (Aragon-France)
  28. Campbieil (3,173 m) (France)
  29. Pic de la cascade oriental (3,161 m) (Aragon-France)
  30. Les Jumeaux Ravier (3,160 m) (Aragon)
  31. Grand Tapou (3,160 m) (Aragon-France)
  32. Pic Badet (3,150 m) (France)
  33. Balaïtous (3,144 m) (Aragon-France)
  34. Pic du Taillon (3,144 m) (Aragon-France)
  35. Pica d'Estats (3,143 m) (Catalonia-France)
  36. Punta del Sabre (3,136 m) (Aragon)
  37. Diente de Alba (3,136 m) (Aragon)
  38. Pic de la Munia (3,134 m) (Aragon-France)
  39. Pointe de Literole (3,132 m) (Aragon-France)
  40. Pic Verdaguer (3,131 m) (Catalonia-France)
  41. Pic du Milieu (3,130 m) (Aragon-France)
  42. Pic des Gourgs Blancs (3,129 m) (Aragon-France)
  43. Les Veterans (3,125 m) (Aragon)
  44. Pico Pavots (3,121 m) (Aragon)
  45. Pic de Royo (3,121 m) (Aragon-France)
  46. Punta Ledormeur (3,120 m) (Aragon-France)
  47. Pico Alba (3,118 m) (Aragon)
  48. Pic des Crabioules (3,116 m) (Aragon-France)
  49. Seil Dera Baquo (3,110 m) (Aragon-France)
  50. Pic de Maupas (3,109 m) (Aragon-France)
  51. Pic Lézat (3,107 m) (France)
  52. Western Crabioules (3,106 m) (Aragon-France)
  53. Pico Brulle (3,106 m) (Aragon-France)
  54. Pic de la cascade occidental (3,095 m) (Aragon-France)
  55. Pic de Néouvielle (3,091 m) (France)
  56. Serre Mourene (3,090 m) (Aragon-France)
  57. Pic de Troumouse (3,085 m) (Aragon-France)
  58. Pico Posets (3,085 m) (Aragon)
  59. Infierno central (3,083 m) (Aragon)
  60. Pics d'Enfer (3,082 m) (France)
  61. Pico de Bardamina (3,079 m) (Aragon)
  62. Pic de la Paul (3,078 m) (Aragon)
  63. Pic de Montcalm (3,077 m) (France)
  64. Infierno oriental (3,076 m) (Aragon)
  65. Pic Maou (3,074 m) (France)
  66. Infierno occidental (3,073 m) (Aragon)
  67. Épaule du Marboré (3,073 m) (Aragon-France)
  68. Pic du port de Sullo (3,072 m) (Catalonia-France)
  69. Frondella NE (3,071 m) (Aragon)
  70. Grand pic d' Astazou (3,071 m) (Aragon-France)
  71. Pico de Vallibierna (3,067 m) (Aragon)
  72. Pico Marcos Feliu (3,067 m) (Aragon-France)
  73. Pic des Spijeoles (3,066 m) (France)
  74. Pico Jean Arlaud (3,065 m) (Aragon)
  75. Tuca de Culebras (3,062 m) (Aragon-France)
  76. Grand Quayrat (3,060 m) (France)
  77. Pic Maubic (3,058 m) (France)
  78. Pico Gran Eriste (3,053 m) (Aragon)
  79. Garmo negro (3,051 m) (Aragon)
  80. Pic du Portillon (3,050 m) (Aragon-France)
  81. Pico Argualas (3,046 m) (Aragon)
  82. Baudrimont NW (3,045 m) (Aragon)
  83. Pic de Eristé sur (3,045 m) (Aragon)
  84. Pic Camboue (3,043 m) (France)
  85. Trois Conseillers (3,039 m) (France)
  86. Pico Aragüells (3,037 m) (Aragon)
  87. Pico Algas (3,036 m) (Aragon)
  88. Turon de Néouvielle (3,035 m) (France)
  89. Pic de Batoua (3,034 m) (Aragon)
  90. Gabietou occidental (3,034 m) (Aragon-France)
  91. Comaloforno (3,033 m) (Catalonia)
  92. Petit Vignemale (3,032 m) (France)
  93. Gabietou oriental (3,031 m) (Aragon-France)
  94. Pic de Bugarret (3,031 m) (France)
  95. South Besiberri Massif (3,030 m) (Catalonia)
  96. Pic de l'Abeille (3,029 m) (Aragon-France)
  97. Baudrimont SE (3,026 m) (Aragon)
  98. Pic Béraldi (3,025 m) (Aragon)
  99. Pico de la Pez (3,024 m) (Aragon)
  100. Pic de Lustou (3,023 m) (France)
  101. Pic Heid (3,022 m) (France)
  102. Pic de Crabounouse (3,021 m) (France)
  103. Pico de Clarabide (3,020 m) (Aragon-France)
  104. Pico del puerto de la pez (3,018 m) (Aragon-France)
  105. Dent d'Estibère male (3,017 m) (France)
  106. North Besiberri Massif (3,014 m) (Catalonia)
  107. Punta Alta Massif (3,014 m) (Catalonia)
  108. Petit Astazou (3,012 m) (Aragon-France)
  109. Pic Ramougn (3,011 m) (France)
  110. Pico de Gias (3,011 m) (Aragon)
  111. Tuc de Molières (3,010 m) (Catalonia-Aragon)
  112. Tour du Marboré (3,009 m) (Aragon-France)
  113. Pic Belloc (3,008 m) (France)
  114. Pic Forqueta (3,007 m) (Aragon)
  115. Pic d'Estaragne (3,006 m) (France)
  116. Pico de Boum (3,006 m) (Aragon-France)
  117. Casque du Marboré (3,006 m) (Aragon-France)
  118. Arnales (3,006 m) (Aragon)
  119. Grande Fache (3,005 m) (Aragon-France)
  120. Pico Robiñera (3,005 m) (Aragon)
  121. Pic de Saint Saud (3,003 m) (France)
  122. Middle Besiberri S (3,003 m) (Catalonia)
  123. Middle Besiberri N (3,002 m) (Catalonia)
  124. Pointe Célestin Passet (3,002 m) (Catalonia)
  125. Punta de las Olas (3,002 m) (Aragon)
  126. Frondella SW (3,001 m) (Aragon)

Các đỉnh núi đáng chú ý dưới 3.000 mét

  • Pic de Palas (2,974 m)
  • Pic de Comapedrosa (2,942 m) - điểm cao nhất của Andorra
  • Pic Carlit (2,921 m)
  • Puigmal (2,913 m)
  • Cotiella (2,912 m)
  • Pic de Sanfonts (2,894 m)
  • Pic d'Envalira (2,827 m)
  • Collarada (2,886 m)
  • Pic du Midi d'Ossau (2,885 m)
  • Pic du Midi de Bigorre (2,876 m)
  • Mont Valier (2,838 m)
  • Petit Pic du Midi d'Ossau (2,812 m)
  • Pic du Canigó (2,786 m)
  • Peña Telera (2,764 m)
  • Casamanya (2,740 m)
  • Cambre d'Aze (2.726 m)
  • Cap de la cometa del forn (2,691 m)[16]
  • Visaurin (2,668 m)
  • Pic del Port Vell (2,655 m)
  • Aspe peak (2,645 m)
  • Pic dels Aspres (2,562 m)
  • Pedraforca (2,506 m)
  • Pic d'Anie (2,504 m)
  • Pic de Pedraforca (2,498 m)
  • Pique d'Endron (2,472 m)
  • Pic de Madrès (2,469 m)
  • Mesa de los Tres Reyes (2,428 m)
  • Grande Aiguille d'Ansabère (2,376 m)
  • Pic du Soularac (2,368 m)
  • Pic du Saint Barthélémy (2,348 m)
  • Peña Montañesa (2,291 m)
  • Peña Foratata (2,282 m)
  • Pic des Trois Seigneurs (2,199 m)
  • Pic d'Orhy (2,017 m)
  • Chamanchoya (1,935 m)
  • Otsogorrigaina (1,922 m)[17]
  • Pic de Cagire (1,912 m)
  • Pic du Gar (1,785 m)
  • Urkulu (1,419 m)
  • Larrun (905 m)
  • Mount Baigura (897 m)

Ghi chú

  1. (UK: /ˌpɪrəˈnz/ PIRR-ə-NEEZ, US: /ˈpɪrəˌnz/ PIRR-ə-neez; tiếng Tây Ban Nha: Pirineos [piɾiˈneos]; tiếng Pháp: Pyrénées [piʁene] ; tiếng Catalunya: Pirineus [piɾiˈnɛws]; tiếng Basque: Pirinioak [piɾini.o.ak]; tiếng Occitan: Pirenèus [piɾeˈnɛws]; tiếng Aragon: Pirineus)
  2. Mặc dù Geryon thường ở phía tây thần thoại của mặt trời lặn, ông cũng có liên hệ với Iberia; theo Strabo, thân thể ba ngôi của ông được bảo tồn tại Cádiz dưới dạng một cái cây.

Tham khảo

  1. Nguyễn Vi Dân (2005). Cơ sở địa lý tự nhiên. NXB ĐH Quốc gia Hà Nội. tr. 40.
  2. Barnolas, A. y Pujalte, V. (2004). «La Cordillera Pirenaica». Vera Torres, J. A. (ed.), ed. Geologia de España. Sociedad Geológica de España e Instituto Geológico y Minero de España. pp. 231–343. ISBN 84-7840-546-1.
  3. "Wayback Machine" (PDF). www.cg66.fr. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  4. Collins Road Atlas of Europe. London: Harper Collins. 1995. tr. 28–29. ISBN 0-00-448148-8.
  5. "Herodotus, The Histories, Book 2, chapter 33". www.perseus.tufts.edu. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  6. Silius Italicus, Punica 3.415–441.
  7. Tipping, Ben (ngày 13 tháng 5 năm 2010). Exemplary Epic: Silius Italicus' Punica (bằng tiếng Anh). OUP Oxford. ISBN 978-0-19-955011-1.
  8. "Pliny the Elder, The Natural History, BOOK III. AN ACCOUNT OF COUNTRIES, NATIONS, SEAS, TOWNS, HAVENS, MOUNTAINS, RIVERS, DISTANCES, AND PEOPLES WHO NOW EXIST OR FORMERLY EXISTED., CHAP. 3.—OF BÆTICA". www.perseus.tufts.edu. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  9. "Dictionary of Greek and Roman Geography (1854), PYRENAEI MONTES". www.perseus.tufts.edu. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  10. Diodorus Siculus, The Library of History Vol III, 35 Lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại Wayback Machine
  11. 1 2 3 4 5 6 7  Một hoặc nhiều câu trước bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Pyrenees". Encyclopædia Britannica (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  12. Pascal Julien, Marbres, de carrières en palais (Marbles, from quarries to palaces), Le Bec en l'air editor, 2006.
  13. Tárraga Baldó, María Luisa (ngày 1 tháng 4 năm 2013). "Les marbres dans la décoration du Palais royal de Madrid". Bulletin du Centre de recherche du château de Versailles. Sociétés de cour en Europe, XVIe-XIXe siècle - European Court Societies, 16th to 19th Centuries (bằng tiếng Tây Ban Nha). Số 6. doi:10.4000/crcv.11988. ISSN 1958-9271.
  14. "Pic du Midi's planetarium and observatory". picdumidi.com (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  15. "Largest solar furnace". Guinness World Records (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  16. 1 of 3 summits (archive)
  17. "El monte del lobo rojo. Otsogorrigaina (1.922 m). El Correo". El Correo. ngày 9 tháng 10 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012.

Đọc thêm

  • Belloc, Hilaire (1909). The Pyrenees. Methuen & Co., London.
  • Oakley, Amy (1923). Hill-Towns of the Pyrenees. The Century Co., New York.
  • Edelmayer, Friedrich (2012). The Pyrenees Region (bằng tiếng Đức và Anh). Institute of European History.
  • Paegelow, Claus (2008). Pyrenäen Bibliografie. Andorra, spanische & französische Pyrenäen, Pyrenees Bibliography. Andorra, Spain & French Pyrenees (bằng tiếng Đức và Anh). Verlag Claus Paegelow. ISBN 978-3-00-023936-6.
  • Milne, Tony (2015). 10 Manuels and a Manolete (bằng tiếng Anh). Handmaid Books, Herblay. ASIN 1507691408 .

Liên kết ngoài