Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein
| Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein Marie Maximiliane von Hessen und bei Rhein | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Мария Александровна Mariya Aleksandrovna | |||||
Chân dung họa bởi Franz Xaver Winterhalter, năm 1857 | |||||
| Hoàng hậu Đế quốc Nga | |||||
| Tại vị | 2 tháng 3 năm 1855 – 3 tháng 6 năm 1880 (25 năm, 93 ngày) | ||||
| Đăng quang | 7 tháng 9 năm 1855 | ||||
| Tiền nhiệm | Charlotte Wilhelmine của Phổ | ||||
| Kế nhiệm | Dagmar của Đan Mạch | ||||
| Hoàng thái tử phi Nga | |||||
| Tại vị | 28 tháng 4 năm 1841 – 2 tháng 3 năm 1855 (13 năm, 308 ngày) | ||||
| Tiền nhiệm | Juliane xứ Sachsen-Coburg-Saalfeld | ||||
| Kế nhiệm | Dagmar của Đan Mạch | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 8 tháng 8 năm 1824 Darmstadt, Đại công quốc Hessen, Bang liên Đức | ||||
| Mất | 3 tháng 6 năm 1880 (55 tuổi) Cung điện Mùa đông, Sankt-Peterburg, Đế quốc Nga | ||||
| An táng | Thánh đường Thánh Pyotr và Pavel, Sankt-Peterburg, Đế quốc Nga | ||||
| Phối ngẫu | Aleksandr II của Nga | ||||
| Hậu duệ |
| ||||
| |||||
| Gia tộc | Hessen-Darmstadt Romanov-Holstein-Gottorp (hôn nhân) | ||||
| Thân phụ | Ludwig II xứ Hessen và Rhein August von Senarclens de Grancy (tin đồn) | ||||
| Thân mẫu | Wilhelmine xứ Baden | ||||
| Tôn giáo | Chính thống giáo Nga trước là Giáo hội Luther | ||||
Marie Maximiliane của Hessen và Rhein[1] hay Marie xứ Hessen-Darmstadt (tiếng Đức: Marie Maximiliane von Hessen und bei Rhein/Marie von Hessen-Darmstadt; tiếng Hà Lan: Marie Maximiliane van Hessen-Darmstadt; tiếng Nga: Мария Гессенская и Прирейнская; tiếng Anh: Marie of Hesse and by Rhine/Marie of Hesse-Darmstadt; tên đầy đủ: Maximilianne Wilhelmine Auguste Sophie Marie; 8 tháng 8 năm 1824 – 3 tháng 6 năm 1880), sau khi kết hôn được biết đến với tên tiếng Nga là Mariya Aleksandrovna (tiếng Đức: Marija Alexandrowna; tiếng Nga: Мария Александровна; tiếng Anh: Maria Alexandrovna), là Hoàng hậu Đế quốc Nga với tư cách là người vợ đầu của Aleksandr II của Nga. Bà cũng là thân mẫu của vị Sa hoàng áp chót Aleksandr III đồng thời là cháu gọi bác của Luise xứ Baden, tức Hoàng hậu Yelizaveta Alekseyevna của Nga.
Thời thơ ấu

Maximiliane Wilhelmine Auguste Sophie Marie sinh ngày 8 tháng 8 năm 1824 tại Darmstadt, Hessen, Đức,[2][3] là con gái của Ludwig II xứ Hessen và Rhein và Wilhelmine xứ Baden, em gái của Luise xứ Baden, Hoàng hậu Nga. Cha mẹ của Marie là anh em họ và có tất cả bảy người con, trong đó Marie là người con út. Sáu người anh chị của Marie lần lượt là: Ludwig, một người anh trai mất sớm, Karl, Elisabeth, một người chị gái mất sớm và Alexander.
Cha mẹ của Marie không có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc.[4] Ludwig tẻ nhạt, nhút nhát và khép kín, trong khi Wilhelmine lại xinh đẹp và quyến rũ.[2][4] Sau khi sinh ba người con trai, hai vợ chồng dần xa cách nhau trong những năm tháng hỗn loạn của Chiến tranh Napoléon khi Ludwig ở chiến trường.
Sau khoảng mười một năm, Wilhelmine có thêm bốn người con, tuy nhiên triều đình lại đồn đại rằng cha ruột của những đứa con này là Nam tước August von Senarclens de Grancy, Grand Master of the stables của Đại công tước xứ Hessen.[5] Trong số bốn người con, Marie và anh trai Alexander, người hơn Đại công tôn nữ một tuổi, là những người sống đến tuổi trưởng thành. Mặc dù Đại công tử Ludwig công nhận những đứa trẻ là con mình,[2] nhưng ông và Wilhelmine đã ly thân vào năm 1827.[4]
Năm 1828, Wilhelmine cùng hai người con út và gia nhân chuyển đến Heiligenberg, một điền trang nằm trên ngọn đồi nhìn ra làng Jugenheim mà bà đã mua cùng năm.[6][5] Lâu đài trước đây từng là một tu viện nữ và nằm cách Darmstadt khoảng 20 km.[5][7] Marie khi đó 4 tuổi cùng anh trai Alexander 5 tuổi và mẹ chuyển đến Heiligenberg và trải qua phần lớn thời thơ ấu tại đây.[6] Tuy nhiên, vào năm 1829, cha mẹ của Marie đã tổ chức lễ kỷ niệm 25 năm ngày cưới trong sự hòa thuận.[6][7] Vào năm 1830, ông nội của Marie là Ludwig I xứ Hessen và Rhein qua đời, và cha của Đại công tôn nữ lên kế vị, lấy tên hiệu là Ludwig II. Vợ chồng Ludwig II dần dần hòa giải và sử dụng Heiligenberg vào những tháng hè.[7]
Marie lớn lên dưới sự chăm sóc của mẹ, người chịu trách nhiệm về việc giáo dục cho con gái và có niềm yêu thích đối với văn hóa Pháp. Điều này thể hiện rõ trong các bài học của Marie, đặc biệt chú trọng đến tài chính, lịch sử và văn học. Sau khi Wilhelmine qua đời vì bệnh lao,[7] Marianne von Senarclens de Grancy, nữ quan và có thể là dì ruột của Marie, đã đảm nhận trách nhiệm giáo dục cho Đại công nữ khi đó 11 tuổi.[6]
Sau khi mẹ qua đời, Marie và Alexander chuyển đến sống tại cung điện của cha tại Darmstadt. Marie vẫn giữ thân thiết với anh trai Alexander trong suốt cuộc đời,[6] và trở nên thân thiết với hai người anh trai lớn hơn là Ludwig III và Karl. Tuy nhiên, sự nghi ngờ về tính hợp pháp vẫn tiếp tục bao trùm Marie và Alexander, khi Ludwig II cư xử lạnh lùng và xa cách với hai người con út.[7]
Hôn ước

Năm 1839, Thái tử Aleksandr Nikolayevich, con trai của Sa hoàng Nikolai I của Nga, sang Tây Âu để hoàn thành việc học và tìm vị hôn thê cho mình.[8] Trước đó, cha mẹ Aleksandr đã chọn Alexandrine xứ Baden, nhưng ông không lay chuyển.[8][9] Ngày 13 tháng 3, sau khi đến thăm các triều đình Phổ, Württemberg và Baden, đoàn tùy tùng của Aleksandr bất ngờ dừng chân tại triều đình Hessen để nghỉ ngơi,[8][9] mặc dù Marie không có tên trong danh sách các ứng cử viên được chọn làm hôn thê.[10]
Aleksandr được Đại công tước mời đến xem buổi biểu diễn vở La vestale của Gaspare Spontini, và được giới thiệu với Marie lúc đó 14 tuổi, người có thân hình mảnh mai và cao hơn so với tuổi nhưng vẫn còn để tóc xõa. Khi đó Marie đang ăn anh đào và phải nhổ hạt vào tay khi bị đẩy lên phía trước để được giới thiệu với Thái tử.[11] Vasily Andreyevich Zhukovsky, gia sư của Aleksandr khi đó đang đi cùng Thái tử đã mô tả Đại công nữ là: "khiêm tốn, duyên dáng và thậm chí là thông minh."[12]
Aleksandr trở nên say mê Marie[13] và đã ở lại dùng bữa tối với Ludwig II để được gặp lại Đại công nữ. Trước khi rời Darmstadt, Marie đã tặng Aleksandr một chiếc vòng cổ chứa lọn tóc của mình. Tối hôm đó, Aleksandr viết thư cho cha: "Con đã yêu nàng ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nếu cha cho phép, con sẽ quay lại Darmstadt sau khi rời Anh."[12] Theo như kế hoạch của Aleksandr, Nikolai I nhận được bức thư chín ngày sau đó, vào Lễ Truyền Tin, và coi thời điểm này là điềm lành. Sa hoàng Nikolai I đã chấp thuận,[12] bất chấp những lời đồn thổi về sự ra đời của Marie: "nếu Ludwig II công nhận Marie là con gái của ông ta, thế là đủ rồi".[14] Vào đầu tháng Sáu, Aleksandr trở lại Darmstadt để cầu hôn Marie, đáp lại bằng sự chấp thuận của Đại công nữ. Tuy nhiên, vì Marie chưa đủ 15 tuổi, nên cần một thời gian đính hôn dài trước khi lễ cưới chính thức được diễn ra.[13] Vào những tuần cuối năm 1839, Aleksandr trở lại Darmstadt để thăm Marie một lần nữa, và cùng với đó, một linh mục đã đến Darmstadt để hướng dẫn Marie về Chính thống giáo Nga.[15]
Lễ đính hôn giữa Marie xứ Hessen và Thái tử Aleksandr Nikolayevich được chính thức công bố vào tháng 4 năm 1840.[15] Vào hai thế hệ trước đó, bà cô của Marie là Wilhelmine xứ Hessen-Darmstadt đã kết hôn với Thái tử Pavel Petrovich của Nga (sau là Sa hoàng Pavel I).[13] Ngoài ra, bác gái của Marie là Luise xứ Baden (tức Hoàng hậu Yelizaveta Alekseevna của Nga) kết hôn với Sa hoàng Aleksandr I, mặc dù bà qua đời khi Marie mới hai tuổi. Tuy nhiên, Charlotte Wilhelmine của Phổ (tức Hoàng hậu Aleksandra Fyodorovna của Nga) đã phản đối lựa chọn của con trai mình. Hoàng hậu không chỉ lo lắng về những tin đồn xung quanh xuất thân của Marie, mà còn không có thiện cảm với gia tộc Hessen và lo ngại rằng Marie có thể mắc phải bệnh lao từ mẹ.[13] Trong một bức thư gửi mẹ, Aleksandr viết: "Con yêu nàng ấy, và con thà từ bỏ ngai vàng còn hơn là không cưới được nàng. Con chỉ cưới người phụ nữ mà con có quyền quyết định!"[5] Sau khi được Nikolai I thuyết phục, Hoàng hậu Charlotte Wilhelmine đã đến Frankfurt vào tháng Sáu để gặp Marie.[6] Khi đó, Marie đã nhanh chóng học được tiếng Nga. Hoàng hậu Nga cảm thấy hài lòng và cho phép cuộc hôn nhân được diễn ra.
Hoàng thái tử phi Nga
Lễ cưới

Vào tháng 8 năm 1840, đoàn của Marie lên đường đến Nga. Marie được tháp tùng bởi anh trai Alexander cùng phó mẫu là mademoiselle von Grancy.[6] Marie đặt chân đến Nga vào tháng Chín và chia sẻ ấn tượng về Sankt-Peterburg trong một bức thư gửi gia đình: "Sankt-Peterburg đẹp hơn nhiều so với những gì con tưởng tượng. Dòng sông Neva góp phần tạo nên vẻ đẹp đó. Con nghĩ thật khó có thể tìm được một thành phố nào tuyệt vời hơn. Quang cảnh nhìn từ Cung điện Mùa Đông ra sông Neva thật tuyệt vời!" Marie được chào đón bằng những nghi lễ long trọng và các hoạt động giải trí. Các vở kịch Pháp, opera và các vở ba lê mới được trình diễn tại nhà hát Trung Hoa, và mỗi Chủ nhật, Hoàng hậu Charlotte Wilhelmine đều tổ chức tiệc chiêu đãi tại Cung điện Aleksandr.[3] Tuy nhiên, Marie gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới.[5] Nhiều năm sau, nữ quan của Marie là Anna Tiutcheva đã viết về giai đoạn này trong cuộc đời của Hoàng hậu: "Được nuôi dưỡng trong sự cô lập, thậm chí có thể nói là khắc khổ, tại lâu đài nhỏ Jugenheim, nơi bà chỉ hiếm khi gặp cha mình, Marie đã sợ hãi hơn là choáng ngợp khi đột nhiên được đưa đến triều đình xa hoa và lộng lẫy nhất của tất cả các quốc gia châu Âu. Bà đã nói với ta điều đó nhiều lần. Sau những cuộc đấu tranh không ngừng để vượt qua sự vụng về của bản thân, sau đó, dưới màn đêm và sự tĩnh lặng của căn phòng, bà đã không kìm được mà bật khóc".[16]
Được nuôi dạy theo đức tin Luther, Marie cải đạo sang Chính thống Nga vào ngày 17 tháng 12 (lịch cũ: 5 tháng 12) năm 1840 và trở thành Đại vương công phu nhân Mariya Aleksandrovna. Ngày hôm sau, lễ đính hôn chính thức được tổ chức với sự hiện diện của Hoàng thất, toàn thể triều đình, giới quý tộc Nga, nhiều vị khách nước ngoài nổi tiếng và đại diện các quốc gia khác.[17] Lễ cưới diễn ra vào ngày 28 tháng 4 (lịch cũ: 16 tháng 4) năm 1841 tại Nhà thờ chính tòa của Cung điện Mùa Đông tại Sankt-Peterburg, ngay trước sinh nhật lần thứ 23 của Aleksandr.[18] Marie mặc một chiếc váy trắng thêu chỉ bạc lộng lẫy, khoác áo choàng màu đỏ thẫm với satin trắng và lông chồn mịn vắt qua vai, cùng trang sức kim cương (vương miện, hoa tai, vòng cổ và vòng tay). Hoàng hậu Charlotte Wilhelmine cài hoa cam lên tóc, xen kẽ giữa những viên kim cương trên vương miện và cài một cành hoa nhỏ trên ngực. Lễ cưới có sự tham dự của các thành viên hoàng thất Nga, triều đình cùng rất nhiều vị khách mời, tiếp sau đó là một bữa tiệc dạ hội long trọng.
Những năm đầu tiên
Marie đã chiếm được cảm tình của tất cả những người Nga có cơ hội quen biết cô. Sasha [Aleksandr II] ngày càng gắn bó với cô hơn, cảm thấy rằng sự lựa chọn của mình là do Chúa ban. Niềm tin lẫn nhau của họ ngày càng lớn mạnh khi họ hiểu nhau hơn. Cha [Nikolai I] luôn bắt đầu những bức thư gửi cho cô bằng những lời: "Nguyện danh Mẹ Maria được chúc tụng." ... Cha vui mừng chứng kiến sự thể hiện sức mạnh của cô gái trẻ này và ngưỡng mộ khả năng tự chủ của Marie. Theo ông, điều này đã bù đắp cho sự thiếu năng lượng của Sasha, điều mà ông luôn lo lắng.
— Olga Nikolayevna của Nga, A dream of youth. Memories of the Grand Duchess Olga Nikolaevna.
Sau lễ cưới, cặp vợ chồng trẻ ở tại một dãy phòng nằm tại khu phía tây nam của Cung điện Mùa đông.[16] Vào mùa hè, cả hai chuyển đến sống tại Tsarskoye Selo.
Marie gặp khó khăn trong việc hòa nhập với triều đình và kết bạn. Những buổi dạ hội và tiệc chiêu đãi bất tận khiến Marie cảm thấy nhàm chán, nhưng nghi thức triều đình buộc bà phải thực hiện nhiệm vụ đại diện với tư cách là Thái tử phi. Marie hồi tưởng rằng cuộc sống tại triều đình đòi hỏi "sự anh hùng mỗi ngày... Ta sống như một người lính cứu hỏa tình nguyện, luôn sẵn sàng lao đến khi có báo động. Tất nhiên, ta không chắc mình nên đi đâu hay phải làm gì."[19] So với tại triều đình, Marie thích cuộc sống thôn quê tại Tsarskoye Selo, nơi bà được tận hưởng cuộc sống riêng tư.[20]
Trong những năm đầu tại Nga, Marie được bác gái của chồng là Yelena Pavlovna hướng dẫn. Mặc dù cách biệt nhau mười bảy tuổi, nhưng cả hai đã trở thành bạn thân và thường xuyên cùng nhau điều hành các salon.[21]
Hai năm sau khi đặt chân đến nước Nga, Marie hạ sinh con đầu lòng Aleksandra vào tháng 8 năm 1842. Bà sinh thêm con trai Nikolai vào tháng 9 năm 1843 và sau đó là Aleksandr và Vladimir, lần lượt sinh ra vào năm 1845 và 1847. Không lâu sau khi sinh con trai thứ ba, sức khỏe của Marie bắt đầu suy yếu và bà buộc phải đến Bad Kissingen để dưỡng bệnh. Để đánh dấu mỗi lần sinh con, Aleksandr và Marie trồng những cây sồi trong vườn riêng tại Tsarskoye Selo, nơi có sân chơi bowling, xích đu và cầu trượt dành cho những người con. Trong nhà, Marie chơi piano và cùng gia đình dệt thảm. Vào tháng 7 năm 1849, cặp vợ chồng đều vô cùng đau khổ khi con gái đầu lòng Aleksandra qua đời vì viêm màng não khi mới sáu tuổi rưỡi. Đau buồn vì mất mát, Marie phải đến thị trấn ven biển Revel tại Estonia để hồi phục sức khỏe.[22] Trong nhiều năm sau đó, Marie vẫn khóc thương cái chết của con gái Aleksandra.[23] Vào tháng 1 năm 1850, Marie hạ sinh người con trai thứ tư Aleksey.[22]
Trong thập kỷ đầu tiên tại Nga, Marie được đồng hành và hỗ trợ bởi người anh trai Alexander, người đã cùng em gái đến Nga để theo đuổi sự nghiệp quân sự. Năm 1851, Alexander kết hôn không đăng đối với Julia von Hauke, một trong những nữ quan của Marie. Vì cuộc hôn nhân không đăng đối, Alexander mất đi địa vị và phải từ chức khỏi quân đội Nga. Alexander rời khỏi đất nước và trở về Heiligenberg, ngôi nhà thời thơ ấu của hai anh em. Vào tháng 10 năm 1853, Marie hạ sinh con gái thứ hai được mong đời từ lâu là Mariya.[24]
Hoàng hậu Đế quốc Nga
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đại vương phu nhân, bà đã 28 tuổi nhưng vẫn trông rất trẻ. Bà giữ được vẻ ngoài trẻ trung đó suốt cuộc đời; khi 40 tuổi, người ta có thể nhầm bà với một phụ nữ 30 tuổi. Mặc dù cao và mảnh mai, nhưng Hoàng hậu lại gầy gò và yếu ớt đến nỗi thoạt nhìn bà không hề mang dáng vẻ của một "quý bà xinh đẹp". Tuy nhiên, bà lại vô cùng thanh lịch, với vẻ duyên dáng đặc biệt chỉ có thể tìm thấy trong những bức tranh cổ của Đức hoặc những bức tranh Đức Mẹ của Albert Dürer. Mặc dù các đường nét trên khuôn mặt bà khá cân đối, vẻ đẹp của bà nằm ở làn da trắng hồng và đôi mắt xanh to tròn, nhìn người ta vừa sắc sảo vừa e lệ... Bà dường như lạc lõng và không thoải mái trong vai trò người mẹ, người vợ và hoàng hậu. Bà hết lòng yêu thương gia đình và tận tụy hoàn thành những bổn phận mà địa vị cao quý đòi hỏi. Tâm hồn bà cũng giống như trí tuệ: tinh tế, sắc sảo, thấu đáo và cực kỳ châm biếm, nhưng lại thiếu chiều sâu và sự chủ động.
— Anna Tiutcheva. At the court of two Emperors, tr. 78–80.
Ngày 18 tháng 2 năm 1855, Nikolai I qua đời vì bệnh viêm phổi được kế vị bởi Aleksandr, lấy tên hiệu là Aleksandr II,[25] trong một thời kỳ hỗn loạn khi quân đội Nga bị liên minh quốc tế đánh bại trong Chiến tranh Krym.[26] Sau cuộc vây hãm kéo dài mười một tháng, Sevastopol thất thủ vào tháng 9 năm 1855. Trước nguy cơ bị phương Tây xâm lược nếu chiến tranh còn tiếp diễn, Nga đã cầu hòa vào tháng 3 năm 1856 tại Paris.[27] Nỗi nhục nhã trước thất bại đã được gạt sang một bên bởi lễ đăng quang được tổ chức từ ngày 14 đến 26 tháng 8 năm 1856. Lễ đăng quang kéo dài năm giờ đồng hồ, diễn ra tại Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời thuộc Điện Kremli ở Moskva vào ngày 7 tháng 9 (lịch cũ: 26 tháng 8) năm 1856. Khi bốn cung nữ cố gắng đội vương miện lên đầu Hoàng hậu, chiếc vương miện gần như rơi xuống đất và chỉ được giữ lại nhờ nếp gấp của áo choàng, một điềm báo xấu vào thời này.[28]
Chín tháng sau lễ đăng quang, Marie hạ sinh con trai thứ năm Sergey vào tháng 4 năm 1857.[29] Trải qua căn bệnh trầm cảm, bà được gửi đến Kissingen để hồi phục.[30] Vào ngày 3 tháng 10 (lịch cũ: 21 tháng 9) năm 1860, bà sinh người con thứ tám và cuối cùng là Pavel,[31] nhưng vì sức khỏe trở nên quá yếu nên Marie buộc phải nghỉ tại phòng riêng ở Cung điện Mùa đông trong vài tháng.[32] Một tháng sau, mẹ chồng của Marie là Hoàng thái hậu Charlotte Wilhelmine qua đời.[31]
Tổ chức từ thiện
Truyền thống Nga vốn coi trọng Hoàng thái hậu hơn Hoàng hậu, nên kể từ đó Marie đóng vai trò quyết định hơn trong các hoạt động từ thiện. Bà thành lập nên Hội Chữ thập đỏ tại Nga, và nhanh chóng trở thành tổ chức công cộng lớn nhất và giàu có nhất. Dưới sự tổ chức của Hoàng hậu, tổ chức đã tích lũy được những khoản tiền khổng lồ do các nhà hảo tâm từ khắp Đế quốc quyên góp.[33] Các ủy ban phụ nữ đã quyên góp được số tiền gấp đôi so với trung bình mà các ủy ban cấp tỉnh quyên góp được.[34]
Hoàng hậu Marie là người bảo trợ tối cao của Hội Chữ thập đỏ. Bà đã bảo trợ tổng cộng 5 bệnh viện, 12 nhà tế bần, 30 nơi trú ẩn, 2 viện, 38 trường trung học, 156 trường tiểu học và 5 hội từ thiện tư nhân. Ngoài ra, Marie còn mở rộng các hoạt động từ thiện trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1877–78. Vào năm 1872, bà thành lập các cơ sở giáo dục dành cho nữ giới trên toàn liên bang, đánh dấu kỷ nguyên mới trong việc giáo dục phụ nữ tại Nga.[33] Tại đây, học sinh được học các môn vật lý, hóa học và y học.[34]
Tuyên ngôn Giải phóng

Sa hoàng Aleksandr II thường dựa vào sự sáng suốt và nghiêm nghị của Marie để hỗ trợ chính quyền của mình, và thường mở các văn kiện chính thức cũng như thảo luận về tình hình đất nước với Hoàng hậu.[17] Marie là người ủng hộ lý tưởng cải cách của Aleksandr II. Chính trường Nga lúc bấy giờ bị chia rẽ bởi hai luồng tư tưởng triết học đối lập, đó là phe Âu hóa và phe thân Slav. Những người theo chủ nghĩa Âu hóa, đứng đầu là Aleksandr Gertsen, Vissarion Belinsky, Ivan Turgenev và Mikhail Bakunin, muốn nước Nga hội nhập với khoa học và các giá trị phương Tây như tư tưởng tự do, chủ nghĩa duy lý và tự do cá nhân.[35] Ngược lại, phe thân Slav do Aleksey Khomyakov, hai anh em nhà Aksakov là Konstantin và Ivan, cùng với Ivan Kireevsky và em trai Pyotr Kireevsky lãnh đạo chủ trương ba nguyên tắc: chế độ chuyên quyền, chính thống và chủ nghĩa dân tộc.[36]
Marie nhiệt thành ủng hộ chủ nghĩa Slav và khuyến khích chủ nghĩa tư bản. Bà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải phóng nông nô, điều trở thành hiện thực với Tuyên ngôn Giải phóng vào ngày 3 tháng 3 (lịch cũ: 19 tháng 2) năm 1861, chấm dứt chế độ nông nô tại Nga.[33]
Cuộc sống tại triều đình


Mùa lễ hội của triều đình Nga bắt đầu vào đầu tháng 12 và kéo dài đến tận Mùa Chay.[37] Trong khi nhiệt độ dưới 0 độ C và gió lạnh buốt khiến đường phố vắng vẻ, thì những cung điện nóng nực lại tổ chức các buổi dạ hội và tiệc tùng. Sa hoàng Aleksandr II tổ chức những buổi tiệc thân mật được gọi là Les Bals des Palmières, với hàng trăm cây cọ được chở đến Cung điện Mùa đông trên những chiếc xe ngựa kéo.[38] Tuy nhiên, Marie không thích các sự kiện tại triều đình và coi giới quý tộc Nga là phù phiếm.[39] Giới thượng lưu phàn nàn rằng Hoàng hậu có vẻ lạnh lùng, xa cách và không có gu ăn mặc.[15] Sau lưng Marie, người ta gọi bà là la petite bourgeoise allemande("nhà tiểu tư sản Đức").[15]
Thay vì để những lời đồn thổi ảnh hưởng đến mình, Hoàng hậu Marie rất chú trọng đến việc nuôi dạy và giáo dục các con, cẩn thận lựa chọn những giáo viên giàu kinh nghiệm và đảm bảo môi trường học tập nghiêm khắc. Marie dành nhiều tâm sức nhất cho con trai cả, Thái tử Nikolai Aleksandrovich, người con mà bà thân yêu và giống bà nhất.[40]
Hoàng hậu Marie bày tỏ sự tức giận trước quan điểm tiêu cực của Nữ vương Victoria đối với nước Nga, cũng như cách đối xử tệ bạc của bà với con dâu Mariya Aleksandrovna, con gái của Marie. Bà phàn nàn với anh trai mình là Ludwig III, Đại công tước xứ Hessen rằng nước Anh "chắc chắn thù địch với chúng ta. Điều đó khiến Sa hoàng rất lo lắng, cả vì Marie (Mariya Aleksandrovna) nữa."[41] Khi biết được quan điểm của Nữ vương Victoria về người Nga, bà đã viết: "Những lời lẽ xúc phạm mà Nữ vương viết trong thư gửi Alfred về Sa hoàng và người dân Nga thật đáng khinh bỉ. Thêm vào đó là nỗi buồn của bà ta rằng 'Marie thân yêu của chúng ta' lại thuộc về một quốc gia mà trong vốn từ của họ thiếu vắng những từ như 'sự thật', 'công lý' và 'lòng nhân đạo'. Đúng là một bà già ngốc nghếch."[42] Khi con gái của bà là Mariya phàn nàn về mẹ chồng mình, Marie đã bày tỏ sự cảm thông với con gái: "Thẳng thắn mà nói, thật khó để coi trọng một bà mẹ chồng như vậy, và em rất tiếc cho Marie."[43]
Sức khỏe suy yếu

Với tư cách là Hoàng hậu, Marie phải tham dự nhiều sự kiện cấp nhà nước, nhưng từ những năm 1860, sức khỏe của bà bắt đầu suy giảm. Các bác sĩ khuyên Hoàng hậu nên dành mùa đông ở nơi có khí hậu ấm áp và ngừng chuyện chăn gối với chồng để kéo dài tuổi thọ. Vì muốn ở lại Nga, Marie đã đồng ý với đề nghị nghỉ dưỡng tại Krym. Aleksandr II sau đó mua cho Marie biệt thự Livadia,[44] một biệt thự gỗ hai tầng, từ những người thừa kế của Bá tước người Ba Lan Lev Potocki.[45] Marie cùng chồng và các con trai Aleksey, Sergey và Pavel lần đầu tiên đến thăm Krym vào cuối tháng 8 năm 1861.[44] Bà bị cuốn hút bởi hệ thực vật miền Nam, khí hậu ôn hòa, ngôi nhà xinh đẹp và công viên xung quanh.[46] Ngôi biệt thự khiêm tốn sau đó được mở rộng thêm bằng một cung điện lớn, một cung điện nhỏ và một nhà thờ. Việc xây dựng diễn ra từ năm 1862 đến năm 1866 dưới sự chỉ đạo của Ippolit Monighetti, một kiến trúc sư người Nga, người đã trang trí lại các phòng của Hoàng hậu tại Cung điện Yekaterina vào những năm 1850.[47]
Sau khi sức khỏe tốt hơn, Marie tài trợ việc xây dựng Nhà hát Mariinsky tại Sankt Peterburg vào năm 1859–1860, được xây dựng theo bản thiết kế của kiến trúc sư Albert Cavos với mục đích trở thành nhà hát opera và ba lê. Nhà hát mở cửa vào ngày 2 tháng 10 năm 1860, với buổi biểu diễn vở opera Một cuộc đời vì Sa hoàng của Mikhail Glinka. Nhà hát mới được đặt tên là Mariinsky theo tên vị thánh bảo trợ của hoàng gia.[48][49][50]
Những mùa hè ẩm ướt ở Sankt Peterburg bắt đầu ảnh hưởng đến thể trạng yếu ớt của Marie, đến nỗi bà phải rời khỏi thủ đô trong thời gian dài. Vào tháng 6 năm 1864, Marie rời nước Nga cùng chồng và ba người con út để đến nghỉ dưỡng tại khu nghỉ mát ở Bad Kissingen. Vua Ludwig II của Bayern đã đích thân đến thăm người dì họ xa của mình và trở nên say mê Marie. Vào cuối tháng 7, Aleksandr II trở về Nga, nhưng Marie lại đến Bad Schwalbach, nơi bà tổ chức sinh nhật cùng Ludwig II. Vào cuối tháng 8, cả gia đình Marie đoàn tụ tại Darmstadt.
Vì vẫn còn ốm yếu nên Marie đã trải qua mùa đông tại Nice, nơi bà nhận được thông báo về lễ đính hôn của Thái tử Nikolai với Vương nữ Dagmar của Đan Mạch. Tuy vậy, Nikolai lại có sức khỏe yếu và đã đến Nice với mẹ vào đầu năm 1865. Tuy nhiên vào lúc đó, Thái tử đang bị viêm màng não tủy sống rất nặng. Được anh trai Alexander và chị dâu túc trực bên cạnh, Marie đã không rời khỏi bên con trai trong suốt thời gian lâm bệnh. Nikolai ban đầu bị chẩn đoán nhầm là mắc bệnh thấp khớp thông thường, và tình trạng sức khỏe của ông trở nên xấu đi nhanh chóng. Thái tử Nikolai qua đời vào ngày 24 tháng 4 (lịch cũ: 12 tháng 4) năm 1865. Vương nữ Dagmar, người đã ở bên cạnh Vương tộc Romanov trong những ngày cuối cùng của vị hôn phu, đã nhanh chóng đính hôn với em trai của Nikolai là Hoàng đế Aleksandr III tương lai và kết hôn vào năm sau đó. Cả Aleksandr II và Marie đều vô cùng đau buồn trước cái chết của con trai cả, người mà cả hai đã đặt trọn niềm hy vọng vào tương lai. Hoàng hậu Marie dành cả năm tiếp theo để tang và tìm thấy sự an ủi bên gia đình tại quê hương Hessen, vì anh trai của bà là Karl vừa mất đi người con gái duy nhất Anna.[51]
Vào năm 1866, Aleksandr II và Marie kỷ niệm 25 năm ngày cưới. Thời gian trôi qua, dù vẫn tôn trọng nhau nhưng tình cảm của cả hai lại dần trở nên xa cách, đặc biệt là sau khi sức khỏe của Marie suy yếu và người con trai cả qua đời. Aleksandr đã có nhiều mối tình vụng trộm, nhưng không đe dọa đến cuộc hôn nhân với Marie. Từ giữa những năm 1850 đến năm 1862, Aleksandr có mối quan hệ với Thân vương nữ Aleksandra Sergeevna Dolgorukova, thành viên của dòng họ Dolgorukov, một trong những gia tộc danh giá nhất nước Nga và là nữ quan của Hoàng hậu. Mối tình này kết thúc vào năm 1862 khi Aleksandra kết hôn với Tướng Pyotr Pavlovich Albedinsky.
Năm 1865, Aleksandr II đem lòng yêu say đắm Thân vương nữ Yekaterina Mikhaylovna Dolgorukova, một người họ hàng xa của tình nhân cũ Aleksandra, khi đó 18 tuổi. Yekaterina đã từ chối tình cảm của Sa hoàng trong hơn một năm, nhưng cả hai trở thành tình nhân vào tháng 7 năm 1866. Mặc dù Marie đã chắc chắn biết về mối tình, nhưng ban đầu bà không bận tâm đến chuyện này.[37]

Để có chỗ ở thoải mái và nghỉ ngơi trên đường từ Sankt Peterburg đến Krym, Aleksandr II đã cho ra lệnh tái thiết Cung điện Hoàng gia tại Kiev.[52] Cung điện đã bị xuống cấp nghiêm trọng và bỏ hoang gần nửa thế kỷ sau khi bị thiêu rụi trong một loạt vụ hỏa hoạn vào đầu thế kỷ 19. Nhiệm vụ trùng tu được giao cho kiến trúc sư Konstantin Mayevsky vào năm 1867, dựa trên các bản vẽ và tranh màu nước cũ. Việc trùng tu diễn ra từ năm 1868 đến năm 1870, và cung điện Kiev sau đó được đổi tên thành Cung điện Mariinskyi theo tên của Hoàng hậu Mariya Aleksandrovna.[48] Theo nguyện vọng của Marie, một công viên lớn đã được xây dựng ở phía nam cung điện. Cung điện được sử dụng làm nơi ở cho các thành viên hoàng thất đến thăm cho đến năm 1917,[48] và hiện nay là nơi ở chính thức của Tổng thống Ukraina.[53]
Những năm cuối đời

Từ đầu những năm 1860 đến những năm 1870, Marie bắt đầu có những chuyến thăm dài ngày về quê hương mình. Bà thường đi cùng chồng, các con và đoàn tùy tùng người Nga và ở lại Schloss Heiligenberg, lâu đài nhỏ của anh trai bà là Alexander, người sống với người vợ và các con tại Jugenheim nằm tại ngoại ô Darmstadt. Tại đó, Marie gặp Alice của Liên hiệp Anh, con gái thứ hai của Nữ vương Victoria và là vợ của cháu trai bà, Ludwig xứ Hessen. Marie phản đối lời đề nghị của Alice rằng em trai bà, Vương tử Alfred, Công tước xứ Edinburgh, nên kết hôn với Nữ Đại vương công Mariya Aleksandrovna, nhưng cả hai vẫn trở thành vợ chồng vào năm 1874.[51] Vào tháng 12 năm 1875, Hoàng hậu Marie đến thăm nước Anh để gặp người cháu đầu tiên. Nữ vương Victoria đã viết trong nhật ký: "Ta thấy bà ấy rất đoan trang, tốt bụng và dễ mến. Bọn ta lập tức cảm thấy thoải mái, nhưng bà ấy có vẻ mặt buồn bã và trông rất yếu ớt. Ta nghĩ rằng bọn ta sẽ rất hợp nhau, tội nghiệp bà ấy. Ta rất thương bà ấy."
Sau khi Vương nữ Alice qua đời năm 1878, Marie đã mời những người cháu giờ đây mồ côi mẹ đến thăm trong những kỳ nghỉ cùng Alexander tại Heiligenberg. Trong những chuyến thăm này, con trai của Marie, Sergey, đã gặp người vợ tương lai của mình là Đại công nữ Elisabeth, con gái thứ hai của Vương nữ Alice. Cũng tại đây, Marie đã gặp em gái của Elisabeth là Đại công nữ Alix, người sau này sẽ trở thành Hoàng hậu Nga với tư cách là vợ của cháu trai cả Marie, Hoàng đế Nikolai II.[51] Tương truyền rằng trong một chuyến thăm Darmstadt, khi gặp Alix, Hoàng hậu Marie đã quay sang các nữ quan của mình và nói, "Hãy hôn lên tay cô ấy. Đó là Hoàng hậu tương lai của các người."[54]
Sa hoàng Aleksandr II có ba người con với Thân vương nữ Dolgorukova,[51] những người được ông đưa vào Cung điện Hoàng gia trong thời gian Marie lâm bệnh nặng, vì lo sợ rằng vợ mình có thể trở thành mục tiêu của những kẻ ám sát. Mối tình này, trong bối cảnh sức khỏe Hoàng hậu ngày càng suy yếu, đã khiến những người con của Aleksandr trở nên xa lánh cha, ngoại trừ Aleksey và Mariya.[55] Khi Nữ Đại vương công Mariya đến thăm mẹ vào tháng 5 năm 1880, bà đã kinh hoàng khi biết về nơi ở của người tình hoàng gia và đã đối chất với cha mình.[56] Các cận thần lan truyền rằng Hoàng hậu đang hấp hối phải nghe những tiếng ồn ào từ các con của Yekaterina di chuyển phía trên lầu, trong khi phòng của hai bên thực tế cách xa nhau.[57] Sau khi Marie yêu cầu được gặp các con của Aleksandr và tình nhân, ông đã đưa hai người con cả, Georgy và Olga, đến bên giường bệnh, nơi bà hôn và chúc phúc cho cả hai đứa trẻ. Cả Aleksandr và Marie đều rơi nước mắt trong cuộc gặp gỡ.[58] Với sự chúc phúc từ Marie, Aleksandr và Yekaterina kết hôn không đăng đối vào ngày 18 tháng 7 (lịch cũ: 6 tháng 7) năm 1880.[51][59]
Hoàng hậu Marie qua đời vào ngày 3 tháng 6 năm 1880, hưởng thọ 55 tuổi. Bà được chôn cất tại Thánh đường Thánh Pyotr và Pavel, Sankt-Peterburg với sự hiện diện của các con, và được nhớ đến vì sự thông thái và duyên dáng của mình.
Hậu duệ

Marie xứ Hessen và Aleksandr II của Nga có tám người con, trong đó gồm có 6 con trai và 2 con gái:[60]
| Tên | Sinh | Mất | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Aleksandra Aleksandrovna | 30 tháng 8 năm 1842 | 10 tháng 7 năm 1849 | Biệt danh là Lina, qua đời vì viêm màng não ở trẻ em tại Sankt-Peterburg khi được 6 tuổi |
| Nikolai Aleksandrovich | 20 tháng 9 năm 1843 | 24 tháng 4 năm 1865 | Đính hôn với Dagmar của Đan Mạch[61] |
| Aleksandr III | 10 tháng 3 năm 1845 | 1 tháng 11 năm 1894 | Kết hôn với Dagmar của Đan Mạch năm 1866; có hậu duệ[62] |
| Vladimir Aleksandrovich | 22 tháng 4 năm 1847 | 17 tháng 2 năm 1909 | Kết hôn với năm 1874, Marie xứ Mecklenburg-Schwerin; có hậu duệ[63] |
| Aleksey Aleksandrovich | 14 tháng 1 năm 1850 | 14 tháng 11 năm 1908 | Kết hôn không đăng đối với Aleksandra Vasilyevna Zhukovskaya và có hậu duệ[64] |
| Mariya Aleksandrovna | 17 tháng 10 năm 1853 | 20 tháng 10 năm 1920 | Kết hôn với năm 1874 với Alfred xứ Sachsen‑Coburg và Gotha; có hậu duệ[65] |
| Sergey Aleksandrovich | 11 tháng 5 năm 1857 | 17 tháng 2 năm 1905 | Kết hôn với Elisabeth của Hessen và Rhein năm 1884[66] |
| Pavel Aleksandrovich | 3 tháng 10 năm 1860 | 24 tháng 1 năm 1919 | Kết hôn lần thứ 1 với Alexandra của Hy Lạp và Đan Mạch năm 1889; có hậu duệ – Kết hôn lần thứ 2 với Olga Valerianovna Karnovich năm 1902; có hậu duệ[67] |
Huân chương
Bồ Đào Nha: Bậc Nữ Tước sĩ của Huân chương Vương hậu Thánh Isabel, 20 tháng 2 năm 1861[68]
Tây Ban Nha: Bậc Nữ Tước sĩ của Huân chương Vương hậu María Luisa, 17 tháng 2 năm 1857[69][70]
Tổ tiên
| Gia phả của Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tham khảo
- ↑ “Der” Kamerad: Oesterreichischer Militär-Kalender für ... (bằng tiếng Đức). Dirnböck. 1863. tr. 25.
- 1 2 3 Zeepvat, Romanov Autumn, tr.49
- 1 2 Gilbert, Alexander II and Tsarkoe Selo, tr. 40.
- 1 2 3 Zeepvat, Heiligenberg, tr. 2.
- 1 2 3 4 5 Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 13.
- 1 2 3 4 5 6 7 Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 50.
- 1 2 3 4 5 Zeepvat, Heiligenberg, tr. 3.
- 1 2 3 Van der Kiste, The Romanovs 1818–1959, tr. 11.
- 1 2 Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 31.
- ↑ Radinsky, Alexander II, tr. 66.
- ↑ Zeepvat, The Camera and the Tsars, tr. 41.
- 1 2 3 Radinsky, Alexander II, tr. 67.
- 1 2 3 4 Van der Kiste, The Romanovs 1818–1959, tr. 12.
- ↑ Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 32.
- 1 2 3 4 Van der Kiste, The Romanovs 1818–1959, tr. 13.
- 1 2 Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 16.
- 1 2 Gilbert, Alexander II and Tsarkoe Selo, tr. 41.
- ↑ Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 33.
- ↑ Edvard Radzinsky, Alexander II: the Last Great Tsar, tr. 70.
- ↑ Gilbert, Alexander II and Tsarkoe Selo, tr. 42.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 171.
- 1 2 Nelipa, Alexander III His Life and Reign, tr. 10.
- ↑ Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 52.
- ↑ Nelipa, Alexander III His Life and Reign, tr. 22.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 179.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 178.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 181.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 182.
- ↑ Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 53.
- ↑ Nelipa, Alexander III His Life and Reign, tr. 37.
- 1 2 Nelipa, Alexander III His Life and Reign, tr. 48.
- ↑ King, Livadia in the Reign of Alexander II, tr. 147.
- 1 2 3 Cowles, The Romanovs, tr. 185.
- 1 2 "An unexpected error has occurred". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 172
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 173.
- 1 2 Cowles, The Romanovs, tr. 189.
- ↑ Cowles, The Romanovs, tr. 190.
- ↑ King, Livadia in the Reign of Alexander II, tr. 146.
- ↑ Zeepvat, Romanov Autumn, tr. 36.
- ↑ Julia P. Gelardi, From Splendor to Revolution, tr. 65-6.
- ↑ Julia P. Gelardi, From Splendor to Revolution, tr. 66.
- ↑ Julia P. Gelardi, From Splendor to Revolution, tr. 73.
- 1 2 King, Livadia in the Reign of Alexander II, tr. 148.
- ↑ King, Livadia in the Reign of Alexander II, tr. 145.
- ↑ Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 29.
- ↑ King, Livadia in the Reign of Alexander II, tr. 153.
- 1 2 3 Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 24.
- ↑ Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 25.
- ↑ Nhà hát được đổi tên thành Nhà hát Kirov trong thời kỳ Xô Viết, nhưng được đặt lại tên gốc vào năm 1992. Hiện nay nhà hát có một bức tượng bán thân của Hoàng hậu Marie nằm tại sảnh chính.
- 1 2 3 4 5 Huberty, Michel; Giraud, Alain; Magdelaine, F. and B. (1994). L'Allemagne Dynastique, Tome VII – Oldenbourg. France: Laballery. tr. 73, 232, 244, 258–260, 274. ISBN 2-901138-07-1.
- ↑ Korneva & Cheboksarova, Russia & Europe, tr. 22.
- ↑ Xem trang Tổng thống Ukraina.
- ↑ King, Greg The Last Empress: the Life and Times of Alexandra Feodorovna, Tsarina of Russia (Birch Lane Press, 1994), tr. 13.
- ↑ Van Der Kiste, tr. 67.
- ↑ Van Der Kiste, tr. 97.
- ↑ Radzinsky (2005), tr. 300.
- ↑ Tarsaidze (1970).
- ↑ Толмачев Е. П. Александр III и его время. М.: Терра, 2007. — ISBN 978-5-275-01507-2 (bằng tiếng Nga).
- ↑ McNaughton 1973, tr. 297–299.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 298.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 299–300.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 303.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 306.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 19–20.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 308.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 308–310.
- ↑ Bragança, Jose Vicente de; Estrela, Paulo Jorge (2017). "Troca de Decorações entre os Reis de Portugal e os Imperadores da Rússia" [Exchange of Decorations between the Kings of Portugal and the Emperors of Russia]. Pro Phalaris (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 16: 10. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Guía de forasteros en Madrid para el año de 1864 (bằng tiếng Tây Ban Nha). En la Imprenta Nacional. 1864. tr. 173.
- ↑ Guía oficial de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Imprenta Nacional. 1876. tr. 132.
Nguồn tài liệu
- Zeepvat, Charlotte (2006). Romanov Autum: the Last Century of Imperial Russia. Stroud: Sutton. ISBN 978-0-7509-4418-2.
- McNaughton, Arnold (1973). The book of kings : a royal genealogy. [New York] : Quadrangle/New York Times Book Co. ISBN 978-0-8129-0280-8.

