Charlotte Wilhelmine của Phổ
| Charlotte Wilhelmine của Phổ Charlotte Wilhelmine von Preußen | |||||
|---|---|---|---|---|---|
Charlotte Wilhelmine của Phổ trong lễ đăng quang cùng với chồng, Sa hoàng Nikolai I của Nga | |||||
| Hoàng hậu Đế quốc Nga | |||||
| Tại vị | 1 tháng 12 năm 1825 – 2 tháng 3 năm 1855 (29 năm, 91 ngày) | ||||
| Đăng quang | 3 tháng 9 năm 1826 | ||||
| Tiền nhiệm | Luise xứ Baden | ||||
| Kế nhiệm | Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein | ||||
| Hoàng thái hậu Nga | |||||
| Tại vị | 2 tháng 3 năm 1855 – 1 tháng 11 năm 1860 (5 năm, 244 ngày) | ||||
| Tiền nhiệm | Sophie Dorothee xứ Württemberg | ||||
| Kế nhiệm | Dagmar của Đan Mạch | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 13 tháng 7 năm 1798 Cung điện Charlottenburg, Berlin, Vương quốc Phổ | ||||
| Mất | 1 tháng 11 năm 1860 (62 tuổi) Cung điện Aleksandr, Tsarskoye Selo, Đế quốc Nga | ||||
| Phối ngẫu | Nikolai I của Nga | ||||
| Hậu duệ | |||||
| |||||
| Vương tộc | Nhà Hohenzollern Nhà Romanov (hôn nhân) | ||||
| Thân phụ | Friedrich Wilhelm III của Phổ | ||||
| Thân mẫu | Luise xứ Mecklenburg-Strelitz | ||||
| Tôn giáo | Chính thống giáo Nga trước là Tin Lành | ||||
Charlotte Wilhelmine của Phổ (Tiếng Đức: Charlotte Wilhelmine von Preußen; tiếng Anh: Charlotte Williamina of Prussia; tiếng Nga: Шарлотта Вильгельмина Прусская/Sharlotta Vilgelmina Prusskaya; 13 tháng 7 năm 1798 – 1 tháng 11 năm 1860), được biết đến ở Nga với cái tên Aleksandra Fyodorovna (tiếng Đức: Alexandra Fjodorowna Romanowa; tiếng Anh: Charlotte Wilhelmine Romanovna; tiếng Nga: Алекса́ндра Фёдоровна, IPA: [ɐlʲɪˈksandrə ˈfjɵdərəvnə]), là Hoàng hậu Đế quốc Nga với tư cách là vợ Nikolai I của Nga. Charlotte Wilhelmine là mẹ của vị Sa hoàng nổi tiếng Aleksandr II Người giải phóng, đồng thời cũng là em gái của 2 vị Quân chủ là Quốc vương Friedrich Wilhelm IV của Phổ và Hoàng đế Wilhelm I của Đức.
Vương nữ Phổ

Charlotte Wilhelmine sinh ngày 13 tháng 7 (lịch cũ: 1 tháng 7) năm 1798 tại Cung điện Charlottenburg, Berlin,[1] là con gái thứ hai và là người con thứ tư của Friedrich Wilhelm III của Phổ và Luise xứ Mecklenburg-Strelitz.[2] Vương nữ có một chị và hai anh, gồm có một chị gái sinh và mất ngày 7 tháng 10 năm 1794, Quốc vương Friedrich Wilhelm IV của Phổ, Hoàng đế Wilhelm I của Đức. Bên cạnh đó, Vương nữ cũng có sáu người em là Friederike (14 tháng 10 năm 1799 – 30 tháng 3 năm 1800), Karl, Alexandrine Marie, Ferdinand (13 tháng 12 năm 1804 – 1 tháng 4 năm 1806), Luise Auguste và Albrecht.[2] Vương nữ được biết với tên "Charlotte", một cái tên phổ biến trong Vương thất Phổ,[1] và được gia đình đặt biệt danh là "Lottchen".[3]
Tuổi thơ của Charlotte Wilhelmine chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc chiến tranh của Napoléon, và Vương nữ phải lớn lên trong hoàn cảnh túng thiếu.[4] Cha của vương nữ, Friedrich Wilhelm III, mặc dù là một người tốt bụng, sùng đạo nhưng lại là một vị vua yếu đuối và thiếu quyết đoán, khi ông đã đánh mất một nửa vương quốc sau những thất bại quân sự năm 1806. Mẹ của Charlotte Wilhelmine, Vương hậu Luise được ngưỡng mộ vì sắc đẹp, trí tuệ và sự quyến rũ, được coi là người quyết đoán hơn chồng.[1] Khi quân Phổ bị đánh bại trong Trận Jena, Vương hậu Luise đã mang theo các con chạy trốn đến Königsberg, trong đó có Charlotte Wilhelmine khi đó tám tuổi. Tại Đông Phổ, họ được Sa hoàng Aleksandr I bảo vệ. Vương hậu Luise viết về con gái mình: "Con gái ta, Charlotte, là người kín đáo và tập trung, nhưng giống như cha nó, vẻ ngoài lạnh lùng bên ngoài che giấu một trái tim ấm áp và giàu lòng trắc ẩn".[5] Ngày 27 tháng 10 năm 1806, Berlin rơi vào tay Napoléon, và Charlotte Wilhelmine lớn lên tại Memel, Phổ, một thành phố bị chiến tranh tàn phá. Tháng 12 năm 1809, Vương hậu Luise trở về Berlin cùng các con, nhưng chỉ sau vài tháng, bà lâm bệnh và qua đời ở tuổi 34 vì sốt phát ban, không lâu sau sinh nhật thứ 12 của Charlotte Wilhelmine.[4] Là con gái cả, vương nữ giờ đây là người phụ nữ có địa vị cao nhất trong triều đình và phải đảm nhận nhiệm vụ thay cho Vương hậu Luise. Suốt quãng đời còn lại, Charlotte Wilhelmine luôn trân trọng ký ức về mẹ.[6]
| Vương thất Phổ - Hoàng thất Đức |
| Vương tộc Hohenzollern |
|---|
| Friedrich Wilhelm III của Phổ |
|
Hôn nhân
Khi đi qua Berlin vào năm 1814, Đại vương công Nikolai Pavlovich, Sa hoàng tương lai của nước Nga đã gặp gỡ Vương nữ Charlotte Wilhelmine, bấy giờ được 15 tuổi, nàng dâu được chọn lựa bởi mẹ là Sophie Dorothee xứ Württemberg và anh trai. [7] Cả hai là chị em họ năm đời và cùng là cháu chút của Friedrich Wilhelm I của Phổ và Sophia Dorothea của Đại Anh.[a][8][9] Hai vương triều đã dàn xếp cho Nikolai kết hôn với Charlotte Wilhelmine, khi đó mười lăm tuổi, nhằm củng cố liên minh giữa Nga và Phổ.
Nikolai chỉ đứng thứ hai trong danh sách kế vị khi người thừa kế ngai vàng là anh trai ông, Đại vương công Konstantin Pavlovich, người cũng không có con giống như Sa hoàng Aleksandr I. Trong chuyến thăm thứ hai vào năm sau đó, Nikolai đã phải lòng Charlotte Wilhelmine, khi đó mười bảy tuổi. Nikolai có thân hình cao ráo, đẹp trai với những đường nét cổ điển.[7] Tương tự, Charlotte Wilhelmine cũng phải lòng Nikolai, "Em thích chàng ấy và chắc chắn sẽ hạnh phúc bên chàng". Vương nữ viết cho anh trai, "Điều cả hai có chung là đời sống nội tâm; hãy để thế giới làm những gì nó muốn, trong trái tim chúng ta có một thế giới riêng". Nikolai và Charlotte Wilhelmine đính hôn vào lúc cuối chuyến thăm, vào tháng 10 năm 1816.[10]

Vào ngày 9 tháng 6 năm 1817 (theo lịch cũ), Charlotte Wilhelmine đến Nga cùng với anh trai Wilhelm.[11] Sau khi đến Sankt-Peterburg, Vương nữ cải đạo sang Chính thống giáo Nga và lấy tên tiếng Nga là Aleksandra Fyodorovna. Vào sinh nhật lần thứ mười chín, ngày 13 tháng 7 (lịch cũ: 1 tháng 7) năm 1817, bà và Nikolai kết hôn tại Nhà thờ Lớn của Cung điện Mùa đông.[12] Charlotte Wilhelmine về sau viết về lễ cưới: "Ta cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi tay cả hai nắm chặt lấy nhau", "Với niềm tin tuyệt đối, ta đã trao cả cuộc đời mình vào tay Nikolai, và chàng chưa bao giờ phản bội ta dù chỉ một lần".[13] Tại thời điểm thành hôn, Charlotte là nàng dâu ngoại quốc có xuất thân danh giá nhất tại thời điểm đó khi là con gái của một đương kim Quốc vương, trong khi hai người chị dâu là Luise và Juliane lần lượt là cháu gái một Phiên Hầu tước và con gái Công tước.[b][14][15] Thậm chí mẹ chồng của Charlotte Wilhelmine là Sophie Dorothee cũng là con gái Công tước[16] và bà nội chồng, Yekaterina II của Nga, xuất thân cũng chỉ là con gái của một Thân vương.[17] Ngoài ra, Charlotte Christine xứ Braunschweig-Wolfenbüttel, con dâu của Pyotr I của Nga, xuất thân là Công nữ[18] và Wilhelmine xứ Hessen-Darmstadt, người vợ đầu của Pavel I của Nga, cũng chỉ là con gái của một Phiên địa Bá tước.[19]
Đại vương công phu nhân Nga

Charlotte Wilhelmine ban đầu gặp khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống tại triều đình Nga. Sự thay đổi tôn giáo đã ảnh hưởng đến Charlotte Wilhelmine và bà cảm thấy choáng ngợp trước môi trường mới. Dù được mẹ chồng yêu mến, nhưng Charlotte Wilhelmine lại không hòa thuận với chị dâu là Luise xứ Baden, bấy giờ là đương kim Hoàng hậu. Charlotte Wilhelmine về sau nhớ lại: "Ta rất yếu ớt, xanh xao và (họ cho rằng) trông rất thu hút".[20]
Khi mang thai đứa con đầu lòng, Charlotte Wilhelmine chuyển đến Moskva, nơi bà sinh con trai đầu lòng là Sa hoàng tương lai Aleksandr II vào ngày 29 tháng 4 (lịch cũ: 17 tháng 4) năm 1818.[20] Một năm sau, vào ngày 18 tháng 8 (lịch cũ: 6 tháng 8) năm 1819 tại Krasnoye Selo, Charlotte Wilhelmine hạ sinh người con thứ hai là Mariya Nikolayevna. Mùa hè năm đó, Sa hoàng Aleksandr I đã bí mật thông báo với Nikolai và Charlotte Wilhelmine về ý định thoái vị, và việc Nikolai sẽ kế vị ngai vàng sau khi Đại vương công Konstantin dự định kết hôn không đăng đối.[21] Vào năm 1820, Charlotte Wilhelmine hạ sinh con gái nhưng đã chết lưu, và điều này khiến bà rơi vào cảnh trầm cảm sâu sắc. Các bác sĩ khuyên Đại vương công phu nhân nên đi nghỉ dưỡng, và vào mùa thu năm 1820, Nikolai đưa Charlotte Wilhelmine đến thăm gia đình tại Berlin, nơi họ ở lại cho đến mùa hè năm 1821, rồi trở lại Moskva vào mùa hè năm 1824. Cả hai không quay trở lại Sankt-Peterburg cho đến tháng 3 năm 1825, khi Sa hoàng Aleksandr I yêu cầu hai vợ chồng có mặt tại Nga.
Trong năm đầu ở Nga, Charlotte Wilhelmine dành thời gian học ngôn ngữ và phong tục của đất nước dưới sự hướng dẫn của nhà thơ Vasily Andreyevich Zhukovsky, người mà bà mô tả là "quá nhiều chất thơ để có thể làm một người thầy giỏi". Hoàng thất sử dụng tiếng Đức và viết thư bằng tiếng Pháp, ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi tại triều đình Nga, do đó Charlotte Wilhelmine chưa bao giờ hoàn toàn thông thạo tiếng Nga.[22]
Charlotte Wilhelmine đã viết trong hồi ký về những năm đầu tiên tại Nga: "Cả hai chỉ thực sự hạnh phúc khi được ở bên nhau trong phòng, ta ngồi trên đùi Nikolai trong khi chàng âu yếm và dịu dàng với ta". Nikolai đặt biệt danh cho vợ mình là "Mouffy",[23] và cặp vợ chồng sống yên bình trong tám năm dưới triều đại của Sa hoàng Aleksandr I. Vào năm 1825, Aleksandr I ban tặng Charlotte Wilhelmine Cung điện Peterhof, nơi bà và Nikolai sinh sống. Nơi đây là dinh thự mùa hè yêu thích của Charlotte Wilhelmine.[24]
Hoàng hậu Nga

Charlotte Wilhelmine trở thành Hoàng hậu khi Nikolai lên ngôi Sa hoàng vào tháng 12 năm 1825, lấy tên hiệu là Nikolai I, trong một thời kỳ hỗn loạn với cuộc đàn áp đẫm máu của Khởi nghĩa tháng Chạp. Cả hai được làm lễ tấn phong và đăng quang tại Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời trong Điện Kremli vào ngày 3 tháng 9 năm 1826.
Charlotte Wilhelmine hài lòng với sự tin tưởng của Nikolai trong các vấn đề quốc sự, nhưng ngoài tình cảm dành riêng cho quê hương Phổ, bà không quan tâm đến chính trị. Charlotte Wilhelmine là người tuân thủ và hết lòng ủng hộ quan điểm của chồng.[25][26] Bà không quan tâm đến công việc từ thiện, và chỉ quan tâm đến chuyện gia đình, các buổi dạ hội và trang sức.[26]
Đến năm 1832, Nikolai và Charlotte Wilhelmine có bảy người con, tất cả được nuôi dạy một cách chu đáo. Năm 1837, khi phần lớn Cung điện Mùa đông bị phá hủy bởi hỏa hoạn, Nikolai được cho là đã nói với một phụ tá rằng: "Hãy để mọi thứ khác cháy rụi, chỉ cần giữ lại cho ta chiếc hộp nhỏ đựng thư trong phòng làm việc mà vợ ta đã viết cho ta khi nàng còn là hôn thê".[27]
Tuy nhiên sau hơn 25 năm chung sống, Nikolai đã có tình nhân Varvara Nelidova, một trong những nữ quan của Charlotte Wilhelmine, sau khi các bác sĩ cấm Hoàng hậu khỏi chuyện chăn gối do sức khỏe yếu và chứng đau tim tái phát. Trên thực tế, Nikolai có ít nhất ba người con ngoài giá thú được biết đến, sinh trước năm 1842. Nikolai tiếp tục tìm kiếm sự an ủi khỏi những lo toan của triều đình trong vòng tay của Charlotte Wilhelmine. "Hạnh phúc, niềm vui và sự thanh thản - đó là những gì ta tìm kiếm và tìm thấy ở người vợ già Mouffy của ta", ông từng viết.[30] Năm 1845, Nikolai đã khóc khi các bác sĩ trong cung khuyên Hoàng hậu nên đến Palermo một vài tháng vì sức khỏe yếu. Ông van xin các bác sĩ của Charlotte Wilhelmine: "Hãy để vợ ta yên!"[30], và khi biết rằng vợ mình không còn lựa chọn nào khác, Nikolai đã lên kế hoạch đến bên Charlotte Wilhelmine trong một thời gian ngắn. Nelidova đã đi cùng cả hai, và mặc dù ban đầu ghen tuông, nhưng Charlotte Wilhelmine dần dần chấp nhận mối quan hệ của Nikolai và vẫn giữ hòa hợp với tình nhân của chồng.
Charlotte Wilhelmine luôn yếu ớt và có sức khỏe kém. Ở tuổi bốn mươi, bà trông già hơn so với tuổi thật và ngày càng trở nên gầy gò. Trong một thời gian dài, Charlotte Wilhelmine bị chứng co giật thần kinh, sau đó biến thành chứng run rẩy dữ dội ở đầu.[31][32] Năm 1837, Charlotte Wilhelmine chọn một khu nghỉ dưỡng ở Krym làm nơi ở mới. Tại đây, Sa hoàng Nikolai ra lệnh xây dựng Cung điện Oreanda dành cho Hoàng hậu. Tuy nhiên, Charlotte Wilhelmine chỉ có thể đến thăm cung điện một lần khi Chiến tranh Krym bắt đầu nổ ra vào năm 1852. Đến cuối năm 1854, Charlotte Wilhelmine lâm bệnh và suýt mất mạng,[33] nhưng đã hồi phục được khỏi bệnh. Năm 1855, Sa hoàng Nikolai bị nhiễm cúm và qua đời vào ngày 6/18 tháng 2.
Hoàng thái hậu và những năm cuối đời

Charlotte Wilhelmine sống lâu hơn chồng năm năm. Bà lui về sống tại Cung điện Aleksandr tại Tsarskoe Selo và vẫn giữ mối quan hệ tốt với tình nhân của người chồng quá cố, Varvara Nelidova, người mà bà bổ nhiệm làm người đọc sách riêng.[34]
Sức khỏe của Charlotte Wilhelmine ngày càng trở nên yếu đi theo năm tháng. Không thể chịu đựng được những mùa đông khắc nghiệt tại Nga, bà buộc phải thực hiện những chuyến đi dài ngày đến Thụy Sĩ, Nice và Roma. Vào tháng 9 năm 1859, Charlotte Wilhelmine viết: "Ta nhớ quê hương và tự trách mình vì đã tiêu tốn quá nhiều tiền vào thời điểm nước Nga đang cần từng đồng rúp. Nhưng ta bị ho và cái phổi yếu của ta không thể chịu đựng được nếu không có khí hậu phương Nam".[35]
Sau khi trở về từ chuyến đi nước ngoài vào tháng 7 năm 1860, sức khỏe của Charlotte Wilhelmine vẫn không trở nên tốt hơn. Vào mùa thu năm 1860, các bác sĩ nói với Hoàng thái hậu rằng bà sẽ không sống sót qua mùa đông nếu không đi thêm một chuyến nữa về phía nam. Biết được nguy hiểm, Charlotte Wilhelmine đã chọn ở lại Sankt-Peterburg để có thể qua đời trên đất Nga. Vào đêm trước khi qua đời, người ta nghe thấy Hoàng thái hậu nói: "Niki, ta đang đến với chàng."[36] Charlotte Wilhelmine qua đời trong giấc ngủ ở tuổi 62 vào ngày 1 tháng 11 năm 1860 tại Cung điện Aleksandr tại Tsarskoe Selo.
Hậu duệ
Charlotte Wilhelmine và chồng có với nhau 11 người con:[37]
| Chân dung | Tên | Sinh | Mất | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Hoàng đế Aleksandr II | 29 tháng 4 năm 1818 | 13 tháng 3 năm 1881 | Kết hôn lần thứ nhất năm 1841 với Marie Maximiliane xứ Hessen và Rhein và có hậu duệ. Sau đó tái hôn (không đăng đối) năm 1880 với Yekaterina Dolgorukova, Nữ Thân vương Yuryevskaya và có hậu duệ.[38] | |
| Đại vương công Mariya Nikolayevna | 18 tháng 8 năm 1819 | 21 tháng 2 năm 1876 | Kết hôn lần thứ nhất năm 1839 với Maximilian của Leuchtenberg và có hậu duệ.[39] Sau đó tái hôn với Bá tước Grigoriy Aleksandrovich Stroganov và có hậu duệ.[40] | |
| Con gái chết lưu | 22 tháng 7 năm 1820 | 22 tháng 7 năm 1820 | ||
| Đại vương công Olga Nikolayevna | 11 tháng 9 năm 1822 | 30 tháng 10 năm 1892 | Kết hôn năm 1846 với Karl I của Württemberg; không có hậu duệ.[41] | |
| Con gái chết lưu | 23 tháng 10 năm 1823 | 23 tháng 10 năm 1823 | ||
| Đại vương công Aleksandra Nikolayevna | 24 tháng 6 năm 1825 | 10 tháng 8 năm 1844 | Kết hôn năm 1844 với Friedrich Wilhelm của Hessen-Kassel và có hậu duệ (mất khi mới sinh).[42] | |
| Đại vương công Yelizaveta Nikolayevna | 26 tháng 5 năm 1826 | Mất khi còn bé | ||
| Đại vương công Konstantin Nikolayevich | 21 tháng 9 năm 1827 | 25 tháng 1 năm 1892 | Kết hôn năm 1848 với Alexandra xứ Sachsen-Altenburg và có hậu duệ.[43] | |
| Con gái chết lưu | 5 tháng 10 năm 1829 | 5 tháng 10 năm 1829 | ||
| Đại vương công Nikolay Nikolayevich | 8 tháng 8 năm 1831 | 25 tháng 4 năm 1891 | Kết hôn năm 1856 với Aleksandra xứ Oldenburg và có hậu duệ.[44] | |
| Đại vương công Mikhail Nikolayevich | 25 tháng 10 năm 1832 | 18 tháng 12 năm 1909 | Kết hôn năm 1857 với Cäcilie của Baden và có hậu duệ.[45] |
Huân chương
- Vương quốc Phổ: Bậc Quý bà của Huân chương Luise, Đẳng thứ 1[46]
- Vương quốc Bồ Đào Nha: Bậc Quý bà của Huân chương Vương hậu Thánh Isabel, 31 tháng 5 năm 1850[47]
- Đế quốc Nga: Đại Thánh giá của Huân chương Thánh Yekaterina, 13 tháng 1 năm 1809[48]
- Vương quốc Lập hiến Ba Lan: Huân chương Đại bàng trắng, 1829[49]
- Vương quốc Tây Ban Nha: Bậc Quý bà của Huân chương Vương hậu María Luisa, 14 tháng 5 năm 1826[50]
Gia phả
| Gia phả của Charlotte Wilhelmine của Phổ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Ghi chú
- ↑ Đối với gia phả của Charlotte WIlhelmine của Phổ, xem phần #Gia phả. Với Nikolai I của Nga, gia phả như sau: Nikolai I của Nga – Sophie Dorothee xứ Württemberg – Friederike Dorothea Sophia của Brandenburg-Schwedt – Sophie Dorothea của Phổ – Friedrich Wilhelm I của Phổ và Sophia Dorothea của Đại Anh.
- ↑ Tại thời điểm kết hôn, ông nội của Luise xứ Baden mới chỉ là Phiên Hầu tước xứ Baden, chỉ đến năm 1806 thì mới trở thành Đại Công tước.
Tham khảo
- 1 2 3 Barkovets & Vernovava, Empress Alexandra Feodorovna, tr. 8
- 1 2 3 4 McNaughton 1973a, tr. 48–49.
- ↑ Barkovets & Vernovava, Empress Alexandra Feodorovna, tr. 12
- 1 2 Barkovets & Vernovava, Empress Alexandra Feodorovna, tr. 15
- ↑ Barkovets & Vernovava, Empress Alexandra Feodorovna, tr. 18
- ↑ Grunwald, Tsar Nicholas I, tr. 138
- 1 2 Soroka & Ruud 2016, tr. 32.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 44–49.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 44–45, 78, 220–221, 293–294.
- ↑ Montefiore, The Romanovs , tr. 328
- ↑ Lincoln, Nicholas I Emperor and Autocrat of all the Russias, tr. 66
- ↑ Montefiore, The Romanovs , tr. 328
- ↑ Lincoln, The Romanovs, tr. 414
- ↑ Gerteis, Klaus. "Karl Friedrich - Deutsche Biographie". www.deutsche-biographie.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 295.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 293.
- ↑ Hatt, Christine (2002). Catherine the Great. London : Evans. tr. 6. ISBN 978-0-237-52245-2.
- ↑ Sebag Montefiore 2017, tr. 113.
- ↑ McGrew, Roderick E. (Roderick Erle) (1992). Paul I of Russia, 1754-1801. Oxford : Clarendon Press ; New York : Oxford University Press. tr. 83–84. ISBN 978-0-19-822567-6.
- 1 2 Montefiore, The Romanovs , tr. 329
- ↑ Montefiore, The Romanovs , tr. 330
- ↑ Soroka & Ruud, Becoming a Romanov , tr. 33
- ↑ Lincoln, The Romanovs, tr. 418
- ↑ "4 sex scandals in the Romanov family" (bằng tiếng Anh). Russia Beyond the Headlines. ngày 8 tháng 8 năm 2018.
- ↑ nguyên văn là: She was the obedient and admiring supporter of her husband's views
- 1 2 Grunwald, Tsar Nicholas I, tr. 137
- ↑ Lincoln, The Romanovs, tr. 417
- "Stack's Bowers Galleries Rare Coin and Banknote Auctioneers". Stack's Bowers. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Stack's Bowers Galleries Rare Coin and Banknote Auctioneers". Stack's Bowers. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2022.
- 1 2 Lincoln, The Romanovs, tr. 418
- ↑ nguyên văn là: At forty, she looked far older than her years, becoming increasingly thin. For a long time, she suffered from a nervous twitching that became a convulsive shaking of her head.
- ↑ nguyên văn: For a long time, she suffered from a nervous twitching that became a convulsive shaking of her head.
- ↑ Lincoln, The Romanovs, tr. 425
- ↑ Grunwald, Tsar Nicholas I, tr. 289.
- ↑ Letter from Alexandra Feodorovna to Meyendorff in September 1859. Grunwald, Tsar Nicholas I, tr. 289.
- ↑ Tsar Nicholas I The Life of an absolute monarch: Constantin de Grunwald, tr. 289 quoted from a letter from Meyerdorff to his son
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 296–297.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 297–299.
- ↑ McNaughton 1973b, tr. 991–992.
- ↑ McNaughton 1973b, tr. 1008.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 224.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 124.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 312–313.
- ↑ McNaughton 1973, tr. 317–318.
- ↑ McNaughton 1973a, tr. 320–321.
- ↑ Decker, biên tập (1821). Handbuch über den Königlich Preußischen Hof und Staat. Berlin. tr. 72.
- ↑ Bragança, Jose Vicente de; Estrela, Paulo Jorge (2017). "Troca de Decorações entre os Reis de Portugal e os Imperadores da Rússia" [Exchange of Decorations between the Kings of Portugal and the Emperors of Russia]. Pro Phalaris (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 16: 9. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
- ↑ Almanach de la cour: pour l'année ... 1817. l'Académie Imp. des Sciences. 1817. tr. 70.
- ↑ Kawalerowie i statuty Orderu Orła Białego 1705–2008 (2008), tr. 289
- ↑ "Real orden de Damas Nobles de la Reina Maria Luisa". Guía de forasteros en Madrid para el año de 1835 (bằng tiếng Tây Ban Nha). En la Imprenta Nacional. 1835. tr. 84.
- 1 2 McNaughton 1973a, tr. 44–45.
- 1 2 McNaughton 1973a, tr. 46.
- 1 2 McNaughton 1973a, tr. 46–47.
Nguồn tài liệu
- Sebag Montefiore, Simon (2017). The Romanovs: 1613-1918. New York: Vintage Books, A division of Penguin Random House LLC. ISBN 978-0-307-28051-0.
- Soroka, Marina; Ruud, Charles A. (ngày 9 tháng 3 năm 2016). Becoming a Romanov. Grand Duchess Elena of Russia and her World (1807–1873) [Trở Thành Một Romanov. Đại Thân Vương Phi Yelena Của Nga (Charlotte của Württemberg) Và Thế Giới Của Người] (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-317-17587-2.
- McNaughton, Arnold (1973a). The Book of Kings: A Royal Genealogy [Sách Các Vua: Gia Phả Vương Thất] (bằng tiếng Anh). [New York] : Quadrangle/New York Times Book Co. ISBN 978-0-8129-0280-8.
- McNaughton, Arnold (1973b). The Book of Kings: A Royal Genealogy [Sách Các Vua: Gia Phả Vương Thất] (bằng tiếng Anh). [New York] : Quadrangle/New York Times Book Co. ISBN 978-0-8129-0280-8.

