Irene Paredes
Paredes vào năm 2023 | |||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Irene Paredes Hernández[1] | ||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 4 tháng 7, 1991 [1] | ||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Legazpi, Tây Ban Nha[2] | ||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,77 m[1] | ||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Trung vệ | ||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Barcelona | ||||||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 2 | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2005–2006 | Ilintxa | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2006–2007 | Urola | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2007–2008 | Zarautz | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2008–2011 | Real Sociedad | 82 | (6) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2011–2016 | Athletic Bilbao | 128 | (18) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2016–2021 | Paris Saint-Germain | 85 | (13) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2021– | Barcelona | 90 | (8) | ||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2011– | Tây Ban Nha | 117 | (14) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2012–2022 | Xứ Basque | 4 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 20:24, 10 May 2024 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 18:52, 9 April 2024 (UTC) | |||||||||||||||||||||||||||||
Irene Paredes Hernández (sinh ngày 4 tháng 7 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha[3] hiện đang chơi ở vị trí trung vệ cho câu lạc bộ Liga F Barcelona và là đội trưởng của đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha.[4]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Real Sociedad
Sinh ra tại Legazpi, Gipuzkoa thuộc Xứ Basque, Paredes gia nhập đội bóng địa phương Zarautz vào năm 2007. Một năm sau, cô chuyển đến Real Sociedad. Vào ngày 5 tháng 10 năm 2008, cô có trận ra mắt đội một trước Málaga trong một trận đấu tại giải vô địch quốc gia.[5]
Athletic Bilbao
Sau ba mùa giải tại Real Sociedad, Paredes ký hợp đồng với đối thủ cùng vùng là Athletic Bilbao vào năm 2011. Cô bị đuổi khỏi sân lần đầu tiên trong sự nghiệp trong trận thua 1–2 trước Espanyol sau hiệp phụ tại trận chung kết Copa de la Reina 2012. Những nỗi thất vọng tiếp theo kéo đến trong hai năm sau đó khi Athletic để thua trong trận đấu quyết định danh hiệu vô địch quốc gia trước Barcelona vào năm 2013,[6] sau đó lại bị chính đối thủ này đánh bại trong trận chung kết Copa de la Reina 2014, nơi Paredes là cầu thủ duy nhất không thực hiện thành công quả đá trong loạt sút luân lưu.[7] Tuy nhiên, trong mùa giải cuối cùng của cô trong năm mùa giải tại đây, 2015–16, câu lạc bộ đã lên ngôi vô địch giải đấu.[8][9] Cô cũng giành được ba Copa Euskal Herria trước đội bóng cũ Real Sociedad vào các năm 2011, 2013 và 2015.
Paris Saint-Germain
Năm 2016, Paredes ký hợp đồng với Paris Saint-Germain. Cô thi đấu mùa giải UEFA Women's Champions League đầu tiên sau khi gia nhập PSG và lọt vào trận chung kết, nơi đội bóng của cô để thua 6–7 trên loạt sút luân lưu trước Lyon.[10]
Vào ngày 31 tháng 5 năm 2018, cô giành được danh hiệu đầu tiên cùng câu lạc bộ khi PSG đánh bại Lyon 1–0 trong trận chung kết Coupe de France Féminine 2018.[11] Cô được bổ nhiệm làm đội trưởng của PSG trước khi bắt đầu mùa giải 2018–19.[12]
Vào tháng 5 năm 2019, Paredes gia hạn hợp đồng với PSG thêm hai năm, giữ chân cô ở lại câu lạc bộ cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2021.[13] Vào ngày 21 tháng 9, Paredes thi đấu trận chung kết đầu tiên với tư cách đội trưởng nhưng PSG đã để thua 3–4 trên loạt sút luân lưu trước Lyon trong giải đấu khai mạc Trophée des Championnes.[14]
Vào ngày 4 tháng 6 năm 2021, Paredes đã dẫn dắt PSG giành chức vô địch giải quốc nội lần đầu tiên trong lịch sử, chấm dứt chuỗi 14 chức vô địch liên tiếp của Lyon.[15] Cô cũng đưa PSG vào đến bán kết của Women's Champions League, nơi đội bóng của cô thua nhà vô địch năm đó là Barcelona.
Barcelona
Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, Paredes ký hợp đồng hai năm với Barcelona sau khi hợp đồng với PSG hết hạn.[16] Vào ngày 4 tháng 9, Paredes có trận ra mắt chính thức cho Barcelona trong chiến thắng hủy diệt 5–0 trước Granadilla Tenerife.[17] Ngày 17 tháng 10, Paredes ghi bàn thắng đầu tiên cho Barcelona trong chiến thắng 5–0 trước Sporting Huelva. Ngày 17 tháng 11, cô ghi bàn thắng đầu tiên tại Women's Champions League cho Barcelona bằng một cú đánh đầu nâng tỷ số lên 2–0 trong trận thắng 5–0 trước 1899 Hoffenheim ở vòng bảng.[18]
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2022, Paredes giành danh hiệu đầu tiên với Barcelona sau khi đội bóng đè bẹp Atlético Madrid 7–0 trong trận chung kết để giành chức vô địch Supercopa de España Femenina lần thứ hai.[19] Ngày 9 tháng 2, Paredes trở lại sau khi khỏi Covid-19 và ghi bàn thắng thứ tư trong chiến thắng 9–1 trước Real Sociedad.[20] Ngày 13 tháng 2, Paredes bị rách cơ đùi trái trong trận thắng 3–0 trước Athletic Bilbao và phải nghỉ thi đấu hơn bốn tuần.[21] Ngày 13 tháng 3, Paredes giành chức vô địch quốc gia Tây Ban Nha lần thứ hai, và là lần đầu tiên với Barça, sau khi Barcelona thắng Real Madrid 5–0.[22] Ngày 22 tháng 3, Paredes trở lại sau chấn thương khi vào sân ở phút 65 trong chiến thắng 3–1 trước Real Madrid ở lượt đi tứ kết Champions League.[23] Ngày 30 tháng 3, cô có trận ra mắt tại Camp Nou trong trận lượt về tứ kết, nơi Barça thắng Real Madrid 5–2.[24] Ngày 21 tháng 5, Paredes đá chính trong trận đấu với Lyon nhưng Barcelona đã để thua 1–3 trong trận chung kết Champions League tại Allianz Stadium ở Turin.[25] Ngày 29 tháng 5, cô giành danh hiệu thứ ba với Barcelona khi đội bóng đè bẹp Sporting Huelva 6–1 trong trận chung kết Copa de la Reina.[26]
Vào ngày 18 tháng 8, Paredes được công bố là đội phó thứ năm (fifth captain) của Barcelona trước khi mùa giải mới bắt đầu.[27]
Vào ngày 19 tháng 1 năm 2023, Paredes bị thẻ đỏ trong chiến thắng 3–1 của Barcelona trước Real Madrid ở bán kết 2022-23 Supercopa de España Femenina và do đó bị treo giò trong trận chung kết. Ba ngày sau, đội bóng của cô đánh bại Real Sociedad 3–0 để giành chức vô địch.[28] Ngày 27 tháng 1, Paredes gia hạn hợp đồng với Barcelona đến tháng 6 năm 2025.[29] Ngày 30 tháng 4, cô giành chức vô địch quốc gia lần thứ hai với Barcelona khi đội đánh bại Sporting Huelva 3–0.[30] Ngày 3 tháng 6, Paredes thi đấu trọn vẹn trận đấu khi Barcelona lội ngược dòng thắng 3–2 trước VfL Wolfsburg trong trận chung kết để giành danh hiệu Women's Champions League đầu tiên của cô.[31]
Cô bắt đầu mùa giải 2023–24 với một số vấn đề về chấn thương và sức khỏe, nhưng đã hồi phục để trở thành thủ lĩnh hàng thủ của đội khi Mapi León vắng mặt dài hạn do chấn thương. Để khép lại mùa giải hoàn hảo của Barcelona, Paredes đã có một pha phá bóng ngay trên vạch vôi trong trận chung kết Champions League 2024 đối đầu với Lyon, giúp đội bóng giành chức vô địch Champions League thứ hai liên tiếp.
Sự nghiệp quốc tế
Cô thi đấu những phút đầu tiên cho đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha vào tháng 11 năm 2011 trong trận đấu với Romania.[32] Vào tháng 6 năm 2013, huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Ignacio Quereda xác nhận Paredes là thành viên của đội hình 23 cầu thủ tham dự vòng chung kết UEFA Women's Euro 2013 tại Thụy Điển.[33] Tại giải đấu này, cô đã không may phản lưới nhà trong trận thua 1–3 của Tây Ban Nha trước Na Uy ở tứ kết.[34] Vào ngày 27 tháng 10 năm 2013, cô ghi bàn thắng đầu tiên cho Tây Ban Nha trong chiến thắng 6–0 trên sân nhà trước Estonia tại vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015. Cô cũng được triệu tập vào đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015 tại Canada[1] và Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 tại Pháp.[35][36] Vào ngày 5 tháng 3 năm 2018, cô đánh dấu lần thứ 50 ra sân cho đội tuyển bằng bàn mở tỷ số từ một cú đánh đầu trong chiến thắng 2–0 trước Cộng hòa Séc ở trận vòng bảng cuối cùng của Cúp bóng đá nữ Síp 2018.[37]
Vào ngày 14 tháng 2 năm 2022, Paredes phải rút lui khỏi giải đấu Arnold Clark Cup lần đầu tiên sau khi bị rách cơ đùi trái và được thay thế bởi Sheila García.[38]
Paredes là một phần của đội hình Tây Ban Nha được triệu tập tham dự UEFA Women's Euro 2022.[39]
Paredes được triệu tập vào đội hình 23 cầu thủ Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023.[40]
Vào ngày 6 tháng 4 năm 2023, Paredes đã trở lại đội tuyển quốc gia trong chiến thắng giao hữu quốc tế 4–2 trước Na Uy sau khi cô từng rút khỏi đội tuyển cùng với vai trò đội trưởng vào tháng 10 năm 2022, sau những bất đồng giữa một số cầu thủ và RFEF về các điều kiện không thuận lợi trong phòng thay đồ.[41] Vào ngày 20 tháng 8, cô đã giành chức vô địch FIFA Women's World Cup sau khi Tây Ban Nha đánh bại Anh 1–0 trong trận chung kết. Ngày 1 tháng 12, cô trở lại sau chấn thương để thi đấu trận thứ 100 cho đội tuyển quốc gia trong trận thua 2–3 trước Ý ở vòng bảng Giải vô địch bóng đá nữ các quốc gia châu Âu 2023–24.[42]
Vào ngày 25 tháng 7 năm 2024, Paredes được triệu tập vào đội hình Tây Ban Nha tham dự Thế vận hội 2024, nơi họ để thua Đức trong trận tranh huy chương đồng.[43]
Vào ngày 10 tháng 6 năm 2025, Paredes được triệu tập vào đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025.[44]
Đời tư
Paredes đang trong mối quan hệ với cựu vận động viên khúc côn cầu trên cỏ Tây Ban Nha Lucía Ybarra.[45] Trong thời gian thi đấu tại PSG, cặp đôi đã sống cùng nhau tại Saint-Germain-en-Laye.[46]
Vào tháng 4 năm 2021, Paredes và Ybarra thông báo rằng họ đang mong chờ đứa con đầu lòng.[47] Ngày 13 tháng 9, Paredes thông báo về sự chào đời của con trai Mateo, người sinh ra một ngày trước đó, trong một bài đăng trên Instagram.[48] Paredes trước đó đã đề nghị huấn luyện viên Jorge Vilda không triệu tập cô vào đội tuyển quốc gia tại vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 do sắp đến kỳ sinh nở.[49] Ybarra và Mateo đã đồng hành cùng Paredes đến giải đấu World Cup nữ 2023 tại New Zealand và Úc.[50]Vào tháng 2 năm 2026, Paredes và bạn đời Ybarra đã chào đón đứa con thứ hai, Lea Paredes Ybarra, cái tên được công bố qua bài đăng Instagram của Ybarra một tuần sau khi đứa trẻ ra đời.
Phong cách thi đấu
Paredes được mô tả là một hậu vệ đa năng, người có sự hiện diện đầy uy lực trên không.[cần dẫn nguồn] Cô cũng là một hậu vệ chơi chân rất kỹ thuật và có năng khiếu khi đóng góp vào quá trình triển khai bóng của đội nhà bằng cách rê bóng lên phía trên và kết nối với các cầu thủ tấn công. Cô là một mối đe dọa tấn công bên trong vòng cấm đối phương từ các tình huống đá phạt trực tiếp và phạt góc, như cô đã chứng minh qua khả năng ghi bàn bằng đầu ấn tượng.[51][52]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 10 tháng 5 năm 2024
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải quốc nội | Cúp quốc gia | UWCL | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Real Sociedad | 2008–09 | Superliga Femenina | 27 | 0 | 0 | 0 | – | – | 27 | 0 | ||
| 2009–10 | 28 | 4 | 2 | 0 | – | – | 30 | 4 | ||||
| 2010–11 | 27 | 2 | 5 | 1 | – | – | 32 | 3 | ||||
| Tổng cộng | 82 | 6 | 7 | 1 | – | – | 89 | 7 | ||||
| Athletic Bilbao | 2011–12 | Primera División | 33 | 2 | 2 | 0 | – | – | 35 | 2 | ||
| 2012–13 | 19 | 2 | 2 | 1 | – | – | 21 | 3 | ||||
| 2013–14 | 30 | 2 | 5 | 0 | – | – | 35 | 2 | ||||
| 2014–15 | 21 | 3 | 1 | 0 | – | – | 22 | 3 | ||||
| 2015–16 | 25 | 9 | 1 | 0 | – | – | 26 | 9 | ||||
| Tổng cộng | 128 | 19 | 11 | 1 | – | – | 139 | 20 | ||||
| Paris Saint-Germain | 2016–17 | Division 1 Féminine | 18 | 2 | 2 | 0 | 9 | 3 | – | 29 | 5 | |
| 2017–18 | 20 | 3 | 5 | 2 | – | – | 25 | 5 | ||||
| 2018–19 | 12 | 2 | 3 | 0 | 4 | 0 | – | 19 | 2 | |||
| 2019–20 | 14 | 0 | 5 | 2 | 5 | 0 | 1[a] | 0 | 25 | 2 | ||
| 2020–21 | 21 | 6 | – | 6 | 2 | – | 27 | 8 | ||||
| Tổng cộng | 85 | 13 | 15 | 4 | 24 | 5 | 1 | 0 | 125 | 22 | ||
| Barcelona | 2021–22 | Primera División | 24 | 4 | 2 | 0 | 10 | 1 | 2[b] | 0 | 38 | 5 |
| 2022–23 | 25 | 2 | 0 | 0 | 11 | 2 | 1[b] | 0 | 37 | 4 | ||
| 2023–24 | 18 | 0 | 5 | 0 | 6 | 0 | 2[b] | 0 | 31 | 0 | ||
| 2024–25 | 23 | 2 | 4 | 1 | 10 | 2 | 2 | 0 | 39 | 5 | ||
| Tổng cộng | 90 | 8 | 11 | 1 | 37 | 5 | 7 | 0 | 144 | 14 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 385 | 46 | 44 | 7 | 61 | 10 | 8 | 0 | 498 | 63 | ||
- ↑ Ra sân tại Trophée des Championnes
- 1 2 3 Ra sân tại Supercopa de España Femenina
Quốc tế
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Tây Ban Nha trước, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Paredes.
| STT | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 27 tháng 10 năm 2013 | Ciudad Deportiva Collado Villalba, Collado Villalba, Tây Ban Nha | 6–0 | 6–0 | Vòng loại World Cup nữ 2015 | |
| 2 | 20 tháng 9 năm 2016 | Butarque, Leganés, Tây Ban Nha | 2–0 | 5–0 | Vòng loại UEFA Euro nữ 2017 | |
| 3 | 3–0 | |||||
| 4 | 23 tháng 10 năm 2017 | Sân vận động Ramat Gan, Ramat Gan, Israel | 1–0 | 6–0 | Vòng loại World Cup nữ 2019 | |
| 5 | 3–0 | |||||
| 6 | 28 tháng 11 năm 2017 | Estadi de Son Moix, Palma, Tây Ban Nha | 3–0 | 4–0 | Vòng loại World Cup nữ 2019 | |
| 7 | 5 tháng 3 năm 2018 | AEK Arena – Georgios Karapatakis, Larnaca, Síp | 1–0 | 2–0 | Cyprus Women's Cup 2018 | |
| 8 | 6 tháng 4 năm 2018 | Telia 5G -areena, Helsinki, Phần Lan | 1–0 | 2–0 | Vòng loại World Cup nữ 2019 | |
| 9 | 8 tháng 10 năm 2019 | Ďolíček, Praha, Cộng hòa Séc | 4–0 | 5–1 | Vòng loại UEFA Euro nữ 2021 | |
| 10 | 8 tháng 7 năm 2022 | Sân vận động MK, Milton Keynes, Anh | 1–1 | 4–1 | UEFA Euro nữ 2022 | |
| 11 | 2 tháng 9 năm 2022 | La Ciudad del Fútbol, Las Rozas de Madrid, Tây Ban Nha | 2–0 | 3–0 | Vòng loại World Cup nữ 2023 | |
| 12 | 4 tháng 6 năm 2024 | Estadio Heliodoro Rodríguez López, Santa Cruz de Tenerife, Tây Ban Nha | 2–2 | 3–2 | Vòng loại UEFA Euro nữ 2025 | |
| 13 | 3 tháng 8 năm 2024 | Stade de Lyon, Décines-Charpieu, Pháp | 2–2 | 2–2 (s.h.p.) (4–2 p) | Thế vận hội Mùa hè 2024 | |
| 14 | 7 tháng 7 năm 2025 | Arena Thun, Thun, Thụy Sĩ | 2–1 | 6–2 | Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025 | |
Danh hiệu
Athletic Bilbao
- Primera División: 2015–16
Paris Saint-Germain
- Division 1 Féminine: 2020–21[53]
- Coupe de France Féminine: 2017–18
Barcelona
- Primera División: 2021–22,[54] 2022–23,[30] 2023–24,[55] 2024–25[56]
- UEFA Women's Champions League: 2022–23,[57] 2023–24[58]
- Copa de la Reina: 2021–22,[26] 2023–24, 2024–25[59]
- Supercopa de España Femenina: 2021–22,[19] 2022–23,[60] 2023–24, 2024-25, 20256,26
Tây Ban Nha
- Giải vô địch bóng đá nữ thế giới: 2023
- Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu Á quân: 2025[61]
- UEFA Women's Nations League: 2023–24,[62] 2025
- Algarve Cup: 2017[63]
- Cyprus Cup: 2018[64]
Cá nhân
- Cầu thủ xuất sắc nhất Algarve Cup: 2017
- FIFA FIFPro World XI: 2017
- Đội hình tiêu biểu Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu: 2025[65]
- Đội hình tiêu biểu UEFA Women's Champions League: 2020–21, 2022–23, 2023–24[66]
- Hậu vệ xuất sắc nhất UEFA Women's Champions League: 2020–21[67]
- Đội hình UEFA nữ của IFFHS (Dự bị): 2021[68]
- Đội hình tiêu biểu nữ thế giới của FIFA: 2024,[69] 2025[70]
Tham khảo
- 1 2 3 4 "List of Players – 2015 FIFA Women's World Cup" (PDF). Liên đoàn Bóng đá Thế giới. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Hồ sơ Irene". Athletic Bilbao. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ El Diario Vasco
- ↑ Lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2012 tại Wayback Machine Athletic Bilbao
- ↑ "Irene Paredes Hernández – Hồ sơ lịch sử". Real Sociedad. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "El Barcelona derrota al Athletic en San Mamés y le arrebata la Liga Femenina en la jornada final" [Barcelona đánh bại Athletic tại San Mamés và giành lấy chức vô địch giải nữ ở vòng đấu cuối] (bằng tiếng Tây Ban Nha). 20minutos.es. ngày 5 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2024.
- ↑ David Menayo (ngày 21 tháng 6 năm 2014). "Los penaltis coronan al Barcelona como campeonas de Copa" [Loạt sút luân lưu đưa Barcelona lên ngôi vô địch Cúp Nhà vua]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "El Athletic se proclama campeón de la Primera División Femenina" [Athletic chính thức vô địch giải hạng Nhất nữ] (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Liga. ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Palmarés – Athletic Club". athletic-club.eus (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Saffer, Paul (ngày 1 tháng 6 năm 2017). "Bouhaddi gives Lyon fourth Women's Champions League title". UEFA. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Gourdol, Nathan (ngày 1 tháng 6 năm 2018). "Le PSG s'offre la Coupe de France féminine devant Lyon au terme d'un scénario incroyable". L'Equipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Irene Paredes". EN.PSG.FR (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Paredes gia hạn hợp đồng đến năm 2021". en.psg.fr. ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Dupont, Régis (ngày 21 tháng 9 năm 2019). "Trophée des championnes : l'OL domine le PSG aux tirs au but". L'Equipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ McVeigh, Niall (ngày 4 tháng 6 năm 2021). "PSG Féminines win French league for first time, ending Lyon's run of 14 titles". The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Irene Paredes ký hợp đồng với Barça". FC Barcelona. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Barça 5-0 Granadilla: Khởi đầu rực rỡ". FC Barcelona. ngày 4 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Hoffenheim 0 - 5 Barça: Thẳng tiến vào tứ kết với một chiến thắng khác". FC Barcelona. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 "Second Spanish Super Cup winners, now outright leaders". FC Barcelona. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Real Sociedad 1-9 Barça: Một chiến thắng khổng lồ khác". FC Barcelona. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Paredes phải nghỉ thi đấu khoảng 4 tuần". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "¡La séptima Liga y tercera consecutiva!". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Reial Madrid-Barça Femení: Lợi thế hướng tới Camp Nou (1-3)". FC Barcelona (bằng tiếng Catalan). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Barça Women 5-2 Real Madrid Femenino: Vào bán kết trong một đêm lịch sử!". FC Barcelona. ngày 30 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Fariñas, Nacho (ngày 21 tháng 5 năm 2022). "FC Barcelona - Olympique de Lyon: Chức vô địch Champions League tuột khỏi tầm tay (1-3)". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - 1 2 "Barça - Sporting Huelva: ¡Campeonas de la Copa de la Reina! (6-1)". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Paredes, đội trưởng thứ năm". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Siêu cúp thứ ba cho một FC Barcelona tráng lệ". FC Barcelona. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Paredes gia hạn đến năm 2025". FC Barcelona (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 27 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
- 1 2 "¡Campeonas de Liga!". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Boguñá, Roger. "Barça – Wolfsburg: Nhà vô địch châu Âu! (3-2)". FC Barcelona (bằng tiếng Catalan). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Đội hình trận đấu UEFA
- ↑ "Tây Ban Nha giữ nguyên những gương mặt tin cậy". UEFA. ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Women's Euros 2013: Tây Ban Nha ghi bàn phản lưới nhà đáng tiếc". BBC.co.uk. British Broadcasting Corporation. ngày 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Guijarro có tên trong đội hình dự World Cup nữ của Tây Ban Nha". Euronews. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.
- ↑ "Estas son las convocadas de la Selección española femenina para la Copa Mundial de Francia" [Đây là danh sách triệu tập của đội tuyển nữ Tây Ban Nha cho World Cup tại Pháp]. SeFutbol (bằng tiếng Tây Ban Nha). Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "La selección femenina se gana estar entre las mejores (2-0)". RFEF (bằng tiếng Spanish). ngày 5 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "OFICIAL I Irene Paredes vắng mặt tại Arnold Clark Cup và Sheila García vào danh sách thay thế". sefutbol.com (bằng tiếng Spanish). ngày 14 tháng 2 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Đây là danh sách triệu tập của đội tuyển nữ Tây Ban Nha cho EURO 2022". sefutbol.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 27 tháng 6 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "La lista oficial para el Mundial de Australia y Nueva Zelanda" [Danh sách chính thức cho World Cup tại Úc và New Zealand] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha. ngày 30 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "OFICIAL I Danh sách triệu tập cho các trận đấu với Na Uy và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa". rfef.es (bằng tiếng Spanish). ngày 31 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "CRÓNICA I Tây Ban Nha thua Ý nhưng vẫn sẽ cạnh tranh một suất dự Thế vận hội (2-3)" (bằng tiếng Spanish). RFEF. ngày 1 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Hill, Courtney (ngày 9 tháng 8 năm 2024). "Bóng đá nữ Paris 2024: Ann-Katrin Berger trở thành người hùng khi Đức đánh bại Tây Ban Nha để giành huy chương đồng". Olympics.com. Ủy ban Olympic Quốc tế. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "CHÍNH THỨC: Montse Tomé công bố đội hình tham dự Giải vô địch châu Âu tại Thụy Sĩ". RFEF. ngày 10 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Chị em nhà Ybarra có cùng một giấc mơ: Rio 2016" [Las hermanas Ybarra tienen un mismo sueño: Río 2016] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Diario AS. ngày 1 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Britton, Tara (ngày 14 tháng 7 năm 2021). "Compagnes et compagnons de footballeuses : pour le meilleur et pour tenir" [Bạn đời của các nữ cầu thủ: Vì những điều tốt đẹp nhất và để vững vàng...] (bằng tiếng Pháp). L'Equipe. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021.
- ↑ Barker, Gabby (ngày 24 tháng 4 năm 2021). "Đội trưởng của PSG và đội tuyển quốc gia, Irene Paredes, thông báo cô sắp làm mẹ". Sports Finding. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Irene Paredes và Lucía Ybarra đã làm mẹ và giới thiệu con trai Mateo". Archysport (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 9 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Menayo, David (ngày 13 tháng 9 năm 2021). "Irene Paredes và Lucía Ybarra lần đầu làm mẹ" [Irene Paredes y Lucía Ybarra estrenan maternidad]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ Fra, Amalia; Allen, William (ngày 16 tháng 7 năm 2023). "Phỏng vấn Irene Paredes: Hậu vệ Tây Ban Nha trò chuyện với AS trước thềm World Cup nữ". Diario AS. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Irene Paredes - Hồ sơ cầu thủ". FC Barcelona. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Irene Paredes – Paris Saint-Germain". Paris Saint-Germain. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Loyant, Richard (ngày 4 tháng 6 năm 2021). "Paris SG sacré pour la première fois" (bằng tiếng French). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "¡La séptima Liga y tercera consecutiva!". FC Barcelona (bằng tiếng Spanish). ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Cinquena Lliga consecutiva per al Barça". www.fcbarcelona.cat (bằng tiếng Catalan). ngày 4 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "10th Liga F title for Barça Women". FC Barcelona. ngày 11 tháng 5 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Wrack, Suzanne (ngày 3 tháng 6 năm 2023). "Rolfö caps Barcelona comeback against Wolfsburg to win thrilling WCL final". The Guardian. ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Barcelona retains Women's Champions League title, completing historic quadruple". CNN. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Barça 2-0 Atlético Madrid: Pina wins the crown for the queens of the cup". FC Barcelona. ngày 7 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Third Super Cup for a magnificent FC Barcelona". FC Barcelona. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "England 1-1 Spain". uefa.com (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Women's Nations League final: World Cup winners Spain beat France 2–0 in Seville". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "Spain wins Algarve Cup". LTA Agency (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Asa (ngày 20 tháng 2 năm 2018). "Spain Announce Squad for the Cyprus Women's Cup 2018". Womens Soccer United (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "England and Spain dominate UEFA Women's EURO 2025 Team of the Tournament". uefa.com (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "2023/24 Women's Champions League Team of the Season". UEFA.com. ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Irene Paredes named 2020/21 Women's Champions League Defender of the Season". UEFA (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S CONTINENTAL TEAMS OF THE YEAR 2021 - UEFA". IFFHS. ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Barça stars dominate The Best FIFA Women's 11". fifa.com. ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "England and Spain stars dominate The Best Women's 11". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
Liên kết ngoài
- Irene Paredes – Thành tích thi đấu FIFA
- Irene Paredes – Thành tích thi đấu tại UEFA
- Irene Paredes tại FC Barcelona
- Bản mẫu:Athletic Club player (lưu trữ)
- Irene Paredes tại BDFutbol
- Bản mẫu:ESPN FC player
- Bản mẫu:FBref player
- Bản mẫu:Soccerway player
Bản mẫu:UEFA Women's Club Football Awards
- Sinh năm 1991
- Nhân vật còn sống
- Người từ Urola Garaia
- Nữ cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
- Nữ cầu thủ bóng đá quốc tế Tây Ban Nha
- Cầu thủ Liga F
- Cầu thủ Real Sociedad Femenino
- Cầu thủ Athletic Club (nữ)
- Cầu thủ Paris Saint-Germain FC (nữ)
- Cầu thủ FC Barcelona Femení
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015
- Nữ cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha tại Pháp
- Vận động viên Tây Ban Nha tại Pháp
- Cầu thủ Première Ligue
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019
- Cầu thủ bóng đá LGBTQ Tây Ban Nha
- Cầu thủ bóng đá từ Gipuzkoa
- Cầu thủ giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2022
- Cầu thủ giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2017
- Nữ vận động viên Tây Ban Nha thế kỷ 21
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023
- Cầu thủ vô địch Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
- FIFA Women's Century Club
- Cầu thủ bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 2024
- Nữ vận động viên đồng tính nữ Tây Ban Nha
- Người LGBTQ Tây Ban Nha thế kỷ 21
- Cầu thủ bóng đá Olympic của Tây Ban Nha
- Cầu thủ vô địch UEFA Women's Champions League
- Cầu thủ giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025
- Vận động viên LGBTQ Tây Ban Nha
- Trung vệ bóng đá nữ
- Người từ Xứ Basque (cộng đồng tự trị)
- Cầu thủ giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2013