Aitana Bonmatí
Bonmatí vào năm 2024 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Aitana Bonmatí i Conca | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Tên khai sinh | Aitana Bonmatí Guidonet | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 18 tháng 1, 1998 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Vilanova i la Geltrú, Catalonia, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,62 m (5 ft 4 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ][1] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Barcelona | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 14 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2005–2009 | Ribes | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2010–2012 | Cubelles | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2012–2015 | Barcelona | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2014–2016 | Barcelona B | ( ) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2016– | Barcelona | 215 | (78) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2013–2015 | U-17 Tây Ban Nha | 13 | (3) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2015–2017 | U-19 Tây Ban Nha | 15 | (6) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2016–2018 | U-20 Tây Ban Nha | 9 | (2) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2017– | Tây Ban Nha | 83 | (31) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2017–2019 | Catalonia | 2 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 05:32, 23 tháng 11 năm 2025 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 22:15, 23 tháng 7 năm 2025 (UTC) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Aitana Bonmatí i Conca[note 1] (tiếng Catalunya: [əjˈtanə ˌβɔmməˈti j ˈkoŋkə] ⓘ;[note 2] sinh ngày 18 tháng 1 năm 1998) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha đến từ Catalonia, chơi ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Liga F Barcelona[1][5] và đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Cô cũng từng đại diện cho Catalonia. Sau khi giành được tất cả các danh hiệu lớn ở cấp câu lạc bộ và cá nhân dành cho một cầu thủ châu Âu tính đến năm 2023, bao gồm cả mùa giải đạt nhiều danh hiệu nhất đối với bất kỳ cầu thủ bóng đá nào trong lịch sử vào mùa 2022–23, cô được coi là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của bóng đá nữ và là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại.[6][7]
Bonmatí đã gắn bó với Barcelona từ năm 2012, trưởng thành qua lò đào tạo La Masia trong sáu năm. Cô được đôn lên đội một của Barcelona trước mùa giải 2016–17, và có những lần ra sân từ băng ghế dự bị cho đến năm đột phá của cô ở mùa giải 2018–19. Cùng với đội bóng, cô đã giành được năm chức vô địch quốc gia, sáu Copa de la Reina, năm Siêu cúp Tây Ban Nha, bốn Copa Catalunya và ba danh hiệu UEFA Women's Champions League, bao gồm ba cú ăn ba và một cú ăn bốn châu lục. Cô được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết khi Barcelona giành chức vô địch Champions League đầu tiên vào năm 2021, trước khi trở thành trung tâm của đội bóng trong các mùa giải 2022–23 và 2023–24. Cô tiếp bước đồng đội Alexia Putellas giành nhiều danh hiệu cá nhân lớn, bao gồm Quả bóng vàng nữ vào các năm 2023, 2024 và 2025 (trở thành cầu thủ đầu tiên ba lần giành giải thưởng này),[8] Giải thưởng Cầu thủ nữ xuất sắc nhất của FIFA vào năm 2023 và 2024, và Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của UEFA vào năm 2023, sau đó giải thưởng này được hợp nhất với Quả bóng vàng nữ.
Ở cấp độ quốc tế, Bonmatí đã gặt hái thành công cùng các đội tuyển nữ U-17, U-19 và U-20 của Tây Ban Nha. Cô đã giành được hai chức vô địch trẻ châu Âu – vào năm 2015 với đội U-17 và năm 2017 với đội U-19 – và hai lần về nhì tại các Giải vô địch bóng đá nữ thế giới cấp độ trẻ – vào năm 2014 với đội U-17 và năm 2018 với đội U-20. Cô gia nhập đội tuyển quốc gia vào năm 2017, góp mặt cùng Tây Ban Nha tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 và Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2022. Sau đó, cô đóng vai trò ngôi sao tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023, nơi Tây Ban Nha giành chức vô địch và cô giành giải Quả bóng vàng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu, cũng như tại Vòng chung kết UEFA Women's Nations League 2024, nơi Tây Ban Nha một lần nữa lên ngôi vương và cô được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất vòng chung kết. Năm 2024, cô giành Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus cho Nữ vận động viên của năm, trở thành cầu thủ bóng đá đầu tiên giành được giải thưởng này.
Cuộc sống sớm và cá nhân
Aitana Bonmatí sinh ngày 18 tháng 1 năm 1998 tại Vilanova i la Geltrú, thủ phủ của Garraf thuộc comarca của Catalonia,[9][10][11][12] con của Vicent Conca i Ferrús và Rosa Bonmatí Guidonet.[4][13] Cô lớn lên ở Sant Pere de Ribes tại Garraf.[14][15] Cha mẹ cô là giáo viên dạy ngôn ngữ và văn học Catalan, và đã truyền cho cô tình yêu đọc sách từ khi còn nhỏ.[13][15]
Cha mẹ cô đã tham gia vào phong trào từ bỏ phong tục đặt tên của Tây Ban Nha (vốn quy định họ cha được liệt kê trước), nhưng không thể thực hiện điều đó một cách hợp pháp khi Bonmatí chào đời.[13][16] Mẹ cô ban đầu đăng ký cô dưới tư cách mẹ đơn thân và trong hai năm đầu đời, cô được gọi là Aitana Bonmatí Guidonet. Trong thời gian này, cha mẹ cô đã vận động và đưa vụ việc ra quốc hội để thay đổi tên của Bonmatí,[13][17] tìm kiếm lời khuyên từ Imma Mayol và các chuyên gia pháp lý để đưa ra đề xuất thay đổi luật pháp.[6] Vào tháng 5 năm 1999, khi Tây Ban Nha chuẩn bị thay đổi luật, Rosa Bonmatí đã xuất hiện trên chương trình Bon dia, Catalunya để trình bày các lập luận ủng hộ. Luật đã được thay đổi vào cuối năm 1999 và được phê chuẩn vào đầu năm 2000; Bonmatí là một trong những người đầu tiên ở Tây Ban Nha có họ mẹ là họ thứ nhất và họ cha (Conca) là họ thứ hai.[13][14][18] Năm 2023, Bonmatí đã tri ân cha mẹ mình, nói rằng: "Cha mẹ đã chiến đấu vì sự thay đổi và đã thành công, con mang trong mình dòng máu của cuộc chiến và sự kiên cường đó."[19]
Cha cô là người Valencia và từng là thành viên của đảng độc lập Các vùng đất Catalan Phong trào Bảo vệ Đất đai,[4] và được đưa tin là thành viên của nhóm bán quân sự người theo chủ nghĩa dân tộc Catalan Terra Lliure;[20] ông nằm trong số những người bị bắt giữ và theo lời kể của họ là bị tra tấn trước thềm Thế vận hội Mùa hè 1992 như một phần của Chiến dịch Garzón. Được tuyên trắng án trong phiên tòa sau đó, Conca là một phần của vụ kiện đã khiến nhà nước Tây Ban Nha bị Tòa án Nhân quyền Châu Âu kết tội vi phạm Công ước Liên Hợp Quốc về chống tra tấn.[21][4] Do những quan điểm thẳng thắn về Marxist và độc lập Catalonia của gia đình, Bonmatí đã trở thành đối tượng chỉ trích từ nhiều phía, bao gồm cả những người theo chủ nghĩa dân tộc Tây Ban Nha cánh hữu và những người ly khai xã hội chủ nghĩa.[22][21][23]
Bonmatí chơi bóng rổ thời thơ ấu, nhưng bắt đầu chơi bóng đá trên sân trường và quyết định mình thích môn này hơn vào năm 7 tuổi.[24][25] Cha cô nhận xét cô là người có tính cạnh tranh và hay tự phê bình từ khi còn là một đứa trẻ, và lo lắng rằng cô không thích thú khi chơi bóng vì quá tập trung vào việc đạt được nhiều thành tích hơn; Bonmatí cho biết vào năm 2023 rằng cô "không bao giờ hài lòng với những gì mình làm vì tôi luôn muốn nhiều hơn nữa."[25] Cô là một người hâm mộ cuồng nhiệt suốt đời của FC Barcelona, và thường xem các trận đấu của đội nam tại một quán bar địa phương ở Ribes khi còn nhỏ.[26] Sau khi chơi trong các đội nam ở địa phương,[14] Bonmatí gia nhập phân đội trẻ của Barcelona ở tuổi 13 để chơi trong các đội nữ của họ.[27] Vào thời điểm đó, phân đội trẻ nữ không có cơ sở lưu trú tại chỗ, và cô phải di chuyển bằng phương tiện công cộng (có cha đi cùng) cho hành trình kéo dài hai giờ, vì cha cô không lái xe còn mẹ cô bị bệnh xơ cơ và Hội chứng mệt mỏi mãn tính.[28][29][6] Thần tượng của cô khi lớn lên là các tiền vệ của Barcelona Xavi và Andrés Iniesta;[30] đến năm 2023, cô có một tình bạn thân thiết với Xavi, người đã viết rằng ông tự hào vì cô đã kế thừa ADN của Barça.[31]
Cô thực hiện chế độ ăn thực vật linh hoạt và rất chú trọng vào việc nghỉ ngơi tốt.[25] Kể từ năm 13 tuổi, cô đã đến gặp chuyên gia tâm lý để "cảm thấy ổn với bản thân", và ủng hộ việc chăm sóc sức khỏe tinh thần.[15] Bonmatí cũng thích đi du lịch như một cách để giải tỏa căng thẳng, và cho biết chuyến đi đến Việt Nam đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cô.[26] Cô đã theo học ngành hoạt động thể chất và khoa học thể thao tại Đại học Ramon Llull, tốt nghiệp vào năm 2021,[32][33] và bắt đầu học thạc sĩ về quản lý thể thao tại Viện Johan Cruyff vào tháng 9 năm 2022.[34]

Ngôn ngữ mẹ đẻ của Bonmatí là tiếng Catalan; cô cũng nói được tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh.[19] Năm 2023, cô đã làm việc với Plataforma per la Llengua để vận động Liên minh châu Âu (EU) cấp tư cách ngôn ngữ chính thức cho tiếng Catalan trong EU, yêu cầu Petteri Orpo, Thủ tướng Phần Lan, bỏ phiếu ủng hộ.[35][36] Bonmatí cũng tham gia hoạt động xã hội để hỗ trợ Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn.[19]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp trẻ
Ribes và Cubelles, 2005–12
Bonmatí gia nhập đội bóng địa phương CD Ribes khi mới 7 tuổi, chơi ở đó trong bốn năm và tiến bộ rất nhiều.[14] Trong câu lạc bộ có khoảng 400 cầu thủ nam, và Bonmatí là cô gái duy nhất. Cô bắt đầu ở vị trí hậu vệ nhờ thể hình và sự quyết liệt trong các pha tắc bóng, cũng như "khả năng cướp bóng và triển khai tấn công [điều đã] thể hiện sức mạnh của cô trên sân"; huấn luyện viên đầu tiên của cô đã so sánh cô với trung vệ huyền thoại của Barcelona là Carles Puyol nhưng sau đó vẫn chuyển cô lên tuyến giữa để có tầm ảnh hưởng lớn hơn đến lối chơi tấn công.[6] Sau đó, cô chuyển câu lạc bộ và chơi hai năm tại CF Cubelles vì yêu thích phong cách thi đấu của họ; điều cô thích ở bóng đá là được chơi bóng và có những pha chạm bóng tinh tế, điều mà cô có thể thực hiện tại Cubelles. Là cô gái duy nhất trong các đội trẻ của mình,[14] cô thường bị các bạn nam trêu chọc vì vóc dáng nhỏ bé.[37] Tuy nhiên, cô trân trọng việc được chơi trong các đội bóng nam, tin rằng điều này giúp cải thiện sức mạnh và cường độ thi đấu của mình.[38]
Barcelona, 2012–16
Gia nhập Barcelona khi còn là một thiếu niên, Bonmatí bắt đầu ở các cấp độ Juvenil-Cadet, đội tuyển phát triển nữ cao thứ hai lúc bấy giờ. Năm 2013, cùng với Juvenil-Cadet, Bonmatí đã giành chức vô địch giải đấu tương ứng và Copa Catalunya.[39] Mùa giải tiếp theo, cô lại cùng Juvenil-Cadet vô địch giải đấu với thành tích bất bại.Họ để thua trong trận chung kết Copa Catalunya trên chấm phạt đền; Bonmatí đã thực hiện thành công quả phạt đền của mình trong trận thua 2–4 trước Sant Gabriel.[40] Bất chấp thành công, đôi khi Bonmatí "tự hỏi liệu mọi nỗ lực có xứng đáng không" khi cân nhắc đến việc di chuyển mệt mỏi và gánh nặng tâm lý.[6] Ban đầu cô cũng không có ý định chơi bóng chuyên nghiệp do thiếu các hình mẫu đi trước, ngay cả tại Barcelona. Khi còn ở các đội trẻ, Bonmatí nghe nói về việc chuyên nghiệp hóa bóng đá nữ ở Hoa Kỳ và đã lên kế hoạch đến đó để phát triển sự nghiệp, dự định tham gia chương trình của Đại học Oregon. Năm 2015, Barcelona đã chuyển đội nữ sang chuyên nghiệp, và Bonmatí quyết định ở lại.[26]
Bonmatí thăng tiến để trở thành cầu thủ của Barcelona B sau hai năm ở câu lạc bộ. Trong thời gian ở đội B, cô thỉnh thoảng xuất hiện trong đội một vào giai đoạn tiền mùa giải. Trong suốt mùa giải 2015–16, Bonmatí đóng vai trò quan trọng trong việc giành chức vô địch Segunda Division, Bảng III lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, ghi được 14 bàn thắng.[41][42] Vào cuối mùa giải, cô được huấn luyện viên Xavi Llorens đưa lên đội một.[43]
Barcelona
2015–16
Bonmatí có trận ra mắt chính thức cho đội một vào cuối mùa giải 2015–16 trong trận tứ kết Copa de la Reina 2016 gặp Real Sociedad, chơi ở vị trí số 9 ảo và thực hiện một pha kiến tạo cho Bárbara Latorre.[44][29] Cô tiếp tục góp mặt trong giải đấu với tư cách là cầu thủ dự bị, vào sân vào cuối trận trong chiến thắng 3–0 ở bán kết trước Levante.[45] Bonmatí góp mặt trong trận chung kết gặp Atletico Madrid, vào thay cho Gemma Gili trong trận đấu kết thúc với thất bại 2–3 của Barcelona.[46]
2016–17
Vào đầu mùa giải 2016–17, cô đã chơi trong cả hai trận đấu của Copa Catalunya và đều ghi bàn trong cả hai trận. Trận chung kết gặp Espanyol kết thúc với chiến thắng 6–0, mang về danh hiệu cấp độ chuyên nghiệp đầu tiên cho Bonmatí cùng câu lạc bộ.[47][48] Cô có trận ra mắt tại UEFA Women's Champions League ở vòng 32 đội gặp FK Minsk.[49] Bonmatí ít được sử dụng trong mùa giải đầu tiên với đội một, có 13 lần ra sân ở giải vô địch quốc gia với 3 lần đá chính và ghi được 2 bàn thắng – một cú đúp vào lưới Oiartzun.[50] Cô ghi bàn thắng thứ tư cho Barcelona trong trận chung kết Copa de la Reina 2017, chiến thắng 4–1 trước Atlético Madrid.[51]
2017–18
Trong mùa giải 2017–18, Bonmatí tiếp tục ít được ra sân, chủ yếu là ở giải vô địch quốc gia. Bàn thắng duy nhất của cô trong mùa giải cũng là bàn thắng đầu tiên tại Champions League trong trận đấu ở vòng 16 đội gặp câu lạc bộ của Litva là Gintra Universitetas.[52][53] Cô vào sân thay cho Toni Duggan trong trận chung kết Copa de la Reina 2018, trận đấu phải bước vào hiệp phụ và kết thúc với chiến thắng cho Barcelona, danh hiệu lớn thứ hai của cô với câu lạc bộ.[54]
2018–19

Mùa giải 2018–19 là mùa giải đột phá của Bonmatí khi cô thường xuyên góp mặt trong đội một tại Tây Ban Nha. Cô cũng ra sân đều đặn tại Champions League, ghi một bàn thắng vào lưới Glasgow City ở vòng 16 đội.[55] Barcelona lọt vào trận chung kết Champions League đầu tiên trong lịch sử, nơi cô có tên trong đội hình xuất phát, và mặc dù để thua 1–4 trước Lyon, cô đã có một khoảnh khắc gây sốt khi bứt tốc vượt qua Shanice van de Sanden bên cánh phải để ngăn chặn một đợt phản công.[37] Bonmatí kết thúc mùa giải với 12 bàn thắng tại giải vô địch quốc gia và chơi tất cả ngoại trừ 5 trận trên mọi đấu trường.
2019–20
Bất chấp sự tiếp cận từ Bayern Munich, Bonmatí đã ký hợp đồng mới với Barcelona vào mùa hè năm 2019, giữ cô ở lại câu lạc bộ cho đến năm 2022.[56][57] Với những màn trình diễn cho Barcelona và Tây Ban Nha trong mùa giải trước, cô đã giành giải Nữ cầu thủ Catalan xuất sắc nhất năm với 68% số phiếu bầu.[58]
Năm 2020, cô có trận đấu thứ 100 cho Barcelona khi vào sân thay người trong trận gặp Tacón.[59] Sau một thời gian ngắn bị chấn thương, cô đã vào sân thay người trong cả hai trận đấu của Supercopa de España, bao gồm cả trận chung kết mà Barcelona đã thắng 10–1 trước Real Sociedad.[60] Nhiều tháng sau, sau quyết định của RFEF về việc đình chỉ mùa giải 2019–20 do đại dịch COVID-19, Barcelona đã được trao danh hiệu, giúp Bonmatí có được chức vô địch quốc gia đầu tiên với câu lạc bộ trên cương vị cầu thủ đội một.
2020–21
Vào giữa mùa giải 2020–21, Bonmatí đã chơi trận chung kết Copa de la Reina 2019–20 gặp Logroño, trận đấu bị hoãn một năm so với bình thường do lo ngại về COVID-19. Cô đã ghi bàn thắng thứ hai cho Barcelona trong trận chung kết từ một cú sút ngay sát vòng cấm, và giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Copa de la Reina cho màn trình diễn của mình.[61]
Trong trận bán kết của Champions League mùa giải đó, Bonmatí đã kiến tạo cho Jenni Hermoso giúp Barcelona cầm hòa 1–1 trong trận lượt đi với Paris Saint-Germain. Barcelona đã thắng trận lượt về trước PSG với tỷ số 2–1, trận đấu mà cô đá chính và được thay ra ở phút 79 cho Asisat Oshoala.[62] Vào ngày 16 tháng 5 năm 2021, cô đá chính trong trận chung kết Champions League thứ hai của mình, lần này là gặp Chelsea. Cô đã ghi bàn từ đường chuyền của Alexia Putellas sau khi lừa bóng qua Jess Carter, nâng tỷ số lên 3–0 cho Barcelona ở phút 21.[63] Barcelona kết thúc trận đấu với tư cách nhà vô địch sau chiến thắng vang dội 4–0, và màn trình diễn của Bonmatí đã giúp cô giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Champions League.[64] Bàn thắng của cô cũng được bình chọn là bàn thắng đẹp thứ 5 của giải đấu, và lần đầu tiên cô được đưa vào Đội hình tiêu biểu của mùa giải UWCL.[65][66] Cuối năm đó, Bonmatí được liệt kê là ứng cử viên cho giải thưởng Tiền vệ xuất sắc nhất mùa giải UEFA Women's Champions League.[67]
Sau mùa giải, Bonmatí trở thành cái tên được săn đón và nhận được nhiều lời đề nghị chuyển nhượng từ các đội bóng ở Anh, Pháp và Đức. Vào tháng 6 năm 2021, Lyon được cho là đã đề nghị mức lương gấp bốn lần cho Bonmatí cùng với việc trả cho Barcelona khoản phí chuyển nhượng 500.000 € – gấp đôi kỷ lục thế giới vào thời điểm đó – để có được cô; mặc dù Barcelona đang trong giai đoạn kinh tế bấp bênh, nhưng cả câu lạc bộ và Bonmatí đều không muốn cô ra đi.[68]
2021–22
Vào ngày 29 tháng 9 năm 2021, Bonmatí ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải 2021–22 khi ghi bàn thắng thứ tư trong chiến thắng 8–0 của Barcelona trước Villarreal. Vào ngày 17 tháng 10, cô lập một cú đúp vào lưới Sporting Huelva trong chiến thắng 5–0. Cô đã ghi bàn thắng đầu tiên tại UWCL của mùa giải vào lưới 1899 Hoffenheim trong chiến thắng 5–0. Vào ngày 31 tháng 12, Bonmatí đã gia hạn hợp đồng với Barcelona đến tháng 6 năm 2025.[69]
Vào ngày 8 tháng 1 năm 2022, cô bị chấn thương ở chân phải ở phút thứ 30 trong trận đấu với Granadilla Tenerife và phải nghỉ thi đấu khoảng một tháng. Vào ngày 23 tháng 1, Barcelona đã giành được Supercopa de España trong khi cô đang phải ngồi ngoài vì chấn thương. Vào ngày 6 tháng 2, cô đánh dấu sự trở lại sau chấn thương bằng bàn thắng cuối cùng trong trận đại thắng 7–0 trước Eibar. Vào ngày 30 tháng 3, cô đã ghi bàn thắng gỡ hòa thứ hai trong chiến thắng 5–2 (tổng tỷ số 8–3) trước Real Madrid trong trận lượt về tứ kết UWCL, trận đấu được diễn ra tại Camp Nou trước sự chứng kiến của 91.553 khán giả. Một vài tuần sau, vào ngày 22 tháng 4, cũng tại sân vận động đó trước kỷ lục 91.648 khán giả, cô đã mở tỷ số cho Barcelona ngay ở phút thứ 3 trong chiến thắng 5–1 trước Wolfsburg ở trận lượt đi bán kết UWCL. Vào ngày 8 tháng 5, cô lập một cú hat-trick trong chiến thắng 6–1 trước Rayo Vallecano. Một tuần sau, cô ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 2–1 trước Atlético Madrid trong trận đấu cuối cùng của mùa giải, trước khi bị truất quyền thi đấu ở những phút cuối trận, khi đội của cô giành chức vô địch giải đấu với thành tích toàn thắng. Vào ngày 21 tháng 5, cô đá chính trong trận chung kết UWCL khi Barcelona để thua 1–3 trước Lyon. Vào ngày 25 tháng 5, cô ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 4–0 trước Real Madrid tại Copa de la Reina. Bốn ngày sau, cô chơi trong trận chung kết Copa de la Reina khi Barcelona thắng 6–1 trước Sporting Huelva để giành chức vô địch.
2022–23
Trước mùa giải 2022–23, Putellas đã bị đứt dây chằng chéo trước (ACL), dẫn đến việc Bonmatí tiếp quản vị trí của Putellas trên sân cho Barcelona. Trong vai trò tiền vệ tấn công,[70][71] Bonmatí đã có điều mà Nike tóm tắt là "Mùa giải hay nhất. Của bất kỳ cầu thủ bóng đá nào. Từ trước đến nay."[72] Cô đã giành chiến thắng trong mọi giải đấu mà đội bóng của mình có thể tham gia, được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu trong tất cả các giải đấu đó, đồng thời được ghi nhận bằng giải thưởng Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của UEFA và Quả bóng vàng nữ cho mùa giải.[70][73][71] Chưa từng có cầu thủ nào, nam hay nữ, có một mùa giải nhiều danh hiệu cá nhân và tập thể hơn thế trước đây.[74]
2023–24

Bonmatí vẫn giữ vai trò tiền vệ tấn công trong mùa giải 2023–24, khi đội trưởng Alexia Putellas trở lại nhưng chơi nhiều hơn ở vị trí tiền đạo để tận dụng tốt nhất sức mạnh của toàn đội.[71]
Vào ngày 4 tháng 5 năm 2024, Bonmatí đã thi đấu trọn vẹn trận đấu khi Barcelona giành chiến thắng 4–1 trước Granada để nâng cao chức vô địch giải đấu thứ năm liên tiếp.[75] Vào ngày 18 tháng 5, Barcelona đã thắng 8–0 trước Real Sociedad để giành chức vô địch Copa de la Reina.[cần dẫn nguồn] Ngày 25 tháng 5, Bonmatí đã mở tỷ số cho Barcelona trong chiến thắng 2–0 trước Lyon trong trận chung kết Champions League để giành chức vô địch Champions League thứ ba của cá nhân cô và Barcelona (và là chức vô địch thứ hai liên tiếp); khi làm được điều này, Barcelona đã đạt được cú ăn ba châu lục thứ hai và cú ăn bốn châu lục đầu tiên trong lịch sử. Bonmatí được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) của trận chung kết và của toàn bộ giải đấu, với sáu bàn thắng và sáu đường kiến tạo, cũng là người đóng góp nhiều bàn thắng nhất. Với màn trình diễn xuất sắc trong các đấu trường khác, cô đã được tờ Sport chấm điểm 10 tuyệt đối cho mùa giải, và cho rằng cô là ứng cử viên sáng giá để giành thêm các danh hiệu cá nhân.
2024–25

Bonmatí tiếp tục là nhân vật trung tâm của Barcelona trong mùa giải 2024–25, sau khi ký hợp đồng mới vào tháng 9 năm 2024 có thời hạn đến năm 2028, bất chấp sự quan tâm mạnh mẽ từ các câu lạc bộ khác.[76] Cô đóng vai trò quyết định trong hành trình tiến đến Chung kết UEFA Women's Champions League 2025 của Barcelona, bao gồm chiến thắng với tổng tỷ số 8–2 trước Chelsea ở bán kết, và sau đó được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải Champions League 2024–25 sau khi ghi được bốn bàn thắng và có năm đường kiến tạo (cao nhất giải đấu).[77] Vào tháng 9 năm đó, cô đã giành được Quả bóng vàng thứ ba liên tiếp, trở thành nữ cầu thủ đầu tiên đạt được thành tích này.[78]
2025-26
Vào tháng 12 năm 2025, Bonmati được vinh danh là Cầu thủ nữ xuất sắc nhất của FIFA năm 2025, năm thứ ba liên tiếp.[79]
Sự nghiệp quốc tế
Đội trẻ
Bonmatí đã thi đấu ở mọi cấp độ trẻ của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Tây Ban Nha, bao gồm các đội tuyển U-17, U-19 và U-20.
Năm 15 tuổi, Bonmatí được triệu tập vào đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Âu 2014. Cô đã ghi những bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển U-17 với một cú đúp vào lưới Đức trong chiến thắng 4–0 ở vòng bảng, giúp Tây Ban Nha đứng đầu bảng B.[80] Từ đó, Tây Ban Nha vượt qua vòng bán kết sau chiến thắng 2–1 trước Anh. Bonmatí tiến vào trận chung kết và đá chính, nhưng cuối cùng chỉ giành vị trí á quân khi Tây Ban Nha thua Đức trên chấm phạt đền. Cô đã thi đấu tổng cộng 398 phút tại giải đấu này.[27][81]
Vài tháng sau, cô tham gia Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới 2014, nơi cô chủ yếu đóng vai trò dự bị.[82] Trong trận bán kết, Bonmatí được tung vào sân thay người sau hiệp một trong trận gặp Ý, trận đấu mà Tây Ban Nha đã giành quyền đi tiếp sau khi đánh bại đối thủ 2–0.[83] Bonmatí được thay vào sân ở phút 53 của trận chung kết, nơi Tây Ban Nha để thua 0–2 trước Nhật Bản.[84]
Ngoài ra, cô cũng là thành viên của đội hình U-17 Tây Ban Nha giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Âu 2015. Ở vòng bảng, cô đã ghi bàn thắng đầu tiên và duy nhất của mình tại giải đấu trong chiến thắng 4–0 trước Đức.[85] Tây Ban Nha đứng đầu bảng A và đối đầu với Pháp ở bán kết. Cô đá chính và thi đấu hết hiệp phụ khi trận đấu kết thúc với loạt sút luân lưu. Cô đã thực hiện thành công quả phạt đền của mình để kết thúc loạt sút với tỷ số 4–3 và tiến vào chung kết gặp Thụy Sĩ.[86] Với chiến thắng 5–2 trong trận chung kết, Bonmatí đã giành được danh hiệu quốc tế đầu tiên và sau đó được ghi danh vào Đội hình tiêu biểu của giải đấu nhờ màn trình diễn nổi bật trong suốt cuộc thi.[87][88]
Bonmatí là thành viên của đội tuyển U-19 Tây Ban Nha giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá nữ U-19 châu Âu 2017.[89][90] Do một lệnh treo giò, cô buộc phải ngồi ngoài trong ba trận đấu đầu tiên của vòng bảng sau khi nhận thẻ đỏ trực tiếp trong một trận đấu vòng loại gặp Bỉ.[91] Cô có lần xuất hiện đầu tiên tại giải đấu với tư cách đội trưởng trong trận bán kết gặp Hà Lan. Tây Ban Nha tiến vào chung kết gặp Pháp với chiến thắng 3–2. Bonmatí đá chính và đeo băng đội trưởng dẫn dắt toàn đội giành chiến thắng trước Pháp, chấm dứt chuỗi ba lần thất bại liên tiếp trong trận chung kết của Tây Ban Nha tại giải U-19 Euro.[92] Với kết quả này, cô đã giành được danh hiệu quốc tế thứ hai khi Tây Ban Nha là một trong ba đội thuộc UEFA đủ điều kiện tham dự Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới 2018.
Bonmatí một lần nữa được bổ nhiệm làm đội trưởng tại Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới 2018.[93] Tại bảng C, Tây Ban Nha đã giành hai chiến thắng trước Nhật Bản và Paraguay. Họ đứng đầu bảng sau khi cầm hòa Hoa Kỳ, loại đối thủ này khỏi giải đấu ngay từ vòng bảng lần đầu tiên trong lịch sử. Bonmatí được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu "Dare To Shine".[94] Trong trận tứ kết, cô đã ghi hai bàn vào lưới Nigeria, nhưng bàn thắng thứ hai không được công nhận dù đoạn phim quay chậm trên truyền hình cho thấy bóng đã lăn qua vạch vôi.[95][96] Tây Ban Nha thắng trận đó 2–1 và lọt vào bán kết giải đấu gặp Pháp. Bonmatí đá chính nhưng bị đuổi khỏi sân sau khi nhận thẻ vàng thứ hai vì một pha tranh chấp với cầu thủ Selma Bacha của Pháp - đây là thẻ đỏ duy nhất trong toàn bộ giải đấu.[97] Cho đến trước khi bị truất quyền thi đấu, cô đã chơi trọn vẹn từng phút của giải đấu.[98] Tây Ban Nha đã giành chiến thắng chung cuộc, nhưng Bonmatí bị treo giò trong trận chung kết nơi Tây Ban Nha để thua 1–3 trước Nhật Bản.[99]
Cô cũng có kinh nghiệm thi đấu cho các đội tuyển U-18 và U-16 Catalonia.[27][43]
Đội tuyển quốc gia
Vào tháng 11 năm 2017, huấn luyện viên Jorge Vilda đã lần đầu tiên triệu tập Bonmatí vào đội tuyển quốc gia để chuẩn bị cho hai trận đấu tại Vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 – Bảng 7 khu vực châu Âu.[100] Cô có trận ra mắt Tây Ban Nha trong trận gặp Áo, vào sân thay cho Amanda Sampedro ở phút 53.[101]
Trải nghiệm giải đấu quốc tế đầu tiên của Bonmatí là vào tháng 2 năm 2018 khi cô được triệu tập tham dự Cyprus Women's Cup 2018.[102] Cô có số lần ra sân hạn chế trong suốt giải đấu, nhưng với chiến thắng của Tây Ban Nha trong trận chung kết tranh ngôi vô địch trước Ý, cô đã giành được danh hiệu đầu tiên cùng đội tuyển quốc gia.[103]
Vào tháng 5 năm 2019, Bonmatí có tên trong danh sách đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019. Cô góp mặt trong hai trận đấu vòng bảng – trận thắng trước Nam Phi và trận thua trước Đức.[104][105] Tây Ban Nha đứng thứ hai ở bảng A và lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào vòng loại trực tiếp của một kỳ World Cup nữ. Họ bị đánh bại 1–2 ở vòng 16 đội bởi đội sau đó giành chức vô địch là Hoa Kỳ. Bonmatí kết thúc giải đấu với 58 phút thi đấu.
Cuối năm đó, Bonmatí đã thi đấu trong tất cả các trận tại vòng loại UEFA Women's Euro 2022 của Tây Ban Nha, kết thúc giai đoạn vòng loại với sáu bàn thắng.[106][107]
Bonmatí có tên trong đội hình Tây Ban Nha tham dự SheBelieves Cup 2020 được tổ chức vào tháng 3 năm 2020. Cô đã thi đấu hai trong số ba trận đấu và Tây Ban Nha kết thúc ở vị trí thứ hai sau chủ nhà Hoa Kỳ.[108]
Vào ngày 25 tháng 11 năm 2021, Bonmatí đã ghi hai bàn trong chiến thắng 12–0 trước Quần đảo Faroe trong trận đấu tại vòng loại World Cup 2023.[109] Năm ngày sau, cô ghi thêm hai bàn thắng nữa vào lưới Scotland.[110]
Cô nằm trong số Las 15, một nhóm các cầu thủ đã tuyên bố không sẵn sàng lên tuyển quốc gia vào tháng 9 năm 2022 do không hài lòng với cách tổ chức của đội bóng.[111][112] Cô mô tả cuộc đình công là một giai đoạn khó khăn khi bị mất tiền, mất nhà tài trợ và bị "báo chí vùi dập", nhưng cô biết rằng mọi thứ cần phải thay đổi. Trong mùa giải 2022–23, Bonmatí đã có các cuộc họp với liên đoàn, nơi cô nhận được sự thừa nhận về những khiếu nại và những lời hứa thay đổi, dẫn đến việc cô trở lại đội hình trước thềm Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023.[26] Cô là một trong ba cầu thủ trong nhóm 15 người đình công được triệu tập lại cho World Cup.[111][112]
Vào ngày 21 tháng 7 năm 2023, trong trận mở màn World Cup của Tây Ban Nha, cô đã ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 3–0 trước Costa Rica.[113] Ngày 5 tháng 8, Bonmatí lập cú đúp và có hai đường kiến tạo trong chiến thắng 5–1 của Tây Ban Nha trước Thụy Sĩ để lọt vào tứ kết.[114] Ngày 20 tháng 8, sau chiến thắng 1–0 của Tây Ban Nha trước Anh trong trận chung kết, Bonmatí được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu, nhận giải Quả bóng vàng trong buổi lễ trao giải cuối giải đấu.[115]
Vào ngày 28 tháng 2, Bonmatí đã ghi bàn thắng mở tỷ số trong chiến thắng 2–0 trước Pháp trong trận chung kết UEFA Women's Nations League 2023–24 tại Sevilla để giành được danh hiệu quốc tế thứ hai cùng Tây Ban Nha.[116]
Bonmati đã được chọn vào đội tuyển Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025. Tuy nhiên, chỉ hai ngày trước khi Tây Ban Nha lên đường sang Thụy Sĩ, có thông tin tiết lộ rằng cô đã mắc bệnh viêm màng não do virus, gây nghi ngờ về khả năng tham gia của cô.[117] Cô được xuất viện vài ngày sau đó, trước khi giải đấu bắt đầu, và hy vọng sẽ hội quân cùng đội tại Thụy Sĩ trước khi giải đấu khởi tranh.[118]
Vào tháng 11 năm 2025, cô bị gãy chân trong lúc tập luyện tại Vòng chung kết UEFA Women's Nations League 2025, khiến cô phải ngồi ngoài trong một thời gian dài và cần phải phẫu thuật.[119][120]
Phong cách thi đấu
FCF đã mô tả Bonmatí là "sự thanh lịch thuần khiết" và ghi nhận sự linh hoạt của cô với tư cách là một cầu thủ, có khả năng thích ứng với các vị trí khác nhau, chơi ở trung tâm như một tiền vệ hoặc một tiền vệ cánh.[58] ESPN nhận xét rằng cô là người "có năng khiếu kỹ thuật mà hiếm có đồng nghiệp cùng thời nào sánh kịp."[19]
Sau khi cô giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Catalonia lần đầu tiên, Jordi Ventura, huấn luyện viên đã ký hợp đồng đưa cô vào đội Cadet của Barcelona, nhấn mạnh rằng cô là "một cầu thủ mãnh liệt, rất hiếu thắng và làm chủ hoàn hảo cả hai chân." Trong cùng bài viết đó, cựu huấn luyện viên FCB Femeni Xavi Llorens mô tả Bonmatí là người có "sự thanh lịch bẩm sinh trong việc dẫn bóng" và "rất hiếu thắng... linh hoạt, có thể chơi ở ba, bốn hoặc năm vị trí mà không làm giảm trình độ."[58]
Trước thềm Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019, FIFA đã mô tả cô trong hồ sơ cầu thủ là "có năng khiếu kỹ thuật" với "tầm nhìn tuyệt vời cùng cá tính mạnh mẽ" và "mạnh mẽ khi cần thiết với khả năng săn bàn."[121]
Bonmatí xem vóc dáng nhỏ bé của mình là một lợi thế nhờ trọng tâm thấp, khiến đối thủ khó có thể lấy bóng trong chân cô.[106]
Pep Guardiola từng nói: "Aitana Bonmatí là một cầu thủ bóng đá khiến tôi hoàn toàn mê mẩn vì cách cô ấy chơi bóng. Tôi muốn nói rằng cô ấy giống như một Iniesta phiên bản nữ vậy."[122]
Các nhà phân tích cũng ghi nhận tầm ảnh hưởng của cô vượt xa những đóng góp trực tiếp vào bàn thắng, làm nổi bật sự sáng tạo, khả năng hoạt động hiệu quả dưới áp lực và sự tham gia liên tục vào quá trình triển khai bóng như những khía cạnh định hình vai trò của cô trong hàng tiền vệ của Barcelona.[123]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 23 tháng 11 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải quốc nội | Copa de la Reina | UWCL | Siêu cúp | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Barcelona | 2015–16 | Primera División | 0 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | – | 3 | 0 | |
| 2016–17 | 13 | 2 | 1 | 1 | 2 | 0 | – | 16 | 3 | |||
| 2017–18 | 15 | 0 | 3 | 0 | 2 | 1 | – | 20 | 1 | |||
| 2018–19 | 27 | 12 | 3 | 0 | 7 | 1 | – | 37 | 13 | |||
| 2019–20 | 20 | 5 | 4 | 2 | 5 | 2 | 2 | 0 | 31 | 9 | ||
| 2020–21 | 31 | 10 | 2 | 0 | 9 | 3 | 1 | 0 | 43 | 13 | ||
| 2021–22 | 25 | 13 | 4 | 1 | 10 | 4 | 0 | 0 | 39 | 18 | ||
| 2022–23 | 23 | 10 | 1 | 2 | 11 | 5 | 2 | 2 | 37 | 19 | ||
| 2023–24 | 24 | 8 | 4 | 4 | 11 | 6 | 2 | 1 | 41 | 19 | ||
| 2024–25 | 26 | 12 | 5 | 0 | 11 | 4 | 2 | 0 | 44 | 15 | ||
| 2025–26 | 11 | 6 | 0 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | 15 | 6 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 215 | 78 | 30 | 10 | 72 | 26 | 9 | 3 | 326 | 117 | ||
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 23 tháng 7 năm 2025[124]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Tây Ban Nha | 2017 | 1 | 0 |
| 2018 | 6 | 0 | |
| 2019 | 12 | 4 | |
| 2020 | 5 | 3 | |
| 2021 | 11 | 7 | |
| 2022 | 11 | 2 | |
| 2023 | 14 | 5 | |
| 2024 | 12 | 7 | |
| 2025 | 11 | 3 | |
| Tổng cộng | 83 | 31 | |
- Bàn thắng và kết quả của Tây Ban Nha được liệt kê trước, cột tỷ số hiển thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Bonmatí.
| STT | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 9 tháng 4 năm 2019 | Swindon, Anh | 1–2 | 1–2 | Giao hữu | |
| 2 | 4 tháng 10 năm 2019 | A Coruña, Tây Ban Nha | 3–0 | 4–0 | Vòng loại UEFA Women's Euro 2021 | |
| 3 | 4–0 | |||||
| 4 | 8 tháng 10 năm 2019 | Praha, Cộng hòa Séc | 3–0 | 5–1 | ||
| 5 | 23 tháng 10 năm 2020 | Sevilla, Tây Ban Nha | 3–0 | 4–0 | ||
| 6 | 27 tháng 11 năm 2020 | Las Rozas de Madrid, Tây Ban Nha | 1–0 | 10–0 | ||
| 7 | 5–0 | |||||
| 8 | 10 tháng 6 năm 2021 | Alcorcón, Tây Ban Nha | 3–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 9 | 15 tháng 6 năm 2021 | 1–0 | 3–0 | |||
| 10 | 3–0 | |||||
| 11 | 25 tháng 11 năm 2021 | Sevilla, Tây Ban Nha | 2–0 | 12–0 | Vòng loại FIFA Women's World Cup 2023 | |
| 12 | 6–0 | |||||
| 13 | 30 tháng 11 năm 2021 | 3–0 | 8–0 | |||
| 14 | 5–0 | |||||
| 15 | 25 tháng 6 năm 2022 | Huelva, Tây Ban Nha | 1–0 | 7–0 | Giao hữu | |
| 16 | 8 tháng 7 năm 2022 | Milton Keynes, Anh | 2–1 | 4–1 | UEFA Women's Euro 2022 | |
| 17 | 21 tháng 7 năm 2023 | Wellington, New Zealand | 2–0 | 3–0 | FIFA Women's World Cup 2023 | |
| 18 | 5 tháng 8 năm 2023 | Auckland, New Zealand | 1–0 | 5–1 | ||
| 19 | 3–1 | |||||
| 20 | 26 tháng 9 năm 2023 | Córdoba, Tây Ban Nha | 2–0 | 5–0 | UEFA Women's Nations League 2023–24 (Hạng A) | |
| 21 | 3–0 | |||||
| 22 | 23 tháng 2 năm 2024 | Sevilla, Tây Ban Nha | 2–0 | 3–0 | Vòng chung kết UEFA Women's Nations League 2024 | |
| 23 | 28 tháng 2 năm 2024 | 1–0 | 2–0 | |||
| 24 | 12 tháng 7 năm 2024 | Chomutov, Cộng hòa Séc | 1–0 | 1–2 | Vòng loại UEFA Women's Euro 2025 | |
| 25 | 16 tháng 7 năm 2024 | A Coruña, Tây Ban Nha | 1–0 | 2–0 | ||
| 26 | 25 tháng 7 năm 2024 | Nantes, Pháp | 1–1 | 2–1 | Thế vận hội Mùa hè 2024[125] | |
| 27 | 29 tháng 11 năm 2024 | Cartagena, Tây Ban Nha | 3–0 | 5–0 | Giao hữu | |
| 28 | 3 tháng 12 năm 2024 | Nice, Pháp | 1–0 | 4–2 | ||
| 29 | 8 tháng 4 năm 2025 | Vigo, Tây Ban Nha | 2–0 | 7–1 | UEFA Women's Nations League 2025 (Hạng A) | |
| 30 | 3–0 | |||||
| 31 | 23 tháng 7 năm 2025 | Zurich, Thụy Sĩ | 1–0 | 1–0 (s.h.p.) | UEFA Women's Euro 2025 |
Danh hiệu

Barcelona B
- Segunda División: 2015–16 (Bảng III)
Barcelona
- Primera División: 2019–20, 2020–21, 2021–22, 2022–23, 2023–24, 2024–25[126]
- UEFA Women's Champions League: 2020–21,[127] 2022–23,[128] 2023–24[129]
- Copa de la Reina: 2017, 2018, 2019–20, 2020–21, 2021–22, 2023–24, 2024–25[130]
- Supercopa de España: 2019–20, 2021–22, 2022–23, 2023–24, 2024–25
- Copa Catalunya: 2016, 2017, 2018, 2019
U17 Tây Ban Nha
- Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Âu: 2015; Á quân 2014[27][81]
- Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới: Á quân 2014
U19 Tây Ban Nha
- Giải vô địch bóng đá nữ U-19 châu Âu: 2017; Á quân 2016
U20 Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
- Giải vô địch bóng đá nữ thế giới: 2023[131]
- Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu Á quân: 2025[132]
- UEFA Women's Nations League: 2023–24[133]
Cá nhân
- Cầu thủ nữ xuất sắc nhất của FIFA: 2023,[134] 2024,[7] 2025[135]
- Quả bóng vàng nữ: 2023,[136] 2024, 2025
- Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của Globe Soccer Awards: 2024, 2025[137]
- Nữ vận động viên xuất sắc nhất thế giới của Laureus: 2024[138]
- Giải thưởng Nữ cầu thủ vàng: 2023,[139] 2024[140]
- Quả bóng vàng Giải vô địch bóng đá nữ thế giới: 2023[141]
- Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của UEFA: 2022–23[142]
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải UEFA Women's Champions League: 2022–23, 2023–24,[143] 2024–25[144]
- Cầu thủ xuất sắc nhất Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu: 2025[145]
- Đội hình tiêu biểu Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu: 2022,[146] 2025[147]
- Cầu thủ nữ xuất sắc nhất thế giới của IFFHS: 2023,[148] 2024,[149] 2025[150]
- Cầu thủ kiến thiết nữ xuất sắc nhất thế giới của IFFHS: 2023,[151] 2024,[152] 2025[153]
- Đội hình tiêu biểu Giải vô địch bóng đá nữ U-17 châu Âu: 2015
- Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Copa de la Reina: 2019–20
- Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Siêu cúp bóng đá nữ Tây Ban Nha: 2022–23
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Catalunya: 2019[58]
- Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết UEFA Women's Champions League: 2021, 2024[154]
- Đội hình tiêu biểu UEFA Women's Champions League: 2020–21, 2022–23, 2023–24,[155] 2024–25[156]
- Premi Barça Jugadors (Giải thưởng Cầu thủ Barça): 2020–21,[157] 2021–22,[158] 2022–23,[159] 2023–24[160]
- Đội hình nữ xuất sắc nhất thế giới của IFFHS: 2021,[161] 2022,[162] 2023,[163] 2024[164]
- Nữ cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của World Soccer: 2023, 2024[165][166]
- Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của Globe Soccer: 2023[167]
- Đội hình nữ xuất sắc nhất thế giới của FIFA FIFPRO: 2023,[168] 2024[169]
- Đội hình nữ UEFA của IFFHS: 2021,[170] 2022,[171] 2023,[172] 2024[173]
- Cầu thủ xuất sắc nhất vòng chung kết UEFA Women's Nations League: 2024[174]
- Đội hình nữ xuất sắc nhất của FIFA: 2024,[175] 2025[176]
Vào tháng 11 năm 2023, Bonmatí đã được ghi danh vào danh sách 100 Phụ nữ của BBC.[177]
Ghi chú
- ↑ Theo Hội đồng Catalonia[2] và chính quyền thị trấn quê hương của Bonmatí[3] (và các nguồn Catalan khác), tên đầy đủ của cô trong tiếng Catalan là Aitana Bonmatí i Conca.[4]
- ↑ Tiếng Catalan: khi đứng riêng lẻ, Bonmatí được phát âm là [ˌbɔmməˈti]. tiếng Tây Ban Nha: [ajˈtana βommaˈti]; khi đứng riêng lẻ, Bonmatí được phát âm là [bommaˈti].
Tham khảo
- 1 2 "Aitana". fcbarcelona.com. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Creu de Sant Jordi per a 20 persones i 10 entitats". Generalitat de Catalunya (bằng tiếng Catalan). ngày 3 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Convocatòria agents policia_ 2023 // 26/octubre.- prova cultura general Model –A-". Sant Pere de Ribes. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2024.
- 1 2 3 4 Miró, David (ngày 6 tháng 9 năm 2023). "Losantos titlla de "terrorista" el pare d'Aitana Bonmatí". Ara.cat (bằng tiếng Catalan). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmati - UEFA.com". UEFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 3 4 5 "'She was like a tsunami' - the unstoppable rise of Bonmati". BBC Sport. ngày 14 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 "How Bonmati triumph highlights Barça's golden era". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 17 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Ballon d'Or 2025: Aitana Bonmati wins third straight women's award". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Noms propis > Aitana Bonmatí". ésAdir | Llibre d'estil CCMA. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "Aitana". FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí, la ribetana que ha estat escollida millor jugadora de la final de la Champions" (bằng tiếng Catalan). Eix Diari. ngày 17 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí: "No tengo que dar explicaciones a nadie"" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Marca. ngày 14 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 "El sorprendente pasado en TV3 de la madre de Aitana Bonmatí hace 23 years: son clavadas". En Blau (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 27 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 "Jugadores FC Barcelona Femenino: Más Sobre Aitana Bonmatí". primeraiberdrola.es. Primera División. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
- 1 2 3 "Aitana Bonmatí: "Anar al psicòleg no és de bojos, jo hi vaig des dels 13 anys"". RAC1 (bằng tiếng Catalan). ngày 23 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Los verdaderos influencers, por Maria Fernández Vidal". La Vanguardia (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 3 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Los partidos con una "pelota de plata" que forjaron a una Aitana Bonmatí que mira al Balón de Oro". Relevo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 22 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ RTVE.es (ngày 4 tháng 8 năm 2023). "Aitana Bonmatí y la curiosa anécdota de sus padres: "Ellos siempre han querido cambiar el mundo y que hubiese igualdad"". RTVE.es (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 3 4 "Bonmati talks Ballon d'Or, equality and success with Spain, Barcelona". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Les tortures de l'operació Garzón d'ara fa 30 anys, explicades per una víctima d'Ontinyent". VilaWeb (bằng tiếng Catalan). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 NacióDigital. "Losantos esclata contra Aitana Bonmatí i el seu pare: "Era un terrorista"". www.naciodigital.cat (bằng tiếng Catalan). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ siscu (ngày 22 tháng 8 năm 2023). "Com vol fer mal a Aitana Bonmatí el sector més intransigent de l'independentisme?". El Triangle (bằng tiếng Catalan). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ xavier (ngày 9 tháng 6 năm 2023). "Per què critiquen els 'indepes' hiperventilats a Aitana Bonmatí?". El Triangle (bằng tiếng Catalan). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Calonge, Lorenzo (ngày 11 tháng 11 năm 2019). "Aitana Bonmatí:"Los futbolistas no están muy por la labor de ayudarnos"". El País. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 3 Herrero, Laia Cervelló (ngày 20 tháng 8 năm 2023). "Aitana Bonmati exclusive interview: 'There's no hiding. It's what comes naturally to me'". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 3 4 "10 Things You Should Know About Me | By Aitana Bonmatí". The Players' Tribune (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 3 4 "Special Aitana Bonmatí, the revelation of the year". ngày 2 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- ↑ Dotras, Oriol (ngày 6 tháng 6 năm 2019). "Aitana Bonmatí: "Me gustaría ser una de las jugadoras que lidere el fútbol español en los próximos años"". lavanguardia. La Vanguardia. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 "Bonmati talks 'Barca DNA,' pressure of winning and UWCL final". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Villarrubia, Begoña (ngày 14 tháng 10 năm 2018). "Aitana Bonmatí: "Empieza a interesar que seamos visibles"". mundodeportivo.com. Mundo Deportivo. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Spain star Aitana Bonmatí has a point to prove". FOX Sports (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí: "Siempre quiero llegar más alto de donde estoy"". europapress.es. Europa Press. ngày 10 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Villarrubia, Begoña (ngày 22 tháng 9 năm 2017). "Aitana Bonmatí, la perla de la cantera del Barça". mundodeportivo.com. Mundo Deportivo. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Aitana Bonmatí starts the Master in Sport Management at Johan Cruyff Institute". Johan Cruyff Institute. Johan Cruyff Institute The Magazine. ngày 16 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí demana a Finlàndia que accepti el català com a llengua oficial de la Unió Europea | Notícies de Plataforma per la Llengua". Plataforma per la Llengua (bằng tiếng Catalan). ngày 13 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí també demana l'oficialitat del català a la UE". Ara.cat (bằng tiếng Catalan). ngày 13 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 "Bonmati: I'd hit the boys back in school". fifa.com. FIFA. ngày 16 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Alert, Elena (ngày 2 tháng 12 năm 2014). "Entrevista a Aitana Bonmatí: "La clave del éxito fue el estar juntas en cada segundo"". esfutbolesinjusto.com. El Futbol Es Injusto. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "MEMORIA_CLUB_12_13_CASTELLANO" (PDF). fcbarcelona.com. FC Barcelona. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "El Sant Gabriel, campió de Catalunya a la tanda de penals". efmontcada.com. EF Montcada. ngày 8 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Segunda División Femenina: Betis y Barcelona "B" tocan el cielo". VAVEL. ngày 19 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "futfem.cat". www.futfem.cat. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- 1 2 "Aitana Bonmatí fa el salt al primer equip". futfem.cat. ngày 30 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Pérez, Patricia (ngày 17 tháng 6 năm 2016). "Real Sociedad - FC Barcelona Femenino: Directas hacia las semifinales (1-5)". fcbarcelona.es. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "CRÓNICA - FC Barcelona, primer finalista de la Copa de SM la Reina (3-0)". rfef.es. RFEF. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Roldan, Isabel (ngày 26 tháng 6 năm 2016). "El Atlético Féminas, campeón de la Copa de la Reina". as.com. AS. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FC Barcelona Femenino – CE Pontenc: Superioridad abismal y a la final (20-0)". fcbarcelona.es. FC Barcelona. ngày 26 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FC Barcelona - RCD Espanyol: Champions of Catalonia with solvency (6-0)". fcbarcelona.es. FC Barcelona. ngày 28 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Minsk-Barcelona - Line-ups - UEFA Women's Champions League - UEFA.com". UEFA. ngày 6 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FC Barcelona 13-0 Oiartzun: Hermoso scores six in gargantuan victory". fcbarcelona.com. FC Barcelona. ngày 2 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Casademont, Sergi (ngày 18 tháng 6 năm 2017). "FC Barcelona Women v Atlético Madrid: Copa de la Reina winners! (4-1)". fcbarcelona.com. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Casademont, Sergi (ngày 8 tháng 11 năm 2017). "FK Gintra universitetas - Barça Femenino: Goleada histórica para seguir intratables (0-6)". fcbarcelona.es. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Gintra-Barcelona - Line-ups - UEFA Women's Champions League - UEFA.com". UEFA. ngày 8 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "CRÓNICA - El FC Barcelona conquista su sexta Copa de la Reina en una final para el recuerdo". rfef.es. RFEF. ngày 2 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Barcelona-Glasgow City - Line-ups - UEFA Women's Champions League - UEFA.com". UEFA. ngày 17 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Villarrubia, Begoña (ngày 14 tháng 4 năm 2019). "El Bayern quiere fichar a Aitana Bonmatí". mundodeportivo.com. Mundo Deportivo. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Aitana, Pamela Tajonar i Gemma Font rubriquen la seva continuïtat". fcbarcelona.cat. FC Barcelona. ngày 22 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
- 1 2 3 4 "LA NOVA ESTRELLA DEL FUTBOL FEMENÍ CATALÀ". fcf.cat. FCF. ngày 4 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Centenarians Aitana and María León". fcbarcelona.es. FC Barcelona. ngày 12 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Rodergas, Clara (ngày 9 tháng 2 năm 2020). "Real Sociedad-Barça: ¡Súpercampeonas! (1-10)". fcbarcelona.es. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Aitana Bonmatí, elegida Mejor Jugadora de la final de la Copa de la Reina". rfef.es. RFEF. ngày 13 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Ahmadu, Samuel (ngày 2 tháng 5 năm 2021). "Oshoala's Barcelona reach second Champions League final after PSG triumph". goal.com. Goal. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Pettigrove, Jason (ngày 16 tháng 5 năm 2021). "Chelsea 0–4 FC Barcelona: European champions!". fcbarcelona.com. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Women's Champions League final Player of the Match: Aitana Bonmati". UEFA. ngày 16 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Glas strike named Women's Champions League best goal: watch the top five". UEFA. ngày 19 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Women's Champions League Squad of the Season 2020/21". UEFA. ngày 20 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Women's Champions League positional awards nominees announced". UEFA. ngày 13 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2021.
- ↑ Soria, Miki (ngày 16 tháng 6 năm 2021). "Olympique Lyon trying to lure away Aitana Bonmati". Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana renova fins al 2025". FC Barcelona (bằng tiếng Catalan). ngày 31 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - 1 2 Burhan, Asif. "Aitana Bonmatí Wins Spain's Third Consecutive Women's Ballon D'Or". Forbes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- 1 2 3 Humphreys, Jessy Parker (tháng 11 năm 2023). "Aitana Bonmati's Ballon d'Or win was never in doubt - but what comes next?". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Nike Football: The best season. Of any footballer. Ever". Instagram. ngày 30 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Tikas, Maria (ngày 30 tháng 10 năm 2023). "Barca midfielder Aitana Bonmati wins the Ballon d'Or". Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Gomez, Katie (ngày 1 tháng 11 năm 2023). "Golden Girl: A Night of Aitana". Blaugranagram (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Cinquena Lliga consecutiva per al Barça". www.fcbarcelona.cat (bằng tiếng Catalan). ngày 4 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Barcelona extend Bonmati's contract until 2028". BBC Sport. ngày 16 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "Aitana Bonmatí named 2024/25 UEFA Women's Champions League Player of the Season". UEFA. ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Aitana Bonmatí wins third consecutive Ballon d'Or". FC Barcelona. ngày 22 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Fifa Best: Aitana Bonmati wins women's player of the year award". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Aitana Bonmati: "Fue muy especial marcar ante Alemania"". as.com. Diario AS. ngày 3 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 "2015 UEFA European Women's Under-17 Championship final tournament programme" (PDF). UEFA. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Aitana Bonmatí (Mundial femenino Sub-17) - SEFutbol". sefutbol.com. RFEF. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ Roldán, Isabel (ngày 1 tháng 4 năm 2014). "Histórico pase de la Sub-17 a la final del Mundial de la categoría". as.com. Diario AS. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FIFA U-17 Women's World Cup: 300263768 - Report". fifa.com. FIFA. ngày 4 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Riquelme, Sandra S. (ngày 25 tháng 6 năm 2015). "España muestra sus cartas". marca.com. MARCA. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Ramos, D. (ngày 1 tháng 7 năm 2015). "España se clasifica de manera agónica para la final del Europeo Sub'17". marca.com. MARCA. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "España arrolla a Suiza y recupera el trono europeo". marca.com. MARCA. ngày 4 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Women's Under-17 - Technical report - Team of the Tournament – UEFA.com". UEFA. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Aitana Bonmatí goes home with gold". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Late drama as Spain claim thrilling Uefa Women's Under 19 European Championship win". Belfast Live. ngày 21 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "Holders France and Spanish set to lock horns again". irishfa.com. Hiệp hội bóng đá Ireland. ngày 19 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "France-Spain - Line-ups - Women's Under-19 - UEFA.com". UEFA. ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "The advantages of being on Patri's side". fifa.com. FIFA. ngày 7 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Spain win group with draw as former champs USA exit". fifa.com. FIFA. ngày 13 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Ugbane, Dami (ngày 16 tháng 8 năm 2018). "Hard-fighting Falconets crash out of U20 World Cup". espn.com. ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Ramos, Saul (ngày 16 tháng 8 năm 2020). "CHRONICLE - Spain makes history with its qualification for the semifinals of the Women's U20 World Cup (2-1)". rfef.es. RFEF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FIFA U-20 Women's World Cup France 2018 - Matches - France - Spain". fifa.com. FIFA. ngày 20 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Menayo, David (ngày 21 tháng 8 năm 2018). "Sonrisas y lágrimas: Aitana Bonmatí se perderá la final del Mundial". marca.com. MARCA. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FIFA U-20 Women's World Cup France 2018 - Matches - Spain - Japan". fifa.com. FIFA. ngày 24 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Menayo, David (ngày 13 tháng 11 năm 2017). "Aitana Bonmatí, gran novedad en la lista de España para medirse a Serbia y Austria". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Masterclass and reward to end 2017 on a high (4–0)". Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Menayo, David (ngày 20 tháng 2 năm 2018). "Fútbol femenino Celia Jiménez regresa a la convocatoria của la selección para disputar la Cyprus Cup". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Menayo, David (ngày 7 tháng 3 năm 2018). "Italia vs España, en directo la final de la Copa Chipre". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "FIFA Women's World Cup France 2019 - Matches - Spain - South Africa". FIFA. ngày 8 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "FIFA Women's World Cup France 2019 - Matches - Germany - Spain". FIFA. ngày 12 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 "Aitana Bonmatí, una pequeña gigante". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial. ngày 12 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Menayo, David (ngày 8 tháng 10 năm 2019). "Aitana Bonmatí lidera el nuevo ciclo của la selección". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "USA Wins 2020 SheBelieves CUP WITH 3-1 Victory VS. JAPAN". US Soccer. ngày 11 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Spain-Faroe Islands (Women's World Cup 2023)". UEFA. ngày 25 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Spain-Scotland (Women's World Cup 2023)". UEFA. ngày 30 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
- 1 2 Burhan, Asif (ngày 12 tháng 6 năm 2023). "Jorge Vilda Recalls Players Who Resigned Back Into His Spanish World Cup Squad". Forbes. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
- 1 2 Lillicrap, Simon (ngày 14 tháng 8 năm 2023). "Spain v Sweden: Las 15+3, An International Team In Chaos And Lonely Jorge Vilda". The Sportsman. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "PDominant Spain open World Cup with stylish win". RNZ. ngày 22 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Spain reached the quarter-finals of the Women's World Cup for the first time after producing an outstanding display of firepower in Auckland to send Switzerland out". BBC Sport. BBC. ngày 5 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Bonmati inspires Spain to their first women's World Cup". Deutsche Welle. ngày 20 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Spain 2-0 France: World champions win Women's Nations League final". UEFA. ngày 28 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Euro 2025: Spain's Aitana Bonmati in hospital with viral meningitis". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Euro 2025: Spain's Aitana Bonmati discharged from hospital after meningitis". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Spain's Bonmati suffers broken leg in training". BBC Sport. ngày 30 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Ballon D'Or Winner Aitana Bonmatí To Have Surgery On Broken Fibula". Forbes (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "FIFA Women's World Cup France 2019™ - Players - Aitana BONMATI - Aitana Bonmatí". fifa.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Downey, Sophie (ngày 1 tháng 11 năm 2023). "Aitana Bonmatí is a worthy Ballon d'Or winner – watching her play is a joy". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí, Chelsea, and the One Who Got Away". The Analyst. ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Spain -Aitana Bonmati - Profile with news, career statistics and history - Soccerway". Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "BONMATI Aitana". Thế vận hội Paris 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "10th Liga F title for Barça Women". FC Barcelona. ngày 11 tháng 5 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Chelsea 0-4 Barcelona: Barça surge to first Women's Champions League title". UEFA. ngày 16 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Wrack, Suzanne (ngày 3 tháng 6 năm 2023). "Rolfö caps Barcelona comeback against Wolfsburg to win thrilling WCL final". The Guardian. ISSN 0029-7712. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Barcelona retains Women's Champions League title, completing historic quadruple". CNN. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Barça 2-0 Atlético Madrid: Pina wins the crown for the queens of the cup". FC Barcelona. ngày 7 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Women's World Cup 2023: Spain deservedly triumphed in the final in Sydney". BBC Sport. ngày 20 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "England 1-1 Spain". uefa.com (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Women's Nations League final: World Cup winners Spain beat France 2–0 in Seville". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "The Best FIFA Women's Player award caps Bonmati's dream year". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 15 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Bonmati voted Best Women's Player for third straight year". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Bonmati remporte le Ballon d'Or féminin 2023" [Bonmati wins the 2023 Women's Ballon d'Or]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 30 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Bonn, Kyle (ngày 28 tháng 12 năm 2025). "Globe Soccer Awards 2025: Final results, winners and full rankings for Dubai soccer ceremony". Sporting News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Aitana Bonmati And Spain Take Home 2024 Laureus World Sports Awards". Forbes. ngày 22 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Aitana Bonmatí and Lamine Yamal win Golden Boy 2023 awards". FC Barcelona. ngày 17 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Aitana repite como Golden Woman Player". Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "FIFA Women's World Cup awards: Bonmati wins Golden Ball". FIFA. ngày 20 tháng 8 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí named 2022/23 UEFA Women's Player of the Year". UEFA. Union of European Football Associations. ngày 31 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Aitana Bonmatí named 2023/24 UEFA Women's Champions League Player of the Season". UEFA.com. ngày 27 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Aitana Bonmatí named 2024/25 UEFA Women's Champions League Player of the Season". UEFA.com. ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Aitana Bonmatí named UEFA Women's EURO 2025 Player of the Tournament". uefa.com (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "UEFA Women's EURO 2022 Team of the Tournament announced". UEFA. ngày 2 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "England and Spain dominate UEFA Women's EURO 2025 Team of the Tournament". UEFA. ngày 28 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "AWARDS 2023 - AITANA BONMATI, THE NEW WORLD QUEEN". www.iffhs.com. ngày 26 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "IFFHS AWARDS 2024 - AITANA BONMATI, WOMEN'S WORLD BEST PLAYER". IFFHS. ngày 13 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "IFFHS AWARDS 2025 - AITANA BONMATI, WOMEN'S WORLD BEST PLAYER". IFFHS. ngày 13 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "IFFHS AWARDS 2023 – ALWAYS BONMATI". IFFHS. ngày 31 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "IFFHS AWARDS 2024 - AITANA BONMATI, WOMEN'S WORLD BEST PLAYMAKER". IFFHS. ngày 19 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "IFFHS AWARDS 2025 - AITANA BONMATI, WOMEN'S WORLD BEST PLAYMAKER". IFFHS. ngày 19 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Aitana Bonmatí named official UEFA Women's Champions League final Player of the Match". UEFA.com. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "2023/24 Women's Champions League Team of the Season". UEFA.com. ngày 27 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "2024/25 Women's Champions League Team of the Season". UEFA.com. ngày 25 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Frenkie de Jong and Aitana Bonmatí win Barça Players Award20/21". www.fcbarcelona.com (bằng tiếng Anh). FC Barcelona. ngày 30 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Pedri and Aitana, Barça Players Award 2021-22". FC Barcelona. ngày 1 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "Ter Stegen and Aitana Bonmatí, Barça Players Award 2022-23". FC Barcelona. ngày 27 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Lamine Yamal i Aitana Bonmatí, Premi Barça Jugadors 2024" [Lamine Yamal and Aitana Bonmatí, Barça Players Award 2024]. FC Barcelona. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S WORLD TEAM OF THE YEAR 2021". IFFHS. ngày 6 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S WORLD TEAM 2022". IFFHS. ngày 12 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S WORLD TEAM 2023". IFFHS. ngày 4 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "IFFHS WORLD TEAMS 2024". IFFHS. ngày 27 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "World Soccer: January 2024: Women's World Player of the Year 2023". World Soccer. tháng 1 năm 2024. tr. 28, 33.
- ↑ "2024 winners". World Soccer. tháng 1 năm 2025. tr. 31.
- ↑ "Aitana Bonmatí (Best Women's Player 2023)". GlobeSoccer.com. ngày 19 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Who made the 2023 FIFA FIFPRO Women's World 11?". FIFPRO. ngày 15 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Who is in the 2024 FIFPRO Women's World 11? | Aitana Bonmati, Barbra Banda & more! - FIFPRO World Players' Union". FIFPRO (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S CONTINENTAL TEAMS OF THE YEAR 2021 - UEFA". IFFHS. ngày 21 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S CONTINENTAL TEAMS 2022 - UEFA". IFFHS. ngày 20 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S UEFA TEAM 2023". IFFHS. ngày 23 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "IFFHS WOMEN'S CONTINENTAL TEAMS 2024 - UEFA". IFFHS. ngày 25 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "How brilliant is Spain and Barcelona's Aitana Bonmatí?". UEFA. ngày 28 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "Barça stars dominate The Best FIFA Women's 11". fifa.com. ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "England and Spain stars dominate The Best Women's 11". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "BBC 100 Women 2023: Who is on the list this year?" (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 23 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2023.
Liên kết ngoài
- Aitana Bonmatí tại FC Barcelona
- Aitana Bonmatí tại BDFutbol
- Aitana Bonmatí tại Soccerway
- Bản mẫu:Scorebar
- Aitana Bonmatí tại Txapeldunak.com (bằng tiếng Tây Ban Nha)
- Bản mẫu:Olympics.com
- Aitana Bonmatí – COE – Paris 2024 (bằng tiếng Tây Ban Nha)
- Aitana Bonmatí trên Instagram
- Trang có IPA tiếng Catalunya
- Sinh năm 1998
- Nhân vật còn sống
- Nữ vận động viên Tây Ban Nha thế kỷ 21
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023
- Người giành giải Quả bóng vàng nữ
- Nữ cầu thủ bóng đá quốc tế Catalunya
- Cầu thủ FC Barcelona Femení B
- Cầu thủ FC Barcelona Femení
- Cầu thủ vô địch Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
- Cầu thủ bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 2024
- Cầu thủ bóng đá từ tỉnh Barcelona
- Cầu thủ Liga F
- Cầu thủ bóng đá Olympic của Tây Ban Nha
- Người từ Garraf
- Nữ cầu thủ bóng đá quốc tế Tây Ban Nha
- Nữ cầu thủ bóng đá trẻ quốc tế Tây Ban Nha
- Nữ cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
- Nữ vận động viên từ Catalunya
- Cầu thủ vô địch UEFA Women's Champions League
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2022
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2025
- Tiền vệ bóng đá nữ