Mỹ Hòa Hưng
Mỹ Hòa Hưng | |||
|---|---|---|---|
| Xã | |||
Cổng chào xã Mỹ Hòa Hưng | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Đồng bằng sông Cửu Long | ||
| Tỉnh | An Giang | ||
| Trụ sở UBND | Tổ 03, ấp Mỹ Long 1 | ||
| Thành lập | 1916 | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 10°24′41″B 105°25′53″Đ / 10,411321126009°B 105,43130149156°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 19,65 km²[1] | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 26.727 người[1] | ||
| Mật độ | 1.360 người/km² | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 30313[2] | ||
| Website | myhoahung | ||
Địa lý
Xã Mỹ Hòa Hưng có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp xã Long Kiến
- Phía tây giáp các phường Bình Đức và xã An Châu
- Phía nam giáp phường Long Xuyên và xã Hội An
- Phía bắc giáp xã Nhơn Mỹ.
Xã Mỹ Hòa Hưng có diện tích 19,65 km², dân số năm 2024 là 26.727 người,[1] mật độ dân số đạt 1.360 người/km².
Hành chính
Xã Mỹ Hòa Hưng được chia thành 9 ấp: Mỹ An 1, Mỹ An 2, Mỹ Hiệp, Mỹ Khánh 1, Mỹ Khánh 2, Mỹ Long 1, Mỹ Long 2, Mỹ Thạnh, Mỹ Thuận.
Lịch sử

Cù lao Mỹ Hòa Hưng là một trong những vùng đất sớm mà người Việt "mang gươm đi mở cõi" ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Trước năm 1700, người Việt đã đến vùng cù lao nằm giữa sông Hậu này sinh sống. Thời các chúa Nguyễn và thời nhà Nguyễn độc lập cù lao Mỹ Hòa Hưng có tên là bãi Cây Sao, rồi khi Nguyễn Hữu Cảnh (1650–1700) theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào xác lập chủ quyền tại vùng đất phương nam sau này là Nam Kỳ, đi đánh Cao Miên về đóng quân và mất tại đây năm 1700, nên có tên là cù lao Ông Chưởng hay bãi Ông Chưởng, hoặc bãi Lễ Công.
Theo Đại Nam nhất thống chí: "Bãi Lễ-công (bãi Ông Chưởng): ở cửa dưới sông Lễ-công và tên cũ là bãi Cây-sao, xưa chưởng cơ Lễ Thành-hầu Nguyễn Hữu Kính đánh Cao-miên, khi thắng trận trở về đóng quân ở đây, sau khi chết dân địa phương lập đền thờ."[3] Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo còn thêm: "Bãi Lễ công ở trung lưu sông Hậu Giang (giữa dòng sông Hậu), hạ khẩu sông Lễ công, nguyên tên là bãi Cây-sao (Sao mộc)..."[4] Sách Gia Định thành thông chí chú thích rõ: "Cù lao này lúc trước có nhiều cây sao, tức là cù lao Ông Chưởng ngày nay".[5] Sử nhà Nguyễn gọi cồn Cây Sao là Cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc. Về sông Hậu Giang, Đại Nam nhất thống chí chép: "... Sông từ sông Châu-đốc chảy về phía đông-nam qua các sông Cần-chông, sông Khúc, giữa có các bãi Thảo-mãng, Cần-chông, Thị-bông gồm 51 dặm, đến cửa dưới kênh Thuận, lại phía tây: qua rạch Dầu, sông Cần-đăng, bãi Cây-sao gồm 37 dặm đến cửa dưới sông Lễ-công; đến sông Qua, làm thành bãi Qua, bờ phía tây qua kênh Đông-xuyên, rạch Lao, bờ phía đông qua Trường-tiền, gồm 27 dặm đến sông Cường-thành,..."[6] Trong bản đồ tỉnh Long Xuyên thời Pháp thuộc năm 1901, cù lao Mỹ Hòa Hưng có tên là cù lao Ông Chưởng.
Vào thời nhà Nguyễn độc lập cũng có một cù lao nhỏ, nằm ở cửa trên rạch Ông Chưởng cũng mang tên là vàm Ông Chưởng hoặc cù lao Ông Chưởng hay bãi Lễ Công, nằm ở vị trí rạch Ông Chưởng nhận nước từ sông Tiền ở phần phía bắc của xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày nay (dấu vết là một doi đất nhỏ hình con hến nằm kẹp giữa sông Tiền, cửa trên rạch Ông Chưởng và kênh Chăn Cà Na ở phần phía bắc xã Kiến An). Gia Định thành thông chí chép rằng: "Lễ Công giang thượng khẩu: Tục gọi là vàm Ông Chưởng; cửa sông nầy rộng 8 tầm, sâu 8 thước ta. Trước cửa sông có cù lao nhỏ và nhân tên sông mà gọi tên cù lao ấy (cù lao Ông Chưởng), ở cách phía tây đạo Đông Khẩu 90 dặm rưỡi. Sông chảy vào nam 60 dặm rưỡi đến hạ khẩu rồi hợp lưu với Hậu Giang. Bờ phía tây có sở thủ ngự Hùng Sai, bờ phía tây thượng khẩu có miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn (Nguyễn Hữu Cảnh) vì dân ở đấy cho rằng ông có công dẹp yên Cao Miên, khai thác đất này, nên nhân dân nhớ công đức mà lập miếu thờ,... Việc lấy tên của ông đem đặt tên sông là muốn người sau muôn đời không quên ơn đức của ông vậy. Đến như huân nghiệp rực rỡ của ông đã được ghi rõ trên lá cờ đặt ở đền thờ chính ở Biên Hòa. Nơi đền chính này đều có lễ cúng cấp quốc gia xuân thu hai lần và lễ này đã được ghi vào Hội điển của triều đình."[7] Cù lao Ông Chưởng (thượng khẩu) này được Đại Nam nhất thống chí chép trong mục về "Lễ-công giang" (rạch Ông Chưởng): "...Thượng khẩu rộng 4 trượng, sâu 8 thước, phía trước có bãi cát nhỏ cũng gọi là bãi Lễ-công." Tuy nhiên, vàm Ông Chưởng này và cả vùng đất bên bờ phải rạch ông Chưởng trong đó có vùng thuộc huyện Chợ Mới ngày nay được cho là cù lao Ông Chưởnɡ.[8][9] nơi có nhiều đền thờ Hữu Cảnh cũng đều không phải là nơi Nguyễn Hữu Cảnh đóng quân và mắc bệnh mà chết. Đại Nam nhất thống chí khẳng định chỉ có một bãi Lễ Công (cù lao nằm ở giữa sông Hậu, nơi rạch Ông Chưởng đổ nước vào sông Hậu, tức cù lao Mỹ Hòa Hưng ngày nay), là nơi duy nhất mà Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Hữu Kính) đóng quân và bị bệnh nặng dẫn tới tử vong trên đường về,[10] (trên đó cũng từng có đền thờ ông).[11][12] Và cũng chỉ duy nhất một cù lao Ông Chưởng (Mỹ Hòa Hưng) là từng mang tên cù lao Cây Sao hay cồn Sao Mộc.
Về đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh trên cù lao Cây Sao Gia Định thành thông chí chép: "Đền Lễ Công: Ở trên cù lao lớn sông Hậu Giang, tháng 7 năm Kỷ Mão (1699) đời Hiển Tông thứ 9 (Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu), (năm thứ 20 niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hy Tông, năm thứ 36 Đại Thanh Càn Long), Nặc Thu người nước Cao Miên đắp lũy Gò Vách, Nam Vang và Cầu Nôm, rồi cướp bóc dân buôn. Tướng Long Môn là Thống binh Thắng Tài hầu Trần Thượng Xuyên đang giữ Doanh Châu đem việc ấy báo lên. Tháng 11, Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn công và Tham mưu Cẩm Long hầu Phạm công điều động Lưu thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Hữu Khánh và biền binh 2 dinh Quảng Nam, Bình Khang cùng tướng sĩ Long Môn đến đóng ở Tân Châu để dò xem tình hình giặc hư thật thế nào, rồi tháng 3 năm Canh Thìn (1700) kéo quân thẳng đến lũy Nam Vang. Quân địch bày trận chờ đợi, Lễ công đứng đầu thuyền rút gươm chỉ huy ba quân tiến vào, tiếng súng đại bác nổ vang như sấm. Do Nặc Thu lui trước nên quân Cao Miên không đánh mà tự tan, quan quân phá luôn lũy Gò Vách, Nặc Yêm ra đầu hàng. Lễ công vào đồn vỗ yên nhân dân. Tháng 4, Nặc Thu đến trước quân dinh xin chịu tội, Lễ công lấy lời thành thực an ủi, lịnh cho Thu về lại La Vách chiêu tập dân lưu tán, Lễ công kéo quân về cù lao Cây Sao (cù lao này xưa có nhiều cây sao, tức nay là cù lao Ông Chưởng) làm tờ báo tiệp và chờ lệnh. Đêm 26 tháng ấy bỗng có gió mưa tầm tã, đất đầu cù lao bị sụt lở, tiếng vang như sấm lớn. Đêm ấy Lễ công nằm mộng thấy một người cao lớn mặc áo gấm, tay cầm cái búa Việt màu vàng, mặt đỏ như son, mày râu bạc trắng, đến trước ông bảo rằng: Tướng quân hãy kéo quân về sớm, không nên ở lâu nơi ác địa nầy. Công thức dậy, cảm thấy dã dược nhưng vì việc ngoài biên chưa xong, bọn yêu nghiệt còn ẩn núp chốn núi rừng. Công đang trù trừ chưa quyết định thì ba quân bỗng bị phát bệnh dịch mà chính Công cũng bị nhiễm nhẹ, dần dần hai chân mất hẳn cảm giác, không ăn uống được. Gặp ngày Đoan ngọ (ngày 5 tháng 5), Công miễn cưỡng ra dự tiệc để khen lao tướng sĩ, rồi bị trúng gió mà thổ huyết, bệnh tình càng trầm trọng. Ngày 14, Công kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm) thì than ôi! Công từ trần. Quan quân chở quan tài về dinh Trấn Biên tạm quàn ở đấy, tâu trình sự việc lên vua. Vua nghe tin lấy làm thương tiếc than thở hồi lâu sắc tặng là Hiệp tán Công thần đặc tiến Chưởng dinh, thụy là Trung Cần, thọ được 51 tuổi. Người Cao Miên lập miếu thờ Công ở đầu cù lao Nam Vang. Cù lao nơi Công dừng binh, nhân dân cũng lập đền thờ và gọi tên cù lao ấy là cù lao Ông Lễ, còn chỗ dừng quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ, các miếu ấy đều rất linh ứng. Phải chăng do lòng trung thành chính khí của Công cùng trời đất bàng bạc khắp nơi vậy."[13] Một điều tồn nghi là trên đất cù lao Mỹ Hòa Hưng cũng là xã Mỹ Hòa Hưng, nguyên là cồn Cây Sao nằm giữa sông Hậu đối diện cửa dưới rạch Ông Chưởng, hiện nay lại không có đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Tuy nhiên, trong bài "Cù lao Ông Chưởng" báo Cần Thơ có viết: "Trên đất cù lao Ông Chưởng có không biết “cơ man” miếu thờ Nguyễn Hữu Cảnh mà người dân trân trọng gọi là “Dinh thờ Ông Lớn” hoặc “Dinh Ông”, còn tên chính thức thì tùy theo từng “dinh”... Dinh thờ Quan Thượng đẳng đại thần Nguyễn Hữu Cảnh ở Vàm Sau dời về Long Kiến.... Để tưởng nhớ công ơn mở cõi đất phương Nam của ông, nhân dân nhiều nơi khu vực này đã lập đền thờ ông. Ở cù lao Ông Chưởng có hai dinh quan trọng: Dinh Ông Long Kiến và Dinh Ông Kiến An. Dinh Ông Kiến An về sau vì đất lở nên chia hai, thêm Dinh Ông thị trấn (Chợ Mới)." Như vậy các đền thờ chính thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, chủ yếu tập trung tại cửa trên (Dinh Ông Kiến An) và cửa dưới (Dinh Ông Long Kiến) của rạch Ông Chưởng và đều từng bị chuyển rời khỏi vị trí ban đầu do đất bãi sạt lở. Dinh Ông Long Kiến nằm tại cửa dưới rạch Ông Chưởng, trên địa bàn xã Long Kiến huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (bên bờ tả ngạn cửa dưới rạch Ông Chưởng), từng bị chuyển dời từ Vàm Sau (theo Sơn Nam Vàm là từ tiếng Việt mượn phiên âm của Tiếng Khmer để chỉ nơi cửa sông) vào tới vị trí ngày nay.[8]

Đầu thời Gia Long, nơi đây hãy còn thưa thớt dân cư nên triều đình chưa đặt thành các đơn vị hành chính xã thôn.
Năm 1818, thôn Bình Đức được thành lập, thuộc vào huyện Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh.
Năm 1832, vua Minh Mạng cải cách hành chính, đổi trấn thành tỉnh; vùng đất Mỹ Hòa Hưng khi đó thuộc thôn Bình Đức, tổng Định Thành, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang.
Năm 1868, sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp tiến hành thiết lập các đơn vị hành chính mới, tỉnh An Giang của nhà Nguyễn trước đây được chia làm 3 hạt thanh tra: Châu Đốc, Sa Đéc, Ba Xuyên; không lâu sau thành lập thêm hạt thanh tra Long Xuyên.[14] Vùng đất Mỹ Hòa Hưng khi đấy thuộc thôn Bình Đức, tổng Định Thành, hạt Châu Đốc, sau chuyển sang hạt Long Xuyên.
Ngày 3 tháng 12 năm 1870, Thực dân Pháp ban hành Quyết định về việc chia tổng Định Thành thành:
- Tổng Định Thành Thượng có 7 thôn: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thủy, Khánh Hòa, Mỹ Đức, Thạnh Mỹ Đông, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Thạnh Trung thuộc hạt Thanh tra Châu Đốc.
- Tổng Định Thành Hạ có 12 thôn: Bình An, Bình Đức, Bình Hòa Trung, Bình Phú, Ca Lan, Cần Đăng, Định Mỹ, Hòa Bình, Mỹ Hội Tiểu, Tham Trạch, Vĩnh Hanh, Vĩnh Thuận thuộc hạt Thanh tra Long Xuyên.
Ngày 26 tháng 9 năm 1871, Thực dân Pháp ban hành Quyết định về việc chia thôn Bình Đức thuộc tổng Định Thành Hạ có 3 cù lao và một dải đất liền thành 2 thôn: thôn Mỹ Hội Tiểu (gồm 2 cù lao) và thôn Bình Đức là phần còn lại (vùng đất Mỹ Hòa Hưng thuộc thôn Mỹ Hội Tiểu, tổng Định Thành Hạ).
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, Thực dân Pháp ban hành Nghị định[15]. Theo đó, vùng đất Mỹ Hòa Hưng thuộc làng Mỹ Hội Tiểu của tổng Định Thành Hạ, hạt Long Xuyên; một phần làng An Hòa của tổng An Phú, hạt Long Xuyên và làng Hưng Châu của tổng An Lương, hạt Châu Đốc.
Ngày 2 tháng 11 năm 1876, Thực dân Pháp ban hành Quyết định về việc chuyển làng Hưng Châu qua tổng Định Hòa, hạt Tham biện Long Xuyên. Như vậy, đất Mỹ Hòa Hưng thuộc 3 tổng khác nhau. Quê hương của vị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu tiên Tôn Đức Thắng khi đấy thuộc làng An Hòa, tổng An Phú, hạt Long Xuyên.
Năm 1900, chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ cấp hạt, nâng lên cấp tỉnh. Hạt Long Xuyên được nâng thành tỉnh Long Xuyên.
Ngày 7 tháng 11 năm 1916, chính quyền Pháp ban hành Nghị định về việc cho sáp nhập các làng Mỹ Hội Tiểu thuộc tổng Định Thành Hạ; Hưng Châu thuộc tổng Định Hòa và một phần làng An Hòa thuộc tổng An Phú trên cù lao Ông Hổ thành làng Mỹ Hòa Hưng thuộc tổng Định Thành Hạ.[16]
Năm 1917, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên được thành lập. Tổng Định Thành Hạ cũng được đổi tên thành tổng Định Thành. Làng Mỹ Hòa Hưng bấy giờ thuộc tổng Định Thành, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên.
Trong bản đồ tỉnh Long Xuyên của Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1920, cái tên Mỹ Hòa Hưng xuất hiện tại vị trí nguyên là cù lao Cây Sao (Ông Chưởng) giữa sông Hậu, nơi cửa dưới đổ nước vào sông Hậu của rạch Ông Chưởng. Từ đây, cái tên cù lao Ông Chưởng bị loại dần ra khỏi lịch sử của xã cù lao này và dần rơi vào quên lãng trong ký ức của người dân địa phương cũng như toàn bộ xứ Nam Kỳ thuộc Pháp, thay thế vào đó lại là cái tên dân gian theo truyền thuyết không biết có từ bao giờ là cù lao Ông Hổ để gọi vùng đất cù lao này.[9] Trong lịch sử tỉnh An Giang nhà Nguyễn (vùng đất rộng lớn chiếm non nửa diện tích đồng bằng sông Cửu Long ngày nay), cái tên cù lao Ông Hổ chưa bao giờ là tên gọi cho cù lao nguyên là cù lao Cây Sao nằm giữa sông Hậu tại cửa dưới rạch Ông Chưởng này. Tỉnh An Giang xưa, cũng như trên toàn bộ Nam Kỳ Lục tỉnh cũng chỉ có hai bãi Hổ-châu, trong đó: một tên chính thức bãi Hổ châu (tức bãi Hổ, theo Gia Định thành thông chí từ "châu" trong "bãi Hổ châu" là để chỉ các xứ "cù lao") nhưng lại nằm ở phần đất phía đông sông Tiền Giang của tỉnh An Giang nhà Nguyễn,[17] tên còn lại là tên không chính thức để gọi bãi Hoàng Dung (phần phía bắc của Cù Lao Dung ngày nay, cũng gọi là bãi Hổ-châu, do trên bãi này thời chúa Nguyễn có nhiều hổ). Đại Nam nhất thống chí chép về tỉnh An Giang có viết: "... Bãi Hổ-châu ở phía đông sông Tiền Giang và sông Tân Đông, có hai thôn Tĩnh-thái và Tân-tịnh. Năm Kỉ Dậu, quân ta đánh tan được quân thái bảo của giặc Phạm Văn Tham ở Hổ-châu, tức là bãi này."[18]
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143/VN.[19] Theo đó, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang. Xã Mỹ Hòa Hưng thuộc vào quận Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[20] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và 2 huyện An Biên, Vĩnh Thuận (ngoại trừ 2 xã Đông Yên và Tây Yên) của tỉnh Rạch Giá thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (ngoại trừ huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hà, tỉnh Rạch Giá và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Kiến Tường thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ[21] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt của tỉnh Long Xuyên), tỉnh Sóc Trăng thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hậu (tỉnh An Giang cũ bao gồm tỉnh Long Xuyên (trừ huyện Thốt Nốt và tỉnh Châu Đốc) và phía Tây tỉnh Long Châu Tiền.
- Tỉnh Rạch Giá (bao gồm 3 huyện: Hà Tiên, Phú Quốc, huyện Châu Thành A của tỉnh Long Châu Hà) vẫn để thành tỉnh riêng.
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[22] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hậu Giang.
- Hợp nhất tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc (trừ huyện Chợ Mới) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Đồng Tháp.
- Hợp nhất 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, Huệ Đức Tịnh Biên, Tri Tôn và 3 thị xã: Châu Đốc, Long Xuyên, Tân Châu của tỉnh Long Châu Hà; 2 huyện: An Phú, Phú Tân của tỉnh Long Châu Tiền; huyện Chợ Mới của tỉnh Sa Đéc và tỉnh An Giang (trừ huyện Thốt Nốt) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh An Giang.
- Thành lập thị xã Long Xuyên, tỉnh lỵ tỉnh An Giang trên cơ sở 4 xã: Bình Đức, Mỹ Bình, Mỹ Phước, Phước Mỹ của huyện Châu Thành.
- Thành lập huyện Châu Thành thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở phần còn lại.
- Hợp tỉnh Rạch Giá cũ và 3 huyện: Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc thuộc tỉnh Long Châu Hà thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Kiên Giang.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 56-CP[23] về việc sáp nhập huyện Huệ Đức vào huyện Châu Thành.
Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 300-CP[24] về việc:
- Chia huyện Châu Thành thành huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn.
- Sáp nhập xã Mỹ Hòa Hưng thuộc Châu Thành vào thị xã Long Xuyên.
Ngày 1 tháng 3 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/1999/NĐ-CP[25] về việc:
- Thành lập thành phố Long Xuyên, thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ thị xã Long Xuyên.
- Xã Mỹ Hòa Hưng thuộc thành phố Long Xuyên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[26] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, sáp nhập tỉnh Kiên Giang vào tỉnh An Giang.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025:
- Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15[27] về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15[28] về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025. Theo đó, thành lập xã Mỹ Hòa Hưng thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở giữ nguyên toàn bộ 19,65 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 26.727 người của xã Mỹ Hòa Hưng thuộc thành phố Long Xuyên.[1]
Văn hóa
Thơ và ca dao về cù lao Ông Chưởng
|
|
Truyền thuyết tên "cù lao Ông Hổ"

Tương truyền, ngày xưa có hai vợ chồng lão nông dân sống trên cù lao, mà ngày nay có tên là Mỹ Hòa Hưng.[29] Một hôm, ông bà chèo xuồng đi lấy củi; đến khi trở về, nhìn thấy trên mảng lục bình trôi trên sông có con vật gì rất giống mèo. Hai ông bà đến xem thì biết được là một con hổ con vừa đói vừa rét, bèn đem về nhà nuôi dưỡng. Khi lớn lên, con hổ rất hiền lành, không phá phách ai. Khi hai ông bà qua đời, hổ cũng bỏ vào rừng. Hằng năm, tới ngày giỗ ông bà, hổ đều mang về một con heo rừng đặt bên mộ rồi đi. Dân làng cảm động vì thấy con vật sống có nghĩa nên đặt tên cù lao là cù lao Ông Hổ. Ca dao Nam Bộ có câu:
| “ | Dù ai đi ngược bốn bề Chưa đến Ông Hổ chưa về An Giang | ” |
Hiện nay trên sân chùa cổ Bửu Long ở ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hòa Hưng vẫn còn mộ của Ông Hổ. Mộ của ông đã được cất mới vào năm 2007. Hàng năm, lễ giỗ Ông Hổ được tổ chức vào ngày 28 tháng 10 (âm lịch).
Di tích - danh thắng: Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên với sông nước mênh mông, làng bè trên sông, kênh rạch chằng chịt, vườn cây ăn trái và các di tích lịch sử văn hóa có giá trị như: khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, miếu Ông Hổ, v.v...[30]

Hình ảnh
- Đình thần xã Mỹ Hòa Hưng
- Trường Trung học cơ sở Ngô Gia Tự
- Đường nhựa liên ấp
- Một biệt thự xây năm 1937
- Nuôi cá bằng lồng bè trên sông Hậu
- Bến phà Ô Môi
- Sa bàn
Chú thích
- 1 2 3 4 "Nghị quyết số 37/NQ-HĐND về việc tán thành chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025" (PDF). Cổng Thông tin điện tử tỉnh An Giang. ngày 28 tháng 4 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Viện Sử Học – Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam phiên dịch và chú giải, có sắp xếp lượt bỏ hoặc bổ sung cho hợp lý hơn (2006). Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách về địa chí lớn nhất Việt Nam thời phong kiến): Tập 5 – Quyển 30: Tỉnh An Giang. NXB. Thuận Hóa. tr. 177.
- ↑ Bản của Tu Trai Nguyễn Tạo. "Bãi Lễ công, bản Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Kỳ, quyển hạ tỉnh An Giang," (PDF). Tủ sách Tiếng Việt. tr. 63. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Đền Lễ Công. "Gia Định thành thông chí" (PDF). tr. 119.
- ↑ Viện Sử Học – Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam phiên dịch và chú giải, có sắp xếp lượt bỏ hoặc bổ sung cho hợp lý hơn (2006). Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách về địa chí lớn nhất Việt Nam thời phong kiến): Tập 5 – Quyển 30: Tỉnh An Giang. NXB. Thuận Hóa. tr. 169.
- ↑ Đền Lễ Công. "Gia Định thành thông chí" (PDF). tr. 40.
- 1 2 Phù Sa Lộc (ngày 27 tháng 8 năm 2011). "Cù lao Ông Chưởng". Báo Cần Thơ.
- 1 2 Lê Quang Trạng (ngày 8 tháng 10 năm 2017). "Cù lao Ông Hổ". Báo Cần Thơ.
- ↑ Bản của Tu Trai Nguyễn Tạo. "Bãi Lễ công, bản Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Kỳ, quyển hạ tỉnh An Giang" (PDF). Tủ sách Tiếng Việt. tr. 63. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Bản của Tu Trai Nguyễn Tạo. "Bãi Lễ công, bản Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Kỳ, quyển hạ tỉnh An Giang" (PDF). Tủ sách Tiếng Việt. tr. 63. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Bản của Tu Trai Nguyễn Tạo. "Bãi Lễ công, bản Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Kỳ, quyển hạ tỉnh An Giang," (PDF). Tủ sách Tiếng Việt. tr. 72. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Đền Lễ Công. "Gia Định thành thông chí" (PDF). tr. 119.
- ↑ Nguyễn Đình Tư (2016). Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1858–1945: Tập 1. NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 245.
- ↑ Nghị định về việc bãi bỏ hoàn toàn hệ thống hành chính Nam Kỳ lục tỉnh thời Nguyễn, hạt Thanh tra được thay tên bằng hạt Tham biện, tên thôn đổi thành làng.
- ↑ Nguyễn Đình Tư (2017). Địa chí hành chính các tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1859–1954). NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 355.
- ↑ Bản của Tu Trai Nguyễn Tạo. "Bãi Lễ công, bản Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Kỳ, quyển hạ tỉnh An Giang," (PDF). Tủ sách Tiếng Việt. tr. 62. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Viện Sử Học – Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam phiên dịch và chú giải, có sắp xếp lượt bỏ hoặc bổ sung cho hợp lý hơn (2006). Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách về địa chí lớn nhất Việt Nam thời phong kiến): Tập 5 – Quyển 30: Tỉnh An Giang. NXB. Thuận Hóa. tr. 176.
- ↑ Sắc lệnh số 143/VN để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam".
- ↑ "Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh". ngày 20 tháng 9 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 20 tháng 12 năm 1975. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 24 tháng 2 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Quyết định số 56-CP năm 1977 về việc hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh An Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 11 tháng 3 năm 1977.
- ↑ "Quyết định số 300-CP năm 1979 về việc điều chỉnh địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 23 tháng 8 năm 1979.
- ↑ "Nghị định số 09/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Long Xuyên, thuộc tỉnh An Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 1 tháng 3 năm 1999.
- ↑ "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Mỹ Hòa Hưng, tức cù lao Ông Hổ, xưa thuộc làng Bình Đức, sử gọi là trấn Ba Châu, theo nghĩa cù lao che chở cho vàm rạch, ngăn cản sóng gió. (Lịch sử An Giang, Nhà xuất bản TH An Giang, 1988 tr. 37)
- ↑ Mỹ Hòa Hưng phát triển du lịch sinh thái gắn với cộng đồng[liên kết hỏng].