Bước tới nội dung

Thượng Chi Hiếu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thượng Chi Hiếu
Bình Nam vương
Thông tin chung
Sinh1639
Mất1696
Hậu duệTước vị bãi bỏ
Thân phụThượng Khả Hỷ

Thượng Chi Hiếu (chữ Hán: 尚之孝; 1639 – 1696), là kỳ nhân thuộc Hán quân Tương Lam kỳ[1] và là con trai thứ hai của Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ, một trong Tam phiên đầu thời Thanh.

Tiểu sử

Vấn đề kế vị ngôi vương

Thượng Chi Hiếu chào đời vào năm Sùng Đức thứ 4 thời Hoàng Thái Cực (1639), là con trai thứ hai của Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ, từ nhỏ đã theo cha đến nơi trấn thủ.[1] Năm Khang Hi thứ 13 (1674), Thượng Chi Hiếu được bổ nhiệm làm Đô thống dưới trướng Bình Nam phiên. Đúng lúc đó Loạn Tam phiên bùng nổ, Tổng binh Triều Châu là Lưu Tiến Trung hưởng ứng Tĩnh Nam vương Cảnh Tinh Trung nổi dậy chiếm thành làm phản; Thượng Chi Hiếu bèn cầm quân đánh dẹp.[1] Trước đó, Thượng Khả Hỷ từng chọn con trưởng là Thượng Chi Tín làm người kế vị tước Bình Nam vương. Tuy nhiên, về sau do Thượng Chi Tín ham mê tửu sắc, giết người bừa bãi, trong khi Thượng Chi Hiếu lại nghiêm khắc với bản thân và khoan dung với thuộc cấp, nên Thượng Khả Hỷ có ý định đổi cho Chi Hiếu kế vị, còn mình lui về làm Thái thượng vương. Vua Khang Hi theo đó đã hạ chỉ cho Thượng Chi Hiếu kế thừa tước vị Bình Nam vương.[2] Thế nhưng, Thượng Chi Hiếu vì kiêng dè và sợ hãi Thượng Chi Tín, nên đã nhờ Tuần phủ Lưu Bỉnh Hành dâng sớ xin từ khước tước vị. Triều đình sau đó vẫn để Thượng Khả Hỷ quản lý sự vụ trong phiên, đợi đến khi bình định xong phản loạn mới để Chi Hiếu tập tước.[2]

Cầm quân dẹp loạn

Lúc đó, vùng Phổ Ninh bị thuộc hạ của Lưu Tiến Trung là Lưu Bân chiếm đóng, nhưng Tri huyện Đoàn Tảo đã bí mật liên lạc làm nội ứng cho Thượng Chi Hiếu. Thượng Chi Hiếu lừa được Lưu Bân ra ngoài thành giao chiến, Đoàn Tảo thừa cơ đóng chặt cổng thành. Quân Lưu Bân đại bại tháo chạy, quân Thanh thu phục Phổ Ninh và tiến đánh Triều Châu.[2] Lưu Tiến Trung dẫn quân kháng cự, Thượng Chi Hiếu đánh ba trận thắng cả ba, chém tại trận Phó tướng Trần Liễn cùng hơn 1.000 binh lính, sau đó liên tiếp hạ được các doanh trại địch tại Đông Tân, núi Bút Giá, cầu Tẩy Mã.[2] Năm Khang Hi thứ 14 (1675), Khang Hi phong Thượng Chi Hiếu làm Bình Nam Đại tướng quân.[2] Thượng Chi Hiếu vây hãm Triều Châu hơn một năm; Lưu Tiến Trung bèn cầu viện Trịnh Kinh. Trịnh Kinh phái Lưu Quốc Hiên dẫn hơn một vạn quân đến trợ chiến, Chi Hiếu đánh không lại, phải lui về đóng quân tại Huệ Châu.[2]

Năm Khang Hi thứ 15 (1676), bệnh tình của Thượng Khả Hỷ trở nặng, Vua Khang Hi hạ lệnh cho Thượng Chi Hiếu quay về Quảng Châu để thăm cha và tiếp quản sự vụ của phiên trấn. Tuy nhiên, khi Chi Hiếu còn chưa kịp nhận mệnh lệnh thì Thượng Chi Tín đã dấy binh phản Thanh, đồng thời ép buộc Chi Hiếu phải từ bỏ Huệ Châu. Thượng Chi Hiếu không dám kháng cự, chấp nhận bàn giao binh quyền và quay về Quảng Châu để phụng dưỡng phụ thân.[2] Không lâu sau, Thượng Khả Hỷ bệnh nặng qua đời, Thượng Chi Hiếu sống nhàn tản tại Quảng Châu. Năm Khang Hi thứ 16 (1677), Thượng Chi Tín quy thuận triều đình nhà Thanh và kế thừa tước vị Bình Nam vương. Do bị Chi Tín chèn ép, triều đình đã triệu Chi Hiếu về kinh sư và phong cho chức Nội đại thần.[3] Thượng Chi Hiếu dâng sớ xin được chiêu mộ binh lính để ra trận lập công. Triều đình chấp thuận yêu cầu, lệnh cho ông đến phục vụ dưới trướng Giản Thân vương Lạt Bố, đồng thời phong cho ông làm Tuyên Nghĩa tướng quân.[2]

Năm Khang Hi thứ 17 (1678), Thượng Chi Hiếu dẫn quân đến Giang Tây, phối hợp cùng Tổng binh Hứa Thịnh tiến đánh quân Ngô Tam Quế tại Cát AnCám Châu, lập được nhiều chiến công.[2] Năm Khang Hi thứ 18 (1679), Thượng Chi Hiếu chiêu hàng được các tướng lĩnh quân Ngô gồm Tổng binh Lâm Hưng Long, Tham tướng Vương Quốc Tán cùng hơn 20 viên chiến tướng và 6.000 binh sĩ.[2] Khi các tướng nhà Ngô là Dương Nhất Báo, Giang Cơ xâm phạm Phúc Kiến, Thượng Chi Hiếu dẫn quân tiến sang Phúc Kiến; nhưng khi đến Đinh Châu thì đám người Dương Nhất Báo đã đầu hàng Khang Thân vương Kiệt Thư, nên Chi Hiếu đành rút quân về lại Giang Tây.[2]

Ban sư hồi triều

Năm Khang Hi thứ 19 (1680), vùng Giang Tây được bình định, Thượng Chi Hiếu được triệu hồi về kinh sư, còn binh lính dưới trướng ông được biên chế thành các doanh Lục kỳ quân để ở lại trấn giữ Giang Tây.[2] Tháng 9 cùng năm, Thượng Chi Tín phạm tội và bị ban chết tại Quảng Châu. Theo nghị bàn của triều đình, Thượng Chi Hiếu lẽ ra phải bị liên đới vì là anh em ruột, nhưng Vua Khang Hi đã đặc xá cho ông. Ông tiếp tục được lưu giữ trong hàng ngũ Nội đại thần.[2] Tháng 5 năm Khang Hi thứ 20 (1681), Thượng Chi Hiếu dâng sớ xin triều đình cho phép đón linh cữu của cha từ Quảng Châu về mai táng tại Hải Thành. Sau khi được triều đình chấp thuận, Thượng Chi Hiếu đã ở lại Hải Thành một thời gian dài và dâng sớ xin được ở lại trông nom lăng mộ.[4] Năm Khang Hi thứ 22 (1683), các Nghị chính đại thần truy cứu tội trạng của Thượng Chi Hiếu trước đây vì không thể chống lại phản tặc, lại trì hoãn ở lại Hải Thành nhằm mưu cầu an nhàn. Họ đề nghị cách chức Thượng Chi Hiếu và đưa con em của ông vào Nội vụ phủ để quản thúc. Tuy nhiên, Vua Khang Hi đã khoan hồng, chỉ ra lệnh cách chức ông.[4] Năm Khang Hi thứ 35 (1696), Thượng Chi Hiếu qua đời vì bệnh, hưởng thọ 57 tuổi.[4]

Gia đình

  • Anh trai: Thượng Chi Tín (尚之信), kế thừa tước Bình Nam vương nhưng sau đó làm phản và bị ban chết.
  • Em trai: Thượng Chi Long (尚之隆), giữ chức Lĩnh thị vệ Nội đại thần. Hậu duệ có Thượng Kỳ Hanh (尚其亨), đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1892) thời Quang Tự.
  • Con trai: Thượng Sùng Thản (尚崇坦), làm quan đến chức Phó đô thống Hán quân Tương Hồng kỳ.[4]
  • Con gái: Thượng Giai thị (尚佳氏). Kết hôn với Tố Nghiêm, người thuộc Tông thất (hoàng tộc nhà Thanh) thuộc Tương Hồng kỳ. Anh chồng là Hồ Đồ Lễ (con trai là Ninh Nhân; cháu nội là Đôn Thành và Đôn Mẫn). Cha chồng là Phụng ân Phụ quốc công Xước Khắc Thác. Ông nội chồng là Trấn quốc công Phó Lặc Hách. Hậu duệ phía thông gia có Tông thất Lương Quý, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1874) thời Đồng Trị.

Chú thích

  1. 1 2 3 Dật Danh 1987, tr. 307.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Dật Danh 1987, tr. 308.
  3. Triệu Nhĩ Tốn 1988, tr. 12858.
  4. 1 2 3 4 Dật Danh 1987, tr. 309.

Tham khảo

  • Triệu Nhĩ Tốn, 赵尔巽 (1988). 《清史稿》 [Thanh sử cảo]. Trung Hoa thư cục. ISBN 9787101007503.
  • Dật Danh chủ biên, 佚名撰; Vương Trung Hàn chú thích, 王中翰注 (1987). 《清史列传》 [Thanh sử liệt truyện]. Trung Hoa thư cục. ISBN 9787101003703.
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Thượng Khả Hỷ
Bình Nam vương
1676
Kế nhiệm:
Thượng Chi Tín